Vài ngày sau, gia đình Carvel đã dọn về thủ đô mùa hè tại một trong số nhiều ngôi nhà rộng lớn trên bến Buyukdere, vốn thường được cho bất cứ ai thuê mỗ. Những dinh thự này phần lớn thuộc sở hữu của người Armenia và Hy Lạp – những người từng chịu tổn thất nặng nề trong chiến tranh, nay gia sản suy vi không còn cho phép họ sinh sống theo lối vương giả ngày trước. Đó đa phần là những tòa nhà bằng gỗ đồ sộ, có sảnh lớn ở mỗi tầng, mở ra các phòng nhỏ ở hai bên; những khung cửa sổ lớn phía trước hướng nhìn ra eo biển Bosphorus, trong khi ban công phía sau nối liền với khu vườn bằng những bậc thềm gỗ. Trong một căn nhà như thế, không xa đại sứ quán Nga là mấy, nhà Carvel đã an cư lạc nghiệp, và John tỏ ra vô cùng hài lòng với sự lựa chọn cũng như mối hời của mình. Trong thời gian lưu lại Pera, gia đình đã xoay sở thu gom được không ít thảm phương Đông cùng nhiều vật dụng khác, có món đẹp mắt, có món hoàn toàn vô giá trị tự thân, nhưng lại rất hữu ích để khỏa lấp những căn phòng rộng thênh thang của ngôi nhà. Chrysophrasia dường như thấy phương Đông rất hợp với hệ thần kinh của mình, và quả thực mặn mà với bầu không khí Constantinople hơn là ở Brompton hay Carvel Place. Thật kỳ lạ, bà lại chính là người trong gia đình thấu hiểu rõ nhất về người Thổ và cung cách của họ. Khi tiếp xúc với một dân tộc hãy còn mang nét bán khai, bà bộc lộ một sự minh mẫn cùng trí thông minh sắc bén mà chưa từng có ai ngờ tới ở bà.
Về phần tôi, tôi đã lên Buyukdere một hôm, và ngay tại đó đã thay đổi ý định về việc rời đi. Những khóm hoa hồng đang độ nở rộ, cảnh vật toát lên vẻ quyến rũ lạ thường khiến tôi không sao cưỡng lại được cám dỗ muốn dành trọn mùa hè nơi đây. Vài năm trước, hễ nghĩ đến chuyện đi đây đi đó là tôi lên đường không chút do dự, đi đến tận cùng góc bể chân trời. Có lẽ tôi đang già đi, bởi tôi bắt đầu đâm ra ngán ngẩm cái cảnh chuyển dịch không ngừng nghỉ. Chiếc ki-ốt nhỏ trên đồi, nằm ở đỉnh của một khu vườn xinh xắn, cũng vô cùng cám dỗ, và sau vài giờ cân nhắc, tôi đã thuê nó trọn mùa, với cái kiểu coi nhẹ hậu quả vốn là bài học vỡ lòng khi sống ở phương Đông. Đồ đạc trong nhà chẳng có gì ngoài một chiếc giường sắt và một chiếc đi-văng cũ. Không một chiếc ghế, chẳng một mảnh chiếu; thậm chí đến cái vò đất trong bếp hay cái bàn gỗ mộc trong phòng khách cũng không có. Nhưng ở Thổ Nhĩ Kỳ, những tiện nghi ấy chỉ là thứ yếu. Các căn phòng vừa được quét vôi trắng tinh, sàn gỗ cọ rửa sạch sẽ, và khung cảnh nhìn từ cửa sổ là một trong những kỳ quan tuyệt trọn nhất thế giới. Một ngày lượn lờ ở chợ vòm đã giải quyết phần còn lại. Tôi tậu được một tay đầu bếp người Dalmatia kỳ quặc, nhăn nheo, và với sự giúp đỡ từ người đầy tớ, tôi đã an tọa trong căn nhà nhỏ chỉ bốn mươi tám tiếng sau khi hạ quyết tâm.
Nhịp sống bên bờ Bosphorus hoàn toàn khác biệt so với ở Pera. Ai nấy hoặc nuôi ngựa hoặc tậu thuyền buồm, thậm chí khối người chơi cả hai; bởi rừng Belgrade kéo dài tới tận hai mươi lăm dặm sâu trong đất liền từ Buyukdere và Therapia, còn eo biển Bosphorus rộng lớn trải trước mặt, mở rộng thành một vịnh sâu giữa hai nơi. Ngọn gió bắc trong lành thổi lồng lộng từ Biển Đen suốt cả ngày, và thường là cả suốt đêm; bầu không khí ấy chứa đựng một sức sống bừng bừng, hồi sinh con người ta sau chuỗi ngày hội hè rộn rã kéo dài ở Pera, khiến ta cảm thấy mọi thứ và bất cứ điều gì đều khả thi ở một nơi như thế.
