
Z.28 13 Giờ Định Mạng
LÁ THƯ TÁC GIẢ...Trong 18 năm viết tiểu thuyết gián điệp Z.28, tác giả đã nhận được nhiều thư của bạn đọc. Mỗi tuổi tác, mỗi thành phần xã hội viết thư một khác, tuy nhiỉên hầu hết đều nêu câu hỏi "trong truyện Z.28, có bao nhiêu phần trăm tưởng tượng, bao nhiêu phần trăm sự thật ?".
Sau đây là một đoạn thư điển hình :
"Nghe nói ông xấp xỉ hoặc lớn tuổi hơn ba cháu nên cháu mạn phép được gọi bằng bác. Ba cháu đọc sách của bác từ sau khi đậu Tú Tài. Mẹ cháu cũng là độc giả của bác, song hồi ấy bác chưa in thành sách, ba mẹ cháu kể lại là hồi ấy phải đọc bữa đực bữa cái trên các báo hàng ngày. Giờ đây ba mẹ cháu vẫn tiếp tục đọc Z.28. Dĩ nhiên cháu cũng là độc giả trung thành. Năm nay cháu thi Tú Tài I, còn em gái của cháu sửa soạn lều lõng thi Trung học đệ nhất cấp và cũng đọc Z.28 như mẹ chúng cháu mười mấy năm về trước.
Cháu tự giới thiệu dài dòng như vậy là để chứng tỏ gia đinh cháu thông thạo Z.28. Bác xuất bản trên 50 tác phẩm Z.28, gia đình cháu đã đọc hết, ấy thế mà có điều quan trọng nhất về Z.28 cháu lại chưa giải thích nổi. Điều quan trọng này là Z28 thật hay giả ?
Thưa bác, chúng cháu có học, đâu đến nỗi dốt, ngoài bìa sách bác lại đã cẩn thận in giòng chữ (tiểu thuyết gián điệp) tất cháu phải hiểu rằng Z.28 do óc sáng tác phong phú của bác mà ra. Song không hiểu sao càng đọc sách của bác, cháu lại càng có ý nghĩ Z.28 là có thật.
Khổ quá cháu hỏi ba mẹ cháu thì ba mẹ lại đáp Z.28 là nhân vật tiểu thuyết, đã là tiểu thuyết thì khó thể là có thật.
Vậy cháu đánh bạo viết thư này hỏi bác. Yêu cầu bác cho biết ba mẹ cháu đúng hay cháu đúng, và nếu không đúng thì tại sao ?.....".
° ° °
Tác giả đã nhiều lần trả lời bằng thư riêng. Và đây là lần đầu tiên viết lên mặt sách. Dĩ nhiên, Z.28 là tiểu thuyết, nhưng những địa danh Z.28 ghé qua, những lữ quán nóng bỏng tình yêu Z.28 trọ lại ở bên này hoặc bên kia bức màn tre và sắt, những dụng cụ cơ khí, điện tử quỷ khốc thần kinh Z.28 đã dùng, những mưu kế do ông Hoàng và Z.28 sắp đặt, những thế võ vô địch do Z.28 thi thố để chiến thắng đối phương trên toàn thế giới... tất cả đều là sự thật. Sự thật trăm phần trăm.
Sự thật không hề thêm bớt....Z.28 không phải là một người, mà là do nhiều người cả xấu lẫn tốt, kết đúc lại....Z.28 nghiện huýt-ky, thì sự thật đã có một điệp viên Do thái được đặt tên là "điệp viên sâm-banh" - Z.28 hảo ngọt thì đây chưa có siêu điệp viên nào từ trước đến nay mà chưa mềm lòng vì đàn bà...đẹp. Điệp viên Z.28 là tưởng tượng song cũng không hẳn là tưởng tượng.
Đúng ra, Z.28 là sự hòa trộn giữa tưởng tượng và sự thật. Nghĩ cho cùng thì tưởng tượng cũng chỉ là một phần của sự thật. Cái gì con người biết rõ thì là sự thật, còn cái gì chưa học đến thì là tưởng tượng. Thế kỷ trước, khi Jules Verne viết truyện du hành nguyệt diện có ai dám nghĩ đó sẽ là sự thật, có ai dám nghĩ các phi hành gia sẽ đi đi về về cung Quảng như đi chợ !
Trên lãnh vực điệp báo, tưởng tượng và sự thật lại gắn nhau như bóng với
hình. Nhiều vụ gián điệp đã xẩy ra với ngày tháng, tên tuổi, và hình ảnh tài liệu lịch sử hẳn hòi mà khi nghe thuật lại ta vẫn cứ tưởng là tiểu thuyết.
Các bạn đã đọc tiểu thuyết Z.28, các bạn biết là tưởng tượng mà cứ cho là sự thật. Thì đây Người thứ Tám xin cống hiến với các bạn một số giai thoại gián điệp hoàn toàn là sự thật.....
Và mặc dầu tác giả triệt để tôn trọng từng chi tiết lịch sử, chắc chắn nhiều bạn đọc sẽ hỏi trong bộ truyện "13 giờ định mạng" có bao nhiêu phần trăm tưởng tượng, bao nhiêu phần trăm sự thật ?.
° ° °
Muốn viết lại đủ phải mất nhiều năm và nhiều ngàn trang giấy. Vì hoàn cảnh eo hẹp, tôi chỉ xin ghi lại một số giai thoại điển hình. Tôi chỉ xin ghi lại một số vụ xẩy ra từ đầu thế kỷ đến nay mà thôi.
Truyện thứ nhất miêu tả những phút cuối cùng trong đời của đại tá Rết, siêu lãnh tụ Phản gián trước thế chiến 1914 - 1918, từng nghĩ ra những phương pháp thần sầu để bắt điệp viên địch, nhưng rồi lại chết vì những phương pháp ruột của mình.
Truyện thứ hai xoay quanh huyền thoại nữ điệp viên Mata Hari cũng trong thế chiến 1914 - 1918. Nếu thế chiến này có huyền thoại Mata Hari thì thế chiến sau lại có huyền thoại Richard Sorge.
Truyện thứ ba là thiên anh hùng ca thê thảm của tiến sĩ Sorge. Richard Sorge chết vì bị Phản gián Nhật phăng ra vai trò điệp viên phụng sự Liên sô cộng sản của ông.
Truyện thứ tư, anh hùng kháng chiến Âu châu King Kong cũng chết, nhưng lại chết vì bị Phản gián đồng minh khám phá ra y chỉ là anh hùng kháng chiến giả mạo.
Truyện thứ năm, người gián điệp mặt ma, từng làm nhiều độc giả Tây phương rớt nước mắt. Nhưng sang đến truyện thứ sáu, bạn đọc sẽ phải cười nửa miệng, và thở phào: truyện Phản gián Đức quốc xã chơi tình báo Anh quốc một vố đau điếng, một vố đầy máu và cũng đầy nước mắt.
Truyện thứ bảy, truyện mật vụ của Hítle đòn phép khiến Sít-ta-lin giết chết hàng trăm tướng lãnh cao cấp Hồng quân, chắc chắn sẽ làm ta ngạc nhiên, ngạc nhiên trong ngậm ngùi và phẫn nộ...
Truyện thứ tám nhắc lại thành tích của một điệp viên Do thái tên là Tabê-Cohen. Không phải ngoa khi nói rằng phe Ả-rập thua trận liểng xiểng là do công lao cúa điệp viên Tabê.
Truyện thứ chín và cũng là truyện kết thúc sẽ thổi một luồng gió nóng vào đêm khuya lạnh lẽo. Các bạn theo dõi hành động kinh thiên động địa của đại tá điệp viên đồng minh Shelley đột nhiên sẽ cảm thấy thoải mái. Và không nhiều thì ít, các bạn sẽ nhớ đến điệp viên Z.28
° ° °
Tập truyện này gồm 9 đoản thiên gián điệp, với "13 Giờ Định Mạng" là truyện mở đầu. Vì nhiều bạn đọc không am tường ngoại ngữ nên Người Thứ Tám mạn phép phiên âm tên người và tên địa danh. Sự phiên âm chỉ lấy giản dị làm căn bản nên chắc chắn có nhiều thiếu sót vậy xin bạn đọc lượng thứ.
NGƯỜI THỨ TÁM
TRUYỆN THỨ NHẤTMƯỜI BA GIỜ ĐỊNH MẠNG
Giữ chức vụ quan trọng trong guồng máy chánh quyền, và lợi dụng chức vụ này để cung cấp tin tức, tài liệu điệp báo cho địch, như vậy danh từ chuyên môn Anh ngữ gọi là "defection in place".
Dịch nôm na và ngô nghê là "bội phản tại chỗ". Dịch thoát nghĩa (mặc dầu không đúng hẳn) là nội-tuyến.
Nội-tuyến hiện giữ vai trò to lớn trong cuộc chiến tranh nóng cũng như lạnh giữa các phe trên thế giới.
Đặc ký "13 giờ định mạng" sau đây thuật lại câu chuyện có thật trăm phần trăm về một nội-tuyến lỗi lạc, đại tá Rết (Alfred Redl) của quân đội Áo trước đại chiến thứ nhất.
Câu chuyện xảy ra năm 1913. Nội-tuyến Rết bị sa lưới chỉ vì ưa con số 13. Và từ khi bại lộ đến khi từ giã cõi đời chỉ có 13 giờ đồng hồ, 13 giờ định mạng...
Những năm mở đầu thế kỷ 20 là những năm đen tối nhất ở châu Âu, các cường quốc hồi ấy, Đức, Pháp, Anh, Nga, và Áo, đều ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Trừ Pháp, các cường quốc vừa kể đều theo chế độ quân chủ. Nước Áo hồi ấy gồm cả một phần Tiệp khắc, có thêm thủ đô Praha (Prague).
Rết là lãnh tụ điệp báo chuyên nghiệp. Năm 1907 ông là nhân vật điệp báo số một của Áo. Nhưng ông cũng là điệp viên của Nga. Hồi ấy, Nga chưa phải là Nga sô. Nga cũng chưa có KBG hoặc RU như ngày nay. Cơ quan thu dụng Rết là Okrana (Okhrannoyé Odelenié). Okrana hoạt động khá hữu hiệu.
Năm 1883, điệp viên Okrana đã qua Hoa kỳ, bí mật theo dõi những phần tử chống Nga-hoàng. Bằng chứng về sự hữu hiệu của Okrana : một bản phúc trình đề ngày 1-5-1904 đã miêu tả rành mạch là Sít-ta-lin, người sẽ nắm vận mạng nước Nga sau ngày Lênin chết, có bàn chân trái bị bẩm tật, ngón thứ nhì và ngón thứ ba dính vào nhau bằng một mảng da.
Rết chết vì đàn bà. Cuộc đời Rết đã được đưa vào chương trình giảng dạy tại các trường gián điệp hầu lưu ý khóa sinh đến sự nguy hiểm của nội-tuyến, sự nguy hiểm của... đàn bà.
Bạn đọc quen thuộc của loại truyện gián điệp sống động — như tủ sách Z.28 — chắc sẽ hài lòng. Vì những tình tiết có thật về đại tá Rết cũng ly kỳ không kém những tình tiết được tưởng tượng.
I.
5 giờ sáng.
5 giờ sáng là giờ bắt đầu thức giấc của những thành phố lớn sau một đêm dài mê mệt. Buổi tỉnh ngủ của thành phố thường được đánh dấu bằng những đoàn xe hơi chở hàng từ ngoại ô rầm rộ phóng qua đại lộ tráng nhựa mênh mông, rực rỡ ánh đèn nê-ông muôn mầu, và những ngã tư gắn đèn giao thông đỏ vàng hấp háy liên hồi. Du khách ở bên trong đại lữ quán lộng kiếng trong suốt, được điều hòa khí hậu, lên xuống bằng thang máy điện tử cũng lục tục thức dậy để xuống xe "ca" ra phi trường, lên chuyến máy bay phản lực thương mãi cất cánh sớm nhất trong ngày.
Tuy vậy 5 giờ sáng hôm ấy tại Praha (Prague) bắt đầu thức giấc lại không có những đoàn xe hơi chở hàng, những du khách sửa soạn đáp máy bay phản lực, những đại lữ quán trang bị tiện nghi tối tân. Lên, xuống, người ta còn phải dùng cầu thang xi-măng. Dọc đường cũng không có đèn nê-ông.
Vì năm ấy là năm 1913, trước thế chiến thứ hai 26 năm. Praha chưa là thủ phủ của Tiệp khắc cộng sản. Praha còn là một thị trấn của hoàng gia Áo quốc. Đời sống chẳng có gì đặc sắc, ngoại trừ sự đặc sắc của đàn bà. Nhưng đàn bà hồi ấy chưa biết sửa mũi cao, mổ mắt thành hai mí, cặm lông nheo giả, vẽ mắt bằng chì xanh, và nhất là đệm mông cao su mút, bơm ngực nở với chất si-li-côn để đánh lừa giống đực...Và dĩ nhiên là đàn bà chưa biết nghệ thuật mồi chài hở ngực, hở đùi, hở rốn...
Cho dẫu phụ nữ Praha hồi ấy am tường những mánh khóe tuyệt đỉnh để chinh phục nam giới, lão Câm cũng không cần. Vâng, lão Câm không cần. Lão Câm không quan tâm đến sắc đẹp phái yếu. Đối với lão, đàn bà đẹp hay đàn bà xấu, đàn bà ngực nhọn hay đàn bà ngực lép cũng vẫn là đàn bà. Và đàn bà cũng chẳng khác đàn ông bao nhiêu...
5 giờ sáng.
Ngày 27 tháng 5 năm 1913.
Như thường lệ, mỗi đêm cứ đúng 5 giờ sáng là lão Câm lặng lẽ rời tòa báo Quốc gia về nhà 1. Phuơng châm của lão dường như là sự lặng lẽ. Lão không ra đường bằng cửa trước như mọi nhân viên. Mà là lùi lũi ra bằng cửa sau, một cánh cửa nhỏ xíu, ọp ẹp, nằm giấu phía sau thân cây sồi. Cây cổ thụ này đứng sừng sững trên vỉa hè từ nhiều trăm năm nay, cành lá luôn luôn xum xuê thiết tưởng cả một trường học ở gần đấy gồm mấy trăm cậu bé xếp hàng phía dưới cũng không sợ mưa nắng.
