Lúc tôi bước trở xuống phòng thì người ta đang xếp đĩa dơ thành từng chồng và dọn dẹp trên bàn, tôi nghe mùi ra-gu nguội lạnh, sa-lát và thức dùng làm ngọt các món ăn dặm. Tôi ngồi ở một góc phòng và ngắm hai chàng thanh niên đang ngồi gần mấy chiếc chiếc máy đồng xu. Tiếng kêu vang lên do mấy hòn bi bằng kền chạm vào thành, điệu quay cuồng của mấy cái đĩa trên trục tay quay, tiếng máy ngừng gọi lại trong tôi một kỷ niệm bồng bột. Người bồi bàn dùng giẻ lau mấy cái bàn và bà chủ khách sạn vóc người ốm yếu đang đóng một tấm bảng giấy bồi màu vàng phía trên chỗ thâu ngân: “Chiều nay có khiêu vũ. Vào cửa tự do”.
Ngồi ở bàn cạnh đó là một người đàn ông luống tuổi mặc chiếc áo choàng bằng nỉ và cái ống vố của ông ta đặt trên cái gạt tàn thuốc đang bốc lên một làn khói dày đặc. Chiếc nón màu xanh vẫn đội trên đầu và ông ta dùng nĩa quậy nước sốt màu đỏ của món goulasch[1].
- Dạ, ông dùng chi? Người bồi bàn hỏi, tôi ngước mắt nhìn hắn, tôi thấy mặt hắn quen quen.
- Thực đơn có gì?
- Món goulasch, hắn đáp, sườn heo, khoai tây, sa-lát, tráng miệng - và có súp để ăn trước, nếu ông thích.
- Cho tôi goulasch, súp để ăn trước và rượu nếp.
- Dạ, người bồi bàn đáp.
Bữa ăn thịnh soạn và khá nóng, tôi thấy đói, tôi gọi bánh mì để chấm vào món sốt đầy gia vị. Rồi tôi gọi ly rượu thứ hai. Hai chàng thanh niên vẫn mải miết chơi, một trong hai người đó có một chòm tóc xước ngược trên đỉnh đầu.
Tôi trả tiền, đợi thêm ít phút, nhưng vẫn không có cái máy nào trống. Tôi nhìn chăm chú vào người bồi bàn, tin chắc là đã từng gặp cái khuôn mặt xanh mét cùng mớ tóc màu muối tiêu này.
Tối đến két lấy thuốc lá, bà chủ nhìn tôi dò xét và hỏi:
- Ông ở suốt đêm à?
- Vâng, tôi đáp.
- Xin ông cho tiền trước, bởi vì… bà ta nhếch mép, như thế chúng tôi đỡ lo hơn khi nhà ga ở sát bên đây… và vì ông không có đồ đạc gì cả.
- Dĩ nhiên, tôi nói và rút tiền trong túi ra.
- Tám mác, thưa ông, bà ta thấm nước miếng vào cây viết chì để viết biên lai. Ông đợi ai đó phải không? Bà ta vừa đưa biên lai vừa thốt lời thăm hỏi.
- Dạ phải, tôi đợi vợ tôi.
- Tốt lắm, bà ta nói và đưa thuốc lá cho tôi, tôi đặt một mác xuống và trở về phòng.