Tháng Năm mang đến cho khu rừng một diện mạo khác hẳn đêm tháng Ba buốt giá khi Gregorios và tôi lái xe đến nhà Laleli. Khu maidám — khoảng sân cỏ rộng thênh thang ngay cửa thung lũng trước khi vào rừng — xanh mướt, tươi tắn và bằng phẳng. Cây cối rợp bóng lá, và người Digan đã bắt đầu dựng lều sinh sống cho suốt mùa. Những con đường mòn trong rừng không tấp nập người cưỡi ngựa như vào tháng Bảy và tháng Tám, tiệc khiêu vũ mùa hè chưa bắt đầu, cũng chẳng có tiệc tùng ngoài vườn hay bất kỳ hình thức vui chơi nào khác. Khắp nơi bao trùm một sự bình yên — sự bình yên của tiết trời mùa xuân dịu ngọt trước khi người ta kịp sợ cái nắng gay gắt và khắc khoải chờ mong những trận mưa, khi đóa hoa nghệ tây thò chiếc đầu mông manh rụt rè nhô qua thảm cỏ, còn những đóa cúc bạo dạnh vui mừng nhảy múa hàng triệu bông trong làn gió nhẹ như thể chúng thừa biết rằng số lượng áp đảo sẽ che chở cho chúng khỏi bị bứt rứt, tết thành bó, hay chịu những cực hình dã man khác số phận dành cho những loài hoa hiếm hơn.
Thế là chúng tôi cưỡi ngựa trong rừng, giương buồm trên eo biển Bosphorus, tận hưởng sự tự do của lối sống ấy cùng sự sảng khoái của làn gió mát rượi, và bề ngoài thì mọi chuyện diễn ra vô cùng tốt đẹp đối với tất cả mọi người. Nhưng chẳng mấy chốc tôi nhận ra rằng vấn đề làm bận tâm ít nhiều toàn bộ nhóm người vẫn giậm chân tại chỗ chứ chẳng tiến gần đến hồi kết là mấy. Paul vẫn đến rồi đi, gương mặt anh không hề gợn chút cảm xúc khi gặp hay từ biệt Hermione. Thỉnh thoảng họ cũng ở riêng với nhau, nhưng không nhiều, và tôi có cảm giác họ chẳng tha thiết gì cho lắm trong việc tạo ra những buổi gặp gỡ như thế. Quả thực, một nhà quan sát tinh tế có lẽ đã nhận ra Hermione có phần lạnh nhạt hơn đôi chút trong mối quan hệ với Alexander, nhưng bản thân anh ta thì chẳng hề lơi lỏng sự quan tâm, vẫn cứ chu đáo với cô như thủa nào. Anh lẽo đẽo theo sau cô, luôn cố cưỡi ngựa sát bên cô trong rừng, và ngồi cạnh cô trên thuyền; thế nhưng tuyệt nhiên không có hoàn cảnh nào khiến tôi nhìn thấy sắc diện hay biểu cảm của Paul thay đổi. Anh không hề tỏ vẻ khinh miệt và yếm thế như trước, thái độ đối với người anh trai cũng không hề mang chút thù địch nào. Anh chỉ ra dáng rất điềm tĩnh và vô cùng tự tin vào bản thân — theo tôi là quá tự tin ấy chứ. Nhưng anh đã hạ quyết tâm chiến thắng, và dự định thực hiện điều đó theo cách của riêng mình, đồng thời tỏ ra dửng dưng trước thực tế rằng trong khi nhiệm vụ đôi khi giữ chân anh ở đại sứ quán suốt cả ngày, thì Alexander lại chẳng có việc gì làm ngoài việc trò chuyện với Hermione từ sáng đến tối. Tôi thầm nghĩ anh đang chơi trò chiến thuật chờ đợi, nhưng lại e rằng anh sẽ đợi quá lâu và cuối cùng phải nhận phần thua cuộc. Thật vậy, tôi thừa biết đằng sau vẻ bề ngoài bình thản ấy, toàn bộ tâm can anh đang căng như dây đàn ở mức độ kích động tột cùng; nhưng nếu cứ khăng khăng duy trì sự tự chủ hoàn hảo đến thế, anh sẽ đối mặt với rủi ro bị nhìn nhận là kẻ quá đỗi lạnh lùng, dẫu anh có vẻ là như vậy. Tôi đã được thỉnh cầu đưa ra ý kiến về vấn đề này khi chúng tôi chưa ở Buyukdere được bao nhiêu ngày, và tôi thấy thật khó xử khi phải cắt nghĩa điều mình muốn nói.
John Carvel và Hermione, Alexander và tôi cùng cưỡi ngựa trong rừng vào một buổi chiều. Hôm nay Paul bận việc nên không thể đến. Mọi chuyện diễn ra thật tự nhiên khi cô thiếu nữ và người anh họ sóng đôi bên nhau, để mặc hai người trung niên chúng tôi trò chuyện. Hermione cưỡi một con tuấn mã Ả Rập tuyệt đẹp, sắc lông gần như đen tuyền, do cha cô mua cho ở Pera; còn Alexander cưỡi một con ngựa trắng lực lưỡng mà anh đã thuê trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại trước khi buộc phải trở về St. Petersburg. Trông họ thật đẹp đôi khi sóng bước phía trước, và John dõi theo họ với vẻ hứng thú, dù chưa hẳn hoàn toàn mãn nguyện.
"Griggs," cuối cùng ông cất lời, "thật kỳ lạ làm sao. Tôi hoàn toàn chẳng hiểu đầu đuôi thế nào nữa. Cậu có nhớ cuộc trò chuyện của chúng ta ở Pera vào đêm đầu tiên sau khi đến nơi không? Tôi cứ đinh ninh là Hermy muốn kết hôn với Paul. Nhưng con bé lại có vẻ hòa hợp một cách đáng kinh ngạc với anh trai cậu ta; cậu có nghĩ vậy không?"
"Điều đó rất tự nhiên," tôi đáp. "Họ là anh em họ. Cớ sao lại không thích nhau cơ chứ? Alexander là một anh chàng vô cùng duyên dáng, và khiến thời gian trôi qua thật dễ chịu mỗi khi vắng bóng Paul."
"Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất," John Carvel nói, "là Paul dường như chẳng mảy may bận tâm. Hơn nữa, nó chưa từng đả động gì đến chuyện đó với tôi. Tôi bắt đầu nghĩ rằng nó sẽ chẳng bao giờ nói tới đâu. Thôi nào, chẳng có lý do gì để Hermy phải lấy chồng ngay lúc này cả, và dẫu Paul là một chàng trai rất tốt thì cậu ta cũng chẳng phải mối lương duyên môn đăng hộ đối gì cho cam."
"Một chàng trai rất tốt," tôi hùa theo. "Tôi đoán cậu ta còn tốt chán so với người anh trai — dẫu Alexander sở hữu thứ mà phụ nữ gọi là sức hút. Nhưng Paul sẽ không đổi ý đâu; anh không cần phải lo lắng về điều đó."
"Tôi sẽ lấy làm tiếc nếu Hermy thay đổi," Carvel nghiêm nghị nói. "Tôi không muốn con gái mình bắt đầu cuộc đời bằng cách phụ bạc một người đàn ông lương thiện chỉ vì một thứ đồ chơi hào nhoáng như Alexander."
Rõ như ban ngày là John Carvel đã có một chính kiến vững chắc về vụ này, và phán đoán của ông không hề nghiêng về phía Alexander. Mặt khác, ông không khỏi kinh ngạc trước sự im lặng của Paul. Tất nhiên tôi vẫn cố bênh vực Paul hết sức có thể, nhưng khi chúng tôi thong thả cưỡi ngựa tiến lên, vừa đi vừa thảo luận sự việc, tôi có thể nhận thấy John không thực sự hài lòng.
Alexander và Hermione đã vượt qua một khúc cua trên đường trước mặt chúng tôi và khuất tầm mắt được một lúc lâu, bởi khi chúng tôi nhìn thấy họ lần cuối, họ đã ở cách xa gần nửa dặm. Họ cưỡi ngựa song song, và Alexander có vẻ có vô số chuyện để giãi bày, vì anh ta cứ huyên thuyên mãi bằng thứ giọng ngọt ngào, điềm đạm của mình, còn Hermione thì lắng nghe. Họ đi đến một ngã ba đường rẽ trái và phải. Cả hai đều không mấy rành đường trong rừng, thế là chẳng mòn mỏi dừng lại suy tính, họ cứ thế đi theo lối đi trông thẳng và rộng hơn trong hai con đường, nhưng thực chất nó lại dẫn vòng vèo đến một góc khuất xa xôi của khu rừng. Khi John Carvel và tôi đến đó, theo thói quen tôi rẽ trái để qua chiếc cầu nhỏ và leo lên ngọn đồi hướng về trang trại của Khedive. Cứ thế, hai người trẻ tuổi đã tách khỏi chúng tôi, và chẳng mấy chốc chúng tôi cách xa nhau một trời một vực, bởi thực tế là hai bên đang cưỡi ngựa theo hai hướng ngược chiều.
Con đường mòn mà Hermione và người anh họ chọn thoạt đầu đi qua một đoạn trũng, nơi cành cây phía trên vươn ra đan quyện chặt chẽ vào nhau, tạo nên một chốn đẹp như tranh vẽ hiếm thấy ở cả khu rừng. Alexander dần bớt nói hẳn, rồi chẳng mấy chốc chìm vào sự im lặng hoàn toàn. Họ thả lỏng cho ngựa đi bước một, còn anh thì ngắm nhìn gương mặt người em họ, nửa bị che khuất bởi lớp mạng che mặt màu xám mỏng manh, càng tôn lên vẻ đẹp kiều diễm của đôi môi và chiếc cằm thon gọn.
"Hermione," một lát sau, anh cất lời bằng chất giọng dịu ngọt nhất.
Cô thiếu nữ thoáng đỏ bừng mặt mà chẳng hiểu vì sao, nhưng không đáp lời. Anh ngập ngừng như thể chẳng thể thốt lên thêm lời nào ngoài tên cô. Khi sắc hồng phai dần trên má, người em họ rụt rè liếc nhìn anh, hoàn toàn khác với vẻ thường ngày. Có lẽ cô đã cảm nhận được sự ma mị nơi chốn này. Cô vốn chẳng quen tỏ ra e thẹn trước mặt anh, và giờ đây cô đang trải nghiệm một cảm giác hoàn toàn mới lạ. Cách anh trò chuyện với cô thường phảng phất nét tươi vui, nhẹ nhàng để có thể bật cười đáp lại; thế nhưng vừa rồi anh lại thốt lên tên cô một cách quá đỗi nghiêm túc, dịu dàng, khiến lần đầu tiên cô cảm nhận được rằng anh đang thực sự nghiêm túc. Theo bản năng, cô thúc ngựa chạy nhanh hơn trước khi anh kịp nói thêm điều gì. Anh vẫn sát cánh bên cô.
"Hermione," anh lại gọi, và giọng nói ấy vang lên bên tai cô như câu thần chú vô hình, đang dệt nên những bùa phép quanh cô dưới vòm lá của khu rừng ma thuật. "Hermione, người anh yêu — đừng cười nhạo anh nữa. Chuyện này rất nghiêm túc đấy, em yêu — đây là cả cuộc đời anh."