Trời mùa hạ, dầu là sáng tinh sương, phố sá đầy ắp sương mù, nên không khí có vẻ oi bức. Nhưng lão Câm lại co ro bước ra đường. Lão đặt đế giầy thật nhẹ, như thể nền đường được làm bằng vật ròn. Và, như thường lệ, lão đội cái mũ nỉ sùm sụp, bên nách cặp tờ báo mới ra khỏi máy in còn thơm mùi giấy và mùi mực, lão tạt qua đường đút đầu vào cái hẻm nhỏ nằm sau những ngôi nhà cao thấp và to nhỏ không đều.
Lão Câm là người gác gian của tòa báo. Lão đến sở đúng 5 giờ chiều, và rời sở đúng 5 giờ sáng. Nhiệm vụ của lão là canh phòng ban đêm, ngăn ngừa kẻ lạ đột nhập tòa báo. Kể ra, công việc khá nhàn hạ, tòa báo không phải là nhà hàng bán thức ăn ngon hoặc tiệm kim hoàn mà sợ gian phi thăm viếng, báo chí hồi ấy được nhà cầm quyền chiếu cố chặt chẽ, tin tức bị kiểm duyệt nên mấy trang in ra mỗi buổi sáng chỉ gồm những tai nạn vặt vãnh và những biến động ở bên ngoài biên giới không liên quan đến Áo quốc. Lão Câm bắc cái ghể đẩu gần cái máy in lớn nhất, ngồi bó gối nhìn những ống trục cao su, lăn mực và liếm giấy quay đều, cặp mắt bâng khuâng. Lão không trò truyện với ai. Lão không hề cười lớn. Song mọi người trong tòa báo đều có cảm tình với lão. Có lẽ vì lão không làm ai mất lòng, và xía vào công chuyện riêng của kẻ khác
Lão Câm làm gác gian trong tòa báo Quốc gia từ một năm nay. Công nhân chạy máy ban đêm không biết lý do lão được thu nạp, chỉ biết là đột nhiên lão xuất hiện sau khi người gác gian cũ bị chết đuối trên con sông lớn chạy ngang thành phổ. Lão không mắc tật câm, lão nói năng khá lưu loát và chín chắn, người ta đặt hỗn danh lão Câm vì lão hà tiện ngôn ngữ, hà tiện đến mức ai cũng có thể lầm là lão cấm khẩu. Lão chỉ cất tiếng mỗi khi thấy cần thiết. Và giọng nói của lão lại nhỏ nhẹ, rụt rè như giọng con gái ru rú trong phòng the lần đầu bước chân vào đời.
Lão Câm trạc 45, 50 gì đó, lẽ ra gọi bằng ông mới đúng, mọi người dùng tiếng lão vì lão đã già trước tuổi. Lão ghét đàn bà đã đành, lão còn ghét cả cách làm dáng, thậm chí lão quên cả hớt tóc, chải đầu và... giặt quần áo nữa...
Lão Câm đi được nửa con hẻm thì dừng lại.
Lão nghển cổ nhìn lên lầu ba của căn nhà bên trái phía sau một cây sồi lớn. Lầu ba của căn nhà cũ xưa này có hai khung cửa sổ. Cả hai đều mở. Và chỉ mở một cánh. Cánh cửa bên vẫn đóng, ở trong phòng hắt ra một ánh đèn vàng lờ mờ.
Lão Câm nhún vai quẹo sang bên phải, trở ra đường lớn. Praha là thị trấn có rất nhiều gác chuông nhà thờ. Qua màn sương trắng, tháp chuông cao lêu nghêu của nhà thờ thánh Vít, nhà thờ lớn nhất, vươn thẳng như mời mọc, và thách thức lão Câm.
Lão Câm rẽ vào mái hiên tranh tối tranh sáng, lục túi lấy thuốc lá. Lão chuyên hút thuốc rê, hút liên tu bất tận, hút nhiều khi cháy đỏ quần áo. Nhưng từ khi rời tòa báo đến giờ lão chưa hề hút. Và thay vì rút ra cái bao da láng mềm, đựng thuốc rê và xấp giấy quyển mỏng dính để vấn thành điếu, lão Câm lại thưởng thức một điếu thuốc thơm đàng hoàng. Lối quẹt diêm của lão cũng nhanh nhẹn chứ không chậm chạp như những khi lão mồi lửa cho bạn đồng nghiệp ở tòa báo. Lão ngửa cổ rít một hơi dài.
Trong khi ấy, lão kín đáo nhìn phía sau. Lão có cặp mắt mơ màng, như thể nhà thơ đang kẹt vận, nhưng trong khi ấy cặp mắt mơ màng của lão lại lóe sáng, xuyên thủng màn sương.
Đường hẻm không có ai. Lão cười mỉm, thả bộ trên vỉa hè lót gạch lồi lõm. Được một quãng, lão Câm dừng lại. Chưa hết, lão còn đi vòng hai con hẻm quanh co khác trước khi quay lại căn nhà cũ xưa có hai khung cửa sổ đóng mở trên lầu ba.
Nhanh nhẹn lão Câm trèo lên bậc thềm khá cao và xô cửa. Cửa nhà chỉ khép hờ nên lão mở ra dễ dàng. Dáng điệu quen thuộc, lão Câm bước qua bộ xa-lông. Cầu thang xi-măng ở góc nhà, bước chân của lão Câm êm như ru. Lão trèo cầu thang từ từ, hơi thở điều hòa, điếu thuốc thơm phì phèo thơm phức đã bị lão giật khỏi miệng, dẫm nát dưới đế giầy từ nãy.
Trong chớp mắt, lão Câm đã lên đến lầu ba, và gõ cửa căn phòng đối diện cầu thang. Bên trong có tiếng :
- Cám ơn. Sáng nay tôi không uống cà-phê.
Lão Câm đáp gọn :
- Vậy, uống la-ve nhá ?
Nói đoạn, lão Câm tủm tỉm cười một mình. Rõ khỉ, thiếu gì mật khẩu mà thượng cấp lại bắt lão dùng những tiếng vớ vỉn như "cà-phê, la-ve"...
Nhưng lão lại cảm thấy khoan khoái. La-ve là món uống lừng danh ở Áo, dân nhậu ở xa chỉ nghe nhắc đến cũng rệu nước miếng. Lão cũng có duyên nợ với la-ve, ban đêm lão không dám uống vì sợ bị nghi ngờ, song ban ngày thì tha hồ, lão nốc hết chai này qua chai khác, và càng uống la-ve lão càng tỉnh.
Lão Câm đang tủm tỉm cười một mình với mớ ý nghĩ rí rỏm trong đầu thì cửa phòng hé mở, và một người đàn ông trung niên gày rom rom, cặp mắt kiếng đen sì che gần nửa mặt ló đầu ra, giọng thân mật nhưng khô khan :
- Vào đi.
Căn phòng không được trang hoàng gì cả, ngoại trừ cái bàn gỗ vuông và hai cái ghế gỗ mỏng mảnh. Người đàn ông trung niên chỉ ghế cho lão Câm ngồi. Trên bàn đã có một đống vỏ chai la-ve, và một ly đựng la-ve vàng rộm còn sủi bọt. Lão Câm rót thêm cho thật đầy rồi nâng ly lên miệng, uống ừng ực. Gã trung niên hỏi :
- Đúng là đại tá Rết bị xử bắn không ?
Lão Câm lấy vạt áo lau những giọt bia đọng trên mép :
- Thưa đúng. Lệnh của đại tướng tổng tư lệnh quân đội Áo là xử bắn Rết. Tuy nhiên, Rết đã yêu cầu được tự xử.
- Tin này được đăng trên báo ?
Lão Câm trải tờ nhật báo vừa lấy khỏi nhà in trên bàn:
- Thưa vâng. Nhưng vì sở kiểm duyệt hoạt động quá gắt gao nên nhà báo chỉ dám lặp lại tin Rết tự sát bằng súng trong một phút quẫn chí. Họ ca tụng Rết là võ quan cao cấp có tài, có đức, từng lập nhiều công trạng trong ngành điệp báo, đồng thời họ cải chính những tin đồn cho rằng Rết là kẻ phản quốc đã lén bán tài liệu tối mật cho nước Nga...
- Tại sao họ lại cải chính ?
- Đó là một cách loan tin khôn khéo và an toàn. Họ nói thật thì sợ ngồi tù, nên họ nghĩ ra một mánh lới mà sở kiểm duyệt không làm gì nổi, ấy là loan tin đúng rồi cải chính tức thời.
- Tờ báo lấy tin này ở đâu ?
- Thưa, do sự tình cờ trong một trận đá banh..
- Đá banh?
- Vâng, trận đá banh chiều chủ nhật cách đây hai hôm giữa đội Praha và đội Viên (Vienne). Đội Praha nắm chắc phần thắng, nên hầu hết khán giả đều đánh cá đội Viên thua, không ngờ...
- Hừ... cả anh cũng thích báo cáo dài giòng nữa ư? Đá banh rồi làm sao ? Vụ đại tá Rết liên quan gì đến một buổi túc cầu và sự đánh cá ăn thua của đám khán giả thích đỏ đen ?
- Thưa, liên quan một cách mật thiết. Số 1 thủ quân của đội Praha còn là phụ tá chủ bút của nhật báo Quốc gia.....
- À, à...
- Thưa, sự tiên đoán của khán giả đã trật lất hoàn toàn. Đội Praha bị đá thủng lưới 2 trái. Nguyên nhân là do hàng phòng vệ quá yếu. Giờ chót, Oác-ne 2 vắng mặt trên sân vì trường hợp bất khả kháng. Sự vắng mặt này làm mọi người phẫn nộ. Viên thủ quân lại càng phẫn nộ hơn ai hết. Đêm ấy, hắn hùng hổ đến nhà Oác-ne, dự định mắng cho một mẻ nên thân, và nếu cần tặng luôn vài ba trái đấm, nhưng không gặp. Viên thủ quân chờ đến khuya không thấy Oác-ne nên đành trở về. Cả đêm hắn không chợp được mắt, sáng tinh sương, hắn lò dò đến tìm Oác-ne lần nữa. Khi ấy, gã hậu vệ vừa về, mệt muốn đứt hơi.
Gã thủ quân nghe bạn trần tình mới bật ngửa. Thì ra, bạn hắn không dự cuộc đấu được vì bị quân đội triệu dụng. Gã hậu vệ làm nghề thợ khóa, gã là thợ khóa giỏi nhất ở Praha. Gã nai nịt gọn ghẽ, sửa soạn ra sân cỏ thì một nhóm sĩ quan cao cấp đậu xịch xe trước nhà. Bình thường một ông úy cà mèng đến thăm gã cũng xanh mặt, huống hồ lại là một ông tướng3. Ông tướng cho biết gã được bộ tổng tư lệnh mời đi Viên để mở một ổ khóa kiên cố.
- Trong nhà riêng của đại tá Rết ?
- Dạ. Rết có một căn nhà riêng ở Viên, trong đó kê một tủ sắt vô cùng kiên cố. Rết chết từ đêm trước, nghĩa là đêm thứ bảy rạng sáng chủ nhật, chuyên viên của quân đội hì hục mở mãi không ra, họ đành nhờ đến tài khéo tay của gã thợ khóa kiêm hậu vệ đội banh Praha.
- Gã thợ khóa có nói trong tủ két của Rết đựng những gì quan hệ không ?
- Thưa, gã cũng mất khá nhiều thời giờ mới mở nổi. Rết là lãnh tụ điệp báo nên rất thận trọng, tủ két được chế bằng thép dầy, và gắn ổ khóa đặc biệt, phải nổ mìn mới phá vỡ được, nhưng nếu nổ mìn thì cháy hết tài liệu đựng bên trong, bộ tổng tư lệnh biết là triệu dụng gã thợ khóa thì khó giữ nổi bí mật song không còn cách nào khác. Khi mở ra, gã thợ khóa chỉ thấy toàn giấy tờ đóng dấu đỏ tối mật, và rất nhiều bản đồ tham mưu. Ngoài ra còn một số giấy tờ bằng chữ Nga.
- Rết là thằng ngu. Dặn nó hoài mà nó chẳng thèm nghe. Anh có biết những giấy tờ bằng chữ Nga này nói gì không ?
- Thưa không. Gã thủ quân là nhà báo nên cũng hỏi gặng, song tên thợ khóa đáp rằng tủ két vừa mở là gã bị các sĩ quan đuổi ra phòng ngoài. Tất cả giấy tờ đều được chở về bộ tổng, có binh sĩ võ trang hộ tống, gã thợ khóa bị lục soát tỉ mỉ, và sau đó người ta cấm gã được bép sép.
- Nhưng gã vẫn bép sép.
- Thật ra, gã định ngậm hột thị, nhưng vì gã thủ quân một mực nghi oan cho gã ăn tiền của đội banh Viên nên kiếm cớ lánh mặt cho đội nhà bại trận, danh dự và tự ái của gã bị va chạm nặng nề, gã đành phải mở miệng. Không dè gã thủ quân lại là nhà báo săn tin rồi cứ thế gã thợ khóa vô tình tiết lộ hết bí mật này đến bí mật khác.
Lão Câm ngừng nói, vớ ly la-ve vừa rót đầy trên bàn uống cạn một hơi. Rồi lão ngước cặp mắt kèm nhèm giả mạo lên nhìn thượng cấp, giọng pha vẻ nghiêm trọng :
- Thưa đại tá, sở dĩ tôi xin được gặp đại tá sáng nay vì gã thợ khóa tiết lộ một điều đáng chú ý. Trong khi gã bị đuổi ra phòng ngoài thì hai ông tướng bàn tán với nhau bằng tiếng Đức, đinh ninh gã là người Tiệp, không hiểu tiếng Đức. Họ nói phải làm một mẻ lưới rộng lớn và bất ngờ, hốt hết điệp viên Okrana ở đây.
Gã đàn ông trung niên mà lão Câm gọi tên một cách kính cẩn là đại tá chắt lưỡi, hai tay chắp sau đít, đi đi lại lại trong phòng :
- Biết rồi, tôi cũng định nói với anh như vậy, Một nguồn tin cho biết chúng ta có thể bị lộ. Vì vậy, sau cuộc gặp gỡ này, anh phải rút ngay vào bí mật. Thượng cấp chỉ cho phép anh rút vào bí mật, chứ chưa cho phép hồi hương, vì tình hình đang biến chuyển nhanh chóng, anh đã phục vụ đắc lực cho Tổ chức, anh còn phải ở lại hải ngoại để tiếp tục nhiệm vụ. Nhân tiện, tôi cũng thông báo với anh hai tin mừng:
- Thưa, đại tá vừa nhận được tin về vợ con tôi ?
- Đúng. Thứ nhất là tin nhà. Vợ anh đã khỏi bệnh. Đứa con lớn của anh vừa thi đậu.
