Chiếc bánh nhân kem thật ngon, khi tôi lấy nó ra khỏi lò, một mùi bánh ngọt nóng và dịu, tỏa khắp gian phòng của chúng tôi. Mấy đứa nhỏ vui ra mặt. Tôi sai Celement đi mua kem, đổ đầy cái xác vỏ đạn và tôi vẽ theo ý thích của chúng, những đường lượn, những khuôn mặt tròn và nhỏ lên trên nền màu xanh nâu. Tôi nhìn bọn chúng thanh toán phần kem trong chiếc đĩa bàn và thấy thích thú với việc chia phần rất chính xác của Clement. Cuối cùng còn dư lại một muỗng đầy, nó đưa cho đứa nhỏ nhất đang ngồi ở chiếc bàn nhỏ và nhìn tôi mỉm cười lúc tôi rửa tay và dùng cây son mới điểm lại làn môi.
- Mẹ đi lâu lắm mới về hả mẹ?
- Ờ, tới sáng mai lận.
- Ba sắp về hả mẹ?
- Ờ.
Chiếc áo bờ-lu và chiếc váy của tôi trong tủ dưới nhà bếp. Khi cậu trai đến trông mấy đứa nhỏ bước vào thì tôi đã thay đồ ở cái phòng nhỏ bên cạnh. Cậu chỉ lấy có một đồng mác mỗi giờ, nhưng từ bốn giờ chiều đến bảy giờ sáng, là hết mười lăm giờ, vậy là mười lăm mác, và để cho tiện tôi phải cho ăn cơm, lại còn phải để cho cậu ít thuốc lá bên cạnh chiếc ra-đi-ô. Chiếc ra-đi-ô của vợ chồng Hopf cho mượn.
Bellermann có vẻ thương mấy đứa nhỏ, dù sao thì mấy đứa nhỏ cũng mến cậu ta. Sau mỗi lần tôi đi vắng về, chúng kể cho tôi nghe những trò chơi cậu đã bày ra và những câu chuyện cậu kể cho chúng. Chính cha sở đã tìm cậu cho tôi, cậu có vẻ thấu hiểu những lý do đã khiến tôi phải giao mấy đứa nhỏ cho cậu trông coi và cậu hay cau mày mỗi khi nhìn thấy môi tôi đầy son.
Tôi thắt dây áo bờ-lu, sửa lại mái tóc và bước vào phòng. Bellermann có dẫn theo một cô gái, tóc nâu trông thật dễ thương. Chưa chi đã thấy cô gái ôm đứa nhỏ vào lòng và quay quay món đồ chơi trên ngón tay trở, đứa nhỏ có vẻ thích thú. Bellermann giới thiệu cô gái với chúng tôi nhưng tôi không nhớ tên. Nụ cười của cô gái, sự dịu dàng lạ thường của cô đối với đứa nhỏ đến một cách hết sức tự nhiên, và trong cái nhìn tôi thấy cô có vẻ coi tôi như một người mẹ bất xứng.
Bellermann có mái tóc đen thật quăn, nước da láng bóng và chiếc mũi luôn luôn nhăn.
- Thưa bà chúng tôi có thể đưa các cháu đi chơi được không? Cô gái hỏi, và trước đôi mắt van xin của Celement và những cái gật đầu của Carla, tôi bằng lòng. Tôi lấy tiền trong ngăn tủ để cho chúng mua sô cô la nhưng cô gái không bằng lòng.
- Xin bà chớ bận tâm, nếu bà không phiền, tôi xin được phép biếu cho chúng.
- Nếu cô muốn, tôi nói, tôi để tiền trở lại trong ngăn tủ và thấy mình thê thảm quá, so với con người đầy hoa mộng kia.
- Bà cứ để mặc cho Gully, Bellermann nói, cô ấy mê con nít lắm. Tôi ngắm nghía mấy đứa nhỏ từng đứa một: Clement - Carla - đứa nhỏ, và nghe nước mắt dâng lên trong đôi mắt, Clement gật đầu tỏ cử chỉ động viên tôi và nói.
- Mẹ cứ đi đi mà, không sao đâu. Tụi con không đến gần nước đâu.
- Tôi xin cô cậu, tôi nói, chớ đến gần sông rạch.
- Không, không, Bellermann đáp và, cả hai cùng cười.
Bellermann giúp tôi mặc áo khoác vào, tôi lấy chiếc xắc tay, hôn mấy đứa nhỏ và cầu xin Chúa che chở cho chúng. Tôi nghe thừa quá.
Tôi chậm chạp bước xuống cầu thang. Mới có ba giờ ba mươi phút và đường phố thì vắng ngắt. Vài đứa trẻ đang chơi lò cò, chúng ngẩng đầu lên khi tôi bước đến gần. Không một tiếng động trên con đường, dù có hàng trăm người sống ở đây. Tôi nghe mình bước đi và, tận đầu đường đằng kia có ai chơi dương cầm, lặp đi lặp lại mãi một điệu tẻ nhạt. Phía sau một bức màn nhẹ vén ra, tôi thoáng thấy một người đàn bà lớn tuổi, nước da màu vàng, ôm trong lòng một con chó to, mập. Chúng tôi đã sống một cách vô tích sự ở đây từ tám năm qua, tôi thấy chóng mặt mỗi khi ngước nhìn lên không; hôm ấy tôi thấy dường như những bức tường u ám, được tô sửa lại một cách nham nhở kia, đang nghiêng nghiêng đổ xuống, những âm thanh yếu ớt của tiếng dương cầm cứ đong đưa trong cái khung hình chữ nhật xám xịt vạch trên nền trời bằng những bức tường. Những âm thanh bị giam giữ bít bùng, và cái âm điệu du dương mà những ngón tay xanh xao của người con gái đang hoài công tìm kiếm kia, nó đã tan vỡ từ bao giờ…
Tôi bước nhanh, vượt qua mấy đứa trẻ: Cái nhìn của chúng như ẩn chứa một điều đe dọa.
