Lạc Lối Về

Lạc Lối Về

Lượt đọc: 0 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I

❊ ❊ ❊

Công việc xong, tôi đến ngân hàng lãnh tiền. Nhiều người đang chen chúc nhau trước phòng phát ngân, tôi phải đợi hết nửa tiếng đồng hồ mới trình được tấm chi phiếu cho người thủ quỹ để người này trao cho một cô gái mặc áo bờ-lu vàng. Cô gái ấy đến bên một hàng thẻ, rút tấm của tôi ra, nói: “hợp lệ”, và trả tấm chi phiếu lại cho viên thủ quỹ. Hắn thận trọng trải những tờ giấy bạc lên mặt đá. Tôi kiểm lại tiền, bước ra phía cửa và đến bên một chiếc bàn nhỏ cạnh đó để cho tiền vào một phong bì và viết mấy hàng cho vợ tôi. Trên bàn vung vãi những mẩu giấy xuất tiền màu hường, tôi nhặt một tấm và viết bút chì lên mặt trái: “Anh phải gặp em ngày mai, anh sẽ gọi điện về trong vòng hai tiếng đồng hồ”. Tôi cho thư vào phong bì trước tiên, rồi đếm những tờ giấy bạc, liếm vào phần có bôi keo nơi mặt trái, nhưng sau một phút lưỡng lự, tôi lấy ra một tờ mười đồng mác cho vào túi áo. Tôi viết tiếp vào giấy. “Anh giữ lại mười mác: anh sẽ trả lại cho em vào ngày mai. Hôn các con. Fred”. Nhưng rồi lớp keo không còn dính nữa! Tôi đến bên một cái ghi-sê trống, nơi phát tiền. Ở bên kia, một cô gái đứng dậy và kéo tấm gương lên, nàng có nước da nâu, người ốm và mặc một chiếc áo đan màu hường cài một cành hoa nhân tạo nơi cổ. Tôi hỏi nàng: “Có thể cho tôi xin một tờ giấy có dán keo được không cô?”. Nàng nhìn tôi lưỡng lự, đoạn xé một mẩu giấy từ một cuộn giấy màu nâu sẫm trao cho tôi, không nói một tiếng nào, và đóng ghi-sê lại. Tôi nói cảm ơn về phía tấm gương, trở về bàn, dán thư lại và rời ngân hàng sau khi kéo mũ bê-rê sụp xuống.

Trời mưa, ngoài đại lộ, những chiếc lá rời rạc đáp xuống mặt nhựa. Tôi đứng trước cửa ngân hàng, đợi chuyến xe 12 rẽ nơi góc đường. Tôi xuống đến quảng trường Tuckhoff. Chiếc xe điện trờ tới, tôi bước lên. Xe chất đầy người, quần áo họ toát ra một mùi ẩm ướt. Cơn mưa còn dữ hơn khi tôi bước xuống quảng trường Tuckhoff. Tôi đã không mua vé ngồi. Tôi chạy vào đụt mưa dưới mái hiên một cửa hiệu bán xúc xích. Tôi bước vào quầy hàng, gọi một miếng xúc xích nướng và một chén canh, đoạn mua mười điếu thuốc và móc tờ giấy mười đồng mác trả. Tôi vừa nhai xúc xích vừa nhìn vào tấm gương ở cuối cửa tiệm. Thoạt đầu tôi không nhận ra mình, tôi ngắm nghía cái khuôn mặt hốc hác, thiểu não dưới chiếc mũ bê-rê xơ xác kia. Tôi chợt thấy mình trông giống như người bán hàng rong dạo nào mà mẹ tôi không hề xua đuổi bao giờ. Bà không có can đảm làm việc đó. Khuôn mặt họ chìm lẫn trong bóng tối của nhà trên, hiện lên một nỗi tuyệt vọng thảm khốc, thỉnh thoảng tôi mở cửa cho họ vào, và khi, trong cơn sợ sệt, tôi vừa trông chừng tủ áo vừa gọi mẹ. Mẹ tôi từ bếp bước lên, hai bàn tay chùi vào tấm tạp dề, mặt mày họ sáng lên một cách kỳ lạ và đáng ngại. Những con người đó, họ bán thuốc giặt hoặc sáp, dao cạo râu hoặc những sợi dây giày. Bởi vì hạnh phúc khi nó soi sáng được những con người quen sống cơ hàn thì trông thật khủng khiếp. Chỉ cần trông thấy mẹ tôi, người ta cũng cảm nhận được niềm hạnh phúc đó. Không nỡ đuổi xô một ai, mẹ tôi vẫn mang bánh mì và tiền bạc cho những người hành khất, nếu có, hay ít ra bà cũng cho họ một tách cà phê. Khi không có gì, bà cho họ uống nước lạnh đựng trong cái ly sạch sẽ và gửi đến họ niềm an ủi, khích lệ chứa đựng trong cái nhìn của bà. Chung quanh nút nhận chuông, những cái khấc và những dấu hiệu khác của bọn ăn xin cứ gia tăng lên mãi, và một người bán rong luôn được dịp đặt một món đồ, dù là chỉ một sợi dây giày để đổi lấy một đồng tiền nhỏ nhoi. Trước mặt những người đại diện thương mãi, mẹ tôi cũng có thái độ dễ dãi, buông xuôi như vậy, bà không cứng cỏi được trước vẻ mặt của những con người đó, cũng khổ sở không kém gì những kẻ khác, và bà sẵn sàng ký những hợp đồng mua bán, bảo hiểm hoặc đặt hàng. Thuở nhở, tôi nhớ có lần nằm trên giường, nghe cha tôi trở về nhà vào buổi chiều, và cuộc cãi vã bùng nổ ngay khi ông đặt chân vào phòng ăn, một cuộc cãi vã giữa những bóng ma, trong đó mẹ tôi chỉ đóng vai trò thứ yếu, khiêm nhường. Đó là một người đàn bà nhẫn nhục.