- Cám ơn đại tá.
- Còn tin thứ hai. Trung ương nhiệt liệt khen thưởng anh, và đặc cách vinh thăng anh lên thiếu tá. Nào, thiếu tá chìa tay ra cho tôi bắt. Hà hà... bộ tổng tư lệnh Áo muốn bắt nhân viên Okrana, nhưng họ lại không biết rằng những nhân viên chỉ huy Okrana tại Áo là tôi và anh đang sống nhởn nhơ trước mắt họ, anh là gác gian tòa báo Quốc gia còn tôi là ông chủ tiệm làm bánh mì quèn, ha ha.... ha ha...
Viên đại tá gián điệp Nga đã có đủ lý do để cười nhạo quân đội Áo quốc. Vì sự phản bội của Rết đã làm ngai vàng nhà vua lung lay trầm trọng để rồi đại chiến thế giới thứ nhất bùng nổ, vương quốc bị chia cắt tan hoang. Bộ tổng tư lệnh Áo bàng hoàng như bị sét đánh trước những đều tìm thấy trong tủ sắt của đại tá Rết nên quyết định giữ kín nội vụ bằng mọi giá. Ngay cả nhà vua cũng không được báo cáo về sự phản bội của Rết. Nhưng Okrana đã biết.
Ngoại trừ những mẩu tin lặt vặt và rụt rè đăng trên báo địa phương, không một chi tiết đáng kể nào được thẩm lậu, dư luận hoàn toàn mù tịt. Phải chờ đến sau thế chiến đế quốc Áo xụp đổ và bị xâu xé người ta mới biết sự thật.
Sự thật này là hơn nửa triệu người Áo đã chết trong khói lửa do sự phản bội của Rết. Nhưng Rết là ai ?
II.
Những tài liệu còn lại trong thư khố an ninh cho thấy Rết là một quân nhân có đặc tài, giỏi tổ chức, điều khiển bén nhọn và rất giàu nghị lực. Ông có năng khiếu về tình báo nên sau khi gia nhập quân đội ông được biệt phái vào Phòng Nhì.
Cuộc đời binh nghiệp của Rết bay cao như diều gặp gió, trong một thời gian ngắn ông trèo lên chức vụ chỉ huy. Từ năm 1900 đến 1905 Rết làm phó giám đốc tình báo và phản gián Áo quốc. Và từ 1907 đẽn 1911, Rết làm giám đốc. Không khí châu Âu hồi ấy cực kỳ khẩn trương, Áo là một vương quốc rộng mênh mông và hùng hậu về mọi mặt, nên chức vụ giám đốc tình báo và phản gián đã tạo cho Rết những uy quyền lớn.
Kể ra Rết xứng đáng làm giám đốc. Vì dưới quyền Rết guồng máy điệp báo của Áo đã trở thành một tổ chức hiện đại và đắc lực. Và không riêng điệp báo Áo, điệp báo trên toàn thế giới đều thừa hưởng của đại tá Rết những phát minh tân kỳ. Văn phòng của Rết, cũng như của các phụ tá cao cấp đều được trang bị ống ảnh bí mật, khách vào phòng bị chụp hình kín đáo, giọng nói của khách cũng bị ghi vào đĩa. Ngày nay, chụp hình trộm hoặc ghi âm trộm là chuyện quá thường, chẳng cứ là chuyên viên điệp báo mới làm nổi, nhưng cách đây gần 70 năm, kỹ thuật nhiếp ảnh và thu thanh vẫn còn thô sơ thì sự bố trí của Rết phải được coi là những phát minh tân kỳ bậc nhất.
Rết còn nghĩ ra một phương pháp lấy dấu ngón tay thật tài tình. Sau vài lời đưa đẩy với khách, Rết chìa hộp thuốc lá bằng bạc mời khách rút thuốc. Hộp thuốc này được phủ một lớp mi-ni-om ở ngoài. Sau đó, vân tay của khách in lên trên mi-ni-om được chụp hình lại trong phòng thí nghiệm.
Trong trường hợp khách không hút thuổc, Rết sẽ kiếm cớ bận việc, chạy qua phòng bên, để lại trên bàn, ngay trước mắt và trong tầm tay của khách một xấp hồ sơ "tối mật" hoặc tấm hình đàn bà trần truồng nẩy nở và khiêu khích. Mỡ để miệng mèo, thử hỏi có mèo nào chịu ngồi bất động ?
Rết được thăng đại tá và thuyên chuyển từ Viên đến Praha. Thiếu tá Ron (Maximilian Ronge), phụ tá của Rết được đôn lên thay thế. Ron giữ nguyên những sự sắp xếp của Rết được coi là hữu hiệu. Ron lạị thực thi những chương trình cải tiến do Rết dự liệu song phải đình hoãn vì thiếu phương tiện. Trong số những chương trình cải tiến này, vấn đề kiểm duyệt thư tín được nâng lên hàng đầu.
Việc kiểm duyệt được tiển hành hết sức bí mật. Mộl nhóm nhỏ nhân viên thân tín được thiếu tá Ron biệt phái đến Tổng nha bưu điện có nhiệm vụ mở đọc mọi thư từ, và đặc biệt là thư từ từ các vùng giáp biên gửi tới. Nhóm kiểm duyệt viên này đinh ninh việc mở đọc thư từ nhằm ngăn chặn và khám phá những vụ buôn lậu.
Chỉ có 3 người được biết lý do của việc kiểm duyệt. Trong vòng một năm trường, nhóm kiểm duyệt viên hoạt động bình thường, chẳng có gì đáng nói. Đột nhiên tháng 2-1913 họ thộp được hai bức thư khả nghi, đóng dấu một trạm bưu điện dọc biên giới phía đông Đức quốc, gần cận lãnh thổ Nga. Cả hai phong thư đều gửi cho một hộp thư lưu trữ tại tổng nha bưu điện Praha mang số 13. Trong thư không có một giòng chữ nào. Mà chỉ đựng tiền. Một phong đựng 8 ngàn đồng tiền Áo, phong thư thứ nhì đựng 6 ngàn 4.
Nội vụ được trình báo cho thiếu tá Ron và một hệ thống bẫy xập được thiết lập. Quầy thùng thư lưu trữ được đặt dưới sự theo dõi của các nhân viên mật vụ. Một nút chuông điện được gắn dưới quầy, ăn thông với bót cảnh sát kế cận, trong bót có hai nhân viên mật vụ luân phiên túc trực trong những giờ bưu điện mở cửa. Viên chức thùng thư lưu trữ có bổn phận bấm nút chuông báo tin trong trường hợp người thuê bao thùng số 13 xuất hiện và phải tìm mọi cách rềnh rang hầu hai mật viên có thể đến kịp.
Những giờ, những ngày nhạt phèo trôi qua người thuê bao thùng thư số 13 vẫn biệt mù tăm tích, hai mật vụ viên giết thời giờ bằng cách chơi bài và viết thư... tình, đinh ninh đương sự bị động ổ đã lẩn trốn.
Nhưng ngày 24-5, đúng 12 tuần sau ngày hệ thống chuông báo động được thiết trí tại quầy thùng thư lưu trữ thì một tiếng chuông ngắn reo vang trong bót cảnh sát. Cả tháng, cả buổi nó không chịu reo, đến khi hai mật vụ viên không có mặt nó mới reng reng. Khi ấy, một mật vụ viên mắc kẹt trong phòng vệ sinh. Mật vụ viên thứ hai cũng đang rửa tay.
Họ chạy xấp chạy ngửa đến sở bưu diện. Song đã quá chậm. Nhân viên phụ trách thư lưu trữ đã tìm cách hoạt động chậm hơn rùa bò nhưng người mang số 13 đã lãnh thư và biến dạng. Hai mật vụ viên phóng nhanh ra cửa, và chỉ kịp nhìn thấy một chiếc tắc-xi quẹo ở ngã tư. Họ không có phương tiện di chuyển, xe gắn máy cũng không có chứ đừng nói xe hơi, họ đành đứng chờ trước nha bưu điện. Hồi ấy là năm 1913, tắc-xi còn là đại xa xỉ phẩm, đâu có nhiều như bây giờ, nên hai mật vụ viên đợi hoài, đợi hoài mà những con đường trước sở bưu điện vẫn vắng tanh. Họ hy vọng một chiếc xe nhà nào đó xình xịch chạy tới, họ sẽ chìa thẻ hành nghề ra...chặn lại. song chỉ là hy vọng hão huyền. Cho dẫu họ có xe thì cũng là vô ích. Chậm rồi. Chậm quá rồi. Chiếc tắc-xi cao lêu nghêu sơn đen, bóp kèn toe toe đã chở số 13 thùng thư lưu trữ khỏi tầm mắt họ được đúng 20 phút.
20 phút, trời ơi, 20 phút quái ác... Hai mật vụ viên ngơ ngẩn nhìn nhau, tiu nghỉu như mèo cắt tai. Nửa giờ trước, họ hùng dũng tin tưởng bao nhiêu thì giờ này họ mềm xèo và chán nản bấy nhiêu. Nhớ đến lời dặn của viên thiếu tá giám đốc, họ sợ phát lạnh người, hàm răng đánh vào nhau cầm cập, mặc dầu trời tháng 5 ở Praha nóng toát bồ hôi. Thiếu tá Ron nổi tiếng nghiêm khắc đối với nhân viên, ông ta đã lặp lại nhiều lần là phải túc trực trong bót cảnh sát, hễ kẻ tình nghi đến phòng thư lưu trữ là ập ngay tới, không được chậm trễ. Con chim đã bay bổng, họ sẽ ăn làm sao, nói làm sao với thiếu tá Ron ? Nhẹ ra thì tống xuất khỏi sở, không khéo còn bị bắt giữ và lôi ra tòa án về tội cẩu thả nghề nghiệp hoặc thông đồng với địch...
Nghề điệp báo vốn là nghề của sự may rủi, hai mật vụ viên rủi không theo kịp kẻ tình nghi tại sở bưu điện nhưng lại gặp may kinh khủng. Là vì sau gần nửa giờ dậm chân than vãn, họ nhìn thấy chiếc tắc-xi cao lêu nghêu sơn đen hồi nãy lò dò quay lại.
Họ vắt giò lên cổ chạy tới nơi xe đậu. Tài xế nhăn răng cười. Họ mừng đến nỗi họ muốn cười mà cười không được. Tài xế mở cửa xe, cả hai mật vụ viên đứng sững như trời trồng. Lát sau một nguời mới mở được miệng :
- Anh vừa lái ông khách hồi nãy đến đâu ?
Tài xế xịu mặt khi thấy tấm chứng minh thư in dấu son, dán ảnh oai vệ của sở Mật vụ, Hắn đáp vâng, rồi chỉ tên một quán cà-phê nhỏ 5. Hai gã nhảy lên xe, dọc đường tài-xế đã xả hết tốc lực mà họ vẫn kêu chậm. Cũng may quán cà-phê này không lấy gì làm xa, đường phố ở Praha năm 1913 chưa có xe cộ đông đúc và đèn hiệu giao thông khệnh khạng, nên hai mật vụ viên của thiếu tá Ron đã đến nơi sau mấy phút đồng hồ.
Nhưng một lần nữa, hy vọng đã biến thành thất vọng. Tiệm cà-phê chỉ có lơ thơ một vài khách uống. Gã tài xế đi vòng các bàn, nhìn từng mặt, và sau cùng lắc đầu. Gần đó có một bãi đậu tắc-xi. Hai mật vụ viên hỏi chủ quán, được biết là ông khách có khuôn mặt và lối phục sức như họ miêu tả mới rời quán sau khi uống cà-phê và đi bộ lại bãi đậu tắc-xi.
Họ sửa soạn phóng lại bãi thì gã tài xế gọi giật và giúi vào tay họ một cái túi da nhỏ. Túi da này được dùng để đựng dao nhíp. Nó màu xám, nền da đã lên nước bóng loáng, chứng tỏ chủ nhân của nó đã mua từ lâu. Gã tài xế tưởng hai mật vụ viên bỏ quên. Xe chạy khỏi quán được một quãng, một trong hai mật vụ viên mới reo lên :
- Chắc chắn mình sẽ tóm được hắn.
Hắn lạc quan không đển nỗi quá đáng vì một tài-xế ở bãi đậu xe cho biết người khách từ quán cà phê đến đã gọi tắc-xi về lữ quán Kờ-lom-se (Klomser). Hai mật vụ viên kêu một nhân viên tiếp tân cuả khách sạn Kờ-lom-se ra hỏi thì được báo cáo là trong vòng 30 phút vừa qua có 4 ông khách mới. Nhân viên tiếp tân này được lệnh gõ cửa phòng của 4 người khách để hoàn trả cái túi da đựng dao.
Ngay khi ấy, một người đàn ông đứng tuổi mặc thường phục nhưng dáng diệu cứng nhắc, chứng tỏ là quân nhân chuyên nghiệp, từ cầu thang bước xuống phòng khách dưới nhà. Hai mật vụ viên ngồi thu hình trong góc, mỗi người cầm một tờ báo to tướng che kín mặt.
Người khách đưa chìa khóa phòng cho bồi. Như vậy có nghĩa là khách sắp đi. Người nhân viên tiếp tân khúm núm tiến lại, chìa cái túi da xám ra. Hắn chưa kịp nói thì khách đã à lên một tiếng. Người nhân viên tiếp tân vội hỏi :
- Thưa, quý ngài bỏ quên cái này.
Khách cười, cất cái túi da vào trong túi rồi nói:
- Vâng, cám ơn, cái túi này của tôi.
Mặt khách đang tươi roi rói bỗng sa sầm. Khách bước theo người nhân viên tiếp tân, giọng hơi mất vẻ bình thường :
- Này, ông bạn, ông bạn nhặt được cái túi này ở đâu đấy ?
Người nhân viên tiếp tân đáp :
- Thưa một tài xế tắc xi mang lại khách sạn, nói là quý ngài bỏ quên.
- Tại sao y lại biết tôi bỏ quên ?
- Thưa, tôi không được rõ.
- Người tài xế này còn ở đây không ?
- Thưa không.
Khách khựng người, da mặt hơi xanh. Bản năng chuyên viên điệp báo vừa thức dậy trong lòng khách. Khách vẫn được coi là người khôn ngoan chín chắn. Lẽ ra khách không nên nhận là chủ nhân cái túi da dựng dao nhíp. Khách từng huấn luyện thuộc viên thận trọng để khỏi rơi vào cạm bẫy. Té ra sinh ư nghệ tử ư nghệ... khách đã đút đầu vào cạm bẫy do chính mình nghĩ ra.
