Tôi tìm đến bên tấm bảng chỉ lối đi có hình bàn tay màu đen không chút khó khăn, tôi theo hướng ngón tay trở chỉ thẳng. Con đường vắng ngắt, buồn hiu nhưng trong lúc tôi bước đi thì một đám người bất chợt tuôn ra từ một tòa nhà hẹp: Một rạp chiếu bóng đang tan xuất. Đến góc đường lại có tấm bảng với bàn tay màu đen chỉ lối, ngón tay trở quẹo xuống thành một góc, tôi đã đến trước mắt khách sạn Hà Lan. Phát sợ khi trông thấy một ngôi nhà bẩn thỉu như vậy, tôi chậm chạp băng qua đường và dừng lại trong chốc lát trước cánh cửa phía ngoài bôi sơn đỏ tùm lum, đoạn tôi bất chợt đẩy mạnh cánh cửa và vào trong khách sạn. Có ba người đàn ông đứng trước quầy hàng. Họ ngưng ngang câu chuyện nhìn tôi bước vào, rồi nhìn bà chủ và bà chủ rời mắt khỏi tờ tạp chí, nhìn tôi. Bà ta nhìn tôi từ mặt lên đến nón, nhìn xuống chiếc túi xách tôi cầm nơi tay, rồi cúi xuống để nhìn giày và chân tôi, rồi lại nhìn lên mặt, đôi mắt bà dừng lại ở đôi môi tôi như thể muốn tìm hiểu hiệu son của tôi. Bà ta lại cúi xuống một lần nữa, dò xét cặp chân tôi một cách vô hiệu quả, đoạn nhừa nhựa cất tiếng: “Thưa bà?”. Bà ta buông hai tay đang chống nạnh xuống, đặt lên mặt quầy hàng mạ kền, đoạn chấp hai tay lại trước bụng và tì lên đó; gương mặt thỏn, trắng của bà ta có vẻ bối rối.
- Tôi muốn gặp chồng tôi, tôi nói, mấy người đàn ông quay đi, tiếp tục câu chuyện của họ, bà chủ không cần đợi tôi nói tên, bà ta bảo: “Phòng mười một, lầu một”. Bà ta chỉ cánh cửa tự động bên cạnh quầy hàng. Một người đàn ông vội lại vịn cửa cho tôi. Mặt hắn xanh và chắc hắn say rượu vì môi hắn run run và mắt hắn đỏ ngầu. Hắn nhìn xuống khi tôi ngó thẳng vào hắn, tôi nói “cám ơn” và đi thẳng qua cánh cửa đã mở. Lúc lên cầu thang, tôi nghe bên kia cánh cửa, bây giờ đã thôi không còn bật qua bật lại nữa, có người nói: “Bà ta chắc ở đâu đây chứ không xa”.
Buồng cầu thang quét nước vôi màu xanh lá cây, một bức tường đen nổi bật sau mấy tấm kính mờ và khoảng nghỉ chân chật hẹp trên cầu thang ở tầng thứ nhất được soi sáng bằng một bóng đèn không có chụp.
Tôi gõ cửa số mười một và vì không ai trả lời, tôi mở cửa bước vào, Fred đang nằm ngủ trên giường. Chàng nằm trong một tư thế rất dịu hiền, trông như trẻ thơ, nếu không có khuôn mặt cằn cỗi, người ta có thể nghĩ chàng độ mười tám. Lúc chàng ngủ, đôi môi chàng hơi mé mở, mái tóc đen sậm lòa xòa trên trán, mặt chàng trông có vẻ ngây ngô vì chàng ngủ rất say sưa. Ngay khi bước lên cầu thang tôi thấy giận chàng đã làm cho tôi bị thiên hạ nhìn như một ả giang hồ, nhưng bây giờ thì tôi tiến đến giường chàng, bước chân rón rén, tôi đến gần chiếc ghế và ngồi xuống mở túi xách lấy ra gói thuốc.