Trong số những người đến nhà chúng tôi có một người đội chiếc mũ bê-rê nhàu nát tên Disch mà sau này tôi được biết là một người tu xuất, hắn đi bán thuốc giặt.

Như vậy, vừa ăn món xúc xích nóng từng làm đau những nướu răng hư của tôi, tôi nhận ra, nhờ tấm gương của cửa tiệm, rằng mình giống một người tên Disch: mũ bê-rê, khuôn mặt tiều tụy và thiểu não, cái nhìn buồn bã, tất cả đều ở đó. Tuy nhiên tôi cũng nhìn thấy những khuôn mặt của bọn người ngồi cạnh tôi, những cái miệng há hốc chực chờ khép lại trên một mẩu xúc xích, những vụn thịt biến mất sau những chiếc răng vàng khè, trong những khoảng hổng tăm tối, tôi trông thấy những chiếc nón còn tốt, những chiếc nón đã cũ kỹ, những mái đầu trần tóc tai ướt đẫm, tất cả làm tăng thêm vẻ hồng hào, bụ bẫm của khuôn mặt người đàn bà bán xúc xích. Bà ta tươi cười dùng một cái nĩa bằng cây để vớt những miếng xúc xích đang nổi trên mặt nước mỡ, bôi hột cải lên một vuông giấy bồi, chuyền vào giữa những cái miệng đang nhai ngấu nghiên, thu về những tờ giấy bồi bẩn thỉu bôi đầy hột cải, bán thuốc lá và nước chanh, cất tiền, luôn luôn bằng những ngón tay hồng hào, bụ bẫm trong khi mưa vẫn tiếp tục gõ trên mái hiên.

Còn tôi, khi tôi cắn vào miếng xúc xích, khi tôi hả họng ra và đằng sau những chiếc răng vàng khè của tôi hiện ra cái lỗ đen ở đầu cuốn họng, chính tôi lại có cái vẻ tham ăn mà tôi đã từng gớm ghiếc nơi kẻ khác. Đầu của chúng tôi trồi lên ở đó, giống như trên một sân khấu múa rối, dật dờ trong hơi nóng bay lên từ những cái chậu.

Tôi sợ sệt, vùng thoát ra và chạy qua cơn mưa để chạy tới đường Mozart. Nhiều người đang đổ dồn dưới những bức mành mành của các cửa tiệm, đợi tàn cơn mưa. Đến phòng làm việc của Wagner, một lần nữa tôi phải dùng khuỷu tay mới đến được bên cánh cửa và ráng hết sức để kéo nó về phía tôi bởi cánh cửa mở ra phía bên ngoài. Sau cùng tôi cảm thấy nhẹ nhõm, bước xuống những bậc thang, ngửi phải mùi da xông lên từ những chiếc giày mòn cũ thấm đẫm mồ hôi, mùi da tươi thoảng mùi nhựa thông, trong khi chiếc máy may cũ vẫn chạy đều.

