Paul Patoff

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Chỉ một lát sau, Selim, tên thái giám ghê tởm, bước vào phòng, vừa đi vừa cúi đầu chào theo lệ thường. Hắn hẳn đã nhận ra Balsamides ngay lập tức, bởi hắn khựng lại và đứng sững khi nhìn thấy ông, dáng chừng như định lên tiếng. Nhưng sự hiện diện của tôi có lẽ đã ngăn hắn thốt ra những lời đang chực chờ trên môi, và hắn cứ thế đứng trân trân trước mặt chúng tôi. Balsamides giữ vẻ mặt điềm đạm, thông báo rằng ông được Bệ hạ sai đến để tìm cách xoa dịu nỗi đau cho Laleli Khanum Effendi, nếu có thể. Gregorios nói rằng Bệ hạ vô cùng đau lòng khi hay tin Khanum lâm bệnh, và mong muốn mọi biện pháp phải được huy động để làm giảm bớt sự đớn đau của bà. Ông khẩn khoản đề nghị Selim hãy lập tức bẩm báo với Khanum về sự hiện diện của vị y sư, bởi vào thời điểm ngặt nghèo này, từng khoảnh khắc đều vô cùng quý giá.

Selim khó lòng đoán ra sự thật. Hắn không hề mặt đối mặt biết vị ngự y triều đình, và Balsamides đã đóng trọn vai diễn của mình với một sự bình tĩnh tuyệt đối. Tên nô lệ da đen không bao giờ có thể tưởng tượng rằng một gã người Frank ngoại quốc lại dám mặc chiếc quân phục của một trong các sĩ quan tùy giáp của Sultan—một bộ quân phục mà hắn thừa rõ và buộc phải kính trọng. Hắn vô cùng hoảng sợ khi nhận ra vị cố vấn y y học của Sultan chính là kẻ từng giải tán đám đông ở khu chợ, kẻ từng khiến hắn kinh hoàng với những câu nhắc đến chiếc nhẫn, chiếc hộp và sợi dây chuyền. Hắn hoảng sợ, nhưng hắn biết mình không thể chống lại mệnh lệnh hoàng gia, và sau một thoáng do dự, hắn đáp lời.

"Khanum Effendi," hắn nói, "quả thực đang rất nặng gác. Đã qua nửa đêm, và chẳng ai trong hậu cung nghĩ đến chuyện ngủ nghỉ. Tôi sẽ chuẩn bị để Khanum tiếp đón Effendi."

Nói đoạn, hắn rút lui, và chúng tôi lại một mình. Tôi thú nhận rằng lòng dũng cảm của cải thiện hơn khi tôi ngày càng tin tưởng vào sự hoàn hảo của lớp cải trang. Nếu bản thân tên thái giám còn không mảy may nghi ngờ tôi, thì chắc chắn chẳng ai khác dám mạo muội thắc mắc về thân phận của tôi. Còn về phần Balsamides, ông tỏ ra bình thản như thể đang có một chuyến thăm hỏi thông thường.

"Họ bắt chúng ta phải chờ," ông nói. "Phải mất nửa tiếng mới chuẩn bị xong hậu cung để tôi vào. Cụ bà kia dẫu có sắp chết đi chăng nữa, cũng không bao giờ bỏ qua các nghi thức xã giao. Đối với một người như bà ấy, việc tiếp một vị bác sĩ người Frank không phải chuyện nhỏ."

Ông hạ thấp giọng, sợ rằng tên gác cổng ngoài sảnh nghe thấy. Nhưng ông không nói thêm gì nữa. Tôi đoán rằng ông đang nhẩm tính những lời sẽ thưa với Khanum. Việc chuẩn bị bên trong không mất nhiều thời gian như ông dự tính, bởi chưa đầy mười phút trôi qua, Selim đã quay lại.

"Buyurun," tên nô lệ ngắn gọn cất lời. Từ ấy là câu cửa miệng ở Thổ Nhĩ Kỳ để chỉ "mời vào", "mời ngồi", "cứ tự nhiên", hay "cứ tự nhiên dùng đồ".

Balsamides liếc nhìn tôi khi cả hai cùng đứng dậy khỏi ghế, và tôi thấy ông hoàn toàn điềm tĩnh và tự tin. Chỉ một khoảnh khắc sau, tôi chỉ còn lại một mình.

Gregorios bước theo Selim vào sảnh; rồi, đi qua tấm rèm nặng nề và bước qua cánh cửa do Selim mở ở phía bên kia, ông thấy mình đã đặt chân vào khu vực hậu cung, trong một tiền sảnh rộng rãi trông chẳng khác là bao so với nơi ông vừa rời khỏi, chỉ có điều rực rỡ ánh đèn hơn và được kê những chiếc ghế bọc lụa màu xanh da trời nhạt thấp sát đất. Tuy nhiên, chẳng có bóng người nào ở đó, và Balsamides nối gót tên nô lệ bước vào một cánh cửa ở phía bên phải cuối hành lang. Họ đi qua một lối đi hẹp, toàn bộ được treo lụa màu hồng và trải thảm mút nhưng không có đồ đạc gì, rồi Selim vén một tấm rèm lên và dẫn Gregorios diện kiến vị phu nhân đang bệnh nặng.

Căn phòng rộng lớn và được thắp sáng rực rỡ bởi vô số ngọn đèn. Những chiếc gương lớn trong khung mạ vàng theo mốt của thế kỷ trước che kín các khoảng tường từ trần đến sát chân tường. Ở các góc phòng và trên mọi khoảng trống khả dĩ giữa những chiếc gương lớn, những chiếc gương nhỏ đính các nhánh đèn được treo lên, và những chùm đèn được giăng từ trần nhà xuống. Toàn bộ không gian ngập tràn ánh sáng cứ như thể căn phòng đang được chuẩn bị cho một buổi vũ hội. Khanum từ xưa đã vốn ưa chuộng ánh sáng, và nay cảm thấy thị lực suy giảm do bệnh tật, bà đã hạ lệnh thắp sáng mọi ngọn đèn trong nhà, tạo ra một thứ ánh sáng ban ngày nhân tạo, và có lẽ phần nào mang lại sự phấn chấn mà ánh sáng ban ngày thường đem lại.

