Lạc Lối Về

Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XIII

❊ ❊ ❊

Chiếc xe buýt vẫn ngừng đúng chỗ của nó. Khoảng mặt đường đánh dấu trạm ngừng không dài và mỗi lần xe thắng gấp là tôi giật mình thức dậy từ cơn mơ màng của mình. Tôi đứng dậy, bước xuống và sau khi băng qua đường, tôi đứng trước một cửa tiệm bán đồng và sắt. Tôi trông thấy tấm biển: “Thang đủ mọi cỡ 3 tấc 20 mỗi bậc”. Muốn kiểm lại giờ giấc bằng cái đồng hồ đặt phía trên tòa nhà quả là điều vô ích hoàn toàn: Bây giờ là tám giờ kém bốn phút trong khi nó chỉ tám giờ hoặc tám giờ hơn. Trong hai thứ, xe buýt đúng nhất.

Mỗi buổi sáng tôi vẫn thường hay do dự trong khoảnh khắc trước tấm biển: “Thang đủ mọi cỡ 3 tấc 20 mỗi bậc” đặt bên cạnh một cái thang mẫu ba bậc và từ đầu mùa hè người ta thấy cạnh cái thang mẫu này một chiếc ghế dài. Trên chiếc ghế này có một hình người mẫu tóc vàng làm bằng giấy bồi hay sáp gì đó không rõ, và người đàn bà đó phô trương cặp kính mát đem lại sự dễ dàng cho nàng trong việc đọc một cuốn tiểu thuyết có nhan đề là AMBRE. Nhưng tôi không thể thấy được tên tác giả vì nó bị che lấp bởi bộ râu của một chàng lùn đang nằm dài bên cạnh đó, ở phía trên một cái bể cạn. Như vậy đã là ba tháng rồi, giữa những máy xay cà phê, những máy làm khô quần áo và cái thang, hình người mẫu tóc vàng khổng lồ vẫn đọc cuốn tiểu thuyết AMBRE. Nhưng ngày hôm đó, vừa bước xuống xe buýt, tôi để ý thấy tấm biển xưng tụng những cái thang đã biến mất, và người đàn bà đã trải qua suốt mùa hè nằm đọc một cuốn tiểu thuyết trên chiếc ghế dài, giờ đây đang mang giày trượt tuyết, khoe một chiếc khăn quàng tung bay trong gió, bên một tấm biển khác: “Ngay từ bây giờ, bạn hãy nghĩ tới các trò chơi thể thao mùa đông”.

Không quan tâm gì tới các trò chơi thể thao mùa đông, tôi bước vào đường Melchior, mua năm điếu thuốc nơi hàng bán thuốc lẻ nằm ngay bên trái tòa giám mục và bước vào sảnh đường dưới cái nhìn chăm chú của người gác cổng. Người gác cổng chào tôi, đó là một trong mấy người bạn của tôi ở đây, thỉnh thoảng hắn vẫn lên tận phòng tôi, miệng ngậm ống vố, và kể cho tôi nghe chuyện tầm phào mới nhất.

Tôi khẽ gật đầu chào hắn và chào luôn mấy thầy tu, tay cầm khăn mặt, đang hối hả bước lên cái bậc thang. Lên tới tầng trên, tôi đẩy cửa bước vào văn phòng của mình, máng áo khoác và mũ bê-rê, để năm điếu thuốc và những đồng tiền lẻ lên mặt bàn, ấn chốt điện tiếp và ngồi vào bàn.

Niềm im lặng vây kín lấy tôi ngay khi bước vào chỗ làm việc của mình. Tiếng vo ve khẽ reo lên trong tai tôi, tôi thông báo: “Đây, tổng đài điện thoại” khi, từ các phòng việc, một kẻ nào vặn số 2 và một bóng đèn đỏ nhạt báo cho tôi biết điều đó, tôi bắt đầu liên lạc.

Tôi đếm những đồng tiền trên bàn: Tất cả là một mác hai mươi. Tiếp theo tôi gọi người gác cổng và khi hắn trả lời, tôi nói:

- Đây, Bogner, xin chào, báo tới chưa?

- Chưa, hắn nói. Tôi sẽ mang tới cho ông ngay khi nhận được.

- Không có gì đặc biệt à?

- Không.

- Thôi, chốc nữa nghe!

- Chốc nữa.

