Tôi trở lại nhà ga đổi mớ tiền lẻ nơi một người đàn bà bán xúc xích và tạm hài lòng bởi hôm nay là ngày Chúa nhật. Tôi quá mệt mỏi, quá thất vọng để có thể tìm tới tất cả những người mà tôi có thể hỏi tiền. Tôi sẽ gọi điện thoại đến họ, nếu họ có điện thoại. Đôi khi tôi thành công trong việc tạo cho giọng nói của mình một vẻ dửng dưng, siêu thoát dễ đem lại lòng tin cậy nơi kẻ khác. Đây lại là điều bí ẩn, nỗi khốn khổ thật sự khi đã thể hiện qua giọng nói và khuôn mặt con người, nó chỉ làm cho hầu bao của kẻ khác thêm thắt chặt mà thôi.
Trong nhà ga có một phòng điện thoại còn trống, tôi bước vào đó chép lại trên cái thẻ địa chỉ một vài khách sạn và móc cuốn sổ tay trong túi ra tìm số điện thoại của những người có thể nhờ vả. Tôi có nhiều đồng xu trong túi, trong lúc chần chừ trước giây phút gọi điện thoại, tôi cầm những đồng xu, ngắm nghía hình vẽ và những con số mòn cũ, bẩn thỉu. Cuối cùng sau một phút lưỡng lự, tôi bỏ hai đồng tiền vào khe hở. Mặc dù đã cố gắng nhiều và cái cảm giác túng thiếu tiền bạc thường xuyên gây khốn khổ, tôi vẫn không thấy hối hận trong việc say sưa của mình. Trước hết tôi quay số điện thoại của người mà tôi hy vọng thành công nhất. Nhưng sự từ chối của hắn không làm tôi khổ sở sao? Bởi vì sau đó tôi sẽ ngại hơn khi hỏi kẻ khác. Hai đồng tiền vẫn nằm trong máy, tôi để mặc chúng ở đó, tôi ấn xuống cái cần để gọi một số khác. Tôi không quyết định được gì, mồ hôi vã ra trên trán, chiếc áo sơ mi dán chặt vào cổ, và tôi biết rằng nhiều điều sẽ tùy thuộc vào câu trả lời chấp nhận hay chối từ. Trước phòng điện thoại, tôi thấy một người đàn ông có vẻ như đang chờ đến lượt mình và tôi sắp sửa ấn nút để đồng tiền văng ra khi phòng bên cạnh trống người và bóng người đàn ông biến mất. Tôi vẫn còn chần chừ. Phía trên đầu tôi, những chuyến xe lửa đi về nườm nượp trong tiếng rầm rập điếc tai. Tôi nghe giọng nói thật xa xôi của nhân viên thông báo giờ giấc. Tôi toát mồ hôi trán khi nghĩ rằng không bao giờ nữa, trong khoảng thời gian ngắn ngủi như thế, tôi có thể gom đủ số tiền cần thiết để tới chỗ hẹn với Kate.
Tôi áy náy khó chịu khi phải mượn tiền người khác, nhưng sau cùng, bằng một quyết định dứt khoát, tôi quay lại số cũ và rút bàn tay trái khỏi cái cần điện thoại để không phải nghĩ tới việc ấn nó xuống. Con số sau cùng đã quay xong, im lặng, rồi thì có tiếng chuông điện thoại reo. Tôi hình dung tủ sách của ông tu viện trưởng Serge nơi chuông điện thoại vừa mới reo lên, tôi trông thấy đám sách vở của ông ta, những tranh khắc tinh vi máng trên vách và cửa kính màu có vẽ hình thánh Cassien. Tấm băng rôn: “Hoan nghênh đức giám mục” trở về trong trí tôi, tôi nghĩ đến buổi lễ trong ngày và tự nhủ thầm rằng ít hy vọng Serge có mặt ở nhà. Tôi đổ mồ hôi nhiều hơn và dĩ nhiên tôi không nghe ra ngay giọng nói của Serge, bởi lúc ấy ông ta đang nói một cách nóng nảy:
- Alô, ai đó?
Giọng nói của ông ta làm tôi mất hết can đảm. Trong một giây ngắn ngủi, bao nhiêu ý nghĩ thoáng qua đầu óc tôi. Khi tôi hỏi tiền, liệu ông ta có nhận ra người giúp việc cho mình và người vay tiền chính là tôi hay không? Tôi trả lời, cố nói lớn tiếng: “Bogner đây” và tôi vừa đưa tay lên rờ cái trán ướt đẫm mồ hôi lạnh của mình vừa kề tai vào ống nghe; tôi sẽ không đời nào quên được cái cảm giác nhẹ nhõm khi nghe ông ta nói bằng một giọng đầy tru ái:
- À, con đấy à, tại sao không nói tên trước?