Cô vẫn lặng thinh, nhưng đôi gò má lại ửng hồng rồi phai nhạt, để lại gương mặt tái mét. Cô thu ngắn dây cương trong tay, giữ cho con tuấn mã Ả Rập bước nước kiệu đều đặn, vững chãi.
"Chuyện này là thật lòng, em yêu," người anh họ tiếp lời, bằng chất giọng trầm ấm, rành mạch. "Anh chưa từng biết mình yêu em nhiều đến nhường nào cho đến tận hôm nay. Không, đừng cười nữa. Hãy nói cho anh biết là em hiểu điều đó, như chính anh đang hiểu vậy."
Con đường ngày càng thu hẹp và cành cây thấp dần, nhưng cô nhất quyết không giảm tốc độ, dẫu thỉnh thoảng phải cúi đầu né những tán lá lòa xòa trên đường đi. Nhưng lần này cô lên tiếng, không hề cười cợt mà vô cùng nghiêm nghị.
"Anh không được nói những lời như thế nữa," cô nói. "Em không thích nghe."
"Việc nghe rằng mình được yêu — được yêu như cách anh yêu — lại cay đắng đến thế sao? Khó nghe đến vậy sao? Nhưng em đã được nghe một lần — hai lần, mười mấy lần rồi; rồi em sẽ quen dần với việc nghe nó thôi, không thấy tệ nữa đâu. Ôi Hermione, nếu em có thể đoán được việc yêu và được yêu như anh ngọt ngào nhường nào, em sẽ thấu hiểu!"
"Em không biết — em không đoán được — và dù có thể em cũng chẳng muốn," thiếu nữ đáp lại với vẻ tuyệt vọng. "Im đi, Alexander! Đừng nói kiểu đó nữa. Anh không được làm thế. Không đúng đắn chút nào đâu."
"Không đúng đắn sao?" chàng trai lặp lại, kèm theo tiếng cười khẽ. "Anh sẽ làm cho nó đúng đắn; em sẽ phải hiểu thế nào là yêu, em yêu ạ — là yêu anh như cách anh yêu em."
Anh rướn người trên yên khi sóng bước bên cô, đặt bàn tay trái lên tay cô, nhưng cô liền hất phăng những ngón tay ấy đi với vẻ bực dọc.
"Sao em lại giận, tình yêu của anh?" anh hỏi. "Em đã bao lần để anh thốt ra những lời đó một cách đùa cợt; chẳng lẽ dẫu chỉ một lần, em không thể để anh nói ra bằng tất cả sự chân thành sao?"
"Không," cô kiên quyết đáp. "Em không muốn nghe. Em đã sai lầm lắm rồi, Alexander. Em rất quý anh — bởi vì anh là anh họ của em — nhưng em không yêu anh — em sẽ không — ý em là, em không thể. Không, em cũng rất nghiêm túc đấy — vượt xa sự nghiêm túc của anh. Em không bao giờ có thể yêu anh đâu — không, không, không — không bao giờ!"
Nhưng cô đã lỡ thốt ra câu "Em sẽ không", và Alexander thừa biết trong tâm trí cô đang diễn ra một cuộc đấu tranh.
"Em sẽ không ư?" anh dịu dàng nói. "Không — nhưng em sẽ thôi, em yêu ạ. Anh biết em sẽ thế. Em bắt buộc phải thế; anh sẽ khiến em phải chịu thua!"
Lại một lần nữa anh rướn người hẳn khỏi yên ngựa, và trong chớp mắt, cánh tay trái của anh đã ôm lấy vòng eo thon thả của cô khi cả hai đang phi nước đại, đôi môi anh chạm nhẹ vào gò má mềm mại của cô ngay bên dưới lớp khăn voan xám. Nhưng anh đã đi quá đà. Chiếc gót mang giày có gắn cưa của Hermione khẽ chạm vào sườn con tuấn mã Ả Rập, khiến nó chồm lên phi gallop dọc theo con đường hẹp. Alexander vẫn bám sát sàn sạt bên cô. Huyết dịch trong người anh sục sôi, bừng cháy trên gò má thanh tú. Anh vẫn cố đặt tay lên eo cô, rướn người về phía trước, di chuyển trên yên ngựa uyển chuyển như một kỵ sĩ bẩm sinh giữa lúc phi nước đại. Nhưng Hermione thúc ngựa giận dữ, tìm cách né tránh cái ôm của anh họ, cho đến khi chỉ trong khoảnh khắc, cả hai lao vút qua khu rừng với tốc độ đua tranh.
Bọt sóng văng tung tóe, tiếp theo là một tiếng động trầm đục, nặng nề, và Hermione nhận ra mình chỉ có một mình. Cô cố quay đầu nhìn lại, nhưng phải mất vài giây mới trấn an được con tuấn mã Ả Rập; cuối cùng cô cũng xoay sở bắt nó quay đầu lại và phóng nhanh trở lại con đường cũ. Con ngựa của Alexander đang đứng chắn ngang đường, buộc Hermione phải xuống dắt nó đi vòng sang một bên mới nhìn thấy cảnh tượng phía sau. Người anh họ của cô nằm dài trên lối đi, bất động như một thung thăng ngã xuống, khuôn mặt tái mét ngửa lên trời, một tay quặt dưới thân, tay kia duỗi thẳng trên lớp đất mục mềm mại nơi đường rừng. Hermione đứng giữ hai con ngựa, mỗi tay một con, chăm chú nhìn người đàn ông đang bất tỉnh nhân sự. Cô không hề mất đi sự điềm tĩnh, dẫu hoảng hốt trước sắc thái tái nhợt của anh; nhưng cô không thể để xổng bầy ngựa giữa chốn hoang vu thế này, khi chúng có thể lạc mất trong chớp mắt. Cô khựng lại một lát, lắng nghe tiếng móng ngựa, thầm nghĩ hẳn cha cô và tôi đang ở cách đó không xa. Nhưng khu rừng vô cùng tĩnh lặng, và cô chợt nhớ ra cô cùng anh họ đã phóng như bay qua hai dặm đường vừa rồi. Luồn dây cương qua đầu ngựa, cô tiến hành trói chúng vào mấy thân cây, dẫu gặp không ít khó khăn bởi con ngựa của cô vẫn đang kích động và hoảng hốt sau cú phi nước đại; cuối cùng cô cũng thành công, và túm lấy vạt váy cưỡi ngựa bằng một tay, cô vội vã chạy đến bên Alexander.
