Paul Patoff

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xii.

❊ ❊ ❊

Việc khiến cho Balsamides Bey có thiện cảm với Paul không phải là một chuyện dễ dàng, bởi vì ông vốn là, và nay vẫn là, một người đầy định kiến, dẫu cũng rất mực sắc sảo. Trong chiếc đầu được cấu trúc cân đối của ông ngự trị một trí tuệ không chút tầm thường, và những nếp nhăn hằn trên khuôn mặt tái nhợt thể hiện sự trầm ngâm cùng học thức, đồng thời cũng ẩn chứa một niềm say mê châm biếm tột cùng cùng thứ hài hước cay độc, hoài nghi. Đôi mắt xanh to và sâu thẳm của ông dường như chỉ ngắm nhìn mọi sự vật để phán xét chúng chứ chẳng bao giờ để tận hưởng, và đôi lông mày cong vút dựng ngược như những hàng rào phòng thủ được dựng lên giữa một bên là thế giới cùng những lợi ích của nó với một bên là nội tâm của Balsamides. Dù mang bộ ria mép dày và sẫm màu, người ta vẫn dễ dàng nhận thấy ẩn dưới đó là đôi môi mỏng đang cong lên vẻ khinh miệt và trễ xuống ở hai khóe miệng. Ông rất chỉn chu về mặt ngoại hình, dù là khi khoác lên mình bộ quân phục của một sĩ quan tùy viên Phụ tá Quốc vương, hay bộ thường phục dạo phố của một quý ông lịch thiệp, hay chiếc áo choàng dạ hội chính thức của người Thổ, được may kiểu như của một mục sư Anh giáo, nhưng lại được trang trí bằng một chuỗi những huy hiệu nhỏ xíu đính vào khuyết áo bên trái. Gregorios Balsamides có chiều cao trung bình, mảnh khảnh và cân đối, là một kỵ sĩ vô song, từ lâu đã quen chịu đựng mọi thứ gian khổ, dẫu cho nước da tái nhợt cùng đôi bàn tay trắng trẻo, ngọc ngà lại gợi lên một thể chất chẳng có vẻ gì là dẻo dai.

Ông là sản phẩm tất yếu của tình trạng văn minh hiện tại ở Thổ Nhĩ Kỳ; và cũng như việc một bộ óc bình thường không thể dễ dàng thấu hiểu tình hình Đế quốc Ottoman nếu không qua một thời gian dài nghiên cứu, việc nắm bắt những tính cách do hoàn cảnh hiện đại ở phương Đông tạo ra cũng không hề đơn giản chút nào. Balsamides Bey là một con người dường như hội tụ trong mình nhiều phẩm chất và đặc điểm mâu thuẫn ngang ngửa với bất kỳ ai đang sống trên đời này. Ông mang nguyên tắc của một người Thổ đích thực, nhưng đồng thời cũng thụ hưởng nền giáo dục của một người Frank phương Tây thuần túy. Ông đã đọc vô số sách bằng nhiều thứ tiếng, nói tiếng Pháp và tiếng Anh một cách trôi chảy đến kinh ngạc. Ông chuyên tâm nghiên cứu lịch sử hiện đại, có thể nêu lên một mốc thời gian quan trọng, một bản tường thuật ngắn gọn về một trận chiến lớn, hay một lời giới thiệu vắn tắt về một nhân vật nổi tiếng còn sống, với sự thoải mái và chuẩn xác mà biết bao học giả phải ghen tị. Ông đọc tiểu thuyết tiếng Pháp và tiếng Anh, và có lẽ đang tàng trữ một bản lậu các tác phẩm của Byron, vốn là những tác phẩm bị cấm ở Thổ Nhĩ Kỳ và bị cơ quan hải quan tịch thu. Ông hòa mình vào giới thượng lưu châu Âu cũng như giữa lòng cộng đồng người Thổ, người Hy Lạp và người Armenia. Dẫu mang dòng máu Hy Lạp, ông lại yêu mến người Thổ và gắn bó sâu sắc với triều đương kim, dưới triều đại ấy, cha và ông của ông từng sống và thịnh vượng. Vốn là một tín đồ Cơ đốc giáo từ khi sinh ra và qua giáo dục, ông dành sự tôn trọng sâu sắc cho đức tin Hồi giáo, bởi đó là tôn giáo của chính phủ mà ông phụng sự, đồng thời nuôi dưỡng một mối thù hằn sâu sắc với người Armenia, kẻ mà ông coi là ác thần của người Osmanli. Ông là một người được nhiều người tin cậy, nhưng khát vọng lớn nhất của ông dường như là tránh xa mọi sự phô trương quyền lực. Ông thường được tham vấn về những vấn đề trọng đại, nhưng sự kín đáo của ông kiên cố trước mọi cuộc tấn công, và chẳng có một nhà báo hay thông tín viên nào ở Pera có thể tự hào rằng mình từng moi được dù chỉ là một mẩu tin nhỏ nhất từ Balsamides Bey.

Đó là những phẩm chất tốt đẹp của ông, và chúng vô cùng vững chắc, bởi ông là một con người am tường mọi chuyện, cực kỳ thông minh và tuyệt đối đáng tin cậy. Trái lại, ông lạnh lùng, cay độc, đôi khi tàn nhẫn, và đôi lúc thẳng thắn đến mức cục cằn.

Ngay vào buổi tối chúng tôi đến Pera, tôi đã đi tìm ông, bởi ông là một người bạn cũ của tôi. Tôi tìm thấy ông đang ngồi một mình trong căn hộ nhỏ trên phố Grande Rue, đọc một cuốn tiểu thuyết tiếng Pháp bìa vàng dưới ánh đèn học sinh kiểu Đức. Căn phòng được bài trí đơn sơ với một cái bàn, một chiếc ghế divan, ba hoặc bốn chiếc ghế tựa thẳng cứng nhắc, và một chiếc tủ sách. Nhưng trên sàn nhà trải cót và chiếc ghế divan lại có hai hoặc ba tấm thảm Siné tuyệt đẹp; vài bộ chiến lợi phẩm gồm những thứ vũ khí được chạm trổ lộng lẫy trang hoàng trên vách tường; bên cạnh ông, trên một chiếc bàn nhỏ tám cạnh khảm vỏ đả và xà cừ, đặt một chiếc khay bạc với một tách cà phê rỗng được chế tác vô cùng tinh xảo — phần đế bằng vàng dát mỏng, và chiếc tách mỏng manh làm bằng thứ sứ trong suốt tuyệt mỹ nhất. Rõ ràng ông vừa làm nhiệm vụ ở hoàng cung trở về, bởi ông vẫn mặc quân phục và chỉ cởi bỏ đôi bổng cưỡi ngựa dài, thả người ngồi phịch xuống ghế để đọc cuốn sách mà ông đang say mê.

Vừa thấy tôi, ông chợt đứng phắt dậy và chìa tay ra.

"Cậu đấy ư? Cậu từ đâu đến vậy?" ông kêu lên.

"Từ nước Anh, để thăm anh," tôi đáp.

"Cậu phải ở lại với tôi," ông nói ngay. "Phòng dành cho khách đã sẵn sàng rồi," ông nói thêm, vừa dẫn tôi ra cửa. Rồi ông vỗ tay gọi người hầu, trước khi tôi kịp ngăn lại.

"Nhưng tôi đã trót thuê phòng ở khách sạn rồi," tôi phân bua.

"Hãy đến khách sạn Missiri cùng một tên hamál, và lấy hành lý của ngài Effendi về đây," ông ra lệnh cho người hầu, gã liền biến mất ngay lập tức.

"Tóm gọn nhé," ông cười lớn, khi mở cửa và cho tôi xem căn phòng nhỏ của mình. Tôi từng ngủ ở đó bao nhiêu đêm trong quá khứ, và tôi yêu cái sự hiếu khách mộc mạc của ông.

"Anh vẫn chẳng thay đổi chút nào," tôi nói. "Đừng hòng ai thò mũi vào cửa nhà anh mà không bị tóm cổ, như cách anh gọi."

"Nhiều người có thể chứ," ông đáp. "Nhưng trừ cậu ra, anh bạn thân mến ạ. Nào — cậu sẽ dùng cà phê và một điếu thuốc. Chúng ta sẽ ăn tối ở nhà. Có cơm pilaff, thịt nướng kebabi và một chai sâm panh. Cậu khỏe không? Tôi suýt quên hỏi."