- Con sợ, tôi trả lời.
Ông ta im lặng. Tôi lại nghe tiếng xe lửa lăn bánh và giọng nói từ máy khuếch âm, tôi trông thấy một người đàn bà trước phòng điện thoại. Tôi ngắm nghía chiếc khăn tay bẩn thỉu và đẫm ướt của mình. Và tôi tưởng chừng Serge cho tôi một vố khi ông ta hỏi:
- Bao nhiêu?
Qua máy điện thoại, lúc bấy giờ tôi nghe tiếng chuông trịnh trọng và êm tai của nhà thờ Ba Vua; trong ống nghe, nó gợi lên những tiếng rì rầm giận dữ và tôi nói nho nhỏ:
- Năm chục.
- Bao nhiêu?
- Năm chục, tôi trả lời và vẫn còn run lên dưới tác dụng của câu ông ta hỏi. Ông ta đâu có muốn như vậy, nhưng sự việc đã như vậy rồi: Chỉ cần nghe tôi nói, chỉ cần trông thấy tôi, người ta sẽ hiểu rằng tôi đang cần tiền.
- Mấy giờ rồi? Serge hỏi.
Tôi mở cửa phòng điện thoại, ánh mắt chạm phải một người đàn bà hơi luống tuổi đang đứng đợi, đầu bà ta ngước lên cau có, tiếp theo, trên tấm băng rôn của nghiệp đoàn những người bán thuốc, tôi bắt gặp chiếc đồng hồ nhà ga. Tôi kề miệng vào máy, trả lời:
- Bảy giờ rưỡi.
Lại một phút im lặng khác của Serge và trong phút đó, tôi nghe trong máy tiếng chuông nhà thờ trầm vọng đầy mê hoặc cộng với những hồi chuông của đại giáo đường từ bên ngoài đang chế ngự cả bầu không khí ồn ào của nhà ga. Sau đó ông ta nói:
- Mười giờ hãy đến đây.
Tôi vội vàng nói, sợ ông ta gác máy:
- Alô, alô, thưa cha…
- Cái gì nữa đó?
- Có chắc được không?
- Có thể, ông ta nói, thôi chào nghe!
Tôi nghe tiếng ông ta đặt ống nghe xuống, tôi cũng gác máy và mở cửa phòng điện thoại, bước ra ngoài.
Để tiết kiệm món tiền gọi điện thoại, tôi thong dong bách bộ về phía trung tâm thành phố để tìm một gian phòng. Vấn đề cũng khá vất vả. Nhiều người lạ từ các nơi tới nhân kỳ đại lễ, nói chung tình hình du lịch cũng không giảm đi chút nào. Hơn nữa những ngày gần đây, các đại hội đã thu hút bọn trí thức trong nước đủ mọi thứ hạng. Các y sĩ giải phẫu, các nhà sưu tập bưu hoa, các hội từ thiện Thiên Chúa giáo hình thành được thói quen tụ tập nhau hàng năm dưới bóng giáo đường. Họ tràn ngập trong các khách sạn, họ tiêu pha, và giá cả do đó được dịp tăng vọt lên. Bây giờ thì đến lượt những người bán thuốc, và những người bán thuốc[1] thì đông đảo thấy rõ. Họ có mặt khắp nơi với một lá cờ nhỏ màu đỏ nơi khuy áo. Cái lạnh đến sớm dường như không làm sứt mẻ gì đến vẻ lạc quan yêu đời của họ. Họ vui vẻ chuyện trò về cửa tiệm của mình trên xe buýt, xe điện. Họ nghỉ ngơi bằng cách bày ra những trò nhóm họp, hội hè và bầu bán các chức vụ lãnh đạo để có cớ chiếm hữu tất cả các khách sạn với giá phải chăng trong ít nhất là một tuần lễ. Quả có lắm người bán thuốc thật! Nhiều người còn dẫn cả vợ theo để nghỉ cuối tuần, đến nỗi những phòng hai giường càng hiếm hoi hơn những phòng khác. Nghiệp đoàn còn tổ chức một cuộc triển lãm và căng băng rôn khắp nơi, mời mọc mọi người đến xem cuộc trưng bày sản phẩm của họ. Nhiều nơi, tại trung tâm thành phố, người ta thấy xuất hiện nhiều nhóm người đang đổ dồn về điểm khởi hành của đám rước: Một vị linh mục với những giá đèn vĩ đại vàng ánh và những lễ sinh áo đỏ ở chung quanh đang dẫn theo sau mấy con chiên ăn mặc kiểu ngày lễ.