Anh nằm đó, hoàn toàn bất tỉnh, mặt cắt không còn giọt máu khiến cô lo sợ anh đã bỏ mạng. Đầu anh trần trụi, chiếc mũ móp méo, rách bươm nằm lăn lóc trên đường, cách đó một quãng khá xa. Có một vết bầm sẫm màu ở bên phải trán, tít trên cao và nửa bị che khuất bởi mái tóc nâu mượt mà như lụa. Hermione quỳ xuống, cố nhấc đầu anh gối lên đùi mình. Nhưng thân hình anh nặng nề mà cô lại chẳng mấy khỏe mạnh. Cô khó nhọc kéo anh sát vào lề đường, tựa nhẹ vai anh vào phần đất cao ven đường. Cô dò tìm mạch đập, nhưng những huyết mạch vô tri ấy chẳng mảy may động đậy, cô cũng chẳng thể phân biệt nổi anh còn thở hay không. Hoàn toàn chẳng có phương tiện gì để cứu tỉnh anh, bởi trong túi yên ngựa đến cả một lọ muối thơm cô cũng không có, cô quỳ rạp lên người anh, dùng khăn tay lau tấm trán tái nhợt và nhẹ nhàng thổi vào mặt anh. Bản thân cô cũng tái xanh mặt cắt, bắt đầu thấy sợ hãi dù vốn có thần kinh thép. Dẫu vậy, cô vẫn xốc lại tinh thần, đinh ninh rằng muộn nhất thì chúng tôi cũng sẽ xuất hiện sau năm phút nữa.
Rõ ràng là khi phi ngựa sát bên cô với tốc độ tối đa, đầu Alexander đã va đập cực mạnh vào một cành cây lớn mọc thấp hơn những cành khác. Ánh mắt anh đang hướng về phía cô nên chẳng hề thấy trước hiểm nguy. Cành cây ấy nằm ở vị trí mà Hermione, khi cúi thấp đầu để né lá và nhìn thẳng về phía trước, đã lướt qua an toàn; trong khi người anh họ chắc hẳn đã tông thẳng vào phần dày nhất của nó, lệch về phía thân cây chừng ba bốn thước. Với tốc độ lao đi lúc đó, cú va chạm ấy hoàn toàn có thể gây tử vong; và khi những phút giây trôi qua mà người bị thương chẳng có dấu hiệu sống lại nào, tim Hermione đập thình thịch còn khuôn mặt thì cắt không còn giọt máu. Ý nghĩ đầu tiên hiện lên trong đầu cô là về mẹ anh, và một nỗi sợ nhói buốt, sắc lẹm xé toạc tâm can cô khi nghĩ đến khoảnh khắc khủng khiếp lúc phải báo tin cho Madame Patoff; nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo lại mang đến cho cô một cảm giác kinh hoàng sâu sắc hơn nhiều. Anh bị thương ngay trong lúc thốt ra những lời yêu đương với cô; anh va đầu vào cành cây chỉ vì mãi ngắm nhìn cô thay vì nhìn đàng trước, và một phần lỗi thuộc về cô, chính cô đã giục giã cuộc đua ngớ ngẩn đó. Cô rướn người cúi sát xuống anh, những giọt nước mắt chực trào mi. Cô cố lắng nghe nhịp đập của trái tim anh, vén áo khoác lên và áp tai vào lồng ngực anh. Một vật lạnh ngắt chạm vào má, cô vội ngẩng đầu lên nhìn xuống. Đó là một chiếc bình bạc dẹt nhỏ mà anh mang trong túi áo ghi-lê, lúc ngã đã trượt khỏi vị trí cũ. Hermione vồ lấy nó, vội vã vặn nắp. Trong bình đựng một loại rượu mạnh nào đó, cô liền đổ một chút vào đôi môi đang hé mở của anh.
Những nét mặt tử khí của anh khẽ co giật, và hàng mi rung rinh. Cô đổ rượu mạnh ra lòng bàn tay, xoa lên thái dương và trán anh. Alexander hít một hơi thật dài rồi chậm rãi mở mắt; rồi lại nhắm nghiền; sau vài khoảnh khắc, anh mở to mắt, trừng trừng nhìn, và thốt lên một tiếng ngạc nhiên bằng tiếng Nga.
"Anh thấy đỡ hơn chưa?" Hermione thở dốc hỏi. "Em cứ tưởng anh chết rồi chứ."