Sàn nhà được lát gỗ đánh bóng láng lưởng, và những chiếc ghế dài bọc lụa màu hồng sẫm chói mắt vốn rất được lòng phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại cứ thế trải dài sát tường ở ba phía. Tuy nhiên, ở phía trên cao, một bục gỗ được nâng lên cách mặt sàn chừng một gang tay. Nơi đây trải những tấm thảm Siné và Giordès quý giá, và một chiếc ghế dài rộng bản chạy dọc theo toàn bộ chiều rộng căn phòng, được bọc bằng thứ lụa có màu sắc vô cùng tao nhã, thứ mà vào thế kỷ trước ở Anh gọi là màu "hoa nở". Những chiếc gối tựa dài và cứng cùng chất liệu được xếp ngay ngắn, dựng thẳng sát vách tường ở phía sau chiếc ghế thấp. Chiếc bàn lùn khảm xà cừ nằm trong tầm tay với đặt ngay bên ghế dài, và trên một chiếc bàn bày một mâm vàng đựng lọ pha lê chứa mứt dâu tây, cùng một ly nước lưng lửng có chiếc thìa vàng ở bên trong. Ngay góc bên phải của chiếc ghế dài chính là Khanum.

Trang phục của cụ bà hoàn toàn tương phản với khung cảnh xung quanh. Bà mặc một chiếc áo thụng màu xâu lòng tôm không rõ hình dáng, rất rộng và chỉ nhún nhẹ ở eo. Khi ngồi tựa người giữa những chiếc gối, đôi chân giấu kín bên dưới, bà trông giống như được bọc trong một chiếc túi màu nâu, từ đó nhô ra cái đầu và đôi bàn tay. Đôi bàn tay vô cùng nhỏ nhắn và trắng trẻo, trông như thể của một thiếu nữ, nhưng cái đầu lại là của một bà già lọm khọm. Balsamides kinh ngạc trước vẻ xấu xí và biểu cảm kỳ lạ trên gương mặt bà. Bà không trùm đầu, và dải gấu lụa quanh cổ lẽ ra phải che đi khuôn mặt, nay thậm chí còn chẳng che nổi chiếc cằm. Mái tóc đen tuyền bất chấp tuổi tác, được cắt ngắn đến mức vừa chạm cổ áo, cứ thế xõa thẳng xuống hệt như tóc của người da đỏ châu Mỹ, chải ngược từ chiếc trán vàng vọt cao vút, rồi rủ xuống hai bên tai và gò má cứng đờ như bờm ngựa khi bà chồm người về phía trước. Đôi mắt cũng đen láy, mọc sát nhau đến mức tạo cho bà một biểu cảm vô cùng khó ưa, trong khi hàng lông mày rậm hơi xếch lên từ sống mũi hướng về phía thái dương. Sống mũi dài, thẳng và nhọn nhưng rất mỏng; còn hai bên cánh mũi vốn từng nở nang và nhạy cảm nay đã hóp lại và nhăn nheo vì tuổi già cùng những cảm xúc mãnh liệt. Gò má hóp sâu và ngả vàng hệt như tấm da cừu non uốn cong của một bản thảo cổ, chi chít những nếp nhăn dọc ngang, khiến cho chỉ một cử động nhỏ trên khuôn mặt cũng đủ xóa đi lớp nếp nhăn sâu này để rồi hiện ra một mạng lưới nếp nhăn mới đầy bất ngờ khác. Môi trên dài và trỏm xuống, trong khi khóe miệng mỏng cong ngược lên trong một nụ cười khó chịu, tựa như nụ cười vương trên đôi môi dài hẹp của một con rắn độc đã chết. Sự kết hợp khó ưa ấy khép lại bằng một chiếc cằm ngắn nhưng nhô hẳn ra, biểu lộ một ý chí quả quyết và không bao giờ lay chuyển. Sắc mặt vàng vọt ghê rợn càng làm cho vẻ sáng ngời bất thường của đôi mắt hạt cườm thêm phần quái dị.

Đánh giá qua diện mạo, bà chẳng còn sống được bao lâu nữa, và Balsamides nhận ra điều đó ngay khi vừa bước vào hiện diện trước mặt bà. Đó không phải là một cơn sốt; cũng chẳng phải thứ bệnh đột ngột nào đánh gục bà, tước đi sức lực, tiếng nói và ý thức. Bà đang chết dần vì một căn bệnh hiểm nghèo âm ỉ, gặm nhấm cơ thể nhưng không làm suy kiệt năng lượng của trí não, và nay đã bước vào giai đoạn cuối. Bà có thể sống thêm một tháng, hoặc cũng có thể chết ngay trong đêm nay, nhưng hồi kết đã kề cận. Với ý chí sắt đá của một mụ già độc đoán, bà vẫn duy trì vẻ bề ngoài cho đến phút chót, khăng khăng đòi được khiêng ra đại sảnh và đặt lên vị trí danh dự trên chiếc ghế dài để tiếp đón vị y sư. Quả thực, suốt nhiều ngày qua, bà chẳng để cho đám nô lệ trong hậu cung được một phút yên ổn, bắt họ khiêng mình từ góc nhà này sang góc nhà khác với hy vọng hão huyền tìm được chút thuyên giảm khỏi nỗi đau đớn đang giày vò. Suốt cả đêm, những căn phòng lớn đều được thắp sáng rực. Ngày cũng như đêm, đám nô lệ kiệt sức trong nỗ lực làm bà khuây khỏa: cô gái người Circassian được đào tạo bài bản đọc báo cho bà nghe, hoặc ngâm nga từng chương dài trong tiểu thuyết *Những người khốn khổ* của Victor Hugo, một trong số ít tiểu thuyết ngoại quốc được dịch sang tiếng Thổ Nhĩ Kỳ; những vũ công almehs múa hát theo tiếng đàn luýt nhỏ; hết nhóm nô lệ da đen này đến nhóm khác lần lượt mang tới mọi thứ đồ nhắm do sự khéo léo của đầu bếp người Dalmatia nghĩ ra; toàn bộ dinh cơ chìm trong sự xao động không ngừng, và trong những ngày qua, họ hiếm hoi lắm mới chớp mắt được vài phút nghỉ ngơi bất an khi Khanum chìm vào giấc ngủ ngắn ngủi, chập chờn. Tình cờ là suốt đời Laleli căm ghét á phiện, và bà nhạy bén đến mức nhận ra ngay sự hiện diện của nó trong một viên kẹo ngọt hay một cốc nước chanh đường, để rồi giờ đây, khi việc dùng nó đáng lẽ có thể xoa dịu những đớn đau tột cùng, thì chẳng một thành viên nào trong gia nhân dám dũng cảm dâng lên cho bà. Những ngày đêm mất ngủ của bà trôi qua trong nỗ lực vô tận nhằm tìm kiếm sự xao lãng khỏi nỗi đớn đau, và cứ mỗi giờ trôi qua, việc thỏa mãn cơn khát khao thay đổi và tiêu khiển của bà lại càng trở nên khó khăn hơn.