Lẽ ra Fred không nên bỏ tôi một mình. Tuy tôi thích được gặp chàng, nhưng việc phải bỏ mấy đứa nhỏ với nhau mỗi lần muốn gần gũi chàng làm tôi khiếp sợ. Nếu tôi có hỏi chàng ở đâu thì chàng lại lẩn tránh. Tôi không biết được gia đình Block, nơi mà chàng dự tính mướn nhà từ một tháng trước đây, họ là ai, và chàng đã không cho tôi địa chỉ. Đôi khi chúng tôi gặp nhau vội vã, chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ vào một buổi tối trong một quán giải khát, trong lúc bà chủ nhà trông hộ mấy đứa nhỏ. Chúng tôi lén lút hôn nhau tại một trạm xe điện, và khi tôi bước lên xe Fred vẫn đứng yên đó, vẫy tay chào. Tối đến, tôi nằm khóc trên bộ đi-văng của chúng tôi trong lúc xung quanh đều im lặng. Tôi nghe tiếng các con thở, tiếng đứa nhỏ trở mình, nó trằn trọc vì đang mọc răng, và tôi cầu nguyện - cầu nguyện và khóc - tôi nghe thời giờ trôi qua, như chiếc máy xay đang âm thầm nghiền. Lúc cưới nhau tôi được hai mươi ba tuổi - mười lăm năm đã trôi qua, tôi bị cuốn theo thời gian mà không hay biềt, chỉ cần nhìn vào nét mặt của mấy đứa con tôi là tôi có thể hiểu được điều này: Một năm thêm vào cuộc sống của chúng là một năm tước khỏi cuộc sống của chính tôi.
Tôi đón xe buýt đến công viên Tuckhoff, đường phố vắng lặng, rải rác xa xa có vài người đang đứng quanh các quán thuốc lá. Tôi xuống tại đường Benekam và bước vào cổng nhà thờ Đức-Mẹ-Bảy-Điều-Khó để xem lễ chiều. Trời tối quá, phải có diêm quẹt mới được; tôi lục lạo trong túi xách, trong đám thuốc lá, son, mùi xoa, những vật dụng trang điểm và tôi tìm được bao diêm. Tôi quẹt mạnh que diêm và, hết sức kinh ngạc, tôi nhận ra một hình người đứng bên phải, trong một cái hốc tối om. Người đó đứng yên, tôi vừa định cất tiếng chào bằng một tiếng mơ hồ “À đây rồi”, nhưng sự sợ hãi làm tim tôi đập dữ dội khiến tôi nghẹn lời và hoàn toàn nín lặng. Bóng người ấy, bất động trong bóng tối, cầm trên tay vật gì trông giống một cây gậy. Tôi liệng que diêm đã tàn và quẹt một que khác, thì ra đó là một pho tượng. Tim tôi vẫn không ngừng đập mạnh. Tôi bước tới một bước và nhận ra trong lớp ánh sáng lờ mờ, một pho tượng thiên thần bằng đá có mái tóc trôi bồng bềnh, cầm trên tay một cành huệ. Tôi nghiêng xuống, cằm gần chạm vào thân tượng, ngắm nghía khuôn mặt. Một lớp bụi dầy phủ kín lên đầu, lên tóc, từng mảng đen ngòm bám trong hốc mắt mù lòa. Tôi cẩn thận thổi lên đó, một khuôn mặt trái xoan, hiền từ hiện ra, nhưng bỗng nhiên tôi nhận ra đó là nụ cười bằng thạch cao, và với sự bẩn thỉu, nó mất cả sự duyên dáng quyến rũ. Tuy nhiên, tôi vẫn tiếp tục làm sạch mái tóc tuyệt vời, cùng thân thể và những nếp áo với tất cả sự thận trọng của mình. Tôi thổi những hơi ngắn, nhanh lên cành hoa huệ, sự thích thú của tôi đã giảm dần khi phát hiện những màu sắc lòe loẹt, nước sơn quê mùa của những kẻ đã lợi dụng lòng từ tâm. Tôi quay đi, tiến sâu vào cổng để tìm mấy cái thông cáo. Ở phía trong cùng của nhà thờ, tôi thấy ánh đèn màu đỏ của Thánh Thể và giật mình đánh thót khi tiến đến gần tấm bảng đen với que diêm trên tay. Lần này là một người bằng xương bằng thịt đang tiến đến gần tôi từ phía sau. Tôi quay lại và thở một hơi nhẹ nhõm khi trông ra một vị linh mục có gương mặt nhà quê, tròn trịa và xanh mét. Ông đứng trước mặt tôi và tôi thấy cái nhìn của ông đượm buồn. Nhưng que diêm của tôi tàn lụi và trong bóng tối dày đặc, ông cất tiếng hỏi.
- Con tìm chi?
- Một lễ misa, ở đâu có lễ misa buổi chiều thưa cha?
- Thánh lễ misa à? Trong nhà thờ lúc năm giờ.