"Không, anh ổn mà," anh thều thào đáp, cố gắng gượng dậy. Nhưng đầu óc anh quay cuồng, và anh lại ngã quỵ xuống, bất tỉnh một lần nữa. Tuy nhiên, lần này cơn ngất xỉu kéo dài chẳng bao lâu, và chẳng mấy chốc anh lại mở mắt nhìn Hermione mà không nói năng gì. Cô tiếp tục xoa rượu lên trán anh. Sau đó, anh đưa tay tóm lấy chiếc bình cô đang cầm và ngửa cổ nốc một ngụm dài.
"Không sao đâu," anh nói. "Bây giờ anh đứng dậy được rồi, cảm ơn em." Anh chật vật đứng lên bằng cách bám vào cánh tay thiếu nữ. "Chuyện gì xảy ra thế nhỉ?" anh hỏi. "Anh chẳng nhớ gì cả."
"Chắc là anh đã đập đầu vào cành cây kia rồi," Hermione đáp, chỉ tay về phía nhánh cây dày nhô ra phía trên lối mòn. "Anh có thấy đỡ hơn chút nào không?"
"Có. Chút nữa là anh leo lên yên ngựa được thôi," anh đáp, tự cố định lại tư thế. "Anh bị chấn động mạnh quá, đầu đau ê ẩm. Nhưng không có gì nghiêm trọng đâu."
"Tốt hơn là anh nên ngồi nghỉ vài phút cho đến khi mọi người tới," thiếu nữ gợi ý, không khỏi ngạc nhiên khi thấy anh hồi phục nhanh đến thế. Anh có vẻ vô cùng sẵn lòng làm theo lời khuyên của cô, và cả hai cùng ngồi phịch xuống vách đất phủ đầy rêu phong.
"Đều tại em," Hermione hối hận nói. "Em thật ngớ ngẩn khi lại đòi phi ngựa nhanh ở một nơi thế này."
"Phụ nữ lúc cưỡi ngựa chẳng quan tâm đến thứ gì khác ngoài phi gallop," Alexander phán. Đó chẳng phải là một câu nói lịch sự cho cam, và dẫu Hermione có tha thứ cho anh vì anh đang choáng váng vì đau đớn, những lời ấy vẫn vang lên đầy khó chịu bên tai cô. Lẽ ra anh nên thấy thỏa mãn khi cô đã nhận lỗi về mình mới phải. Thật thiếu hào hiệp làm sao khi anh hùa theo cô một cách không chút do dự. Cô tự hỏi không biết Paul có nói những lời như thế không.
"Anh có thực sự nghĩ mình cưỡi ngựa về được không?" cô hỏi, với chất giọng lạnh lùng hơn.
"Chắc chắn rồi," anh đáp; "miễn là chúng ta đi chậm. Không biết bác John và Griggs đã đi đâu mất tiêu rồi nhỉ?"
Bác John và Griggs lúc ấy đang tự hỏi không biết hai người trẻ tuổi kia đã dạt đi đằng nào. Chúng tôi đã cưỡi ngựa lên đến đỉnh đồi và dừng lại khi tới khoảng đất trống gần trang trại của Khedive – nơi có tầm nhìn tuyệt đẹp, và là chốn chúng tôi mong đợi sẽ thấy bạn đồng hành đang chờ sẵn. Nhưng chúng tôi không khỏi kinh ngạc khi chẳng thấy bóng ai ở đó. Sau một hồi chần chừ đắn đo, chúng tôi thống nhất rằng John Carvel, người không rành đường rừng, sẽ đi theo con đường cái đổ dốc xuống sườn bên kia, trong khi tôi cưỡi ngựa quay ngược lại con đường chúng tôi vừa đi qua. Tôi hoài nghi rằng Alexander và Hermione đã rẽ nhầm đường, và tôi lo lắng cho họ hơn là bề ngoài tôi thể hiện. Người ta vẫn đồn rằng khu rừng này an toàn, nhưng chẳng năm nào là không có dạo vài tay kỵ sĩ đơn độc bị bọn Digan hoặc kẻ trộm vặt quấy rối nếu dám bén mảng quá xa những lối mòn quen thuộc. Tôi phi ngựa hết sức có thể, nhưng phải mất gần hai mươi phút tôi mới lao vào con đường mòn trũng. Tôi tìm thấy đôi uyên ương đang ngồi trên vách đất cách đó một dặm về phía trước, và Hermione đã reo lên mừng rỡ khi thấy tôi. Mọi chuyện được giải thích gọn lỏn trong vài từ. Alexander có vẻ đã hồi phục đủ để leo lên yên ngựa, và chẳng mấy chốc chúng tôi đã thong thả dắt ngựa quay về phía maidám ở Buyukdere. Dọc đường, cả Alexander lẫn Hermione đều ít nói, và tất cả chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm khi về đến khu chợ nhỏ, len lỏi bước qua con đường nhấp nhô giữa chốn những thợ đồng, những gã lính lơ là ngả ngớn, những kẻ hút ống điếu nước trầm ngâm, những người bán cà phê, đám ăn xin và lũ trẻ trần truồng một nửa.
Vào buổi tối hôm ấy, hai sự việc đã xảy ra làm đẩy nhanh tiến trình của các sự kiện. John Carvel có một cuộc nói chuyện riêng với Hermione, còn tôi lại nảy ra một ý tưởng vô cùng tai hại. Tâm trí John Carvel đang bấn loạn về tương lai của cô con gái độc nhất, và dẫu ông không phải tuýp người dễ hoảng sợ, tính cách ông lại là hễ một khi đã tin chắc mọi thứ không đi đúng quỹ đạo, ông sẽ chẳng mùng mọt chần chừ về đường hướng mình phải theo đuổi. Thế là, tối hôm đó ông gọi Hermione vào phòng làm việc và quyết tâm đòi cô một lời giải thích. Tội nghiệp cô thiếu nữ đang vô cùng bồn chồn bởi dự cảm chẳng lành và chẳng biết cách nào để thoái thác.
