Lạc Lối Về

Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XI

❊ ❊ ❊

Nước da vàng vọt của nàng đã trở nên nhợt nhạt và chuyển sang màu nâu; lòng trắng của đôi mắt nàng cũng đã ngả sang một màu khác. Tôi rót nước cho nàng, nàng uống cạn ly, nắm lấy tay tôi đặt trên trán nàng.

- Em có muốn anh tìm một y sĩ không? Tôi hỏi.

- Không, nàng nói, bây giờ thì đỡ rồi. Tại đứa nhỏ. Nó chống lại những lời nguyền rủa mà ta đã ban phát cho nó, chống lại sự nghèo đói sẽ là di sản của nó.

- Chống lại, tôi nói thật nhỏ, danh hiệu khách hàng tương lai của bọn bán thuốc và danh hiệu giáo dân được yêu mến. Nhưng nó sẽ được lòng thương yêu trìu mến của anh.

- Có thể, nàng nói, có thể nó sẽ trở thành một vị giám mục chứ không chỉ là một giáo dân xoàng xĩnh đâu, có thể nó sẽ là một nhà thông thái, một chuyên gia về Dante.

- Ồ, Kate, em đừng có nói đùa!

- Em không đùa đâu. Ai biết trẻ con sẽ thành cái gì? Có thể chúng sẽ có trái tim sắt đá, chúng sẽ xây chùa chiền cho những con chó của chúng ở và chúng sẽ không chịu đựng nổi mùi trẻ con. Có thể người đàn bà đó không thể chịu đựng nổi chúng khi chúng thuộc một gia đình mười lăm đứa con nít sống chui rúc trong một gian phòng tù túng hơn cái cũi của con chó của bà ta. Có thể…

Kate ngừng lời bởi vì bên ngoài bỗng có những tiếng nổ dữ dội. Tôi chạy đến cửa sổ và đẩy các cánh cửa bản ra: Tiếng phi cơ bay rền, tiếng ầm ì vang dậy như giặc giã đã tới nơi rồi. Trên bầu trời xám thẫm hiện lên những chiếc dù trắng như tuyết mang những tấm băng rôn lớn màu đỏ đang lắc lư trong gió và chầm chậm đáp xuống mặt đất: “Nhựa Griss đem lại cho bạn nhiều kết quả!”. Bên những tháp chuông nhà thờ, trên mái nhà ga, trên những con đường, chúng nương theo làn gió đáp xuống và từ một vài nơi tôi nghe vọng lại những tiếng reo hò hớn hở của trẻ con may mắn chụp bắt được chúng.

- Chuyện gì đó anh? Kate từ trên giường lên tiếng hỏi.

- Ồ! Không có gì, tôi đáp. Một trò quảng cáo.

Bây giờ thì có cả một đoàn phi cơ bay đến. Chúng ầm ĩ bay đến gần, trông thật đẹp mắt, chúng bay sà trên các mái nhà, rung rinh đôi cánh với động cơ vang rền như chĩa thẳng vào tim ta. Thấy Kate run lên, tôi chạy đến bên giường và nắm lấy tay nàng.

- Trời ơi, em sao vậy?

Sau khi bay lượn trên bầu trời thành phố, những chiếc phi cơ kéo nhau bay đi mất với cùng vẻ sôi nổi của lúc đến, tiếng rống dần dần tan biến nơi chân trời. Bầu trời hiện đầy những cánh chim đỏ chầm chậm rơi xuống, đỏ như những áng mây chiều khi mặt trời lặn, những cánh chim bằng cao su mà chúng tôi nhận ra là những con cò[1] khi chúng xuống gần các mái nhà. Chúng có cần cổ gãy, hai chân đong đưa, cái đầu bất động, lủng lẳng trông đến ghê gớm. Chúng giống như một bọn người bị treo cổ đang từ trên trời rơi xuống. Chúng đỏ rực, những hình thù gớm ghiếc đó, chúng đỏ rực trong bầu không khí xám xịt của buổi chiều tàn, chúng câm lặng đến khiếp đảm. Các ngả đường rộn lên những tiếng reo hò ầm ĩ của trẻ con.

Kate không nói gì, nàng siết chặt bàn tay tôi. Tôi cúi xuống bên nàng và trao cho nàng một nụ hôn.

- Fred à, nàng nói. Em thiếu nợ nhiều.

- Không đến nỗi nào, tôi nói. Anh cũng thiếu nợ nhiều vậy!

- Nhiều lắm à?

- Ờ, nhiều lắm. Bây giờ thì không còn ai để cho anh vay nữa. Thật tình không có gì vất vả hơn đi xoay năm mươi đồng mác trong một thành phố ba trăm ngàn người. Anh toát mồ hôi hột khi nghĩ tới chuyện đó.

- Anh có chỗ dạy học chứ?

- Có, tôi đáp. Nhưng mà anh hút thuốc khá nhiều.

- Anh cũng uống rượu trở lại nữa à?

- Ờ, nhưng không thường lắm đâu em. Từ khi xa em và các con đến giờ, anh chỉ say thật sự có hai lần thôi. Như vậy có nhiều lắm không em?

- Không nhiều lắm, nàng nói. Em biết ngay là anh uống rượu mà. Nhưng mà anh có thể tránh đừng uống nữa. Uống rượu thì dại dột thật - trong suốt thời chiến tranh, anh có uống rượu đâu!

- Trong chiến tranh, đó là chuyện khác. Trong chiến tranh anh say vì buồn chán. Em không thể tưởng tượng người ta say vì buồn chán ra làm sao; sau đó người ta nằm trên giường và tất cả quay cuồng trước mắt. Em cứ thử uống ba gàu nước ấm, nước cũng làm cho em say mèm như sự buồn chán vậy. Và chiến tranh thì buồn chán không thể tưởng tượng được. Đôi khi anh cũng nghĩ tới em, anh gọi điện thoại cho em mỗi khi anh có thể gọi được, chỉ để nghe cái giọng nói của em mà thôi. Cú điện thoại đó có cái mùi vị thật cay đắng, nhưng còn đỡ hơn sự buồn chán.

- Anh không hề nói chuyện nhiều về chiến tranh.

