Paul Patoff

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V.

❊ ❊ ❊

Sáng sớm hôm sau, Paul lại lên đường đến Munich, Vienna và miền Đông, còn vào buổi chiều cùng ngày, Giáo sư Cutter và phu nhân Patoff cùng hai người hầu bước lên một cỗ xe rộng rãi, nơi họ đã định ngồi để đi đến Weissenstein, ngôi làng cuối cùng ở Rừng Đen trước khi tới Pforzheim. Theo đuổi kế hoạch du hành qua những cung đường ít người qua lại, vị giáo sư đã đề nghị nghỉ lại qua đêm tại chốn cổ kính xinh đẹp mà ông từng ghé thăm trước đây, với dự định ngày hôm sau sẽ đi tàu hỏa đến Carlsruhe và từ đó xuôi dòng sông Rhine.

Ông đã không gặp phu nhân Patoff vào buổi tối sau cuộc trò chuyện của bà với Paul, và khi gặp lại bà vào buổi sáng, ông chợt nhận ra thái độ của bà đã thay đổi rất nhiều. Bà rất ít nói, và khi cất lời thì chỉ bàn về những chuyện tầm phào. Bà không hề đả động gì đến cuộc gặp với con trai mình, và vị giáo sư nhận thấy rằng đây là lần đầu tiên bà để ngày trôi qua mà không một lần nhắc đến sự biến mất của Alexander. Ông quy sự im lặng này cho niềm xúc động sâu sắc mà bà đã cảm nhận khi trông thấy Paul, và cho mong muốn tự nhiên của bà là tránh mọi gợi nhắc về nỗi đau mà bà từng chịu đựng. Như thường lệ, bà để ông lo liệu mọi sự chuẩn bị cần thiết cho chuyến đi, thậm chí bà còn bày tỏ đôi chút hào hứng về chặng đường dài đi xuyên qua khu rừng. Rõ ràng bà đang mệt mỏi và căng thẳng, khuôn mặt tái nhợt hơn ngày thường, nhưng bà điềm tĩnh và trông không có vẻ gì là ốm yếu. Suốt buổi chiều dài, họ di chuyển qua con đường uốn lượn tuyệt đẹp, thưởng ngoạn phong cảnh, bàn tán về thiên nhiên và hít thở bầu không khí ngập tràn hương thơm lành mạnh của những rặng thông. Vị giáo sư là một người đồng hành thú vị, bởi ông đã đi lại rất nhiều ở miền Nam nước Đức, và đã làm phu nhân Patoff khuây khỏa bằng đủ thứ kiến thức kỳ thú về con người, những truyền thuyết gắn liền với các vùng miền khác nhau của Rừng Đen, những câu chuyện cổ tích bên dòng sông Rhine, cùng lịch sử của các nam tước trước khi Rudolf xứ Hapsburg tiêu diệt họ trong cuộc càn quét nhằm vào bọn cướp biển. Ông đan xen vào đó những giai thoại, những mẩu chuyện phiếm về sách vở và những lời bình phẩm về xã hội châu Âu; ăn nói lưu loát với sự am hiểu đáng kinh ngạc về các đề tài của mình, và duyên dáng đến mức phu nhân Patoff chưa bao giờ nhận ra rằng ông đang muốn làm bà vui vẻ và đang cố gắng hướng suy nghĩ của bà rời xa vấn đề duy nhất cứ mãi ám ảnh tâm trí bà. Quả thực, khi ở bên một phụ nữ từng trải sa hoa, vị giáo sư hoàn toàn khác hẳn con người nghiêm túc, thẳng thắn đã ăn tối cùng Paul vào tối hôm trước. Ngay cả cặp kính gọng vàng của ông cũng được đeo với vẻ ít mang tính học thuật hơn. Bộ trang phục du lịch bằng vải tweed cắt may khéo léo chẳng hề gợi liên tưởng đến một nhà khoa học truyền thống, và khuôn mặt rám nắng, nam tính của ông giống một vận động viên thể thao hay một thành viên Câu lạc bộ An-pơ hơn là một học giả. Phu nhân Patoff ngả người ra sau ghế xe và thực sự tận hưởng những giờ phút ấy; bà thầm nghĩ rằng chưa bao giờ Cutter lại tỏ ra duyên dáng đến thế, và quả thực trong cuộc đời lâu dài của mình, bà đã gặp rất ít người sở hữu sức hút lớn lao đến vậy trong nghệ thuật trò chuyện. Bà là một phụ nữ lớn tuổi và có đủ khả năng đánh giá con người, bởi bà đã dành gần bốn mươi năm giữa lòng tầng lớp thượng lưu rực rỡ nhất châu Âu, và không dễ bị đánh lừa bởi những âm thanh của thứ kim loại giả tạo.