"Rất khỏe, cảm ơn anh," tôi nói, khi chúng tôi quay trở lại phòng khách. "Tôi lúc nào chẳng khỏe, anh biết đấy. Trông anh có vẻ tái nhợt, nhưng đó đâu phải chuyện lạ. Anh vừa trực ở cung điện về à?"

"Thứ Sáu," ông đáp cộc lốc, ý nói ông đã có mặt ở buổi lễ Selamlek, hộ tống Quốc vương đi dự buổi lễ hàng tuần tại thánh đường.

"Trước kia anh vẫn về sớm cơ mà. Giờ giấc thay đổi rồi à?"

"Hỡi kẻ thuộc về bè lũ Ma-quỷ," ông đáp lại, "ở chỗ chúng ta chẳng có gì thay đổi cả. Tôi bị giữ lại ở cung điện. Thế ra cậu lặn lội từ tận nước Anh sang đây chỉ để thăm tôi đấy à?"

"Đúng vậy, và để hỏi anh một câu hỏi cùng một ân huệ."

"Cậu sẽ nhận được câu trả lời và sự giúp đỡ của tôi."

"Đừng hứa vội khi chưa nghe rõ. 'Hai kẻ làm xiếc không thể lúc nào cũng nhảy trên cùng một sợi dây,' như tục ngữ của các anh thường nói."

"Và 'Con cừu nào thì treo bằng chân của con cừu nấy,'" ông đáp. "Tôi sẽ chấp nhận rủi ro với cậu. Trước hết, xin mời câu hỏi."

"Anh đã từng nghe nói về Alexander Patoff bao giờ chưa?"

Balsamides nhìn tôi một lát, với vẻ mặt của một kẻ vừa được hỏi một câu hỏi vô cùng ngớ ngẩn.

"Nghe nói về hắn ư? Mười tám tháng nay tôi chẳng nghe thấy chuyện gì khác ngoài hắn. Tôi bị chứng khó tiêu gây ra bởi quá nhiều Alexander Patoff đây. Đó là mục đích chuyến đi của cậu à, Griggs? Làm sao trên đời này mà cậu lại đi vướng vào cái rắc rối ấy cơ chứ?"

"Anh từng được hỏi về hắn trước đây rồi à?" tôi gặng hỏi.

"Tôi nói cho cậu hay, ở Constantinople này chẳng có con chó nào là không bị đá đít vì tội không biết tên đó đang ở đâu. Tôi phát ngấy hắn ta rồi, dù sống hay chết. Tôi quan tâm gì đến đám Patoff của các cậu chứ? Khi sống thì tên ngốc ấy chẳng tự lo nổi cho mình, còn bây giờ thì cả vũ trụ này bị đảo lộn lên chỉ để đi tìm cái thây ngốc nghếch của hắn. Hắn ở đâu? Dưới đáy eo biển Bosphorus. Hắn xuống đó bằng cách nào? Nhờ sự giúp đỡ tận tình của người em trai, kẻ sau đó đã diễn cái màn kịch xé rứt tóc tai khéo léo đến mức đại sứ của hắn ta cũng phải tin. Đơn giản thế thôi: nếu cậu muốn tìm cái xác của hắn, tôi có thể chỉ cho cậu cách làm."

"Cách nào?" tôi sốt sắng hỏi.

"Hãy tát cạn eo biển Bosphorus đi," ông đáp với một nụ cười khẩy. "Cậu sẽ tìm thấy khối hộp sọ dưới đáy đó. Hộp sọ nhỏ nhất chắc chắn là của hắn, không trật đi đâu được."

"Anh bạn thân mến," tôi phản đối, "em trai hắn không hề giết hắn. Bằng chứng là Paul Patoff đã quay lại và thề sẽ tìm cho ra tung tích của Alexander. Cậu ấy đi cùng với tôi, và tôi tin câu chuyện của cậu ấy."

"Hắn ta chỉ đang diễn lại vở kịch đó thôi — xé tóc vào ngày giỗ, giống như một kẻ khóc thuê được trả tiền hậu hĩ. Dĩ nhiên là có kẻ lại vừa buộc tội hắn sát nhân. Hắn sẽ phải xé tóc mỗi khi bị buộc tội để duy trì bề ngoài cho trọn vẹn. Chỉ có hắn, và một mình hắn biết rõ người chết đang ở đâu."

"Nhưng nếu hắn giết anh mình thì gã kaváss hẳn phải biết — hẳn phải giúp hắn chứ. Anh còn nhớ câu chuyện chứ?"

"Tôi nhớ chứ. Gã kaváss chứng minh được điều gì? Chẳng gì cả. Chắc chắn gã đã được lệnh rời đi trong chốc lát, và giờ thì không chịu thú nhận. Tiền có thể làm được mọi thứ."

"Vẫn còn gã đánh xe ngựa," tôi phản bác. "Gã nhìn thấy Alexander bước vào nhà thờ Agia Sophia, nhưng chưa bao giờ thấy hắn bước ra."

"Và có chuyện gì dễ hơn thế nữa chứ? Một người có thể học thuộc vài từ đó trong vòng ba phút. Điều đó chẳng chứng minh được điều gì cả."

"Vẫn còn xác suất xảy ra," tôi tranh luận. "Đã có biết bao nhiêu người biến mất ở Stamboul từ trước đến nay rồi."

"Vớ vẩn, Griggs," ông đáp. "Cậu thừa biết rằng khi có chuyện tương tự xảy ra, kết cục thường là kẻ mất tích bị phá sản. Hắn biến mất để rồi xuất hiện ở một nơi nào đó dưới một cái tên khác. Tôi không tin một chữ nào trong số những cuốn tiểu thuyết diễm tình đó cả. Trong mắt đám người Frank các cậu, chúng tôi là một dân tộc cướp bóc, sát nhân và trộm cắp; chúng tôi là đất nước Thổ Nhĩ Kỳ của Byron, lúc nào cũng khát máu, đổ máu một cách vô lý và gào thét đòi thêm nữa. Nếu tên ngốc đó để cho em mình giết chết mà không gây sự chú ý giữa chốn đông người — ngay tại Stamboul, vào tuần cuối cùng của tháng Ramazán, khi tất cả mọi người đều ra đường — thì hắn đáng đời phải chịu số phận ấy, thế thôi."

"Tôi không tin là hắn đã chết," tôi nói, "và tôi đến đây để nhờ anh làm quen với Paul Patoff. Nếu sau khi nghe cậu ấy kể chuyện mà anh vẫn tin cậu ấy là kẻ sát nhân, thì tôi sẽ ngạc nhiên lắm đấy."

"Tôi sẽ xé xác hắn ra nếu gặp mặt," Balsamides cười lớn nói. "Chỉ cần nhìn thấy bất kỳ ai mang họ Patoff là tôi lại lên cơn thần kinh."

"Hãy nghiêm túc đi chứ," tôi bảo. "Anh nghĩ tôi ngốc nghếch đến mức tự chuốc lấy rắc rối với chuyện này sao, nếu tôi không tin rằng nó có thể được làm sáng tỏ mọi bí ẩn và giải thích rõ ràng?"

"Cậu đã ở nước Anh," Gregorios đáp trả. "Điều đó giải thích cho bất kỳ thứ chứng điên rồ nào. Cậu muốn tôi làm phiền mọi cơ quan trong chính phủ bằng những cuộc điều tra mới ư? Chẳng ích gì đâu. Mọi cách đều đã thử rồi. Con người ta đã biến mất mà không để lại một dấu vết. Bỏ ra bao nhiêu tiền đi chăng nữa cũng chẳng moi được chút thông tin nào đâu. Tôi nói thế còn chưa đủ rõ sao? Nơi nào tiền bạc vô dụng, thì kẻ nào còn hy vọng gì từ trí khôn của mình kẻ ấy thật ngốc."

"Tôi đủ ngốc để vẫn còn hy vọng," tôi đáp. "Nếu anh không giúp, tôi sẽ đi tìm người khác. Tôi sẽ không bỏ cuộc ngay từ vạch xuất phát."

