Đến nhà, Elizaveta Prokofievna dừng lại ở căn phòng đầu tiên. Bà không thể đi tiếp được nữa, ngã phịch xuống chiếc ghế băng vì quá kiệt sức, yếu đến mức không nhớ nổi cả việc mời vị hoàng tử ngồi xuống. Đây là một phòng tiếp khách rộng lớn, ngập tràn hoa, với một cánh cửa kính dẫn thẳng ra khu vườn.
Alexandra và Adelaida bước vào gần như ngay lập tức, đưa ánh mắt dò hỏi nhìn vị hoàng tử và mẹ mình.
Ở vùng nông thôn, các cô gái thường thức dậy vào khoảng chín giờ sáng; dạo gần đây, Aglaya có thói quen dậy sớm hơn một chút và đi dạo trong vườn, nhưng không bao giờ là lúc bảy giờ; khoảng tám giờ hoặc muộn hơn một chút mới là giờ giấc thường lệ của cô.
Elizaveta Prokofievna, người thực sự đã thức trắng cả đêm, đã dậy vào khoảng tám giờ với mục đích tìm gặp Aglaya trong vườn để đi dạo cùng con bé; nhưng bà chẳng tìm thấy nó ở đâu, cả ngoài vườn lẫn trong phòng riêng.
Điều này khiến bà cụ vô cùng bấn loạn; và bà đã đánh thức các cô con gái khác dậy. Tiếp theo, bà biết được từ người hầu rằng Aglaya đã ra công viên trước cả bảy giờ. Các cô con gái cười cợt trò quái gở mới nhất của Aglaya, bảo mẹ rằng nếu bà ra công viên tìm nó, có lẽ Aglaya sẽ rất tức giận với bà, và rằng con bé chắc chắn đang ngồi đọc sách trên chiếc ghế băng màu xanh lá cây mà nó từng nhắc đến cách đây hai ba ngày, chiếc ghế suýt khiến nó cãi nhau to với Hoàng tử S., người chẳng thấy nó có gì là đáng yêu đặc biệt.
Khi đến nơi hẹn gặp giữa hoàng tử và con gái mình, rồi nghe thấy những lời kỳ lạ của cô con gái, Elizaveta Prokofievna đã vô cùng hoảng hốt vì nhiều lý do. Tuy nhiên, giờ đây khi đã lôi được hoàng tử về nhà cùng mình, bà bắt đầu cảm thấy hơi sợ hãi trước việc mình vừa làm. Tại sao Aglaya lại không thể gặp hoàng tử ở công viên và nói chuyện với anh cơ chứ, ngay cả khi cuộc gặp đó là có hẹn trước?
“Đừng tưởng, thưa hoàng tử,” bà bắt đầu, tự gượng lại để nói cho trôi chảy, “đừng tưởng rằng tôi đưa ngài đến đây để tra khảo. Sau chuyện tối qua, tôi xin đảm bảo với ngài là tôi chẳng hề tha thiết gì việc gặp ngài; tôi hoàn toàn có thể hoãn niềm vui đó lại lâu dài.” Bà dừng lại.
“Nhưng đồng thời ngài cũng rất muốn biết vì sao tôi lại tình cờ gặp Aglaya Ivanovna sáng nay chứ gì?” Vị hoàng tử điềm đạm nói thay hết phần câu của bà.
“Thì sao nào? Cứ cho là tôi muốn biết đi thì sao?” Elizaveta Prokofievna kêu lên, mặt đỏ bừng. “Tôi dám chắc mình chẳng sợ gì việc nói thẳng thừng. Tôi chẳng xúc phạm ai cả, và chưa bao giờ có ý định đó, và—”
“Xin lỗi bà, muốn biết điều này chẳng có gì là xúc phạm cả; bà là mẹ của cô ấy. Chúng tôi gặp nhau ở chiếc ghế băng màu xanh lá cây sáng nay, đúng bảy giờ, theo đúng thỏa thuận mà Aglaya Ivanovna đã đặt ra với tôi ngày hôm qua. Cô ấy nói rằng cô ấy muốn gặp tôi và nói chuyện về một vài điều quan trọng. Chúng tôi đã gặp và trò chuyện suốt một tiếng đồng hồ về những vấn đề liên quan đến chính bản thân Aglaya Ivanovna, chỉ có vậy thôi.”
“Dĩ nhiên là chỉ có thế rồi, bạn của tôi ạ. Tôi không mảy may nghi ngờ ngài,” Elizaveta Prokofievna nói với vẻ đầy uy quyền.
“Làm tốt lắm, thưa hoàng tử, tuyệt vời!” Aglaya vang lên, bước vào phòng đúng lúc đó. “Cảm ơn ngài vì đã tin rằng tôi không tự hạ thấp mình bằng những lời dối trá. Nào, thế đã đủ chưa, thưa má, hay má định hỏi thêm điều gì nữa không?”
“Con biết là cho đến tận ngày hôm nay, má chưa bao giờ phải đỏ mặt trước mặt con, dẫu có lẽ con rất mong làm được điều đó,” Elizaveta Prokofievna nói với giọng uy nghi. “Tạm biệt hoàng tử; xin lỗi vì đã làm phiền ngài. Tôi tin rằng ngài sẽ luôn đinh ninh về sự kính trọng không bao giờ thay đổi của tôi dành cho ngài.”
Vị hoàng tử cúi đầu chào rồi lui ra ngay lập tức. Alexandra và Adelaida mỉm cười thì thầm với nhau, trong khi Elizaveta Prokofievna trừng mắt nhìn họ đầy nghiêm khắc. “Bọn con chỉ cười cái cách cúi chào đẹp đẽ của hoàng tử thôi, thưa má,” Adelaida nói. “Thỉnh thoảng ngài ấy cúi chào cứ như một bao bột mì ấy, nhưng hôm nay thì giống... giống hệt Evgenie Pavlovitch!”
“Chính trái tim mới là người thầy dạy dỗ tốt nhất cho sự thanh nhã và phẩm giá, chứ không phải thầy dạy khiêu vũ,” người mẹ ra điều dạy đời rồi bước thẳng lên lầu về phòng mình, thậm chí chẳng thèm liếc mắt nhìn Aglaya lấy một cái.