Một hãng kem đánh răng đã mượn một quả bóng để thả xuống những chiếc dù trắng nhỏ bay lượn trong gió, mỗi chiếc mang theo một hộp kem đánh răng, trong khi đó ngoài bến tàu, một khẩu đại bác vĩ đại đang khạc hàng loạt quả bóng nhỏ mang nhãn hiệu của hãng. Nhiều điều lạ đang hứa hẹn xảy ra và người ta rỉ tai với nhau rằng cái trò quảng cáo vui nhộn của một công ty quan trọng sản xuất các sản phẩm bằng cao su đã bị Giáo hội phá.
Vào lúc mười giờ, khi đến Serge, tôi vẫn chưa kiếm được phòng và đầu óc còn quay cuồng với những câu trả lời của mấy mụ chủ khách sạn có nước da xanh xao nhợt nhạt, hoặc những tên gác cửa cáu kỉnh, mắt trắng dã vì thiếu ngủ, nói lí nhí trong kẽ răng. Quả bóng chợt biến mất, người ta không còn nghe tiếng đại bác làm trò quảng cáo, và tiếng thánh ca vang lên từ phía nam thành phố cho tôi biết rằng đám rước đã bắt đầu.
Bà quản gia của Serge dẫn tôi vào thư viện và khi tôi còn loay hoay chưa kiếm được chỗ ngồi thì ông ta từ phòng ngủ bước ra. Ông cầm tiền trong tay và nhận ra tôi tức thì. Một tờ giấy xanh lá cây, một tờ xanh dương và những đồng tiền lẻ đang trong bàn tay kia. Tôi nhìn xuống đất, đợi cho đến khi bóng của ông ta trùm kín lấy tôi, lúc bấy giờ tôi mới ngước mắt lên nhìn, vẻ mặt tôi đã khiến ông phải buột miệng:
- Chúa ơi, đâu có gì mà phải ghê gớm thế!
Tôi không nói gì.
- Đến đây, ông ta nói.
Tôi chìa hai bàn tay ra, ông ta đặt những tờ giấy bạc vào bàn tay phải của tôi và đặt những đồng tiền bằng kền lên trên.
- Ba mươi lăm, ông ta nói. Ta thật tình không có hơn được nữa.
- Dạ, cám ơn, tôi trả lời.
Tôi nhìn ông ta, gượng nở nụ cười và vô tình phát ra một tiếng nấc cụt bất lịch sự nghe như một tiếng ợ. Hẳn ông ta lấy làm khổ sở với tình cảnh này lắm thì phải. Bộ áo nhà tu thẳng bóng, đôi bàn tay được chăm sóc chu đáo, mặt mày cạo gọt sạch sẽ, tất cả những chi tiết đó đã khiến tôi liên tưởng tới chỗ ở tồi tàn của gia đình chúng tôi, với sự nghèo nàn khốn khổ mà chúng tôi đã hít thở từ mười năm nay như người ta hít phải một vùng bụi trắng mà vẫn không cảm nghiệm cũng không lưu tâm tới, mặc dù đó là thứ bụi thật.
Chính những cái bụi nghèo khó đó đã đóng thành từng lớp dày trong tim, phổi, óc và máu tôi, giờ đây chợt làm tôi ngộp thở. Tôi ho một cách miễn cưỡng và cố lấy lại hơi thở:
- Dạ… tôi nói một cách khổ sở. Dạ con xin kiếu và cảm ơn nhiều.
- Gởi lời chào vợ con.
- Cám ơn cha.
Chúng tôi siết tay nhau và tôi dợm chân bước ra ngoài. Nhưng tôi quay đầu lại và thấy ông ta vẫn còn làm cử chỉ ban phép lành về phía tôi và khi tôi khép cánh cửa lại, một con người yếu đuối với hai cánh tay buông thõng và khuôn mặt đỏ rần mà tôi đã bỏ lại sau lưng. Trời lạnh, tôi kéo cổ áo lên, lần bước về phía trung tâm thành phố. Tôi nghe vọng lại từ xa những tiếng hát lễ, những tiếng kèn ngân dài, những giọng đàn bà bất thần bị khỏa lấp bởi những giọng nam trong một ca đoàn. Những âm điệu đó nương theo gió vọng đến tai tôi từng đợt. Tôi đón nhận chúng cùng một lúc với những lớp bụi quấn quyện trong rác rến và những âm điệu cuồn cuộn, tan loãng. Nhưng rồi bất thình lình tất cả im bặt, khi đi được hai chục bước, tôi đã lạc vào con đường mà đám rước đang tới. Hai bên lề đường, bóng người lác đác; tôi đứng đó và chờ đợi.