Mỗi ngày vào lúc tám giờ rưỡi, có báo cáo mật của viên chủ sự Bresgen gởi tới đức giám mục Zimmer. Trước Zimmer, bọn họ đều run sợ cả lũ, ngay cả những ông thầy tu được biệt phái khỏi tu viện đi làm nhân viên tại đây trong những chức vụ hành chánh. Ông không bao giờ sử dụng những công thức xã giao như “Ta xin các con”, “cám ơn” và tôi không khỏi ớn lạnh khi phải trả lời ông. Mỗi buổi sáng, vào lúc tám giờ rưỡi đúng, người ta nghe tiếng ông: “Đây, tổng giám mục Zimmer”.

Tôi nghe báo cáo của Bresgen: “Bình: Welfrich, Sick, thầy trợ tế Huchel - không lý do giải thích: thầy trợ tế Soden”.

- Soden ra làm sao đó?

- Thưa đức cha, con không biết.

Tôi nghe Zimmer buông một tiếng thở dài, như ông vẫn thường thở dài mỗi khi nghe tới tên Soden và đó là kết thúc cuộc nói chuyện đầu tiên trong buổi sáng.

Chỉ vào khoảng chín giờ các đường dây điện thoại mới bắt đầu bận rộn: Bên ngoài gọi, các văn phòng gọi, cùng với những đường điện thoại liên tỉnh mà tôi có bổn phận xin trước… Từng lúc, tôi giở mũ ra, tôi rình rập lắng nghe và tôi nhận ra ngữ vựng ở đây, cũng không quá một trăm năm mươi chữ. Từ thông dụng nhất là thận trọng. Lúc nào cũng nghe từ đó. Những mẩu chuyện tầm thường lúc nào cũng tràn ngập đến ngán ngẩm cái từ đó.

- Báo chí tả phái đã công kích bài diễn văn của đức T.G.M - Hãy thận trọng.

- Báo chí hữu phái im lặng trước bài diễn văn của đức T.G.M - Hãy thận trọng.

- Báo chí Thiên Chúa giáo tán tụng bài diễn văn của đức T.G.M - Hãy thận trọng.

- Soden vắng mặt không lý do - Hãy thận trọng.

- Bolz được phép yết kiến vào lúc mười giờ. - Hãy thận trọng.

Đức T.G.M là những chữ viết tắt chỉ đức Tổng giám mục. Trong các vụ liên quan tới hôn nhân, họ diễn tả bằng tiếng La tinh mỗi khi đề cập đến các khái niệm chuyên môn. Tôi luôn luôn lắng nghe nhưng không biết được gì: Giọng điệu của họ rất trịnh trọng, và giọng cười của họ nghe kỳ dị khi được khơi dậy từ một lời bông đùa bằng tiếng La tinh.

Rút lại, tôi không còn cho rằng chỉ có hai ông thầy tu phụ trách về các vấn đề này là những người duy nhất có cảm tình với tôi.

Vào lúc mười một giờ, Zimmer hỏi viên bí thư của vị giám mực: “Phản đối trò quảng cáo bỉ ổi của bọn bán thuốc - nhưng: hãy thận trọng. Đám rước tại Saint - Jerome bị xúc phạm, lại còn bị biến thành trò cười nữa - hãy thận trọng”. Năm phút sau viên bí thư trả lời: “Đức tổng giám mục sẽ mở một chiến dịch phản kháng cách riêng. Chủ tịch nghiệp đoàn của bọn bán thuốc là cháu của đức tổng giám mục, vậy, hãy thận trọng,…”

- Kết quả cuộc yết kiến của Bolz ra sao?

- Chưa có gì rõ ràng, nhưng hãy thận trọng…

Sau đó tổng giám mục Zimmer hỏi tổng giám mục Weiner:

- Có sáu vụ thuyên chuyển trong giáo khu bên cạnh.

- Những tu sĩ bị thuyên chuyển ra làm sao?

- Hai người được 2/10, ba 3/10, chỉ có một người là gây ấn tượng tốt, đó là Huckmann, thuộc thành phần tư sản.

- Tôi biết, gia đình ngoại hạng. Hôm qua thế nào?

- Tởm. Chiến tranh tiếp diễn.

- Ngài bảo sao?

- Câu chuyện tiếp diễn. Có giấm chua trong sa-lát rồi.

- Tuy nhiên, ngài đã…

- Dạ, từ nhiều tháng nay, tôi đã nhấn mạnh tới việc cho chanh vào. Tôi không chịu được giấm. Thế là chiến tranh bùng nổ.