Tôi nằm trên giường một lúc khá lâu, hút thuốc, cố nhớ ra xem người bồi bàn kia là ai, tôi lục lạo, gom góp những ý tưởng giống nhau để rồi chúng lại vụt đứt đoạn, mất hút. Thông thường, tôi nhớ không sót một khuôn mặt nào. Chúng luôn luôn đeo đuổi theo tôi, và thoáng thấy là tôi nhận ra ngay. Chúng vẫn bồng bềnh trong tiềm thức tôi, nhất là nếu có lần nào thoáng trông thấy chúng. Những khuôn mặt đó lặn ngụp trong tiềm thức tôi như những con cá màu xám mơ hồ bơi lội trong một đầm lầy. Đôi khi chúng trồi đầu lên cao, gần chạm mặt nước, nhưng những con cá trong vũng lầy tiềm thức kia chỉ nổi hẳn lên mỗi khi gặp lại những khuôn mặt cũ đó. Cứ thắc mắc trong bụng mãi, tôi cố tìm kiếm trong cái thế giới lúc nhúc kia của tiềm thức, và bỗng tôi bắt gặp ngay trước mặt mình một tên lính hơn một lần trong đời đã xuất hiện ngay bên cạnh tôi tại một trung tâm y tế. Những con chí thoát khỏi chỗ quấn băng trên đầu của hắn, đang say sưa với chỗ máu đông lại mà chúng thích thú không kém gì máu tươi. Chúng bò đi một cách nặng nhọc trên gáy để chui vào trong mái tóc lưa thưa màu muối tiêu của hắn, rồi chúng ung dung băng qua khuôn mặt của hắn mà không gặp một sự cản trở nào. Những con vật bé nhỏ gan lì bò dọc theo vành tai hắn, có con rơi xuống, có con dính lại trên vai, có con biến mất trong lớp vải băng bẩn thỉu. Chính tôi đã gặp con người có cái đầu bé nhỏ, bệnh hoạn đó ở một nơi cách đây ba ngàn cây số, và hôm nay cũng con người ấy bưng đến cho tôi món goulasch trong một dáng vẻ dửng dưng lạnh lùng.
Tôi bằng lòng vì đã nhớ ra người bồi bàn kia, tôi quay sang một bên móc tiền từ trong túi ra đặt trên chiếc gối để đếm. Tôi còn mười ba mác, tám mươi xu…
Tôi lại trở xuống quán, hai người thanh niên vẫn chưa rời khỏi mấy cái máy, một trong hai hẳn có đầy những mười đồng xu trong túi áo vét, cái túi như muốn nứt ra và hắn cứ cho tay mặt vào đó. Ngoài ra chỉ còn có người đàn ông đội nón săn đang ngồi uống rượu đọc báo. Tôi uống cạn một ly rượu mạnh, ngắm nghía làn da trơn láng mịn màng của bà chủ, bà ta đang ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế đẩu, lần giở một tờ tạp chí.
Tôi lại trở lên phòng, nằm dài trên giường, hút thuốc, nghĩ tới Kate và mấy đứa nhỏ, tới cuộc chiến và tới hai đứa nhỏ mà mấy ông linh mục đoán chắc với chúng tôi là đã lên thiên đàng.
Ngày nào tôi cũng nghĩ tới chúng, nhưng lần này tôi nghĩ tới chúng rất lâu - dù ít ai tin là tôi thường nghĩ tới chúng, chính Kate cũng sẽ khó tin điều đó. Họ cho tôi là một người thất thường, khi vầy khi khác, một con người là cứ ba năm là thay đổi nghề nghiệp một lần kể từ khi tiêu sạch số tiền của ông già để lại, một con người đã già đời rồi mà vẫn chưa đạt được sự quân bình, một con người mà gia đình không ngó ngàng tới, một con người mà hễ có phương tiện là đi nhậu nhẹt, say sưa.