- Vô ích em à. Em cứ tưởng tượng trọn một ngày dài ngồi bên máy điện thoại chỉ để nghe giọng nói của nhóm sĩ quan thượng cấp, chỉ toàn là chuyện ngây ngô, vớ vẩn. Lượng ngữ vựng cực kỳ nghèo nàn mà anh tính ra chừng một trăm hai chục hay một trăm bốn chục tiếng là cùng. Quá ít cho sáu năm chiến tranh. Ngày này qua ngày khác, ngồi tám tiếng đồng hồ liền bên máy điện thoại: thông báo - thi hành - đặt tất cả vào công tác - giọt máu cuối cùng - mệnh lệnh - báo cáo - thanh sát - thi hành - giọt máu cuối cùng - giữ đến kỳ cùng - Fuhrer - trước hết, tránh sự lung lạc… Và những tiếng nhảm nhí nữa. Các đồn lính thì còn nói gì nữa! Anh đã ở gần ba năm trong chức vụ điện thoại viên, sự buồn chán mà anh đã uống ở đó, anh phải mất nhiều năm để khạc ra. Và nếu anh muốn uống rượu trong bất luận một quán tiệm nào thì luôn luôn anh vẫn phải gặp những tên lính mà anh không thể chịu đựng được, em biết mà.

- Em biết, nàng nói.

- Anh biết một tên thiếu úy đọc thơ Rilke trong điện thoại cho người đẹp của hắn nghe. Mai đây anh lỡ chết đi rồi… hay một câu nào khác, thỉnh thoảng nhiều người còn hát và tập hát trong điện thoại nữa, nhưng hầu hết thì gởi đi những tin tức về người chết. Cái chết run rẩy qua các đường dây điện thoại, họ nói đến nó trong máy bằng một giọng eo éo cho một thuộc hạ nào đó có nhiệm vụ canh chừng sao cho số lượng người chết được đầy đủ túc số.

Không phải tự nhiên mà người ta đo lường tính cách cao cả của một trận đánh căn cứ trên số lượng người chết. Người chết không có gì đáng buồn chán đâu em, nghĩa địa cũng thế.

Tôi nằm dài bên cạnh nàng trên giường, và kéo chiếc mền về phía mình. Phía trên lầu, các nhạc sĩ đang điều chỉnh lại nhạc khí của họ. Từ quán cà phê, tiếng ca của một người đàn ông vọng đến tai chúng tôi, trầm và tốt giọng, tiếng ca bị ngắt quãng bởi tiếng thét khàn khàn và man rợ của một người đàn bà. Chúng tôi không hiểu ra những lời ca, nhưng nhịp điệu của đôi song ca đó nghe thật cảm động. Trong nhà ga, có tiếng gầm gừ của những chuyến xe lửa về bên, pha lẫn với tiếng nói của người rao hàng, thì thầm vang lên trong bầu không khí buổi chiều tàn, giống như lời tâm sự đầy yêu thương, trìu mến.

- Em không còn muốn khiêu vũ nữa à?

- Ồ, không, nàng nói. Em thích được nằm yên không động đậy trên giường như thế này. Phải chi anh điện thoại ngay cho bà Roder xem mọi sự có bình yên không. Và rồi, em muốn đi ăn, Fred ạ. Nhưng mà trước hết anh phải kể chuyện cho em nghe đi chứ. Chẳng hạn hãy nói tại sao cưới em?

- Do buổi điểm tâm, tôi nói. Anh đang tìm một người để cùng anh điểm tâm cho đến hết đời anh, và người của lòng anh - như người ta vẫn nói - đó chính là em. Em là một người bạn điểm tâm tuyệt vời. Anh chưa bao giờ chán em. Anh mong em cũng thế.

- Dạ, nàng nói. Em cũng chưa bao giờ chán anh.

- Và bây giờ đêm đêm em vẫn khóc, khi em một mình. Anh trở về liệu có tốt hơn không em?

Nàng nhìn tôi không nói. Tôi hôn tay, hôn cổ nàng nhưng nàng đã quay đi và nhìn chăm chăm lên tờ giấy dán tường. Từ quán cà phê, tiếng hát đã im bặt nhưng ban nhạc còn tiếp tục chơi và chúng tôi nghe những tiếng xì xào trong vũ trường. Tôi đốt lên một điếu thuốc. Kate vẫn im thin thít, hai mắt dán chặt lên tường.

- Em cần phải hiểu, tôi hạ thấp giọng, là anh không thể để em một mình trong trường hợp em có thai. Nhưng anh không chắc được là mình có nghị lực để tỏ ra dịu dàng, lịch sự hay không. Tuy nhiên, anh yêu em, chắc em không nghi ngờ gì anh chứ?

- Em không nghi ngờ gì, nàng nói nhưng cũng không quay lại. Không nghi ngờ chút nào.

Tôi muốn ghì nàng vào lòng, nắm lấy vai nàng và xoay nàng lại lại phía tôi nhưng tôi chợt hiểu rằng tôi không có quyền làm chuyện đó.

- Nếu việc vừa rồi lại xảy ra, em không thể ở một mình được.

- Em không muốn kể gì tới những lời nguyền rủa mà em phải hứng chịu trong nhà, bọn họ biết rằng em đang có thai. Tình trạng đó thật kinh khủng, anh không thể nào tưởng tượng ra nổi. Khi em có mang đứa nhỏ, anh còn nhớ chứ, Fred…

- Anh biết, tôi nói. Kinh khủng thật, lúc đó vào giữa mùa hè, và anh không có đến một đồng xu cắc bạc nào để trả tiền cho em. Dù chỉ một ly nước Seitz.

- Và em thì cáu kỉnh làm sao, nàng nói. Em khoái tỏ ra là một người bẩn thỉu nhớp nhúa. Em những muốn khạc nước miếng vào tất cả mọi người.

- Vả chăng em đã làm rồi còn gì!

- Đúng vậy, nàng nói. Em đã khạc xuống chân bà Franke khi bà ta hỏi em có thai được bao tháng rồi. Đó đúng là câu hỏi làm em bực dọc lạ lùng.

- Và chính vì vậy mà ta không có chỗ ở.

- Đâu phải vậy, mình không có chỗ ở là vì anh uống rượu đó chứ.

- Em tưởng vậy thật à?

- Fred à. Người ta tha thứ nhiều điều cho một người đàn bà có mang. À, em thì xấu xa, bẩn thỉu, và em thích như vậy.

- Kate, em không quay sang anh được hay sao? Anh ít thấy mặt em quá đi.