"Thôi được, nếu tôi nói tôi sẽ giúp cậu, thì cậu hy vọng tôi làm gì? Tôi có thể làm được điều gì mà người ta chưa làm hay sao? Nếu có, tôi sẽ làm. Nhưng tôi sẽ không tựòng mình vào một chiếc xe bò mục nát, như tục ngữ vẫn nói. Chông chờ gì thêm ở cảnh sát lúc này là hoàn toàn vô ích."

"Tôi chẳng trông mong gì ở họ. Tôi tin rằng Alexander vẫn còn sống, và đã được che giấu bởi một kẻ đủ giàu có và mạnh mẽ để đánh lạc hướng mọi cuộc truy lùng."

"Điều gì xui cậu nghĩ thế?" bạn tôi hỏi, nhìn tôi với vẻ tò mò bất chợt.

"Chẳng có gì ngoài việc quy nạp sự việc đến tận cùng. Hoặc là hắn đã chết, hoặc là hắn còn sống. Như anh đã nói, khó mà có chuyện hắn bị sát hại vào một đêm như thế mà không thu hút sự chú ý. Hơn nữa, động cơ để Paul giết anh mình là hoàn toàn không đủ. Không, để tôi nói tiếp. Do đó, tôi cho rằng hắn đã bị bắt đi khi còn sống."

"Ở đâu?"

"Trong thánh đường Santa Sophia."

"Nhưng nếu vậy," Balsamides tranh luận, "gã đánh xe hẳn phải nhìn thấy hắn bị khiêng ra ngoài chứ."

"Đúng," tôi thừa nhận. "Đó chính là điểm khó khăn. Nhưng có lẽ hắn đã được đưa qua lối cổng chính; dù thế nào đi nữa, hắn hẳn phải bước xuống cầu thang một mình, cầm theo chiếc đèn lồng."

"Họ đã tìm thấy chiếc đèn lồng," Gregorios nói. "Cậu không biết điều đó à? Rất lâu sau đó, gã nhân viên mở cửa các tháp chuông đã thú nhận rằng khi gã đi lên cùng hai anh em và gã kaváss, gã nhận ra ngọn nến của mình đã cháy hết. Gã bèn nhặt chiếc đèn lồng của gã kaváss và mang xuống, định bụng sẽ trả lại khi đoàn khách du lịch tiếp theo ghé thăm. Không có đoàn khách nào khác tới cả, và khi gã quay lên tìm nhóm Patoff thì họ đã đi mất và chiếc xe ngựa cũng biến mất. Gã giữ lại chiếc đèn lồng, cho đến khi những lời hứa thưởng thúc giục gã đem nộp và kể lại câu chuyện của mình."

"Điều đó chẳng chứng minh được gì cả, ngoại trừ việc Alexander đã đi xuống cầu thang trong bóng tối."

"Tôi có một ý kiến thế này, Griggs!" Balsamides bỗng đổi giọng nói lớn. "Nó chứng minh điều này — rằng Alexander không nhất thiết phải đi xuống các bậc thang đó."

"Tôi không hiểu."

"Còn một lối thoát khác từ dãy hành lang đó. Cậu có biết không? Ở đầu bên kia, nằm ở chính xác vị trí tương đối, ẩn khuất trong vòm cuốn sâu thẳm, có một cánh cửa thứ hai. Ở đó cũng có một chiếc cầu thang xoắn ốc dẫn thẳng ra phố ở phía bên kia thánh đường. Người nước ngoài không bao giờ được phép vào bằng lối đó, nhưng khả năng cánh cửa ấy mở là hoàn toàn có thể xảy ra. Alexander Patoff có thể đã đi xuống theo hướng đó, vì tưởng nhầm đó là chiếc cầu thang mà hắn đã dùng để đi lên."

"Anh thấy chưa," tôi phấn khích nói khi nghe được thông tin này, "mọi ngả đường chưa phải đã cùng đường hết đâu."

"Không, bắt đầu thấy chúng ta đang đến gần hơn với một lời giải thích rồi đấy. Nếu cánh cửa ấy thực sự mở — dẫu điều đó rất khó xảy ra — hắn có thể đã đi xuống và ra được đường phố mà không đi qua chiếc xe ngựa đang đậu ở phía bên kia thánh đường. Nhưng xét cho cùng, chúng ta vẫn chẳng tiến gần thêm chút nào đến việc rốt cuộc hắn đã ra sao."

"Liệu có thể tìm hiểu xem cánh cửa đó có thực sự mở hay không, và nếu có thì những ai đã đi qua lối đó không?" tôi gặng hỏi.

"Rồi chúng ta sẽ rõ," Gregorios nói. "Tôi thay đổi ý định rồi. Tôi sẽ làm quen với anh bạn người Nga của cậu. Tôi biết mặt cậu ta dẫu chưa từng nói chuyện. Khi tôi đã bàn bạc xong xuôi mọi chuyện với cậu ta, tôi sẽ cho cậu biết suy nghĩ của mình. Nào, chúng ta đi ăn tối thôi."

Tôi cảm thấy mình đã vượt qua được trở ngại lớn đầu tiên trong việc thuyết phục Balsamides dành chút quan tâm đến sứ mệnh của tôi. Ông là một trong số những người rất khó lay chuyển, nhưng một khi đã quyết định hành động thì sẽ dốc sức làm cho bằng được. Hơn thế nữa, sự tồn tại của chiếc cầu thang thứ hai dẫn từ hành lang xuống phố đã lập tức giải thích lý do vì sao Alexander có thể rời khỏi nhà thờ mà không bị người đánh xe phát hiện. Tôi tự hỏi tại sao trước đó chẳng ai nghĩ ra điều này. Có lẽ nó đã không hiện lên trong đầu bất cứ ai, bởi vì người lạ không bao giờ được phép vào từ hướng đó, và vì cánh cửa ấy hầu như lúc nào cũng đóng kín.

Buổi tối hôm đó Gregorios không hề đả động gì thêm đến vấn đề này, mà chỉ giải trí bằng cách dồn dập hỏi tôi đủ thứ chuyện về tình trạng nước Anh. Chúng tôi chuyển sang bàn về chính trị châu Âu, và những giờ phút trôi qua vô cùng thoải mái cho đến tận nửa đêm.

Ngày hôm sau, tôi sang thăm Paul và kể cho cậu ấy nghe kết quả của bước đi đầu tiên. Cậu ấy tỏ ra vô cùng biết ơn.

"Có vẻ thật cay đắng khi cuộc đời tôi lại bị hủy hoại chỉ vì chuyện này," cậu ấy mệt mỏi nói. "Bất kỳ tia hy vọng nào về tin tức cũng đều đáng quý, dù cho nó có nhỏ nhoi đến đâu. Tôi đang mang một lời nguyền rủa nào đó — chẳng khác nào thể như tôi thực sự có dính líu gì đến cái chết tội nghiệp của Alexander vậy. Nó cứ bám theo tôi đủ mọi cách. Trừ khi chúng ta giải mã được bí ẩn này, nếu không tôi sẽ chẳng bao giờ được thực sự tự do cả."

“Chúng ta sẽ giải mã được nó,” tôi trấn an cậu ấy. “Sẽ không bỏ sót bất cứ điều gì, và tôi hy vọng chỉ trong vài tuần nữa thôi cậu có thể trút bỏ được mọi lo lắng này.”