Tôi đi ngang qua trước hai người đàn bà đang ngồi đợi trên chiếc ghế dài, thò tay mở cửa kính và tôi lấy làm sung sướng bắt gặp nụ cười trên khuôn mặt của Wagner khi lão trông thấy tôi. Tôi quen biết với lão đã ba mươi lăm năm rồi bởi chúng tôi ở ngay phía trên cửa tiệm của lão - đúng vậy, ở phía trên, ở một khoảng nào đó phía trên khoảng xi măng giờ đây phủ lấy xưởng làm việc của lão - lúc đó tôi mới lên năm và tôi đã mang những chiếc giày của mẹ tôi đến cho lão. Phía sau chiếc ghế của lão, tượng Chúa Ki tô trên thập tự giá treo trên vách, bên cạnh tượng thánh Crépin, một lão già hiền lành với một chòm râu màu muối tiêu cầm một cái chân sắt trong đôi bàn tay được chăm sóc quá kỹ, trái hẳn với đôi bàn tay của người thợ đóng giày. Tôi chìa tay ra trước Wagner, lão ném cái nhìn về phía chiếc ghế đẩu nơi đầu bàn bên kia, ra dấu cho tôi ngồi, lão ngậm một mớ đinh trong miệng. Tôi ngồi xuống ghế, móc phong bì từ trong túi ra và Wagner đẩy về phía tôi hộp thuốc và giấy quấn thuốc. Nhưng điếu thuốc của tôi hãy còn cháy, tôi còn nói với lão: “Cám ơn”, và vừa đưa phong bì cho lão, tôi nói: “Có thể…”

Lão lấy những cây đinh trong miệng ra, đưa ngón tay sờ lên đôi môi khô héo để yên trí rằng không còn cây đinh nào dính trên miệng, và nói: “Lại một món nhờ gửi cho vợ cậu…”

Lão cầm lấy phong bì trong đôi tay, ngẩng đầu lên, nói: “Được rồi, tôi sẽ gửi đi khi thằng cháu tôi nó xưng tội về trong… - lão nhìn đồng hồ tay - trong nửa tiếng đồng hồ thôi”.

Tôi nói:

- Hôm nay vợ tôi cần tiền rồi, có tiền trong đó.

- Tôi biết, lão nói.

Tôi bắt tay lão và bước ra ngoài. Khi bước trở lên những bậc thang, tôi chợt nghĩ là tôi có thể mượn tiền lão và lưỡng lự trong giây phút, nhưng khi nghĩ lại, tôi mạnh dạn bước lên bậc thang sau cùng và lách đi giữa đám người đang chen chúc trên lề đường.

Năm phút sau khi tôi bước xuống xe buýt tại đường Benekam thì trời hãy còn mưa. Tôi chạy đi giữa những đầu hồi cao của những ngôi nhà kiến trúc theo lối gô-tích được gia cố bảo tồn vì giá trị lịch sử của chúng. Qua những lỗ hổng của các khung cửa sổ cháy nám, người ta thấy xuất hiện một bầu trời xám thẫm. Tôi nhảy đến dưới máy hiên của ngôi nhà duy nhất có người ở, nhận chuông và đứng đợi.

Người giúp việc có đôi mắt dịu hiền và nâu thẫm, trong đó tôi có thể đọc được niềm trắc ẩn tương tự với tình cảm ngày nào của tôi về những con người mà giờ đây tôi bắt đầu thấy có điểm tương đồng. Nàng cởi áo khoác giúp và lấy chiếc nón ra khỏi đầu tôi, giũ chúng ở trước cửa cho ráo nước và nói: “Trời đất, chắc là ông ướt tới xương rồi”. Tôi gật đầu và tiến đến trước tấm gương, đưa hai bàn tay lên vuốt tóc.

Tôi hỏi:

- Bà Beisem có ở nhà không?

- Không.

- Bà ấy có biết ngày mai là một tây không.

- Không, cô ấy trả lời và nàng đưa tôi vào phòng khách, đẩy chiếc bàn về phía lò sưởi và mang đến cho tôi một chiếc ghế, nhưng tôi vẫn đứng quay lưng về phía lò sưởi nhìn thấy cái đồng hồ xưa đến một trăm năm mươi tuổi của gia đình Beisem.