Khách là đại tá Rết, xếp sòng tình báo và phản gián Áo quốc. Đại tá Rết vừa vô tình hạ bút ký vào bản án tử hình của mình.
Rết ra khỏi lữ quán, thờ thẫn như người mất hồn. Một mật vụ viên vứt tờ báo xuống đất, chạy bổ lại máy điện thoại. Thiếu tá giám đốc Ron chờ sẵn ở đầu dây. Sở Mật vụ đã được tin người thuê bao thùng thư lưu trữ số 13 đến lấy thư tại bưu điện trung ương. Giọng nói của thiếu tá Ron trào đầy xúc động khi gã mật vụ phúc trình rằng kẻ tình nghi là Rết. Thiếu tá Ron hỏi :
- Anh nói sao, người thuê bao thùng thư lưu trữ số 13 là ông Rết, ông đại tá Rết ?
Gã mật vụ cung kính đáp :
- Thưa thiếu tá giám đốc, đúng là đại tá Rết.
- Đại tá Rết, nguyên giám đốc Sở ?
- Thưa vâng.
- Tại sao anh dám chắc kẻ tình nghi là đại tá Rết ?
- Thưa thiếu tá giám đốc, ngày trước tôi đã có lần làm việc trong văn phòng của đại tá Rết.
- Anh có biết lời nói của anh sẽ dẫn đến những hậu quả nào không ?
- Thưa biết. Cho đến phút này, tôi vẫn còn bàng hoàng. Thoạt đầu, tôi không tin. Thưa thiếu tá giám đốc, tôi không dám tin. Bạn tôi cũng vậy. Sợ tôi bị quáng mắt, nhìn lầm, tôi hỏi nó thì nó cũng hỏi lại tôi là có phải đại tá Rết xếp cũ của bọn mình đấy không. Thưa thiếu tá... bây giờ chúng tôi phải làm gì?
- Anh phải bám thật sát.
- Thưa.....
III.
Thiếu tá Ron đã cắt điện đàm.
Hai nhân viên dưới quyền ông bàng hoàng là chuyện dĩ nhiên. Đến ông là cán bộ điệp báo chuyên nghiệp, trái tim được trui bằng thép, đời sống đã quen với quá nhiều biến cố bất ngờ, trái khoáy, mà còn bàng hoàng như bị đòn nốc-ao trên võ đài, huống hồ...
Ông ngồi lặng trước bàn gỉẩy. Ông không cắt điện đàm song tự nhiên bàn tay ông đặt cái máy xuống giá. Đến khi nhấc lên không nghe tiếng báo cáo của gã thuộc viên nữa ông mới sực nhớ là đã cắt điện đàm. Đại tá Rết, thượng cấp trực tiếp của ông hằng được ông khâm phục và kính nể, có thể làm tay sai cho địch ư ?
Thiếu tá Ron châm hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Ông chỉ hút vài hơi rồi dụi vào đĩa đựng tàn. Tâm thần ông bị bối rối cực độÔng suy nghĩ giờ lâu rồi gọi điện thoại cho viên chủ sự phòng thư lưu trữ ở tại Bưu điện. Ông cần biết một chi tiết quan trọng trước khi quyết định.
- Muốn thuê bao thùng thư lưu trữ có phải làm đơn xin không ?
Viên chủ sự đáp :
- Thưa có !
Thiếu tá Ron nhấn mạnh từng chữ :
- Vậy yêu cầu ông đích thân mang lá đơn của người thuê bao hộp thư số 13 lại văn phòng tôi. Mang lại ngay bây giờ. Tôi chờ.
Trống ngực đập thình thịch—điều ít khi xảy đối với thiếu tá Ron — viên giám đốc tình báo phản gián Áo quốc mở tủ sắt, và lấy ra một tài liệu tối mật. Tài liệu này là một bản dự thảo tổ chức phản gián do đại tá Rết tự tay viết. Chỉ có một bản duy nhất, đại tá Rết sợ lộ nên không đọc cho thư ký ghi chép, cũng không cho phép đánh máy và in lại. Đại tá Rết có một tuồng chữ viết hơi đặc biệt, ông thường chấm dấu i quá cao, chữ t của ông luôn luôn cụt thun lủn gần giống chữ i và đáng kể hơn nữa là chữ y và chữ g đều được viết thảo.
Thiếu tá Ron rút mù-soa chấm bồ hôi trán. Tờ đơn xin thuê bao gồm có nhiều đoạn viết tay. Ông đếm thấy nhiều chữ i, chữ t, chữ y, và chữ g được viết giống hệt như trong bản dự thảo tổ chức mang chữ ký chính thức của đại tá Rết.
Sợ hấp tấp nhìn lộn, thiếu tá Ron ngả lưng lim dim ngủ một lát. Rồi ông dùng kiếng lúp so sánh hai tuồng chữ trong đơn và trong bản dự thảo tổ chức. Không còn hồ nghi gì nữa, kẻ phản bội là đại tá Rết. Nếu Rết là nguời thuê bao hộp thư số 13 thì địch đã hiểu hết nội tình nước Áo. Những tai biến to lớn sắp sửa giáng xuống.
Thiếu tá Ron hối hả ra xe, đến trình diện đại tướng tổng tư lệnh. Những nhân viên đắc lực nhất của Sở được điều động cấp tốc để xiết chặt vòng vây quanh Rết.
Trong khi ấy, Rết đang tìm cách bỏ rơi hai mật vụ viên bám sát sau lưng như bóng với hình. Họ không đến gần Rết, họ chia nhau mỗi người một bên đường, luôn luôn giữ khoảng cách một trăm mét. Họ đi ép vào lề, không cho Rết nhìn thấy. Nhưng họ quên rằng Rết đã từng dậy họ, Rết từng dậy những người điều khiển họ, Rết là ông vua không ngai của làng điệp báo Áo quốc. Nên sự khôn ngoan của họ không lừa được con mắt tinh tế của đại tá Rết.
Ngay từ khi lỡ lời tại lữ quán, Rết biết là bị lộ. Song ông còn níu lấy một tia hy vọng mỏng manh. Phản gián chưa theo dõi ông, ông còn có thể đào tẩu. Ông giả vờ đứng lại, cúi xuống buộc dây giầy. Một thủ đoạn cũ rích. Ông nhìn thấy một mật viên. Rồi người thứ hai. Ông vừa gặp cả hai ngồi đọc báo say sưa trong lữ quán Kờ-lom-se.
Ông rẽ vào một con đường vắng để kiểm soát lại lần nữa. Vẫn hai gã mật vụ quen thuộc gõ bước đều đều trên nền gạch. Rết bèn áp dựng một chiến thuật khác. Cũng cũ rích. Song có nhiều triển vọng thành công.
Ông lấy một số giấy tờ trong mình ra, xé nhỏ thành miếng vụn, ông thả từ từ xuống đường. Mục đích của ông là nhử mồi hai gã mật vụ. Tham tài liệu chúng sẽ dừng lại để thu nhặt. Tội nghiệp cho Rết... cách đó không lâu, ông đã đích thân giảng dậy nhân viên về những mánh khóe thần sầu để phỉnh gạt địch trong khi bị địch bám sát. Một trong những mánh khóe này là xé vụn giấy tờ rồi vứt xuống. Ông căn dặn nhân viên đừng bao giờ dừng lại. Cứ phớt tỉnh, tiếp tục đi theo. Nếu cần, một người ở lại lượm giấy. Nhưng việc quan trọng vẫn là không lơ đễnh, dầu chỉ là lơ đễnh một tích-tắc đồng hồ. Hai mật vụ viên của thiếu tá Ron đã học thuộc bài. Họ không phụ công của giáo sư Rết. Nhưng họ đã giết điệp viên Rết...
Biết không thoát nổi, đại tá Rết đành loanh quanh một hồi rồi quay về lữ quán. Thật ra, ông cũng có hẹn với một người bạn. Tiến sĩ Pô-lắc, một luật sư lỗi lạc. Tiến sĩ Pô-lắc thường đảm nhiệm những hồ sơ liên quan đến các bị can là gián điệp bị truy tố trước tòa. Hai người sẽ dùng bữa tối với nhau.
Rết sắp sẵn trong óc một kế hoạch tinh vi, nếu vòng vây phản gián tỏ ra lỏng lẻo, ông sẽ bỏ trốn nội đêm nay, nhưng nếu ông hết lối thoát ông sẽ giả vờ mắc bệnh loạn trí và thất tình.
Thiếu tá Ron đã gài nhân viên ngay trong phòng ăn. Người bồi bưng thức ăn cho hai người cũng là sĩ quan phản gián. Ron chọn toàn nhân viên tân tuyển nhưng kinh nghiệm, vì sợ Rết quen mặt.
Tiến sĩ Pô-lắc kinh ngạc khi thấy bạn có gương mặt buồn như mặt đưa đám tang. Không đợi Pô-lắc hỏi han, Rết đã thở dài não ruột rồi bằng giọng xúc động kể lại những nỗi sầu đau tưởng tượng. Rết không quên nhấn mạnh đến bệnh tiêu tiền không đếm của mình, và những cô gái có sắc đẹp quyến rũ đã làm ông ta điêu đứng. Dĩ nhiên Rết không thú tội phản bội, làm gián điệp cho Nga-la-tư. Sau cùng, tiến sĩ Pô-lắc tỏ vẻ ái ngại, khuyên bạn nghỉ ngơi một thời gian. Rết toan nhờ Pô-lắc đưa ra khỏi thành phố song viên tướng tổng tư lệnh quân đội Áo đã hạ lệnh cho thiếu tá Ron đến bắt. Cùng đi với Ron còn có 3 sĩ quan cao cấp thân tín khác.
Pô-lắc được mời ra trước khi Ron xuất hiện. Nhưng Ron chưa nói gì. Ông kéo ghế ngồi ; đại tá Rết thấy Ron từ xa, bèn giả vờ tản bộ cho tiêu cơm. Nhân viên Phản gián bám sát Rết từng bước. Biết Phản gián chỉ xiết chặt vòng vây, mặc cho ông tự xử, chứ không bắt giữ. Rết bèn trở về phòng.
Còn 30 phút nữa đến nửa đêm.
Không khí hoàn toàn im lặng. Ngoại trừ tiếng giầy của Rết và tiếng giầy của đám nhân viên Phản gián. Rết tra chìa khóa vào ổ rồi quay lại :
- Các chú không nên đứng bên ngoài. Vào trong phòng tôi có đủ đồ uống và ghế ngồi nghỉ chân.
Nhân viên Phản gián đáp :
- Xin đại tá tha lỗi. Chúng em chỉ được phép canh gác bên ngoài.
- Canh gác để làm gì ?
- Thưa, chúng em không biết.
- Nhưng tôi biết, tôi biết. Thiếu tá Ron hiện ở đâu?
- Thưa, thiếu tá dặn là khi nào đại tá mời thì chúng em sẽ trình về bằng điện thoại.
- Vậy, các chú gọi ngay cho thiếu tá Ron là tôi muốn gặp tại phòng tôi.
Rết thở dài rồi khép cửa phòng.
IV.
Rết không phải chờ đợi lâu. Vì trong khoảng khắc đã có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ cửa đều đặn, rắn rỏi mà Rết biết là của thiếu tá Ron. Hồi Ron còn làm phụ tá, đại tá Rết đã chú ý đến lối gõ cửa của Ron, bộc lộ tâm tính ngăn nắp và cương nghị, hai yếu tố quan trọng đối với nghề điệp báo.
Rết thường khen Ron và lặp đi lặp lại nhiều lần : "Ron ơi, anh có nhiều đức tính nghề nghiệp hơn tôi nhiều, anh chỉ còn thua tôi về kỹ thuật, nhưng kỹ thuật rất dễ học, trong một thời gian ngắn, anh sẽ bằng tôi, rồi sẽ vượt xa tôi, tôi rất sung sướng được có một người phụ tá như anh. Và mai đây, khi anh ngồi ở ghế giám đốc này thay tôi, bọn nhân viên điệp báo của địch sẽ thất điên bát đảo...".
Lời nhận định của Rết đã thành sự thật. Rết đang thất điên bát đảo trước tài ba và mưu lược của viên cựu phụ tá.
Rết nhìn ra cửa, cố lấy giọng điềm tĩnh :
- Cứ vào.
Rết đã uống non nửa chai rượu mạnh. Bình thường, ông là đồ đệ của Lưu Linh, nhưng có thói quen uống từ từ, mỗi lúc một hớp nhỏ, chứ không nốc cả li, và chưa bao giờ khiêng luôn nửa chai trong vòng 5,10 phút đồng hồ. Thật ra, ông uống rượu mà như uống nước lã vô vị, ông uống rượu mà không biết là mình uống rượu nữa. Thần trí ông đang bị xúc động mạnh mẽ, ông ngồi yên trong ghế, tay vẫn cầm chai rượu.
Thiếu tá Ron bước vào, thân hình vạm vỡ thu gọn trong bộ quân phục cắt khéo, ủi thẳng tắp. Ron vẫn phục sức chững chạc như dạo nào còn làm phó giám đốc, nhưng nụ cười bất hủ trên môi đã biến hẳn. Ron rập hai chân vào nhau, giơ bàn tay lên trán, chào kính cẩn. Rết tiếp tục ngồi yên không đứng dậy. Cùng đi với Ron có hai thiếu tá lạ mặt. Họ khép cửa cẩn thận, và đứng ngay sau cửa, không tiến sâu vào. Mặt người nào cũng lạnh lùng.
Rết nói :
- Tôi không còn là đại tá nữa. Tôi cùng không còn là Rết nữa. Tôi đã thành kẻ có tội, giờ đây tôi đã sẵn sàng.
Thiếu tá Ron đáp :
- Anh vẫn là đại tá Rết, thượng cấp mà tôi hằng khâm phục tài ba và đức độ. Tôi đã trình lên đại tướng tổng tư lệnh, và đại tướng cho phép tôi thương lượng với anh trên tình chiến hữu từng hợp tác với nhau trong nhiều năm và trên tình bạn thắm thiết.
- Tôi không còn xứng đáng là chiến hữu, là bạn thân của anh nữa. Tôi đã phản bội. Tôi là thằng khốn nạn.
- Anh đang còn có cơ hội chuộc tội với quân đội, chuộc tội với gia đình, chuộc tội với Tổ quốc.
- Hiểu rồi. Đại tướng sẽ không truy tố tôi ra tòa ?