Balsamides bước lên, đưa tay chạm lên miệng rồi trán; rồi tiến lại gần hơn, ông chờ đợi lời mời ngồi từ phía bà. Cụ bà thực hiện một cử động yếu ớt, suýt như bị liệt bởi bàn tay trắng ngọc ngà gầy gò, và Gregorios tiến đến, an tọa trên chiếc ghế dài cách xa bệnh nhân một khoảng.

"Bệ hạ đã sai ngươi đến?" bà cất lời hỏi, từ từ quay đầu và dán đôi mắt hạt cườm lên gương mặt ông. Giọng bà yếu ớt và khàn đợt, hầu như không vượt quá mức thì thầm.

"Đó là ý nguyện của Bệ hạ, muốn tôi dùng y thuật để níu giữ bàn tay tử thần," Balsamides đáp. "Bệ hạ vô cùng đau lòng khi hay tin Khanum Effendi lâm bệnh."

"Lòng biết ơn của ta sâu sắc tựa đại dương," Laleli Khanum nói, nhưng khi bà cất lời, nụ cười hình con rắn lại ngoằn ngoèo uốn lượn trên đôi môi nhăn nheo. "Ta tạ ơn Bệ hạ. Thời của ta đã đến—đó là kadèr, là số mệnh của ta. Chỉ có Allah mới cứu nổi ta. Chẳng ai khác có thể giúp được gì."

"Dẫu vậy, dẫu cho có là vô ích, tôi vẫn phải thử sức mình, thưa Khanum Effendim," Balsamides nói.

"Y thuật của ngươi là gì chứ?" người phụ nữ bệnh tật khinh miệt hỏi. "Ngươi có thể dùng lửa thiêu đốt ta, rồi nhào nặn ra một Laleli mới từ đống tro tàn của xương cốt ta chăng?"

"Không," Gregorios đáp, "tôi không thể làm thế, nhưng tôi có thể làm dịu cơn đau của bà, và biết đâu bà có thể hồi phục."

"Nếu ngươi làm dịu được cơn đau, ngươi sẽ giàu to. Nhưng ngươi không làm nổi đâu. Chỉ có Allah mới vĩ đại!"

"Nếu Khanum cho phép người bộc của ngài được lại gần và chạm vào tay bà..." Balsamides nhún nhường gợi ý.

"Gelinis, lại đây," Laleli lầm bầm. Nhưng bà kéo chiếc khăn voan màu xanh nhạt quấn quanh cổ lên cao hơn một chút để che đi miệng mình. "Cái thể xác đê tiện này là gì mà còn phải dè dặt không cho kẻ vô đạo chạm vào? Thuốc của ngươi là gì hỡi kẻ ngoại đạo? Liệu cái chạm từ bàn tay vô đạo của ngươi, thứ hằng ngày ngươi vẫn dùng để làm dấu trước các bức tượng, có thể chữa khỏi bệnh cho đứa con gái của vị tiên tri đấng Tối Cao chăng?"

Balsamides đứng dậy khỏi chỗ ngồi và tiến đến bên bà. Bà co rúm người lại trong chiếc áo thụng màu xâu lòng tôm hình chiếc túi, do dự một lúc trước khi chìa bàn tay nhỏ xíu ra, và ánh mắt biểu lộ sự ghê tởm khôn tả. Nhưng cuối cùng bà cũng giơ những ngón tay ra, và Gregorios đã thành công khi bắt được cổ tay bà. Nhịp đập vô cùng dồn dập, rung rinh rồi lịm đi ở nhịp thứ tư hoặc thứ năm.

"Khanum đang chịu đựng cơn đau rất lớn," Gregorios nói. Quả thật ông thấy bà đang ở trong trạng thái vô cùng suy kiệt và thầm nghĩ bà chẳng thể cầm cự được bao lâu.

"Phải, những đớn đau của Địa ngục đang bủa vây lấy ta," bà đáp bằng thứ giọng khàn đợt, đồng thời run lên bần bật, mồ hôi rịn ra lạnh ngắt trên trán vàng vọt.

Gregorios lấy từ trong túi ra một chiếc hộp nhỏ. Đó là cỗ máy cải biến ma thuật của vị y sư hiện đại.

"Chỉ một mũi kim châm thôi," ông nói, "và cơn đau của bà sẽ chấm dứt. Nếu Khanum đồng ý?"