Gian phòng bày biện ngổn ngang những đồ vật cổ, những khung cửa sổ lắp kính gô-tích.

Cô gái trở lại, bưng một tách cà phê và kéo theo cậu bé Alphonse của gia đình Beisem bằng những dải đeo quần, cậu bé mà tôi có bổn phận dạy phân số. Đó là một cậu bé khỏe mạnh, hai má đỏ ửng, thích chơi với những trái dẻ tây trong vườn - nó cố hết sức để lượm chúng, cả trong vườn của các ngôi nhà bên cạnh không có người ở - và trong những tuần lễ sau cùng này, qua cửa sổ tôi có thể trông thấy những trái dẻ tây chất thành những hàng dài giữa những gốc cây. Tôi cầm chặt lấy tách cà phê trong hai bàn tay, uống từng ngụm cà phê nóng và chậm rãi đọc những định luật vẽ phân số, vừa nhìn thẳng vào cái đầu tràn đầy sức khỏe, đồng thời tôi cũng biết mình chỉ hoài công mà thôi. Đứa bé dễ thương và ngu đần, ngu đần như cha mẹ của nó, như các anh và các chị của nó, và trong ngôi nhà này chỉ có một người thông minh, đó là cô gái giúp việc. Beisem buôn da và sắt vụn, đó là một người đàn ông hòa nhã, hiền lành, và thỉnh thoảng trong những giây phút chuyện trò ngắn ngủi, tôi có cảm giác kỳ lạ là hắn thích nghề nghiệp của tôi. Tôi có cảm tưởng là trong cuộc đời của hắn, hắn đã khổ tâm nhiều, vì đã không đáp lại những gì người ta đòi hỏi ở hắn: nắm trong tay một công việc làm ăn lớn lao. Hắn không có khả năng trong việc ấy, hắn thiếu những ưu điểm cần thiết về trí khôn lanh và lòng cương quyết. Mỗi lần gặp nhau, hắn hỏi han tôi thật hăng hái về những chi tiết liên quan tới nghề nghiệp tôi, và tôi bắt đầu ngờ rằng, hơn cả tôi, hắn thích sống trọn đời giam hãm trong gian phòng nhỏ thuộc một sở điện thoại trung ương. Hắn muốn biết công việc điều hành những tấm thẻ ra sao, bằng cách nào người ta thiết lập những hệ thống điện thoại liên tỉnh, hắn hỏi tôi về những bí quyết của nghề nghiệp chúng tôi và hắn lấy làm thích thú như một đứa trẻ được tôi theo dõi, lắng nghe và trò chuyện với hắn. “Hay thật! Hắn luôn kêu lên - Hay thật”.

Thì giờ chậm chạp trôi qua. Tôi bắt đứa bé đọc lại các định luật, tôi đọc bài tập cho nó, vừa ngồi đợi nó làm xong vừa hút thuốc. Bên ngoài không có tiếng động, nơi đây là trung tâm thành phố nhưng bầu không khí lặng lẽ chẳng khác gì ở một miền thôn dã khi bầy thú đã bỏ đi, chỉ còn lại mấy mụ già bịnh hoạn.

Thương số của hai phân số bằng tích số của số phải chia nhân với ước số đảo nghịch. Đôi mắt đứa bé nhìn tôi chăm chăm, bất chợt nó kêu lên: Thằng Clement được phê Giỏi môn La Tinh! Không biết nó có nhận ra cơn bối rối của tôi hay không. Ý nghĩ của nó đã gợi lên khuôn mặt đứa con trai của tôi, khuôn mặt xanh xao của một đứa bé mười ba tuổi và tôi nhớ ra là nó học ở lớp bên cạnh Alphonse.

- Đó là một điểm tốt, tôi vất vả nói. Còn cháu thì sao?