Dưới lớp áo đỏ rực của những con người bị khổ hình, vị giám mục tiến bước một mình giữa đoàn Thánh Thể và ca đoàn của hiệp hội âm nhạc. Các ca sĩ có khuôn mặt nóng bừng, cái nhìn rỗng tuếch, gần như đần độn, họ có vẻ như đang lắng nghe âm vang của tiếng rống dịu dàng mà họ vừa cắt ngang.
Vị giám mục vóc dáng dong dỏng cao, mái tóc bạc phơ ló ra dưới chiếc mũ đỏ. Ông ta bước đi, dáng điệu cứng đờ, hai bàn tay chắp lại và tôi thấy rõ ràng là ông ta đang đọc kinh cầu nguyện mặc dù ông ta đang chắp tay và nhìn thẳng về phía trước. Chiếc thập tự giá bằng vàng đong đưa trước ngực ông ta theo từng nhịp bước chân. Dáng đi của ông ta uy nghi với những bước chân nhấc cao, khoe đôi giày kếp đỏ tươi. Ông ta đi như trong một cuộc thao diễn. Vả lại, ông ta vốn là một sĩ quan trong quân đội. Khuôn mặt khổ hạnh của ông ta rất ăn ảnh và đáng được mang lên bìa các tờ tuần báo Thiên Chúa giáo.
Các thầy dòng bước theo cách khoảng ở phía sau. Chỉ có hai trong đám người đó mới được may mắn có khuôn mặt khổ hạnh giống như vị thủ lãnh của họ. Những người còn lại đều to lớn dình dàng, nước da thì hoặc đỏ gay hoặc thật xanh xao. Họ có vẻ phẫn nộ mặc dù người ta không biết lý do của sự phẫn nộ đó.
Bốn người đàn ông mặc áo lễ cầm chiếc tàn kỳ diệu thêu thùa sặc sỡ và dưới chiếc tàn là vị giám mục phó đang bước đều, tay cầm bình bánh thánh. Chiếc bánh thánh to tướng nhưng tôi lại lợm giọng khi trông thấy nó, tôi quỳ gối và làm dấu thập tự với tình cảm nghiêng về một cái gì giả đạo đức của mình. Nhưng Thượng đế thì ngây thơ; quỳ gối trước Người không phải là một trò giả đạo đức. Những người ở hai bên lề đường cũng sụp quỳ xuống. Duy có một cậu trai trẻ mặc áo vét sọc xanh lá cây đội một chiếc mũ miền Basque là còn đứng đó không nhúc nhích, hai tay thọc trong túi quần. Ít ra cậu ta cũng không hút thuốc và tôi lấy làm hài lòng về chuyện đó. Một ông lão đầu tóc bạc phơ tiến đến sau lưng cậu ta ghé vào tai cậu ta thì thầm điều gì đó, cậu thanh niên nhún vai đưa tay lột mũ cầm trước bụng nhưng vẫn không chịu quỳ xuống.
Tôi lại thấy lòng mình rũ rượi, tôi đưa mắt theo dõi đoàn người xung quanh Thánh Thể. Đoàn người đi vào một con đường lớn, nơi có nhiều người đang chờ đến lượt để tự động quỳ xuống, đoạn đứng dậy, lấy tay phủi bụi.
Tiếp theo là một nhóm khoảng độ hai mươi người mặc lễ phục đang bước đều phía sau. Họ mặc những bộ đồ hợp thời, tuyệt khéo trừ hai người mà tôi nhận ra ngay là thợ. Đối với họ, đi giữa đám người ăn mặc vừa vặn với những bộ đồ may ở tiệm là cả một điều ghê gớm. Bởi hiển nhiên là họ chỉ mặc những bộ đồ mượn. Rõ là vị giám mục có đầu óc xã hội thật bén nhọn và chắc chắn là nhờ sự kêu gọi của ông mà những người thợ đã xuất hiện ngay trong đám người cầm tàn.
