Lê Tùng nán lại một phút nữa trước quán bán hoa trên đường Nguyễn Huệ. Không hiểu sao mắt chàng để ý tới một dãy cu-ron hoa tươi, màu đỏ của hoa lê dơn nổi bật trên nền màu xanh của lá, đặt ngay ngắn trên vỉa hè. Vòng hoa nào cũng đeo một cái băng màu tím trên có hàng chữ:
Thành kính phân ưu.
Thành kính phân ưu! Chết là hết, người chết nằm trong quan tài không thể nghe tiếng khóc chân thật và giả dối của thân nhân, tiếng cầu nguyện và chửi thầm của bè bạn. Người chết không thể nhìn thấy những đóa hoa đẹp, và ngửi được mùi hương thơm ngào ngạt của hoa cho nên Lê Tùng không bao giờ phúng điếu bằng cu-ron.
Đột nhiên nhìn những vòng hoa mang chữ "Thành kính phân ưu", chàng liên tưởng đến cuộc sống ba chìm bảy nổi của nghề gián điệp. Làm gián điệp chết là thường, nhưng được chết còn sướng hơn còn sống mà chịu nhục. Sướng hơn còn sống mà bị đồng nghiệp, gia đình, bằng hữu, dư luận khinh rẻ, phỉ nhổ và gạt ra ngoài lề xã hội.
Chàng bỗng nhớ đến thương gia người Thụy Điển vờ thân Đức quốc xã để hoạt động tình báo cho đồng minh Anh-Mỹ. Được nhà chức trách phát xít tin cậy, y tự do du lịch khắp nước Đức trong trận đại chiến thứ hai, và báo tin cho quân đồng minh thả bom xuống các cơ sở lọc dầu của phe quốc xã. Nhờ sự hy sinh này, đồng minh đã phá hủy được phần lớn kỹ nghệ cung cấp nhiên liệu của địch, làm chiến tranh được rút ngắn.
Song thương gia Thụy Điển đã mua sự hy sinh bằng giá rất đắt. Trong nhiều năm, y ca tụng Hít-le, đả kích thế giới tự do, khiến bạn bè rẻ rúng y, xa lánh y, coi y như kẻ phong cùi. Thậm chí, người yêu của y cũng không nghĩ đến y nữa. Chiến tranh chấm dứt, y thành công vẻ vang, khi ấy dư luận mới biết.
Lê Tùng thở dài.
Chàng nhìn chung quanh một lần nữa. Bóng người khả nghi hồi nãy đã biến mất, tuy nhiên theo linh giác và kinh nghiệm nghề nghiệp, chàng biết hắn còn lảng vảng đâu đây, có lẽ cũng giả vờ mua hoa như chàng.
Đang còn nhiều thời giờ, chàng không cần vội vã. Chàng bật lửa châm thuốc rồi vượt qua đường, đi ngược về phía Tòa Đô chính.
Mục đích của chàng là chọn những con đường tương đối vắng vẻ giữa trung tâm thành phố để dễ kiểm soát phía sau. Dầu sao chàng hoạt động trên đất nhà, có nhiều điều kiện hơn nhân viên của địch. Chàng vòng Lê thánh Tôn ra Pasteur, đi dọc bên hông dinh Gia Long, rồi quẹo sang bên phải, qua bộ Quốc phòng và bộ Kinh tế. Nghĩa là những con đường vắng vẻ, ít người qua lại và được canh gác nghiêm mật.
Đến ngã tư Tự Do, Lê Tùng gặp một người đàn ông đứng cạnh cột điện châm xì gà. Chàng dừng lại xin lửa, mặc dầu trong túi còn bao quẹt đầy ắp mới mua. Thừa cơ xin lửa, chàng liếc nhìn phía sau. Quả chàng đoán đúng.
Gã đàn ông quen thuộc đang lẽo đẽo theo chàng. Thấy chàng đứng lại, hắn định đứng lại theo, song không dám vì đang đi qua bộ Quốc phòng. Qua trụ sở Hiến binh, hắn cũng không dám dừng lại.