Tôi chỉ nhìn thấy ở ông một đầu tóc nâu vàng nhưng đã cạo gần hết, và hai mắt với tia nhìn nghiêm khắc. Một chiếc xe điện rít lên ở khúc quanh, mấy chiếc xe hơi nhận kèn inh ỏi và, đột nhiên, trong bóng tối tôi nói: “Con muốn xưng tội”. Tôi cảm thấy xúc động đồng thời thấy nhẹ nhõm, và vị linh mục trả lời như thể đang chờ câu hỏi ấy.
- Con theo ta.
- Không, xin cha cho tại đây, tôi nói.
- Không thể được, ông dịu dàng nói, mười lăm phút nữa có lễ ban phép lành, người ta sẽ tới đây. Con hãy đến ta. Tôi đã bị lôi cuốn bởi cái ý nghĩ là trút bỏ tâm tư tại đây, nơi cái cổng đầy bóng tối và gió lộng này, bên cạnh pho tượng thiên thần bằng thạch cao kia và hướng về ngọn đèn vĩnh cửu tận đằng xa, bị thúc giục phải giãi bày tất cả cho vị linh mục, để thì thầm vào tai ông và để nhận nơi ông những lời thì thầm tựa như sự xá tội.
Thế là tôi ngoan ngoãn theo ông vào bên trong, sự hăm hở ban đầu đã không còn nữa. Bước giữa những đống cát đá vụn đổ xuống từ ngôi nhà thờ, chúng tôi hướng về một ngôi nhà màu xám, sát gần trạm sửa chữa xe điện. Có tiếng cửa kim khí vang lên đâu đây, ngỡ ngàng trong buổi chiều Chúa nhật. Cánh cửa mở ra với khuôn mặt thô kệch và ngơ ngác của mụ quản gia, mụ đưa mắt dò xét tôi với vẻ ngờ vực.
Lối vào tối om, vị linh mục bảo tôi:
- Con hãy đợi một chút.
Có tiếng bát đĩa khua phía sau một góc tường khuất khỏi tôi, và tôi nghe mùi ngòn ngọt và khó chịu phảng phất ở lối vào, cái mùi đó cũng đã bám vào lớp vải bố ẩm ướt dán tường. Đó là mùi mứt nhừ làm bằng củ cải đường, hơi bốc lên do sự nấu nướng từ một góc ở phía sau, có lẽ là nhà bếp. Cuối cùng, một cánh cửa mở ra, và tôi nhận ra bóng dáng vị linh mục.
- Tới đây, ông nói.
Tôi lưỡng lự bước tới. Khung cảnh gian phòng thật khả ố: Trong một góc, được che khuất bằng bức màn màu đỏ, hẳn là có một chiếc giường và tôi có cảm tưởng là nghe được mùi da thịt người. Trên tường, những quyển sách xếp trên những tấm ván dài ngắn không đều nhau, có khi xiên xẹo; quanh một chiếc bàn to lớn, những chiếc ghế dựa kiểu xưa, lưng bọc nhung đen được kê một cách loạn xạ không ra làm sao cả; trên bàn, mấy quyển sách, một gói thuốc lá, giấy hút thuốc, một túi củ cải đỏ và mấy tờ báo khác nhau được bày la liệt. Vị linh mục ra dấu bảo tôi lại, vừa kéo cho tôi một cái ghế có đóng một tấm lưới lớn nơi lưng dựa. Cái đầu của ông làm tôi thấy thích thích khi xuất hiện nơi đầy ánh sáng.
- Con hãy tha lỗi cho chúng ta, ông vừa nói, vừa liếc mắt ra cửa và đầu hơi cúi xuống. Họ mới ở quê lên và cha đã bảo thôi đừng nấu củ cải nữa nhưng bà ấy chưa chịu nghe. Nó làm cha tốn hao còn hơn là đi mua lấy mứt nhiều, nếu phải kể nào củi lửa, dơ bẩn, hôi hám và công khó. Nhưng cha nói mãi bà ấy không nghe. Con lại đây.
Ông kéo chiếc ghế có lưới sát vào bàn, ngồi vào vị trí và lấy tay ra dấu cho tôi. Tôi vòng qua bàn để ngồi bên cạnh ông.
Vị linh mục mặc áo lễ vào, chống khuỷu tay lên bàn; cái cách ông dùng bàn tay án ngữ không cho tôi nhìn bán diện của ông có cái gì đượm tính cách quy ước, tính toán. Vài ô vuông của tấm lưới bị hư và khi tôi bắt đầu đọc thật khẽ: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần…” thì ông bắt đầu nhìn vào chiếc đồng hồ tay, tôi theo tia nhìn của ông: Bây giờ là bốn giờ ba phút. Và tôi bắt đầu nói, tôi thì thầm vào tai ông, nói ra tất cả những sầu muộn của tôi, tất cả những nỗi khổ của tôi, tất cả những khó khăn của đời tôi. Tôi nói với ông về nỗi sợ của lòng ham muốn, nỗi sợ khi tiếp nhận Thánh Thể và nỗi bấp bênh của sự đoàn tụ của chúng tôi. Tôi nói với ông là chồng tôi đã rời bỏ tôi, rằng chúng tôi thỉnh thoảng mới gặp nhau - và khi tôi lấy lại hơi thở thì ông liếc nhanh nhìn đồng hồ. Mỗi lần như vậy tôi cũng làm theo và thấy kim đồng hồ chạy chậm quá. Không nghe tôi nói, ông ngước mắt lên nhìn, tôi trông thấy hai mắt ông, những ngón tay vàng nhựa thuốc, rồi ông lại nhìn xuống, cất tiếng: “Rồi sao nữa…” Ông nói một cách dịu dàng, tuy nhiên tôi nghe lòng mình đau buốt. Người ta vẫn đau đớn khi một bàn tay chuyên môn ấn lên một mụt nhọt để làm mủ xịt ra.