Tiếp theo là một đoàn tu sĩ diễu hành qua. Họ có bề ngoài thật đẹp. Khăn choàng đen, áo dài màu kem, vạt cạo tròn sáng láng trên những cái đầu nghiêng nghiêng xuống đất, tất cả trông thật đẹp mắt. Họ thừa sức giấu hai bàn tay trong tay áo rộng để khỏi chắp lại. Họ diễu hành trong dáng điệu trầm tư mặc tưởng, họ bước lặng lẽ, không nhanh quá cũng không chậm quá, theo nhịp điệu đều đặn của nội tâm họ. Cổ áo to tướng, chiếc áo dài thậm thượt, sự hòa hợp tốt đẹp giữa màu đen và màu trắng tạo cho họ một dáng vẻ vừa trẻ trung vừa minh mẫn. Trông thấy họ, tôi đã không khỏi sinh lòng ao ước được sống trong cộng đồng của họ. Nhưng tôi biết được vài người trong bọn họ và tôi thừa hiểu họ cũng có cái vẻ nghèo nàn như các tu sĩ thể tục nếu không có những lớp áo kia.
Trong nhóm cựu sinh viên đại học, gần một trăm người, tôi trông thấy nhiều người có vẻ mặt thật thông minh, đĩnh ngộ… Thêm vào cái vẻ thông minh, đĩnh ngộ đó, ở một vài người còn có vẻ khốn khổ. Hầu hết đều mặc lễ phục, vài người chỉ mặc thường phục xoàng xĩnh, màu xám nhạt.
Tiếp đến là những cha xứ, với những giá đèn kỳ dị chung quanh. Và tôi nhận ra sự vất vả đối với một số tu sĩ thế tục khi phải làm sao để được hòa hợp với màu áo mà họ khoác lên người, bởi vì hầu hết thay vì toát ra một dáng vẻ khổ hạnh lại tràn trề sinh lực, và nhiều người trong bọn họ, sự phì nộn không thể giấu giếm. Ngược lại, những người đang tụ tập trên các ngả đường lại có vẻ mặt u buồn, khổ hạnh, vẻ mặt của những con người bị tróc nã, lúc nào cũng sống trong lo âu.
Các sinh viên thuộc nhiều liên đoàn khác nhau đều đội mũ có vành và quấn băng vải sặc sỡ. Ai được ưu tiên đi ở giữa đoàn đều cầm trong tay một lá cờ chói lọi với những nếp óng mượt nặng nề rủ xuống. Có bảy hay tám nhóm gì đó, mỗi nhóm đi thành ba hàng người, tất cả tạo thành một quang cảnh lòe loẹt mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Dáng điệu trang nghiêm, đạo mạo, họ nhìn chăm chăm về phía trước, mặt mày điềm nhiên, như đang mải hướng về một mục tiêu xa xôi nào đó, không một ai nghi ngờ gì về sự lố bịch của mình. Một người trong bọn đội nón có vành màu xanh dương, xanh đỏ và xanh lá cây, hắn có khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi mặc dù trời không nóng lắm. Hắn không có vẻ gì vội vàng, cũng không đổ mồ hôi trán, nói chung trông hắn không kỳ dị chút nào nhưng lại rất khốn khổ. Dĩ nhiên có một thứ tòa án danh dự nào đó sẽ loại hắn ra khỏi liên đoàn về tội đổ mồ hôi không chính đáng trong lúc diễu hành. Sự loại trừ này có thể chấm dứt cơ nghiệp của hắn. Bởi vì sự thật hắn gây ấn tượng là người ta không còn cách nào hy vọng ở hắn nữa và những người khác, những người không đổ mồ hôi, sẽ cương quyết chối từ mọi sự trì hoãn cho hắn.
Theo sau các sinh viên là vô số những học sinh vừa đi vừa hát thật nhanh và gằn từng tiếng. Có thể nói rằng đó là một bài hát hai giọng, bởi vì người ta nghe tiếng của những người phía sau đúng ba giây so với những người đi phía trước. Vài ông thầy mặc lễ phục mới tinh khôi và hai vị giáo sĩ trẻ tuổi mặc áo lễ trắng có ren đang cố hết sức thúc giục, điều khiển cho họ hát đều giọng. Quay về phía những người đi sau, họ múa tay, đánh nhịp, giúp cho đám này hát đúng. Nhưng bao cố gắng của họ đều vô ích.