- Để mặc em, nàng nói. Em thích nằm như vậy. Em luôn tìm câu trả lời cho điều anh nói với em.

- Cứ thong thả. Để anh tìm cái ăn và đi gọi điện thoại. Em có muốn uống gì không?

- Có, anh cho em uống bia. Và để lại gói thuốc lá cho em.

Nàng đưa bàn tay lên khỏi bờ vai, tôi trao cho nàng gói thuốc và đứng dậy. Nàng vẫn quay mặt vào tường và hút thuốc khi tôi bước ra ngoài. Có tiếng ồn ào ở đầu cầu thang, tôi nghe họ la hét om sòm ở phía dưới, trong vũ trường, và tôi chợt nhận ra mình muốn bước xuống cầu thang theo nhịp khiêu vũ, vỏn vẹn một ngọn đèn trần nhỏ và bên ngoài trời tối đen. Trong quán cà phê chỉ còn mấy người khách đang ngồi nơi bàn và một người đàn bà đang ngồi ở quầy hàng. Bà ta trọng tuổi hơn bà chủ, tháo cặp mắt kiếng khi thấy tôi tới gần và đặt tờ báo trên một vũng bia. Tờ báo thấm nước, sẫm lại. Người đàn bà chớp mắt nhìn tôi.

- Có gì ăn không? Tôi hỏi. Cho phòng mười một.

- Mang lên phòng à?

Tôi gật đầu.

- Đừng làm vậy. Chúng tôi không mang lên đâu. Ăn trong phòng bừa bãi lắm.

- A! Tôi chưa biết điều đó. Chỉ vì vợ tôi bịnh.

- Bịnh à? Bà ta hỏi. Chỉ còn thiếu có vậy. Chắc là không có gì trầm trọng, không có gì truyền nhiễm đó chứ?

- Không, tôi đáp. Chỉ là một cơn lợm giọng.

Bà ta cầm tờ báo thấm rượu bia lên, đập đập mấy cái và đặt nó lên chiếc lò. Đoạn bà ta nhún vai, quay mặt về phía tôi.

- Bây giờ ông cần gì? Muốn có thức ăn nóng thì phải đợi một tiếng đồng hồ.

Bà ta lấy một cái đĩa ở cái chuyền bát đĩa phía sau lưng và đi về phía chiếc tủ kính đựng các món nguội. Tôi đi theo bà ta, chọn hai miếng thịt sườn, hai miếng chả thịt và bảo lấy bánh mì.

- Bánh mì à? Bánh mì làm gì? Thôi lấy khoai đi.

- Chúng tôi thích bánh mì hơn, tôi nói. Có lẽ vợ tôi muốn bánh mì hơn.

- Không ai lại vào khách sạn với một người đàn bà không khỏe mạnh bao giờ, bà ta nói. Tuy nhiên bà ta vẫn quay về phía cái ngăn kệ và gọi vào trong: Bánh mì, mấy lát bánh mì đây! Từ một cái lỗ dội ra một giọng nó chát chúa nghe như một lời dọa nạt, “bánh mì”. Người đàn bà bảo tôi:

- Ông đợi một chút.

- Tôi muốn điện thoại, tôi nói.

- Đến bác sĩ à?

- Không, tôi đáp. Bà ta đẩy máy điện thoại trên quầy sang cho tôi. Trước khi quay số, tôi gọi hai ly bia rồi nói thêm, và một ly rượu mạnh mang ra ngay. Tôi gọi số của bà Roder, tôi nghe tiếng chuông reo và thong thả đợi. Người đàn bà đẩy ly rượu về phía tôi và đi về phía vòi nước với một cái cốc không.

- Alô, bà Roder nói. Alô, ai ở đầu dây đó?

- Bogner.

- À, chính là chú à?

- Phiền bà chị…

- Tất cả đều tốt đẹp. Tôi vừa mới lên phòng đây. Bọn nhỏ vui đùa thích thú, chúng vừa đi hội chợ về với hai cô cậu trẻ tuổi. Chúng mang về cả quả bóng nữa. Chúng vừa về xong. Những con cò cao su đỏ rực, trông y như những con cò thật.

- Ông bà Franke đã về chưa?

- Chưa, họ trở về muộn vào buổi tối, có thể vào sáng ngày mai cũng nên.

- Vậy tất cả đều bình yên chứ?

- Đúng, bà ta nói, chú thím cứ yên lòng đi. Tôi gởi lời chào thím. Màu son mới tốt đó chứ?

- Không chê được, tôi đáp. Thôi cám ơn về mọi điều nhé!

- Có gì đâu, chào.

Tôi nói “chào”, gác máy, nốc cạn ly rượu và nhìn cốc bia thứ nhì được chầm chậm rót đầy.

Cái chuyền bát đĩa đong đưa và một cái đĩa xuất hiện, trên có để bốn lát bánh mì trắng.

Trước hết tôi mang hai cốc bia lên phòng, đặt trên chiếc ghế cạnh chiếc giường nơi Kate vẫn nằm dài, hai mắt dán lên tờ giấy.

- Ở nhà mọi việc đều bình yên cả, tôi nói. Các con chơi với mấy con cò mà em đã biết rồi.

Kate gật đầu, không nói gì.

Khi tôi mang đĩa thức ăn lên, nàng vẫn không thay đổi vị trí, tuy nhiên một trong hai cốc bia đã lưng tới nửa.

- Em khát quá, nàng kêu lên.

- Thì em uống đi.

Tôi ngồi xuống giường, cạnh nàng. Nàng lấy ra hai cái khăn từ túi xách, trải chúng trên ghế và chúng tôi ăn món thịt, bánh mì và uống bia trên đó.

- Bao nhiêu đây không đủ cho em đâu Fred, nàng vừa nói vừa mỉm cười với tôi. Em cũng không biết em ăn ngon thế là tại em có bầu hay tại em đói thật sự nữa.

- Đừng lo, tôi nói. Em thích ăn gì nữa?

- Thêm một miếng chả, một trái dưa chuột và một cốc bia.

Nàng uống cạn cốc bia và trao cho tôi. Tôi lại trở xuống quán và uống thêm một ly rượu trong khi chờ người đàn bà rót bia. Cái nhìn của bà ta giờ đây trông có cảm tình hơn. Bà ta lấy chả và dưa cho tôi, đẩy cái đĩa lướt trên mặt quầy ẩm ướt chạy về phía tôi. Bên ngoài, bóng tối đen lật. Quán gần như trống trơn, và người ta nghe những tiếng động lao xao của cuộc khiêu vũ. Trả tiền xong, tôi còn lại được hai đồng mác.

