Quyết định thôi không làm vướng chân Swithin nữa của Viviette, như đã thấy, đã khiến cô không dám chùn bước trước bất kỳ nỗi yếu lòng nào muốn níu kéo anh trở lại, nên cô đã cấm anh không được cho cô biết địa chỉ khi ở nước ngoài. Sự sẵn lòng vâng lời của Swithin, cùng nỗi sợ rằng ẩn sau đó có thể còn những lý do khác, đã khiến anh tuân theo cô một cách quá đỗi máy móc. Do đó, đến nỗi kinh hoàng và bàng hoàng của cô, cô đã tự đặt ra một trở ngại hoàn toàn không đáng có cho nỗ lực hiện tại của mình.
Cô đã chuẩn bị xong trước cả Green, và giục giã lão bề tôi tội nghiệp ấy đến mức lão chẳng còn chút thời gian nào để thay chiếc quần nhung kẻ cùng đôi ủng lấm lem mà lão vẫn thường dùng khi làm vườn; vì thế, lão đành đóng giả làm xa phu bằng cách mặc nửa người trên — vội vác chiếc áo khoác, đội mũ và mặc áo ghi-lê chỉnh tề, còn nửa thân dưới làm vườn thì quấn tạm một chiếc thảm che lại. Trong bộ dạng nửa vời ấy, lão xuất hiện trước cửa, đã lên ngựa và tay cầm cương.
Thấy Viviette buồn bã và quyết tâm đến vậy, Louis cũng động lòng phần nào nên không ngáng đường cô khởi hành, dẫu anh chẳng thèm giúp đỡ. Anh cho rằng thái độ của cô chỉ là thứ trò hề sướt mướt, là kết quả của sự thương hại lầm lạc và “cái thứ linh tính gieo rắc ưu tư cho phận đàn bà”; và anh quyết định rằng tốt hơn hết là cứ để tâm trạng ấy tự thiêu rụi đi thay vì cứ giữ cho nó âm ỉ cháy nhờ những lời can ngăn.
— Anh có nhớ ngày tàu khởi hành không? — Cuối cùng cô cất lời, khi chiếc xe ngựa kéo quay đầu để lăn bánh.
— Cậu ta khởi hành vào ngày 25, nghĩa là hôm nay. Nhưng có lẽ phải tận tối muộn tàu mới chạy.
Nói đoạn, cô lên đường và kịp đến Warborne để đón chuyến tàu đi lên phía bắc. Ngày hôm đó, nàng Viviette khốn khổ đã thấm thía trọn vẹn cảm giác một chuyến đi dài có thể trông lê thê đến mức nào. Dãy biệt thự đồng quê lướt qua cửa sổ mà cô bị kéo ngang qua, cùng tên tuổi và ký ức về những người chủ của chúng, giờ đây chẳng còn mảy may thu hút được sự chú ý nào từ cô. Khoảng giữa trưa, cô tới Southampton và đi thẳng tới bến cảng.
Khi tiến lại gần cổng, cô bắt gặp một đám đông người và xe cộ đang lục đục đi ra — đàn ông, phụ nữ, trẻ em, phu khuân vác, cảnh sát, xe taxi và xe ngựa. Con tàu Occidental vừa mới nhổ neo.
Tin dữ ập đến giáng cho cô một đòn chí mạng sau một buổi sáng thần kinh căng như dây đàn, khiến cô suýt chẳng thể lết nổi về chiếc xe taxi đã chở mình đến. Nhưng đây không phải là lúc để gục ngã. Vì chẳng mang theo hành lý, cô thanh toán tiền xe rồi buông xuôi, bước đi lủi thủi như kẻ vô hồn và ngồi bệt xuống một đống hàng hóa.