Còn 5 thước nữa, hắn đụng Lê Tùng.
Lê Tùng đi ngược lại. Gã theo chàng luống cuống trong một giây đồng hồ, rồi giả vờ cúi xuống buộc lại dây giày. Đáng thương cho hắn, giày của hắn thuộc loại giày ban, không có dây.
Hắn loay hoay chưa biết làm gì thì Lê Tùng đã tiến lại, chìa tay bắt giọng thân mật:
- Chào anh.
Hắn rụt rè đưa tay ra, lí nhí:
- Không dám.
Lê Tùng cười khảy:
- Tôi trông anh quen quá.
Hắn đáp:
- Anh cũng vậy. Dường như tôi gặp anh tuần trước ở Vũng Tàu.
- Thế à?
- Chúng mình tắm chung với nhau ở Bãi Sau ấy mà.
Lê Tùng vỗ trán:
- Ừ nhỉ! Tôi đãng trí ghê.
Hai người đi song song bên nhau ra đường Tự Do. Gã đàn ông lại đề nghị:
- Mời anh ăn với tôi một bữa cơm xoàng.
Lê Tùng nói:
- Cảm ơn anh. Tôi có cái hẹn.
- Cần không?
- Cần lắm.
- Anh phải đi chưa?
- Đi ngay bây giờ.
- Sao anh chưa gọi tắc xi?
- Lâu ngày gặp anh, tôi muốn đi bộ nói chuyện tâm sự với anh một vài phút. Anh bận không?
- Không.
Lê Tùng quẹo trái, từ từ bước qua cây xăng của xưởng sửa xe Citroen. Khúc đường Lê thánh Tôn này vắng tanh. Ra đến gần đường Hai bà Trưng, chàng bỗng dừng lại, giọng đổi khác:
- À, quên chưa hỏi tên nhau. Tôi là Lê Tùng, chắc anh đã biết. Còn anh?
- Tôi là Lê Hùng.
- Anh cùng họ với tôi. Thảo nào anh thích chơi với tôi.
- ...
- Và thích đi theo sau tôi.
- ...
- Phiền anh về trình với thượng cấp của anh là Lê Tùng không muốn ai đi theo. Thượng cấp của anh là ai, tôi không cần biết, và không thèm biết.
- Tôi...
- Im miệng đi. Anh là nhân viên hạng bét. Muốn theo dõi một người giàu kinh nghiệm trong nghề như tôi, phải là những tay trung cấp. Còn anh, anh chỉ theo dõi bọn tập sự mà thôi. Nghe chưa?
- Vâng.
Lê Tùng dằn giọng:
- Lần này tha cho. Lần sau tôi sẽ đánh gãy xương hàm. Anh đừng quên tôi là đai đen nhu đạo.
- Vâng.
- Thôi, cút đi cho rảnh mắt.
Tủm tỉm cười, Lê Tùng quay lại đường Tự Do. Gã đàn ông lủi thủi ra đại lộ Hai bà Trưng. Lê Tùng vẫy xích lô máy, dặn chạy về Trần hưng Đạo. Nếu còn người theo sau, y sẽ tưởng chàng về nhà. Hoạt động đã nhiều, chàng không tin phía sau chỉ có một người đi theo. Trong trường hợp đặc biệt này, ít ra là hai người. Nếu chàng không lầm, đang còn một người nữa. Chắc y là nhân viên cừ khôi nên chàng chưa khám phá ra.
Nhưng chỉ 5 phút sau, Lê Tùng đã tìm thấy. Xích lô máy chạy được một quãng đến bùng binh chợ Bến Thành, chàng liếc thấy phía sau một chiếc xe gắn máy Honda cỡ 90 phân khối, sơn đen. Loại xe gắn máy của Nhật này chạy nhanh không kém xe hơi, và trong thành phố đông đúc như Sài Gòn, nó còn chạy nhanh hơn xe hơi nữa.