Tôi ngồi cạnh chàng hút thuốc, và lúc chàng trở mình tôi quay nhìn chỗ khác, ngắm nghía từng chi tiết bức hình vẽ màu xanh lục trên giấy dán tường và bóng đèn trông dễ sợ treo trên đầu tôi, tôi phà khói thuốc qua cánh cửa sổ hé mở. Tôi lội ngược dòng thời gian, nghĩ tới những sự thay đổi hiếm hoi trong cuộc sống vợ chồng chúng tôi. Chúng tôi há đã chẳng bắt đầu từ một gian phòng, có sẵn đồ đạc xấu xí chẳng thua gì gian phòng ở khách sạn này là gì? Lúc cuộc chiến bùng nổ, chúng tôi vừa kiếm được một ngôi nhà khang trang, một ngôi nhà mà bây giờ khi nghĩ tới tôi không tin là có thật: bốn phòng với phòng tắm sạch sẽ - Celement có trong phòng riêng của nó một tấm giấy hoa dán tường với những tranh ảnh dành cho trẻ con nhưng nó còn nhỏ quá nên chưa hiểu được những hình vẽ đó. Ngôi nhà không còn đó nữa, ngôi nhà có tấm giấy hoa trên tường dành cho trẻ con kia, tuy nhiên trong trí tôi, tôi vẫn còn nhìn thấy Fred đang đứng trước mặt tôi, hai tay cho vào túi quần nhà binh màu xám, mắt nhìn chăm chăm vào những đống gạch vụn còn ngút khói. Rõ ràng là Fred chẳng còn hiểu trời đất gì nữa - chàng không hiểu được là chúng tôi chẳng còn quần áo, bàn ghế, chẳng còn gì ráo - và chàng nhìn tôi với cái nhìn của một kẻ chưa hề thật sự làm chủ một thứ gì trong đời. Chàng lấy điếu thuốc đang cháy trên miệng xuống đưa vào miệng tôi, tôi rít một hơi và tôi vừa nhả khói vừa bật cười sặc sụa.
Tôi mở to cửa sổ để liệng mẩu tàn thuốc xuống sân; giữa mấy thùng rác có một vũng nước lớn nhuốm màu vàng của tro than, điếu thuốc của tôi rơi vào đó, xèo lên một tiếng rồi tắt ngấm. Một hồi còi khô khan theo chuyến xe lửa tiến vào nhà ga, tôi nghe có tiếng người xướng ngôn viên nhưng không nghe được là hắn nói gì.
Fred thức dậy cùng lúc với tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông làm rung động những khung kính cửa sổ, sự rung động nhẹ nhàng từ những khung cửa truyền sang một thanh sắt nơi cửa sổ, và đến lượt nó nhún nhảy, đong đưa loảng xoảng.
Fred nhìn tôi, bất động và câm nín, chàng buông một tiếng thở dài, chàng tỉnh ngủ dần.
- Fred, tôi cất tiếng.
- Em, chàng đáp, chàng kéo tôi lại gần và hôn tôi. Chàng ôm chặt tôi vào lòng, chúng tôi hôn nhau, nhìn nhau và khi chàng ôm lấy đầu tôi, giữ một khoảng cách để dò xét tôi, tôi không khỏi mỉm cười.
- Chúng ta phải đi xem lễ, tôi nói. Nếu anh chưa đi.
- Chưa, chàng nói, anh chỉ ở lại đây có hai phút, anh đến dự lễ ban phép lành.
- Vậy thì mình đi đi anh!
Chàng còn đôi giày trên chân, có thể là chàng ngủ không đắp mền và tôi thấy chàng có vẻ lạnh. Chàng đổ nước ra thau, đưa hai bàn tay ướt nước lên mặt, chàng lau mặt, lau tay và lấy chiếc áo khoác máng lên ghế dựa.
Chúng tôi cặp tay bước xuống cầu thang. Ba người đàn ông vẫn bàn bạc trước quầy hàng, họ không buồn nhìn chúng tôi. Fred đưa chìa khóa cho bà chủ, bà ta máng lên một tấm bảng và hỏi:
- Ông bà đi có lâu không?
- Một tiếng đồng hồ, Fred nói.
