Lạc Lối Về

Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II

❊ ❊ ❊

Tôi đếm lại món tiền Fred gởi về: Những tờ giấy bạc có màu xanh nhạt, xanh sáng, xanh dương, những tờ giấy bạc in hình đầu những chị nông dân đội lúa, những người đàn bà có cổ mập tròn tượng trưng cho ngành thương nghiệp hoặc ngành trồng nho, những tờ giấy bạc in hình người đàn ông nép mình dưới lớp áo choàng của một nhân vật lịch sử, tay cầm một cái bánh xe và một cây lúa, tượng trưng cho nền thủ công nghiệp. Cạnh người đàn ông đó, một cô gái ôm sát vào ngực tấm ma-kết của một ngân hàng và dưới chân nàng là một cuộn giấy, và những dụng cụ làm việc của một kiến trúc sư. Trên những tờ giấy bạc màu xanh lá cây, ngay chính giữa, một người đàn bà yếu đuối đang cầm một cái cân bằng tay mặt và đôi mắt nàng như lẩn tránh cái nhìn của tôi. Những nét trang trí kinh khiếp dùng làm đường viền cho những tờ giấy bạc quý báu này bốn góc đều đánh số giá trị của chúng, và những chiếc lá sồi, những bông lúa, những cành nho và những cây búa nằm chéo nhau hợp thành đặc điểm của những tờ giấy bạc. Mặt trái của chúng là một con chim đại bàng, biểu hiện kinh hoàng, đang vỗ cánh và chực lao thẳng vào người xem.

Bọn trẻ nhìn tôi mân mê, sắp xếp món tiền tượng trưng cho đồng lương hàng tháng của chồng tôi, người giữ tổng đài điện thoại trong các văn phòng giáo khu: ba trăm hai mươi lăm mác tám mươi xu. Tôi để riêng một tờ giấy bạc cho tiền nhà, một tờ giấy bạc cho tiền điện và khí đốt, một tờ giấy thứ ba cho quỹ người bịnh, tôi tính tiền còn thiếu lò bánh mì và kiểm điểm số tiền còn lại: hai trăm lẻ bốn mác. Fred cho biết chàng đã lấy ra mười mác mà chàng hẹn trả lại ngày mai. Chàng cũng dùng tiền đó để uống rượu!

Bọn trẻ quan sát tôi. Khuôn mặt chúng có vẻ trang nghiêm và lặng lẽ, nhưng tôi muốn dành cho chúng một sự ngạc nhiên: Hôm nay tôi cho phép chúng chơi ở cửa ra vào. Bởi vì gia đình Franke đã đi dự kỳ đại hội của liên đoàn Phụ nữ Công giáo cuối tuần này, gia đình Selbstein, láng giềng ở tầng dưới của chúng tôi, hãy còn nghỉ hè trong vòng hai tuần nữa và gia đình Hopf, mướn căn phòng ở cạnh bên và chỉ cách gia đình tôi một bức tường mỏng, chúng tôi không đòi hỏi gì ở họ.

Vậy thì bọn trẻ có thể nô đùa ở cửa ra vào, đó là một ân huệ mà chúng không thể xem thường.

- Tiền của ba hở mẹ?

- Ừ, tôi nói.

- Ba vẫn bệnh à?

- Ừ, hôm nay mẹ cho các con chơi ở cửa ra vào nhưng đừng làm hư hại món gì cả và hãy coi chừng giấy sơn đó. Và tôi sung sướng được thấy chúng sung sướng, tôi được rảnh nợ bọn chúng trong lúc làm công việc của ngày thứ bảy.