- Ngài nghi ngờ ai đó?

- W… Zimmer nói. Chắc chắn là W, chứ không ai vào đó. Tôi phát ốm vì chuyện đó.

Hẳn tôi không thấu đáo lắm về những bí mật của sự xung đột có vẻ rất chua chát này.

Vào khoảng mười một giờ mười lăm, Serge gọi tôi:

- Bogner, ông ta nói. Con có muốn đi một vòng thành phố không?

- Con không thể vắng mặt được, thưa đức cha.

- Cha cho người thay con trong nửa tiếng đồng hồ. Con sẽ tới ngân hàng - nếu con thích. Mình cần lấy ra chút đỉnh.

- Ai sẽ thay con?

- Cô Hanke. Thư ký của cha không có ở đây và Hanke không thể đi được vì đau hông. Con muốn tới đó không?

- Dạ, tôi đáp.

- Được rồi. Con hãy tới đây ngay khi Hanke có mặt ở đó.

Cô Hanke đến ngay sau đó. Tôi luôn luôn hơi kinh ngạc khi thấy cô ta vừa bước vào phòng tôi vừa đong đưa, õng ẹo thân hình. Cô ta vẫn thay cho tôi mỗi lần tôi vắng, khi tôi đến nha sĩ hoặc đi công việc cho Serge, ông ta vẫn muốn tôi được khuây khỏa. Cô Hanke người cao lớn, mảnh khảnh, tóc nâu. Cô bịnh gần ba năm nay, và tôi chưa bao giờ cảm thấy chán khi nhìn ngắm khuôn mặt dịu dàng, dễ thương ở lứa tuổi hai mươi của cô ta. Cô ta mang hoa đến cho tôi, những cành hoa thúy cúc màu tím, cô ta cho chúng vào trong một cái bình đặt bên của sổ và chỉ bắt tay tôi sau đó. Cô ta nói:

- Ông có thể đi được rồi, mấy cháu ra sao ông?

- Chúng vẫn chơi, tôi nói, vừa mặc áo khoác vào người.

Cô ta mỉm cười nhìn tôi, nói:

- Bogner, có người trông thấy ông say rượu. Ông nên cẩn thận phòng khi Zimmer ám chỉ việc đó.

- Cám ơn cô.

- Ông không nên uống rượu.

- Tôi biết.

- Còn bà ra sao? Cô ta dè dặt hỏi.

Tôi gài nút áo khoác, nhìn thẳng vào mặt cô ta, nói:

- Cô khỏi phải giấu tôi điều gì cả. Cô nghe người ta bảo sao về chuyện đó?

- Người ta bảo bà đang đợi một đứa bé trong bụng.

Tôi nói:

- Thế mà vợ tôi chỉ mới biết hôm qua.

- Ban mật vụ biết trước.

- Cô Hanke, có chuyện gì xảy ra thế?

Có người gọi, cô ta trả lời, thiết lập hệ thống liên lạc, và nhìn tôi, mỉm cười:

- Thật ra thì không có gì đặc biệt. Người ta chỉ kể lại là ông uống rượu, bà nhà có thai - thêm chuyện ông bà sống xa nhau từ bấy lâu nay.

- Đúng thế.

- Đó. Tôi chỉ có thể nhắc ông cảnh giác với Zimmer, với Bresgen, với cô Hecht, nhưng ở đây ông có nhiều bạn hơn là thù.

- Tôi không tin.

- Ông hãy tin tôi, nhất là các thầy tu, hầu hết họ thương ông lắm.

Cô ta lại mỉm cười, tiếp lời:

- Chính vì có điểm tương đồng trong tính nết và… không chỉ có mình ông uống rượu đâu.

Tôi phá lên cười:

- Cô cho tôi biết, ai đầu độc Zimmer từ từ, bằng những giọt giấm?

- Ông không biết à? Cô ta vừa nói, vừa nhìn tôi với nụ cười kinh ngạc.

- Không.

- Mèng ơi, một nửa giáo khu đều cười rộ vì chuyện đó, còn ông, ông ở ngay giao điểm của những tin đồn, ông lại không biết gì. Tôi cho ông biết người đó: Wupp - tu viện trưởng Wupp - ông ta có một người chị làm hỏa đầu quân trong tu viện Áo-Xanh-Đức-Mẹ-Đồng-Trinh. Ông hiểu chưa?