Chúng tôi đến nhà thờ đúng lúc lễ tôn vinh Thánh Thể vừa tan và chúng tôi được dịp nhìn thấy mấy thầy dòng khệnh khạng đi vào kho đồ thánh: Trông họ như những con cá chép màu bạc lội chầm chậm qua một dòng nước xám lấp lánh. Một cha xứ mệt mỏi đến làm lễ ở bàn thờ bên hông. Ông ta làm lễ nhanh chóng, trông dáng điệu hấp tấp và khi bước đến bên quyển sách Phúc Âm, ông ta đã để lộ sự nóng nảy bằng cái nhún vai vì người hầu lễ không còn cầm cuốn sách kinh đứng đó nữa. Những cụm khói hương tỏa ra từ bàn thờ chính, một đám đông kéo đi bên cạnh nhóm tín đồ đến dự lễ. Phần đông là những người đàn ông mang ở khuy áo một lá cờ nhỏ màu đỏ. Đến lúc cử dương Thánh Thể, nhiều người đứng khựng lại, khiếp sợ vì tiếng chuông, nhưng đa số những người khác vẫn tiếp tục chiêm ngưỡng những tấm khảm, những khung kính, những bàn thờ mà họ tiến đến gần. Tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ treo ngang chiếc phong cầm, cứ một khắc là điểm một tiếng yếu ớt; đến lúc ra khỏi nhà thờ, sau lễ ban phép rửa tội, tôi tính lại thấy buổi lễ đã kéo dài được mười chín phút, không hơn không kém. Fred đợi tôi ở phòng nhỏ phía trước nhà thờ và tôi lại đến bàn thờ Đức Mẹ Đồng Trinh để đọc kinh kính mừng. Tôi xin Đức Mẹ đừng cho tôi mang thai nữa dù rằng tôi thấy sợ sệt khi xin điều đó. Có nhiều cây nến cắm trước ảnh Đức Mẹ và phía bên trái bộ chân đèn to lớn là cả một bó nến vàng. Tôi đọc được hàng chữ viết trên một tấm biển bằng giấy bồi: “Tặng phẩm của cộng đồng lao động Dược Phẩm Công Giáo, phân bộ nghiệp đoàn thương gia dược phẩm Đức quốc”.
Tôi quay lại bên Fred và chúng tôi bước ra ngoài. Trời nắng, lúc bấy giờ là năm giờ hai mươi và tôi thấy muốn ăn. Tôi cặp tay Fred và lúc bước xuống bậc thềm nhà thờ, Fred khua mấy đồng tiền trong túi kêu loảng xoảng.
- Em muốn đi ăn nhà hàng không? Chàng hỏi tôi.
- Không, tôi đáp, ăn ở ngoài đi anh, vô một quán bình dân, em rất thích ăn ở các quán bình dân.
- Vậy thì đi, chàng nói, chúng tôi đi xéo qua đường Blucher.
Năm tháng trôi qua, các đống gạch vụn đã nhỏ lại và tròn như những trái banh, cỏ dại phủ đầy thành những cái mô xám đúng hơn là xanh, điểm sắc đỏ của những cây liễu thảo héo úa. Có một thời, đài kỷ niệm Blucher bị bỏ phế dưới rãnh: Pho tượng đồng vĩ đại hùng tráng ngang nhiên thịnh nộ dưới trời, bỗng một ngày nó bị người ta giựt xuống.
Một tấm lưới sắt dùng chặn đống rác. Một lối đi hẹp được vạch bằng xẻng len qua những đống gạch vụn, và chúng tôi đến trường Mommsen. Nơi đây một vài ngôi nhà còn đứng vững, tôi nghe từ xa trên những đống gạch vụn có tiếng nhạc hội chợ. Tôi kéo Fred dừng lại và chúng tôi đứng yên, tôi nghe rõ hơn âm thanh vang rền của một cây đại phong cầm máy.
- Fred, tôi nói. Bộ có phiên chợ ngoài phố hả anh?
- Phải, chàng đáp.
Chúng tôi rảo bước một quãng ngắn trên đường Velada rồi lại rẽ sang lối khác. Chúng tôi cảm thấy mệt nhoài khi đột ngột rơi vào giữa những tiếng động và những mùi vị hỗn độn xông lên từ một buổi chợ phiên. Tiếng đại phong cầm, mùi goulash bỏ quá nhiều gia vị, pha lẫn với những mùi vị nực nồng bốc lên từ những món chiên xào bằng mỡ, những tiếng xôn xao cuống cuồng từ những gian hàng cưỡi ngựa gỗ, tất cả đã kích động tôi mãnh liệt. Tôi nghe tim mình đập thật mạnh. Những mùi vị kia, những tiếng ồn ào kia, tạp nhạp và hỗn độn, tuy nhiên vẫn chứa đựng một âm điệu dịu dàng kín đáo.