Thật ra thì tôi cũng ít khi say ngà ngà, một tháng không tới một lần, còn say đúng nghĩa thì ba tháng một lần cũng họa hoằn. Đôi khi tôi tự hỏi không biết những người kia họ nghĩ là tôi làm gì, vào những ngày tôi không uống rượu, nghĩa là hai mươi chín ngày trong một tháng ba mươi ngày. Thật giản dị, tôi đi rong rất nhiều, tôi cố kiếm ít tiền vặt, tôi đi tìm mấy người bạn học cũ rồi phăng tới mấy đứa học trò đệ ngũ, lũ trẻ vẫn bị người ta bắt nạt, tôi đi lang thang trong thành phố, len lỏi rất lâu trong những vùng ngoại ô để lân la đến mấy nghĩa trang, nếu lúc tôi đi qua người ta còn mở cửa. Tôi đi loanh quanh giữa những bụi cây được cắt tỉa cẩn thận, những bồn hoa được chăm sóc kỹ lưỡng, tôi đọc được những tấm lắc, những cái tên, tôi ướp buồng phổi tôi bằng mùi vị của nghĩa trang và tôi nghe tim mình đập mạnh với niềm tin chắc rằng một ngày nào đó tôi cũng sẽ yên nghỉ tại nơi này. Hồi trước khi còn nhiều tiền, chúng tôi đã đi du lịch rất nhiều, nhưng ở những thành phố xa lạ đó tôi cũng làm những điều như ở đây, nơi tôi định ở lại: Tôi lê la nơi các khách sạn, tôi hút thuốc, tôi đi lang thang, thỉnh thoảng bước qua cổng một ngôi nhà thờ và đi xa về những vùng ngoại ô, nơi có những nghĩa trang. Tôi đến uống rượu nơi tửu điếm dơ bẩn, ban đêm tôi trò chuyện với những người không quen biết như trò chuyện với anh em ruột thịt và tôi biết rằng sau đó tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại họ.
Từ hồi còn nhỏ, tôi thích đến những nghĩa trang, tôi say mê cái thú đó, một thú đam mê bị xem như không thích hợp cho một thằng bé vào cái tuổi tôi lúc đó. Bây giờ tất cả những cái tên mà tôi đọc được tại đây, những bồn hoa, mỗi chữ, mỗi mùi hương, tất cả đều bảo với tôi rằng tôi sẽ chết. Đó là sự thực duy nhất mà tôi không chút ngờ vực. Và đôi khi, trong những dãy mồ dài vô tận kia, nơi tôi đang tản bộ, tôi bắt gặp tên những người mà tôi từng quen biết.
Lúc tôi biết được chết là gì, tôi hãy còn rất trẻ. Mẹ tôi chết lúc tôi mới bảy tuổi và tất cả đã diễn ra trước mắt tôi: Ông cha tới, làm phép xức dầu, rửa tội, bà nằm đó, im lìm, người ta mang hoa đến, một cỗ áo quan, gia đình họ hàng đến, khóc than, cầu nguyện dưới chân giường của bà - bà vẫn nằm đó, im lìm, tôi tò mò theo dõi tất cả. Những tiếng lao xao không ngăn cản được tôi trong việc theo dõi công việc của những người được thuê để lo việc ma chay. Họ lau rửa cho mẹ tôi, mặc cho bà chiếc sơ mi trắng, xếp hoa xung quanh áo quan, đóng đinh nắp quan tài, đặt nó lên một cỗ xe tang - căn nhà thiếu mẹ tôi hóa ra vắng ngắt. Và tôi lén cha tôi đến nghĩa trang bằng chuyến xe số 12 - ôi, tôi sẽ không bao giờ quên được! - và đến quảng trường Tuckhoff tôi đã đón chuyến xe số 10 để đến trạm chót.