Khi vị hoàng tử về đến nhà vào khoảng chín giờ, anh thấy Vera Lebedeff và cô người hầu đang ở ngoài hiên. Cả hai đang bận rộn dọn dẹp lại căn phòng sau bữa tiệc hỗn độn tối hôm qua.
“Tạ ơn trời, chúng cháu vừa kịp dọn xong trước khi chú về đấy!” Vera vui mừng nói.
“Chào cháu! Đầu óc chú cứ quay cuồng cả lên; chú thức trắng cả đêm. Giờ chú muốn chợp mắt một lát đây.”
“Ngay ở ngoài hiên này ạ? Vâng, để cháu bảo mọi người không ai được vào làm phiền chú thức giấc. Ba cháu đi vắng đâu mất rồi.”
Người hầu rời khỏi phòng. Vera định đi theo cô ấy, nhưng rồi quay lại, bước đến bên vị hoàng tử với vẻ mặt đầy tâm sự.
“Thưa chú!” con bé nói, “xin hãy rủ lòng thương đến cậu thanh niên tội nghiệp đó; đừng đuổi cậu ấy đi ngày hôm nay.”
“Không đời nào; cậu ta muốn làm gì tùy ý.”
“Bây giờ cậu ấy không gây hại gì nữa đâu ạ; và... và chú đừng quá nghiêm khắc với cậu ấy nhé.”
“Ồ không đời nào! Sao lại thế...”
“Và... và chú sẽ không cười nhạo cậu ấy chứ? Đó mới là điều quan trọng nhất.”
“Ồ không! Không bao giờ.”
“Sao cháu lại ngốc nghếch thế cơ chứ, lại đi nói những chuyện này với một người như chú,” Vera đỏ bừng mặt nói. “Dù trông chú có vẻ mệt mỏi,” con bé nói thêm, hơi quay mặt đi, “nhưng đôi mắt của chú lúc này thật tuyệt vời... tràn ngập hạnh phúc.”
“Thật thế ư?” vị hoàng tử vui vẻ hỏi, và anh bật cười đầy thích thú.
Nhưng Vera, một con bé ngây thơ là thế (quả thực chẳng khác gì một cậu con trai), lúc này bỗng trở nên vô cùng bối rối, vội vã chạy biến khỏi phòng vừa cười vừa đỏ mặt.
“Đúng là một cô bé đáng yêu,” vị hoàng tử nghĩ, và ngay lập tức quên bẵng đi chuyện về con bé.
Anh bước đến tận cùng hiên nhà, nơi có chiếc ghế dài đặt trước một chiếc bàn. Anh ngồi xuống, lấy hai tay ôm mặt, cứ thế suốt mười phút liền. Bỗng anh thọc tay vào túi áo và vội vã rút ra ba bức thư.
Nhưng cánh cửa lại mở ra, và Colia bước vào.
Vị hoàng tử thực sự cảm thấy nhẹ nhõm vì bị ngắt quãng — và có cớ để cất lại mấy bức thư vào túi. Anh mừng vì có khoảng lặng này.
“Này chú,” Colia vào đề ngay lập tức như mọi khi, “có chuyện lớn rồi đấy! Chú nghĩ sao về Hippolyte lúc này? Chắc không còn coi trọng cậu ta nữa phải không?”
“Sao lại không? Mà này Colia, chú mệt lắm; hơn nữa, đề tài này quá u ám để mà bàn lại từ đầu. Cậu ta thế nào rồi?”
“Đang ngủ — chắc còn ngủ thêm vài tiếng nữa. Cháu hiểu mà — chú đã thức trắng — chú đi dạo trong công viên, cháu biết thừa. Bồn chồn — kích động — đủ thứ chuyện trên đời — cũng hoàn toàn dễ hiểu thôi!”
“Sao cháu biết chú đi dạo trong công viên mà không ngủ ở nhà?”
“Vừa nãy Vera nói cho cháu biết đấy chứ. Con bé cố can cháu không đến, nhưng cháu không nhịn được, chỉ ghé qua đúng một phút thôi. Cháu vừa túc trực bên giường bệnh suốt hai tiếng đồng hồ qua; giờ đến phiên Kostia Lebedeff ở đó rồi. Burdovsky đã về. Giờ thì chú nằm xuống đi, cứ thoải mái mà nghỉ ngơi cho ngon giấc nhé! Cháu ấn tượng khủng khiếp luôn đấy, chú ạ.”
“Đương nhiên rồi, tất cả những chuyện này—”
“Không, không, ý cháu là về ‘bài diễn thuyết giải thích’ ấy, đặc biệt là đoạn cậu ta nói về Đấng Quan Phòng và kiếp sau. Trong đó có một tư tưởng vĩ đại.”
Vị hoàng tử trìu mến nhìn Colia, kẻ dĩ nhiên đã xông vào đây chỉ cốt để nói về “tư tưởng vĩ đại” này.
“Nhưng không chỉ riêng một tư tưởng nào đâu; mà là toàn bộ hoàn cảnh chung của sự việc. Nếu Voltaire viết ra điều này bây giờ, hoặc Rousseau, thì cháu chỉ đọc rồi thấy nó đáng chú ý thôi chứ chắc gì đã bị ấn tượng mạnh đến thế. Đằng này, một người biết chắc chắn rằng mình chỉ còn mười phút để sống mà lại có thể nói năng như vậy — chà — đúng là... đúng là sự kiêu hãnh! Quả thực là một sự khẳng định phẩm giá cá nhân vô cùng phi thường, cao cả, đúng là... đúng là sự thách thức! Sức mạnh ý chí gì mà ghê gớm thế chứ, hử? Thế mà lại đi buộc tội một người như thế là cố tình không đậy nắp lọ thuốc; thật là hèn hạ và đê tiện! Chú biết không, tối qua cậu ta đã lừa chúng ta đấy, cái đồ ranh mãnh cáo già. Cháu có bao giờ gói hành lý hộ cậu ta đâu, và cháu cũng chẳng hề thấy khẩu súng lục nào cả. Tự cậu ta gói lấy đấy chứ. Nhưng chú thấy đấy, cậu ta đã làm chúng ta mất cảnh giác như thế đấy. Vera bảo chú sẽ cho cậu ta ở lại tiếp; cháu xin thề là chẳng có nguy hiểm gì đâu, nhất là khi chúng ta luôn ở bên cạnh cậu ta mà.”