- Fred, tôi bảo. Anh hãy đưa tiền cho em.
Chàng móc hết tiền trong túi ra, lấy mấy tờ bạc giấy mà chàng đã xếp lại và nhét vào quyển sổ tay tồi tàn của chàng. Chàng xếp những đồng bạc cắc thành đống trong lòng bàn tay. Có cả những đồng lớn bằng bạc. Tôi đếm thật kỹ và Fred nhìn tôi mỉm cười.
- Sáu mươi tám mác, tôi nói, quá nhiều hả Fred?
- Em cất đi, chàng nói. Tôi thấy thương chàng, với gương mặt nhỏ thó xanh xao mệt mỏi, với đôi môi nhợt nhạt ngậm một điếu thuốc trắng tinh. Vì sao tôi yêu chàng? Tôi vẫn thường tự hỏi như vậy. Tôi không thể nào biết một cách rõ ràng tại sao, hẳn là có rất nhiều lý do, nhưng đây là một: Tôi thích đi hội chợ với chàng.
- Chính em mời anh đi ăn mà… tôi nói.
- Nếu em muốn, chàng đáp. Tôi nắm lấy tay chàng và kéo lại quán bán món goulash, phía trước có trang hoàng hình vũ nữ Hungary, những chàng trai đội mũ tròn, hai tay chống nạnh, hăm hở nhảy quanh mấy người con gái. Chúng tôi tì khuỷu tay trên quầy và người bán hàng đang ngất nghểu trên chiếc ghế nhỏ bên cạnh cái chảo bốc khói, đứng dậy mỉm cười tiến đến phía chúng tôi.
Đó là một người đàn bà to lớn, tóc đen, hai bàn tay to và đẹp phô mấy chiếc nhẫn giả. Chiếc cổ màu sậm quấn một chiếc băng nhung với tấm mề đay treo lủng lẳng.
- Hai cái goulash, tôi vừa nói vừa đưa ra hai đồng mác. Chúng tôi nhìn nhau mỉm cười, tôi và Fred, trong khi bà chủ vào tận phía trong quán và giở nắp nồi ra.
- Anh ăn món goulash rồi, Fred nói.
- Chết chưa, em xin lỗi anh nghe.
- Không sao, đó là món anh ưa, Fred nói. Chàng đặt bàn tay lên cánh tay tôi.
Bà chủ xốc những lớp dưới đáy chảo, múc lên một vá đầy tràn, lúc đó, hơi tỏa lên đọng thành giọt trên mấy cái ly chưng sát phía trong quán. Bà ta đặt vào tay chúng tôi mỗi người một ổ bánh mì nhỏ. Liền sau đó, bà dùng giẻ lau qua tấm gương, vừa nói với tôi: “Để trông rõ mặt bà vì bà đẹp quá!” Tôi nhìn vào tấm gương và quả nhiên tôi thấy tôi đẹp. Phía sau gương mặt của tôi, tôi nhận ra hình dáng lờ mờ của một gian hàng bán bia và tận phía sau là một gian hàng ngựa gỗ cho trẻ em cưỡi. Nhưng khi tia nhìn bắt gặp bóng dáng của Fred, tôi cảm thấy run sợ. Chàng ăn nóng không được, nướu răng chàng bị đau và chàng lừa thức ăn trong miệng cho nguội bớt. Trông chàng có vẻ bực bội nóng nảy - như một lão già quạu quọ và mỗi lần như vậy, tôi còn thấy sợ hãi hơn. Trong lúc đó chiếc ly lại đóng đầy những giọt nước và bà chủ lại bắt đầu dùng cái vá chậm rãi xới thức ăn trong chảo; tôi có cảm tưởng là bà ta phục vụ những người khác ít rộng rãi hơn.