Và tôi tiếp tục kể lể cho ông nghe tất cả những gì đã xảy ra trước đây hai năm, chúng tôi đã bắt đầu uống rượu như thế nào, Fred và tôi, tôi nói ông nghe về cái chết của mấy đứa con và về mấy đứa còn sống, về những gì chúng tôi nghe người ta nói với gia đình Hopf ở phòng bên cạnh và những gì gia đình Hopf nghe chúng tôi nói. Tôi dừng lại một lần nữa. Ông nhìn đồng hồ, tôi cũng thế, mới có bốn giờ sáu phút. Ông ngước mắt lên nói “rồi sao nữa” bằng một giọng dịu dàng, tôi vội thì thầm vào tai ông nỗi oán ghét của tôi đối với những ông cha trong nhà cao cửa rộng với những cái đầu giống như những chiếc đầu người ta thấy trên các tờ quảng cáo kem mỹ phẩm, sự kinh tởm của tôi đối với bà Franke, nỗi bất lực của chúng tôi, sự khổ cực tai hại do công việc nhà cửa bếp núc, và để chấm dứt, tôi nói với ông là tôi chắc chắn rằng mình lại có mang nữa rồi.
Lần này thì ông không đếm xỉa tới thời gian nữa, ông ngước mắt lên trong nửa giây đồng hồ và hỏi tôi: “Hết chưa?”
“Dạ hết”, tôi vừa đáp vừa đưa mắt nhìn vào chiếc đồng hồ của ông, bây giờ nó ở ngay dưới tầm mắt tôi, vì ông đã rút hai bàn tay khỏi mặt và chấp lại với nhau, tì lên cạnh bàn. Bây giờ là bốn giờ mười bốn phút và tôi tình cờ nhìn vào tay áo của ông đang rủ xuống, hả rộng, cánh tay nông dân gân guốc, đầy lông lá, tay áo sơ mi cuộn lên, tôi tự hỏi tại sao ông lại ăn mặc như vậy.
Ông buông tiếng thở ra, lại tì mặt lên hai bàn tay và ôn tồn hỏi: “Con có cầu nguyện không?” Tôi đáp là có, tôi nói là tôi đã thức nhiều đêm trên chiếc đi-văng khốn khổ của chúng tôi để mà đọc tất cả những lời cầu nguyện tôi còn nhớ và vẫn đến trong trí của tôi. Tôi nói là tôi thường hay thắp một cây nến để mấy đứa nhỏ khỏi thức giấc và đọc cả những lời cầu nguyện mà tôi không thuộc.
Ông không hỏi tôi một câu nào khác. Tôi cũng im lặng.
Đông hồ của ông chỉ bốn giờ mười bốn phút, tôi nghe tiếng búa bên cạnh trạm sửa chữa xe, giọng ngâm nga của bà quản gia và tiếng hổn hển của chiếc xe lửa vào nhà ga.
Ông lại lấy tay khỏi mặt, ôm lấy đầu gối và cất tiếng nói, không nhìn tôi: “Sống ở đời con sẽ gặp nhiều cảnh khổ, nhưng hãy tự an ủi lấy, ta đã thuyết phục được thiên hạ. Con hiểu điều đó không?” Không cần để ý đến câu trả lời của tôi, ông tiếp tục: “Hãy vào bằng khung cửa hẹp, vì cửa càng lớn thì con đường dẫn đến sự đọa đày càng thênh thang và còn nhiều người phải qua con đường ấy. Khung cửa và con đường dẫn đến sự sống thì nhỏ hẹp chật chội biết mấy, và có mấy ai tìm được lẽ sống cho mình.”
Ông lại im lặng, giấu mặt sau hai bàn tay và thì thầm qua mấy kẽ ngón tay:
- Ấy là một ngõ hẹp - con đường nhỏ hẹp nhất mà ta biết được, như một sóng dao - đấy, ta có cảm tưởng đấy là con đường mà các con đang theo. Rồi ông đột ngột cho tay xuống, ông nhìn thẳng vào tôi qua lỗ lưới trong gần một giây đồng hồ, và tôi thấy sợ đôi mắt của ông quá, đôi mắt trước đó có vẻ hiền từ giờ đây trở nên nghiêm khắc: Ta ra lệnh cho con, ông nói, ta ra lệnh cho con phải nghe thánh lễ mi sa do cha sở của con truyền giảng, người mà con rất thù ghét, con phải nhận Thánh Thể từ tay người mỗi khi - và ông lại nhìn tôi - mỗi khi con được rửa tội.
Ông dừng lại, nghĩ ngợi, và trong lúc tôi thầm đọc những lời cầu nguyện trong bụng, tất cả những lời cầu xin mà tôi còn thuộc, tôi nghe chiếc máy hàn của xưởng xe điện thét lên. Chuông nhà thờ ngân nga đổ: Bây giờ là bốn giờ một khắc.