- Tôi vẫn không hiểu.

- Zimmer gây cản trở cho việc thăng chức của giáo mục Wupp. Đáp lễ? Một chai giấm năm mươi xu, giấu trong một xó tu viện, được mang ra dùng ngay sau khi Zimmer xuất hiện. Thôi, ông đi đi, Serge đang đợi ông.

Tôi gật đầu đồng ý và bước đi.

Mỗi lần trò chuyện với Hanke, tôi nghe người nhẹ nhõm hẳn ra: Cô ta có tài trút mọi gánh nặng của sự việc. Với cô ta, một câu chuyện nhảm nhí nhỏ nhặt tới đâu cũng biến thành một trò giải khuây thích thú, dễ thương mà mọi người đều thấy mình được dự vào.

Khoảng hành lang quét vôi trắng đưa tới phòng làm việc của Serge đánh dấu bằng những bức tượng nhỏ hình thù kỳ dị lấp vào những lỗ đục ở tường. Serge đang ngồi nơi bàn làm việc, đầu tựa lên tay. Ông ta còn trẻ, trẻ hơn tôi vài tuổi, và là người có thẩm quyền trong các vụ hôn phối.

- Chào ông Bogner, ông nói.

Tôi chào lại ông, tiến đến gần ông và ông chìa tay cho tôi bắt. Ông có được tư chất phi thường là gây cho ta cái ấn tượng rằng ông không còn nghĩ gì tới món tiền mà ta đã mượn ông hôm trước. Có thể ông quên luôn thật sự chuyện đó. Gian phòng của ông là một trong những gian phòng hiếm hoi chưa bị tàn phá: Món đồ thật quý giá ở đó là một cái lò sưởi bằng sứ đặt trong góc, theo cẩm nang về những đền đài lịch sử thì nó chưa được sử dụng bao giờ bởi vị vương hầu đã đến một dinh thự kém quan trọng hơn ở vào mùa đông. Serge trao cho tôi nhiều tấm chi phiếu chuyển mục và một phong bì đựng tiền mặt.

- Sáu mươi hai mác, tám mươi xu. Hãy cho tất cả vào trương mục của chúng ta. Con biết số rồi chứ?

- Dạ biết.

- Ta sẽ lấy làm hài lòng khi nào ta thoát khỏi chức vụ này. May thay, Witsch sẽ trở về vào ngày mốt và gánh cho ta việc này.

Ông nhìn tôi với đôi mắt trầm lặng, hẳn ông đang nghĩ rằng, tôi sắp sửa mang chuyện hôn nhân ra nói với ông. Hiển nhiên là ông có thể cho tôi nhiều lời khuyên bổ ích; và ngoài ra đối với ông tôi là một trường hợp đặc biệt với những uẩn khúc khiến ông lưu tâm tới. Khuôn mặt ông phản ánh một tấm lòng tốt và một trí thông minh, tôi rất muốn thổ lộ với ông nhưng tôi lại không có can đảm. Đôi khi, tôi nhủ thầm với chính mình là thổ lộ lòng mình hoặc xưng tội với một tu sĩ diêm dúa, bẩn thỉu sẽ dễ dàng hơn; nhưng tôi lại nhận ra là người ta sẽ không có tội tình gì khi người ta sạch sẽ, hay yêu mến sự sạch sẽ. Serge, con người đầy sự tốt lành, hẳn sẽ là người sau cùng tôi gởi tới sự trách cứ đó. Tuy nhiên, chính cái cổ áo trắng tinh và sự chăm sóc tỉ mỉ của ông để làm nổi bật đường viền tím ló ra khỏi chiếc áo nhà tu của ông, tất cả đã ngăn cản tôi xưng tội với ông.

Tôi cho tiền và chi phiếu vào túi trong của cái áo khoác, tôi ngẩng đầu lên và nhìn vào cặp mắt mở lớn của ông, trầm lặng và sâu hút, như bám sát lấy tôi. Tôi có cảm tưởng là ông muốn giúp đỡ tôi, ông biết tất cả mọi chuyện, ông cũng biết rõ ông không bao giờ là người đầu tiên mở lời. Tôi chịu đựng cái nhìn của ông cho đến khi ông phác một nụ cười vui vẻ và lúc bấy giờ tôi lên tiếng đặt thẳng câu hỏi mà nhiều năm nay tôi vẫn có ý định hỏi một tu sĩ:

- Đức cha có tin rằng người chết có thể sống lại được không?