“Nó còn hơn cả sự lo lắng; nó là nỗi đau đớn,” cậu ấy đáp. Tôi đoán là cậu ấy đang nghĩ đến Hermione, nên đành im lặng. Chút lát sau, cậu ấy ngỏ ý muốn ra ngoài. Hôm ấy là một ngày tháng Hai đẹp trời, dẫu tuyết vẫn phủ đầy mặt đất và lấp đầy những vết lồi lõm trên con đường lát đá của khu Grande Rue de Pera. Ai nấy đều quấn khăn áo lông cồng kềnh và đi giày trượt tuyết, thứ trang bị thiếu là không thể bước chân ra đường vào mùa đông ở Constantinople. Đường phố chật ních một đám đông kỳ lạ chẳng nơi nào trên thế giới có được; các cửa hàng đông nghịt đủ mọi thành phần, từ những phu nhân của các sứ quán cho đến những người phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ che mặt, những người chẳng màng mấy đến quy định cấm họ mua sắm tại các cơ sở của người Frank. Tại khu Galata Serai, những gã cửu vạn người Kurd vạm vỡ lảng vảng dưới ánh nắng, chờ việc làm, những sợi dây thừng và mấy chiếc gối dày để cõng hàng vất ngay dưới chân chúng. Những con chó gầy giơ xương ngồi dậy và trừng mắt nhìn thèm thuồng những tảng thịt lớn mà mấy cậu phụ hàng thịt mang qua đám đông, luồn lách qua các phu nhân phương Tây kiều diễm đang rụt rè né tránh trước cảnh tượng thịt bò sống đầy rẫy, đi qua những tốp đàn ông ăn mặc chỉnh tề đang đứng trước các quán cà phê trên con phố chật hẹp. Vô số binh lính di chuyển trong dòng người, những gã người Thổ cao lớn, nước da sáng, vai rộng và mắt xanh, mặc bộ quân phục sờn rách của lính cận vệ hoàng gia, nhưng trông họ thiện chiến chẳng kém gì đám lính lựu đạn Phổ bảnh bao nào, và quả thực họ đúng là như vậy khi được ăn uống đầy đủ. Thỉnh thoảng, một chiếc kiệu đóng kín lướt nhanh qua, do những gã người Kurd vạm vỡ khiêng, và đôi khi sự xuất hiện của một chiếc xe ngựa lại gây ra một phen náo loạn đáng kể. Paul và tôi thong thả đi xuống con đường dốc, qua Tháp Galata và tiến thẳng vào khu Galata.

"Chúng ta qua phà chứ?" Paul hỏi khi đến chân cầu.

"Hãy đi ngược lên eo biển Bosphorus đi," tôi nói. "Chắc chẳng mấy chốc nữa có tàu thủy đâu."

Cậu ấy vui vẻ nhận lời ngay. Lúc đó khoảng mười một giờ sáng — tức năm giờ theo giờ Thổ Nhĩ Kỳ — và thời tiết thì tuyệt đẹp. Mặt trời lên cao, rọi sáng vạn vật trong bầu không khí lạnh lẽo nhưng trong vắt, khiến những mái vòm và ngọn tháp của thành phố trắng tựa tuyết, hằn những cái bóng ngả xanh, trong khi những vầng trăng lưỡi liềm mạ vàng và những chóp tháp chói lọi rực rỡ một cách phi thường dưới ánh ban ngày mùa đông trong trẻo. Thật khó mà nói được rằng Stamboul đẹp nhất vào mùa nào trong bốn mùa, bởi mỗi mùa lại mang đến một vẻ kiều diễm riêng biệt, một sắc thái màu sắc mới lạ. Bạn có thể đặt chân đến mũi Serai vào một buổi sáng mùa đông giữa trận bão tuyết mịt mù, để rồi mọi thứ đều chìm khuất trong tấm màn xám xịt của những bông tuyết rơi; bất chợt mây tan và ánh nắng tràn ngập khắp thành phố, khiến người ta có cảm giác như mọi đền thờ và tháp nhọn đều được xây bằng kim cương vậy. Hoặc bạn có thể sang Scutari vào buổi rạng sáng một ngày tháng Sáu, khi bầu trời trông như một đóa hoa phương Đông khổng lồ, xanh thẫm ở vòm trời phía trên, các cánh hoa chuyển dần sang mọi sắc độ cho đến màu tía mờ ảo nơi chân trời; và từng gam màu lần lượt lướt qua những công trình kiến trúc kỳ ảo, khi bóng râm dần ngả màu theo bầu trời, và làn nước mượt mà như nhung ôm trọn ánh sáng thành những vũng lớn lung linh cùng những vệt phản chiếu đầy màu sắc tinh tế. Nơi đây lúc nào cũng đẹp, lúc nào cũng mới mẻ; nhưng hơn hết thảy, tôi nghĩ khoảnh khắc khi ánh mặt trời rực rỡ chiếu rọi rõ nét nhất vạn vật trên cạn lẫn dưới biển chính là lúc Stamboul lộng lẫy và uy nghi nhất.

Chiếc phà lớn tròng cồng và đập mạnh vào làn nước, rồi từ từ rời khỏi cầu tàu bằng gỗ, trong khi chúng tôi đứng trên boong trên ngắm nhìn khung cảnh trước mặt. Đối với hai kẻ đã quá quen thuộc với Constantinople ở mọi góc cạnh như chúng tôi, việc lên tàu chỉ cốt để được đưa ra cửa Biển Đen rồi quay về có vẻ hơi nực cười. Nhưng tôi vẫn luôn dành tình yêu cho eo biển Bosphorus, và tôi nghĩ việc đi qua những bến đỗ, ngắm nhìn dòng người đông đúc qua lại và tản bộ trên boong tàu vắng vẻ sẽ làm Paul khuây khỏa. Cậu ấy mệt mỏi vì chuyến hành trình dài và tâm trí thì nặng trĩu ưu tư, và bầu không khí khoáng đạt ngoài trời chính là liều thuốc chữa lành tốt nhất cho những nỗi niềm ấy.

Cậu ấy có vẻ thích thú, hỏi tôi rất nhiều điều về những cung điện và biệt thự dọc hai bên bờ, bởi tôi rành rẽ nơi này hơn cậu ấy. Cậu ấy tỏ ra hào hứng khi biết rằng dinh thự kia thuộc về một vị Pasha nọ, rằng tòa nhà bên cạnh là sở hữu của một vị công chúa lớn tuổi khét tiếng tai tiếng, trong khi tòa thứ ba từng chứng kiến những chuyện kỳ lạ thời Mehemet Ali, và giờ đây đã hoang phế hoặc chỉ còn thuộc về những bóng ma quá khứ — nơi trú ngụ của loài ma da và thần linh đến từ các nghĩa trang lân cận. Khi tàu dừng lại một lát tại bến Yeni Köj — cái tên "Phố Mới" nghe có vẻ bớt phần hấp dẫn — chúng tôi ngắm nhìn dòng hành khách lên xuống, và tôi thấy Paul hơi giật mình khi một gã nô lệ da đen cao lớn, nhẵn nhụi và gớm ghiếc bất chợt quay đầu nhìn lên chỗ chúng tôi đứng trên boong lúc gã rời tàu. Có thể tôi đã nhầm, nhưng đó là điểm nhấn duy nhất mang lại chút ít sự chú ý trong ngày hôm đó. Chúng tôi đi đến tận thượng nguồn eo biển Bosphorus, và tại Yeni Mahallè, ngay trong tầm mắt có thể nhìn thấy Biển Đen, chiếc phà quay một vòng rộng rồi hướng mũi trở lại phía Stamboul.

"Tôi thấy dễ chịu hơn rồi," Paul nói khi chúng tôi cập cầu Galata và luồn lách qua đám đông để bước lên bờ. "Chúng ta sẽ lại đi nữa nhé."

"Nhất trí," tôi đáp.

Kể từ dạo đó, trong suốt mấy tuần liền, chúng tôi thường xuyên thực hiện những chuyến thám hiểm vào Stamboul và ngược lên eo biển Bosphorus, và việc tận hưởng không khí ngoài trời liên tục đã giúp ích rất nhiều cho Paul. Nhưng tôi có thể nhận ra rằng bất cứ nơi nào đặt chân đến, cậu ấy đều quan sát mọi người với một sự tập trung mãnh liệt; im lặng dõi theo một cá nhân nào đó bằng ánh mắt, hoặc cố gắng nhìn vào những vòm cổng tối tăm và qua những ô cửa sổ có chấn song gỗ, đăm đăm nhìn vào hàng dài hành khách bước lên tàu hoặc lên bờ ở các bến đỗ khác nhau, và dường như chẳng bao giờ lơi lỏng sự chú ý. Những con người nơi đây cũng dần trở nên quen thuộc với tôi, và rồi dần dà tôi nhận ra Paul dường như đang vạch ra một phương pháp cho những cuộc dạo chơi của chúng tôi. Chính cậu ấy, chứ không phải tôi, là người gợi ý hướng đi cho các chuyến thám hiểm, và tôi để ý thấy cậu ấy chọn những địa điểm nhất định vào những ngày nhất định trong tuần. Chẳng hạn, vào thứ Hai, cậu ấy không bao giờ quên đề xuất ghé thăm các khu chợ trời; vào thứ Ba, chúng tôi thường đi ngược lên eo biển Bosphorus; vào thứ Tư thì vào Stamboul. Vào những buổi chiều thứ Sáu nếu trời đẹp, chúng tôi thường cưỡi ngựa đến khu Vùng Nước Ngọt của châu Âu; bởi thứ Sáu là ngày nghỉ ngơi của người Hồi giáo, và vào ngày đó, những ai có điều kiện đều thích đến Kiat-hané — "cối xay giấy" — nơi họ trải qua buổi chiều bằng việc đi xe dạo phố, tản bộ, ăn đồ ngọt, hút thuốc, uống cà phê, xem các cô gái digan nhảy múa, hoặc lắng nghe những câu chuyện lê thê của những kẻ kể chuyện chuyên nghiệp. Gần như ngày nào cũng có lịch trình tham quan cố định, và tôi thấy rõ rằng cậu ấy luôn chọn nơi nào mà vào ngày đó trong tuần có khả năng tập trung đông người nhất.