"Ngồi xuống đi, Hermy," John nói, ngả người vào chiếc ghế bành sâu với một điếu xì gà trên tay. "Cha muốn nói chuyện với con, con yêu."
"Vâng, thưa cha," Hermione ngoan ngoãn đáp.
"Hermy, con có định lấy Paul hay không? Đừng căng thẳng thế, con yêu, hãy suy nghĩ thấu đáo trước khi trả lời. Nếu con định lấy cậu ta, cha không có ý kiến gì về mối lương duyên này; nhưng nếu con không muốn, cha muốn biết điều đó. Chỉ vậy thôi. Con biết con từng nói với cha về chuyện này ở Anh trước khi chúng ta rời nhà rồi đấy. Mọi chuyện kéo dài đằng đẵng bấy lâu nay, thế mà Paul vẫn chưa hề đả động gì với cha về việc đó."
Chẳng thể nào đặt vấn đề rạch ròi hơn thế được nữa, và Hermione thừa biết điều đó. Cô im lặng suốt mấy phút liền, ngồi thừ người nhìn qua khung cửa sổ ra làn nước tối sẫm, nơi những con thuyền lững lờ trôi, mỗi chiếc đều thắp một ngọn đèn nhỏ ở mũi. Tận dưới bến tàu, một ban nhạc đang tấu khúc nhạc bất hủ Stella Confidente, thứ đã trở thành một dạng quốc thiều ở Thổ Nhĩ Kỳ. Những giai điệu lơ lửng len lỏi qua ô cửa sổ, và cô thiếu nữ chật vật tập trung tư tưởng, vốn đang rối bời quấn quýt quanh những nốt nhạc theo một cách chẳng ăn nhập vào đâu.
"Con có bắt buộc phải trả lời ngay bây giờ không thưa cha?" cuối cùng cô cất lời với vẻ gần như tuyệt vọng.
"Con yêu," người cha vô tình đáp lại bằng giọng điệu ân cần, "cha không hiểu sao con lại phải khất lần. Hẳn là tâm trạng con tối nay cũng chẳng khác gì hôm qua, hay ngày mai là mấy. Tốt hơn là giải quyết dứt điểm cho rồi. Cha không tin là nửa tháng, một tháng, hay thậm chí lâu hơn nữa sẽ tạo ra bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào trong suy nghĩ của con về vấn đề này." Ông rít một hơi xì gà, rồi lại nhìn con gái.
"Hermy," ông tiếp lời sau khoảng lặng tiếp theo, "nếu con không định kết hôn với Paul, con đang đối xử với cậu ta rất tồi tệ đấy. Con đang để cái tên ngốc nghếch là anh trai cậu ta tán tỉnh con từ sáng đến tối mịt."
"Ôi cha! Sao cha lại nói thế!" Hermione kêu lên, bởi cô vốn không quen nghe bất kỳ ngôn từ nặng nề nào thốt ra từ miệng cha mình.
"Tên ngốc — vâng, con yêu, từ đó diễn tả quá chuẩn xác rồi còn gì. Cậu ta là cháu ruột của cha, và cha có quyền gọi cậu ta là đồ ngốc nếu cha thích. Cha tin chắc gã đó mặc áo nịt ngực và uốn tóc bằng kẹp đấy. Mặt mũi thì giống con gái, còn mở miệng ra là tuôn toàn những thứ nhảm nhí vô tích sự."
"Con tưởng cha quý cậu ấy cơ mà," Hermione phản bác. "Con không nghĩ cậu ấy ngốc nghếch như cha nói đâu. Cậu ấy rất dễ mến."
"Cha chẳng có ý kiến gì về cậu ta cả," John Carvel đáp trả. "Cha dung túng cậu ta thôi. Dung túng không có nghĩa là ưa thích. Cậu ta từng làm tất cả chúng ta mê mẩn trong một hoặc hai ngày, nhưng điều đó chẳng kéo dài được lâu; kiểu mê hoặc đó chẳng bao giờ bền."
Lại một khoảng lặng kéo dài. Ban nhạc đã tấu xong khúc Stella Confidente và nối liền mạch sang bản hợp xướng uống rượu trong Traviata. Hermione đan chặt các ngón tay vào nhau, cắn nhẹ môi. Nhận định của cha về Alexander đối với cô như một phát hiện mới mẻ, nhưng nó mang sức nặng thực sự và gợi lên trong tâm trí cô cả một chuỗi ký ức, dồn tụ lại ở sự cố buổi chiều hôm nay. Cô nhớ như in cảm giác của mình trong những phút giây dài đằng đẵng trước khi Alexander tỉnh lại, và cô biết rằng cảm xúc của cô chẳng mảy quan hệ gì đến tình yêu cả. Cô đã hoảng sợ, đã tự trách mình, và đã nghĩ đến mẹ anh; nhưng ý nghĩ rằng anh có thể đã chết không hề khiến cô đau đớn như thể nếu cô thực sự yêu anh. Cô chẳng hề cảm thấy nỗi đau đớn cuồng loạn nào, chẳng có cảm giác trống rỗng tột cùng nào; những giọt nước mắt trào mi chỉ là giọt lệ của lòng trắc ẩn, của sự xót xa chân chính, chứ không phải của tuyệt vọng. Cô thử tưởng tượng nếu người nằm bất động trước mặt cô là Paul thì cô sẽ ra sao, và chính ý nghĩ ấy đã đâm một nhát sắc lẹm vào trái tim khiến cô suýt hoảng hốt.