Cuối cùng, họ cũng đến đoạn đường phải xuống xe và leo dốc lên Weissenstein. Phu nhân Patoff rất hài lòng với nơi này và đã thốt lên điều đó khi chầm chậm bước lên con đường nhỏ hẹp, tỳ tay vào cánh tay của vị giáo sư. Quán trọ—nhà trọ cổ Gasthaus zum Goldenen Anker—nằm ngay trên bờ vực thẳm phía trên dòng sông Nagold cuồn cuộn chảy, và thực ra một phần được xây khoét sâu vào vách đá. Những căn phòng đã được đục đẽo để khung cửa sổ của chúng nhìn thẳng xuống dòng sông từ độ cao tuyệt đối hai trăm feet, bề mặt của bức tường tự nhiên ấy chỉ bị phá vỡ đây đó bởi một gờ đá nhô ra, hoặc bởi thân cây anh đào dại uốn lượn cứng cáp, chẳng hiểu bằng cách nào vẫn tìm đủ đất và độ ẩm ở đó để nuôi dưỡng sự sống kiên cường của mình. Quán trọ rất nguyên sơ, nhưng lại thoải mái theo lối giản dị của nó, và phong cảnh thì đẹp đến mức tuyệt trần. Phía dưới xa kia, bên kia dòng nước xiết, ngôi làng nhỏ nép mình giữa những rặng thông đen thẫm, ngọn tháp đơn độc của nhà thờ bé nhỏ vươn cao nổi bật giữa những mái tranh xung quanh. Phía trên, đỉnh đồi được bao bọc bởi tàn tích của lâu đài cổ Weissenstein,—lâu đài của Bellrem, vị hiệp sĩ Thập tự chinh, kẻ đã ngã từ những bức tường thành cao chót vót xuống vào một đêm trăng sáng thế kỷ thứ mười hai, vì khiếp sợ bóng ma của một người phụ nữ mà ông từng yêu và phụ bạc. Ít nhất thì truyền thuyết kể thế, và vì những bức thành đổ nát vẫn còn nằm đó nên có lẽ mọi chuyện đều hoàn toàn là sự thật. Phía sau ngọn đồi, nơi con đường nhỏ dẫn từ quán trọ xuống đường cái, làn nước tĩnh lặng và sâu thẳm của hồ chứa nước nhà máy nằm tù đọng trong bầu không khí oi bức, và những con nhện nước chân dài lướt nhanh trên mặt nước, mời gọi những con cá chép già đớp mồi dẫu thừa biết chúng sẽ chẳng mờ chân tới, mà chỉ vút đi như điên dại khi một con cá hồi suối, lỡ lạc từ dòng sông qua các cửa cống, bất ngờ ngoi lên mặt nước với một tiếng tõm ngắn gọn, sắc lẹm. Nhưng ngoài kia có đầy ruồi cho cá hồi, và chúng thích ruồi hơn, thế nên nhìn chung những con nhện nước vẫn có một cuộc sống yên bình và không bị quấy rầy.