Bà đang oằn mình trong cơn đau đớn dữ dội đến mức không thốt nên lời. Gregorios lấy ra từ hộp thuốc một chiếc ống tiêm tí hon cùng một lọ nhỏ đựng chất lỏng không màu. Chỉ trong nháy mắt, ông đã châm thủng lớp da trên tay Laleli và tiêm vào một lượng morphine nhỏ—quả thực là một lượng vô cùng nhỏ, bởi dung dịch khá loãng. Nhưng hiệu quả mang lại gần như tức thì. Khanum mở to đôi mắt đen láy, sự co rút trên khuôn mặt nhăn nheo nhường chỗ cho biểu cảm tự nhiên hơn, và bà dần mang vẻ bình yên, nhẹ nhõm, báo hiệu cho Gregorios biết loại thuốc đã phát huy tác dụng. Ngay cả giọng nói của bà cũng bớt khàn và rõ ràng hơn khi cất lời lần nữa.

"Ta khỏi rồi!" bà thốt lên trong sự kinh ngạc bất chợt. "Cơn đau biến mất rồi—tạ ơn Allah, cơn đau đã biến mất, ngọn lửa đã bị dập tắt! Ta sẽ sống! Ta sẽ sống!"

Chẳng một lời cảm ơn nào dành cho Gregorios thốt ra từ đôi môi bà. Đặc tính của người phụ nữ này là bà chỉ bày tỏ sự thỏa mãn của bản thân trước sự nhẹ nhõm vừa nhận được, mà không hề mảy may có chút lòng biết ơn nào với vị y sư. Bà vỗ hai bàn tay gầy gò vào nhau, và một nữ nô lệ da đen xuất hiện, một trong số những kẻ được gọi là halaïk, hay "sinh vật". Khanum ra lệnh mang cà phê và tẩu thuốc chibouques. Bà chưa bao giờ chấp nhận loại thuốc lá điếu hiện đại.

"Sự thuyên giảm đến ngay tức khắc," Balsamides nhận xét, cẩn thận cất lại ống tiêm và lọ thuốc vào chiếc hộp nhỏ rồi đút vào túi.

Old woman hỏi nhỏ, giọng hạ thấp: "Nói cho ta biết, đó có phải ma thuật của người Frank không?"

"Phải, mà cũng không phải," Gregorios đáp, sẵn lòng nương theo sự mê tín của bà. "Đúng là nó vô cùng huyền bí, và kẻ dùng nó phải có bàn tay sạch sẽ cùng một trái tim dũng cảm. Quả thực, người hưởng lợi từ phương thuốc cũng phải như vậy. Bằng không nó sẽ chẳng thể kéo dài. Những tội lỗi đè nặng lên tâm hồn có quyền năng gặm nhấm thể xác, và nếu không có sự sám hối, không có biện pháp nào để chuộc lại lầm lỗi, những thuộc tính ma thuật của chất lỏng sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt bởi thứ ma thuật hùng mạnh hơn của quỷ Satan."

Khanum lo lắng nhìn Balsamides khi ông nói. Đúng lúc đó, nữ nô lệ da đen quay lại, mang theo hai tách cà phê nhỏ, trong khi hai cô gái khác, y hệt cô đầu tiên, theo sau với hai chiếc tẩu chibouques đang cháy, một chiếc vạc mangál đựng đầy than hồng, hai chiếc đĩa đồng nhỏ để kê bầu tẩu khỏi làm cháy thảm, và một chiếc kẹp gắp than nhỏ bằng thép cẩn vàng. Theo một ra hiệu, ba người hầu lặng lẽ lui ra. Khanum háo hức nhấp ngụm cà phê nóng, rồi áp ống ngậm bằng hổ phách khổng lồ vào môi, bắt đầu rít khói. Gregorios làm theo gương bà.

"Ngươi nói cái gì mà quỷ Satan hủy hoại sức mạnh thuốc men của ngươi cơ chứ?" Laleli chốc lát sau cất tiếng hỏi.

"Đó là sự thật, thưa Khanum Effendim," Balsamides nghiêm trang đáp. "Do đó, nếu bà muốn được chữa lành, hãy sám hối tội lỗi, và nếu bà đã làm điều gì tội lỗi, hãy hạ lệnh chuộc lại nếu có thể. Bằng không, cơn đau sẽ trở lại, và tôi không cứu nổi bà."

Laleli khinh miệt hỏi: "Ngươi là một kẻ ngoại đạo mà dám giảng giải cho ta nghe về sự sám hối ư? Trong lúc ngươi cố gắp cái dăm gỗ ra khỏi mắt ta, ngươi lại chẳng nhìn thấy cái xà nhà to tướng đang cắm trong mắt mình."

"Dẫu vậy, nếu bà không sám hối thì thuốc của tôi cũng chẳng thể chữa lành cho bà," Gregorios điềm tĩnh đáp.

"Ta có tội gì mà phải sám hối? Ngươi tìm ra được tội lỗi của ta chắc?"

"Việc tôi không tìm ra được không hề làm mất đi sự cần thiết phải sám hối của bà. Thời gian chẳng còn nhiều. Nếu trái tim bà không thanh sạch, chẳng mấy chốc bà sẽ lại oằn mình trong nỗi đớn đau tồi tệ hơn lúc tôi vừa dứt cơn đau cho bà."

"Rồi chúng ta sẽ thấy," Khanum phản bác, những đường nét trên mặt nhăn nhúm lại trong một nụ cười khinh miệt. "Ta nói cho ngươi biết ta hoàn toàn khỏe mạnh. Ta đã bình phục."