Qua cây xăng gần nhà, chàng xuống xe. Giơ tay chào lão quản lý, chàng trèo thang gác lên phòng. Chàng vặn đèn lên, mở cửa sổ, rồi đứng ở khung cửa mở rộng nhìn xuống đường. Theo nguyên tắc nghề nghiệp, kẻ đi theo phải đậu xe gắn máy lại cách bin-đinh hai, ba chục thước, rồi nhìn lên lầu. Trong phòng có ánh đèn sáng là chàng ở nhà. Chàng lại tì cửa sổ nhìn xuống cho kẻ đi theo thấy mặt.
Chàng lại không quên cởi sơ mi, mặc áo thun trắng, tỏ cho kẻ đi theo biết chàng sửa soạn đi ngủ. Rồi chàng tắt đèn lớn, vặn đèn đêm, mở tủ chọn một cái áo sơ mi sẫm và một đôi giày băng túp đế mỏng. Chàng tiến nhanh về cuối hành lang, tuột xuống cầu thang xoắn ốc xi măng dành cho nhân viên của bin-đinh, và cho trường hợp cấp cứu.
Bên dưới là một cái sân rộng. Lê Tùng không xuống sân. Được nửa cầu thang, chàng co chân nhảy lên bao lơn của ngôi nhà kế cận, chuyền ống máng lên mái, rồi lần xuống một ngõ tối hun hút.
10 phút sau, chàng ra đến đường Cô Giang. Biết chắc là không bị theo nữa, chàng gọi tắc xi lên đường Hàm Nghi. Chàng vào tiệm ăn Động Phát, kêu một bữa cơm thịnh soạn. Trong khi đợi phổ ki bưng thức ăn tới, chàng gọi điện thoại.
Số điện thoại này chàng khắc sâu trong óc từ nhiều tháng nay. Từ nhiều tháng nay, chàng mong chờ cái phút thần tiên được quay 5 con số quen thuộc và thân ái..
Vốn bình tỉnh, Lê Tùng không ngăn được xúc động. Ngón tay chàng run lên nhè nhẹ.
Đầu dây, máy điện thoại được nhấc lên, rồi có tiếng người. Một người đàn ông mà Lê Tùng quen giọng, quen mặt, quen tên:
- Ai đó?
- Mạnh đây, có phải Cường không?
- Cường vừa đi khỏi chừng nửa giờ. Chỉ có Hoan ở nhà. Anh cần dặn Cường điều gì không?
- Không có gì quan trọng cả. Phiền anh nói với Cường là có 2 cuốn sách của tôi để quên tuần trước.
- Mấy cuốn?
- 2.
- Được. Tôi sẽ nói ngay với Cường.
Điện thoại ngưng bặt. 2 cuốn sách mà chàng vừa nhắc tới trong cuộc nói chuyện là mật ngữ: nghĩa là trong vòng 1 giờ nữa, chàng sẽ đến chỗ hẹn.
Và người vừa nói với chàng là Văn Bình - tức Z-28 của Sở Mật vụ.
Người mà Lê Tùng đã gây sự nhiều lần, và lần sau cùng là trước ngày chàng bị đuổi khỏi Sở, và sa vào vòng tù tội, đã đánh chàng ngã trong văn phòng. Chàng còn nhớ câu nói hăm dọa của chàng:
- Văn Bình, tôi với anh là kẻ thù không đội trời chung. Thế nào tôi cũng giết anh, và tôi sẽ ném xác anh xuống sông Sài Gòn. Nếu không, tôi sẽ không mặt mũi nào sống trên cõi đời này nữa.
Và Văn Bình đáp lại:
- Nể cô Huệ Lan, tôi nương tay. Lần sau, tôi sẽ không khoan hồng nữa.
Tất cả sự ghét bỏ, xích mích và sa đọa ấy chỉ là một màn kịch to lớn mà ông Hoàng là giám đốc sản xuất, Văn Bình là nhà dàn cảnh, và Lê Tùng là diễn viên thượng thặng. Bất giác, Lê Tùng nghĩ đến Huệ Lan:
- Tội nghiệp, nàng chẳng biết gì hết.
Bên ngoài, trời lất phất mưa.