Trong khi đó, Balsamides — người mà nhà riêng vẫn là nơi tôi ở nhờ — lúc thì cười nhạo tôi vì đã tin câu chuyện của Paul, lúc thì ngay câu sau lại bày tỏ niềm hy vọng rằng thế nào rồi cũng tìm thấy Alexander. Ông đã đến thánh터 Santa Sophia và xác minh được rằng chiếc cầu thang thứ hai thường được mở vào những đêm thắp sáng thánh đường để thuận tiện cho những công nhân làm nhiệm vụ thắp đèn, và điều này càng củng cố thêm giả thuyết của ông về hướng đi mà Alexander đã chọn khi rời khỏi hành lang. Nhưng đến đây thì mọi tung tích lại đi vào ngõ cụt, và Balsamides suýt buông xuôi việc tìm kiếm, thì một sự cố xảy ra thổi bùng lên năng lượng và niềm hi vọng của chúng tôi, đồng thời khuấy động Paul chìm trong sự phấn khích tột độ.

Hôm ấy, khi chúng tôi đang lang thang dưới những mái vòm u ám của khu chợ lớn rộng lớn, và đã đi đến khu vực nơi những người Do Thái Tây Ban Nha mở cửa hàng, thu gom một khối lượng đồ có giá trị tuyệt vời — chủ yếu là đồ cổ — bày bán trong những căn phòng nhỏ chật chội và luôn khao khát một món hời. Chúng tôi thong thả bước đi, vừa hút thuốc vừa trò chuyện, thì một lão người Do Thái tên là Marchetto — người mà tôi từng giao dịch qua trong quá khứ và biết rất rõ về tôi — bất chợt bước ra lối đi lớn có mái che và mời chúng lão vào cửa hàng. Lão bảo rằng mình có một món đồ quý hiếm vô song mà lão chắc chắn tôi sẽ mua. Chúng tôi bước vào, ngồi xuống một chiếc ghế divan thấp áp sát tường. Xung quanh căn tiệm nhỏ, những xấp vải được gấp nếp gọn gàng, hàng thêu thùa và thảm cầu nguyện chất cao đến tận trần nhà. Ở một góc phòng đặt một chiếc bàn cũ kỹ đặt chiếc tủ kính, bên trong trưng bày đủ loại đồ vật bằng vàng bạc đem bán. Cả không gian sực nức mùi thuốc lá Hy Lạp, nhưng bù lại rất sạch sẽ và ngăn nắp. Một chiếc mái vòm nhỏ nhô lên ở giữa trần nhà giúp đón ánh sáng và không khí.

Marchetto biến mất trong giây lát và quay trở lại ngay với hai tách cà phê Thổ Nhĩ Kỳ đặt trên chiếc khay thiếc, lão đặt chúng lên một chiếc ghế đẩu trước mặt chúng tôi. Rõ ràng lão rất có ý chí làm ăn, bởi lão bắt đầu lân la chuyện trò về thời tiết và chẳng có vẻ gì là vội vã khoe món đồ mà lão vừa úp mở nhắc tới. Cuối cùng tôi đành phải hỏi mua nó, điều mà chắc chắn tôi sẽ chẳng làm nếu thực sự định mua. Hóa ra đó là một dải thảm Rhodes tuyệt đẹp, loại chuyên được dệt cho các Hiệp sĩ Malta thế kỷ trước nhưng nay đã thất truyền. Loại thảm này luôn gồm các họa tiết thánh giá Malta với đủ kích cỡ và kiểu dáng, thêu bằng chỉ lụa đỏ sẫm dày dặn trên nền vải lanh thô bền rộng chừng hai gang tay, hoặc có họa tiết tương tự trên những mảnh vải vuông dùng làm gối. Giá trị của tấm thảm này là cực kỳ lớn, và chủ yếu được quyết định bởi độ tinh xảo của mũi thêu cùng sắc độ đỏ của chỉ lụa được sử dụng.

Khuôn mặt Marchetto xìu xuống khi chúng tôi ngắm nghía tấm thảm, bởi lão biết rõ chúng tôi sẽ chẳng bao giờ mở đầu việc mặc cả bằng cách thừa nhận dù chỉ một chút ưu điểm của món hàng được chào mời. Nhưng lão vẫn cố tỏ ra can đảm và bắt đầu chìa ra những thứ khác: một tấm thảm Giordès, một mảnh thêu chỉ vàng Broussa cổ kính tuyệt đẹp trên nền lanh xanh nhạt, những chiếc khăn tay thêu kỳ lạ được mệnh danh là ren Ba Tư — quả thật là đủ mọi chủng loại đồ cổ xưa. Chán cảnh ngồi một chỗ, tôi đứng dậy và tự mình lật giở vài món đồ. Trong lúc làm việc đó, khuỷu tay tôi va phải chiếc tủ kính cũ ở góc phòng, và tôi liếc nhìn xem mình có làm vỡ nó không. Tiện thể, ánh mắt tôi tự nhiên hướng vào những món bày trên tờ giấy trắng phía dưới khung kính. Ngay giữa đám đồ ấy, tôi chú ý thấy một chiếc đồng hồ. Nó làm bằng bạc, nhưng được chạm trổ và khảm niello kiểu Nga vô cùng tinh xảo. Núm vặn có khía rãnh làm bằng vàng. Nhìn chung tay nghề chế tác vô cùng tinh xảo, và chiếc đồng hồ trông như mới.

"Ở đây có một chiếc đồng hồ kiểu Nga này, Patoff," tôi nói, lấy ngón tay gõ gõ vào tấm kính. Paul uể oải đứng dậy và tiến lại gần bàn. Khi nhìn thấy món đồ, cậu ta tái mặt, bỗng bấu chặt lấy tay tôi đầy phấn khích.

"Của anh ấy đây rồi," cậu ta nói bằng giọng trầm khàn, cố gắng nhấc nắp hộp lên.

"Của Alexander ư?" Paul gật đầu. "Hãy tỏ ra thờ ơ vào," tôi nói bằng tiếng Nga, sợ rằng Marchetto sẽ hiểu được.

Lão người Do Thái mở tủ kính và đưa chiếc đồng hồ cho chúng tôi. Paul run rẩy cầm lấy rồi lật mặt sau ra. Ở đó, khắc bằng những chữ cái tiếng Nga là dòng chữ Alexander Paulovitch, tặng bởi cha; tiếp theo là ngày tháng. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Chiếc đồng hồ này từng thuộc về người đã khuất; do đó, hắn đã bị cướp.

"Anh vớ được cái này từ một gã Pasha phá sản nào đó phải không, Marchetto?" tôi gặng hỏi. Mọi món đồ cũ bày bán trong khu chợ trời đều được gán cho cái mác xuất phát từ dinh thự của một vị Pasha nào đó; lời đồn đại ấy cốt để thu hút khách du lịch nước ngoài.

Marchetto gật đầu cười mỉm.

"Một vị Pasha người Nga," tôi tiếp lời. "Anh đã bao giờ nghe nói về một vị Pasha người Nga nào chưa, Marchetto? Gã bán cái này cho anh đã nói dối rồi."