Nhưng bà vừa dứt lời, vừa phả một luồng khói thơm ngào ngạt vào bầu không khí tĩnh lặng của căn phòng ngập tràn ánh sáng, thì nụ cười bắt đầu phai nhạt. Balsamides chăm chú quan sát bà, và thấy biểu cảm đau đớn cũ từ từ quay trở lại trên gương mặt ấy. Ông không ngờ nó lại diễn ra sớm đến vậy, nhưng vì sợ gây ra cái chết nên ông đã tiêm một liều morphine rất nhỏ, hơn nữa căn bệnh đã ở giai đoạn quá nặng. Tuy nhiên, dẫu hoảng sợ khi cảm nhận thấy cơn dữ dội bấy lâu nay đang quay trở lại sau một khoảng nghỉ ngắn ngủi, Laleli vẫn dũng cảm cố giấu đi sự đớn đau, kẻo lại lộ ra vẻ thừa nhận rằng gã ngoại đạo đã đúng, và chính sự hiện diện của ác quỷ trong tim đã ngăn cản thuốc phát huy tác dụng trọn vẹn. Dần dần, khi bà tiếp tục hút thuốc trong im lặng, Gregorios thấy căn bệnh đã một lần nữa giành quyền áp đảo và bà đang chật vật kiểm soát cơ mặt. Ông vờ như không nhận ra sự thay đổi và triết lý chờ đợi kết quả tất yếu. Cuối cùng người phụ nữ bất hạnh không thể chịu đựng thêm được nữa; chiếc tẩu rơi khỏi bàn tay run rẩy, và mồ hôi đầm đìa trên trán.

"Ta tự hỏi liệu có chút sự thật nào trong những điều ngươi nói không!" bà thốt lên, giọng đứt quãng vì cơn đau mà bà nhất quyết không chịu thừa nhận.

"Chối cãi cũng vô ích," Balsamides đáp. "Khanum Effendim đã bắt đầu đau đớn rồi đấy."

"Không, ta không hề!" bà nghiến răng nói. Nhưng mồ hôi vẫn ròng ròng chảy xuống gò má hóp sâu. Bỗng nhiên, không thể giấu nổi cơn đau đớn khủng khiếp đang gặm nhấm lồng ngực, bà thét lên một tiếng ngắn, khàn đợt, rồi ngả người ra sau rồi chồm về phía trước.

"Đúng là thế," Balsamides lạnh lùng nhìn bà, không dịch chuyển khỏi chỗ ngồi trong lúc phả những làn khói thuốc vào bầu không khí ấm áp. "Thuốc của tôi chẳng có tác dụng gì khi tâm hồn tối tăm và bệnh hoạn bởi một hành động đen tối."

"Thuốc đâu?" người phụ nữ khốn khổ kêu lên, lắc lư qua lại trong cơn đớn đau. "Đâu rồi? Đưa cho ta nữa đi, bằng không ta chết mất!"

"Nó chẳng thể giúp gì cho bà trừ khi bà thú nhận tội lỗi," vị đao phủ của bà dửng dưng đáp.

"Nhân danh Allah! Ta sẽ thú nhận tất cả, kể cả với ngươi, một kẻ ngoại đạo, miễn là ngươi cho ta được bình yên trở lại!" Laleli hét lên. Cảm giác nghỉ ngơi chớp nhoáng càng khiến cơn đau trở nên lớn hơn gấp bội so với trước.

"Nếu bà làm thế, tôi sẽ cố cứu bà," Balsamides đáp, lấy chiếc hộp từ trong túi ra. Ông không hề ngờ tới lợi thế mình đạt được thông qua sự kết hợp giữa tính cả tin và nỗi đau đớn cùng cực của mụ già; nhưng theo phong thái lạnh lùng quen thuộc, ông quyết định tận dụng nó đến cùng. Laleli thấy ông lấy ống tiêm ra từ hộp, đôi mắt ánh lên sự mong chờ được giải thoát tức thì.

"Nói đi," Gregorios cất lời,—"thú nhận tội lỗi của bà đi, và bà sẽ được bình yên."

"Ta phải thú nhận cái gì?" mụ già hỏi, hau háu dán mắt vào món dụng cụ bé xíu trong những ngón tay ông.

"Điều này," Balsamides hạ giọng đáp. "Bà phải kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra với một Effendi người Nga tên là Alexander, kẻ mà bà đã ra lệnh bắt giữ vào một đêm trong tuần lễ cuối cùng của"——

Laleli lại thét lên và oằn mình, rõ ràng đang chịu đựng nỗi đau lớn hơn bao giờ hết.

"Thuốc!" bà thì thào gần như không thành tiếng.—"Nhanh lên—ta không nói nổi nữa——ta đang chết vì đau đây." Mồ hôi tuôn xối xả trên khuôn mặt vàng vọt nhăn nheo, và Balsamides sợ rằng hồi kết đã điểm.

"Bà phải nói trước đã, bằng không sẽ chẳng ích gì," ông nói. Nhưng ông nhanh chóng bơm đầy ống tiêm và chuẩn bị lặp lại thao tác cũ.

"Ta không thể," Laleli rên rỉ. "Ta chết mất!—nhanh lên! Rồi ta sẽ kể."

Một y sư thực thụ có thể nhận biết người phụ nữ có thực sự đang hấp hối hay không, nhưng kiến thức của Balsamides chưa đạt đến trình độ ấy. Không chần chừ thêm nữa, ông châm vào tay bà và tiêm một lượng nhỏ, nhiều hơn lần trước một chút xíu. Hiệu quả không đến ngay tức thì như trước, nhưng cũng xuất hiện sau vài giây. Những dấu hiệu đau đớn cùng cực biến mất khỏi khuôn mặt Khanum, và bà một lần nữa ngước nhìn lên.

"Thuốc của ngươi tốt thật, đồ ngoại đạo," bà nói với một tiếng cười nhạt khinh miệt. Nhưng giọng bà vẫn rất yếu và khàn.

"Nó sẽ không cứu được bà trừ khi bà thú nhận chuyện gì đã xảy ra với gã người Frank," Gregorios nói, cất lại dụng cụ vào hộp và nhét hộp vào túi.