“Những ai đã túc trực bên cạnh cậu ta ban đêm?”
“Cháu, Burdovsky, và Kostia Lebedeff. Keller ở lại một lúc rồi sang nhà Lebedeff ngủ. Ferdishenko cũng ngủ ở nhà Lebedeff; nhưng anh ta chuồn từ lúc bảy giờ rồi. Ba cháu thì lúc nào chả kè kè ở nhà Lebedeff; nhưng vừa mới đi vắng rồi. Cháu dám cá là chốc nữa Lebedeff sẽ sang đây thôi; ông ấy đang tìm chú đấy; cháu chịu không biết ông ấy muốn gì. Lát chú ngủ dậy thì có cho ông ấy vào không? Cháu cũng phải đi chợp mắt đây. Nhắc mới nhớ, có chuyện này lạ lắm. Burdovsky đánh thức cháu lúc bảy giờ, và cháu gặp ngay ba cháu ở ngay ngoài cửa phòng, say khướt đến mức chẳng nhận ra cả con. Ông ấy đứng ngây ra trước mặt cháu như khúc gỗ, và khi tỉnh táo lại liền hối hả hỏi Hippolyte thế nào rồi. ‘Ừ,’ ông ấy nói khi cháu kể cho nghe, ‘thế thì tốt rồi, nhưng ta thực ra đến để cảnh báo con phải hết sức cẩn trọng với những gì con nói trước mặt Ferdishenko.’ Chú có hiểu ý ông ấy không, thưa hoàng tử?”
“Rồi. Thật thế ư? Dẫu sao thì với chúng ta thế nào cũng vậy cả thôi.”
“Dĩ nhiên rồi; chúng ta có phải hội kín gì đâu; và vì thế, việc viên đại tướng cất công đi đánh thức cháu dậy chỉ để nói điều này lại càng kỳ lạ hơn.”
“Ferdishenko đi rồi, cháu bảo thế phải không?”
“Vâng, anh ta đi lúc bảy giờ. Anh ta tạt qua phòng trên đường đi ra; lúc đấy cháu đang canh chừng. Anh ta bảo sẽ sang ‘nốt phần đêm còn lại’ ở nhà Wilkin; có một tay nát rượu, bạn của anh ta, tên là thế. Thôi, cháu đi đây. Ơ, chính Lebedeff đây rồi! Hoàng tử muốn nghỉ ngơi, thưa ngài Lukian Timofeyovitch, thế nên ngài có thể đi chỗ khác được rồi đấy.”
“Xin phiền hoàng tử một phút, chỉ một phút thôi. Tôi có chuyện cực kỳ nghiêm trọng cần phải bẩm báo với ngài,” Lebedeff nói với vẻ đầy bí ẩn và trang trọng, bước vào phòng kèm theo một cái cúi đầu và vẻ mặt vô cùng quan trọng. Ông ta vừa mới quay về, tay cầm chiếc mũ. Trông ông có vẻ bận tâm và ra dáng ta đây hơn bao giờ hết.
Vị hoàng tử mời ông ta ngồi ghế.
“Tôi nghe nói ông đã sang đây hai bận; chắc ông vẫn còn lo lắng về vụ hôm qua chứ gì.”
“Hả, ý ngài là vụ cậu thanh niên ấy á? Ồ không đâu, hôm qua đầu óc tôi hơi... à... lẫn lộn một chút. Hôm nay, tôi xin đảm bảo với ngài, tôi sẽ không mảy may phản đối bất kỳ đề xuất nào mà ngài muốn đưa ra.”
“Sáng nay ông bị làm sao thế, hả Lebedeff? Trông ông quan trọng và ra dáng quá, lại còn chọn từ ngữ cẩn thận thế nữa chứ,” vị hoàng tử mỉm cười hỏi.
“Nicolai Ardalionovitch!” Lebedeff quay sang nói với cậu thiếu niên bằng giọng điệu hết sức nhã nhặn. “Vì tôi có một việc cần thưa riêng với hoàng tử, việc này chỉ liên quan đến cá nhân tôi thôi...”
“Đương nhiên, đương nhiên, không phải chuyện của cháu. Thôi được rồi,” Colia nói rồi chuồn thẳng.
“Tôi rất mến cậu bé này vì sự sắc sảo của nó,” Lebedeff nói theo, ngoái nhìn theo bóng cậu ta. “Thưa hoàng tử kính mến,” ông ta tiếp tục, “tôi vừa gặp một tai họa khủng khiếp, hoặc là tối qua hoặc là sáng sớm nay. Tôi không thể xác định chính xác thời gian.”
“Chuyện gì thế?”
“Tôi mất bốn trăm rúp ở túi áo bên! Mất sạch rồi!” Lebedeff nói với một nụ cười méo mó.
“Ông mất bốn trăm rúp ư? Ồ! Tôi tiếc quá.”
“Vâng, đó là một tổn thất nghiêm trọng đối với một kẻ nghèo khó sống bằng nghề lao động.”
“Đương nhiên, đương nhiên rồi! Thế cơ sự thế nào?”
“À, tại hơi men cả thôi, dĩ nhiên rồi. Tôi thú thật với ngài, thưa hoàng tử, chẳng khác nào thú trước Đấng Quan Phòng. Khoảng năm giờ chiều hôm qua, tôi nhận được bốn trăm rúp từ một con nợ và bắt tàu xuống đây. Tôi cầm theo cái ví trong túi. Khi thay quần áo, tôi nhét số tiền đó vào túi bộ thường phục, tính để thủ sẵn bên người vì nghĩ tối sẽ có khách đến vay tiền.”
“Thế ra đúng là ông có đăng quảng cáo cho vay tiền lấy thế chấp đồ vàng bạc thật à, hả Lebedeff?”
“Vâng, thông qua một tay môi giới. Tên tôi không hề xuất hiện. Ngài thấy đấy, nhà tôi đông con, và với mức lãi suất thấp...”