Đó là lần đầu tiên tôi bước vào nghĩa trang. Tôi hỏi thăm người đàn ông đội mũ xanh đứng ở lối vào về mẹ tôi. Mặt ông ta đỏ gay và sưng húp, ông ta nực nồng hơi rượu, ông ta nắm tay và đưa tôi tới chỗ tiếp nhận. Ông ta rất tử tế, ông hỏi tên tôi và lúc vào gian phòng ông bảo tôi đợi ở đó. Tôi đợi, tôi bước đi giữa những chiếc ghế, quanh một chiếc bàn màu nâu nhạt, tôi xem xét mấy bức tranh trên tường và chờ đợi… Một trong những bức tranh đó là một người đàn bà mảnh mai, đen, đang ngồi trên một hòn đảo, và cũng như tôi, bà ấy cũng đang chờ đợi; tôi nhón gót và đọc mấy chữ: NANA. Một bức tranh khác là một người đàn ông râu tóc xồm xoàm, miệng cười toe toét và đang đưa lên mũi một vại bia với chiếc nắp sặc sỡ. Tôi không đọc được những chữ ghi phía dưới, tôi bước ra cửa nhưng cửa đã khóa. Tôi khóc ròng và ngồi phệt xuống một chiếc ghế màu nâu nhạt, tôi khóc cho tới khi nghe tiếng bước chân trong hành lang. Tôi nhận ra bước chân của cha tôi, tôi đã nhiều lần nghe tiếng bước chân của ông đi trên dãy hành lang dài. Cha tôi rất tử tế với tôi, và chúng tôi được mấy người đàn ông cao lớn đội mũ lưỡi trai đưa đến nhà xác. Chính nơi đây tôi thấy mấy chiếc quan tài được xếp hàng, có đánh số và ghi tên; người đàn ông đội mũ lưỡi trai xanh đưa chúng tôi đến một trong hai quan tài. Cha tôi gõ nhẹ vào tấm bảng nhỏ và đọc lớn: Elizabeth Bogner, 18-4 hồi 16 giờ, khu VII/L. Cha hỏi tôi hôm nay ngày mấy. Tôi không biết và cha tôi nói: “Bữa nay là mười sáu. Đến mốt người ta mới chôn mẹ”. Mọi người đã phải hứa chắc với tôi là sẽ không làm gì với chiếc quan tài khi không có mặt tôi ở đó, cha tôi khóc, ông hứa với tôi điều đó và chúng tôi trở về ngôi nhà buồn thảm của mình. Tới nhà, tôi giúp cha dọn dẹp gian phòng rộng lớn, cũ kỹ dùng làm nơi chứa những vật dụng dự trữ. Tất cả những gì mẹ tôi đã mua của những người bán dạo trong vòng mấy năm trời được dịp tuôn ra: những lưỡi dao cạo râu gỉ sét không dùng được nữa, xà phòng, thuốc giết ruồi muỗi, dây thun đã giãn và cả lố hộp kim tây. Cha tôi khóc.
Quả nhiên, hai hôm sau tôi trở lại viếng cỗ quan tài: Nó vẫn còn nguyên đó, chưa ai đụng tới. Người ta đưa quan tài lên một chiếc xe, rồi treo những tràng hoa lên, và chúng tôi theo chiếc xe bước đi phía sau vị cha sở và các lễ sinh của giáo đường, đến tận cái huyệt lớn đầy đất sét, được đào ở khu VII. Tôi trông thấy chiếc quan tài được ban phép lành, hạ xuống huyệt, được rải nước thánh và lấp đất lên. Tôi chăm chú theo dõi lời cầu nguyện của vị linh mục, tôi nghe có tiếng cát bụi - cát bụi và tái sinh. Cha tôi và tôi, chúng tôi ở lại nghĩa trang một lúc lâu, vì tôi đòi xem mấy người phu đào huyệt làm việc: Họ ném thêm đất, dậm lên cho đất nén xuống, dùng xuổng để nện cho bằng những chỗ đất nhô lên, đặt những tràng hoa lên, và sau cùng, một người phu cắm xuống đất một thánh giá nhỏ bằng gỗ màu trắng, đầy những nét màu đen, tôi đọc được tên: Elizabeth Bogner.
Chết, đó là một sự thật mà từ khi còn nhỏ, tôi tin là mình biết được ý nghĩa một cách tường tận; người ta sẽ vắng bóng, được vùi chôn dưới đất và nằm đó chờ lúc tái sinh. Và đó là một định luật mà tôi hiểu rõ và nó ám ảnh tôi nặng nề: Mọi người đều phải chết. Họ sẽ chết, những người mà tôi quen biết cũng khá đông, và lúc chôn cất họ không ai có thể ngăn cản tôi đến chứng kiến.