Những vị lữ khách bước vào quán trọ và nhanh chóng ổn định chỗ ở qua đêm. Phu nhân Patoff vẫn bị mê hoặc bởi khung cảnh và nằng nặc đòi ra ngồi ngoài chiếc ban công thấp cho đến tận khuya muộn, dẫu không khí rất lạnh và hơi ẩm từ dòng sông bốc lên. Có cái gì đó ở chốn hoang sơ này đã xoa dịu tâm hồn bà. Bà suýt ước gì mình có thể ở lại đây mãi mãi và che giấu nỗi buồn của mình khỏi thế gian trong một chiếc tổ thế này, treo lơ lửng trên dòng nước dữ, vút cao giữa không trung và được bao bọc bốn bề bởi khu rừng đen dịu ngọt. Bởi Rừng Đen quả thực đen thẫm, theo cách mà chỉ những khối thường xanh dày đặc không tài nào xuyên thấu mới có được.

Vào lúc sáng sớm, vị phu nhân lớn tuổi mặc đồ đen lại túc trực ở chỗ ngồi quen thuộc trên ban công khi Giáo sư Cutter xuất hiện. Bà ngồi bên bức tường chắn thấp, đẫn đờ ngắm nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy bên dưới và người đánh cá cô độc đang đứng chân trần trên một mỏm đá nhô ra, vung chiếc cần câu thô kệch xuống dòng nước xoáy. Bà điềm tĩnh hơn nhiều so với vẻ bề ngoài suốt bấy lâu nay, và vị giáo sư bắt đầu nghiêm túc hoài nghi về sự khôn ngoan khi đưa bà đến nước Anh, dẫu ông đã viết thư cho người em rể của bà và nêu rõ ngày họ dự kiến sẽ đặt chân tới.

- Chúng ta có nên lên đường vào sáng nay không? - ông hỏi bằng một giọng hoàn toàn để phu nhân Patoff tự quyết định.

- Đi đâu? - bà hỏi với vẻ mơ màng.

- Một chặng nữa trên hành trình về nhà của chúng ta, - vị giáo sư đáp.

- Vâng, - bà nói với một quyết tâm đột ngột. - Nếu chúng ta cứ ở lại đây lâu hơn nữa, tôi sẽ đem lòng yêu nơi này mất và chẳng bao giờ có thể rời đi được nữa. Hãy đi ngay thôi. Tôi có cảm giác như thể có điều gì đó sắp xảy ra ngăn cản chúng ta vậy.

- Rất sẵn lòng. Tôi sẽ lo liệu mọi thứ. - Giáo sư Cutter lập tức đi bàn bạc với chủ trọ, để mặc phu nhân Patoff ở lại trên ban công. Bà cứ ngồi đó không nhúc nhích, đắm chìm trong vẻ đẹp của cảnh vật và hạnh phúc vì được quên đi những rắc rối dù chỉ trong khoảnh khắc trước một khung cảnh hoàn toàn mới lạ. Tâm trí bà quả thực đang rối bời. Mới chỉ ngày kia thôi, bà đã gặp lại con trai Paul sau nhiều năm xa cách, và riêng điều đó thôi cũng đủ làm xáo trộn lòng bà. Bà chưa từng thích nó—bà chẳng thể nói rõ tại sao, trừ phi là vì bà yêu Alexander nhiều hơn—và bà không sao ngừng nhìn nhận Paul như kẻ đã cướp mất đi của bà những gì yêu quý nhất trên đời. Nhưng ký ức về cuộc gặp gỡ ấy thật mờ mịt và bất định. Bà đã buông thả theo một cơn giận dữ bộc phát và không hoàn toàn chắc chắn về những gì đã xảy ra. Bà cố gạt bỏ tất cả khỏi bộ não mệt mỏi của mình và cúi xuống nhìn người đánh cá ở tận phía dưới xa. Ông ta đã dịch chuyển đôi chút, và đúng lúc ấy bà chỉ có thể nhìn thấy ông qua những kẽ lá của một cành anh đào nhô ra. Ông hình như đang mồi móc cho lần quăng câu tiếp theo xuống dòng sông.

- Phu nhân Patoff, bà đã sẵn sàng chưa? - giọng vị giáo sư cất lên từ phía cửa sổ.

- Vâng, - bà nói, đứng dậy. - Tôi tới đây.