- Ta không biết là ta có thể làm phép rửa tội cho con không, chúng ta phải đợi - Chúa ơi, - tới đây giọng nói của ông có vẻ dõng dạc hơn, nhưng tia nhìn cũng không còn nghiêm khắc - làm sao con có thể nuôi trong lòng lắm hận thù vậy? Rồi như chán nản ông ta quay lại phía tôi: Ta chỉ có thể ban phép lành cho con, ta xin con miễn lỗi cho ta, ta còn phải suy nghĩ, ta phải nói với các vị đồng sự của ta. Chiều tối nay con có thể ghé qua đây không? À, đúng rồi, con đi tìm chồng con. Con phải làm thế nào cho chồng con quay về.
Quá khổ sở, tôi nói:
- Con xin cha, cha hãy rửa tội cho con.
Ông mỉm cười, đưa tay lên lưng chừng và nói:
- Ta muốn làm thế lắm, vì lẽ con thiết tha đến điều đó, nhưng quả thật là ta còn lưỡng lự. Con không còn thấy thù hận chút nào chứ?
- Không, không, tôi vội trả lời, con chỉ buồn thôi.
Ông có vẻ ngần ngại và tôi không biết phải làm gì, tôi có thể thuyết phục ông được nhưng tôi muốn một sự xá miễn thật sự đến từ lòng ông.
- Ta có thể làm thế với điều kiện, - ông vừa nói vừa mỉm cười, - với điều kiện. Ta lưỡng lự ghê lắm. Phải, với điều kiện là ta có quyền làm thế. Ông khoát tay ra dấu dưới mũi tôi, như nóng nảy muốn kết thúc. Các con phán đoán bằng hận thù, còn các cha không cần phê phán cũng không có quyền thù ghét. Không. Ông lắc đầu mạnh, và kê đầu vào lòng hai bàn tay trên cạnh bàn và, sau lời cầu nguyện, ông vụt đứng dậy làm phép rửa tội cho tôi. Tôi làm dấu thánh giá và đứng dậy.
Ông còn đứng đó đưa mắt nhìn tôi chăm chú, khiến tôi bỗng dưng động lòng trắc ẩn ngay trước khi ông dứt lời.
- Có điều, nếu con… Nhưng ông làm một cử chỉ xóa bỏ những gì ông định nói. Con có tin rằng ta không biết tới lòng thù hận đó, một linh mục như ta? Nhiều khi ta nghe tức nghẹn nơi đây - ông vỗ vào bộ áo choàng đen, ở chỗ phía trên trái tim một chút - lòng thù hận đối với những bề trên của ta. Chính nơi đó, ông vừa chỉ ra cửa sổ vừa tiếp tục, nơi đó, trong nhà thờ của ta, các linh mục rao giảng đến làm lễ, các cha đến từ các khách sạn kế cận, với vẻ tươm tất, họ đi từ đại hội này đến đại hội khác, họ than phiền nào là dơ bẩn nào là thiếu người giúp lễ và họ làm lễ mi sa có phần vội vã. Có những buổi lễ kéo dài mười phút, mười ba phút, hai mươi phút. Mỗi ngày, có thể nói là có đến năm, mười, có khi mười lăm buổi; con có thể tưởng tượng được số linh mục đi lưu giảng đến dường nào không? Họ đi về nườm nượp như người ta trẩy hội - Và còn tất cả những kỳ đại hội đó nữa. Trong mười lăm buổi lễ người đến dự không tới con số năm! Ở đây người ta phá mọi kỷ lục, mười lăm so với năm. Ồ, tại sao ta lại phải ghét họ, những vị linh mục đáng tội nghiệp kia, các ông đã để lại trong kho đồ thánh ọp ẹp của ta mùi phòng tắm của khách sạn sang trọng. Ông không nhìn ra cửa sổ nữa và quay lại tôi, đưa một tập giấy và một cây viết chì để trên bàn, tôi viết tên và địa chỉ của tôi, đoạn sửa lại chiếc nón.
Có người gõ cửa mạnh dồn dập.
- Ờ, ờ biết rồi, ông la to, lễ tôn vinh Thánh Thể… tôi tới ngay đây.
Ông bắt tay tôi từ giã, ông nhìn tôi, thở dài và tiễn tôi ra tận cửa.
Tôi chậm rãi bước qua cổng nhà thờ và hướng về đường hầm. Có hai người đàn bà và một người đàn ông đến xem lễ tôn vinh Thánh Thể. Trước cửa nhà thờ phất phơ một tấm biểu ngữ to mang hàng chữ: “Bạn sẽ ra sao nếu không có người bán thuốc”. Cạnh bìa một đám mây đen trôi đi, để mặt trời lộ ra cả chữ “O” trong chữ thuốc chứa chan thứ ánh sáng màu vàng. Tôi tiếp tục đi. Một đứa bé trai, tay cặp quyển kinh đi ngược chiều qua tôi, rồi con đường trống vắng trở lại. Hai bên đường là các cửa tiệm, các đống gạch vụn, phía sau những mặt tiền đen ngòm tôi nghe vang dội những tiếng động của trạm sửa chữa.