Tôi dò xét khuôn mặt đẹp với những đường nét rõ ràng của ông, vẻ mặt vẫn không chút thay đổi và ông bình thản đáp:

- Có.

Tôi lại hỏi:

- Và đức cha có tin…

Nhưng ông đã ngắt lời tôi:

- Ta tin tất cả mọi sự. Ta tin ở tất cả những điều con muốn hỏi ta. Nói cách khác, ta sẽ rời ngay bộ áo này để làm luật sư, chuyên viên về các vụ ly dị và ta bất cần tới ba cái mớ lộn xộn này - Ông chỉ những đống hồ sơ trên bàn - ta sẽ ném chúng vào lửa, bởi chúng giúp ích gì cho ta và chúng có giúp ích gì cho tất cả những tâm hồn khốn khổ đang oằn oại lo âu chỉ vì họ tin vào những điều giống nhau?

- Con xin lỗi đức cha.

Ông thấp giọng:

- Ta có phải tha lỗi cho con không? Dường như là đúng ra con có quyền hỏi ta hơn là ta có quyền hỏi con.

- Đức cha đừng hỏi con.

- Ta sẽ không hỏi con nhưng một ngày nào đó con sẽ nói phải không?

- Dạ, một ngày nào đó con sẽ nói.

Tôi lấy tờ báo nơi người gác cổng, đếm lại tiền trước cửa và lê bước về phía thành phố. Bao nhiêu hình ảnh dồn dập xâm chiếm lấy tôi: Các con tôi, Kate, những lời lẽ của Serge, của Hanke. Tất cả đều có lý, còn tôi, tôi đã lầm, nhưng điều mà tất cả bọn họ không biết được, kể cả Kate, là tôi buồn nản thật sự vì con cái cũng như việc Kate và tôi đi tới ý nghĩ rằng chính tôi mới có lý và họ nhầm lẫn, bởi thực sự họ đã có sự đồng tình với nhau trên những lời lẽ tốt đẹp, còn tôi thì không tìm thấy.

Tôi tự hỏi mình có nên uống một ly cà phê và đọc một tờ báo hay không. Tôi chỉ nghe những tiếng động ngoài đường qua một bức màn mỏng, và tuy vậy tôi vẫn đang bước đi giữa phố phường; một người bán chuối cất cao giọng rao hàng.

Tôi dừng bước trước các khung cửa kính của tiệm Bonneberg, ngắm những chiếc áo choàng mùa mát và những cái đầu hình người mẫu vẫn đang làm tôi sợ sệt.

Tôi đang đếm lại một lần nữa những tấm chi phiếu trong túi áo và thăm chừng cái phong bì đựng tiền mặt khi mắt tôi chợt nhìn vào lối đi ngăn đôi những chỗ bày hàng của tiệm Bonneberg: Một người đàn bà xuất hiện ở đó làm rung động tim tôi và gây cho tôi một tình cảm hốt hoảng không đâu. Nàng không trẻ lắm nhưng vẫn còn đẹp, tôi để ý tới cặp giờ, chiếc váy màu xanh lá, tấm áo khoác nâu sẫm tồi tàn, chiếc nón xanh, và nhất là nét mặt nhìn nghiêng dịu dàng rũ rượi của nàng, rồi trong khoảnh khắc - tôi không biết khoảnh khắc đó kéo dài bao lâu - tôi cảm thấy tim mình ngừng đập. Tôi trông thấy nàng qua hai tấm gương, đang nhìn vào những bộ quần áo nhưng đồng thời lại có vẻ như đang nghĩ ngợi tới một điều gì khác.

Tôi thấy tim tôi đập trở lại và rồi bất chợt khi nhìn nét mặt nhìn nghiêng của nàng, tôi nhận ra đó là Kate. Sau đó, tôi lại có cảm tưởng mình không nhận ra nàng nữa, lòng tôi tràn đầy những nghi ngờ, và trong hơi nóng cuồn cuộn, tôi tưởng mình có thể điên lên được, nhưng kìa, nàng đã tiếp tục bước đi và tôi bắt đầu bước chầm chậm theo nàng: Không còn tấm gương nào ngăn cách chúng tôi nữa và tôi chắc chắn đã trông thấy Kate.