“Phải, phải. Tôi chỉ hỏi để biết thôi — xin lỗi vì đã hỏi câu này. Ông nói tiếp đi.”
“Vâng, trong lúc đó thì cậu thanh niên đau ốm kia được đưa đến đây, rồi khách khứa kéo đến, rồi chúng tôi uống trà, và — chà — chúng tôi vui quá đà — để rồi chuốc lấy họa vào thân! Sau đó nghe tin sinh nhật ngài, lại thêm phần phấn khích vì không khí buổi tối hôm đó, tôi chạy ào lên lầu, cởi thường phục ra để mặc lại bộ quân phục [Các viên chức phục vụ dân sự ở Nga phải mặc quân phục] — chắc ngài để ý là tôi mặc quân phục suốt buổi tối chứ? Khổ nỗi tôi lại quên mất xấp tiền vẫn còn nằm trong túi chiếc áo cũ — ngài biết đấy, khi Chúa muốn hủy diệt ai thì trước hết Ngài tước đi trí khôn của kẻ đó — và mãi cho đến tận bảy rưỡi sáng nay khi tỉnh dậy, việc đầu tiên tôi làm là thò tay vào túi áo. Túi áo trống rỗng — cái ví đã biến mất, không còn lấy một dấu vết!”
“Trời đất! Thật là phiền toái quá!”
“Phiền toái ư! Quả thực là thế đấy. Ngài dùng từ thật đúng chỗ quá nhỉ,” Lebedeff nói, giọng lịch sự nhưng mang đầy vẻ châm chọc.
“Nhưng biết làm sao bây giờ? Đây là một vấn đề nghiêm trọng,” vị hoàng tử trầm ngâm nói. “Ông không nghĩ là mình đã vô tình đánh rơi nó ra ngoài trong lúc say rượu đấy chứ?”
“Chắc chắn rồi. Chuyện gì cũng có thể xảy ra khi người ta say xỉn, như ngài đã ví von rất khéo, thưa hoàng tử. Nhưng ngài thử nghĩ xem — nếu tôi, dù có say hay không, đánh rơi một vật gì đó từ trong túi xuống đất, thì vật đó phải nằm lại trên mặt đất chứ. Thế vật đó đâu rồi?”
“Hay là ông cất nó vào ngăn kéo nào đó rồi chăng?”
“Tôi lục tung mọi ngóc ngách và lộn tung mọi thứ lên rồi.”
“Thú thật là chuyện này làm tôi lo lắng lắm đấy. Chắc chắn có ai đó đã nhặt được rồi.”
“Hoặc làóc túi tôi — có hai khả năng đó thôi.”
“Thật là đau đầu, bởi vì rốt cuộc là ai chứ —? Đó mới là vấn đề!”
“Đúng thế, thưa vị hoàng tử anh minh, ngài đã nói trúng phóc — đó chính là vấn đề. Ngài thật tài tình khi tóm gọn toàn bộ tình huống chỉ trong vài từ!”
“Thôi nào, thôi nào Lebedeff, đừng có châm chọc nữa! Đây là một chuyện nghiêm trọng...”
“Châm chọc!” Lebedeff kêu lên, vặn vẹo hai bàn tay. “Thôi được rồi, được rồi, tôi có giận đâu. Tôi chỉ đang phát bực vì chuyện này thôi. Ngài nghi ngờ ai?”
“Đó là một câu hỏi rất khó và rắc rối. Tôi không thể nghi ngờ cô người hầu được, vì cô ta ở tịt trong bếp suốt cả buổi tối, và tôi cũng chẳng nghi ngờ mấy đứa con tôi.”
“Tất nhiên là không rồi. Ngài nói tiếp đi.”
“Vậy thì chỉ có thể là một trong số các vị khách.”
“Chuyện đó có thể xảy ra sao?”
“Hoàn toàn không thể nào — thế nhưng sự việc rành rành ra đấy thì buộc phải thế thôi. Nhưng có một điều tôi chắc chắn, nếu đây là một vụ trộm, thì nó không được thực hiện vào buổi tối khi tất cả chúng ta còn quây quần bên nhau, mà là vào ban đêm hoặc sáng sớm; do đó, thủ phạm phải là một trong những kẻ đã ngủ lại đây. Burdovsky và Colia thì đương nhiên tôi loại ra rồi. Bọn chúng thậm chí còn chẳng bước vào phòng tôi.”
“Vâng, hoặc giả dù chúng có bước vào đi nữa! Thế những ai đã ngủ cùng ông?”
“Bốn người chúng tôi, tính cả tôi nữa, ngủ ở hai phòng. Viên đại tướng, tôi, Keller và Ferdishenko. Chắc chắn phải là một trong bốn chúng tôi. Tôi thì tự loại mình ra rồi, dù đôi khi cũng có những trường hợp ngoại lệ.”
“Ôi! Thôi ngay đi Lebedeff! Đừng có lân la dài dòng nữa.”
“Vâng, vậy là chỉ còn lại ba người — thứ nhất là Keller. Hắn ta trước hết là một tay nát rượu, lại là một kẻ theo chủ nghĩa tự do (theo cái nghĩa chuyên nhòm ngó túi tiền của người khác), nhưng mặt khác thì tính khí lại mang hơi hướng hiệp sĩ thời cổ đại nhiều hơn là một kẻ tự do thời hiện đại. Ban đầu hắn ở cùng cậu thanh niên đau ốm, nhưng sau đó sang phòng tôi vì trong phòng kia chẳng còn chỗ nào để nằm mà sàn nhà thì cứng quá.”
“Ông nghi ngờ hắn ta à?”
“Tôi đã từng nghi ngờ hắn. Khi tỉnh giấc lúc bảy rưỡi sáng và bứt tóc bứt tai vì tiếc của và sự bất cẩn của mình, tôi đã đánh thức viên đại tướng dậy, lúc đó đang ngủ say sưa như chết ở ngay gần tôi. Cân nhắc đến việc Ferdishenko bỗng nhiên biến mất một cách đầy đáng ngờ, chúng tôi quyết định lục soát Keller, lúc bấy giờ đang nằm ngủ say như chết. Quả nhiên, chúng tôi lục soát kỹ từng cái túi quần áo của hắn, và chẳng tìm thấy lấy một xu; thực ra thì túi quần nào thủng cũng có lỗ. Chúng tôi chỉ tìm thấy một chiếc khăn tay bẩn thỉu và một bức thư tình của mụ bếp nào đấy. Viên đại tướng kết luận rằng hắn vô tội. Chúng tôi đánh thức hắn dậy để hỏi cho ra ngẽo, và phải chật vật lắm mới làm cho hắn hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Hắn há hốc mồm ra nhìn — trông ngốc nghếch và ngây thơ đến tội nghiệp. Chẳng phải Keller đâu.”