- Tệ, nó nói và cái nhìn đầy hồ nghi của nó dạo trên mặt tôi như để tìm kiếm ở đó một sự trấn an, khích lệ. Tôi thấy hổ thẹn, đồng thời thấy lòng mình dửng dưng trước câu chuyện của nó. Lúc bấy giờ, khuôn mặt vợ và các con đã đến với tôi, mỗi lúc một lớn rõ hơn, với vẻ tàn bạo của một tràng đạn bẳn ra và tôi che mắt thì thầm: “Cháu tiếp tục đi, làm sao để có tích số của hai phân số?”. Nó đọc lại định luật bằng một giọng nho nhỏ, vừa nhìn tôi không rời. Riêng tôi, tôi không nghe nó nói gì vì đang mường tượng ra các con tôi trong dòng đời khổ ải bắt đầu từ công việc sửa soạn hàng ngày để đến trường và kết thúc trên một chiếc ghế nơi bàn viết. Mẹ tôi đã nhìn tôi lên đường từ sáng sớm, cặp sách trên vai. Kate, vợ tôi, cũng nhìn con cái chúng tôi lên đường từ sáng sớm, cũng cặp sách trên vai.

Tôi lặp lại những định luật về phân số để nhéo vào đầu đứa bé, nó có thể đọc lại chúng một phần nào.

Thì giờ chầm chậm trôi qua. Nhưng tôi đã lãnh được hai đồng mác rưỡi. Sau khi đọc mấy bài tập cho bài học sắp tới, tôi uống ngụm cà phê sau cùng và trở ra phòng ngoài. Cô gái đã hơ khô chiếc áo và chiếc mũ bê-rê của tôi trong bếp, nàng nhìn tôi mỉm cười và giúp tôi choàng chiếc áo vào người. Ra tới đường, tôi lại nghĩ đến cô gái đó, tới lòng tốt của cô ta, tôi nhủ thầm rằng nàng có thể cho tôi mượn một số tiền - nhưng sự lưỡng lự của tôi qua ngay, khi kéo cổ áo lên bởi vì trời hãy còn mưa. Tôi chạy tới trạm xe buýt trước nhà thờ Đức-Mẹ-Bảy-Điều-Khó.

Mười phút sau, tôi đã có mặt ở phía nam thành phố, ngồi trên một nhà bếp thoảng mùi dấm chua. Một cô bé có đôi mắt to, ngả màu vàng nhạt trả cho tôi bài học La Tinh, và bài học chỉ đứt quãng khi cánh cửa phòng bên xịch mở, một người đàn bà có khuôn mặt xương xẩu, hai mắt như ngả màu vàng nhạt hiện ra và nói: “Hãy chịu khó đi con, con phải biết mẹ khổ bao nhiêu để cho con đi học, và những bài học thì đắt lắm”.

Đứa bé rất chịu khó, tôi cũng vậy, trong suốt một tiếng đồng hồ, chúng tôi thì thầm to nhỏ với nhau những từ ngữ La Tinh, những thí dụ và những quy luật về cú pháp và tôi biết chỉ hoài công mà thôi. Đúng ba giờ mười, người đàn bà gầy ốm trở lại, người bà ta toát mùi dấm chua. Bà ta vuốt đầu đứa bé gái, nhìn tôi hỏi: “Ông, liệu cháu có thành công không? Bài luận vừa rồi cháu được phê Khá. Ngày mai cháu còn làm một bài nữa”. Tôi gài áo khoác, móc từ trong túi ra chiếc mũ bê-rê ướt đẫm và chậm rãi đáp: “Chắc chắn cháu sẽ thành công, bà đừng lo”. Tôi đặt bàn tay lên mái tóc vàng cứng đờ của cô bé. Bà mẹ đáp: “Phải vậy mới được, đứa con duy nhất của tôi đó, cha cháu bị giết ở Winiza”. Trong khoảnh khắc, tôi mường tượmg ra nhà ga bẩn thỉu ở Winiza, chất đầy những chiếc kéo gỉ sét. Người đàn bà lúc bấy giờ chợt thu hết can đảm, bảo tôi: “Xin ông chịu khó đợi giùm cái khoản tiền thù lao…”. Tôi trả lời: “Dạ” trước khi bà ta dứt lời.

Cô bé mỉm cười với tôi.