"Thế nào, con yêu," cuối cùng John cất lời, "con đưa ra được câu trả lời chưa? Con định kết hôn với Paul, với Alexander, hay chẳng chọn ai cả?"
"Không phải Alexander — ôi, tuyệt đối không bao giờ!" Hermione thốt lên. "Con chưa từng nghĩ đến chuyện đó."
"Vậy là Paul à?"
"Cha yêu dấu," thiếu nữ ngập ngừng giây lát rồi đáp, "con sẽ kể cho cha nghe đầu đuôi sự việc. Khi Paul tới, con hoàn toàn có ý định kết hôn với anh ấy. Sau đó con bắt đầu làm quen với Alexander — và — ừ thì, con đã rất sai lầm, nhưng anh ấy bắt đầu buông những lời đường mật và nói về chuyện yêu đương với con. Tất nhiên con đã bảo anh ấy thật ngớ ngẩn và cười nhạo anh ấy. Nhưng anh ấy cứ thế tiếp tục, nói thêm rất nhiều điều bất chấp sự ngăn cản của con. Rồi con nghĩ rằng vì mình không thể ngăn anh ấy lại nên con đâm ra có chút hứng thú với anh ấy. Paul muốn nói chuyện với cha, nhưng con không cho phép. Con cảm thấy lương tâm mình không hoàn toàn trong sạch. Con không chắc mình sẽ mãi yêu anh ấy. Cha hiểu không? Con nghĩ thực ra con yêu Paul, nhưng Alexander lại mang đến cho con sự tò mò, hứng thú."
"Nhưng chưa bao giờ con nghĩ đến chuyện lấy Alexander chứ? Con vừa nói thế còn gì."
"Ôi, không bao giờ! Con cười vào mặt anh ấy, và anh ấy làm con thấy vui vẻ — chẳng có gì hơn thế."
"Thế thì cha không hiểu lắm..." John Carvel bắt đầu, tỏ ra khá bối rối trước lời giải thích.
"Đương nhiên là thế rồi. Cha là đàn ông cơ mà — sao hiểu được chứ? Con hứa với cha điều này: nếu trong một tuần nữa con không thể quyết định dứt khoát, con sẽ nói thẳng với Paul."
"Một tuần thì giúp được gì cho con chứ, hả con yêu? Bao nhiêu tuần trôi qua rồi mà con vẫn còn mơ hồ đấy thôi."
"Con chắc chắn một tuần sẽ tạo ra sự khác biệt lớn. Con nghĩ lúc đó con sẽ đưa ra quyết định. Con thực sự nghiêm túc đấy, thưa cha yêu quý," cô nghiêm nghị nói thêm. "Cha nghĩ con lại nỡ lòng làm điều gì tổn thương Paul sao?"
"Không, con yêu, cha không nghĩ thế." John Carvel đáp. "Chỉ là... con có thể vô tình làm tổn thương cậu ta, con biết đấy, và xét về phía cậu ta thì kết cục cũng chẳng khác là bao." Và cuộc trò chuyện khép lại với lời cảnh báo ấy.
Khi tôi về nhà để ăn tối, tôi thấy Gregorios Balsamides đang ngồi trên chiếc ghế gỗ dưới giàn kim ngân hoa ngoài cửa nhà mình. Anh đã trốn cái oi bức và bụi bặm của Pera để sang đây ngủ qua đêm, chắc mẩm sẽ nhận được sự chào đón nồng nhiệt tại căn ki-ốt trên đồi của tôi. Tôi ngồi xuống bên cạnh, và anh bắt đầu hỏi dồn về những người vừa mới đến, bù lại mang đến cho tôi những tin tức và chuyện phiếm ở Pera.
"Cậu có một chốn thật dễ chịu đấy," anh nói. "Một người bạn quen của tớ đã thuê nơi này vào mùa hè năm ngoái, và thường tổ chức tiệc trà cùng những buổi tiệc nhỏ vào buổi tối. Thật dễ dàng để chăng lồng đèn từ cây này sang cây khác, tạo hiệu ứng vô cùng đẹp mắt. Đó là một dạng bệnh ngớ ngẩn nhẹ nhàng thôi — nhẹ nhàng hơn nhiều so với cái mốt khiêu vũ trong nhà hiện nay khi nhiệt độ đạt ngưỡng sôi."
"Cũng là một ý hay đấy chứ," tôi đáp. "Chúng ta sẽ thử nghiệm trò này với hội nhà Carvel nhân một dịp nhỏ. Tớ sẽ mời họ và gia đình nhà Patoff đến đây vào thứ Bảy tới. Cậu tham gia luôn chứ?"
Mọi chuyện được định đoạt, và Gregorios hứa sẽ có mặt trong buổi tiệc. Chúng tôi dùng bữa tối, ngồi trò chuyện rôm rả đến tận khuya trước khi đi ngủ. Gregorios là một người lính nên chẳng ngại mấy cảnh kham khổ; vì vậy anh ngủ trên chiếc đi-văng và hôm sau tuyên bố rằng mình đã ngủ rất ngon giấc.