“Ồ, tôi mừng quá!” vị hoàng tử vui mừng thốt lên. “Nãy tôi cứ sợ thót cả tim.”
“Sợ ư! Thế ra ngài có căn cứ nào đó để cho rằng hắn có thể là thủ phạm à?” Lebedeff cau mày hỏi.
“Ồ không — chẳng có gì đâu! Tại tôi ngốc nghếch nên mới nói là sợ đấy chứ! Xin ông đừng nhắc lại chuyện đó nhé Lebedeff, đừng nói với ai là tôi đã nói thế!”
“Thưa hoàng tử kính mến! Những lời của ngài được cất giấu ở tận sâu thẳm trái tim tôi — nó chính là nấm mồ chôn những lời ấy!” Lebedeff trịnh trọng nói, áp chặt chiếc mũ vào ngực.
“Cảm ơn; thế thì tốt. Vậy chắc là Ferdishenko; ý tôi là, ông nghi ngờ Ferdishenko chứ gì?”
“Còn ai vào đây nữa?” Lebedeff nói nhỏ, đăm đăm nhìn thẳng vào mặt hoàng tử.
“Dương nhiên — phải rồi, còn ai vào đây nữa chứ? Nhưng bằng chứng đâu?”
“Chúng tôi có tang chứng. Trước hết, sự biến mất đầy bí ẩn của hắn vào lúc bảy giờ, hoặc thậm chí sớm hơn.”
“Tôi biết, Colia có kể là hắn bảo hắn sang nhà... tôi quên béng mất tên rồi, nhà một người bạn nào đó của hắn để tàn nốt đêm.”
“Hừm! Thế ra Colia đã nói chuyện này với ngài rồi à?”
“Không phải chuyện mất trộm.”
“Thằng bé không biết chuyện đó đâu; tôi đã giữ kín như bưng. Thôi được, Ferdishenko đã tót sang nhà Wilkin. Bản thân chuyện đó thì chưa có gì là lạ, nhưng ở đây manh mối lại hé lộ sâu hơn thế. Ngài thấy đấy, lúc đi hắn lại để lại địa chỉ cơ mà. Này hoàng tử, ngài thử nghĩ xem, tại sao hắn phải cớ gì để lại địa chỉ? Ngài nghĩ sao mà hắn lại tự dưng đi vòng vo để báo cho Colia biết là hắn sang nhà Wilkin? Có ai thèm quan tâm xem hắn sang nhà Wilkin làm quá gì không? Không, không! Thưa hoàng tử, đây là đòn hiểm đấy, đòn hiểm của bọn trộm cắp! Điều này chẳng khác nào nói rằng: ‘Này nhé, tao mà là kẻ trộm thì sao lại để lại địa chỉ cơ chứ? Tao có giấu giếm hành tung như kẻ trộm đâu.’ Ngài hiểu ý chứ, thưa hoàng tử?”
“Ồ có, nhưng thế thì vẫn chưa đủ bằng chứng.”
“Manh mối thứ hai. Hóa ra đó là một cái bẫy hỏa mù, và địa chỉ hắn cho là giả. Một tiếng sau — tức là khoảng tám giờ, chính tôi đã lặn lội đến nhà Wilkin, và chẳng thấy bóng dáng Ferdishenko đâu cả. Quả thực cô người hầu có bảo với tôi rằng cách đó chừng một tiếng có kẻ nào đó đập cửa rầm rầm và làm hỏng cả chuông cửa; cô ta bảo không thèm mở cửa vì sợ đánh thức ông chủ dậy; mà có khi vì lười không muốn dậy ấy chứ! Những hiện tượng kiểu đó thỉnh thoảng vẫn xảy ra cơ mà!”
“Nhưng thế thì đã là toàn bộ bằng chứng của ông đâu? Vẫn chưa đủ đô!”
“Thưa hoàng tử, vậy chúng ta phải nghi ngờ ai bây giờ? Ngài thử nghĩ xem nào!” Lebedeff nở nụ cười nhã nhặn gần như khúm núm với hoàng tử. Tuy nhiên, trong đôi mắt ông ta lóe lên một vẻ gian xảo.
“Ông nên lục soát lại phòng mình và tất cả các tủ một lần nữa xem sao,” vị hoàng tử trầm ngâm giây lát rồi nói.
“Nhưng tôi lục nát cả ra rồi, thưa hoàng tử kính yêu!” Lebedeff đáp, giọng ngọt xớt.
“Hừm! Xừ lại đi đổi áo làm cái quái gì không biết nữa cơ chứ?” vị hoàng tử bực tức đấm thình thịch xuống bàn.
“Ôi, xin ngài đừng vì tôi mà phải bận tâm lo lắng thế! Tôi xin đảm bảo là tôi không đáng để ngài phải thế đâu! Ít nhất thì không chỉ riêng mình tôi. Nhưng tôi thấy ngài cũng đang phải đau đầu thay cho cả tên tội phạm nữa đấy, thực ra là đang đau khổ vì gã Ferdishenko khốn nạn ấy chứ!”
“Dĩ nhiên là ông vừa ném cho tôi một cục tức để mà suy nghĩ rồi,” vị hoàng tử bực bội nói, “nhưng rốt cuộc ông định làm gì, khi mà đã chắc mẩm đó là Ferdishenko?”
“Nhưng ngoài hắn ra thì còn có thể là ai được nữa, thưa hoàng tử kính yêu của tôi?” Lebedeff lại ngọt ngào như mía lùi lặp lại. “Trừ phi ngài không muốn tôi nghi ngờ ngài Burdovsky nhỉ?”
“Đương nhiên là không rồi.”