Sau hồi lâu suy tính, tình cảnh của cô bắt đầu lóe lên những tia hy vọng. Trong khoảng thời gian hiện có, hẳn cô vẫn có thể làm được khối việc để liên lạc với anh. Bước đi hiển nhiên nhất cho mục đích này mà đáng lẽ cô phải nghĩ ra sớm hơn, chính là đến gặp bà nội của anh ở Welland Bottom, và từ đó xin cho được hải trình chi tiết của anh — điều mà chắc chắn bà Martin nắm rõ mồn một. Cô chẳng còn chút thời gian thảnh thơi nào để đắn đo thêm nữa nếu muốn kịp về nhà vào tối hôm đó; thế là cô quay lại nhà ga, ngồi thẫn thờ trên ghế băng chẳng màng ăn uống gì cho đến khi có chuyến tàu đưa cô trở về.
Lúc cô đặt chân trở lại Warborne, mặt trời đã tựa cằm lên những thảm cỏ, rưới những tia nắng ẩm ướt bao trùm lên đường nét mờ xa của cột tưởng niệm Rings-Hill. Thuê một chiếc xe ngựa chạy hợp đồng tình cờ đậu ở nhà ga, cô đi xuyên qua thị trấn nhỏ để hướng về phía Welland, và đến nơi vào khoảng tám giờ. Theo yêu cầu của cô, người đánh xe thả cô xuống lối vào công viên, và khi chiếc xe đã khuất dạng, thay vì đi thẳng về phía Trang ấp (The House), cô lại rẽ dọc theo con đường lớn hướng về nhà bà Martin.
Khi cô đến nơi, trời bắt đầu sẩm tối và đàn dơi đang lượn vòng trên cái thũng lũng xanh được gọi là Welland Bottom; và nếu không vì có việc cấp bách khác xui khiến, hẳn cô đã hoãn chuyến viếng thăm này sang tận ngày hôm sau. Không một ai đáp lại tiếng gõ cửa của cô, nhưng cô có thể nghe thấy những bước chân đi lại lạo xạo ở trên lầu, cùng những tiếng động trầm đục tựa như có đồ đạc đang bị dịch chuyển khỏi vị trí. Cô gõ cửa hết lần này đến lần khác, và cuối cùng cánh cửa cũng được mở ra bởi Hannah như mọi khi.
— Tôi gọi mãi chẳng thấy ai trả lời — Phu nhân Constantine lên tiếng, vẻ mệt mỏi đến mức đứng suýt không vững.
— Tôi vô cùng xin lỗi, thưa phu nhân — Hannah nói, có chút kính sợ khi nhận ra vị khách của mình. — Nhưng chúng tôi đang dọn dẹp lại căn phòng cho tội nghiệp cậu Swithin, giờ đây khi mà, ví von theo kiểu đàn bà thì, cậu ấy coi như đã chết và được chôn cất đối với chúng tôi rồi; thế nên chúng tôi không nghe thấy tiếng phu nhân gọi. Tôi sẽ gọi bà Martin xuống ngay đây. Bà ấy đang ở trên căn phòng trước kia vốn là phòng làm việc của cậu ấy.
Đến đây, giọng Hannah nghẹn ngào ngấn lệ, và khóe mắt Phu nhân Constantine cũng lập tức tràn mi.
— Không, để tôi lên gặp bà ấy — Viviette nói; rồi gần như đi trước cả Hannah, cô bước lên chiếc cầu thang bằng gỗ tần bì đã mục nát.
Ánh chiều tà leo lắt chẳng đủ để đôi mắt già nua của bà Martin nhận ra dung mạo vị khách của mình, cho đến khi Hannah lên tiếng giải thích.
— Để cháu thắp ngọn đèn, thưa phu nhân — cô hầu gái nói.
— Không, ta không cần đâu. Bà đang làm gì thế, bà Martin?