- Chờ một lát—tôi đang trả tiền phòng, - Cutter đáp từ bên trong; và phu nhân Patoff có thể nghe thấy chủ nhà đang đếm những đồng tiền lẻ trên một chiếc đĩa, tiếng bạc lanh lanh và tiếng lách cách đục ngầu của những đồng mười pfennig bằng kiken.

Bà lúc này đang đứng thẳng người, phóng tầm mắt qua dòng nước xiết sang khu rừng đen thẫm ở phía bên kia, cố gắng khắc ghi khung cảnh tuyệt đẹp ấy vào tâm trí và tìm cách quên đi muộn phiền. Nhưng nó không tài nào chịu phai mờ, và khi bà đứng lên, toàn bộ sự việc liên quan đến Paul lại hiện lên rõ mồn một trong trí óc. Bà nhớ lại tất cả niềm ghê tởm dành cho hắn, tất cả sự kinh hoàng và cơn giận dữ cuồng nộ mà bà từng cảm thấy khi trông thấy hắn. Trong ký ức sắc bén về cuộc gặp gỡ cay đắng ấy, bị đẩy lên mức độ sống động gấp mười lần bởi trạng thái quá khích của bộ não, máu dồn lên mặt bà rần rần, đầu óc quay cuồng và bà đưa tay ra để giữ thăng bằng, đinh ninh rằng trước mặt mình có một thanh lan-ca. Thế nhưng bức tường chắn lại quá thấp, hầu như chưa tới đầu gối bà. Bà lảo đảo, mất thăng bằng và cùng một tiếng thét hoang dại, ngã nhào xuống vực sâu.

Cutter đánh rơi số tiền lẻ và cuồng cuộn lao tới cửa sổ, suýt chút nữa thì chính ông cũng ngã nhào qua bức tường chắn thấp. Khuôn mặt ông tái mét khi nhoài người ra phía trước và nhìn xuống dưới. Sau đó, ông thốt lên một tiếng kêu kinh hãi và có vẻ như định trèo qua lan can ban công. Chưa đầy mười feet phía dưới ông, người phụ nữ khốn khổ đang lủng lẳng vướng mắc vào những cành rậm rạp của cây anh đào dại, bị vướng lại bởi quần áo. Cutter thở dốc, bởi ông chưa từng chứng kiến cảnh tượng nào hãi hùng đến thế. Bất cứ lúc nào chất liệu váy áo của bà cũng có thể mục đứt, những cành cây có thể gãy dưới sức nặng khủng khiếp ấy. Ông hoảng loạn quay đầu tìm kiếm sự trợ giúp. Giữa ban công và những tán cây là mười feet đá trơn trượt, đến một con thằn lằn cũng chẳng thể bấu víu.

- Bắt lấy đây! - một giọng nói vang dội cất lên từ phía trên, và Cutter nhìn thấy một sợi dây thừng mới thả thòng xuống vực sâu trước mặt. Ông ngẩng phắt lên khi chộp lấy phương cứu sinh ấy, và nhìn thấy ở khung cửa sổ phía trên khuôn mặt vuông vức, sẫm màu của một người đàn ông vạm vỡ đang mặc áo sơ mi flannel và ngậm trên miệng chiếc tẩu gắn bạc.

- Kéo đi—nó chắc rồi, - người đàn ông nói, nới thêm dây. - Hoặc nếu anh sợ, tôi sẽ tự mình leo xuống bằng dây.

Nhưng Cutter không hề sợ hãi. Chỉ mất tích tắc để thắt một nút vòng thòng lọng lớn trên sợi dây Manilla mềm mại. Với sự nhanh nhẹn khiến người đàn ông sẫm màu phía trên phải ngạc nhiên ở một vóc dáng nặng nề như thế, vị bác sĩ thả người xuống ngang tầm cây; rồi tóm chặt lấy cánh tay người phụ nữ đang bất tỉnh, tự bám chắc vào các rễ cây anh đào sát vách đá để có thể đứng trụ trong chốc lát mà không cần sự nâng đỡ từ phía trên, ông khéo léo quấn sợi dây hai lần quanh eo bà bằng kiểu thắt mà về mặt kỹ thuật gọi là hai nút xiết nửa, ngay sát vòng dây của chính mình—nơi ông định ngồi vào và dùng hai tay ôm lấy cơ thể bà.