“Hay là nghi ngờ viên đại tướng đây? Ha, ha, ha!”
“Vớ vẩn!” vị hoàng tử bực giận quay phắt lại quát lên.
“Phải đấy, vớ vẩn thật! Ha, ha, ha! Ôi chao! Tên đại tướng đó làm tôi được một trận cười bể bụng! Ngài biết đấy, chúng tôi đã cùng nhau hớt hải bám theo manh mối đến tận nhà Wilkin; nhưng trước hết tôi phải nói rằng viên đại tướng sáng nay còn chết trân hơn cả tôi khi tôi đánh thức ông ấy dậy sau vụ mất trộm; ông ấy ngạc nhiên đến mức sắc mặt thay đổi hẳn — lúc thì đỏ lựng, lúc thì tái mét, rồi cuối cùng nổi cơn thịnh nộ cao cả đến mức tôi xin thưa là tôi phải giật mình ngạc nhiên đấy! Ông ấy là một con người vô cùng rộng lượng! Tôi biết ông ấy dối trá hàng vạn câu, nhưng đó chỉ là một điểm yếu; sâu thẳm ông ấy là một con người có tình cảm cao cả; lại thật thà chất phác, và mang trong mình vẻ ngoài của sự vô tội rõ mồn một. Tôi yêu con người đó, thưa ngài; có lẽ tôi đã từng thưa với ngài rồi; đó là một tật xấu của tôi đấy. Ấy thế mà — giữa đường ông ấy bỗng khựng lại, vạch áo phanh ngực ra. ‘Cứ lục soát tôi đi,’ ông ấy bảo, ‘anh đã lục soát Keller rồi; sao không lục soát cả tôi nữa? Thế mới là công bằng chứ!’ ông ấy nói thế đấy. Thế mà chân tay ông ấy run lẩy bẩy vì tức giận, mặt cắt không còn một giọt máu! Thế là tôi mới bảo ông ấy rằng: ‘Thôi đi ngài đại tướng ạ; nếu là bất kỳ ai khác ngoài ngài nói câu đó với tôi, thì cái đầu của tôi — chính cái đầu này này — tôi đã chặt đem bày lên mâm bạc đi diễu quanh cho kẻ nào dám nghi ngờ ngài xem rồi; và tôi sẽ tuyên bố rằng: “Này, thấy cái đầu đó chưa? Đầu của tôi đấy, và tôi xin lấy cái đầu này ra để bảo lãnh cho ngài ta! Vâng, và sẵn sàng lao vào biển lửa vì ngài ta nữa đấy.” Đó,’ tôi nói thế đấy, ‘tôi mà bênh vực ngài đại tướng là tôi bênh thế đấy!’ Thế là ngay giữa phố ông ấy ôm chầm lấy tôi, siết chặt đến mức tôi ho sặc sụa (vừa ôm vừa khóc tu tu)! ‘Anh là người bạn duy nhất còn lại của tôi giữa chốn hoạn nạn này,’ ông ấy bảo. Ồ, con người đó sống tình cảm lắm cơ! Ông ấy còn kể cho tôi nghe câu chuyện hồi trẻ từng bị buộc tội hoặc bị nghi ngờ ăn trộm năm trăm nghìn rúp; và thế nào mà ngay ngày hôm sau, ông ấy lao vào một tòa nhà đang bốc cháy phừng phừng để cứu chính vị bá tước đã nghi ngờ ông, và cả Nina Alexandrovna (lúc bấy giờ hãy còn là một thiếu nữ), thoát khỏi cái chết trong biển lửa. Vị bá tước đã ôm chầm lấy ông, và đó là cơ duyên để ông cưới được Nina Alexandrovna, ông kể thế đấy. Còn số tiền ấy à, hóa ra ngày hôm sau người ta tìm thấy nó nằm trong đống tro tàn ở một cái hộp sắt kiểu Anh có ổ khóa mật mã; chẳng biết xó xỉnh nào dưới sàn nhà mà nó lọt vào đó được, và nếu không có trận hỏa hoạn thì đời nào người ta tìm thấy! Dĩ nhiên toàn bộ câu chuyện đó là bị đặt 100%, thế nhưng lúc nhắc đến Nina Alexandrovna thì ông ấy lại sụt sùi khóc! Nina Alexandrovna đúng là một người phụ nữ vĩ đại, dẫu bà ấy rất giận tôi!”
“Ông quen biết bà ấy à?”
“À, hầu như không. Tôi rất ước gì mình được quen, dẫu chỉ để minh oan trong mắt bà ấy. Nina Alexandrovna đang mang cục tức với tôi vì bà ấy tưởng tôi xúi giục chồng mình uống rượu; trong khi thực tế không những tôi không xúi giục mà còn tìm cách kéo ông ấy ra khỏi những chốn hiểm nguy và những kẻ bạn xấu. Hơn nữa, ngài ấy là bạn tôi, thưa hoàng tử, thế nên tôi sẽ không bao giờ buông xuôi để mất dấu ông ấy nữa. Ông ấy đi đâu, tôi theo đó. Ông ấy đã bỏ hẳn thói quen đến nhà góa phụ của viên đại úy rồi, dẫu đôi khi ông ấy vẫn chạnh lòng nhớ về mụ ta, nhất là vào buổi sáng lúc đang xỏ giày. Chẳng hiểu sao cứ lúc đó là ông ấy lại thế. Nhưng ông ấy chẳng có một xu dính túi, nên có đến đó cũng vô ích. Ông ta có vay tiền của ngài không, thưa hoàng tử?”
“Không, không có.”
“Ạ, ngài ấy ngượng đấy! Tôi biết là ông ấy định mở lời xin đấy, vì ông ấy có nói thế mà. Chắc ông ấy nghĩ trước đây ngài từng cho rồi (ngài còn nhớ chứ), nên nếu xin nữa chắc ngài sẽ từ chối.”
“Ông có bao giờ cho ông ấy tiền không?”