Tôi dừng lại, một mùi bánh nóng xông lên từ phía trái, từ cánh cửa mở toang của một cửa tiệm bằng gỗ, những cụm hơi trắng xóa nhẹ nhàng thoát ra. Trên ngưỡng cửa, một thằng bé đang phơi nắng, mũi ngước lên, mắt nheo lại. Tôi thoáng nghe một tình cảm vừa thanh thoát vừa nhọc nhằn khi trông thấy cái nét ngu ngơ dễ thương của thằng bé, hai mí mắt đo đỏ, trong suốt dưới ánh nắng mặt trời. Thằng bé cầm một miếng bánh rán, đường dính rất nhiều quanh môi nó và khi nó cắn vào chiếc bánh, một lớp mứt màu nâu chảy ra, dơ cả chiếc áo thun của nó. Bên trong một cô gái đang cúi xuống cái chảo. Nàng có một gương mặt đẹp, làn da mịn màng như da củ hành và dưới lớp khăn choàng, tôi đoán là tóc nàng màu nâu. Nàng nhúng những chiếc bánh vàng rực vào nước mỡ đang bốc khói rồi đặt lên tấm vỉ sắt. Đột nhiên, nàng nhìn lên, tia nhìn của chúng tôi giao nhau và nàng mỉm cười. Nụ cười của nàng có một sức quyến rũ và tôi cười lại, chúng tôi cười với nhau như vậy vài giây, bất động. Đến khi nhìn kỹ, tôi thấy nàng như từ một nơi xa xăm nào trở về, một con người khác của chính tôi. Hai chị em đang nhìn nhau và mỉm cười. Nhưng tôi nhìn xuống, không có gì mua được trong những cái bánh rán kia, mùi thơm của nó khiến tôi thấy cồn cào trong bụng. Tôi thấy mái tóc bù xù của thằng ngốc, màu sợi gai, và tôi hối tiếc vì không đem theo ít tiền. Tôi chẳng bao giờ đem theo ít tiền khi đến thăm Fred, bởi vì thấy tiền là chàng không cầm lòng được và hầu như lần nào chàng cũng kéo tôi đi uống rượu. Thằng ngốc có cái cổ to, mặt lấm tấm những hạt đường, và khi nhìn thấy cặp môi hé mở mềm mại, tôi đã nghe trong lòng một tình cảm gần như là thèm thuồng.
Người con gái đã đẩy cái chảo sang một bên, nàng tháo chiếc khăn choàng ra, thả mái tóc xõa ra trong nắng ấm, và một lần nữa, tôi nhìn thấy chính mình. Như vừa từ trên cao rơi xuống, tôi thấy con đường bẩn thỉu đầy những gạch vụn, cái cổng nhà thờ, tấm biểu ngữ của những người bán thuốc và lối vào cửa tiệm, nơi tôi đang đứng, ốm o, buồn rầu nhưng vẫn tươi cười.
Vừa trông chừng thằng ngốc, tôi bước vào tiệm kem.
Trong một góc, hai đứa nhỏ đang ngồi tại một chiếc bàn và, bên cạnh bếp lò, một người đàn ông lớn tuổi râu tóc xồm xoàm đang xem báo, ông ta hạ tờ báo xuống để nhìn tôi.
Người con gái đứng cạnh bình lọc cà phê, quay sang một tấm gương lấy lược chải đầu: tôi ngắm nhìn đôi bàn tay của nàng, trắng trẻo và nhỏ nhắn như bàn tay trẻ con, và tôi nhận ra trong gương, bên cạnh khuôn mặt tươi mát của nàng, là khuôn mặt của tôi: ốm nhom, nước da vàng nhợt và chiếc miệng tô đầy son, trông như ngọn lửa nhọn hai đầu nằm vắt ngang; còn nụ cười của tôi tuy rằng phát xuất tận đáy lòng nhưng trông nó có vẻ giả tạo làm sao. Rồi tôi có cảm tưởng như trông thấy đầu chúng tôi đổi cho nhau, tôi là một cô gái đứng trước gương đang sửa lại mái tóc, và nàng, tôi mường tượng nàng đêm đêm hiến dâng cho một người đàn ông để cho hắn truyền vào người nàng sự sống và cái chết. Hắn in dấu lên mặt nàng những gì được gọi là tình yêu, sau cùng làm cho khuôn mặt đó giống khuôn mặt của tôi, ốm o và vàng vọt, vì những phũ phàng và cay đắng của cuộc đời.
Nhưng kìa, nàng đã quay lại, che lấp mặt tôi trong gương; tôi tránh qua bên phải và đắm đuối trước vẻ quyến rũ của nàng.
- Chào cô, tôi hỏi.
- Chào bà, nàng đáp, bà dùng bánh rán?
- Không, cảm ơn cô.
- Không à, bà chê bánh không ngon sao?
- Nghe thơm lắm - tôi nói, và tôi rùng mình khi nghĩ đến kẻ nào tốt số được lọt vào mắt xanh của nàng - thật tình thì bánh ngon lắm… nhưng rất tiếc là tôi không mang tiền theo.
Đúng lúc tôi nói tiếng “tiền” thì người đàn ông lớn tuổi đang ngồi gần bếp lò chợt đứng dậy, bước ra sau quầy hàng đến bên cạnh người con gái và nói:
- Tiền à? Nhưng bà trả sau cũng được mà. Thưa, bà cần một cái bánh phải không ạ?
- Vâng, tôi đáp.
- Ồ, xin mời bà ngồi, người con gái nói.
- Vâng, cám ơn cô.
Ông ta đặt ba chiếc bánh trên một cái đĩa và mang đến cho tôi. Ông ta đứng bên cạnh tôi.
- Cám ơn ông nhiều lắm, tôi nói. Nhưng ông chưa quen biết tôi mà.