Bất thình lình, tôi nghe xây xẩm mặt mày, tôi không còn nhìn thấy gì nữa, cả đám rước lẫn khán giả. Tầm nhìn của tôi thu nhỏ lại, tôi trông thấy họ bị vây phủ bởi một màu xám rực rỡ. Tôi chỉ còn thấy, Clement và Clara, hai đứa con tôi. Đứa con trai của tôi thật xanh xao, trong bộ đồ xanh đã chật, như tất cả những đứa trẻ tới tuổi nhận lãnh Thánh Thể, nó cài một nhánh lá xanh nơi khuy áo và cầm trong tay cây đèn sáp. Khuôn mặt xinh xắn của nó trông xanh xao, trang trọng và trầm tư. Đứa con gái nhỏ của tôi thì tóc đen, mặt tròn, dáng người chắc như tôi, nó đang mỉm cười. Tôi có cảm giác mình cách xa chúng muôn trùng nhưng tôi lại trông thấy chúng thật rõ ràng. Bởi vì tôi vẫn xem những gì gắn liền vào đời mình như một cái gì xa lạ với chính mình và như một gánh nặng. Chính trong cái khoảnh khắc nhìn thấy hai đứa con đang cầm đèn sáp bước đi chầm chậm và trịnh trọng trong khoảng thời gian bé nhỏ thuộc tầm mắt của mình, tôi nhận ra điều mà bấy lâu nay tôi vẫn tưởng mình hiểu rõ: Chúng tôi nghèo quá.
Tôi bị lôi cuốn theo đám đông ồ ạt chen lấn nhau để được theo đám rước và chứng kiến lễ bế mạc trong nhà thờ. Tôi hoài công tìm cách lách người để thoát ra ngoài, tôi mệt đừ vì phải vẹt đám đông để tìm một lối đi. Tôi để mặc cho làn sóng người xô đẩy lôi cuốn và tôi lướt người đi chầm chậm về phía ngoài. Người ngợm chỉ làm tôi thêm chán nản và tôi thù ghét cả nhân loại. Nếu trí nhớ tôi không lầm lẫn thì tôi luôn gớm ghiếc những hình phạt về thể xác. Tôi luôn luôn khổ sở khi phải chứng kiên cảnh người ta đánh đập một người nào đó dưới mắt tôi và cứ mỗi lần như thế, tôi đều cố chống lại điều đó, ngay với tù nhân. Điều này đã gây cho tôi biết bao nhiêu phiền muộn, cay đắng, và tôi đã đánh liều để khỏi trông thấy cảnh tù nhân bị bạc đãi. Tôi không biết phải làm gì, sự ghiếc gứm còn mạnh mẽ hơn tôi. Tôi can thiệp không phải vì lòng thương hại hay lòng bác ái mà chỉ vì tôi không thể chịu đựng được cảnh đó.
Thế mà từ nhiều tháng nay, tôi thường nảy ra ý muốn đánh đập một kẻ nào đó vào mặt hắn. Hơn một lần tôi đã đánh đập các con tôi, vì bị quấy rầy bởi những tiếng động ồn ào của chúng mỗi khi tôi đi làm về. Tôi đánh chúng tàn nhẫn, thật tàn nhẫn, và tôi biết rằng tôi đã sai và tôi sợ phải mất bình tĩnh.
Ước muốn man rợ được đánh kẻ khác vào mặt giờ đây lại trở về với tôi khi gặp người đàn bà ốm yếu đang bước đi trong đám đông gần tôi, gần đến nỗi tôi nghe cả cái mùi chua ngái và buồn mửa của bà ta. Khuôn mặt bà ta nhăn nhó vì hờn giận, bà ta rầy rà, trách móc ông chồng đang đi phía trước, một người đàn ông bé nhỏ có vẻ ngoài ôn hòa, đầu đội nón nỉ màu xanh lá cây. “Đi tới đi chứ! Nào bước đi, mau lên coi! Ông làm trễ nải buổi lễ cho coi!”
Tôi đi thêm một quãng về phía tay phải và tách khỏi đám đông. Vừa thoát ra ngoài, tôi đứng khựng lại trước mặt tiền của một cửa hiệu giày dép, mặc kệ từng đợt sóng người cuồn cuộn tiến về phía nhà thờ. Tôi thọc tay vào túi, mân mê xấp tiền. Tôi đếm lại nó một lần nữa mà không cần móc ra khỏi túi, trước hết là những tờ giấy bạc sau đó tới những đồng bạc lẻ. Đủ cả, không thiếu thứ nào.
Con đường chợt trở nên trống trơn. Chỉ còn lại sự bẩn thỉu, ô uế, những cánh hoa bị giẫm nát, bụi bặm và những tấm băng rôn căng xiên xẹo giữa những cột đèn. Chúng mang những dòng đầu tiên của Thánh ca viết bằng chữ đen trên nền vải trắng: “Hãy ca ngợi Chúa trong niềm vui”. “Xin Đức Mẹ hãy giáng phúc cho sự kết hợp của chúng con”.