- Hồi anh điều khiển sở Mật vụ, nhiều trường hợp tương tự đã xảy ra. Anh thường nói với tôi là truy tố chẳng có lợi gì cả. Chỉ có địch là được hưởng lợi. Ra tòa, chắc chắn anh sẽ bị kết án tử hình. Tử hình theo tôi hiểu không phải là điều anh sợ, anh là con người can đảm, có can đảm làm, anh có can đảm gánh chịu hậu quả. Tuy nhiên, điều anh sợ, điều mà tôi cũng sợ như anh, là những hậu quả sẽ xảy đến cho gia đình anh, cha mẹ anh, và nhất là thanh danh anh. Nếu câu chuyện bị vỡ lở, tên tuổi của đại tá Rết sẽ bị vùi dập xuống vũng bùn. Lá bạn anh, tôi có bổn phận phải...
- Cám ơn anh. Đại tướng muốn biết tất cả những hoạt động phản bội của tôi trong thời gian tôi lãnh lương của do thám Nga-la-tư ?
- Vâng. Càng gồm nhiều chi tiết càng tốt. Đại tá đã trao cho họ những tài liệu nào, và trao cho ai. Và...
- Hiểu rồi. Tôi xin cố gắng làm đại tướng và làm anh thỏa mãn. Sau khi anh ra khỏi phòng tôi sẽ bắt đầu viết bản thú tội. Còn về giấy tờ, tài liệu xin anh mở cái tủ sắt cất trong nhà tôi ở Praha. Anh sẽ đảm bảo danh dự tôi được toàn vẹn ?
- Tôi sẽ cố gắng hết sức, tuy nhiên, tôi cũng xin nói trước là giữ kín được mãi không phải là dễ. Sau khi anh chết, báo chí sẽ được lệnh loan tin trong thời gian qua, anh làm việc quá sức nên thần kinh bị căng thẳng, phải dùng thuốc trợ lực, và trong một phút quẫn chí đã tự tử. Gia đình anh sẽ được tiếp tục lãnh lương, nhà cửa, tiền bạc của anh sẽ không bị tịch thu, nhưng tôi cũng có nhiệm vụ nói rõ với anh là trong bản trần tình anh phải ghi hết, ghi thật, nếu không đại tướng sẽ không cứu xét.
- Hiểu rồi. Phiền anh chuyển lời chào vĩnh biệt của tôi lên đại tướng. Tôi thành thật cảm ơn anh một lần nữa. Giờ đây, xin anh ban cho tôi một đặc ân. Tôi muốn được tự xử bằng khẩu súng của anh.
Thiếu tá Ron rút khẩu súng lục ra khỏi bao đeo ở thắt lưng, kiểm điểm lại cối đạn, đoạn đặt ngay ngắn trên bàn trước mặt đại tá Rết, Rết chìa tay bắt. Bắt tay xong, thiếu tá Ron lùi lại, chào theo quân cách. Hai sĩ quan đứng sau cũng nghiêm mình.
Cửa phòng được đóng lại. Rết hí hoáy viết.
5 giờ sáng. Nhân viên Phản gián rón rén bước vào. Lần này, họ không gõ cửa. Vì họ biết đại tá Rết đã chết. Họ rón rén vì sợ kinh động giấc ngủ ngàn năm của vị cựu thủ lãnh gián điệp Áo quốc trở thành kẻ thù của Áo quốc.
Rết gục đầu trên đống giấy trắng viết dở, viên đạn chỉ gây ra một lỗ nhỏ trên màng tang, máu chảy rất ít rồi đông lại. Rết để lại hai bức thư tuyệt mạng ngắn ngủi.
Bức thứ nhất :
"Đời tôi tan nát vì nhẹ dạ và đam mê. Hãy cầu nguyện cho tôi. Tôi lấy cái chết để chuộc lại lỗi lầm - Rết. Đúng 1 giờ 15 sáng. Bây giờ tôi chết. Xin đừng cho pháp luật y khám nghiệm thi thể. Hãy cầu nguyện cho tôi...."
Bức thư thứ hai gồm mấy giòng giành cho người thân.
Thế là xong. 13 giờ đồng hồ sau khi đến thùng thư lưu trữ mang số 13 lấy tiền do Sở gián điệp Nga gửi qua, đại tá Rểt đã phải kết liễu cuộc sống bằng viên đạn 9 li. Thiếu tá Ron đã giữ đúng lời hứa. Nội vụ được ém nhẹm sau khi Rết thiệt mạng. Những người xa gần liên hệ đến nội vụ đều được bí mật triệu đến văn phòng đại tướng tổng tư lệnh để long trọng tuyên thệ ngậm miệrg. Ngay cả hoàng đế Áo quốc cũng không hề hay biết.
Rết đã làm gián điệp cho Nga trong 10 năm. Ông đã yểm trợ điệp viên Nga hoạt động đắc lực trên đất Áo. Ngược lại, ông đã bán cho Nga các điệp viên do ông huấn luyện, và đặc phái sang Nga. Có lần một số người Nga cao cấp đề nghị bán tin tức tối mật cho Áo, Rết đã thông báo cho Nga. Với sự phản bội của đại tá Rết, do thám Nga đã thành công rạng rỡ. Gần nửa thế kỷ trôi qua, người Nga vẫn tự hào là chưa nước nào tái diễn được tấn trò của đại tá Rết.
Rồi vụ Penkốpky xảy ra. Penkốpky là một đại tá Nga. Cũng là yếu nhân mật vụ. Penkốpky làm gián điệp cho Tây phương. Và cũng chết như Rết.
Gián điệp là cái vòng luẩn quẩn. Cười người hôm trước, hôm sau người cười, phải không các bạn ?
1 | Thật ra, nhật báo này mang một tên địa phương, không hẳn là "Quốc gia", tác giả dùng tên "Quốc gia" với mục đích giản dị hóa địa danh và phương danh, xin bạn đọc am tường ngoại ngữ lượng thứ. |
2 | Tên người này là Wagner. Tên của người thủ quân là Egon Erwin Kinh. Và đội banh thành Praha này tên là DBC. Sturm... |
3 | Viên tướng có mặt tại nhà gã thợ khóa hôm ấy tên là bá tước von Giesl, mộl nhân vật có quyền thế trong bộ tổng tư lệnh quân đội Áo. |
4 | Tương đương với khoảng 5 ngàn mỹ-kim hiện nay. |
5 | Quán cà phê này mang bảng hiệu là Kaiserhof. |
TRUYỆN THỨ HAIGIAI NHÂN NGỰC LÉP
Thường thường đàn bà ngực đẹp mới được coi là giai nhân. Thân hình đẹp cũng chưa đủ, da thịt phải thơm tho, chất nhờn của bồ hôi không được làm vương tôn công tử bịt mũi, trái lại, phải nở mũi thật rộng để thưởng thức.
Từ gần nửa thế kỷ nay, trên trái đất chỉ có một thiếu phụ tứ tuần được thiên hạ tôn làm giai nhân mặc dù nàng có bộ ngực chảy xệ và lệch méo, và điều tối kỵ hơn nữa là nàng mắc bệnh....hôi nách.
Tên nàng là Mata Hari, nữ điệp viên nổi tiếng trong Đại chiến thứ nhất. Nàng bị bắt ngày 13-1-1917 (trời ơi, cũng con số 13 tai quái như trường hợp đại tá Rết), trong tháng 9 bị đem ra xử trước Tòa án quân sự để rồi vào ngày 15-10 cùng năm bị đưa ra bắn.
Mata Hari nổi tiếng, một phần vì bản án của nàng. Các vị quan tòa cứ khăng khăng là nàng phạm tội, nàng đã cung cấp tin tức quan hệ cho nước Đức, gây ra cái chết của hơn 50.000 binh sĩ Pháp, tuy rằng từ đầu đến cuối phiên xử rất ít bằng chứng xác đáng được đưa ra. Hồi đó là năm 1917. Năm xấu nhất của nước Pháp. Trên mặt trận Tây, quân đội tử trận hàng vạn, một số đơn vị muốn nổi loạn. Người ta cần tìm một bung xung để trút trách nhiệm.
Và bung xung này là giai nhân Mata Hari, điệp viên mang bí số H.21 của Đức...
Mata nổi tiếng phần khác cũng vì những huyền thoại được thêu dệt chung quanh nàng. Chính nàng đã đóng góp nhiều vào việc thêu dệt ấy. Nàng không hề sinh trưởng ở Ấn độ, giỏi vũ khỏa thân từ tấm bé, và từ năm 13 tuổi đã múa nhẩy trần truồng trong những ngôi đền thờ thần tình dục Siva.
Thật ra, cha mẹ nàng là người Hòa lan trăm phần trăm, kết hôn với một đại úy Hòa lan phục vụ tại Nam Dương sau một mẩu tin rao vặt "tìm bạn tri ân" đùa bỡn trên báo chí, nàng sinh được một đứa con trai rồi... bỏ chồng.
Mata lang thang đến Ba-Lê, xin làm người mẫu lõa thể song bị từ chối tàn nhẫn vì lẽ ngực nàng quá xấu. Nàng bèn lao thân vào xóm lầu xanh, bán vui cho khách, dần dà nàng múa lõa thể tại các rạp hát bình dân trước khi được ngả vào vòng tay nhiều bậc quyền quý.
Dĩ nhiên Mata đã làm gián diệp. Làm cho Pháp. Và làm cho Đức. Nhưng làm theo kiểu tài tử thì đúng hơn Nàng chỉ giỏi về một môn làm, đó là làm tình.
Trong những huyền thoại được lưu lại hậu thế, có một huyền thoại rất gần sự thật. Huyền thoại về làm tình. Huyền thoại về con số người yêu của nàng. Nàng đã có nhiều, rất nhiều người yêu. Tại sao đàn ông yêu nàng đông đảo và khăng khít như vậy, cho đến nay bí mật ấy vẫn chưa được trả lời, tuy đã có hơn một tác giá cự phách, hơn một cuốn sách giá trị, đã viết về nàng, về Nữ gián điệp Mata Hari ?
Trung úy Mót-nê (Mornet), ủy viên chính phủ của phiên tòa, người đã yêu cầu tòa lên án tử hình nàng, đã tuyên bố mấy chục năm sau về vụ án năm 1917 "Vụ Mata Hari hả? Chẳng có cóc khô gì hết ! ".
Thật vậy, nếu Mata không phải là đàn bà, nếu nàng không có nhiều người yêu thì có lẽ nàng đã không bị hành quyết và đời nàng "Chẳng có cóc khô gì hết". Ngựa xe dập dìu, bướm ong ve vãn nên Mata trở thành bất tử.
Ngày 27-10-1963, khán thính giả đài truyền hình Pháp được theo dõi cuộc đời Mata lần đầu trên màn ảnh nhỏ. Hô-ly-út đã sản xuất một cuốn phim thành công rạng rỡ về nàng do nữ minh tinh thượng thặng Gờrơta Gátbô đóng.
Trong khi ấy, ở nước ta vẫn chưa có giòng chữ nào, bức hình nào về Mata. Người Thứ Tám cố gắng gạn lọc huyền sử, để trình bầy sự thật trần truồng — cũng trần truồng như các điệu vũ dâm loạn của Mata —và sự thật trần truồng này cho thấy là câu chuyện về giai nhân ngực lép không đến nỗi tẻ nhạt như lời thú nhận của ủy viên chính phủ Mót-nê.
I.
Toán người vẻ mặt nghiêm trọng dừng lại trước cửa xà-lim mang số 12 trong lao thất Thánh Lazarê.
Xà-lim 12 là phòng giam nữ tội nhân tử hình được nhiều người biết tiếng nhất. Mata Hari. Phòng giam khá rộng, ba cái giường kê song song mà vẫn còn thừa chỗ, tuy nhiên, không khí lại ngột ngạt, ban ngày cũng phải thắp đèn. Dầu bên ngoài trời nắng chang chang các giám thị cũng không dám tắt đèn vì trong này tối om, tường xây bằng đá ong kiên cố, lạnh lùng, ngay gần trần phòng chỉ có hai khung cửa sổ nhỏ xíu cắm chấn song sắt to tướng.
Lệ thường các xà-lim trong khu tử hình đều kê 3 giường, một tử tội nằm chung với hai thường phạm khác giữ nhiệm vụ canh chừng. Nhưng xà-lim của Mata hoàn toàn trống trơn.
Khóa cửa và xích sắt kêu rỏng rẻng. Tử tội đang còn ngủ, mặt quay vào tường. Tối hôm trước, nàng uống viên thuốc ngủ do y sĩ đưa sau khi nàng viết thư để lại. Trước đó nàng đã gội đầu sạch sẽ, tắm rửa thật lâu, và tắm nước thơm hoa hồng. Lần đầu tiên trong 8 tháng bị giam cầm, nàng được phép chọn thực đơn. Sau khi suy nghĩ, nàng kêu món bít-tết đặc biệt nấu nấm, uống kèm với rượu sâm-banh. Nàng yêu cầu viên chức khám đường mang hoa hồng tươi đến đặt trên mộ của mẹ nàng. Nàng ngồi gần một giờ đồng hồ với vị linh mục. Xong xuôi, nàng cầm bút...
Suốt đêm ấy, biện pháp an ninh được gia tăng tối đa. Ngoài hành lang lính võ trang đứng gác. Không ai được bén mảng đến khu tử hình. Mọi vật dụng của tử tội đều bị kiểm soát chặt chẽ. Để múc thức ăn, tử tội chỉ được dùng muỗng gỗ, loại mềm. Đĩa bát cũng bằng gỗ. Đôi giầy vải của nàng được khâu tay, không đóng đinh. Nàng hút thuốc liên miên, song không được phép đốt lửa nên một nhân viên đề lao luôn luôn túc trực để quẹt diêm cho nàng.
Tử tội được đánh thức đúng 4 rưỡi sáng. Giọng nói đều đều của viên thẩm phán quân pháp cất lên, xé tan màn im lặng rùng rợn lúc rạng đông
- Giờ thi hành công lý đã đến... Tổng thống đã bác bỏ đơn xin ân xá của bà. Bà phải thức dậy. Và phải có can đảm.
Nữ tử tội bàng hoàng trong giây phút. Nàng không hề sợ chết, nàng bàng hoàng vì nàng không tin chính phủ Pháp sẽ hành hình nàng. Trước vành móng ngựa tòa án quân sự vùng III, truớc 7 quan tòa lầm lỳ ngồi sau cái bàn dài bằng gỗ đào lên nuớc bóng loáng, trong phiên xử kín ngày 24-7-1917, nàng vẫn giữ vẻ mặt thản nhiên, gần như ngạo nghễ bất cần khi ủy viên chính phủ tuyên đọc cáo trạng gồm 10 tội danh, tội nào cũng mang đến cái chết. Và khi tòa tuyên án, nàng không hề run rẩyTrái lại, nàng còn mỉm cười, cái cười nửa miệng từng làm bao nhiêu người say đắm...