Khi tôi bước ra ngoài, cơn mưa đã tạnh, mặt trời le lói, trên mặt đường nhựa, những chiếc lá vàng úa vừa mới nhẹ nhàng đáp xuống. Lẽ ra tôi nên trở về nhà vợ chồng Blok, những người cho tôi ở trọ từ một tháng nay, nhưng bản năng lại luôn đẩy đưa tôi tới những mưu toan, những hành vi mệt mỏi mà tôi biết chúng không ích lợi gì. Tôi có thể vay tiền Wagner, hoặc cô giúp việc nhà Beisem, hoặc người đàn bà nồng nặc mùi dấm chua, và hẳn họ không tìm cách chối từ. Tôi tới trạm xe điện, bước lên chuyến xe 11 và cố giữ thăng bằng cho tới Nackenheim. Nhận ra quần áo mình ướt đẫm và nghe khó chịu trong người bởi món xúc xích nuốt vội vào buổi trưa giờ đây vẫn làm tôi nặng bụng. Đến Nackenheim, tôi men theo con đường hai bên trồng cây mà không một người làm vườn nào để tâm tới việc cắt xén nữa. Tới biệt thự của Buckler, tôi thò tay nhận chuông. Người bạn gái của hắn đưa tôi vào phòng khách. Thấy tôi, Buckler mỉm cười ngượng nghịu, xếp lại quyển sách sau khi đánh dấu trang sách bằng một mẩu giấy nhật trình và quay về phía tôi. Kể cả hắn, hắn cũng đã già đi, từ nhiều năm nay, hắn sống với nàng Dora và tình bạn của họ đã trở nên nhàm chán, đơn điệu hơn bất luận một cuộc hôn nhân nào khác. Họ rình rập, xét nét nhau từng ly từng tí, họ gọi nhau bằng những tiếng: “con chuột nhỏ của em” và “con mèo của anh”, họ cãi vã với nhau về vấn đề tiền bạc, và họ cảm thấy bị ràng buộc vào nhau.

Trở vào phòng khách, Dora cũng xé một mẩu giấy nhật trình dùng làm dấu trang sách và rót nước trà mời tôi uống. Bình trà đặt ở giữa hai người, với một hộp thuốc lá và những miếng sô cô la.

- Anh đến thăm chúng tôi thật là quý hóa quá, hút thuốc nghe? Buckler nói.

- Anh cho tôi một điếu, cám ơn anh. Chúng tôi hút thuốc, không ai nói một lời nào. Tôi không trông thấy Dora tận mặt và mỗi lần tôi quay về thì vẻ mặt lạnh lùng của nàng lại rực lên trong một nụ cười. Họ nín thinh và tôi cũng nín thinh. Bất chợt tôi dập tắt điếu thuốc, phá vỡ niềm im lặng:

- Tôi cần tiền, có thể nào…

Buckler bật thành tiếng cười giòn tan, cắt ngang lời nói:

- Anh cần mấy thứ mà chính chúng tôi cũng cần từ lâu! Tôi sẵn sàng giúp anh, anh biết mà, nhưng tiền bạc thì…

Tôi nhìn Dora, chiếc mặt nạ băng giá của nàng bỗng tan rã tức thì, nhường chỗ cho một nụ cười làm hiện rõ những nếp nhăn và tôi có cảm tưởng nàng hít khói thuốc lá từng hơi dài hơn trước.

- Anh bỏ lỗi cho tôi, tôi nói. Nhưng mà chắc anh cũng biết rằng…

- Tôi biết, anh đừng lỗi phải làm gì, chuyện đó ai cũng có thể gặp phải.

- Thôi, tôi không muốn làm rộn anh chị lâu hơn nữa, tôi vừa nói vừa đứng dậy.

- Nhưng anh có làm rộn chúng tôi đâu. Qua giọng nói niềm nở của hắn, tôi cảm thấy hắn thành thật nghĩ như vậy. Dora cũng đứng dậy, đưa tay ấn vai tôi xuống để cầm tôi ở lại, và cái nhìn của nàng cho tôi biết rằng nàng không muốn tôi bỏ đi: Như vậy quả thật là họ sung sướng trước sự hiện diện của tôi tại nhà họ. Dora đưa hộp thuốc của nàng ra mời tôi hút, châm đầy tách trà của tôi, tôi ném chiếc mũ bê-rê lên một chiếc ghế, thong thả ngồi lại. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn im lặng -thỉnh thoảng mới buột miệng thốt lên hai tiếng. Mỗi lần tôi nhìn Dora thì sắc diện lạnh nhạt, cứng đờ của nàng lại trở nên linh hoạt hẳn với một nụ cười mà tôi giả định là thành thật bởi vì khi tôi dứt khoát đứng dậy, để nhặt lại chiếc mũ trên ghế, tôi nhận ra rằng họ sợ sệt phải ngồi đối đầu nhau, họ sợ sệt sách vở, thuốc lá và trà. Họ thấy ngay trước mặt một buổi chiều kéo dài tưởng đến bất tận, mang nặng những buồn chán mà tự họ mang trên lưng bởi họ lấy làm hãi hùng trước sự nhàm cũ, đơn điệu của đời sống lứa đôi.