“Hoàng tử! Tiền bạc ư! Chẳng những tiền mà tôi còn sẵn sàng hiến cả mạng sống của mình cho con người ấy nếu ông ấy cần. À mà nói thế có lẽ hơi quá; mạng sống thì thôi, nhưng ví dụ bị ốm đau gì đó, như mọc nhọt hay ho suyễn, hoặc bất cứ bệnh gì tương tự, tôi sẵn sàng chịu thay với cả tấm lòng; vì tôi coi ông ấy là một bậc vĩ nhân sa cơ lỡ bước — tiền nong thì thá gì!”
“Hừm, thế ra ông vẫn cho ông ấy tiền đấy chứ?”
“K-không, tôi chưa bao giờ cho ông ấy tiền cả, và ông ấy thừa biết là tôi sẽ không bao giờ cho xu nào; vì tôi muốn ngăn ông ấy sa đà vào thói nát rượu. Giờ ông ấy sắp sửa lên tỉnh cùng tôi; ngài phải biết là tôi đang lùng Ferdishenko về tận St. Petersburg khi vết tích hãy còn nóng hổi; tôi chắc mẩm hắn đang ở trỏng. Tôi sẽ để viên đại tướng đi một ngả, còn tôi đi ngả khác; chúng tôi đã bàn kế hoạch tóm cổ Ferdishenko từ nhiều phía ngài ạ. Nhưng trước hết tôi phải bám theo gã đại tướng hư hỏng kia để bắt quả tang cho bằng được, ngài biết ở đâu không, tại nhà một ả góa phụ nào đó; tôi nghĩ cho hắn ta bị bắt quả tang ở nhà mụ góa phụ đó sẽ là một bài học thích đáng để rửa mặt cho hắn!”
“Ôi, Lebedeff, đừng, đừng làm ầm ĩ chuyện này lên!” vị hoàng tử vô cùng bấn loạn, cất giọng trầm thấp nói.
“Không đời nào, không đời nào! Tôi chỉ muốn làm cho ông ấy phải xấu hổ thôi mà. Ôi hoàng tử, tai họa này dẫu có lớn đến đâu với cá nhân tôi, thì tôi vẫn không thể không nghĩ đến đạo đức của ông ấy! Tôi có một việc rất hệ trọng muốn nhờ ngài, thưa vị hoàng tử đáng kính; thú thật đó mới là mục đích chính trong chuyến viếng thăm này của tôi. Ngài quen biết gia đình nhà Ivolgin, thậm chí từng sống ở nhà họ; thế nên nếu ngài chịu ra tay giúp đỡ tôi, vì lợi ích chính đáng và tương lai của viên đại tướng...”
Lebedeff chắp hai tay khẩn khoản.
“Ông muốn tôi giúp gì nào? Cứ yên tâm là tôi rất muốn thấu hiểu ông đấy, Lebedeff ạ.”
“Tôi biết thừa ngài sẽ nói thế nên mới dám cất công đến đây. Chúng ta có thể dàn xếp với sự giúp đỡ của Nina Alexandrovna, để ông ấy được kèm cặp sát sao ngay tại nhà riêng. Đáng tiếc là quan hệ giữa tôi với bà ấy không được... bằng không thì... nhưng ngài Nicolai Ardalionovitch, kẻ đang tôn sùng ngài bằng cả tâm hồn trẻ trung của cậu ta, cũng có thể giúp một tay.”
“Không, không! Xin Chúa đừng lôi Nina Alexandrovna vào mớ rắc rối này! Cả Colia cũng thế. Hay là tôi vẫn chưa hiểu đúng ý ông nhỉ, Lebedeff?”
Lebedeff có cử động tỏ vẻ sốt ruột.
“Có gì đâu mà không hiểu! Sự cảm thông và dịu dàng, chỉ thế thôi — đó là tất cả những gì gã bệnh nhân đáng thương của chúng ta cần! Ngài cho phép tôi được gọi ông ấy là bệnh nhân chứ?”
“Vâng, cách gọi đó cho thấy sự tế nhị và thông minh của ông đấy.”
“Tôi xin lấy một ví dụ thực tế để giải thích rõ hơn ý mình. Ngài biết tính cách con người ông ấy rồi đấy. Hiện tại nhược điểm duy nhất của ông ấy là mê mẩn mụ góa phụ của viên đại úy kia đến phát cuồng, mà không có tiền thì chẳng dám mò đến nhà mụ ta, và hôm nay tôi chực sẵn để tóm cổ ông ấy tại nhà mụ — vì lợi ích của chính ông ấy thôi; nhưng giả sử không chỉ có mỗi chuyện mụ góa phụ, mà ông ấy lỡ phạm phải một tội ác tày trời nào đó, hoặc ít ra là một hành vi mờ ám vô lương tâm nào đó (điều mà ngài biết chắc ông ấy không tài nào làm nổi), tôi xin nhắc lại rằng ngay cả trong trường hợp đó, nếu đối xử với ông ấy bằng thứ gọi là sự dịu dàng cao thượng, người ta hoàn toàn có thể moi ra toàn bộ sự thật, bởi vì ông ấy sống cực kỳ tình cảm! Tin tôi đi, chưa qua năm ngày là ông ấy sẽ tự thú nhận tất cả; ông ấy sẽ òa khóc và khai sạch sành sanh; nhất là khi mọi việc được xử lý khéo léo, và khi ngài cùng gia đình giám sát chặt chẽ từng đường đi nước bước của ông ấy. Ôi, thưa hoàng tử kính mến,” Lebedeff nhấn mạnh thêm, “tôi không hề khẳng định chắc nịch là ông ấy đã làm... tôi sẵn sàng, như người ta vẫn nói, đổ giọt máu cuối cùng vì ông ấy ngay lúc này; nhưng ngài thừa nhận đấy, thói trác táng, say xỉn, rồi cả mụ góa phụ của viên đại úy nữa, tất cả những thứ đó quây vào có thể kéo ông ấy lún sâu đến mức nào chứ.”
“Dĩ nhiên là tôi sẵn sàng góp sức cùng ông trong trường hợp đó,” vị hoàng tử đứng lên nói; “nhưng thú thật, Lebedeff ạ, tôi vô cùng bối rối. Nói cho tôi nghe xem, có phải ông vẫn đinh ninh rằng... nói thẳng ra, chính ông cũng tự nhận là nghi ngờ ngài Ferdishenko đấy thôi?”
Lebedeff lại chắp hai tay vào nhau.