- Anh kéo chúng tôi lên được chứ? - ông hét lớn.

Từ từ, sợi dây được kéo lên cùng gánh nặng trĩu trịt. Người du khách vạm vỡ đã nhận được sự trợ giúp từ người chủ trọ đang hoảng loạn, kẻ đã bám theo Cutter ra ban công nhưng vốn là một gã người Swabia lực lưỡng và không dễ bị làm cho hoảng hốt. Gã đã lao vút lên lầu và đang kéo dây bằng tất cả sức lực. Chưa đầy một phút rưỡi, Cutter đã lên đến độ ngang bằng với ban công, và chỉ vài giây sau, ông đã gỡ bỏ được những vòng dây quấn quanh mình và người phụ nữ được cứu. Chẳng có gì ngạc nhiên khi ý nghĩ đầu tiên của ông là dành cho bà chứ không phải người đàn ông điềm tĩnh ngậm tẩu—người vừa là ân nhân cứu mạng bà. Ông bồng phu nhân Patoff về phòng, cùng với sự hỗ trợ của cô người hầu bắt tay vào việc hồi sức cho bà nhanh nhất có thể, mặc dù mồ hôi vã ra như tắm trên trán và toàn bộ chân tay khớp xương của ông đều đang run lẩy bẩy vì sợ hãi.

Người du khách cuộn lại sợi dây thừng của mình, bỏ chiếc tẩu ra khỏi miệng—thứ mà ông đã quên mất trong khoảnh khắc vội vã. Sau đó, ông khoác chiếc áo khoác cũ lên người và bước xuống lầu để dò hỏi xem mình có thể giúp gì không, và liệu phu nhân Patoff còn sống hay đã chết. Ông là một người đàn ông vạm vỡ với gương mặt thô kệch nhưng không hề dữ tợn, đôi mắt xám nhỏ và mái tóc đen bắt đầu điểm bạc ở hai bên thái dương. Ông là một kẻ vô cùng kiệm lời, và những người ở quán trọ nhận xét rằng ông rất ít khi làm phiền ai, dẫu đã lưu trú ở Weissenstein gần một tuần lễ. Ông từng nói với chủ nhà rằng mình định đi Thụy Sĩ nhưng thích đi những con đường vòng vèo và đang la cà dọc đường, bởi mùa du lịch vẫn chưa đến mức thuận lợi cho một chuyến leo núi dự kiến nào đó. Ông chẳng mang theo gì ngoài một chiếc ba lô, một cuộn dây thừng, một chiếc rìu phá băng sờn gió cùng một cuốn sách nhỏ mà ông nghiền ngẫm mỗi khi đọc sách. Ông nói tiếng Đức trôi chảy nhưng tự nhận mình là người Mỹ. Nhân cơ hội ấy, bà chủ quán—người có một người họ hàng có một đứa cháu từng sang Brazil—bèn hỏi người du khách xem ông có quen August Bürgin hay không, và vô cùng thất vọng khi biết rằng ông không hề quen.

Bầu không khí náo loạn bên ngoài căn phòng của phu nhân Patoff vô cùng căng thẳng. Thế nhưng vị Herr Doctor, cách mà chủ trọ gọi Cutter, đã không cho bất kỳ ai vào ngoại trừ cô người hầu và cho đến lúc đó vẫn chưa đưa ra bất kỳ tin tức nào về bệnh nhân. Nhóm người nhỏ đứng ngoài hành lang một lúc lâu trước khi Cutter bước ra.

- Bà ấy không bị thương nặng, - ông nói và toan bước trở lại phòng, thì bắt gặp ánh mắt của vị khách du lịch cao gầy nọ—người vừa nghe tin đã vội vã quay người bước đi. Cutter vội vã đuổi theo, nắm chặt tay ông và nồng nhiệt cảm ơn sự trợ giúp kịp thời.