- Sáng mai, ông bà có đi sớm không? Người đàn bà hỏi.

- Sớm.

- Vậy thì tốt hơn ông nên trả tiền phòng bây giờ đi.

- Tiền phòng trả rồi mà!

- À, tốt lắm, nhưng mà tôi cũng xin ông mang trả lại các thứ ly và đĩa. Nhiều người đã làm phiền chúng tôi lắm rồi. Tôi có thể tin cậy nơi ông được chứ?

- Chắc chắn là được, tôi đáp.

Kate đang nằm ngửa, hút thuốc.

- Ở đây thật là tuyệt, nàng nói khi tôi nằm xuống bên nàng. Nghĩ tới việc tới khách sạn nó sung sướng làm sao. Từ lâu rồi mình đâu có được như vầy hả anh? Có đắt lắm không?

- Tám mác.

- Anh còn đủ tiền không?

- Anh đã thanh toán tiền phòng rồi. Anh chỉ còn lại hai đồng mác.

Nàng trút đồ trong túi xách lên lớp mền, trong mớ hỗn độn, chiếc bàn chải đánh răng và hộp xà phòng có vẻ hòa hợp với thỏi son và những chiếc mề đay, chúng tôi lượm ra những đồng tiền còn lại từ món tiền tôi gởi cho nàng để đi hội chợ: Còn lại bốn mác cả thảy.

- Được rồi, cái này cho phép ta dùng một bữa điểm tâm.

- Em biết có một tiệm ăn lịch sự lắm, nàng nói. Nó ngay ở ngõ ra hầm, phía bên trái nếu từ đây tới đó.

Tôi nhìn nàng.

- Ở đó tốt lắm. Một cô gái trông thật dễ thương, một ông già hiền hậu và cà phê thì ngon. Chính ở tại đó, em thiếu nợ người ta.

- Có thằng ngốc ở đó nữa phải không? Tôi hỏi.

Nàng gỡ điếu thuốc ra khỏi miệng, nhìn tôi:

- Bộ anh đến đó thường lắm à?

- Không. Sáng nay anh mới đến đó lần đầu tiên. Em có muốn mình trở lại đó vào sáng mai này hay không?

- Dạ muốn, nàng đáp đồng thời lại duỗi thẳng người ra, đối diện với cửa sổ và quay lưng về phía tôi. Tôi định trao đĩa thức ăn và bia cho nàng nhưng nàng không đói nữa:

- Thôi để em sẽ ăn sau.

Mặc dù nàng nằm thế, tôi vẫn ngồi bên nàng và nhấm nháp rượu bia. Ngoài nhà ga không một tiếng động. Phía sau nhà ga, trên một tòa nhà cao tầng, một chai cô-nhắc với những đường viền sáng treo lủng lẳng trên nền trời như mọi khi, với hình người uống rượu trông nghiêng nơi thân chai. Trên nóc tòa nhà, người ta trông thấy những nét chữ thay đổi luôn luôn, tuần tự chiếu sáng trên nền trời tối. Tôi đọc chầm chậm: “Bạn hãy lanh trí”, hàng chữ biến mất sau đó một hàng chữ khác hiện ra trong bóng tối: “Nếu bạn lỡ say chếnh choáng”, tiếp theo là một khoảng cách kéo dài trong mấy giây đồng hồ đã gây cho tôi một cảm giác nôn nóng khó tả. Tiếp theo người ta đọc: “Bạn đừng nghỉ việc ngày thứ Hai”, những nét chữ lại rơi biến vào khoảng tối và vài giây sau, cả dòng chữ sáng bừng lên một lúc: “Bạn hãy dùng Doulourin”. Những nét chữ rực lên trong bóng tối, lặp lại đến hai, ba, bốn lần trước khi kết thúc bằng một màu vàng: “Hãy tin nơi người bán thuốc của bạn”.

- Fred. Kate bất thần nói. Em nhận thấy rằng nếu bàn mãi về những chuyện làm anh khổ sở rồi cũng không tới đâu. Tốt hơn mình đừng nói về chuyện đó nữa, anh. Anh cần phải biết rõ mình phải làm gì, nhưng mà em có mang rồi, em không muốn anh trở về quát tháo ầm ĩ, để đánh đập các con trong khi chúng không làm điều gì bậy. Lẽ ra mình không nên kéo dài cảnh cãi cọ, to tiếng với nhau. Em không thích vậy đâu, và em không thể tìm tới thăm anh nữa. Nàng vẫn quay lưng về phía tôi và hai chúng tôi cùng nhìn lên những dòng chữ quảng cáo lấp lánh sáng trên nóc tòa nhà giờ đây biến hóa thật nhanh và thật bất ngờ, sửa soạn cho hàng khẩu hiệu lộng lẫy ném ra trong bóng đêm: “Hãy tin nơi người bán thuốc của bạn”.

- Anh có nghe em nói gì không.

- Nghe, anh nghe em nói. Tại sao em không thể tới thăm anh nữa?

- Tại vì em không phải là một con điếm. Em không có gì phải chống đối, miệt khinh những con điếm đâu Fred à, nhưng em không phải là một con điếm. Thật là ghê tởm cho em khi phải tìm gặp anh, ở lại với anh một nơi nào đó trong một khu vườn của một ngôi nhà đổ nát hoặc trên một cánh đồng, để sau đó lầm lũi trở về một mình. Em luôn có cái cảm tưởng khốn nạn là anh quên nhét vào tay em một tờ giấy bạc năm hay mười đồng mác. Em không biết những người đàn bà đó lãnh được bao nhiêu tiền mới hiến thân cho kẻ khác.

- Họ lãnh ít hơn nhiều, anh nghĩ thế. Tôi nốc cạn bia của mình, quay về bức tường và nhìn bức vẽ có hình trái tim trang hoàng trên tờ giầy màu xanh nhạt. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải xa nhau phải không?