— Chà, đứa cháu trai khờ khạo đáng thương ấy đã đi rồi — và nó đi luôn đối với tôi chẳng bao giờ trở lại! Tôi đã sống qua tám mươi tuổi rồi, thưa Phu nhân Constantine; những ngày tháng vui chơi nhảy nhúa của tôi đã qua lâu rồi, và việc thiên hạ ngoài kia đang yến tiệc hay sầu khổ thì chẳng mấy chốc nữa cũng chẳng còn dính dáng gì đến tôi nữa. Nhưng cuộc đời nó thì hãy còn dài và đầy hoài bão, và vì nghĩ cho nó nên tôi vẫn bận lòng vì những thứ mình sẽ chẳng bao giờ còn thấy được, lại còn muốn dọn dẹp cho ngăn nắp những thứ mình sẽ chẳng bao giờ được tận hưởng nữa. Tôi đang sắp xếp lại căn phòng của nó, vì chốn này sau khi tôi qua đời sẽ thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của nó, để rồi khi trở về, nó có thể tìm thấy mọi món đồ vặt vãnh và lặt vặt tội nghiệp của mình y nguyên như lúc nó rời đi, và không phải cảm thấy rằng tôi đã phụ lòng tin của nó.
Giọng bà Martin nghẹn lại cho thấy bà đã bật khóc những giọt nước mắt ít ỏi còn lại của tuổi già, và rồi Hannah cũng bắt đầu sụt sùi theo; nhân cơ hội ấy, Phu nhân Constantine — người từ sáng đến giờ lòng dạ đã rối bời như tơ vò (và quả thực, nếu xét đến ngọn nguồn rắc rối sắp tới, cô thừa lý do để khóc) — liền bật lên những tiếng nức nở cay đắng hơn cả hai người họ — những tiếng nức nở của nỗi đau đớn tuyệt vọng chẳng thể nào nén lại được nữa.
Hannah là người đầu tiên phát hiện ra rằng Phu nhân Constantine cũng đang khóc cùng họ; và vì tình cảm của cô ta có lẽ là ít dằn vặt nhất trong ba người nên cô ta liền nhanh chóng kìm chế lại cảm xúc.
— Xin người hãy nén đau thương, thưa phu nhân, hãy nén lại! — cô ta vội vã nói với bà Martin; — bà không thấy điều đó đang làm phu nhân nhà ta đứt từng khúc ruột hay sao? — Rồi quay sang Viviette, cô ta thì thầm: — Tuổi tác của cụ cao lắm rồi, thưa phu nhân, mong người rộng lượng bỏ qua cho cái tội dám khóc lóc trước mặt ngài? Thưa phu nhân, chúng ta đều biết khi tâm trí đã lú lẫn thì người ta chẳng còn giữ được phép tắc đúng đắn nữa; nhưng những kẻ già nua lom khom thì nào đâu tránh được điều ấy, tội nghiệp lão già khổ sở!...
— Hannah, thế là đủ rồi đấy. Có lẽ Phu nhân Constantine muốn nói chuyện riêng với tôi — bà Martin lên tiếng. Và khi Hannah đã lùi ra ngoài, bà Martin tiếp lời: — Thật là một gánh nặng khôn xiết khi phải chăm sóc cô ta, thưa phu nhân, chỉ vì tuổi tác của cô ta quá cao! Mong ngài rộng lòng tha thứ cho việc cô ta cứ nán lại đây như thể là người trong một nhà. Tôi phải chịu đựng những chuyện thế này cũng vì thâm niên phục vụ lâu năm của cô ta, và chúng ta đều biết tuổi già thì hay trở lại tính trẻ con.
— Bà đang làm gì thế? Tôi có thể giúp gì được không? — Viviette hỏi, khi bà Martin dứt lời rồi quay người để nhấc một món đồ cồng kềnh lên.