Mata không hề sợ chết, trong chuỗi ngày bị giam ở khám tử hình nàng đã chứng kiến cái cảnh hơn 10 nữ tử tội bị dẫn qua phòng nàng tới đoạn đầu đài, trong số đó có một người ngất xỉu phải dìu lên máy chém với hai người xốc nách.
Cho đến 4 rưỡi sáng hôm ấy, nàng vẫn vững tin thoát chết. Nàng không hề biết đường dây điện thoại của khám đường được canh suốt đêm mà Phủ Tổng thống không gọi đến. Tuy nhiều nhân vật và ảnh hưởng quan trọng tìm cách can thiệp, Tổng thống Pháp vẫn không ân giảm tội chết.
Viên thẩm phán kêu gọi nàng giữ can đảm, điều này có nghĩa là nàng sắp bị đem bắn. Nàng sợ lầm nên hỏi lại :
- Ông nói gì ? Tôi bị bác đơn ân xá ?
- Vâng. Yêu cầu bà sửa soạn.
- Lạ thật.. lạ thật...
Lạ thật... vì nếu đơn xin ân xá của nàng bị bác thì không lẽ kế hoạch giải thoát nàng khỏi khám đường lại không thành tựu..Nàng bỗng nhớ đến bá tước Piô 1 một trong nhiều tình nhân trung thành của nàng. Bá tước Piô hứa áp dụng một kế hoạch táo bạo: bằng tiền bạc mua chuộc toán lính hành quyết, thay đạn thật bằng đạn giả, mua chuộc cả những người phụ trách trói tử tội vào cọc, trói cách nào thật lỏng để sau khi súng nổ tử tội có thể giả vờ bứt dây ngã gục xuống đất, rồi sau cùng là kiếm cái hòm đục lỗ cho nàng thở. Nàng bị đem chôn là bá tước sẽ cho đào lên...
Tử tội ngồi bật dậy, hất tung cái mền xuống đất, đoạn yêu cầu dì phước Mari, một trong hai nữ tu tình nguyện sống bên nàng để an ủi, giúp trong những ngày còn lại trên dương thế :
- Xơ ơi, xơ lấy giùm cho những đồ lót đẹp nhất của tôi cất trên ngăn tủ kia kìa.
Dì Mari xuất thân từ một dòng tu đặc biệt gồm chừng 50 nữ tu chuyên phục vụ tội nhân trong khám đường. Dì hối hả mang đồ lại. Linh mục At-bu (Arboux) ghé tai tử tội nói thầm, nàng đáp :
- Vâng, vâng, một lát nữa thôi.
Nàng mặc đồ chậm rãi và bình thản, hai nữ tu không phải săn sóc như đối với các tử tội trước giờ đền tội.
- Tôi có được phép nịt cót-xê không?
Quản đốc khám đường đáp :
- Thưa bà, được.
Tử tội nịt cót-xê, xỏ chân vào đôi giầy tuyệt đẹp, rồi ngoảnh sang bên :
- Còn găng tay nữa chứ !
Đó là tất cả những gì còn lại của nếp sống trà đình tửu quán, quăng tiền qua cửa sổ của nàng. Làn tất tay mịn màng vuốt ve da thịt nàng, như có ma thuật, làm Mata bỗng được sống lại quá khứ.
II.
Margareta Geertruida Zelle chào đời ngày 7.3.1876 tại một làng Hòa lan, sát biên giới Đức. Cha nàng làm nghề buôn tầm thường, song có bộ mã khôi ngô và số đào hoa. Năm nàng lên 14, mẹ nàng lìa đời, bỏ nàng ở lại với 3 em trai.
Mẹ nàng chết chưa xanh cỏ thì cha nàng tục huyền, và cô bé Zelle được đưa vào nhà dòng học cho đến tuổi thành niên. Trong thời gian "kín cổng cao tường" này, mặc dầu kỷ luật nhà trường rất nghiêm minh, nàng yêu như vũ bão, yêu bừa bãi, gặp chàng trai nào nàng cũng bồng bột hẹn hò, như thể nàng thiếu đàn ông thì nàng không thể sống được. Tuy vậy, nàng có biệt nhỡn đối với sĩ quan. Nhất là các sĩ quan khôi ngô, hào hoa, ưa sống bềnh bồng. Ra trường, một ngày kia nàng đọc báo thấy mẩu lai cảo như sau :
"Đại úy phục vụ trong quân đội viễn chinh Hòa lan tại Nam-Á, về nước nghỉ phép, muốn tìm một người con gái hợp nhãn... McLeod".
Mẩu tin này thật ra do lũ bạn nghịch ngợm đồng ngũ của McLeod đăng để lỡm chơi. Chơi mà hóa thật... McLeod tiếp nhận được 16 lá thư xanh hẹn gặp, và định mạng đã khiến hắn chọn Zelle. Hắn đẹp trai, cường tráng, lại ăn nói hay ho, đeo lon quan ba, tương lai sáng lạn nên nàng yêu hắn chỉ là chuyện dĩ nhiên.
Trở thành vợ McLeod, nàng sinh hạ ngày 30.1. 1896 một bé trai kháu khỉnh, đặt tên là Nót-man. Điều nàng không ngờ là đại úy McLeod với ngoài quân tử, hào phóng lại chính là tên ma-cô ăn bám vào vợ, chuyên thả cỏ vợ lấy tiền bài bạc hút xách, đĩ điếm. Hắn bố trí cho khách giàu sang quí tộc đặt chân vào phòng ngủ, rồi nàng cởi quần áo múa nhảy, khách đang lâng lâng ru hồn cõi mộng thì hắn xuất hiện. Và kết cuộc là khách phải ngậm bò hòn làm ngọt, dùng tiền mua chuộc sự im lặng.
Chồng nàng bị đổi qua Nam Dương, nàng xuống tàu đi theo. Dọc đường, nàng tìm được hai người yêu và họ đã giúp nàng quên được cuộc hành trình nhọc nhằn trên biển. Sinh sống tại đảo Sumatờra với chồng, nàng yêu một tiểu vương bản xứ và sinh một con gái, đặt tên là Ban-đa.
Số kiếp đã bắt nàng phải đau khổ : sau này nàng chết trước tiểu đội hành hình thì con nàng cũng vậy. Đứa con trai duy nhất của nàng từ trần vì bị đầu độc tại Sumatờra. Còn lại đứa con gái thứ hai theo cha về nước thì cũng chết bệnh thảm thương trước khi biết nếm mùi đời.
McLeod ly dị vợ để sống chung với một góa phụ giàu có. Năm 1903, nàng tới kinh đô ánh sáng Ba-lê với ý định làm lại cuộc đời. Sau 3 tuần lễ lang thang thất nghiệp, giấc mộng trở thành nghệ sĩ tiêu tan, nàng gõ cửa một xưởng vẽ, xin làm người mẫu khỏa thân. Tiền thù lao quá ít, nàng bèn làm thêm nghề "phụ", và trong thời gian ba chìm bảy nổi này nàng mắc bệnh phong tình.
Giữa cơn nguy biến chới với, nàng được một thân nhân của chồng cũ mời về ở chung. Cặp vợ chồng già nay làm ơn suýt mang oán vì Mata Hari dùng ma lực xác thịt để lôi kéo ông chồng. Bà vợ phải biếu nàng một món tiền lớn nàng mới chịu buông tha, dọn ra khỏi nhà, và một lần nữa nàng trở lại kinh đô ánh sáng.
Nàng là người đầu tiên vũ thoát y theo kiểu thần bí Đông phương trên sân khấu Ba-lê. Cô-lét (Colette) là một nhà văn hào Pháp, cũng nhìn nhận "Mata có chân tài về nghệ thuật cởi bỏ quần áo trong khi vũ và phô bày một tấm thân thon mảnh, đẹp đẽ mà người Ba lê chưa từng thấy". Mỗi khi vũ, nàng chỉ mặc hai miếng tròn bằng vàng trên ngực, mục đích che giấu cặp nhũ hoa kém thẩm mỹ, và con rắn bằng bạc dưới bụng. Nàng tự nhận là đại vũ nữ Ấn-độ, từng múa trong đền thần. Na-muya (Paul Namur),họa sĩ trứ danh, từng vẽ nàng, đã phê bình nhan sắc của nàng như sau :
"Mata thật ra không đẹp. Nét mặt nàng rất thường, song môi nàng, làn môi mà bao người thèm được hôn, đã có một cái gì, làm xuân tình phát động. Má nàng và cằm miệng nàng cũng vậy, nó chứa một cái gì rạo rực. Nhìn làn da ngăm bóng của nàng, người ta luôn luôn có cảm tưởng nó vừa được thoa dầu thơm hoa hồng để át mùi bồ hôi. Nàng băn khoăn rất nhiều về thân hình nàng vì ngực nàng lép và chảy, ngược lại, cặp giò, cánh tay và đôi mắt thì hoàn toàn đẹp. Không phải ngoa khi có người nói rằng nàng có những cánh tay đẹp nhất thế giới"
Nàng thành công dễ dàng và nhanh chóng. Nhưng nêu tiếng tăm của nàng lên như diều thì xuống cũng như xe hơi tuột giốc. Ba lê bắt đầu chán nàng, nàng bèn lên đường đi Bá linh.
Rồi từ cuộc sống thâu đêm bên tiệc tùng, trác táng trong vòng tay vương tôn công tử Đức, nàng bước chân vào vòng vây.. điệp báo. Tại sao nàng trở thành con thiêu thân gián điệp ? Không ai có thể trả lời.
Có lẽ vì bệnh ham của mới. Điệp báo là nghề có nhiều mới lạ và bất ngờ. Có lẽ vì cần tiền. Có lẽ vì nàng mang bệnh thác loạn thần kinh. Đúng hơn có lẽ vì tất cả các yếu tố này gộp lại. Tài liệu lịch sử cho biết Canari 2 tùy viên quân sự tại sứ quán Đức ở Tây ban Nha, viết thư cho giám đốc Công an Bá-linh Von Dagô (Hen Veta Jagow) đề nghị lưu tâm Mata. Dagô kết nạp nàng vào tổ chức. Sau này, bị cật vấn trước tòa, nàng khai như sau :
- Tôi gặp Dagô trong một hí viện mà tôi trình diễn vũ điệu. Tại Đức, công an có quyền kiểm duyệt y trang của nghệ sĩ, một người đệ đơn kiện tôi về việc tôi phục sức hở hang nên Dagô đến hí viện để điều tra.
Đúng hay sai ?
Không ai có thể trả lời.
Trước tòa, viên chánh thẩm hỏi nàng :
- Von Dagô đã kết nạp bị cáo vào Sở mật vụ Đức?
Nàng đáp lại cương quyết :
- Không.
- Bị cáo phủ nhận bí danh H.21 không ?
- Không.
- H.21 là bí số của bị cáo trong Sở Mật vụ Đức ?
- Không. Tình nhân của tôi cho tôi bí số này để dễ liên lạc với tôi. Bằng lối này, chàng có thể xử dụng đường dây của chính phủ vì các phương tiện liên lạc tư nhân đã bị chiến tranh làm gián đoạn. Ngoài ra, chàng còn có thể dựa vào đó để lấy công quỹ bao tôi.
- Bị cáo nhìn nhận đã lãnh tiền do Von Dagô trả ?
- Vâng. Nhưng đó là tiền bao người yêu, chứ không phải tiền lương điệp viên.
- Trong thời gian chiến tranh, bị cáo ở Pháp đã lui tới nhiều sĩ quan ?
- Dĩ nhiên, vì ở đâu chả có sĩ quan, vả lại tôi vốn yêu sĩ quan.
- Yêu sĩ quan Pháp ?
- Yêu sĩ quan thuộc mọi quốc tịch. Tôi có óc quốc tế, tôi vốn khoái đàn ông khôi ngô và can đảm.
Ông chánh thẩm lại hỏi :
- Có đúng là bị cáo đã ăn trưa với giám đốc Công an Bá-linh Von Dagô không ?
Và nàng đáp:
- Đúng. Không riêng Von Dagô, rất nhiều tình nhân của tôi đã mời tôi ăn như vậy, tôi cũng xin khai thêm trong trường hợp quý tòa muốn ghi vào hồ sơ là Von Dagô ở trong số những tình nhân tốt nhất và trung thành nhất của tôi.
- Bị cáo có chối là đã nhận của ông ta 30.000 mã-khắc? (tương đương với 10.000 mỹ-kim hồi ấy).
- Tôi đâu có chối. Vâng, tôi đã nhận số tiền này, nhưng đó là số tiền do tôi đòi hỏi. Ông ta phải trả tiền bao tôi. Bao một người như tôi phải tốn rất nhiều tiền, thưa quý tòa !
Khi Tòa hỏi về sự liên hệ giữa nàng và viên chỉ huy do thám Đức tại Tây ban Nha, nàng đáp :
- Vâng, tôi gặp chàng luôn, vì chàng là tình nhân của tôi. Chàng tặng tôi nhiều đồ quý. Có thể đó là tiền của chính phủ Đức, nhưng tôi không cần biết, vì nó không dính dáng đến tôi. Chàng đến ngụ cùng khách sạn với tôi, và tôi đã vận động cho phòng của chàng kế cận phòng tôi, hẳn quý tòa cũng đồng ý là người đàn ông có vợ đến khách sạn hò hẹn với tình nhân thường khôn ngoan thuê phòng riêng cho mình, đề phòng hậu quả tai hại !
- Bị cáo cũng đồng thời nhận tiền của một tình nhân ở Hòa lan?
- Vâng, chàng cho tôi tiền để đền bù lại cảm tình của tôi trong thời gian tôi cư ngụ ở Hòa lan.
Nàng núp sau bình phong tình yêu với hy vọng thoát khỏi bản án tử hình. Song nàng đã thất bại. Mata có những đức tính bẩm sinh của nghề gián điệp. Trí nhớ của nàng như tờ giấy thấm hút mực, bất cứ chi tiết nào lướt qua đều được ghi khắc. Nàng lại ít nói, không khi nào để lộ ý nghĩ, cảm xúc thầm kín của mình và nàng có biệt tài đóng kịch. Nàng còn có năng khiếu về ngoại ngữ. Thêm vào đó tấm thân bốc lửa, và sức quyến rũ kỳ lạ cũng như khả năng làm tình vũ bão, đam mê độc nhất vô nhị của nàng...