- Phải, nàng nói. Em nghĩ như vậy tốt hơn. Em không có ý định làm áp lực với anh đâu, Fred à. Chắc anh không còn lạ gì em, nhưng mà em nghĩ tốt hơn mình nên xa nhau. Các con không hiểu gì nữa, chúng tin em khi em bảo với chúng là anh bịnh, nhưng mà tiếng bịnh, chúng hiểu nó khác đi. Và rồi, những tiếng xì xào trong nhà đã ảnh hưởng lên đầu óc non dại của chúng. Các con ngày một lớn lên, Fred à. Có nhiều điều ngộ nhận quá. Nhiều người còn tưởng tượng chuyện anh có vợ bé nữa. Anh đâu có vợ bé vợ mọn gì, phải không, Fred?

Chúng tôi vẫn quay lưng về phía nhau và dường như nàng đang nói chuyện với một người thứ ba nào.

- Không, tôi nói. Anh không có vợ bé đâu, em biết rõ mà.

- Thật ra, em cũng không hề biết sự thật ra sao nữa, thỉnh thoảng em cũng có những nỗi nghi ngờ vì em không biết anh ở nơi đâu.

- Anh không có người đàn bà nào khác đâu, anh vẫn chưa hề dối gạt em, em biết rõ mà.

Nàng ra chiều nghĩ ngợi

- Không, nàng nói. Em không tin rằng anh dối gạt em. Ít ra là em không nhớ gì về chuyện đó.

- Thì như em thấy vậy đó.

Tôi cầm cốc bia của nàng, uống một ngụm.

- Đúng ra là anh không hề phiền muộn gì, nàng nói. Anh uống rượu khi anh chán nản, anh đi rong trong các nghĩa địa khi anh buồn, anh chỉ cần gọi điện thoại cho em là có em chạy ào tới, rồi đêm về, anh ngủ tại nhà của ông học giả chuyên nghiên cứu về Dante.

Tôi quay lại nhìn hàng chữ quảng cáo trên nóc tòa nhà, nhưng vẫn luôn luôn một khẩu hiệu cũ: “Hãy tin tưởng nơi người bán thuốc của bạn”.

Khẩu hiệu đó vẫn không thay đổi trong suốt đêm, luôn luôn ánh lên với tất cả những màu sắc rực rỡ. Chúng tôi nằm đó, chúng tôi lặng lẽ hút thuốc và không ai nói gì. Một chập sau, tôi ngồi dậy kéo màn, nhưng qua lần vải mỏng của tấm màn, chúng tôi vẫn nhìn thấy cái khẩu hiệu.

Tôi kinh ngạc nhiều về thái độ của Kate.

Tôi đặt bàn tay lên vai nàng và tôi không nói gì.

Nàng vẫn nằm quay lưng về phía tôi, nàng mở túi xách, tôi nghe tiếng nàng bật chiếc hộp quẹt máy và tôi trông thấy làn khói thuốc bay lên trần nhà.

- Có cần anh tắt đèn không em? Tôi hỏi.

- Ờ, như vậy tốt hơn.

Tôi ngồi dậy, tắt đèn và nằm trở lại bên cạnh nàng.

Nàng đang nằm ngửa khi bàn tay tôi quờ quạng tìm kiếm bờ vai nàng, tôi thảng thốt bắt gặp khuôn mặt ràn rụa nước mắt của nàng.

Tôi không nói được lời nào, tôi nhấc tay ra và luồn dưới lớp mền để tìm nắm lấy bàn tay nàng, nhỏ nhắn và cứng chắc, tôi siết chặt lấy nó.

Tôi hài lòng thấy nàng không rút tay ra.

- Tởm thật, nàng chép miệng trong bóng tối. Một người đàn ông phải biết mình sẽ làm gì khi lấy vợ.

- Anh sẽ làm mọi cách, đúng là mọi cách để chúng mình có một chỗ ở.

- Thôi anh im đi, nàng nói bằng một giọng ngạo mạn. Vấn đề đâu phải chỗ ở. Bộ anh tưởng em xem nó trọng lắm à?

Tôi lại ngồi dậy, tìm cách nhìn nàng tận mặt. Tôi buông tay nàng ra, nhìn xuống khuôn mặt xanh xao của nàng. Nhìn vào đường rạch nhỏ trên đó mà tôi thường dùng những ngón tay lần dò theo, và khi trên nóc tòa nhà hàng chữ sáng lên, tôi trông thấy nàng thật rõ ràng, chìm đắm trong một vùng ánh sáng màu xanh: Đúng là nàng đang mỉm cười. Tôi lại nằm xuống và lần này chính nàng tìm kiếm và siết chặt bàn tay tôi.

- Em tin chắc là chuyện đó không quan trọng à?

- Không, nàng quyết liệt nói. Không. Không là không. Thành thật mà nói, nếu bất chợt em tìm đến anh để báo cho anh biết là em đã có một chỗ ở, anh sẽ kinh hoàng hay thích thú?

- Anh sẽ thích thú, tôi đáp ngay tức thì.

- Anh không phải thích thú vì chúng ta.

- Không, anh thích thú vì có thể trở về nhà mình. À, làm sao em có thể tưởng tượng được…

Màn đêm đã phủ kín bốn bề.

Chúng tôi vẫn nằm quay lưng về phía nhau và thỉnh thoảng tôi quay đầu lại để rình xem vị trí của Kate, nhưng trong suốt gần nửa tiếng đồng hồ, nàng vẫn nhìn chăm chăm về phía cửa sổ, im thin thít, và cứ mỗi lần quay đầu lại là tôi lại trông thấy hàng khẩu hiệu trên tòa nhà sáng lên: “Hãy tin tưởng nơi người bán thuốc của bạn”.

Từ phía nhà ga, vọng lại giọng nói thì thầm gợi cảm của người xướng ngôn, từ bên trong, có tiếng ồn ào của bọn người đang khiêu vũ, và Kate lặng thinh. Tôi cảm thấy khó khăn, vất vả khi phải tiếp nối câu chuyện với Kate và đột nhiên tôi cất tiếng hỏi:

- Em không muốn ăn à?

- Muốn, nàng nói, làm ơn đưa cái đĩa cho em và anh hãy mở đèn lên giùm.

Tôi nhỏm dậy, ấn vào cái bấm điện, đưa cái đĩa cho nàng rồi lại nằm xuống như cũ, tôi nghe nàng nhai dưa chuột và món chả. Tôi cũng trao cốc bia cho nàng, nàng nói “cám ơn” và tôi nghe nàng uống. Sau đó tôi nằm ngửa, đặt bàn tay lên vai nàng.