Nhiều tấm còn mang những hình ảnh như: một con chiên và một bình rượu lễ, những tàu thốt nốt, một trái tim và một chiếc neo.
Tôi châm một điếu thuốc và lững thững đi về khu phố phía bắc. Xa xa người ta còn nghe tiếng hát vọng lại, nhưng chỉ vài phút sau, tất cả đều trở nên lặng thinh, hẳn đám rước đã tới nhà thờ. Từ một rạp chiếu bóng, khán giả bước ra sau xuất phim buổi sáng và tôi đi lẫn lộn trong một đám người trí thức trẻ đang tranh luận với nhau về bộ phim, họ mặc áo khoác, đội mũ miền Basque. Họ vây quanh một cô gái đẹp mặc áo săng-đay màu xanh lá cây và quần đàn ông bằng vải chéo-go.
… Sự tầm thường đầy cao cả…
… Nhưng mà những phương thức thực hiện…
… Kafka…
Hình ảnh những đứa trẻ luôn trở về trong trí tôi, tôi nhìn thấy chúng hai mắt nhắm nghiền. Đó chính là mấy đứa con tôi, thằng bé mười ba tuổi, cả hai đều xanh xao, sống đời đày ải. Chúng thích ca hát còn tôi thì lại cấm chúng ca hát trong nhà mỗi khi có mặt tôi tại nhà. Niềm vui rộn rã của chúng chỉ làm tôi bực bội, những tiếng động chúng gây nên chỉ làm cho tôi giận dữ và tôi đã đánh đòn chúng nó. Phải, tôi vốn không đời nào chịu đựng được cảnh cực hình của thể xác. Tôi đánh chúng vào mặt, vào mông chỉ vì tôi muốn được yên tĩnh, chỉ vì tôi muốn được nghỉ ngơi vào buổi chiều khi đi làm về.
Người ta đang hát trong nhà thờ, những âm điệu trang nghiêm, hứng khởi theo gió vọng lại trên đầu tôi. Tôi rẽ sang con đường phía trái, sau nhà ga, trí tưởng đắm chìm trong những ý nghĩ mông lung. Một đoàn người ăn mặc toàn đồ trắng, đang gỡ những tấm băng rôn tôn giáo khỏi những cái cột để thay vào đó là băng rôn có hàng chữ: “Nghiệp đoàn những người bán thuốc Đức. Mời bạn hãy đến viếng cuộc triển lãm của chúng tôi. Nhiều thứ thuốc mẫu tặng không. Bạn sẽ ra sao nếu không có những người bán thuốc?”.
Tôi không hiểu gì về chuyện đó, tôi đi trên những bước chân uể oải, thờ ơ tiến về phía nhà thờ Đức-Mẹ-Bảy-Điều-Khó. Tôi qua khỏi cổng nhà thờ và hai mắt nhìn xuống, tôi đến tiệm kem nơi tôi đã dùng bữa điểm tâm. Tôi đi như đếm từng bước một, một hoạt động bí mật nào đó như điều khiển lấy những bắp thịt của đôi chân tôi, bởi vì khi tới đó, tôi như bị nó buộc phải dừng lại và ngước mắt nhìn lên. Tôi trông thấy về phía tay phải, nhờ tấm màn vẹt ra, đĩa thịt sườn, màu sắc rực rỡ của những tấm bích chương quảng cáo thuốc lá. Tôi mở cửa, bước vào. Bầu không khí im lặng chế ngự ở bên trong và ngay tức khắc tôi cảm thấy sự vắng mặt của nàng. Thằng ngốc cũng không có ở đó. Trong góc một người tài xế xe điện đang gục đầu húp món súp. Ở bàn bên cạnh, là một đôi vợ chồng với gói bánh mì bơ mở ra và hai tách cà phê ở trước mặt. Sau quầy hàng, người tàn phế đang đứng dậy nhìn tôi. hắn hắn đã nhận ra tôi, bởi tôi thấy môi hắn khẽ rung động. Người tài xế và đôi vợ chồng cũng quay mặt nhìn về phía tôi.
- Ông cần gì? Người tàn phế nói.
- Thuốc lá, năm điếu, tôi nói nho nhỏ. Thuốc bao đỏ.