Sau khi đẩy mấy cái đĩa trống ra, chúng tôi nói cảm ơn và bước ra ngoài. Tôi lại giữ chặt cánh tay của Fred và chúng tôi lượn qua các ngõ hẹp giữa các gian hàng. Tôi dùng những lon đồ hộp rỗng ném ngã những con búp bê có nụ cười cứng đọng, và điều làm tôi mất hứng là chúng lật nhào xuống rồi va vào lớp vải bố và làm bật bộ phận máy móc đẩy chúng đứng dậy. Bị đánh lừa bởi giọng điệu lặp đi lặp lại của một tên rao hàng, tôi lấy một vé số tom-bô-la và theo dõi chiếc bánh xe quay tròn, thỉnh thoảng lại liếc mắt nhìn mấy con gấu to bằng vải nhung xù và ước ao lần này sẽ kiếm được một con. Hồi còn bé tôi đã từng ước ao được những con gấu như vậy. Nhưng cây kim bằng cái que mỏng không chịu ráng sức lướt qua cái khe giữa mấy cây đinh kia mà lại ngừng ngay ở trước con số của tôi thành tôi chẳng trúng được con gấu mà cũng chẳng được món gì.
Tôi ngồi gọn trong chiếc ghế di động nhỏ xíu của một gian hàng cưỡi ngựa gỗ, tôi ấn hai đồng xu vào lòng một bàn tay bẩn thỉu và được đưa lên từ từ, đưa lên cao mãi, vòng quanh chiếc đại phong cầm được giấu trong cái bục gỗ nơi trục quay, và chiếc đại phong cầm hắt vào mặt tôi một điệu nhạc quê kệch lặp đi lặp lại. Tôi trông thấy tháp chuông nhà thờ vươn lên giữa một vùng hoang tàn đổ nát, bay lướt qua tôi. Phía dưới tôi, là một bụi cỏ dại mọc xanh rì, dày đặc, trước mặt tôi là những mái lều có nước đọng vũng ở trên. Trong lúc được cuốn đi trong cơn quay cuồng của dàn ngựa gỗ với hai đồng xu, tôi lao về hướng mặt trời, đầu cúi xuống, và những tia nắng tạt vào mặt tôi và mỗi lần vào hướng đó. Tôi nghe tiếng dây xích của mấy chiếc ghế rít lên, tôi nghe những người đàn bà kêu réo, tôi trông thấy những ngụm khói và đám bụi mịt mù ở hội chợ, tôi lao đi trong những lờ mờ của dầu mỡ và sau khi xuống đất, bằng những bước loạng choạng trên những bục gỗ, tôi ngã vào vòng tay của Fred, và thốt lên: “Ồ, Fred!”. Chúng tôi chỉ cần một đồng xu là có thể lên bục khiêu vũ. Bị vây quanh bởi các cô các cậu choai choai với những bước đi khệnh khạng quá đáng, chúng tôi phải ôm sát vào nhau, và mỗi lần cùng với Fred quay theo nhịp của điệu vũ, tôi bắt gặp gương mặt nhẵn thín, nhu nhược của một tay thổi kèn. Cây kèn của hắn che khuất phân nửa chiếc cổ áo đen ngòm và hắn không quên ngẩng đầu lên nhìn tôi nheo mắt, và như đế chào mừng tôi, hắn rúc lên một điệu kèn vang dội.
Tôi nhìn Fred đặt một đồng xu vào bàn ru-lét, chia sẻ sự hồi hộp của những người đàn ông đang bu quanh, lúc tên hồ lỳ ném cái đĩa và hòn bi bắt đầu điệu luân vũ của nó. Sự nhanh nhảu lúc đặt tiền của những người đàn ông, sự nhanh nhảu của Fred lúc quăng đồng tiền đúng vào chỗ chàng muốn, chứng tỏ một sự tập luyện, một sự hòa hợp có sẵn từ bao giờ, và sự nhanh nhảu đó đã làm tôi phải ngẩn ngơ. Tôi quan sát tên hồ lỳ, lúc hòn bi chạy vòng vòng, hắn đang ngẩng đầu lên, bâng quơ nhìn đám đông bằng một tia mắt lạnh lùng, ngạo nghễ. Chiếc đầu nhỏ nhắn, xinh đẹp và khô ráo của hắn chỉ cúi xuống lúc tiếng kêu rè rè gần tắt hẳn; rồi hắn vùa tiền, dồn vào túi, ném cho mấy người trúng những đồng xu lục lạo từ cái túi đầy nức tiền của hắn, mời mọc người ta dự cuộc, săm soi những ngón tay của những người đánh bạc, ném chiếc đĩa với một dáng vẻ khinh khỉnh rồi lại ngẩng đầu lên, vểnh môi và đảo mắt nhìn quanh, ra điều chán nản lắm.