- Có gì đâu, - người lạ nói. - Anh đã xoay sở rất tuyệt khi đã túm được dây. Xin lỗi nhé—tôi có hẹn—chào anh—rất vui khi biết phu nhân không bị thương. - Nói rồi, người du khách nhanh chóng bắt tay vị giáo sư một lần nữa và biến mất trước khi ông kịp hỏi tên.

- Lão này thật kỳ quặc, - Cutter lẩm bẩm khi quay trở lại bên cạnh phu nhân Patoff.

Bà không hề bị thương như ông đã thông báo ngay từ đầu, nhưng chẳng thể đoán trước được cú sốc khủng khiếp ấy sẽ gây ra tác động gì cho bộ não vốn đang quá khích của bà. Quả thực bà đã mở mắt, nhưng dường như chẳng nhận ra ai cả; và khi vị giáo sư hỏi bà cảm thấy thế nào để kiểm tra xem bà có còn nói năng rành mạch được không, bà cười lạnh lùng và quay mặt đi. Bà bị thâm tím khắp người nhưng ông chẳng tìm thấy dấu vết của bất kỳ cú đánh nào trên đầu có thể gây ra hiện tượng mất ý thức. Do đó, chẳng còn cách nào khác ngoài việc chăm sóc bà, và nếu bà hồi phục lại sức khỏe bình thường, bà phải được đưa về nhà ngay lập tức. Cả ngày hôm đó, ông ngồi bên giường bệnh với sự kiên nhẫn của một kẻ quen chăm sóc người bệnh và xem họ như những đối tượng nghiên cứu để trau dồi chuyên môn. Đến chiều tối, bà chìm vào giấc ngủ và Cutter đi ra ngoài với hy vọng tìm lại vị khách du lịch nọ. Nhưng chủ trọ bảo ông ấy đã đi rồi, và vì quán trọ nhỏ chẳng có cuốn sổ nào yêu cầu khách lạ đăng ký tên tuổi, đồng thời chủ nhà cũng chỉ có thể nói rằng quý ông đó khai tên mình là Paul, Cutter đành phải nuốt trôi những giọt đắng ngắt của sự tò mò chưa được thỏa mãn.

- Tôi phát ngấy cái tên Paul này rồi! - vị giáo sư thốt lên, hơi bực bội. - Tự tự hỏi không biết gã đó có phải người Nga nốt không? Paul, Paul—dường như ai cũng tên là Paul! - Nói đoạn, ông quay bước đi, bắt đầu đi qua đi lại trước cửa nhà, châm một điếu xì-gà và phì phèo đầy vẻ hoang dã để trút nỗi bực dọc với mọi thứ chung quanh.