Tôi uể oải móc tiền từ trong túi, đặt nhẹ vào chiếc mâm thủy tinh, đón những điếu thuốc lá từ tay người tàn phế bỏ vào túi, nói cảm ơn và đợi.
Tôi chậm rãi đảo mắt nhìn quanh: Họ vẫn nhìn tôi chăm chăm. Người tài xế xe điện cầm chiếc muỗng ở khoảng giữa của cái đĩa và miệng hắn, làm nhễu nhão thứ nước canh màu vàng; đôi vợ chồng ngừng nhai, người đàn ông nhìn tôi, miệng há hốc trong khi người đàn bà thì ngậm chặt miệng lại. Người tàn phế thì mỉm cười, nụ cười làm sáng lên khuôn mặt tối tăm, gồ ghề và đầy lông lá đó, tôi gặp lại khuôn mặt của cô gái.
Câu hỏi hắn đặt ra cho tôi lúc bấy giờ đánh tan niềm im lặng sâu hút:
- Ông tìm ai?
Tôi lắc đầu, đi về phía cửa và khi ngập ngừng nơi ngưỡng cửa, tôi còn cảm thấy những cái nhìn đè nặng trên vai mình. Tôi bước ra ngoài, đi vào một con đường hãy còn vắng tanh.
Tại ngõ vào một con đường hầm ở phía sau nhà ga, một người đàn ông say rượu đang loạng choạng bước đi, chân nặng nề vừa hướng thẳng về phía tôi và khi hắn đến gần, tôi để ý thấy lá cờ nhỏ của những người bán thuốc nơi khuy áo của hắn. Hắn dừng bước trước mặt tôi, chộp lấy một cái nút áo khoác của tôi, phả vào mặt tôi một hơi rượu bia chua ngái, nực nồng.
- Ông sẽ ra sao nếu không có người bán thuốc? Hắn lắp bắp nói.
- Chẳng ra sao cả, tôi đáp. Không có người bán thuốc, tôi chẳng ra cái thể thống gì cả.
- Ông bạn nói đúng đó, hắn nói một cách khinh thị đoạn buông tôi ra và tiếp tục lảo đảo bước đi.
Tôi thong thả bước vào lối đi tăm tối. Phía sau nhà ga bầu không khí yên tĩnh hoàn toàn. Trọn khu phố đắm chìm trong một cái mùi đắng chát, vô vị của loại ca cao để lâu ngày pha trộn với mùi đường thắng. Quả thật những gian nhà của một đại công ty sản xuất sô-cô-la án ngữ các ngả đường với bóng dáng sừng sững tăm tối của nó, tạo cho khu phố một vẻ ngoài âm u trái ngược hẳn với những sản phẩm ngon lành do nó sản xuất. Đây là khu phố của dân nghèo và các khách sạn hiếm hoi ở đây thật rẻ. Hướng dẫn viên tránh đưa khách du lịch tới bởi tỷ lệ nghèo khó ở đây có thể gây những ấn tượng xấu cho họ. Các ngả đường chật hẹp xông đầy mùi bếp núc tanh hôi với mùi rau cải, mùi thịt rô-ti lẫn lộn vào nhau. Những đứa trẻ đứng rải rác đây đó, mải mê mút kẹo que. Qua những khung cửa sổ, tôi trông thấy những người đàn ông đang đánh bạc, những người khác chỉ mặc áo sơ mi, và trên bức tường nám đen của một ngôi nhà đổ nát, tôi trông thấy một tấm biển lớn bẩn thỉu với một bàn tay sơn đen rời ra và hàng chữ phía dưới: “Khách sạn Hà Lan, phòng cho mướn, bến trung lưu, Chúa nhật có khiêu vũ”. Tôi đi theo hướng ngón tay chỉ, rẽ sang đường khác và trông thấy trước mặt một bàn tay thứ nhì giống bàn tay thứ nhất, với lời chỉ dẫn: “Khách sạn Hà Lan ngay trước mắt”. Tôi ngước mắt nhìn lên, chỉ cần trông thấy những viên gạch đỏ phủ bằng một lớp vẩy đen bởi ở gần hãng sản xuất sô cô la, tôi cũng thừa biết rằng những người bán thuốc chưa tràn tới đây.
❀ ❀ ❀
[1] Ở Đức, người bán thuốc bán nhiều thứ hàng mà người ta có thể tìm thấy ở các tiệm thuốc tây, tiệm nước hoa, tiệm dược thảo hoặc tiệm màu. Đặc biệt hắn bán những thứ thuốc ngừa thai, điều sẽ được đề cập tới ở những trang sau, khi nói về quảng cáo.