"Kẻ nào dối trá vào ngày đầu tiên của tháng Ramazán sẽ phải hối hận vào ngày lễ Bairam," gã người Do Thái đáp, vừa nhếch mép cười vừa trích dẫn một câu tục ngữ Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi vô cùng ấn tượng trước câu nói đó. Chẳng hiểu sao việc nhắc đến lễ Bairam lại khiến tôi liên tưởng đến số phận bất định của Alexander, và gợi lên trong đầu ý nghĩ rằng Marchetto biết điều gì đó về chuyện này.

"Đúng vậy," tôi đáp, sắc bén nhìn lão; "và một câu tục ngữ khác lại bảo rằng con cáo rồi cũng sẽ kết thúc đời mình trong tiệm bán đồ da thú. Anh mua chiếc đồng hồ này ở đâu?"

"Allah bilir! Tôi quên bén mất rồi."

"Allah chắc chắn biết rõ. Nhưng anh cũng biết nữa," tôi cười lớn, cố tỏ ra buồn cười. Paul đã ngồi lại xuống chiếc ghế divan nhỏ và đang chăm chú lắng nghe; nhưng cậu ta thừa hiểu để tôi lo liệu mọi việc là tốt nhất. Marchetto là một gã béo, tóc đỏ và mắt nâu đỏ. Lão ngước nhìn tôi đầy hoài nghi trong giây lát.

"Tôi sẽ mua nó nếu anh chịu nói cho tôi biết anh lấy nó từ đâu," tôi nói.

"Tôi lấy nó từ..." Lão chần chừ. "Nó lọt ra từ một hậu cung," lão bỗng nói thêm kèm theo một tiếng cười khúc khích.

"Từ một hậu cung!" tôi thốt lên với vẻ hoài nghi tột độ. "Hậu cung nào chứ?"

"Tôi không nói đâu," lão đáp nghiêm túc, nụ cười vụt tắt trên môi. "Tôi đã thề là sẽ không hé răng rồi."

"Anh dám thề rằng nó thực sự xuất phát từ một hậu cung chứ?" tôi hỏi.

"Tôi xin lấy danh dự ra thề," Marchetto quả quyết. "Tôi thề bằng cái đầu của tôi, bằng bộ râu của ông"——

"Tôi không có ý đó," tôi điềm đạm đáp. "Anh có dám thề trước Chúa, một cách trang nghiêm rằng anh đang nói sự thật không?"

Marchetto ngước nhìn tôi đầy ngạc nhiên, bởi chẳng có tộc người nào trên đời lại chán ghét việc thề thốt trang nghiêm như người Do Thái, đồng thời có lẽ cũng chẳng có tộc người nào tuân thủ sự thật chính xác đến thế một khi đã buộc mình phải thề như vậy. Lão ta đăm đăm nhìn tôi một lát.

Cuối cùng lão quay đi, lúi húi thu dọn đống hàng hóa và nói: "Có vẻ ông rất tò mò về chiếc đồng hồ đó nhỉ."

"Thế ra anh không chịu thề chứ gì?" tôi hỏi, đoạn đặt trả chiếc đồng hồ về chỗ cũ.

"Tôi không thể thề về điều mà mình không rõ. Nhưng tôi biết rõ kẻ đã bán nó cho tôi. Hắn là một gã Lala của một hậu cung nào đó, điều đó là cái chắc. Tôi sẽ không nói tên hắn cho ông đâu, và cũng chẳng nói tên vị Effendi sở hữu cái hậu cung ấy làm gì. Ông có mua chiếc đồng hồ của tôi không? — birindjí — chất lượng thượng hạng — nó là một món đồ tuyệt đẹp đấy. Xin lấy danh dự ra thề, tôi chưa từng thấy chiếc nào đẹp hơn thế, dẫu nó chỉ bằng bạc."

"Trừ phi anh nói cho tôi biết nó xuất phát từ đâu, bằng không thì đừng hòng," tôi kiên quyết đáp. "Hơn nữa, tôi phải mang nó đến chỗ Vartan ở Pera để kiểm tra đã. Nhỡ bộ máy bên trong không tốt thì sao."

"Nó là của ông đấy," Marchetto nói. "Cứ cầm lấy đi. Khi ông giữ nó được hai ngày rồi thể nào ông cũng sẽ mua thôi."

"Bao nhiêu?"

"Hai mươi lira — hai mươi đồng bảng Thổ Nhĩ Kỳ," gã người Do Thái đáp không chút do dự.

"Ý anh là năm đồng chứ," tôi nói. Tôi thầm nghĩ chiếc đồng hồ này chỉ đáng giá mười đồng, khoảng hai trăm ba mươi franc.

"Không đời nào. Thà tôi tặng không cho ông còn hơn. Nó là birindjí — chất lượng thượng hạng — xin thề trên danh dự của tôi. Tôi chưa bao giờ thấy"——

"Thôi vớ vẩn đi, Marchetto!" tôi ngắt lời. "Cho phép tôi mang đến chỗ Vartan để kiểm tra xem thế nào. Rồi chúng ta hẵng mặc cả."

"Cứ cầm lấy đi," lão đáp. "Cứ giữ lấy bao lâu tùy thích. Tôi rất rành về ông, và tôi cảm ơn Trời vì tôi cũng kiếm chác được chút đỉnh từ ông đấy. Nhưng giá của chiếc đồng hồ là hai mươi bảng. Ông cứ trả đi, và suốt quãng đời còn lại mỗi khi nhìn ngắm nó ông sẽ phải thốt lên rằng, 'Sao mà Marchetto thành thật thế không biết!' Tôi thề bằng cái đầu tôi — nó là birindjí — chất lượng thượng hạng — tôi chưa bao giờ"——

Tôi cắt ngang lời lão: "Tôi biết rồi khỏi cần nói nữa." Tôi ra hiệu cho Paul rằng chúng tôi nên đi; cậu ấy đứng dậy không nói một lời.

"Tạm biệt nhé, Marchetto," tôi nói. "Tôi sẽ quay lại sau một hoặc hai ngày nữa để mặc cả với anh."

"Nó là birindjí — tôi thề bằng cái đầu tôi — chất lượng thượng hạng" — đó là những câu nói cuối cùng chúng tôi nghe thấy khi bước ra khỏi chỗ gã người Do Thái giữa đống hàng hóa của lão. Sau đó, chúng tôi luồn lách qua những căn hầm ngầm của khu chợ lớn, và chẳng mấy chốc đã rảo bước hướng về phía cầu Galata trên đường trở về Pera. Cuối cùng Paul cũng cất tiếng.

"Chúng ta đang bám sát dấu vết rồi đấy," cậu ta nói. "Gã đó đã nói sự thật khi bảo rằng chiếc đồng hồ xuất phát từ một hậu cung. Tôi đọc được điều đó trên nét mặt lão. Tôi bắt đầu nghĩ rằng Alexander đã làm một điều gì đó điên rồ đến ngớ ngẩn — bám theo một ả phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ che mặt, hệt như những gì hắn từng làm trước đây nếu tôi không kịp ngăn lại — để rồi bị tống giam, nhốt vào một xó hầm tối tăm nào đó, và rốt cuộc bị sát hại."

"Trông có vẻ là thế," tôi đáp. "Dĩ nhiên là tôi sẽ không mua đứt chiếc đồng hồ ngay lập tức, bởi chừng nào chưa trả tiền thì tôi vẫn nắm thóp được Marchetto. Tối nay tôi sẽ nói chuyện với Balsamides. Anh ấy rất giỏi mấy vụ này, và anh ấy sẽ tìm ra tên gã da đen đã bán nó cho mà xem."