Không khí nơi cửa ra vào nghe nồng nặc mùi của đồ dự trữ, chắc là bà Franke đã chất đầy cả ba trăm cái hũ của bà ta. Đó là một mùi dấm đun nấu, bao nhiêu đó cũng đủ làm gan ruột Fred đảo lộn, một mùi trái cây và rau củ nấu quá chín. Các cánh cửa đã khóa chặt và trên những cái móc chỉ có một chiếc nón cũ kỹ, chiếc nón của ông Franke để lại đó để bước vào hầm. Tờ giấy sơn mới chạy dài tới cửa chúng tôi nhưng nước sơn chỉ phủ tới nửa thanh dọc, phận định lối vào nơi cư ngụ của chúng tôi. Đó là một căn phòng duy nhất ngăn bằng một bức vách ván ép, một cái buồng dùng làm buồng ngủ cho đứa con nhỏ của chúng tôi vừa dùng làm nơi chất đồ đạc cũ. Gia đình Franke có được bốn phòng: nhà bếp, phòng khách, phòng ngủ và phòng tiếp chuyện. Phòng tiếp chuyện này bà Franke đã đón tiếp mọi khách khứa, đàn ông cũng như đàn bà. Tôi không biết rõ con số của những ủy ban, những hội đồng, tôi không quan tâm tới những hội hè mà bà ta đã tham gia. Tôi chỉ biết một điều là các ủy ban giáo khu đã chứng nhận bằng giấy tờ nhu cầu tuyệt đối của bà Franke được giữ phòng tiếp chuyện đó, mà nếu người ta nhường cho chúng tôi thì có thể nó không mang lại hạnh phúc nhưng ít ra nó cũng giúp ích được phần nào cho gia đình chúng tôi.

Đã sáu mươi tuổi rồi nhưng bà Franke hãy còn vẻ đẹp đàn bà lắm, nhưng những tia nhìn kỳ lạ của bà ám ảnh tất cả mọi người và đã làm cho tôi sợ hãi không ít. Đôi mắt sẫm tối và rắn rỏi, mái tóc chải gỡ cẩn thận và nhuộm rất khéo, giọng nói trầm trọng, rung rung và ồn ào, quăn áo thích hợp, bà đi lễ Thánh Thể mỗi ngày, bà được đặc ân hôn nhẫn giám mục mỗi tháng vào những dịp ông ta tiếp các bà trong giáo khu. Tất cả những chi tiết đó khiến bà ta thành một nhân vật không ai có hy vọng gì chống lại được. Chúng tôi biết được điều đó qua chính kinh nghiệm bản thân bởi vì cuối cùng đã tranh đấu suốt sáu năm trời và chúng tôi đã bỏ cuộc.

Bọn trẻ nô đùa ở cửa ra vào. Chúng đã quen giữ im lặng đến nỗi không gây ra tiếng động nào ngay khi chúng có thể gây tiếng động. Tôi nghe chúng nói đùa thật khẽ. Chúng xếp những hộp giấy bồi lên nhau thành một đoàn xe kéo dài suốt gian phòng và thận trọng đẩy nó đi. Chúng sắp đặt những nhà ga, chất những hộp sắt và những mẩu cây, và tôi có thể yên trí rằng chúng sẽ bận tâm trong công việc đó cho tới giờ cơm tối. Đứa nhỏ hãy còn ngủ.

Tôi đếm một lần nữa những tờ giấy bạc, những tờ giấy bạc quý báu và bẩn thỉu xông lên mùi dìu dịu khiến tôi phải hãi hùng. Tôi thêm vào đó một tờ mười đồng mác mà Fred còn thiếu. Chàng sẽ uống rượu với món tiền đó. Chàng đã rời bỏ mẹ con tôi hai tháng nay rồi, ngủ lay lất tại nhà bạn bè hay trong những viện này viện nọ, bởi vì chàng không chịu đựng nổi cảnh chật hẹp tù túng ở đây, sự hiện diện của bà Franke cũng như sự gần gũi đến mệt mỏi của gia đình Hopf, ủy ban gia cư đang xây cất một cư xá tại vùng phụ cận thành phố đã không chịu nhận chúng tôi vì biết rằng Fred có tật nhậu nhẹt say sưa và tờ giấy chứng nhận của ông linh mục cũng bất lợi. Ông linh mục ghét tôi bởi vì tôi không quan tâm gì tới các công cuộc từ thiện. Mà bà chủ tịch của cái ủy ban này không ai khác hơn là bà Franke và bằng việc bác bỏ lá đơn của tôi, bà ta củng cố thêm mình là một người nổi tiếng thanh liêm, tốt bụng. Thật vậy, nếu bà ta chấp nhận cho chúng tôi một nơi cư ngụ mới thì gian phòng của chúng tôi, tức là phòng ăn của bà, sẽ được trả lại. Do đó, bà đã đi tới một quyết định bất lợi.