- Đó là một tình cảnh mà quả thật em không chịu đựng được, Fred à. Nàng nói và tôi hài lòng khi nàng mở miệng nói trở lại. Em hiểu rõ anh mà, có thể quá rõ là đằng khác. Em biết anh cảm thấy điều gì và sự thống khoái thỉnh thoảng người ta vẫn có khi vùi đầu trong trụy lạc. Em biết điều đó bằng kinh nghiệm và có thể tốt hơn nếu anh có một người vợ không biết ất giáp gì về điều đó. Nhưng mà anh đã quên mất con cái - nhưng chúng vẫn ở đó, chúng vẫn sống nhăn và hoàn cảnh trở nên không chịu đựng được đối với em chỉ vì chúng. Anh còn nhớ sự thể đã xảy ra như thế nào khi cả hai ta bắt đầu uống rượu không. Chính anh bảo em đừng uống nữa kia mà?

- Thật là khủng khiếp khi chúng ta trở về nhà và các con biết được điều đó. Nhưng nếu em uống rượu thì đó là lỗi ở anh.

- Lỗi phải ở đây không quan trọng gì.

Nàng bỏ đĩa và uống một ngụm bia.

- Em không biết, em luôn không muốn biết là anh có lỗi hay không, Fred à. Em không muốn làm tổn thương anh, Fred à, nhưng mà em thèm muốn cái đời sống của anh.

- Em thèm được như anh à?

- Đúng, em thèm được như anh, bởi vì anh không cùng một hoàn cảnh với em. Anh có thể đạp đổ, bất cần mọi thứ một cách dễ dàng và em hiểu anh. Anh đi chơi hàng giờ, anh vào các nghĩa địa, anh say với nỗi ưu phiền của anh khi anh không còn tiền uống rượu. Anh say với nỗi buồn mà anh cảm thấy khi xa mẹ con em. Em biết anh thương các con, em biết anh yêu em nhiều - nhưng anh không hề nghĩ rằng hoàn cảnh này đang giết lần mòn mẹ con em, đó cũng là hoàn cảnh mà anh bỏ trốn vì không chịu đựng nổi. Và anh cũng không hề nghĩ rằng cầu nguyện là điều duy nhất có thể mang ta ra khỏi hoàn cảnh đó. Anh không hề cầu nguyện bao giờ, phải không anh?

- Ít lắm, tôi nói. Anh không thể cầu nguyện được.

- Có thể như vậy lắm, Fred à, anh đã già, quả thật anh đã già, một lão thanh niên khốn khổ. Thỉnh thoảng ngủ với vợ, điều đó không có nghĩa là đã lập gia đình. Trong thời chiến tranh, anh đã có lần tuyên bố với em là anh thích sống bên em trong một hầm rượu tồi tàn bẩn thỉu hơn là đi lính. Anh không còn là một cậu thanh niên khi anh nói về điều đó trong lá thư viết cho em, anh đã ba mươi hai tuổi đầu. Em từng nghĩ là chiến tranh dù sao đã làm cho anh gẫy cánh.

Tôi nghe mệt nhọc quá. Tất cả những lời lẽ của nàng chỉ làm tôi thêm buồn rầu vì tôi biết rõ là nàng đã nói lên sự thật. Tôi muốn hỏi liệu nàng còn yêu tôi không, nhưng tôi lại ngại là câu hỏi có vẻ ngu xuẩn quá chăng. Ngày xưa tôi chưa hề biết tới nỗi sợ sệt đó, tôi nghĩ sao là nói tuốt tuột cho nàng nghe hết. Nhưng bây giờ, tôi không còn dám đặt cho nàng câu hỏi đó nữa.

- Có thể, tôi nói một cách uể oải, là chiến tranh đã hại anh. Gần như lúc nào anh cũng nghĩ tới cái chết, Kate à, và anh điên lên vì vậy. Trong chiến tranh có quá nhiều người chết nhưng anh không trông thấy bao giờ, anh chỉ nghe nói. Những giọng nói khác nhau đọc những con số vào máy điện thoại, đó là những con số người chết. Anh thử mường tượng ra chúng ta và anh đã mường tượng được: ba trăm người chết, đó là cả một trái núi. Trong ba tuần lễ, anh đã tới cái chỗ mà họ gọi là mặt trận. Anh đã trông thấy vẻ mặt của những người chết. Có đêm anh phải đi sửa chữa các đường dây và trong bóng tối, anh đụng phải người chết. Trời tối quá và anh không thấy được gì. Anh bò dọc theo sợi dây cáp mà anh cầm trong tay, lần đến chỗ đứt. Anh nối các sợi dây, cột lại máy kiểm soát, anh ở lại đó, ngồi xổm trong bóng tối, anh nằm rạp xuống đất mỗi khi có một dấu hiệu ánh sáng hay một tiếng súng, vừa trò chuyện với một người ở cách xa ba bốn chục thước gì đó, trong một chỗ núp bằng bê tông - nhưng lại xa, xa còn hơn Thượng đế nữa là đằng khác.

- Thượng đế đâu có xa, nàng nói nhỏ.

- Xa chứ, cái giọng nói mà anh tiếp xúc để kiểm điểm lại sự điều hành của đường dây, nó ở cách hàng triệu cây số. Sau đó, anh lết ngược với sợi dây cáp trong tay, anh lại đụng phải những người chết. Có khi anh lại nằm dài trên họ. Một lần anh đã ở lại suốt đêm. Những người khác tưởng anh lạc mất rồi, sau vài cuộc tìm kiếm họ đành bỏ rơi hy vọng tìm lại anh, trong khi đó thì anh vẫn còn nằm bên những xác chết, không trông thấy nhưng có thể sờ mó được, anh nằm lì ở đó mà không hiểu tại sao anh không thấy lâu chút nào. Khi tìm thấy anh, họ tưởng anh uống rượu. Và anh cảm thấy buồn chán làm sao khi phải trở về với người sống - em không biết được hầu hết người sống họ đáng buồn chán ra thế nào, còn người chết thì đẹp tuyệt vời.

- Anh nói nghe dễ sợ quá, Fred à, nàng nói, nàng vẫn không buông tay tôi ra. Cho em một điếu thuốc đi anh.

Tôi móc thuốc từ trong túi, lấy ra một điếu cho nàng, bật một que diêm và cúi xuống bên Kate để nhìn rõ mặt nàng. Nàng có vẻ trẻ ra khi nàng đã khỏe trở lại và trông nước da nàng bớt vàng vọt đi.