Chính nàng, nhưng nàng đã đổi khác, khác hẳn với hình ảnh của nàng trong kỷ niệm tôi. Tôi đi trên những bước chân của nàng, rời khỏi hành lang và bước ra đường, luôn luôn nàng vẫn có vẻ vừa xa lạ vừa thân thiết với tôi, nàng, người đàn bà mà tôi vừa mới gần gũi trọn một đêm thâu, người đàn bà mà tôi đã cưới làm vợ từ mười lăm năm trời nay.

“Và nếu cơn điên mình có thật?” Tôi nghĩ thầm.

Quả thật tôi đã hoảng hồn khi trông thấy Kate bước vào một cửa tiệm. Tôi đứng im bên một chiếc xe chở rau cải, ngó chừng về phía cửa tiệm trong khi ở phía sau, một người đàn ông gần như đứng sát vào tôi đang rao hàng nhưng tôi lại cứ tưởng hắn đang nói với tôi về một thế giới kín bưng, bí mật nào: “Súp lơ, một mác hai cây đây.”

Tôi đâm ra sợ sệt vớ vẩn là Kate sẽ không bước trở ra khỏi cửa tiệm, tôi nhìn chăm chăm về phía cửa, liếc nhìn lần lượt trên khuôn mặt nhăn nhó của một người Java bằng giấy bồi đang bung một tách cà phê tiến về với những hàm răng trắng bóng, tôi nghe tiếng rao hàng của người bán rau cải: “Súp lơ một mác hai cây đây!”, tôi nghĩ tới đủ mọi điều mà không tài nào xác định rõ ràng và khẽ run lên khi Kate bước ra ngoài. Nàng tới đường Veite, nàng dồn bước đi nhanh khiến tôi không tránh khỏi phút giây xao xuyến khi mất dấu nàng, nhưng sau đó tôi lại thấy nàng xuất hiện trở lại. Nàng dừng bước trước khung kính của một tiệm bán đồ chơi trẻ con và tôi được dịp ngắm nàng, xem xét nỗi buồn rười rượi in sâu trên nét mặt nàng, chiêm ngưỡng vóc dáng thân thể nàng, thân thể đêm đêm đã nằm bên tôi trong suốt những tháng năm dài, thân thể mà bốn tiếng đồng hồ trước đây tôi còn gần gũi, chung đụng và mới tức thì đây tôi đã không nhìn ra.

Khi nàng quay đầu lại, tôi vội vàng nhảy sang một bên để núp sau một cửa hàng vải để tiếp tục quan sát nàng mà không sợ nàng nhìn thấy.

Nàng lục trong cái rổ tre, lấy ra một tấm thẻ, ngắm nghía, trong lúc bên cạnh tôi, người bán hàng cất tiếng rao nghe điếc tai.

“Nếu quý ngài chịu nghĩ rằng quý ngài phải cạo râu trong năm mươi năm, tôi xin nói rõ là trong năm mươi năm, nước da của quý ngài do đó…”

Nhưng vì Kate lại tiếp tục bước đi nên tôi không nghe được đoạn chót của lời rao hàng. Cách nàng khoảng bốn mươi bước, tôi băng qua những con đường sắt dẫn về quảng trường Bildon và khi nàng dừng bước trước một gian hàng bán hoa, tôi trông thấy đôi bàn tay của nàng, tôi trông thấy nàng khá rõ ràng, nàng với bao nhiêu điều ràng buộc với tôi hơn bất luận một người nào trên đời này. Nàng, kẻ đã cùng tôi ăn, ngủ, chuyện trò liên tiếp trong hàng chục năm trời, nhưng đồng thời đó cũng là kẻ gắn liền với tôi bằng một mối liên hệ chặt chẽ hơn cả tình nghĩa vợ chồng. Có một thời chúng tôi đã cùng đọc kinh cầu nguyện chung với nhau.

Nàng mua những bông cúc vàng cả những bông cúc trắng, nàng bước chậm về phía trước, thật chậm. Nàng, người mà khoảnh khắc trước đây đã đi như bay, và tôi biết nàng đang nghĩ gì. Nàng vẫn không ngớt nói rằng: Em đi mua những cánh hoa mọc trên đồng cỏ, nơi mà các con ta chưa bao giờ được nô đùa thỏa thích.