— Ồ, đây chỉ là cái khung của một chiếc kính viễn vọng mà phần ruột bên trong chẳng còn bộ phận nào cả — bà nội của Swithin đáp, vừa chộp lấy cái ống bìa cứng khổng lồ do chính tay Swithin làm ra, rồi bỏ xó vì chẳng tìm được thấu kính nào vừa vặn. — Tôi đang định treo nó lên mấy cái móc kia, và nó sẽ cứ nằm yên ở đó cho đến ngày thằng bé quay về.
Phu nhân Constantine đỡ lấy một đầu, và chiếc ống được treo lên bức tường quét vôi trắng bằng những sợi dây mà cụ già đã buộc vòng quanh nó.
— Kia là tất cả những đường xích đạo của nó, cùng các chí tuyến Ma Kết, và chẳng biết còn cái quái gì khác nữa — bà Martin tiếp tục, chỉ tay lên những nét vẽ bằng than trên tường. — Tôi sẽ chẳng bao giờ xóa chúng đi đâu; không, dù đó là sự bừa bộn mà chưa bao giờ tôi được dạy dỗ để chấp nhận đi chăng nữa, tôi cũng sẽ chẳng bao giờ xóa chúng đi.
— Swithin đã đi đâu trước tiên vậy? — Viviette lo lắng hỏi. — Cậu ấy dặn bà viết thư cho mình ở đâu?
— Vẫn chưa đâu cả, thưa phu nhân. Nó đi lang thang khắp châu Âu lẫn châu Mỹ, rồi sau đó sẽ tới tận Nam Thái Bình Dương để xem cái hiện tượng Sao Kim quá thực sắp diễn ra ngoài đó. Nó sẽ viết thư cho chúng tôi trước — Chúa mới biết lúc nào! — vì nó dặn rằng nếu trong sáu tháng liền mà không nhận được tin tức gì thì chúng tôi cứ bình tâm chớ có hoảng hốt.
Nghe thông tin này, tồi tệ hơn nhiều so với những gì cô từng tưởng tượng, Phu nhân Constantine đứng chết trân, khuỵu xuống và suýt ngã quỵ xuống sàn nhà nếu ngay phía sau không có một chiếc ghế dựa. Dùng một nỗ lực phi thường để tự trấn an, cô che giấu đi sự tuyệt vọng tột cùng và thừ người hỏi: — Từ châu Mỹ đến Nam Thái Bình Dương — hiện tượng Sao Kim quá thực ư? (Kế hoạch tham gia chuyến thám hiểm của Swithin được quyết định vào phút chót, thế nên cô hoàn toàn chưa hề được hay tin).
— Vâng, đến một hòn đảo hoang vắng nào đó, tôi tin là thế.
— Vâng, một hòn đảo hoang vắng, thưa phu nhân! — Hannah hùa theo, ả ta vừa lén lút bước vào và tự xem mình là người trong nhà bất chấp sự có mặt của bà Martin.
— Cậu ấy sẽ đến đó để hội ngộ với các nhà thiên văn học người Anh và người Mỹ vào cuối năm nay. Sau đó, rất có thể cậu ấy sẽ đi tiếp đến mũi Hảo Vọng.
— Thế nhưng trước cuối năm nay — cậu ấy đã kể cho bà nghe sẽ ghé qua những nơi nào?
— Để tôi nhớ lại xem nào; nó sẽ đến đài thiên văn Cambridge ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ để gặp gỡ một số vị tai mặt ở đó và ngắm qua chiếc kính viễn vọng khúc xạ vĩ đại. Rồi đến đài thiên văn Chicago nữa; và hình như nó có một bức thư giới thiệu để làm quen với một vị quan sát viên ở đài thiên văn Marseille — ngoài ra nó còn muốn ghé Vienna — và cả Poulkowa nữa, nó dự định sẽ ghé qua trên đường đi — vì ở mỗi nơi đó đều có những cỗ máy khổng lồ cùng rất nhiều nhà thiên văn học.
— Cậu ấy ghé châu Âu hay châu Mỹ trước vậy? — cô hỏi với giọng yếu ớt, bởi vì bản danh sách ấy nghe sao mà mờ mịt không lối thoát.