Rất có thể là tôi thường nghĩ quá nhiều về cái chết, dù sao thì nhiều người vẫn xem tôi như một tên nghiện rượu cũng đã phạm một lỗi lầm. Tất cả những gì tôi dốc tâm làm đều không quan trọng đối với tôi, chúng có vẻ phiền phức, vô nghĩa, và từ ngày tôi không còn sống với Kate và mấy đứa nhỏ, tôi lại thường lui tới các nghĩa trang hơn, cố gắng đến sớm để phụ một tay trong việc chôn cất. Tôi theo sau đoàn người không quen biết, tôi lắng nghe những lời ai điếu, tôi đáp lời lại câu kinh của vị linh mục đứng bên kia miệng huyệt, tôi ném đất xuống huyệt, tôi cầu nguyện bên cạnh quan tài, nếu có tiền tôi sẽ mua hoa đem theo để rải từng cánh một lên nắm đất hãy còn mềm. Tôi đi ngang qua nhà của gia đình đang có chuyện buồn và tôi đã từng được người ta mời dùng cơm. Ngồi chung bàn với những người không quen biết, tôi uống bia, ăn sa-lát, khoai tây và xúc xích, tôi để cho mấy người đàn bà, còn đang sụt sùi khóc, múc cho tôi đầy đĩa với những chiếc bánh rán to tướng, tôi hút thuốc, uống rượu, lắng nghe người ta kể lể về cuộc đời của những người tôi không biết gì ngoài chiếc quan tài của họ. Đôi khi người ta còn đưa tôi xem những bức ảnh; và có lần sau khi theo đám tang của một người con gái, tôi cũng được đối đãi như vậy; ít lâu sau tôi được ngồi trong một quán ăn tồi tàn, bên người cha của nàng, ông coi tôi như một kẻ si tình bị lãng quên. Ông đưa tôi xem những bức ảnh của nàng, một người con gái tuyệt sắc với mái tóc bồng bềnh trong gió, nàng đang ngồi trên một chiếc scooter ở đầu một đại lộ. “Nó còn con nít lắm, người cha nói, nó chưa biết tình yêu là gì”. Tôi đã rải hoa trên quan tài nàng, và bây giờ tôi nhìn thấy giọt lệ trong đôi mắt của người cha, ông đặt điếu xì gà xuống chiếc gạt tàn thuốc bằng sứ màu xám trong giây lát để lau nước mắt. Những nghề nghiệp mà tôi đã thử qua không gây cho tôi chút thích thú nào. Muốn thành công với chúng, người ta cần phải quan niệm về chúng một cách đúng đắn và nghiêm chỉnh, điều tôi không thể nào làm được. Trước chiến tranh, tôi làm việc một thời gian dài trong ngành buôn bán dược phẩm, nhưng rồi tôi chán, tôi đổi sang nghề nhiếp ảnh, rồi tôi cũng bỏ. Sau đó tôi muốn làm nghề giữ thư viện, tôi đã làm quen được với Kate, nàng rất thích sách vở. Tôi dừng lại ở đó, vì có Kate ở đó, nhưng chẳng bao lâu sau khi chúng tôi cưới nhau, nàng phải bỏ sở để chờ sinh đứa con đầu lòng. Chính lúc đó cuộc chiến đã xảy ra và thằng bé Celement ra đời đúng lúc tôi bị gọi đi lính.
Ý nghĩ về cuộc chiến tranh làm tôi bực dọc, tôi ngồi dậy bước ra khỏi giường và trở xuống quán một lần nữa; mọi người đi ra vào lúc bốn giờ. Tôi uống một ly rượu mạnh, đến bên mấy chiếc máy bây giờ đã trống, nhưng tôi chỉ bỏ vào đó một đồng xu vì vừa đặt tay vào cái đòn bẩy, tôi đã nghe trong người mệt lả.
Tôi trở lên phòng, nằm xuống, hút thuốc, nghĩ tới Kate cho tới khi nghe tiếng chuông nhà thờ Đức-Mẹ-Bảy-Điều-Khó.
❀ ❀ ❀
[1] Thịt bò nấu theo kiểu Hungary.