Ông thầm nghĩ rằng nếu phu nhân Patoff có thể dễ dàng tự tung mình xuống vực từ ban công đến vậy vào lúc ông không để mắt tới, thì rốt cuộc việc Alexander lẻn đi khỏi anh trai trong bóng tối cũng không phải là điều gì quá vô lý. Sự trùng hợp giữa hai trường hợp thật đáng kinh ngạc. Riêng về phần phu nhân Patoff, ông không mảy may nghi ngờ việc bà đã tâm niệm tự vẫn bằng cách gieo mình xuống vực thẳm. Theo lý thuyết của ông, toàn bộ sự điềm tĩnh của bà vào ngày hôm qua và sáng nay, tiếp nối sau cơn chấn động dữ dội trong cuộc gặp gỡ với Paul, đã chứng minh rằng bà đã lặng lẽ suy tính về cái chết. Bà đã thoát chết. Nhưng liệu tâm trí bà có thoát khỏi ý định tự sát mà bà từng gây ra cho thể xác hay không? Về mặt hậu quả, cơn thịnh nộ chống lại Paul cùng ý nghĩ cố chấp về hắn chẳng là gì khi đặt lên bàn cân so sánh với cú sốc khủng khiếp mà bà vừa trải qua vào sáng nay. Hoàn toàn không thể tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra: liệu bà có phục hồi lại được các giác quan, hay sẽ cứ mãi dửng dưng vô cảm đến hết quãng đời còn lại. Bà vốn là một phụ nữ nhạy cảm, dễ xúc động và luôn ở trạng thái căng như dây đàn, chắc chắn sẽ phải chịu đựng tổn thương sâu sắc hơn nhiều trước một cú sốc đột ngột và bạo liệt so với những kẻ có tâm thần kém nhạy bén hơn. Cảnh giới suy nghĩ của bà về sự biến mất của Alexander đã chứng minh rằng các chức năng tâm thần của bà không được cân bằng ổn định. Dĩ nhiên câu chuyện đó vô cùng kỳ quặc, và người Nga vốn là những kẻ kỳ quặc, như vị giáo sư tự nhủ. Việc giả định rằng Paul đã sát hại em trai mình vẫn chưa vượt qua ranh giới của sự khả thi, nhưng Cutter vẫn đinh ninh phu nhân Patoff phải là người cuối cùng nghi ngờ điều đó, và nhất là lại thốt lên thành lời. Cách bà cuồng nộ gào thét chống lại Paul không chỉ một lần đã cho thấy rõ rằng bà thường bấu víu vào những kết luận sai lầm, giống như một kẻ có tâm trí không bình thường. Alexander cũng mang nét ngoại hình giống bà, và luôn cư xử như một đứa trẻ hư hỏng, dễ cáu kỉnh và vô cùng xinh đẹp. Rõ ràng có một vệt dài "kỳ quặc" tồn tại trong dòng họ ấy, theo cách gọi của Cutter. Có lẽ Paul đã thừa hưởng nó theo một khía cạnh khác. Hành vi của hắn ở Teinach, sau khi rời xa mẹ, quả thực rất kỳ lạ. Hắn chẳng hề tỏ ra đau buồn, thậm chí hầu như không có chút bực dọc nào, và suốt bữa tối vẫn tỏ ra hoàn toàn thoải mái. Dưới lăng kính khoa học, vị giáo sư có phần tiếc nuối tai nạn buổi sáng. Phu nhân Patoff từng là một đối tượng nghiên cứu vô cùng thú vị chừng nào bà còn bị chi phối bởi một ý tưởng thống trị. Trường hợp của bà giờ đây có lẽ sẽ thoái hóa thành một dạng dửng dưng vô cảm thông thường—thứ mà Cutter từng chứng kiến hàng trăm lần. Sẽ chẳng còn cách nào khác ngoài việc áp dụng các phương pháp thông thường với những kết quả nhàm chán quen thuộc, để rồi cuối cùng đành phó mặc bà cho họ hàng và y tá chăm sóc như một kẻ đần độn vô phương cứu chữa.