Nàng chỉ có một nhược điểm, ấy là không đếm xỉa gì đến nguyên tắc an ninh cơ bản. Lẽ ra phải kín đáo, nàng lại chường mặt trước thiên hạ, bây giờ nàng là cái đinh của xã hội thượng lưu, nàng có mặt trong mọi cuộc du hí quốc tế, nàng ngủ đêm nay với người Đức, đêm mai với người Pháp, đêm mốt với người Anh, đêm mốt nữa với người Nga trong khi cuộc chiến tranh tàn bạo đang diễn ra...
Cuối năm 1918, chiến tranh đã gây ra 37 triệu nạn nhân, trong số đó có 9 triệu người chết, và 4 đế chế bị lật đổ ; Đức, Nga, Áo-Hung và Thổ.
Mata đã phục vụ cho mật vụ Đức từ năm 1912, hai năm trước thế chiến. Nàng thụ huấn tại trường điệp báo Lo-rát (Lorrach - gần Munich), và sau đó dưới bí số H.21 nàng được đưa về Pháp với nhiệm vụ mua chuộc một số ký giả viết bài thân Đức quốc. Nàng đi hết nước này đến nước khác, bề ngoài là để trình diễn vũ điệu, bên trong là để mở rộng màng lưới do thám. Nàng đến Áo quốc, Ai cập, Anh cát Lợi, Bỉ, Tây ban Nha, Hòa lan và Pháp. Nám 1914, thế chiến thứ nhất bùng nổ, nàng đang sống trong lữ quán sang trọng nhất ở Bá-linh, Von Dagô phái nàng sang Pháp nhờ ân huệ xác thịt, nàng đã lọt vào những ổ cung cấp tin tức quý giá, và giúp gián điệp Đức khá hữu hiệu.
Đại úy Lơ-đu (Ledoux), chỉ huy trưởng Phòng Nhì, nghi ngờ nàng. Tương kế tựu kế nàng tình nguyện làm việc cho Lơ-đu. Hệ thống phản gián của đồng minh bắt đầu để mắt tới sự đi về của nàng. Nhân dịp nàng đáp tàu thủy qua Luân-đôn, nàng được mời đến gặp huân tước Thom-sơn (Sir Basil Thompson), nhân vật điều khiển Phản gián Anh quốc.
Nàng thề thốt là không hợp tác với Đức và luôn luôn một lòng một dạ với đồng minh. Được yêu cầu giải thích tại sao nàng liên lạc với quá nhiều người Đức, nàng đáp lại, giọng khinh bạc :
- Vâng, tôi viết thư cho họ vì họ trọng vọng tôi quí yêu tôi và cư xử tốt với tôi trước khi chiến tranh xảy ra. Tôi nghĩ rằng chiến tranh không thể làm trái tim thay đổi được, phải không thưa ngài ?
Huân tước Thom-sơn bèn ân cần khuyên nàng :
- Có thể tôi lầm. Có thể bà không vi phạm luật lệ. Nhưng với tư cách lớn tuổi hơn và có nhiều kinh nghiệm hơn bà, tôi mạn phép khuyên bà từ bỏ hoạt động gián điệp, dầu bà phục vụ cho phe nào đi nữa. Gián điệp là một nghề ghê tởm và nguy hiểm.
Mata hứa sẽ đoạn tuyệt với nếp sống đi ngang về tắt. Song nói là một việc, thực hiện lời nói lại là một việc khác. Nàng vẫn tiếp tục hành nghề, và nhân viên phòng Nhì tiếp tục bám sát nàng như bóng với hình trên toàn cõi châu Âu.
Để ru ngủ phòng Nhì, nàng viết thư cho đại úy Lơ-đu xin được móc nối với điệp viên Pháp trong vùng Đức chiếm đóng, Lơ-đu cung cấp một đường dây gồm 3 điệp viên. Nàng không biết 3 điệp viên này là nhị-trùng, vừa ăn lương Pháp, vừa ăn lương Đức, và Lơ-đu muốn dùng họ để thử lại đáp số bài toán. Nếu Mata trung thành với Phòng Nhì, ba điệp viên này sẽ không bị đốt cháy.
Thực tế chứng tỏ hùng hồn là Lơ-đu đoán đúng. Mata Hari quả đã hợp tác chặt chẽ với địch. Ba điệp viên nhị-trùng bị Đức bắt giữ, trong số đó một người bị hành quyết tại chỗ về tội làm do thám cho Pháp.
Lơ-đu bèn bố trí thộp cổ Mata. Nhưng nàng lại đang sống nghênh ngang ở ngoại quốc. Lơ-đu kiên nhẫn chờ cơ hội nàng đặt chân lên đất đồng minh.
Cơ hội bằng vàng đã tới, Mata Hari - H.21 - được phái về Ba-lê.
Trong thế chiến thứ nhất, đồng minh đã bắt giữ 11.000 nữ điệp viên địch. Tuy nhiên, chưa nữ điệp viên nào được trả lương hậu hĩ bằng H.21. Trước ngày nàng sa lưới, nàng lãnh hàng tuần 50.000 phật lăng, một số tiền khổng lồ, so với mức lương hồi ấy.
Người ta không hiểu lý do nào đã khiến nàng trở về Pháp mặc dầu lãnh sự Hòa-lan tại Tây ban nha khuyên nàng hủy bỏ ý định. Một số giả thuyết đã được đưa ra: có lẽ Đức sắp bại trận, mật vụ Đức muốn biết tin Mỹ đổ bộ mà không có ai, ngoại trừ Mata, là có đủ bản lãnh và phương tiện gần gũi các yếu nhân đồng minh giữa lúc các màng lưới do thám của Đức đã bị Phản gián phá hủy gần hết ở Âu châu. Có thể vì nàng thân mật quá trớn với viên chỉ huy gián điệp Đức tại Tây ban nha nên bà vợ nổi cơn ghen, buộc chồng tống khứ nàng đi cho rảnh nợ.
Còn 2 lý do đau khổ khác: thứ nhất, Phòng Nhì Pháp lừa nàng, trong những ngày ở Tây ban nha, nàng cung cấp tin tức cho điệp viên Pháp nên đinh ninh được đại úy Lơ-đu bao che; thứ hai Mật vụ Đức lừa nàng, đúng hơn, múi chanh vắt kiệt nước Mata Hari đã đến lúc bị vứt vào xọt rác. Nàng không còn hữu ích cho họ nữa, nàng lại vòi quá nhiều tiền, nhiều tai to mặt lớn của Đức khốn đốn vì nàng, nên họ mượn tay Phòng Nhì Pháp giết nàng. Giả thuyết này có hy vọng gần sự thật nhất, vì mật vụ Đức đã dùng một mật mã cũ, hoàn toàn thiếu an toàn, mà họ biết là đồng minh đọc được, để báo tin nàng qua Ba-lê, và trả thêm cho nàng 15.000 phật-lăng tiền công tác phí.
Một tuần sau khi về Ba-lê, nàng bị bắt.
Năm triệu người Pháp đã chết, bị thương, mất tích hoặc bị bắt làm tù binh. Điệp viên H.21 phải đền tội. Mùa đông năm 1917 ấy, trời rét kinh khủng kinh đô ánh sáng như bị dầm trong thùng nước đá. Nhân viên Phòng Nhì mà nàng quen mặt, từng theo nàng khắp Âu châu 3 đang chờ sẵn trong phòng. Y cho phép nàng xếp quần áo vào va-li nhỏ, và còn yêu cầu nàng mặc thêm cái áo choàng lông ấm nhất.
Đến trụ sở Phòng Nhì, nàng phải ngồi đợi phập phồng một giờ đồng hồ trên ghế gỗ. Từ nhiều năm nay, nàng không quen ngồi ghế gỗ, ghế được vinh dự nàng chiếu cố phải là ghế bọc nệm, gắn lò-xo êm ái. Từ nhiều năm nay, ngụp lặn trong danh vọng và tiền bạc, nàng không quen chờ ai. Nàng biết là thời kỳ cực thịnh của nàng đã tận.
Nàng ngồi đối diện với đại úy Lơ-đu. Không chào hỏi, Lơ-đu tiến ngay vào đề :
- Bà làm gián điệp cho Đức từ bao gìờ ?
Mata suýt bổ ngửa. Rõ ràng là Lơ-đu cố tình quên công lao của nàng... Nhưng Lơ-đu không quên. Mặt viên chỉ huy Phòng Nhi vẫn lạnh như thời tiết bên ngoài :
- Bà đã phản bội đồng minh, bà làm việc cho gián điệp địch từ bao giờ ?
Thế là hết, gọng kềm đã khép lại.
Thời chiến, gián điệp địch không thể đem ra xử trước tòa án dân sự. Tuy nhiên, người ta đã giành biệt lệ bằng cách cho phép bị đơn Mata Hari được chọn luật sư dân sự để biện hộ.
Luật sư của nàng là Cờ-lu-nê (Edonard Clunet), là con cáo già pháp đình, lỗi lạc về quốc tế công pháp, bạn của tổng thống đương thời, và là anh hùng của trận chiến tranh 1870 Pháp-Đức. Nàng chọn Cờ-lu-nê vì tài biện hộ, nhưng cũng còn vì một lý do khác. Lý do tình cảm. Cờ-lu-nê vốn là một trong những người có diễm phúc được nàng ban phát ân ái khi nàng ngụp lặn trong hào quang nhan sắc, tiền tài và danh vọng, và cho đến giờ phút cô đơn buồn thảm ấy vẫn còn nặng nợ với nàng.
Cờ-lu-nê tìm mọi cách cứu nàng khỏi chết, đồng thời tìm mọi cách an ủi nàng. Suốt trong thời gian nàng bị giam, Cờ-lu-nê sai mang cho nàng những món ăn riêng thịnh soạn, những bó hoa hồng tươi đẹp đắt tiền, những chai rượu hiếm có, những hộp súc-cù-là mà nàng ưa thích và những ve nước hoa thượng hảo hạng như thể nàng vẫn là đệ nhất giai nhân của kinh đô ánh sáng ngày nọ, Ngay sau khi tòa tuyên án, Cờ-lu-nê bất chấp dư luận đàm tiếu đã ôm hôn thật lâu trên miệng nàng.
Cờ-lu-nê đã có mặt trong toán người tiễn điệp viên đa tình H.21 ra pháp trường.
III.
Nữ tử tội quì xuống để linh mục ban phép lần chót. Đứng bên, luật sư Cờ-lu-nê không ngăn được xúc động.
Nàng đội mũ lên đầu rồi ngoảnh sang phía luật sư:
- Em đội vừa lắm phải không ? Ấy, còn quên một thứ. Cái kim băng để giữ nón khỏi tuột.
Dì phước Mari đáp nhỏ :
- Kim băng không có.
Quản đốc khám đường nói tiếp :
- Luật lệ không cho phép.
Viên đại úy phụ trách hồ sơ tòa án tiến lại, giấy bút sẵn sàng :
- Bà muốn nói điều gì không ?
Mata đáp, giọng có vẻ giận dữ:
- Tôi ấy à? Tôi chẳng có gì đáng nói, và có gì đáng nói, tôi cũng không nói với ông.
Nàng nhún vai, nhìn các sĩ quan quân pháp với điệu bộ khinh miệt.
Xơ Mari bắt đầu sụt sùi, Mata phải an ủi :
- Đừng khóc,xơ ơi, xơ phải vui vẻ như tôi đây này.
Đoạn vuốt má xơ Mari :
- Chà xơ bé nhỏ quá, phải hai xơ Mari mới bằng được một Mata. Kìa xơ, nín đi.
Xơ vẫn sụt sùi. Tử tội nói thêm :
- Kìa đã bảo mà...xơ hãy cứ tưởng tượng là tôi lên đường đi xa rồi trở về và chúng mình sẽ lại tái ngộ. Vả lại, xơ sẽ tiễn tôi đi mà... Xơ cùng đi với tôi nhé !
Tử tội hôn nữ tu Mari.
Nàng đã sửa soạn xong. Nàng lại quay sang luật sư :
- À, còn mấy lá thư. Phiền anh trao giùm. Đừng lộn địa chỉ, nghe cưng, râu ông nọ cắm cằm bà kia thì sẽ sẩy ra nhiều vụ cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt đấy. Uổng quá, còn thiếu mấy cái nữa, chưa viết kịp.
Quản đốc khám đường nói :
- Bà có thể viết trong phòng Hồ sơ bên dưới cầu thang.
Tử tội liếc trong gương, sửa lại mũ, kéo lon tóc cho ngay ngắn, đoạn dẫm một chân xuống đất, nói giọng điềm tĩnh :
- Tôi đã sẵn sàng. Các ông có thể mang tôi đi ám sát.
Các thẩm phán ra trước. Tử tội đi sau, giữa luật sư và linh mục. Khi nàng ra đến gần cửa, một người gác toan nắm cánh tay nàng, nàng bèn phản đối:
- Không, không được đụng người tôi. Xơ Mary đâu, chìa tay cho tôi nắm.
Đến phòng Hồ sơ, tử tội ngồi xuống ghế, tháo một bao tay và cắm cúi viết trong 7,8 phút đồng hồ, sau đó trao cả cho luật sư. Sau cánh cửa nhỏ là sân khám, một chiếc xe hơi nổ máy sẵn, đang đậu bên lề, một cảnh binh mở rộng cửa xe. Hệ thống canh gác được tăng cường vì có tin những người ái mộ tử tội bố trí đánh tháo dọc đường.
Một hạ sĩ quan cung kính hỏi luật sư Cờ-lu-nê :
- Thưa luật sư, chúng tôi được lệnh đề phòng cẩn mật. Nếu luật sư có tin gì về âm mưu đánh tháo tử tội, xin luật sư cho biết.
Luật sư đáp :
- Không, tôi không nghe thấy gì hết.
- Xin luật sư lấy danh dự một công dân Pháp để xác nhận.
- Vậy tôi xin thề danh dự.
Tử tội sắp sửa ra xe. Luật sư đột nhiên ngăn lại :
- Nhân danh điều 27 bộ Hình luật, quyển I, chương I, tôi yêu cầu tạm hoãn cuộc hành quyết. Con cáo già pháp đình thuộc làu luật lệ như cháo, và chờ đến phút chót mới quăng trái bom pháp lý. Quản đốc khám đường hiểu ngay mục đích của Cờ-lu-nê. Luật sư nói tiếp, ngón tay giơ cao một cách hùng hồn :
- Luật này cấm được hành quyết nữ tử tội đang mang thai, vì lẽ cái chết của tử tội sẽ dẫn theo cái chết của một bào thai vô tội....