Nhưng cũng từ đó, tôi thấy kinh tởm, điều mà tôi không có can đảm mô tả ra. Tôi sợ phải biến thành đối tượng của một lòng thù hận như thế và tôi sợ phải đón nhận Thánh Thể của chúa Ki tô. Bề ngoài đó là cái gì như khiến cho bà Franke mỗi ngày một trở nên đáng sợ hơn, bởi ánh mắt bà ta chỉ có thể nghiệt ngã hơn lên mà thôi. Tôi ngại đi nghe lễ mi sa mặc dù bầu không khí hiền hòa, đầm ấm trong những cuộc tế lễ chính là một trong những niềm vui hiếm hoi còn lại của tôi. Tôi ngại trông thấy ông linh mục nơi bàn thờ, người đàn ông mà tôi vẫn thường nghe tiếng trong phòng tiếp chuyện. Đó là giọng nói của một kẻ hưởng lạc bị dồn nén, chỉ biết hút xì gà loại đắt tiền và kể chuyện tiếu lâm trước bọn đàn bà trong các ủy ban hoặc đoàn thể của ông ta. Thường thì họ cười nói rất ồn ào vừa bảo tôi trông chừng bọn trẻ trong lúc nô đùa có thể gây trở ngại cho buổi hội họp của họ. Nhưng mà từ đời nào rồi, tôi không còn bận tâm gì về chuyện đó nữa, tôi cứ để mặc cho chúng nô đùa và tôi sợ chúng không còn khả năng làm ồn nữa là đằng khác. Thỉnh thoảng, vào buổi sáng, khi đứa nhỏ còn ngủ và mấy đứa lớn đã đi học, tôi lách mình vào trong nhà thờ, lúc không có lễ và tôi cảm thấy một bầu không khí bình yên vô hạn toát ra từ sự Hiện Diện của đấng tối cao.

Tuy nhiên, thỉnh thoảng bà Franke cũng có vài cư xử tốt đối với chúng tôi, nhưng chúng lại làm cho chúng tôi sợ hãi còn hơn là lòng thù hận của bà ta. Vào dịp Giáng sinh, bà ta mời chúng tôi tham dự một buổi lễ nho nhỏ tổ chức trong phòng khách của bà ta. Và khi bước vào, tôi tưởng chừng như chúng tôi đang biến mất trong một tấm gương sâu thẳm: Trước hết là Clement và Clara, sau đó tới Fred và sau cùng là tôi với đứa nhỏ nhất trên tay. Chúng tôi lọt sâu trong tấm gương và tôi nhận ra một sự thật hiển nhiên là vẻ mặt chúng tôi trông thảm não quá.

Trong phòng khách, vẫn giữ nguyên vẹn từ ba mươi năm nay, tôi không thấy mình thoải mái chút nào, tôi tưởng chừng như mình đang lạc vào một thế giới nào khác, giữa bàn ghế, những bức tranh, trước những chiếc bàn trải bằng những chiếc khăn thêu. Việc bài trí trên cây Giáng sinh, những thứ giữ được từ thời chiến tranh dùng trang hoàng gian phòng đã làm tôi kinh sợ đến đứt hơi thở. Đó là những viên cầu xanh và vàng ánh đang lấp lánh, những mớ tóc thiên thần, những bức tượng của các tiểu thánh bằng thủy tinh có khuôn mặt xinh xắn, tốt tươi, một tượng Chúa hài đồng trong một máng cỏ hồng tươi, một tượng Nữ Đồng Trinh và một tượng thánh Joseph bằng đất nung trông diêm dúa, sặc sỡ, cả hai đang tươi cười dưới một tấm khẩu hiệu bằng thạch cao ghi hàng chữ “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Và rồi tới những đồ đạc bày biện kia, trên đó một người đàn bà giúp việc phải đổ mồ hôi suốt tám tiếng đồng hồ trong mỗi tuần lễ để lãnh năm chục xu và phải ghi tên tại Liên đoàn các bà mẹ. Tất cả cái vẻ sạch sẽ đó nghe thoảng mùi vị của sự chết chóc đã làm tôi sợ. Ông Franke ngồi trong một góc phòng và hút ống vố, tấm thân gày gò xương xẩu của ông ta đã bắt đầu có da có thịt. Tôi thường nghe ông ta bước lên cầu thang một cách khá ồn ào, với những bước chân nện mạnh, và hơi thở hào hển của ông ta lướt qua cửa phòng chúng tôi, nhỏ dần cho tới đầu kia.