Bà Martin không thể trả lời được cho đến khi nhận được thư từ Swithin. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của cậu ta vào chính ngày rời khỏi nước Anh.
Phu nhân Constantine chào từ biệt hai bà cháu, lê bước chân mệt mỏi trở về nhà. Sự viển vông của việc lo xa hiếm khi nào lại ứng nghiệm một cách trớ trêu đến thế. Giá như cô chẳng làm gì để cản trở anh, thì anh đã duy trì mối liên lạc cởi mở với cô, và mọi chuyện có lẽ đã tốt đẹp biết bao.
Đêm hôm đó cô chẳng thể làm thêm được điều gì nữa, đành ngậm ngùi đợi sang ngày hôm sau. Ngay lập tức, cô viết hai bức thư gửi cho Swithin, gửi một bức đến đài thiên văn Marseille, và bức kia đến đài thiên văn Cambridge ở Mỹ, bởi đó là hai điểm duy nhất trên mặt địa cầu mà họ có thể chặn đầu được anh. Mỗi bức thư đều giãi bày cho anh thấy những lý do khẩn thiết đòi hỏi anh phải quay về, đồng thời đính kèm một lời nhắn nhủ đầy hối tiếc và khẩn khoản rằng khoản tiền trợ cấp — nơi đặt mọi hy vọng của anh — buộc lòng sẽ phải hy sinh nếu cứ khăng khăng hoàn thành bản hợp đồng ban đầu mà không chịu trì hoãn.
Nhưng việc gửi thư bằng đường bưu điện lại quá chậm chạp để có thể làm dịu đi cơn sóng lòng của cô. Rốt cuộc, việc dùng điện tín để truyền đi tóm tắt nội dung các bức thư là điều bắt buộc. Gửi đi một câu nài nỉ tha thiết như thế từ Warborne quả là mạo hiểm, vậy nên cô đành thực hiện một chuyến đi buồn thiu đến một thị trấn lạ lẫm chỉ để gửi nó đi từ một bưu điện mà chẳng ai hay biết thân thế mình.
Tại đó, cô trao đi bức thông điệp của mình, đề người nhận ở cảng đến của con tàu Occidental, rồi lại lủi thủi quay về nhà.
Cô mòn mỏi chờ đợi; và vì chẳng có bức điện hồi âm nào gửi lại, cô suy luận rằng có lẽ anh đã vô tình bỏ lỡ tin nhắn của cô vì lý do nào đó. Để nhận được hồi âm cho bất kỳ bức thư nào trong số đó, cô sẽ phải chờ đợi một khoảng thời gian dài đằng đẵng đủ để anh kịp đặt chân tới một trong các đài thiên văn — một khoảng thời gian vô cùng chậm chạp và nản lòng.
Rồi cô lại ngẫm nghĩ về sự yếu đuối, về bản chất quẩn quanh đầy ngu ngốc trong nỗ lực kéo anh quay lại của chính mình.
Thời cuộc cứ thế đem cô ra làm trò cười từ mọi phía. Nhờ sự xô đẩy của tình cờ, cùng những nỗ lực phi thường đi ngược lại bản năng của chính cô, Swithin cuối cùng đã được khôi phục lại quyền thừa kế chính đáng mà anh suýt chút nữa đã đánh mất vì cô. Anh vừa mới lên đường để tận dụng cơ hội ấy; thế mà cô, chẳng màng báo trước lấy một tiếng, lại đòi anh vứt bỏ nó đi một lần nữa. Cô đã khởi động một cỗ máy — để rồi lại muốn chặn đứng nó ngay khi nó còn chưa quay nổi một vòng.