Những đồng xu nằm chồng chất trước mặt Fred được hai lần, chàng vơ lấy tiền trên bàn đùa về phía tôi.
Chúng tôi ngồi trên mấy cái bậc bẩn thỉu trong một gian hàng ọp ẹp của những kẻ làm trò, gian hàng được vừng bằng một tấm màn màu xanh và chúng tôi ngồi lại đó để xem cái đám đông hỗn độn, để nuốt bụi, để lắng nghe những điệu hòa tấu lộn xộn của những cây đại phong cầm máy, để nghe tiếng réo gọi đến khàn cả giọng của mấy hoạt náo viên mời khách có nhiệm vụ hốt bạc cho mấy gian hàng ngựa gỗ. Tôi ngó xuống, mặt đất đầy những rác rến, những giấy vụn, những tàn thuốc, những cánh hoa bị giẫm nát, những tấm vé bị xé vụn, và lúc ngước mắt nhìn lên, tôi bắt gặp mấy đứa con của chúng tôi. Bellermann đang đưa tay cho Celement nắm, cô con gái thì dắt Carla, thằng nhỏ nằm trong chiếc ghế xách của hai cô cậu. Mấy đứa nhỏ ngậm kẹo mút to tướng màu vàng, tôi trông thấy chúng reo cười, mắt ngước nhìn lên rực sáng, rồi chúng dừng lại trước một gian hàng bắn súng. Bellermann đến gần, Celement giữ lấy chiếc ghế để cho cậu ta rảnh tay lấy khẩu súng. Clement đưa súng lên vai nhắm. Mấy đứa nhỏ có vẻ sung sướng, chúng phá lên cười khi Bellermann cắm trên mái tóc cô gái một đóa hoa giấy màu đỏ. Rồi chúng bỏ đi, rẽ sang phải, tôi thấy Bellermann đếm tiền trong tay rồi đưa cho Clement, con tôi lẩm bẩm lặp lại những con số và ngẩng đầu lên, nhếch mép mỉm cười để cám ơn Bellermann.
- Đi anh, tôi vừa nói nhỏ với Fred vừa đứng dậy, nắm cổ áo chàng kéo đi, có mấy đứa nhỏ kìa!
- Đâu em? Chàng hỏi, chúng tôi nhìn nhau. Giữa chúng tôi, trong cái khoảng cách ba mươi phân, giữa hai đôi mắt chúng tôi là biết bao đêm dài chúng tôi nằm trong vòng tay của nhau. Fred gỡ điếu thuốc khỏi môi, âu yếm hỏi tôi:
- Chúng ta làm gì bây giờ em?
- Em không biết nữa, tôi đáp. Chàng dìu tôi về phía lối đi của rạp hát trong khu hội chợ và một gian hàng ngựa gỗ đang tạm nghỉ, xung quanh treo một tấm màn che bằng vải dày màu xanh lá cây. Cả hai cùng nhìn những cây cọc dùng căng mấy sợi dây, không ai nói một lời nào.
- Đi ngả này, Fred vừa nói vừa vạch hai tấm vải màn ra, và chàng chui ra trước, chàng giúp tôi chui qua, và chúng tôi bước vào trong chỗ tối, Fred ngồi trên một con thiên nga to bằng gỗ còn tôi trên một con ngựa nhún cạnh đó. Gương mặt xanh mét của Fred bị cắt đôi bởi một vệt sáng lọt qua khe hở.
Fred nói:
- Lẽ ra anh đừng nên cưới vợ phải không em?
- Những chuyện điên khùng đó anh cho em xin đi. Mọi người đàn ông đều nói như anh cả.