Nửa giờ sau, tôi đã có mặt trong một khu phố khác, đứng trước cửa nhà một người bạn cũ, tôi ấn chuông điện. Hơn một năm rồi tôi không đến hắn và khi bức màn che đậy lỗ ngó bé tí bố trí nơi cánh cửa được vén lên, tôi trông thấy trên khuôn mặt béo phì và trắng bệch của hắn một vẻ hoảng hốt. Sau khi đã thận trọng thay đổi nét mặt, hắn mở cửa cho tôi và khi bước ngang qua cửa, tôi trông thấy hơi nước thoát ra từ một cái cửa, sau cái cửa có tiếng trẻ con kêu chí chóe trong khi một người đàn bà lên tiếng hỏi, giọng chanh chua nghe nhức tai: “Ai đó?”. Tôi ở lại đây trong nửa tiếng đồng hồ, ngồi trong một gian phòng bày biện những chiếc ghế màu lục nhạt, nghe thoảng mùi băng phiến. Chúng tôi tán gẫu với nhau hết chuyện này đến chuyện nọ, vừa phì phèo hút thuốc, và khi nhắc lại những kỷ niệm thời còn đi học, khuôn mặt hắn hơi sáng lên, còn tôi thì lòng tràn đầy buồn chán, lợi dụng lúc phà một làn khói vào mặt hắn tôi cất tiếng hỏi:

- Mày có thể cho tao mượn tiền được không?

Hắn không có vẻ gì kinh ngạc, nhưng lại bắt đầu nói tới những món tiền hằng tháng phải chi trả cho cái ra-đi-ô, cho cái búp-phê trong nhà bếp, cho cái ấm ủ bình nước, cho cái áo lông của vợ hắn, và rồi hắn chợt thay đổi đề tài, trở về với những mẩu chuyện thời đi học. Nghe hắn nói, tôi cảm thấy mình đang sống trong ảo giác, tôi trôi dạt vào một quá khứ xưa hai ngàn năm, tôi nhìn thấy chúng tôi đi đứng, sinh hoạt trong khoảng nhá nhem của thời kỳ đó, đang cãi lẫy với tên gác cổng, đang ném nùi giẻ lên bảng đen, đang ngồi hút thuốc trong những nhà xí cổ lỗ… Tất cả những điều đó có vẻ xa xôi, lạ lùng đến nỗi tôi phải đứng dậy tìm cách khiếu từ, lòng tràn đầy sự hãi: “Thôi, tao xin…”

Khi băng qua cửa ra vào, tôi trông thấy hắn với vẻ mặt càu nhàu lúc tôi mới đến và nghe cùng giọng nói ồn ào trong nhà hắn. Hắn hét vợ hắn bằng những tiếng “để yên coi nào” đầy mơ hồ, cánh cửa đóng lại sau lưng tôi và khi tôi nhìn cầu thang đen đúa, bẩn thỉu, tôi trông hắn một lần nữa sau cái lỗ nhỏ đang trông chừng tôi bước đi.

Tôi chậm rãi trở về thành phố. Cơn mưa phùn bắt đầu lất phất, bầu không khí ẩm ướt nghe nặng nề khó chịu, những ngọn đèn ga cũng được thắp lên. Tôi dừng bước nửa chừng và bước vào một quán rượu để uống một ly rượu mạnh. Tôi đưa mắt quan sát những động tác của một người đàn ông bỏ những đồng tiền vào một cái máy hát đĩa để nghe những âm điệu cũ mèm nhại đi nhai lại mỗi ngày. Một ngụm khói phía trên quầy hàng khiến tôi để ý tới bà chủ quán có khuôn mặt khắc khổ xuất hiện dưới mắt tôi như một người đàn bà bị đày ải. Tôi trả tiền và bước ra ngoài.

Trên những đống gạch ngói hoang tàn còn lại từ những nhà cửa bị tàn phá, nước mưa tạo thành từng vũng đục ngầu, màu vàng nhạt hay nâu thẫm, chảy tới lề đường và từ những giàn giáo phía trên, nước vôi nhỏ giọt xuống làm lấm lem chiếc áo khoác của tôi.