Một nỗi hoảng sợ kinh hoàng bao trùm lấy cô. Swithin có thể dễ dàng từ bỏ những thứ mà anh chưa từng biết đến sự hữu ích của việc gìn giữ chúng; nhưng một khi đã bắt đầu nếm trải hương vị của quyền sở hữu ấy, liệu anh có còn chịu từ bỏ nó nữa không? Liệu người ta có thể trông chờ vào sự hy sinh cao cả ấy ở anh hay không? Trước lúc lên đường, anh sẵn sàng làm bất cứ điều gì theo lời cô yêu cầu; nhưng cái thời điểm ngọt ngào để dễ bề thổ lộ (mollia tempora fandi) giờ đây đã trôi qua mất rồi. Giả sử trong ba tháng tới mà chẳng có hồi âm nào từ anh; và khi bức thư trả lời đến, anh thông báo với cô rằng, vì giờ đây đã hoàn toàn đồng thuận với quyết định ban đầu của cô, anh thấy cuộc sống mà mình đang theo đuổi quá đỗi sinh lợi nên không tài nào từ bỏ nó được nữa, dẫu là để làm vui lòng cô; rằng anh rất lấy làm tiếc, nhưng vì đã dấn thân vào con đường này theo lời khuyên của cô nên anh quyết tâm sẽ bám lấy nó theo ý nguyện của chính mình.
Quả thực, có rất nhiều khả năng là với lối di chuyển liên tục như thế, lại thêm việc đã được chính cô cảnh báo từ trước về việc không nên quá dễ dãi nghe theo lời cô, cô sẽ chẳng nhận được bất kỳ hồi âm nào từ anh trong suốt ba hay thậm chí bốn tháng trời. Lúc đó sẽ là sát thềm diễn ra hiện tượng Sao Kim quá thực; và thử hỏi có mấy phần xác suất mà một chàng trai trẻ đang hừng hực khí thế hướng về kỳ quan ấy lại chịu từ bỏ nó vào phút chót để quay về với nếp sống gia đình tẻ nhạt bên một người đàn bà chẳng còn gì mới mẻ?
Giá như cô có thể mặc kệ cho anh theo đuổi sự nghiệp, đồng thời tự cứu lấy hoàn cảnh của chính mình! Nhưng vào khoảnh khắc ấy, điều đó ngó bộ bất khả thi chẳng khác nào dựng lên một hình tam giác chỉ bằng hai đoạn thẳng.
Trên đường lủi thủi bước về nhà, bị bao trùm bởi những viễn cảnh tuyệt vọng ấy, cô đi ngang qua tòa tháp tối tăm và hoang phái. Màn đêm buông xuống chốn thâm sơn cùng cốc ấy, thứ mà vào những năm tháng vô tư lự từng khiến cô đôi chút bận tâm, giờ đây chẳng còn chút sức mạnh khủng bố nào đối với cô nữa. Cô bước lên con đường mòn quanh co, và khi cánh cửa không khóa, cô cứ thế mò mẫm tìm đường lên đến đỉnh tháp. Bầu trời quang đãng chào đón cô hệt như những ngày trước thời kỳ xây mái vòm quan sát; nhưng chẳng có lấy một vì sao nào để gợi ý cho cô biết Swithin đã đi về hướng nào. Sự vắng bóng của mái vòm gợi ý cho cô một lối thoát khỏi những rắc rối này. Chỉ một cú nhảy vào màn đêm thăm thẳm, và mọi chuyện sẽ chấm dứt. Nhưng cô vẫn chưa chạm tới cái ranh giới hành động ấy, và ý nghĩ đó vừa lóe lên liền bị gạt phăng đi nhanh chóng.