Tôi nhìn chàng và tiếp lời:
- Vả lại đó là điều khích lệ cho em, nhưng mà người đàn bà nào có đủ khả năng biến hôn nhân thành cái có thể chịu đựng được hở anh?
- Em đã thành công hơn phần đông những người đàn bà khác, chàng trả lời, mắt chàng không nhìn vào đầu con thiên nga nữa, chàng đặt bàn tay lên cánh tay tôi. Vậy là chúng ta đã cưới nhau được mười lăm năm rồi, và…
- Một cuộc hôn nhân khá thành công, tôi nói.
- Tuyệt vời, chàng nói, đúng là tuyệt vời. Chàng rút tay ra khỏi cánh tay tôi, hai bàn tay chàng cùng đặt lên đầu con thiên nga, chàng tựa đầu lên đó và ngước mắt nhìn tôi trong dáng vẻ mệt mỏi.
- Anh chắc chắn rằng nếu không có anh, em vẫn sung sướmg.
- Không đúng, tôi đáp, anh đâu có biết được là…
- Anh đâu có biết được điều gì?
- Fred à, tôi nói. Mỗi ngày sắp nhỏ hỏi thăm anh đến hàng chục lần, còn em thì gần như đêm nào cũng khóc.
- Em khóc à? Chàng ngẩng đầu lên, chàng nhìn tôi và tôi cảm thấy hối hận đã nói cho chàng nghe điều đó.
- Không phải em thích thú gì đâu mà nói với anh như vậy, mà trái lại em muốn cho anh thấy anh sai lầm tới mức nào.
Ánh nắng bỗng tràn ngập qua các khe hở giữa các tấm vải, nhuốm một màu xanh lục, chiếm trọn gian phòng hình tròn và những con vật trong gian hàng ngựa gỗ hiện ra trong lớp ánh sáng màu vàng óng ả: những con thiên nga, những con ngựa con và phía sau chúng tôi, tôi còn nhận ra một chiếc xe hoa bọc nhung đỏ có hai con ngựa kéo “Mình vô trong đó đi anh, tôi bảo Fred, ở trong ấy dễ chịu hơn”. Chàng nhảy xuống khỏi lưng con thiên nga, giúp tôi bước xuống khỏi con ngựa nhún và chúng tôi ngồi bên nhau trên lớp nhung êm ái của chiếc xe song mã. Mặt trời đã khuất bóng, những hình thù quanh chúng tôi chìm vào thứ ánh sáng lờ mờ.
- Em khóc à? Chàng nhìn tôi và hỏi. Chàng muốn bỏ tay vòng qua lưng tôi nhưng lại rút về. Em khóc vì vắng anh phải không?
- Vì thế cũng có, tôi khẽ đáp, nhưng không phải chỉ vì thế. Anh thừa biết là em muốn có anh bên cạnh em và các con. Nhưng em cũng biết là anh không chịu đựng được cuộc sống như vậy và đôi khi tốt hơn là không nên có anh ở đó. Em thấy sợ anh, sợ sắc mặt anh những lúc anh đánh mấy đứa nhỏ, em sợ giọng nói của anh và em không muốn anh trở về để rồi tất cả phải bắt đầu trở lại như trước lúc anh bỏ ra đi. Thà em nằm trên giường mà khóc hơn là nhìn thấy anh đánh mấy đứa nhỏ chỉ vì lý do độc nhất là mình không có tiền. Đúng là vì thế phải không anh, chính vì thế mà anh đánh mấy đứa nhỏ, vì mình nghèo phải không anh?
- Phải, chàng đáp, sự nghèo túng biến anh thành người bịnh hoạn.