Ông ta mỉm cười, vòng hai tay ra trước, chấp lại trên bụng một cách vụng về vừa lắp bắp nói: “Xin bà chớ bận tâm”. Tôi hất đầu ra dấu chỗ thằng ngốc còn mãi đứng nơi ngưỡng cửa và hỏi.
- Con ông đấy à?
- Con trai tôi đó, ông ta đáp khẽ, còn đây là con gái tôi. - Ông liếc mắt nhìn về phía người con gái đang loay hoay với mấy cái bình lọc cà phê – Thằng nhỏ không biết tiếng người, thằng con tôi ấy, cũng không biết tiếng loài vật. Nó không nói được một tiếng nào, chỉ có mấy tiếng ú a, ú ớ, và chúng tôi - ông vừa cong lưỡi lên để phát ra những âm thanh đó thì cái lưỡi lại rơi xuống nằm bẹp trong miệng - chúng tôi bắt chước được. Ông nói rõ đầu đuôi như vậy, đoạn ông cất tiếng gọi: “Bernard!” Thằng ngốc ngoái đầu lại một cách nặng nhọc, nhưng lại gục trở ra phía trước. Lần thứ hai ông ta kêu to: “Bernard!” và Bernard ngoái lại, rồi như một con lắc, nó ngoặc đầu trở ra phía trước một cách ngốc nghếch. Người đàn ông đứng dậy nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay thằng ngốc và dẫn nó lại bàn tôi. Ông ta ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, đặt thằng bé lên đầu gối và nói với tôi: “Bà không ghê tởm nó chứ? Bà đừng ngại, cứ nói thật tình không sao cả.”
- Không, tôi đáp, tôi không ghê tởm đâu.
Cô con gái của ông ta mang cà phê đến, đặt cái tách trước mặt tôi và đứng kế bên cha. “Bà có gớm ghiếc thì cứ nói, phần đông ai cũng ghê tởm nó - chúng tôi không phiền đâu”. Thằng bé mập mạp, lem luốc, bập bẹ giọng ngây ngô chuỗi âm thanh ú a, ú ứ của nó; sau khi nhìn kỹ nó, tôi ngẩng đầu lên, nói: “Không, tôi không gớm; trông nó như một đứa bé sơ sinh thôi.” Tôi cầm tách đưa lên môi uống, tôi cắn chiếc bánh rán và buột miệng:
- Cà phê cô ngon quá!
- Thật vậy à? Người con gái hỏi, hồi sáng này có một ông cũng nói như vậy, ngoài ra không ai nói như vậy cả.
- Ngon thật tình đó, tôi vừa nói vừa uống và ăn một cách mạnh miệng hơn.
Người con gái tựa vào ghế của cha và đưa mắt nhìn tôi, rồi nhìn ra xa hơn, vào cõi mông lung.
- Đôi khi, nàng tiếp lời, tôi cố tưởng tượng xem nó có cảm nhận được gì về cuộc đời của nó, thường thì nó rất hiền từ, rất vui tươi. Có thể nó nhìn thấy tất cả đều có màu xanh và màu đỏ, chỉ hai màu thôi; không khí đối với nó có thể là nước, nước màu xanh, bởi lẽ nó cử động rất khó nhọc trong không khí, xanh và đôi khi điểm sắc nâu với những vệt màu đen, như trong những bộ phim cũ - bởi vì nó biết khóc, điều này là thật khủng khiếp - nó khóc khi nghe một vài tiếng động nào đó phát ra, tiếng rít của xe điện, tiếng rú trong ra-đi-ô.
- À, tôi nói. Nó biết khóc à?
Nàng không nhìn về nơi xa xăm nữa mà quay lại nhìn tôi, nàng nói với tôi nhưng không mỉm cười nữa:
- Dạ đúng vậy và mỗi khi một trong những âm thanh cao vút kia cất lên là nó khóc sướt mướt, miệng mồm tùm lum nước mắt, nước mũi. Vì nó chỉ chịu có đồ ngọt, sữa và bánh mì - tất cả những thứ khác là nó ói hết. Ấy chết tôi xin lỗi bà… tôi làm bà gớm…
- Không đâu, tôi trả lời, cô nói tôi nghe về nó đi.
Nàng lại đưa mắt nhìn lảng ra xa, bàn tay đặt lên đầu thằng ngốc và tiếp tục kể:
- Nó có vẻ khiếp đảm khi nghe những tiếng động đó, giống như lúc nó gặp phải khó khăn khi xoay trở đều và mình trong gió ngược. Có lẽ trong tai nó lúc nào cũng rì rầm tiếng phong cầm, một điệu nhạc du dương màu đất, mà chỉ mình nó nhận được, có thể nó nghe một trận bão làm lay chuyển cây rừng, những sợi dây đàn to tướng như những cánh tay bắt đầu run lên - và cái aam điệu thì thầm đó của thiên nhiên giờ đây đã vỡ tan. Người đàn ông há mồm nghe, như đang phiêu du vào một thế giới xa lạ; ông siết chặt thằng ngốc ngang hông và không hề hay biết những vụn đường rơi rớt trên tay áo. Tôi uống thêm một ngụm cà phê, bắt đầu cái bánh thứ hai và dịu dàng hỏi cô gái: “sao cô biết được?”. Nàng nhìn tôi mỉm cười và đáp:
- Ồ, tôi không biết, nhưng tôi thấy dường như có một cái gì trong con người của nó mà chúng tôi không hiểu được, tôi tự tưởng tượng ra điều đó. Nhiều lần nó bỗng dưng thét lên một tiếng, không ai ngờ trước, chạy ùa lại và tôi banh chiếc khăn choàng ra cho nó khóc lên trên đó - điều đó bất thần xảy ra khi nó đang ngồi ngoài cửa, và tôi tưởng tượng là trong những giây phút đó nó trông thấy tất cả như chúng ta - chỉ trong một thoáng không đầy một giây đồng hồ - tất cả ào ạt xâm nhập lấy nó như một điều gì khủng khiếp: Người ngợm như chúng ta vẫn nhìn thấy, xe hơi, xe điện và tất cả những tiếng động. Sau đó, nó òa lên khóc rất lâu. Mấy đứa nhỏ, tự nãy giờ đang ngồi ở góc phòng, bỗng đứng dậy, đẩy mấy cái đĩa ra xa, đi ngang qua trước chúng tôi và đứa bé gái, đầu đội mũ bê-rê xanh, dáng vẻ bạo dạn, nói to: “Ghi sổ đi… má biểu vậy đó”.