- Em đỡ rồi hả? Tôi hỏi.

- Đã đỡ hẳn rồi. Không sao cả. Nhưng mà đúng ra là em sợ cho anh đó.

- Em không có gì phải sợ. Ngay cả chiến tranh cũng không làm anh hề hấn gì! Thật ra anh chỉ buồn chán, thế thôi. Nếu em nghe được những gì mà cả ngày trời anh phải nghe, toàn những điều bá láp, vớ vẩn.

- Anh phải cầu nguyện thôi, nàng nói. Thật mà. Chỉ có sự cầu nguyện là không buồn chán mà thôi.

- Em hãy cầu nguyện thay anh, em hãy cầu nguyện cho anh, xưa kia anh còn có thể cầu nguyện, bây giờ thì hết rồi…

- Đó là một sự luyện tập. Phải chịu vất vả nhiều. Luôn luôn phải bắt đầu lại và không ngừng như thế. Anh uống rượu mãi chẳng ích lợi gì.

- Khi say rượu, anh có thể cầu nguyện rất hay.

- Không nên. Muốn cầu nguyện, người ta cần làm chủ đầu óc mình. Nó giống như lúc anh đang đứng trước một cái thang máy đang chạy và anh không dám nhảy vào trong, anh cần phải chấp nhận nhiều lần và bất thần anh đã ở trong đó và được mang lên trên. Đôi khi em cảm thấy điều đó rõ ràng lắm, Fred à, và ban đêm khi em giật mình thức giấc, em khóc một mình khi bốn bề im vắng, đó là lúc em cảm thấy mình tìm được lối đi. Rồi thì em dửng dung với mọi sự, chỗ ờ, sự nghèo đói, sự bẩn thỉu và ngay cả việc anh không có mặt ở đó nữa, tất cả không hề hấn gì tới em. Vả lại cũng không lâu đâu. Fred à, trong ba bốn mươi năm nữa là cùng, và chúng ta cần phải giữ vững niềm tin. Và thiết tưởng chúng ta nên chung sức, thực hiện với nhau. Fred à, anh mơ mộng và nhiều ảo tưởng lắm, mơ mộng là điều nguy hiểm. Ngay khi anh bỏ mẹ con em vì một người đàn bà khác. Cái đó thật ghê gớm đối với em, ghê gớm hơn hoàn cảnh bây giờ nhiều, nhưng em vẫn có thể hiểu được. Vì cô gái ở tiệm kem, Fred à, em cũng sẽ hiểu được chuyện đó.

- Anh xin em, tôi nói. Đừng đề cập tới chuyện đó.

- Nhưng mà anh đã bỏ đi để được mặc tình mơ mộng, đó là điều không hay. Anh thích gặp con bé ở hiệu kem lắm phải không?

- Đúng, anh thích cô ta. Thích lắm. Anh sẽ tới nhà cô ta thường xuyên, nhưng anh không hề nghĩ tới việc bỏ em vì cô ta đâu. Nàng rất ngoan đạo.

- Ngoan đạo à? Sao anh biết được?

- Anh trông thấy cô ta tại nhà thờ. Anh chỉ thấy cô ta quỳ gối trong lễ ban phép lành, anh chỉ ở lại nhà thờ trong ba phút, nàng đang quỳ gối cạnh thằng ngốc, và vị linh mục đã làm lễ ban phép lành cho nàng. Nhưng nhìn qua dáng điệu cùng cử chỉ của nàng, anh thấy nàng rất ngoan đạo. Anh đã đi theo nàng bởi nàng đã làm anh rung động.

- Nàng đã làm gì?

- Nàng đã làm anh rung động.

- Em có làm anh rung động không?

- Không. Em làm cho tim anh lộn ngược thì đúng hơn. Lần đó quả thật anh đã đau nhói. Anh đâu còn trẻ nữa, lúc đó anh đã gần ba mươi tuổi rồi, nhưng em đã làm lòng anh đảo lộn, có lẽ phải dùng chữ đó mới đúng. Anh yêu em nhiều.

- Đã có nhiều người đàn bà khác làm anh rung động phải không?

- Phải, tôi đáp, có hàng tá người lận. Một loại đàn bà nào đó. Vả lại, anh không thích dùng tiếng đó, nhưng anh lại không tìm ra tiếng nào thích hợp hơn. Đúng hơn có lẽ anh phải nói là lướt qua. Tại Berlin, có một lần, anh trông thấy một người đàn bà, lúc bấy giờ anh đang ở bên khung cửa sổ trên một chuyến xe lửa và một chuyến xe lửa khác vào nhà ga trên cùng một bến, cánh cửa sổ ở ngay trước mặt anh hạ xuống - nó phủ đầy hơi nước - cái nhìn của anh khám phá ra một khuôn mặt đàn bà đã làm anh rung động bất chợt như thế. Nàng cao dong dỏng, tóc vàng nâu và anh mỉm cười với nàng. Nhưng rồi xe lửa lăn bánh, anh nghiêng người ra ngoài, vẫy tay cho đến khi bóng nàng mất hút. Anh không gặp lại nàng nữa và anh cũng không có ý định gặp lại.

- Nhưng nàng đã làm anh rung động kia mà! Anh hãy kể lại tất cả những trường hợp lướt qua như thế đi, Fred. Trong trường hợp lướt qua này, nàng cũng vẫy lại anh chớ?

- Ờ, tôi nói. Nàng đã vẫy anh. Để anh nghĩ lại coi, những trường hợp khác dĩ nhiên là vẫn trở lại với anh, trong đâu anh còn giữ rất kỹ những khuôn mặt.

- Nào, anh thử nhớ lại coi, Fred!

- Với trẻ con thì điều đó trở lại thường lắm, với những người già cũng vậy nữa.

- Còn em, em chỉ làm lòng anh đảo lộn thôi hả?

- Em cũng đã làm anh rung động nữa chứ, tôi nói. Đừng bắt anh phải lặp lại điều đó. Khi anh nghĩ tới em, thì điều đó vẫn trở lại với anh: Anh trông thấy em đi một mình trong thành phố, anh trông thấy em đi mua sắm, cho mấy đứa nhỏ ăn. Tất cả đều gây cho anh cùng một tác dụng như thế.

- Nhưng còn cô gái ở hiệu kem gần bên đây thì sao?