“Chứ còn ai vào đây nữa mà tôi có thể nghi ngờ chứ? Còn ai nữa hả vị hoàng tử bộc trực nhất?” ông ta đáp với một nụ cười nhã nhặn.
Muishkin cau mày, đứng phắt dậy khỏi ghế.
“Ngài thấy đấy, Lebedeff ạ, nếu phán đoán nhầm lẫn trong chuyện này sẽ là một thảm họa khủng khiếp. Gã Ferdishenko này, tôi không muốn nói điều gì tai ác về hắn đâu; nhưng, ai mà biết được? Biết đâu thực sự hắn lại là... đáng nghi hơn bất kỳ ai khác ấy chứ.”
Lebedeff trố mắt dỏng tai thu nhận từng lời vị hoàng tử đang nói. Hàng mày vị hoàng tử càng lúc càng nhíu chặt, anh bồn chồn đi qua đi lại để tránh nhìn vào mặt Lebedeff.
“Ngài thấy đấy,” anh nói, “tôi được cho biết rằng Ferdishenko là cái kiểu người mà... người ta không dám nói mọi thứ trước mặt hắn. Ngài hiểu ý chứ, phải cẩn thận kẻo nói hớ mất! Tôi nói thế để chứng minh rằng thực sự hắn ta, có thể nói như vậy, là kẻ có khả năng làm chuyện này hơn bất kỳ ai khác, phải thế không? Ngài hiểu chứ? Điều quan trọng nhất là không được để xảy ra nhầm lẫn.”
“Và ai đã nói với ngài điều này về Ferdishenko cơ chứ?”
“À, người ta bảo tôi thế. Dĩ nhiên là tôi không hoàn toàn tin sái cổ. Tôi rất tiếc vì đã phải thốt ra điều này, bởi vì xin đảm bảo là chính tôi cũng chẳng tin; toàn chuyện nhảm nhí cả thôi. Thật ngốc nghếch khi tôi lại đi lỡ lời nói ra điều đó.”
“Ngài thấy chưa, việc biết rõ ngài nghe ngóng được lời đồn này từ đâu là cực kỳ, cực kỳ quan trọng đấy,” Lebedeff hào hứng nói. Ông ta đã đứng dậy khỏi ghế, cố sải bước theo nhịp đi của hoàng tử, chạy theo anh qua lại khắp phòng. “Bởi vì thế này nhé thưa hoàng tử, tôi cũng chẳng giấu gì ngài nữa, lúc sáng nay trên đường kéo nhau sang nhà Wilkin, sau khi nghe ngài kể mấy chuyện về vụ hỏa hoạn, rồi cứu bá tước các thứ, viên đại tướng đã buông ra vài bóng gió y hệt như thế về Ferdishenko, nhưng ngài ấy nói mơ hồ và vụng về đến mức tôi nghĩ tốt nhất nên gặng hỏi vài câu cho ra nhẽ, và kết quả là tôi phát hiện ra toàn bộ câu chuyện đó chỉ là sản phẩm tự bịa ra trong đầu của ngài đại tướng. Dĩ nhiên ngài ấy cóa nói dối thì cũng chỉ với dụng ý tốt đẹp; nhưng dẫu sao thì vẫn là nói dối. Thế mà, ngứa mồm thế nào ngài lại cũng nghe được đúng cái tin đồn hệt như thế ở đâu? Chuyện đó nảy ra trong đầu ngài ấy lúc ngẫu hứng thôi, thế thì ai đã kể cho ngài nghe cơ chứ? Đó mới là một câu hỏi quan trọng đấy ngài ạ!”
“Là Colia kể cho tôi, và bố cậu ấy đã kể cho Colia nghe lúc khoảng sáu giờ sáng nay. Hai bố con chạm mặt nhau ngay trước ngưỡng cửa lúc Colia chuẩn bị ra ngoài có việc gì đó.” Vị hoàng tử thuật lại chi tiết cho Lebedeff nghe tất cả những gì Colia đã thổ lộ với mình.
“Ấy đấy, thế mới gọi là đánh hơi thấy mùi chứ!” Lebedeff vừa xoa tay vừa cười thầm. “Tôi đoán ngay mà, ngài thấy chưa. Viên đại tướng nỡ cắt đứt giấc ngủ ngây thơ của con trai hồi sáu giờ sáng, chỉ cốt để đánh thức đứa con trai yêu quý dậy và cảnh báo nó về hiểm họa khủng khiếp khi dây dưa với Ferdishenko. Trời đất ơi! Gã Ferdishenko đó chắc phải là một tên nguy hiểm gớm ghiếc lắm nhỉ, và lòng quan tâm săn sóc của người cha từ ngài đại tướng mới cảm động làm sao, ha! ha! ha!”
“Nghe này, Lebedeff,” vị hoàng tử hoàn toàn bị choáng ngợp, cất giọng nói; “hãy hành động kín đáo vào — đừng làm ầm ĩ lên nhé Lebedeff, tôi xin ông — tôi cầu xin ông đấy! Không ai được phép biết — không một ai hết, rõ chưa! Chỉ có điều kiện đó thì tôi mới giúp ông thôi.”
“Xin ngài cứ đinh ninh, thưa vị hoàng tử khả kính, đáng kính trọng nhất — xin thưa toàn bộ sự việc này sẽ được chôn vùi mãi mãi trong đáy tim tôi!” Lebedeff cất giọng phấn khích tột độ kêu lên. “Tôi sẵn sàng dâng hiến từng giọt máu... Thưa hoàng tử lừng danh, tôi dẫu là một kẻ khốn khổ cả về thể xác lẫn tâm hồn, nhưng ngài cứ đi hỏi gã tội phạm đồi bại nhất xem hắn muốn giao du với một kẻ giuộc giạ với hắn hay với một người cao thượng như ngài, và chắc chắn hắn chẳng mảy ngần ngại khi đưa ra lựa chọn! Hắn sẽ đáp rằng hắn thích người cao thượng hơn — và đó chính là sự khải hoàn của đức hạnh! Au revoir, thưa ngài hoàng tử kính yêu! Ngài và tôi cùng nhau — nhẹ nhàng thôi! Nhẹ nhàng thôi!”