Mối bận tâm mới hiện đang chiếm lĩnh tâm trí cô lúc này là: liệu cô có đủ dũng khí để mặc kệ Swithin tự lập như trong kế hoạch ban đầu, và một mình đương đầu với thử thách sắp tới, bất chấp mọi điều tiếng hổ thẹn, cho đến khi anh tròn hai mươi lăm tuổi và quay về nhận cô không? Thế nhưng, liệu niềm tin rằng anh sẽ quay về ấy có thực sự chắc chắn hay không? Mọi thứ khi đó sẽ đổi thay biết nhường nào! Ở tuổi hai, anh vẫn sẽ là một chàng trai trẻ trung và khôi ngô; còn cô lúc ấy đã ba mươi mốt, ba mươi hai tuổi, tàn phai nhan sắc để bước vào tuổi trung niên và trở nên quê mùa, nếu nhìn qua lăng kính của một kẻ trẻ tuổi. Một nỗi sợ sắc lạnh tựa sương muối giá buốt bủa vây lấy cô, rằng với bất kỳ toan tính nào kiểu này, cô cũng chỉ đang xây lâu đài trên cát mà thôi.
Cô hầu như chẳng mảy may biết làm thế nào mình lại về đến nhà trong đêm hôm đó. Bước vào qua lối cửa hướng ra bãi cỏ, cô nhìn thấy một đốm than hồng hắt ra từ phía giàn hoa lá. Louis đang hút thuốc ở đó, và anh bước ra đón cô.
Anh đã không gặp cô kể từ buổi sáng và đương nhiên tỏ ra vô cùng lo lắng cho cô. Cô thầm cảm ơn sự tình cờ đã che chở mình trong lớp màn đêm, giúp cô vơi bớt một nửa gánh nặng của cuộc chạm trán này bằng cách tước đi khả năng nhìn rõ của anh.
— Em đã đạt được mục đích của mình chứ? — anh hỏi.
— Không — cô đáp.
— Sao lại thế?
— Cậu ấy đã nhổ neo rồi.
— Anh lại thấy đó là một điều tuyệt vời cho cả hai. Anh tin là em thể nào cũng cưới cậu ta cho bằng được, nếu như em bắt kịp cậu ta.
— Chắc chắn em sẽ làm thế! — cô quả quyết.
— Lạy Chúa nhân từ!
— Thậm chí em còn sẵn sàng cưới cả một tên thợ hàn thiếc ấy chứ; em có đủ lý do để làm vợ bất kỳ kẻ nào — cô thốt lên bất chấp tất cả, — chỉ là em thà chọn cách tự trầm mình xuống nước còn hơn.
Louis nín thở, đứng chết trân trước hàm ý ẩn chứa đằng sau những lời cô vừa thốt ra.
— Nhưng Louis, anh đâu có biết hết mọi chuyện! — Viviette kêu lên. — Em không tồi tệ như anh nghĩ đâu; tất cả những gì em làm chỉ là sự dại dột — chứ không phải tội lỗi. Em cứ ngỡ rằng mình đã thành vợ cậu ta — rồi sau đó em mới phát hiện ra không phải thế; cuộc hôn nhân ấy không hợp pháp — Sir Blount vẫn còn sống! Và giờ đây Swithin đã bỏ đi, và sẽ chẳng quay về dẫu em có gọi thế nào đi nữa! Làm sao cậu ta quay về được chứ? Gia tài đã được để lại cho cậu ta với điều kiện cậu ta không được vướng vào bất kỳ mối ràng buộc pháp lý nào. Ồ, liệu cậu ta — liệu cậu ta có quay về nữa hay không?
— Không bao giờ, nếu tình thế sự việc đã ra nông nỗi ấy — Louis kiên quyết đáp lời sau một khoảng lặng ngắt.
— Vậy thì em phải làm sao đây? — Viviette thốt lên.
Louis né tránh được câu trả lời đầy gai góc bằng cách vờ như đang tiếp tục phì phèo điếu xì gà Habana của mình; còn cô, cúi rạp người đến sát mặt đất vì những điều vừa thổ lộ, lủi thủi trốn anh để bước vào trong nhà. Điếu xì gà trên tay Louis chợt lụi tắt khi anh đứng lặng người đăm đăm nhìn xuống mặt đất.