- Điều luật sư vừa nêu ra hoàn toàn khôi hàiTử tội bị giam trong xà-lim từ 8 tháng nay, không thể có dịp chung đụng với đàn ông.
- Ông lầm. Nàng đã có dịp chung đụng với tôi. Tôi là cha đứa trẻ trong bụng nàng.
Ủy viên chính phủ Mót-nê sửng sốt, không rõ vì tức giận hay vì khoái trá :
- Thôi thôi, cụ Cờ-lu-nê, ở tuổi cúp bình thiếc của cụ thì còn sinh con đẻ cái sao được ?
- Ông đừng coi thường khả năng sinh lý của tôi. Trân trọng nhắc lại ông là năm 50 tuổi Abraham còn tạo được con. Tôi yêu cầu điều 27 được tôn trọng triệt để, các ông không có quyền hành quyết thân chủ của tôi.
Tử tội vừa tới chỗ hai người đàn ông tranh luận, quản đốc khám đường bèn hỏi :
- Luật sư Cờ-lu-nê cho biết bà đang có mang với ông ta, xin bà xác nhận lại, và bà phải để cho bác sĩ khám nghiệm mới có thể quyết định tạm đình chỉ cuộc hành quyết hay không.
Luật sư Cờ-lu-nê nài nỉ :
- Mata em, anh khẩn cầu em, em nên chịu cho y sĩ khám thai...
Tử tội cười lớn :
- Anh bạn già thân yêu ơi, anh ga-lăng lắm... Thật ra em cũng muốn được mang hột máu của anh để lưu lại một cái gì đó cho hậu thế, nhưng...
Nàng nghiêm giọng với quản đốc khám đường :
- Ông khỏi mẩt thời giờ nhờ y sĩ khám nghiệm, vì lẽ giản dị tôi không có thai. Sau 9 lần xổ thai, tôi không đến nỗi ngu lắm để ngừa thai, phải không hả ông ? Tôi thành thật xin lỗi đã làm các ông thất vọng. Nào, bây giờ mời các ông tiến hành cuộc ám sát...
Nàng nhìn nữ tu đứng bên, nói tiếp, giọng đàn chị :
- Xơ ơi, đàn ông gì mà rát như cáy. Ho hèn quá, họ đinh ninh là tôi sẽ khóc hết nước mắt. Họ sợ phải nghe tôi than van, nài nỉ, cho nên người nào cũng sắp sẵn những lời hoa mỹ để khuyên tôi can đảm. Ha ha... nếu họ biết tôi ngủ đêm qua một giấc thật ngon nhỉ ? Nếu là hôm khác tôi đã khiển trách họ đánh thức tôi dậy quá sớm, nhưng dầu sao tôi cũng không chịu nổi lề lối làm việc của họ, ai đời mang phụ nữ đi bắn mà quên dọn ăn điểm tâm !
Riềm xe được buông kín, tử tội ngồi phía sau bên cạnh là linh mục, hai nữ tu ngồi ghế đối diện. Một cảnh binh ngồi truớc với tài xế.
Đoàn xe từ từ ra khỏi cổng khám, dẫn đầu là xe thẩm phán, sau đến xe tử tội, xe quản đốc khám đường, xe y sĩ và xe phòng hờ.
Hồi đêm trời mưa to, đường sá trơn trượt như thoa mỡ. Đoàn công-voa chạy rất chậm, bùn bắn tung tóe mặc dầu tài-xế cố tránh những vũng nước đó. Khoảng gần 20 xe hơi chở ký giả chạy theo nhưng bị lạc đường và sau cùng không được phép vào pháp trường.
Đoàn xe đậu lại cách pháp trường 50 mét. Tử tội sợ bùn lấm đôi giấy mới xinh xẻo, đôi giầy có sợi dây buộc tuyệt đẹp mà nàng tấm tắc khen ngợi trên đường ra sân bắn, nên bước chân có vẻ rụt rè, cố giữ cho nước bẩn khỏi văng lên. Có khi nàng phải đi vòng qua vũng nước. Và có khi nàng phải đứng lại, lấy trớn nhảy vọt qua. Trông nàng không ai dám nghĩ nàng là tử tội. Tử tội sắp bị hành quyết. Ai cũng tưởng nàng là người đàn bà tràn trề nhựa sống, phục sức đẹp đẽ và tinh khiết, đang tới nơi hẹn với người tình trong mộng...
Trời đông đã hửng sáng. Những đám mây xám lững lờ trôi qua. Vũ trụ buồn ghê. Đâu đây có tiếng còi rít lên the thé. Tiếng còi nhà máy gọi công nhân đi làm việc.
Thời tiết thật lạnh, không khí ẩm ướt và nghẹt thở như thể bên trong nhà xác. Cây sồi đơn độc trên bãi rộng được dùng làm cọc trói tử tội đã trụi hết lá. Nó đâm thẳng lên nền trời những nhánh đen gầy guộc, khẳng khiu như bộ xương khô. Vũ trụ buồn ghê. Tạo hóa như hạ lệnh cho mọi vật để tang tử tội Mata Hari...
Binh sĩ xếp vòng trong vòng ngoài gồm cả thẩy ba vòng, tạo thành hình vuông chung quanh cây sồi đơn chiếc và rùng rợn. Linh mục At-bu xuống xe đầu tiên, trượt chân suýt té. Linh mục tỏ ra xúc động mạnh mẽ. Trái lại, tử tội vẫn thản nhiên, hơn thế nàng còn đưa tay cho hai tu sĩ nắm để xuống xe nữa...Khi ấy, thật khó mà biết ai là tử tội. Linh mục At-bu có vẻ là tử tội hơn là Mata Hari...
Hai cảnh binh lon ton đến bên nàng, song nàng đã khoát tay đuổi họ. Nàng nói với dì phước :
- Xơ nắm tay tôi chặt nhé !
Tử tội bước qua toán lính. Sĩ quan chỉ huy dõng dạc hô :
- Nghiêm, chào !
Mata Hari ưỡn thẳng ngực, bước chầm chậm mắt hướng về đơn vị dàn chào, nàng có thái độ nghiêm trọng và oai nghi của bà hoàng khi duyệt đạo quân danh dự ở phi trường. Trong đời, nàng đã nhiều lần đóng vai bà hoàng duyệt đạo quân danh dự dàn chào như vậy. Chỉ khác là trước kia duyệt xong nàng lên xe về phòng ấm nệm êm, uống sâm-banh, nghe nhã nhạc; lần này, duyệt xong nàng sẽ về cõi chết lạnh lẽo.....lạnh lẽo...
Kèn đồng của pháo binh trỗi điệu hùng tráng. Lưỡi lê và gươm tuốt trần lấp loáng. Gần đấy, một con chim se sẻ kêu chút chít. Sự trùng hợp của định mạng thật kỳ lạ. Mata Hari dịch nghĩa là "con mắt bình minh", "con chim ban mai", và đây là con chim ban mai đang cất tiếng chào Mata Hari sửa soạn từ giã cõi sống...
Đội hành quyết gồm 12 lính bộ chiến, toàn thể đều từ mặt trận di tản về Ba-lê sau khi bị thương, người trẻ nhất mới chẵn 18 tuổi. Phía sau đội hành quyết là toán lính bộ chiến khác, quân phục đẫm nước, và phía bên kia là toán kỵ binh đội nón đồng buông tỏa những đám lông đen dài, rồi đến pháo binh mặc đồ trận. Khoảng 5 ngàn người hiếu kỳ chen chúc nhau ở xa, dưới sự canh chừng của cảnh binh nai nịt gọn ghẽ.
Tử tội chỉ còn cách cọc bắn độ 8 mét. Nàng đứng thẳng người trên nền cỏ xanh, màu xanh của áo nàng nổi bật, nàng ngó binh sĩ tham dự cuộc hành quyết bằng luồng mắt dịu dàng. Rồi nàng nói với dì phước :
- Giờ đây là hết. Xơ hãy để tôi đi.
Nàng dứt khỏi tay nữ tu Mari. Luật sư Cờ-lu-nê ôm nàng hôn. Cảnh binh dẫn nàng lại gần cọc. Bản án của tòa được tuyên đọc lần chót. Linh mục Át-bu lầm rầm đọc kinh. Đội lính hành quyết bước rảo đến tập hợp thành hàng đối diện với tử tội.
Một cảnh binh vòng dây qua ngực nàng, toan trói nàng vào cọc. Nàng phản đối. Một người đưa cho nàng cái mù-soa để nàng bịt mặt, nàng lắc đầu từ chối, rồi ngẩng lên nhìn thẳng mọi người. Sau đó nàng nhìn thật lâu những người thân : luật sư Cờ-lu-nê, linh mục, hai nữ tu và hôn gửi họ bằng môi. Mặt không lộ sợ sệt, nàng nói lớn, cốt cho mọi người cùng nghe :
- Hãy đứng về bên phải tôi, tôi sẽ nhìn về phía ấy. Chào vĩnh biệt.
Sĩ quan chỉ huy giơ cao gươm, ra lệnh :
- Nhắm.
Tử tội mỉm cười. Nụ cười cuối cùng của đệ nhất vũ nữ giành cho cử tọa cuối cùng. Hai nữ tu quỳ gối niệm kinh.
- Bắn !
Chỉ nghe một tiếng nổ lớn. Vì cả 12 khẩu súng trường cùng bắn một lúc. Tử tội, tấm thân mĩ miều quấn chặt trong áo măng-tô lông đắt tiền, rùn lại, rồi gục xuống. Thân thể nàng đã cứng lặng, không quẫy mạnh như thường lệ. Một sĩ quan tì họng súng lục vào màng tang nàng, bắn phát thi ân. Đầu nàng chỉ gật nhẹ rồi im lìm.
- Quay lưng lại, bước đều, bước !
Kèn đồng lại nổi lên, đoàn quân diễn hành qua. Bác sĩ Sốc-kê (Socquer) tiến lại, mở cổ áo tử tội nghe tim, ông lau vết máu dính nơi tay, miệng nói :
- Chết ngay vì một viên đạn trúng tim.
Bác sĩ Sốc-kê ghi vào biên bản ngày và gờ : ngày 15.10.1917 hồi 5 giờ 47 sáng, đoạn ký chứng thư khai tử. Hai nữ tu đứng dậy, miệng vẫn lâm râm. Nữ tu Mari lại rút cái nhẫn đeo trên ngón tay người chết. Luật sư Cờ-lu-nê quỳ bên tử tội, cầm bàn tay đưa lên môi hôn. Công chúng xô đẩy nhau, hòng tiến lại gần cọc bắn, song cảnh binh đã chặn lại.
Viên chỉ huy lên tiếng lanh lảnh :
- Có ai xin xác chết không ?
Không một ai đáp lại.
Không ai, trời ơi, loài người thật bội bạc..Suốt đời Mata Hari, có lẽ không lúc nào nàng thiếu đàn ông. Khi nàng còn sống, thiên hạ ao ước được chiếm hữu nàng, giờ đây nàng nằm bất dộng trên bãi cỏ trong vũng máu thì chẳng thấy ai. Chẳng thấy cha nàng, anh em nàng, chẳng thấy người yêu của nàng, chẳng thấy bạn bè của nàng.
Tại phiên tòa, hai yếu nhân đã bất chấp dư luận và hậu quả tới bản thân cương quyết hăng say bênh vực cho nàng. Người thứ nhất là Cam-bông (Jules Cambon) thuộc bộ Ngoại giao. Cam-bông khai trước tòa là Mata không hề lợi dụng sự liên hệ mật thiết giữa hai người để lấy tin. Người thứ hai là tướng Messimy, cựu Tổng trưởng bộ Chiến tranh. Bận cầm quân ngoài tiền tuyến, Messimy viết thư tay gửi về cho tòa :
"Theo chỗ tôi nhớ thì bị đơn chưa hề hỏi tôi điều nào có liên hệ gần xa đến chiến tranh, chính trường và những vấn đề của chính quyền. Bị đơn chưa hề yêu cầu tôi cung cấp một tin tức nào khả dĩ làm tôi nghi ngờ".
Chỉ còn lại trên pháp trường người đàn ông 75 tuổi gần đất xa trời, luật sư Cờ-lu-nê, là còn đoái tưởng đến giai nhân ngày nọ.
Ba cảnh binh khiêng xác chết ném vào quan tài bằng gỗ thông rẻ tiền méo mó, rồi đặt trên cỗ xe ngựa cũ kỹ và ọc ạch. Chiếc xe di chuyển một cách mệt mỏi trên con đường lầy lội, người xa phu tọng thuốc lá đầy ống tẩu, châm lửa hút với dáng điệu tỉnh khô, rít một hơi rồi nói chuyện tầm phào với hai cảnh binh cưỡi ngựa lóc cóc chạy theo.
Vô thừa nhận, xác tử tội được chở đến bệnh viện kế cận, đặt nằm tênh hênh trên nền đá hoa chờ các sinh viên y khoa thực tập mổ xẻ.
Nhiều năm sau, hai mẩu chuyện được đăng báo chung quanh nữ tử tội Mata Hari.
Chuyện thứ nhất là hồi ký của anh lính măng tơ 18 tuổi có chân trong tiểu đội hành quyết. Anh thấy nàng quá đẹp và quá can đảm nên tâm thần anh bị xúc động mãnh liệt, bàn tay anh run run, anh nhắm mắt bắn vào khoảng không trên đầu nàng.
Chuyện thứ hai do một y sĩ giải phẫu nổi danh thuật lại. Ngày Mata bị xử bắn, và thi thể nàng được vứt bỏ còng queo tại nhà xác trên nền đá bẩn thỉu và lạnh lẽo thì y sĩ hữu danh này mới là một sinh viên trường Thuốc, và được cái vinh dự mổ bụng nàng. Đó là lần đầu tiên, ông thực tập mổ cắt ruột dư. Cũng như anh lính trẻ, chàng sinh viên nội trú đã lúng túng hồi lâu trước khi có đủ can đảm đâm lưỡi dao nhọn vào bụng người đẹp gián điệp..
1 | Đó là bá tước Pierre de Mortissac. Định mạng oái oăm đã khiến Mortissac bị chết như Mata Hari năm 1938 ở Tây ban Nha. Năm ấy Mortissac bị bắn về tội khuynh tả. |
2 | Walter Canaris, sau này trở thành trùm quân báo Quốc xã Đức trong Thế chiến thứ hai. |
3 | Điệp viên này tên là Triolet. |