Như vậy chúng tôi bước đi trong khoảng cách, cùng nghĩ đến các con, và tôi không có can đảm đuổi kịp nàng, nói chuyện với nàng. Tôi nghe vẳng bên tai những tiếng động ở chung quanh; một giọng nói xa xôi làm cho màng nhĩ tôi rung vang thật nhẹ nhàng, đó là tiếng của một nhân viên xe điện thông báo trong mi-crô: “Xin lưu ý, xin lưu ý, chuyến xe đặc biệt trên đường H sắp sửa khởi hành tới cuộc triển lãm của những người bán thuốc, xin lưu ý…”

Tôi bước theo Kate, tôi như băng qua một mặt nước xám, tôi không tài nào đếm hết những nhịp tim bồi hồi của mình, và một lần nữa tôi hốt hoảng khi Kate bước vào ngôi nhà thờ thuộc giáo hội hiệp nghị và cánh cửa bọc da đen khép lại phía sau lưng nàng.

Chỉ khi bước tới nó, tôi mới sực nhớ lại điếu thuốc của mình, nó đã cháy từ khi tôi rời người gác cổng, sau khi từ phòng làm việc bước xuống: Tôi ném nó đi, khẽ mở hé cánh cửa nhà thờ, nghe vang dội điệu đàn phong cầm trầm bổng, và sau khi băng trở lại quảng trường, tôi ngồi trên một chiếc ghế dài chờ đợi.

Tôi ngồi đó đợi rất lâu, tôi cố mường tượng khoảnh khắc buổi sớm khi Kate bước lên xe buýt, nhưng tôi mường tượng không ra. Tôi thấy mình rơi vào một trạng thái hôn mê, đờ đẫn, tôi trôi dật dờ theo một dòng nước chảy mãi không ngừng, và tôi chỉ còn trông thấy có mỗi một điều, đó là cánh cửa đen nơi Kate sẽ bước ra. Khi nàng bước ra ngoài, tôi không còn nhận ra nàng thật sự nữa. Bây giờ nàng dồn bước nhanh hơn, những cánh hoa lớn có cọng dài đặt trên chiếc rổ tre, và tôi vất vả lắm mới giữ được khoảng cách khi nàng bước quá nhanh, những bước chân đưa nàng lộn trở về, bên kia quảng trường Bildon, trên đường Verte. Những cánh hoa đong đưa theo nhịp chân bước nhanh. Tôi nghe hai bàn tay mình rịn mồ hôi. Tôi chập choạng muốn ngã khi tim tôi rộn lên những nhịp đập đau đớn, khổ sử.

Nàng đứng phắt lại trước cửa tiệm Bonneberg. Tôi còn kịp thì giờ để lách mình lướt đi trong khoảng hành lang và giờ đây, tôi có thể nhìn lại nàng y như lúc tôi đã nhìn nàng mấy phút trước đây, với những nét dịu dàng, buồn bã. Nàng đưa mắt săm soi những chiếc áo khoác đàn ông và mỗi lần cánh cửa lớn của tiệm buôn mở ra, tôi lại nghe giọng nói từ máy khuếch ầm bên trong vang lên:

“Bạn muốn mua một cái áo khoác? - hãy đến Bonnerberg. Một cái nón? - hãy đến Bonnerberg. Một bộ quần áo? - hãy đến Bonnerberg. Áo khoác, áo vét hay nón? - hãy đến Bonnerberg, mọi thứ đều đẹp”.

Kate quay đi, băng sang đường, dừng bước trước gian hàng bán các thức giải khát, hai bàn tay mảnh dẻ xương xẩu của nàng một lần nữa xuất hiện trước mắt tôi, nàng đặt một đồng tiền lên quầy hàng, lấy về một đồng tiền khác cho vào ví tiền lẻ, những cử chỉ tuy nhỏ nhặt, quen thuộc nhưng đã làm cho lòng tôi đau nhói từng hồi. Nàng gọi nước chanh uống trong khi tiệm Bonnerberg tiếp tục phô trương những chiếc áo khoác, áo vét cùng nón của mình.

Nàng chậm rãi đẩy chai và ly ra, tay mặt cầm lên bó hoa và tôi trông thấy nàng tiếp tục bước đi, nàng, người vợ mà tôi đã ghì chặt trong tay biết bao nhiêu lần mà không để ý gì tới nàng.

Nàng bước nhanh, có vẻ lo âu, nàng quay mặt lại luôn, và tôi, tôi cong người lại, tôi nghiêng sang một bên, tôi nghe đau nhói mỗi lần chiếc nón của nàng không còn nhô lên phía trước. Nàng dừng bước nơi góc đường Orge để đợi chuyến xe 12 và tôi nép mình trốn trong một quán rượu trước trạm xe điện. Tôi nói vào khuôn mặt tròn trĩnh, đỏ gay của tên chủ quán:

- Một ly rượu mạnh.