Tôi ngồi trong nhà thờ thuộc dòng tu Saint-Dominique và lâm râm cầu nguyện. Trong vùng ánh sáng mập mờ, tôi trông thấy bọn đàn ông, đàn bà, con nít đang bu trước các phòng xưng tội. Trên bàn thờ chính, ánh sáng hai ngọn bạch lạp hòa lẫn với thứ ánh sáng màu đỏ tươi của Thánh Thể và ánh sáng của những ngọn đèn nhỏ soi sáng bên trong các phòng xưng tội. Tôi nghe những lời xưng tội thì thầm, tôi trông thấy người ta xếp hàng lần lượt tiến tới, người nào xưng tội xong thì tiến ra khoảng giữa vừa thì thầm sám hối vừa đưa hai bàn tay che đầu. Trong khoảnh khắc, tôi trông thấy những sợi dây cháy trắng của một lò sưởi điện: Một ông cha mở cánh cửa nhỏ của phòng xưng tội nhìn hàng ngàn người đang chờ đợi; ông ta có vẻ thất vọng khi thấy những người sám hối chỉ có độ hai mươi người. Ông ta trở lại chỗ ngồi và tôi nghe tiếng lò sưởi điện ngừng chạy, rồi giọng nói thì thầm, dịu dàng lại bắt đầu.

Tôi mường tượng lại tất cả những bộ mặt mình trông thấy, gặp gỡ vào buổi xế chiều hôm nay: cô gái trong ngân hàng đã cho tôi mảnh giấy có dán keo, người đàn bà bán xúc xích có nước da hồng hào, cái đầu của chính tôi với cái lỗ hổng đón nhận những mẩu xúc xích, với chiếc mũ bê-rê nhàu nát, tôi mường tượng cái đầu của Wagner, khuôn mặt dịu hiền, mờ ảo của cô gái giúp việc cho gia đình Beisem, cậu bé Alphonse Beisem mà tôi đã dạy cho các định luật về phân số, cô bé gái trong nhà bếp nghe nồng nặc mùi dấm chua, tôi mường tượng nhà ga Winiza bẩn thỉu, chất đầy những máy kéo đã gỉ sét nơi cha cô đã bị giết chết, tôi mường tượng mẹ cô với khuôn mặt gầy gò và với đôi mắt gần như đã ngả sang màu vàng, Buckler và người bạn học cùng lớp nọ, sau cùng gương mặt đỏ gay của người đàn ông nghe những đĩa nhạc trong quán rượu. Nhưng rồi hơi lạnh thấm vào người. Tôi đứng dậy, cho tay vào bình nước thánh, làm dấu thánh giá và bước ra đường, nơi có quán cà phê Betzner. Ngay khi ngồi vào chiếc bàn kê gần chiếc máy đồng xu, tôi nhận ra rằng trong suốt buổi xế chiều, bắt đầu từ lúc tôi rút ra mười đồng mác từ phong bì, ý nghĩ duy nhất của tôi là quán cà phê Betzner này. Sau khí ném chiếc mũ bê-rê trên một cái móc và kêu về phía quầy: “Rượu nếp, một ly lớn”, tôi mở nút áo khoác và móc trong túi áo vét tìm mấy đồng xu. Tôi cho đồng tiền vào khe hở của chiếc máy, ấn vào chiếc nút bấm cho những viên đạn mạ bạc chạy ra và cầm trong bàn tay phải ly rượu mà Betzner vừa mang ra, tôi cho viên đạn thứ nhất vào cuộc chơi: nó dội vào những bờ vách, bắt đầu ngân vang và tôi kề tai lắng nghe thứ âm nhạc đó.

Tôi chỉ cần mò kỹ vào túi để tìm ra năm đồng mác do người đồng nghiệp đến thay tôi đã cho tôi mượn, và chính tôi đã quên đi mất. Tôi cúi sát vào máy, theo dõi những viên đạn mạ bạc chạy lăng quăng, lắng tai nghe những âm điệu nhịp nhàng vang lên từ những bờ vách, trong khi Betzner thì thầm với một người khách: “Lại một người sẽ không chịu rời khỏi cái máy khi nào hắn còn một xu dính túi”.

Người dịch: Huỳnh Phan Anh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.