Chúng tôi chia tay nhau, và tôi đi tìm người bạn của mình; nhưng ngặt nỗi anh ấy đang bận túc trực làm nhiệm vụ và phải đến tối mới về. Tôi đành dành phần thời gian còn lại của ngày hôm đó đi thăm hỏi đây đó để giết thời gian. Lúc quay trở về nhà của Gregorios, tôi tìm thấy một bức thư gửi từ John Carvel, lá thư đầu tiên tôi nhận được kể từ khi rời nước Anh. Nội dung thư như sau:

Griggs thân mến của tôi: Kể từ lúc cậu đi khỏi, một chuyện vô cùng kỳ lạ và bất ngờ đã xảy ra, và xét đến vai trò của cậu trong các công việc gia đình chúng ta, cậu không nên bị giữ trong bóng tối. Tôi đã phải chịu đựng nhiều phiền muộn liên quan đến cô em dâu bất hạnh của mình hơn bất cứ điều gì tôi có thể kể cho cậu nghe; và sự việc đã lên đến đỉnh điểm như một màn biến hóa khôn lường, điều mà chắc chắn cậu chưa từng ngờ tới và tôi cũng vậy. Cậu sẽ nói gì khi tôi bảo rằng Madame Patoff bỗng nhiên bước ra khỏi căn phòng của mình với một thần trí hoàn toàn tỉnh táo của một người bình thường? Cậu sẽ càng ngạc nhiên hơn nữa — trừ phi Paul đã tâm sự với cậu — khi nghe tin cậu ấy đã cầu hôn Hermione trước lúc rời đi, và Hermione đã không từ chối cậu ấy! Tôi căng thẳng đến mức bỏ lỡ tận ba buổi đi săn trong tháng qua.

Dĩ nhiên là cậu sẽ muốn biết cơ sự nào mà mọi chuyện lại xoay chuyển như vậy. Tôi chẳng biết làm sao để viết nổi một bức thư dài dằng dặc thế này. Nhưng cái công việc nhọc nhằn labor improbus ấy đã đánh bay mọi khó khăn vướng mắc, đúng như cái cách diễn đạt rất Mỹ của cậu vậy. Tôi dám cá là mình vẫn sống sót được thôi. Nếu tôi không qua khỏi, chỉ thị cho bia mộ của tôi sẽ là, "Nơi đây yên nghỉ thi hài của anh rể Anne Patoff." Nếu cậu được chứng kiến cảnh tôi lúc này, cậu sẽ thấy dòng chữ khắc ấy chuẩn xác đến nhường nào.

Madame Patoff hoàn toàn tỉnh táo; cùng dùng bữa tối với chúng tôi, đi dạo phố, đi bộ, trò chuyện và đọc sách hệt như bao con người bình thường khác — qua đó bà khác biệt hoàn toàn với Chrysophrasia, kẻ thực hiện mọi hành động ấy theo cách chẳng giống ai, từ thuở hồng hoang cho đến tận bây giờ. Chúng tôi chẳng hiểu nổi tình huống này ra sao, nhưng đành cố gắng tận dụng nó theo chiều hướng tốt nhất. Mọi chuyện bắt đầu thế này. Hermione có hứng thú ghé thăm bà thím của mình, một hoặc hai ngày sau khi cậu rời đi. Bà North vẫn ở bên ngoài, như thường lệ, đọc sách hoặc làm việc ở căn phòng bên cạnh. Tình cờ là cánh cửa cứ để ngỏ hoặc khép hờ. Bà North có thói quen lắng nghe những gì diễn ra bên trong một cách chuyên nghiệp, bởi đó là nhiệm vụ theo dõi bệnh trạng của bà. Khi đang ngồi đó làm việc, bà nghe thấy giọng của Madame Patoff, nói năng rành mạch, liên tục. Trước đó bà chưa từng nghe Madame Patoff nói chuyện gì dài ngoài những câu như "Có", "Không", "Trời đẹp đấy", hay "Trời đang mưa". Bà đứng dậy tiến lại gần cửa. Bệnh nhân của bà đang trò chuyện rất mạch lạc về một cuốn sách mà bà vừa đọc, và Hermione thì đáp lời như thể chẳng hề ngạc nhiên chút nào trước cuộc trò chuyện ấy. Rồi lát sau, Hermione bắt đầu nài nỉ thím bước ra ngoài nhà và sống chung với tất cả chúng tôi, vì giờ đây bà đã hoàn toàn bình phục. Bà North chết trân vì kinh ngạc nhưng không hề mất bình tĩnh. Có lẽ bà đã hành xử một cách khôn ngoan nhất có thể, đúng như kết quả sau đó đã chứng minh. Bà bước vào phòng rất khẽ khàng — bà lúc nào cũng nhẹ nhàng như thế — và cất giọng tự nhiên nhất đời, "Tôi rất vui vì bà đã khỏe hơn, Madame Patoff. Xin lỗi bà, cô Hermione để ngỏ cửa nên tôi nghe thấy hai người nói chuyện." Bà cụ giật mình ngước nhìn bà một thoáng. Rồi bà quay đi, gương mặt có chút tái nhợt, cất lời đáp lại nữ hộ lý: "Cảm ơn bà, North, tôi hoàn toàn khỏe mạnh. Bà hãy cho người đi mời Giáo sư Cutter đến đây." Thế là Cutter được gọi tới, và sau khi thăm khám cho bà, ông gọi tôi vào và thông báo rằng cô em dâu của tôi đang trong trạng thái minh mẫn, nhưng tốt nhất là không nên kích động bà. Nếu bà muốn rời khỏi phòng thì cứ để bà đi, ông nói, nhưng vẫn cần phải theo dõi. "Quỷ tha ma bắt!" tôi thốt lên, "chuyện này quá ư là kỳ lạ!" "Chính xác," ông đáp, "cực kỳ kỳ lạ."

Khoảnh khắc minh mẫn ấy cứ kéo dài mãi, và bà vẫn giữ được sự tỉnh táo hoàn toàn kể từ dạo đó cho đến nay. Bà đi vòng quanh nhà, chạm vào mọi thứ, trầm trồ trước mọi thứ, và thích thú đi dạo cùng tôi trên chiếc xe ngựa dog-cart. Tôi chẳng biết phải đối phó với tình hình này thế nào nữa. Tôi hỏi Hermione mọi chuyện bắt đầu ra sao. Con bé chỉ bảo rằng nó nghĩ bà thím đã khá hơn khi ở cạnh nó, rồi mọi thứ đến một cách rất đột ngột. Hôm nọ Madame Patoff có hỏi thăm về Paul, và tôi bảo rằng cậu ấy đã sang phương Đông cùng cậu. Nhưng có vẻ bà chẳng biết gì về cậu cả, dù tôi đã nói là cậu từng gặp bà. "Tội nghiệp Paul," bà nói, "giá mà tôi được gặp lại thằng bé. Nó là đứa duy nhất còn lại." Bà buồn bã trong chốc lát, nhưng chỉ có vậy. Cutter bảo rằng điều đó thật kỳ lạ; rằng chứng tâm thần của bà hẳn phải bắt nguồn từ một cú sốc nào đó hồi bà nhảy lầu ở Đức. Có lẽ thế. Dù sao thì bây giờ bà cũng đã tỉnh táo, và Cutter khẳng định bà sẽ không tái phát bệnh nữa. Tôi hy vọng ông ấy đoán đúng. Bà tỏ ra vô cùng biết ơn vì tất cả những gì tôi đã làm cho mình, và tôi tin là bà đã viết thư cho Paul. Câu chuyện quái gở thật đấy, phải không nào?

Giờ là phần tiếp theo. Hermione đến gặp tôi một buổi sáng nọ ở phòng sách, và thú nhận rằng Paul đã ngỏ lời cầu hôn con bé, và rằng nó chưa hẳn đã từ chối. Ý nghĩ của mấy cô gái về những chuyện kiểu này thường không rõ ràng khi họ đã đem lòng yêu ai đó mà lại không muốn thừa nhận. Dĩ nhiên là tôi nói rằng tôi mừng vì nó chưa nhận lời; nhưng khi tôi xoáy vào chuyện đó, con bé lại càng tỏ ra lúng túng hơn bao giờ hết. Kết cục là nó bảo rằng nó không thể kết hôn với cậu ấy, dù có thích đến đâu đi chăng nữa, trừ khi Paul có thể chấm dứt cái tin đồn ngốc nghếch nào đó đang nhắm vào cậu ấy. Tôi dám cá là cậu đã nghe đồn rằng Paul bị ngờ vực là đã nhúng tay giúp anh trai biến mất khỏi cõi đời này. Có chuyện nào vớ vẩn hơn thế nữa không? Đó chính là ý của Chrysophrasia với những lời lẽ châm chọc khó chịu của cô ta về Cain và Abel. Chắc cậu vẫn còn nhớ chứ. Tôi không ngại nói cho cậu biết rằng tôi quý Paul hơn nhiều so với dự tính ban đầu khi cậu ấy mới tới. Cậu ấy có lớp vỏ bọc cứng nhắc, nhưng là một thanh niên tốt bụng, và vô tội trong cái chết của anh mình hệt như tôi vậy. Nhưng — họ là anh em họ, và mẹ của Paul quả thực từng có vấn đề về tâm thần. Dĩ nhiên là bệnh tâm thần do tai nạn gây ra thì không bao giờ có tính di truyền; nhưng ngặt nỗi lại còn có Chrysophrasia, kẻ rõ ràng là rất dở hơi. Dù sao đi nữa, Paul vẫn là một thanh niên xuất sắc, và tôi sẽ cân nhắc chuyện này. Mrs. Carvel còn quý cậu ấy hơn cả tôi nữa. Tôi vốn thích Hermione lấy một chàng trai Anh quốc chính hiệu cơ, nhưng tôi từng tuyên bố con bé sẽ được kết hôn với người nó yêu nếu đó là một trang nam nhi quân tử, và tôi sẽ không nuốt lời đâu. Họ sẽ chẳng có mấy tài sản để mà sống, bởi tôi tin Paul đã từ chối nhận dù chỉ một xu từ gia tài của anh trai, vì nuôi hy vọng rằng thế nào cũng có ngày tìm lại được anh ấy.