Bọn trẻ sợ sệt những đồ đạc bày biện hiếm khi nào chúng có dịp trông thấy đó. Chúng ngậm ngùi khi phải ngồi trên chiếc ghế nhồi nệm, chúng ngồi một cách rụt rè, ngoan ngoãn, tôi trông thấy mà buồn muốn khóc.

Những đĩa thức ăn đã sẵn sàng cho chúng, và những món quà: Từ ba mươi năm nay, những đôi vớ và con heo đất muôn đời đã gắn liền vào ngày lễ Giáng sinh trong gia đình Franke.

Khuôn mặt Fred có vẻ âm u, buồn bã và tôi thấy rõ là chàng hối hận đã chấp nhận lời mời, chàng đứng tựa lưng bên rìa khung cửa sổ, chàng móc ra một điếu thuốc gắn lên môi, vuốt cho nó ngay ngắn trước khi châm lửa đốt.

Bà Franke rót đầy những ly rượu và đặt trước bọn con nít những cái chung bằng sành có màu sắc lòe loẹt với nước si rô đựng ở trong. Những cái chung đó được trang hoàng bằng những cảnh trí rút ra từ câu chuyện cổ tích “Chó sói và bốn con dê con”.

Chúng tôi nâng ly, Fred uống một mạch cạn ly rượu và nhìn cái ly trong bàn tay như để trầm trồ hương vị của rượu. Trong những lúc đó, tôi thường ngắm nghía chàng, vẻ mặt chàng biến mọi lời nói trở nên vô bổ, thừa mứa. Hai cái ống bỏ tiền và một ly rượu, vẻ mặt chàng như muốn nói, một tình cảm kéo dài trong năm phút không làm tôi quên rằng chỗ ở của chúng tôi quá nhỏ bé, chật chội.

Cuộc viếng thăm đáng ghê sợ đó kết thúc bằng một cuộc từ giã lạnh nhạt, và tôi đọc trong đôi mắt của bà Franke tất cả những điều bà ta muốn nói: Ngoài những lỗi lầm sẵn có, mai đây chúng tôi còn mang tiếng là vô ơn và thiếu lễ độ, đối với bà đó là hai nhánh hoa phụ thêm vào vòng hoa khổ hạnh của bà.

Ông Franke nói ít, nhưng khi vợ ông ta vắng nhà, thỉnh thoảng ông ta thò đầu vào phòng chúng tôi, và không nói năng gì, ông đặt một miếng sô cô la trên chiếc bàn kê gần bên cửa, và có khi tôi thấy ở đó một tờ giấy bạc giấu kín trong lớp giấy bao. Tôi cũng thường nghe ông ta trò chuyện với bọn trẻ nơi cửa ra vào. Ông ta giữ chúng lại, thì thầm mấy câu, và bọn trẻ đã kể lại rằng ông ta vuốt tóc chúng và gọi chúng là “các cháu cưng”.