"Ta thừa sức bắt ngươi ở lại đây và ép ngươi phải chữa bệnh cho ta," bà đáp với một nụ cười độc ác. "Ngươi nghĩ mình có thể rời khỏi nhà ta mà không có sự cho phép của ta chắc?"

"Dễ ợt," Balsamides điềm tĩnh đáp. "Tôi đến đây không phải không có người bảo vệ. Sĩ quan tùy giáp của Bệ hạ đang đợi bên ngoài. Bà sẽ thấy việc bắt giữ anh ta không dễ dàng chút nào đâu."

"Ai mà biết được?" Laleli thốt lên. "Điều duy nhất ngăn cản ta giữ ngươi lại chính là việc ta thấy ngươi còn rất ít thuốc. Đó là một thứ thuốc hay. Nhưng ta không tin câu chuyện sám hối của ngươi đâu. Nó có thể dùng được với bọn người Frank; chứ chẳng thấm vào đâu với một đứa con gái của vị Tiên tri chân chính."

"Rồi bà sẽ thấy. Nếu muốn tránh thêm đau đớn, tôi khuyên bà nên khai ra chuyện gì đã xảy ra với Alexander Patoff, và khai cho nhanh lên. Tôi đã sai khi cho bà dùng thuốc trước khi thú nhận, nhưng nếu bà từ chối, tôi vẫn còn một loại thuốc khác sẵn sàng thuyết phục bà."

"Ta biết gì về đám chó má ngoại đạo người Nga tụi ngươi cơ chứ?" mụ già phẫn nộ đáp lại.

"Bà thừa rõ câu trả lời cho câu hỏi của tôi. Nếu trong vòng năm phút tới bà không nói cho tôi những gì tôi muốn biết, tôi sẽ cho bà biết thứ thuốc kia là gì."

Laleli chìm vào sự im lặng đầy khinh miệt. Cơn đau của bà đã đỡ hơn, nhưng bà tức giận trước thái độ của vị y sư. Balsamides lôi đồng hồ ra và bắt đầu đếm phút. Có một sự im lặng chết chóc bao trùm đại sảnh rộng lớn, nơi những ngọn đèn vẫn cháy rực rỡ, trong khi những làn khói thuốc lá dày đặc lững lờ quấn quanh những chùm đèn và gương soi. Cả hai ngồi nhìn nhau. Đối với mụ già, khoảng thời gian dài đằng đẵng như thế kỷ, nhưng liều thuốc lần này mạnh hơn và bà đã tạm thoát khỏi những cơn đau. Cuối cùng Balsamides gập đồng hồ lại và đút vào túi.

"Bà có chịu nói hay không, chuyện gì đã xảy ra với Alexander Patoff, kẻ mà bà đã ra lệnh bắt giữ tại hoặc gần nhà thờ Agia Sophia vào một đêm trong tuần lễ cuối cùng của tháng Ramazán trước nữa?"

Đôi mắt hạt cườm của Laleli dán chặt vào ông khi ông nói, mang theo vẻ ngạc nhiên, pha lẫn sự tò mò và đượm đà sự khinh miệt.

"Ta không biết gì về hắn cả," bà quả quyết đáp. "Ta chưa từng sai ai bắt hắn. Ta chưa từng nghe đến tên hắn."

"Vậy thì đây là thuốc của tôi," Gregorios lạnh lùng nói. "Đó là một thứ thuốc khủng khiếp. Hãy lắng nghe thánh ý của Bệ hạ Hunkyar." Ông đứng dậy, áp tài liệu lên môi và trán.

"Cái gì!" Laleli thét lên trong nỗi kinh hoàng bất chợt, giọng nói bỗng trở nên mạnh mẽ vì sợ hãi.

"Đây là chiếu chỉ, đề ngày hôm nay, ra lệnh bắt giữ Laleli Khanum Effendi và áp giải bà đến một nơi an toàn, nơi bà sẽ chờ đợi những mệnh lệnh tiếp theo của Bệ hạ."

"Giả mạo," Khanum lẩm bẩm. Nhưng những ngón tay trắng bệch cứ bấu víu vào nhau đầy lo lắng. "Đó là giả mạo."

"Giả mạo ư," Balsamides lạnh lùng khinh bỉ đáp, "đến mức viên tùy giáp đang đợi sẵn bên ngoài, và một đội kỵ binh đang túc trực theo tiếng gọi để áp giải bà đến nơi an toàn đã nêu. Tôi hoàn toàn có thể ép bà áp ngự bút của Bệ hạ lên trán và theo tôi ra xe, nếu tôi muốn."

"Chỉ có Allah mới vĩ đại!" Khanum rên rỉ, đầu gục xuống ngực trong tuyệt vọng. "Kadèr—đó là số mệnh của ta."

"Nhưng nếu bà giao nợ gã này còn sống cho tôi, tôi sẽ cứu bà khỏi tay cả Hunkyar. Tôi sẽ nói rằng bà quá bệnh để có thể di dời khỏi nhà—trừ khi tôi cho bà dùng thuốc của mình," ông nói thêm, tiếp tục nịnh bợ những hy vọng cuối cùng của bà.

"Cho ta thời gian. Ta chẳng biết gì cả—ta phải nói gì đây?" Laleli lầm bầm không rõ ý, những ngón tay gầy gò bấu víu vào lớp vải của chiếc áo thụng màu xâu lòng tôm, trong khi cúi đầu xuống, mái tóc ngắn, thô và đen sì rủ xuống đôi má vàng vọt, che khuất biểu cảm khỏi tầm nhìn của Gregorios.

"Bà chẳng còn nhiều thời gian đâu," ông đáp. "Cơn đau sẽ sớm ập đến dữ dội hơn trước. Nếu tôi bắt giữ bà, bản án dành cho bà sẽ là lưu đày sang Ả Rập—không phải vì tội ác này, mà vì tội ác trước kia mà bà tưởng đã được tha thứ. Nếu tôi để bà ở lại đây mà không cứu giúp, bản án tôi dành cho bà là đớn đau, đớn đau và dằn vặt cho đến khi bà chết. Nó đang quay trở lại rồi kìa; tôi nhìn thấy trên mặt bà đấy."