Nhưng âm mưu ngày càng rắc rối hơn. Cậu đoán xem Macaulay đang làm gì nào? Cậu ta đã viết thư cho vị thủ lĩnh cũ của mình là Lord Mavourneen — người vẫn luôn rất quý mến cậu ta — nài nỉ được cử đến Constantinople. Viên đại sứ ở trển có một thư ký cùng cấp bậc đang muốn chuyển về Paris, thế là mọi chuyện được sắp xếp ổn thỏa tại Bộ Ngoại giao, và Macaulay sẽ lên đường sang đây ngay lập tức. Dĩ nhiên là đám phụ nữ trong nhà lại nổi cơn lôi đình đòi phải đến eo biển Bosphorus nghỉ hè; rằng tôi đã lôi họ đi đủ mọi nơi rồi, và chẳng ai trong số họ có thể chết nhắm mắt nếu chưa được tận mắt nhìn thấy Constantinople. Tiếng kêu gào kéo dài đúng một tuần. Cuối cùng thì tôi cũng đành khuất phục trước số phận và nhượng bộ. Mrs. Carvel muốn gặp Macaulay, Madame Patoff muốn thấy nơi tội nghiệp Alexander biến mất, Hermione muốn gặp Paul, còn Chrysophrasia muốn ngắm nhìn Sừng Vàng và nhảy múa trên làn nước vui tươi của eo biển Bosphorus trên những chiếc thuyền caïque thanh thoát mang phong cách thương mại. Tôi thấy khá vui vì cuối cùng mình đã thỏa hiệp. Tôi nghĩ tình cảm của Hermione là nghiêm túc — trông con bé có vẻ tiều tụy, tội nghiệp quá — và tôi muốn tìm hiểu thêm về Paul trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Đương nhiên, với việc Macaulay ở một sứ quán còn Paul ở sứ quán kia, chúng ta sẽ tường tận mọi thứ; và Mary thì cứ bảo tôi ngày càng gàn dở vì suốt ngày cắm mặt vào sách vở. Giờ thì cậu đã hiểu mọi chuyện diễn ra thế này rồi đấy.

Giờ tôi muốn xin ý kiến của cậu, bởi cậu không chỉ am hiểu Constantinople mà còn đang sống ở đó. Cậu có khuyên chúng tôi đến ngay lập tức để tận hưởng mùa xuân, hay đến muộn hơn và ở lại suốt mùa hè không? Ở đó có gì ăn không? Tôi có phải mang theo đầu bếp không? Tôi có thể thuê một nhà riêng, hay buộc phải cắm trại trong khách sạn? Phải mặc trang phục gì đây? Tóm lại, hãy kể cho tôi mọi thứ cậu biết, qua một loạt bưu thiếp hoặc bằng điện tín — vì cậu còn ghét viết thư hơn cả tôi nữa. Tôi đang hồi hộp chờ câu trả lời của cậu để chúng tôi còn điều chỉnh lịch trình di chuyển theo lời cậu dặn. Mọi người gửi lời thăm hỏi ân cần tới cậu và tới Paul, nhớ đọc bức thư này cho cậu ấy nghe nhé.

Thân ái, John Carvel.

Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng sau khi đọc xong bức thư dài dằng dặc này thì Gregorios bước vào và ngồi xuống bên lò sưởi. Sự xuất hiện của anh ấy kéo tôi thực tại, nhắc tôi nhớ đến chiếc đồng hồ và tạm thời quét sạch John Carvel cùng gia đình ông ấy khỏi tâm trí tôi. Tôi đưa cho anh ấy xem vật chứng, đồng thời kể lại những gì Marchetto đã nói.

"Chúng ta tóm được gã rồi!" anh ấy thốt lên, hứng thú ngắm nghía cái tên và mốc thời gian dù chẳng thể đọc nổi các ký tự tiếng Nga.

"Chưa chắc đâu," tôi nói. "Lão sẽ chẳng bao giờ khai ra tên của gã nô lệ da đen đó đâu."

"Không; nhưng tôi nghĩ chúng ta hoàn toàn có thể dễ dàng tóm được gã đó," Balsamides đáp lời. "Cậu không rõ mấy mánh khóe này diễn ra thế nào đâu. Rất có thể Marchetto vẫn chưa trả tiền chiếc đồng hồ cho gã. Những món đồ kiểu đó thường chỉ được thanh toán sau khi đã được bán đứt khỏi cửa hàng. Marchetto sẽ chẳng dại gì trả giá cao cho chiếc đồng hồ cho đến khi biết rõ nó bán được bao nhiêu tiền, và gã kia cũng chẳng chịu nhận một số tiền bèo bọt vì đinh ninh nó rất có giá trị. Khả năng cao là thỉnh thoảng gã Lala đó vẫn ghé qua để dò hỏi xem món đồ đã bán được chưa, và Marchetto sẽ trưng nó ra để chứng minh rằng lão chưa thu được xu nào."

"Nghe có vẻ xa vời quá nhỉ," tôi nhận xét. "Biết đâu Marchetto đã giấum nó từ tận thời điểm Alexander biến mất thì sao. Gã Lala kia đời nào lại chịu chờ đợi lâu đến thế. Gã sớm mang nó đi bán chỗ khác rồi."

"Không, tôi không nghĩ vậy đâu," Gregorios trầm ngâm đáp. "Hơn nữa, có khi nó mới được mang đến chỗ gã người Do Thái cách đây chừng một tuần là cùng. Mấy gã đó chỉ đành đoạn dứt áo ra đi với trang sức khi túng tiền mà thôi. Hơn nữa, nó lại là một món đồ xinh xắn, thừa sức thu hút sự chú ý của bất kỳ kẻ ngoại quốc nào."

"Làm sao anh có thể canh chừng Marchetto chặt chẽ đến mức bắt gặp được gã đó cơ chứ?"

"Hãy hối lộ gã người Do Thái ở tiệm bên cạnh; hoặc hay hơn nữa, thuê một tên hamál rình mò quanh quẩn ở khu vực đó. Khả năng cao là gã kia tuần nào cũng đến vào một ngày cố định. Cứ giữ chiếc đồng hồ đi. Lần tới khi gã mò đến, món đồ đã biến mất, nhưng Marchetto lại chưa trả tiền nên sẽ từ chối thanh toán cho gã Lala. Thế nào cũng xảy ra cãi vã và om sòm cho mà xem. Tên hamál có thể dễ dàng dò ra tên của gã nô lệ da đen đó, kẻ có lẽ vốn đã nhẵn mặt trong khu chợ rồi."

"Nhưng nhỡ như tôi đoán đúng, và nó đã được thanh toán sòng phẳng từ trước rồi thì sao?" tôi phản bác.

"Khó lắm cậu ạ. Tôi rành bọn họ hơn cậu nhiều. Dù sao đi nữa, cứ bố trí tên hamál ở đó để rình vụ cãi vã. Nếu trong vòng một tháng mà chẳng có động tĩnh gì, tôi mới tính đến chuyện cậu đúng."

Gregorios quả là một người phương Đông chính hiệu. Anh ấy sở hữu thứ bản năng bẩm sinh của chốn chợ búa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.