Bà Franke thì khác, bà ta lắm lời và quỷ quyệt, không chút chân thành. Bà ta thuộc một gia đình thương mãi kỳ cựu trong thành phố đã dần dà thay đổi đối tượng mậu dịch, chỉ quan tâm tới những món hàng quý giá hơn. Ban đầu là dầu mỡ, bột, muối, tiếp theo là rượu, từ đó họ qua chính trị và tệ nạn hơn, họ đi tới việc bán buôn điền thổ. Hôm nay thỉnh thoảng tôi nảy ra ý nghĩ là họ đang buôn bán món quý giá hơn hết: Thượng đế.

Ít khi bà Franke lại tỏ ra dịu dàng lắm. Trước hết, khi bà ta nói về tiền bạc. Bà nói cái tiếng đó nghe dịu dàng đến phát sợ, giống nhiều người vẫn nói tới những tiếng sống, chết, yêu hay Thượng Đế: Một cách nhỏ nhẹ với một chút hốt hoảng và với thật nhiều dịu dàng trong giọng nói. Tia nhìn của đôi mắt bà ta trở nên ngầu đục hơn, nhưng nét mặt của bà trẻ trung ra khi bà ta nhắc nhở tới tiền bạc hay những món đồ dự trữ - hai thứ của cải mà bà ta không dung thứ cho bất luận một ai nhắm vào. Nỗi hãi hùng xâm chiếm lấy tôi khi phải vào hầm lấy than hay khoai tây và nghe bà ta đếm những cái chậu bằng những tiếng thì thầm êm ái, đọc lên những con số, nghe như những âm điệu nhịp nhàng trong một nghi thức lễ bái. Tôi nghĩ tới một nữ tu sĩ đang đọc kinh, tôi đặt cái xô ở đó, vội vàng trở lên và ôm lấy các con bởi vì tôi có cảm tưởng rằng chúng cần được bảo vệ trước một cái gì ghê gớm. Và các con nhìn tôi, đứa con trai với đôi mắt thiếu niên, đứa con gái với cái nhìn âm u, dịu dàng. Chúng nhìn tôi, như hiểu ra một cách mập mờ, và sau vài phút ngập ngừng, chúng đến bên tôi để cầu nguyện, lời cầu nguyện mà tôi đã khởi xướng, một bài kinh đều đều đầy mê hoặc, hoặc những đoạn bài “Kinh lạy Cha” mà chúng tôi đọc một cách say mê.

Bây giờ thì đồng hồ đã gõ ba giờ. Bầu không khí của ngày Chúa nhật như bùng vỡ ở ngoài sân. Những tiếng động vang lên từng hồi, những giọng nói cười tan biến vào nhau, nói lên niềm vui của một buổi xế chiều nghỉ việc, và lòng tôi chợt lạnh buốt. Tôi đếm lại lần chót những tờ giấy bạc, tôi ngắm nghía những khuôn mặt buồn nản đến chết người và sau cùng tôi quyết định tiêu một khoản. Mấy đứa nhỏ đang nô đùa nơi cửa ra vào, đứa bé đã thức giấc. Có lẽ tôi phải bắt đầu làm việc, nhưng trước khi bắt tay vào việc, tôi ngoảnh mặt khỏi chiếc bàn nơi tôi đang tỳ khuỷu tay, đầu óc nghĩ ngợi mông lung, và đưa mắt nhìn lên vách phòng. Chúng được trang hoàng bằng mấy bức tranh in lại bán giá rẻ đóng dính bằng đinh. Những khuôn mặt đàn bà mũm mĩm ngoan hiền của Renoir có lẽ xa lạ với tôi làm sao và tôi không hiểu tại sao mình có thể chịu đựng chúng trong suốt nửa tiếng đồng hồ. Tôi tháo những bức tranh đó ra, xé nát chúng, ném vào thùng rác mà tôi phải đem xuống. Tôi tiếp tục nhìn lên bức vách, không còn gì nữa ngoài bức tượng Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá ở phía trên cánh cửa và bức tranh của một họa sĩ mà tôi không biết tên. Một bức vẽ hỗn loạn với màu sắc bình dị, có vẻ lạ lùng đối với tôi cho tới bây giờ, nhưng bất chợt tôi thừa nhận mà không hiểu tại sao.

Người dịch: Huỳnh Phan Anh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.