"Ta phải có thời gian suy nghĩ," Laleli nói, sự kiên định cũ quay trở lại, như thường lệ trong những thời điểm ngặt nghèo. Bà ngước lên, hất mái tóc ra sau. "Ngươi cho ta bao nhiêu thời gian?"

"Cho đến khi ánh bình minh ló dạng vệt xám trên bầu trời phía trên Beikos," Gregorios đáp không chút do dự. "Nhưng vì lợi ích của chính bà, tốt hơn hết là nên quyết định sớm hơn."

Laleli im lặng. Bà hẳn phải có những lý do vô cùng kiên cố để từ chối tiết lộ bí mật về số phận của Alexander, bởi hình phạt cho sự im lặng là vô cùng khủng khiếp. Bà cảm thấy mình đang chết dần, nhưng morphine đã khơi dậy trong bà niềm hy vọng sống, và bà vẫn còn thiết tha sự sống. Thế nhưng sống mà chịu đựng đớn đau, trải qua những nỗi kinh hoàng của việc bị lưu đày sang Ả Rập, lê lết nỗi đau gặm nhấm qua những cồn cát sa mạc, lại là một viễn cảnh quá mức khủng khiếp không dám nghĩ tới. Khi tác dụng của liều thuốc cuối cùng nhạt dần và những đớn đau tái phát, bà nhận thức rõ tình cảnh của mình với một sự sống động hãi hùng. Dù vậy, bà vẫn cố gắng bình tĩnh và đánh lừa kẻ hành hạ mình cho đến phút chót. Nếu không cảm nhận được sự nhẹ nhõm vô bờ bến từ thuốc của hắn, bà đã ước gì chết quách đi cho rồi, nhưng bà đã nếm lại mùi vị của sự sống. Vấn đề là làm sao để bảo toàn sự sống mới này trong khi từ chối trả lời câu hỏi mà Gregorios đã đặt ra. Bà vốn rất thông minh, rất giỏi giang trong việc đối phó với khó khăn, rằng nếu chỉ cần thoát khỏi những đớn đau để tâm trí được tự do suy nghĩ mà không bị quấy rầy, bà vẫn hy vọng tìm ra lối thoát. Thế nhưng cơn đau đã bắt đầu quay lại. Chỉ vài phút nữa thôi, bà sẽ lại oằn mình trong đớn đau.

"Tôi sẽ đợi đến sáng—giờ chẳng còn mấy tiếng nữa," Balsamides nói sau một khoảng lặng. "Nhưng tôi nhiệt liệt khuyên bà hãy quyết định ngay lập tức. Bà đang bắt đầu đau đớn rồi đấy, và tôi cảnh báo bà rằng nếu không thú nhận, bà sẽ chẳng có lấy một viên thuốc nào đâu."

"Ta vẫn sống được trước khi ngươi tới," Laleli đáp. "Bây giờ ta vẫn có thể sống không cần nó, nếu đó là số mệnh." Giọng bà run lên bần bật, nhưng bà vẫn cố gắng hoàn thành câu nói bằng một nỗ lực lớn.

"Đó không phải là số mệnh của bà," Gregorios đáp. "Bà không thể sống thiếu nó đâu."

"Thế thì ít nhất ta cũng sẽ chết và thoát khỏi ngươi," bà rên rỉ; nhưng ngay cả trong tiếng rên ấy vẫn phảng phất một vẻ khinh miệt. Lần trước, bà thực chất đã phóng đại nỗi đau, giả vờ như đang hấp hối để có được sự xoa dịu mà không phải khai ra bí mật. Bà vẫn luôn đinh ninh rằng đến phút chót Balsamides sẽ mềm lòng vì sợ bà chết, và nhờ thế bà có thể chớp lấy những khoảng thời gian nghỉ ngơi để suy tính bước tiếp theo. Bà đâu biết được bản chất sắt đá của con người mà bà đang phải đối mặt.

"Bà không thể trốn thoát khỏi tôi đâu," Balsamides nghiêm nghị nói. "Nhưng bà có thể bớt phiền hà cho tôi bằng cách quyết định nhanh lên."

"Ta quyết định chết đây!" cuối cùng bà thét lên với một nỗ lực lớn. Bà lại rên rỉ, và bắt đầu lắc lư người trên ghế dài.

"Bà chưa chết được đâu," Gregorios khinh miệt nhận xét. Ông đã hiểu ra mình bị lừa vào lần trước và quyết định để mặc cho bà chịu đựng.

Quả thực, bà đang chịu đựng, và vô cùng khủng khiếp. Tiếng rên rỉ của bà lúc này mang một sắc thái khác, và rõ ràng bà không hề diễn kịch. Một sắc xanh tái bao trùm khuôn mặt, và bà há hốc mồm thở hổn hển.

"Nếu bà thực sự đau đớn," Balsamides nói, "hãy thú nhận đi, và tôi sẽ cứu giúp."

Nhưng Laleli lắc đầu, không ngước nhìn lên. Ông quy sự kiên định của bà cho ý đồ đánh lừa ông lần thứ hai bằng cách giả vờ chịu đựng trong im lặng còn hơn đem bí mật đổi lấy thuốc. Ông đứng nhìn, hoàn toàn dửng dưng trong vài phút. Cuối cùng bà ngẩng đầu lên, để lộ sắc mặt tái nhợt như chết.

"Thuốc!" bà thều thào.

"Lần này thì không, trừ khi bà thành khẩn thú nhận," Balsamides điềm tĩnh nói. "Tôi sẽ không để bị lừa lần nữa đâu."