- Ừ, được rồi, người đàn ông mỉm cười nói, và nhìn chúng bỏ đi.
- Còn bà nhà, tôi dịu dàng hỏi ông, mẹ nó mất rồi à?
- Phải, bà ấy mất rồi, bị bom nổ banh xác ngoài đường, thằng nhỏ bị văng khỏi tay bà rớt trên một đống rơm và người ra gặp nó nằm khóc trên đó.
- Có phải từ lúc sinh ra nó đã…? Tôi hỏi, không tìm được những tiếng chính xác thích hợp.
- Từ lúc sinh ra, người cô gái nói, nó vẫn như vậy, tất cả những gì xảy ra đều không ăn thua gì tới nó, chỉ như nước chảy quanh một hòn đá mà thôi; nó chỉ xúc động với giọng nói của chúng tôi, vì tiếng phong cầm của nhà thờ, tiếng rít nhức óc của xe điện và tiếng đồng ca của mấy tu sĩ. Nhưng thưa bà dùng bánh đi chứ, ồ, bà lại lợm giọng rồi à?
Tôi lấy chiếc bánh rán cuối cùng, ngước đầu lên và nói: “A, ra nó biết nghe mấy tu sĩ hát à”.
- Dạ, nàng vừa đáp vừa nhìn thẳng vào mặt tôi, nó nghe họ hát, đúng vậy. Khi tôi tới nhà mấy tu sĩ ở đường Bildon. Bà có biết không - lúc họ hát những bản thánh ca, nét mặt nó đổi hẳn, căng lên, có vẻ nghiêm trọng hẳn ra - mỗi lần như vậy tôi thấy lo sợ - nó lắng nghe, nó hoàn toàn đổi khác, điệu kinh cầu du dương làm nó ngây dại, và nó khóc khi các tu sĩ dứt tiếng. À, chắc điều đó làm bà ngạc nhiên? Nàng mỉm cười nói. Nhưng bà dùng bánh đi chứ.
Tôi cầm chiếc bánh trở lên, cắn vào và nghe nhân mứt còn nóng tan trong miệng.
- Chắc cô thường đưa nó đến đó lắm, quảng trường Bildon ấy mà? Tôi hỏi.
- Dạ đúng, tôi thường đến đó, thế nhưng nó vẫn làm tôi sợ. Bà dùng thêm cà phê nhé?
- Không cám ơn cô, tôi trả lời. Tôi phải đi đây. Tôi ngần ngại nhìn nàng, người con gái, rồi nhìn thằng ngốc và tôi nói thật khẽ: “Tôi muốn đến đó.”
- Nhà thờ à? Nàng hỏi. Gặp mấy tu sĩ phải không?
- Phải.
- Nhưng bà nhớ ghé thăm chúng tôi bà nhé. Bà phải đi tiếc quá. Bà sẽ trở lại chứ?
- Tôi sẽ trở lại, tôi nói, hơn nữa tôi còn phải thanh toán tiền bạc chứ.
- Ồ, xin bà, đâu phải vì chuyện đó, nhưng xin mời bà trở lại. Người đàn ông gật gù biểu lộ đồng tình.
Tôi uống những giọt cà phê cuối cùng, đứng dậy và phủi những vụn bánh trên áo.
- Tôi sẽ trở lại, tôi nói. Ở đây ông và cô đối đãi tốt quá.
- Nội trong ngày hôm nay chứ? Người con gái hỏi.
- Không phải hôm nay, tôi nói. Nhưng gần đây, có thể là sáng mai; tôi sẽ trở lại thường, và chúng ta sẽ cùng nhau tìm đến mấy tu sĩ.
- Dạ, nàng đáp. Nàng đưa tay về phía tôi, tôi nhìn bàn tay nàng nằm trong tay tôi trong phút chốc, bàn tay trắng mướt và nhẹ nhàng, tôi thấy gương mặt nàng rạng rỡ, tôi mỉm cười với nàng và gật đầu chào người cha. “Bernard”, tôi cất tiếng dịu dàng với thằng ngốc, nó đang bóp vụn miếng bánh trong mấy ngón tay, nó không nghe tôi nói gì, nó cũng không có vẻ gì là trông thấy tôi: Hai mí mắt nó hầu như nhắm nghiền lại, hai mí mắt đỏ ửng và nóng bừng.
Tôi quay lại và hướng về khoảng đường hầm tối đen dẫn đến đường nhà ga.