- Ly lớn hả?

Tôi vừa đáp “ờ” vừa nhìn Kate bước lên chiếc xe điện vừa trờ tới.

- Của ông đây, tên chủ quán nói.

- Cám ơn, bao nhiêu?

- Tám chục.

Tôi đặt một mác lên quầy hàng, hắn vừa đặt tiền thối vào trong bàn tay tôi vừa tiếp tục nhìn tôi dò xét, và tôi bước ra ngoài.

Tôi đi trên đường Orge, băng qua quảng trường Moltke, tôi trở về phòng làm việc của mình trên những bước nặng nề, chậm chạp, trong khi tâm trí tôi như bay bổng tận đâu. Tôi chạm mặt người gác cổng, băng qua khoảng hành lang diêm dúa nước vôi, duyệt qua những bức tường kỳ dị, gặp phải cánh cửa phòng Serge và bước vào mặc dù không có ai trả lời.

Tôi ngồi vào bàn thật lâu, nhìn lên chồng hồ sơ, để mặc cho chuông điện thoại reo vang. Tôi cũng nghe cả tiếng cười nói trong các dãy hành lang, rồi một lần nữa chuông điện thoại reo inh ỏi, nhưng chính lời Serge thốt lên sau lưng đã đánh thức tôi:

- Nào, Bogner? Đã về rồi đấy à? Nhanh thế?

- Nhanh à? Tôi nói, không quay đầu lại.

- Ờ, ông vừa nói vừa cười, chỉ gần hai mươi phút thôi.

Bây giờ thì ông đang đứng trước mặt tôi và nhìn tôi. Trên khuôn mặt ông, tôi đọc được chuyện gì đã xảy ra. Bởi tôi không còn mơ màng nữa và qua nét mặt của ông, tôi biết ngay ông đang nghĩ đến món tiền trước tiên. Ông lo sợ cho món tiền, hiển nhiên là như vậy rồi.

Ông hỏi nhỏ:

- Bogner, con say rượu hay bịnh đó?

Tôi móc ra những tấm chi phiếu và phong bì từ trong túi, tôi trao chúng cho Serge, ông đón lấy chúng, đặt lên mặt bàn của ông, không nhìn tới chúng.

Ông nói:

- Bogner, nói cho ta biết chuyện gì đã xảy ra nào?

- Không. Không có gì cả.

- Con khó chịu à?

- Không. Con đang nghĩ tới một điều chợt hiện lên trong trí con.

Và rồi sau khuôn mặt rõ nét của Serge, tôi thấy lại tất cả, tôi thấy lại Kate - vợ tôi - tôi nghe giọng nói kêu lên: Một cái áo khoác? Và tôi đồng thời lưu ý tới cái vẻ thảm hại của chiếc áo khoác màu nâu của Kate, tôi nghe người ta thông báo về chuyến xe đặc biệt đưa tới cuộc triển lãm của những người bán thuốc, đồng thời thấy lại cánh cửa màu đen của ngôi nhà thờ, tôi thấy lại những cánh hoa cúc màu vàng có cành dài, dùng để đặt trên mộ các con tôi, và những cây súp lơ mà Kate không mua - tất cả, tất cả những gì tôi đã thấy và đã nghe đều trở lại với tâm trí tôi giờ đây đang bị chế ngự bởi những đường nét dịu dàng buồn bã của Kate mà khuôn mặt của Serge đã gợi lên cho tôi.

Khi ông bước ra xa, tôi mơ tưởng trên bức tường trắng, trên lò sưởi bằng sứ không sử dụng bao giờ, một người dân đảo Java bằng giấy bồi cầm tách cà phê trước hai hàm răng trắng bóng.

Serge nói vào điện thoại:

- Một chiếc tắc-xi, một chiếc tắc-xi ngay bây giờ.

Đoạn khuôn mặt ông lại xuất hiện trước tôi. Tôi cảm thấy có một đồng tiền chạm vào bàn tay tôi và tôi nhìn xuống: năm mác lấp lánh.

Serge bảo tôi:

- Con phải trở về nhà con.

Tôi đáp:

- Dạ, trở về.

Người dịch: Huỳnh Phan Anh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.