Người phụ nữ khốn khổ ném về phía ông một cái nhìn van nài, miệng há hốc như đang muốn thốt lên điều gì. Nhưng ông nghĩ bà lại đang diễn kịch và không mảy may nhúc nhích khỏi chỗ ngồi.

"Bà thừa hiểu cái giá phải trả," ông nói, thong thả lấy chiếc hộp từ trong túi ra. "Khai ra những gì bà biết, và bà sẽ có tất cả, nếu muốn."

Đôi mắt mụ già ánh lên khi nhìn thấy chiếc hộp đựng thứ thuốc thèm khát. Môi bà mấp máy, chỉ phát ra những âm thanh không tròn vành rõ chữ. Rồi với một cử động co giật, bà bất ngờ bắt đầu cố lết người dọc theo chiếc ghế dài về phía Gregorios đang ngồi. Ông khinh bỉ nhìn bà. Bà rất yếu, khó nhọc di chuyển bằng cả tay lẫn chân, mái tóc thẳng xõa xượi quanh mặt, trong khi đôi mắt ánh lên dữ tợn và đôi môi mấp máy. Thỉnh thoảng bà dừng lại như thể kiệt sức, rên rỉ nặng nề trong cơn đớn đau. Thế nhưng Balsamides tin rằng đó chỉ là màn kịch nhằm hù dọa ông để bố thí cho liều thuốc, và ông vẫn ngồi yên một chỗ, tay cầm chiếc hộp và dán mắt vào bà.

"Bà không lừa được tôi đâu," ông lạnh lùng nói. "Mọi sự oằn oại này sẽ chẳng lay chuyển nổi tôi đâu. Bà phải nói ra bí mật, bằng không chẳng có gì hết."

Laleli vẫn lê lết tiến tới, miệng cố nói nhưng chỉ phát ra những âm thanh vô nghĩa. Khi bà đến gần ông hơn, vẫn trong tư thế bò bằng cả tay lẫn chân, Gregorios nghĩ chưa bao giờ mình chứng kiến cảnh tượng nào kinh hoàng đến thế. Mái tóc đen thẳng bết lại bởi mồ hôi trên khuôn mặt nhợt nhạt lạnh ngắt; một sắc xanh tái chết chóc bao trùm các đường nét trên mặt; cằm nhô dài về phía trước đầy thèm khát và đôi mắt lóe lên vẻ nguy hiểm, trong khi hàm răng lập cập không ngừng. Bà đã ở rất sát Balsamides. Giá như có đủ sức để vươn tay ra, bà suýt chút nữa đã có thể chạm vào chiếc hộp đen nhỏ bé mà ông đang cầm. Ông nghĩ cuối cùng thì bà đã quá gần, và siết chặt tay hơn vào chiếc hộp nhỏ.

"Thú nhận đi," ông nói thêm lần nữa, "và bà sẽ có nó."

Thêm một khoảnh khắc nữa bà cố gắng vùng vẫy tiến lên, vẫn không thành tiếng. Balsamides đứng dậy, lặng lẽ đút chiếc hộp vào túi, dự liệu một cuộc giằng co. Ông nào ngờ kết quả lại thành ra thế này. Sinh linh khốn khổ thét lên một tiếng ngắn ngủi, và một vẻ tuyệt vọng hoang dại hiện lên trong đôi mắt. Bỗng nhiên, khi đang bò trên ghế dài, bà chồm người dậy trên đôi đầu gối, chìa đôi tay gầy gò xương xẩu về phía ông.

"Đưa—đưa cho ta"—bà hét lên.—"Ta sẽ kể cho ngươi tất cả—hắn còn sống—hắn là—một ngườ—"

Đôi mắt đen trừng trừng bỗng chốc hóa trắng đục, và ngay lập tức gương mặt tái xanh như tro tàn. Một nỗ lực co giật cuối cùng—hàm trễ xuống, các cơ mặt giãn ra, chân tay rũ rượi, và Laleli Khanum ngã dúi về phía trước, úp mặt dài ngoằn ngoèo xuống lớp lụa màu đào của chiếc ghế dài.

Bà đã chết, và Gregorios Balsamides nhận thức rõ điều đó khi lật cái xác mềm oặt lại để bà nằm ngửa. Bà đã chết hẳn, nhưng ông không hề hoảng hốt hay sợ hãi; ông cảm thấy vô cùng thất vọng, hết lần này đến lần khác dùng gót giày giẫm mạnh xuống tấm thảm Siné dày cộp dưới chân. Mụ già gớm ghiếc này chết kiểu này hay kiểu khác thì có nghĩa lý gì với ông chứ? Bà đã mang theo bí mật xuống mồ. Xác bà cứ thế nằm đó trong chiếc áo thụng thùng thình màu xâu lòng tôm, dưới ánh đèn rực rỡ và những chiếc gương lộng lẫy, trên những chiếc gối lụa mịn màng, đôi mắt trắng dã trợn ngược, đôi bàn tay vẫn siết chặt trong cơn giãy chết, mái tóc thô bết dính vào thái dương ướ đẫm mồ hôi.

Chợt cái xác chuyển động, dường như hít thêm một—hai—ba nhịp thở hấp hối. Gregorios giật mình, cúi gập người xuống. Nhưng đó chỉ là hơi thở cuối cùng.

"Bah!" ông thốt lên nửa thành tiếng, "họ hay làm thế lắm." Quả thực, trong đời ông đã chứng kiến biết bao kẻ chết, trên chiến trường, trên giường bệnh nhà thương, trên giường ngủ ở nhà. Nhưng chưa bao giờ ông chứng kiến cái chết nào thế này, và ông ngẩn ngơ ngắm nhìn khuôn mặt người phụ nữ đã khuất thêm một thoáng nữa. Rồi toàn bộ cảm giác thất vọng ùa về, và ông vội vã sải bước rảo qua hành lang dài, dưới ánh đèn, giữa những tấm gương soi, mà không một lần ngoảnh đầu nhìn lại.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.