- Có thể khi anh gặp lại nàng thì sự việc nó đổi khác đi.

- Có thể, nàng nói. Anh có muốn uống phần bia còn lại này không?

- Có, tôi nói.

Nàng trao cốc bia cho tôi và tôi uống cạn. Đoạn tôi đứng dậy, bật đèn sáng, thu dọn cốc đĩa trống và mang chúng xuống nhà dưới. Tại quầy hàng, có hay người đàn ông đang nhìn tôi cười ngạo nghễ khi tôi đặt cốc đĩa xuống. Bà chủ khách sạn với khuôn mặt trắng bệch, nhẵn bóng vẫn còn ở đó. Bà ta khẽ gật đầu với tôi. Tôi bước trở lên ngay sau đó. Kate mỉm cười khi trông thấy tôi bước vào phòng.

Tôi tắt đèn, thay đồ trong bóng tối và bước lên giường.

- Mới có mười giờ.

- Càng hay, chúng ta có chín tiếng đồng hồ để ngủ.

- Cậu trai còn ở lại với mấy đứa nhỏ bao lâu?

- Cậu ta sẽ đi vào khoảng trước tám giờ.

- Nhưng mình còn phải ăn sáng nữa chứ, tôi nói.

- Người ta có đánh thức mình dậy không?

- Không, anh thức dậy một mình.

- Em mệt quá, Fred à, nàng nói. Nhưng mà anh hãy cứ nói chuyện cho em nghe. Chuyện lướt qua tim ấy mà, anh còn những chuyện nào khác nữa không?

- Nhiều trường hợp khác có thể sẽ trở lại với anh.

- Vậy thì anh hãy nói đi, anh là người đàn ông quyến rũ nhưng thỉnh thoảng anh thật đáng đánh đòn. Em yêu anh.

- Anh hài lòng khi nghe em nói điều đó. Anh sợ phải yêu cầu em điều đó.

- Có một thời kỳ chúng ta hỏi han nhau trong từng hai phút một, nói chuyện với nhau mãi mà không biết mệt.

- Nhiều năm như thế, tôi nói.

- Nhiều năm như thế.

- Nào, anh nói đi, nàng bảo và nàng nắm lấy tay tôi, siết chặt.

- Về đàn bà à? Tôi hỏi.

- Không, về đàn ông và trẻ nít, hay về những bà già thì hơn. Với những người trẻ, em không vững tâm lắm.

- Em không có gì phải sợ, tôi nói.

Tôi cúi xuống bên nàng, hôn lên miệng nàng và khi tôi nằm thẳng người trở lại, cái nhìn của tôi gặp phải hàng chữ quảng cáo:

“Hãy tin tưởng nơi người bán thuốc của bạn”.

- Nào, nàng nói.

- Tại Ý, có hàng khối người làm anh rung động. Đàn bà, đàn ông, mọi lứa tuổi, và trẻ con nữa. Ngay cả những người đàn bà giàu có và những người đàn ông giàu có nữa.

- Anh vừa mới nói rằng thiên hạ đều đáng buồn chán kia mà.

- Anh cảm thấy mình đã đổi khác, anh thấy mình đã đỡ hơn từ lúc anh biết được em vẫn còn yêu anh. Em đã nói với anh lắm điều kinh khủng.

- Em không chối. Nhưng mà khi nãy chúng ta tham dự vào cuộc chơi nho nhỏ, anh đừng quên điều đó, Fred à. Những việc đúng đắn sẽ đến sau. Em không rút lại lời nào hết - và việc em yêu anh không thay đổi được gì. Anh cũng yêu các con và anh cũng bất cần nữa.

- Ồ, anh biết, tôi nói. Em đã diễn tả khá rõ ràng minh bạch. Vậy thì em hãy chọn, với anh cũng vậy thôi, một người đàn ông, một người đàn bà, một đứa trẻ nít và ở nước nào đây?

- Hà Lan, nàng nói. Một người Hà Lan, một người đàn ông.

- A! Em tệ lắm. Không dễ gì tìm được một người Hà Lan có thể làm em rung động. Em thật tệ - nhưng mà trong chiến tranh, anh đã thực sự gặp được một người Hà Lan làm anh rung động, đó là một người Hà Lan giàu có. Đúng hơn hắn đã từng nếm mùi giàu có. Khi anh băng qua thành phố Rotterdam - đó là thành phố đổ nát đầu tiên mà anh trông thấy - thật kỳ lạ, vì vậy mà giờ đây tâm hồn anh bị đè nặng bởi một thành phố không bị tàn phá. Lần đó anh hoàn toàn bị đảo lộn, anh trông thấy thiên hạ, những cảnh điêu tàn…

Tôi cảm thấy cơn ghì siết của bàn tay nàng nới lỏng ra, tôi nghiêng xuống bên nàng và trông thấy nàng ngủ. Khi nàng ngủ, khuôn mặt nàng hiện lên một vẻ kiêu kỳ, thật cách biệt, miệng nàng hé mở, sự đau khổ của nàng phản ánh nơi đó. Tôi lại ngả người ra sau, hút thêm một điếu thuốc và trằn trọc rất lâu trong bóng tối, nghĩ ngợi về đủ mọi sự. Tôi cũng cố đọc kinh cầu nguyện nhưng không được. Tới một lúc nào đó, tôi cũng có ý định trở xuống, thử nhảy một lần với cô bé giúp việc trong công ty sô cô la, uống thêm một chút rượu mạnh, thử thời vận một hồi với những chiếc máy đồng xu giờ này hẳn đã vắng người chơi. Nhưng tôi vẫn nằm ì ra đó. Mỗi lần hàng chữ quảng cáo ánh lên, nó soi sáng tờ giấy màu vàng nhạt với những bức vẽ có hình trái tim, và tôi trông thấy bóng ngọn đèn trên tường và những chiếc mền len với những con gấu chơi bóng, những con gấu biến thành người ta, những chàng lực sĩ có cổ bò mộng đang thổi những bọt xà phòng. Nhưng hình ảnh sau cùng tôi nhìn thấy trước khi nhắm mắt ngủ, đó là hàng chữ quảng cáo:

“Hãy tin tưởng nơi người bán thuốc của bạn”.

❀ ❀ ❀

[1] Trò quảng cáo dựa theo truyền thuyết cho rằng đứa bé mới ra đời được một con cò mang tới.

Người dịch: Huỳnh Phan Anh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.