Nhưng Giáo sư Cutter không phải chịu đựng một sự thất vọng như thế. Bệnh nhân của ông đã hồi phục theo một phương thức hoàn toàn mới lạ đối với ông, và ông nhận ra rằng khi đánh mất một trường hợp nghiên cứu cũ, ông lại tìm thấy một ca bệnh thậm chí còn thú vị hơn. Quả thực, bà có đôi chút dửng dưng ở một mức độ nào đó và dường như không hiểu hết mọi điều người ta nói với mình, nhưng đây lại là dấu hiệu duy nhất của sự thoái hóa. Bà không bao giờ gọi tên bất kỳ ai nữa, dù là vị giáo sư hay cô người hầu, và chẳng bao giờ cất lời ngoại trừ để bày tỏ nhu cầu bản thân—điều mà bà thực hiện bằng rất ít từ ngữ, cực kỳ ngắn gọn và chuẩn xác. Không gì có thể khiến bà đưa ra bất kỳ câu trả lời nào trong các cuộc trò chuyện ngoài một tiếng "vâng" hoặc "không" cụt lủn, và Cutter vô cùng ấn tượng trước việc sắc diện của bà không hề thay đổi mỗi khi ông nhắc đến Alexander. Theo suy nghĩ của ông, điều này chứng minh rằng bà không còn liên kết bất kỳ ký ức đau khổ nào với cái tên của người con trai đã mất. Tuy nhiên, hoàn toàn không xuất hiện những dấu hiệu của sự suy giảm trí tuệ—không có những lời lảm nhảm ngớ ngẩn, cũng chẳng bày tỏ mong muốn làm bất cứ điều gì thiếu lý trí. Bà hoàn thành chuyến hành trình với sự thoải mái rõ rệt, và tỏ ra vô cùng thích thú trước những cảnh sắc tuyệt đẹp dọc đường, dẫu chẳng nói năng gì ngoài việc mỉm cười và ánh lên vẻ hài lòng. Biểu cảm thường trực của bà là một nỗi u sầu trầm lặng. Các đường nét trên khuôn mặt mang nét buồn bã nhưng điềm đạm, và có vẻ như sức khỏe của bà đang tiến triển tốt hơn so với hồi vị giáo sư mới gặp. Bà kỹ tính hơn bao giờ hết về ngoại hình của mình, và ẩn chứa một sự hoàn mỹ gần như phi tự nhiên trong trang phục cũng như trong phong thái điềm tĩnh, yểu điệu của bà. Cutter cảm thấy hoang mang. Với các triệu chứng này, ông đáng lẽ phải lường trước một ảo tưởng rõ rệt nào đó về một khía cạnh cụ thể nào đó. Thế nhưng ông chẳng thể dò ra bất cứ điều gì tương tự, và đành vắt kiệt các học thuyết của mình để cố tìm xem rốt cuộc bà mắc chứng tâm thần phân liệt dạng cụ thể nào. Ông chẳng thể nhìn ra hay định nghĩa được bất cứ điều gì, ngoại trừ sự từ chối tuyệt đối việc giao tiếp của bà. Bà đòi hỏi những thứ mình muốn, hoặc tự lấy chúng, đồng thời sẵn sàng đáp gọn lỏn "vâng" hay "không" trước các câu hỏi trực diện. Dần dần, khi họ di chuyển qua những chặng đường ngắn và tiến gần hơn đến điểm đến, Cutter hoàn toàn bỏ thói quen trò chuyện với bà và suýt chút nữa thì quên bẵng đi nét đặc thù duy nhất ấy ở bà. Bà có thể ngồi hàng giờ liền trong cùng một tư thế, dường như chẳng bao giờ mệt mỏi vì sự im lặng của mình, nét mặt bình thản không hề biến đổi ngoại trừ việc hé nở một nụ cười dịu dàng mỗi khi trông thấy điều gì đó làm mình vừa lòng.

Cuối cùng họ cũng đặt chân đến nước Anh, và phu nhân Patoff được an trí trong điền trang của người em rể ở vùng quê. Cutter thường xuyên từ thành phố đến thăm bà và luôn nghiên cứu bệnh án của bà với niềm hứng thú mới mẻ; thế nhưng sau tròn một năm, ông vẫn không thể phát hiện ra bất kỳ sự thay đổi nào trong tình trạng của bà và bắt đầu tuyệt vọng về việc liệu có bao giờ mình xếp loại được căn bệnh của bà vào danh mục khoa học trong tâm trí hay không.

* * * * * * * * * * * * * *

Chính tại thời điểm này, người bạn thân mến của tôi ơi, tôi đã trở thành một nhân vật trong câu chuyện về Paul Patoff và người mẹ của anh, và giờ đây tôi sẽ kể lại câu chuyện của mình dưới danh nghĩa cá nhân trong một khoảng thời gian—dưới thân phận thật thà của Paul Griggs, kẻ mà anh vô cùng quen thuộc đến mức rộng lượng gọi là bạn của mình. Để anh có ngay một hình dung về mối liên hệ của chính tôi với lịch sử này, tôi xin thú nhận rằng chính tôi là kẻ đã thả sợi dây thừng từ cửa sổ xuống ở Weissenstein, như anh có lẽ đã đoán ra từ phần miêu tả bản thân mà tôi vừa cung cấp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.