- Đó chính là lý do tại sao tốt hơn không nên có anh bên em và các con, nếu tất cả không có gì thay đổi. Trong khi chờ đợi hãy cứ để em khóc. Có thể trong một năm thì em cũng đi đến chỗ đó, cũng đánh đập con cái và giống như những người đàn bà khốn nạn nọ mà hồi còn con gái hễ trông thấy là em phát sợ. Những con người khốn khổ đáng thương có giọng nói lè nhè, túng cùng, bị đày ải một cách dã man trong những nỗi kinh hoàng của cuộc sống, bị giam hãm trong những xó kẹt tồi tàn ọp ẹp không hơn những chuồng thỏ, khi thì đánh đập con cái, khi thì nhét bánh cho chúng ăn. Đêm đêm họ lại để yên cho một tên say sưa giày vò trong mùi hôi hám mà hắn mang về từ những quán cóc bán xúc xích. Túi áo khoác của hắn có khi còn được hai điếu thuốc nhàu nát, và họ đem ra hút chung với nhau trong bóng đêm sau phút ân ái. Đúng, em đã khinh miệt những người đàn bà đó. Xin Chúa chẳng khắc nghiệt với con - đưa cho em thêm một điếu thuốc nữa, Fred.
Nhanh nhẹn, chàng móc gói thuốc trong túi, chìa ra cho tôi để tôi tự rút một điều, chàng cũng lấy một điếu và khi que diêm cháy lên, tôi trông rõ khuôn mặt thảm hại của chàng dưới ánh sáng xanh xao mờ ảo.
- Em nói tiếp anh nghe đi, chàng nói.
- Có thể em khóc là vì em có thai.
- Em có thai à?
- Có lẽ, tôi nói, anh thừa biết khi có thai thì em như thế nào. Tuy nhiên em cũng không tin là mình có thai nữa. Bởi vì nếu có thì lúc ngồi trên ngựa gỗ em đã nôn mửa rồi. Ngày nào em cũng cầu xin cho mình đừng có thai nữa. Còn anh, anh không muốn có thêm con nữa phải không anh?
- Không, không, chàng vội vã đáp.
- Tuy nhiên, Fred à, nếu có thì chính anh sẽ là tác giả: Đó là một câu trả lời mà người ta không thích nghe. Tôi lại thấy ân hận vì đã nói ra. Chàng nghe tôi nói, vừa đăm đăm nhìn tôi vừa hút thuốc, chàng nằm dài người ra và nép sát vào lưng ghế trong chiếc xe song mã, chàng nói: “Nói đi em, bây giờ em nói hết đi”.
- Em khóc một phần cũng vì mấy đứa con mình, chúng ngoan quá. Chúng ít ồn ào lắm Fred à. Chúng đi học rất tự nhiên đàng hoàng, chúng học hành đứng đắn lắm, chúng làm bài rất chăm chỉ, đó chính là điều làm em sợ. Và tất cả những chuyện tầm phào, không đáng vào đâu, mà bọn học trò vẫn trao đổi với nhau liên quan tới những bài luận văn của chúng, không sai một chữ nào, như hồi còn tuổi của chúng em từng lảm nhảm. Và nỗi vui mừng hiện trên nét mặt khi chúng nghe mùi vị của món rô-ti sơ sài trong nồi; sự lặng lẽ của chúng lúc soạn cặp vào buổi sáng, mang lên vai, trong túi nhét mấy mẩu bánh mì phết mứt. Và rồi chúng lên đường đến trường. Fred à, em thường hay rón rén, như một tên trộm, bước ra trước cửa và đứng mãi bên cửa sổ nhìn theo cho đến khi chúng đi khuất dạng; lưng con hơi khom vì sức nặng của sách vở, chúng bước đi bên nhau, cho tới góc đường nơi Clement sẽ rẽ ngang, rồi em còn thấy Carla lầm lũi đi vào đường Mozart với những bước chân uể oải của nó - những bước chân của anh đó Fred à - hai tay nó thọc trong túi áo khoác và hẳn nó đang nghĩ đến một kiểu áo đan nào đó hoặc giả đến cái chết của vua Charlemagne. Những điều đó làm em khóc, vì sự cần mẫn của chúng làm cho em nhớ tới sự cần mẫn của những đứa trẻ mà em oán ghét hồi em còn đi học - những đứa trẻ giống không sai một nét với những hình Chúa hài đồng, trong những bức tranh vẽ về gia đình thần thánh, giống hệt những hình Chúa hài đồng đang ở lứa tuổi mười, mười một, với mái tóc mịn màng và quăn thành lọn đang vui chơi bên bàn thợ mộc của thánh Joseph, bằng cách để cho những mảnh dăm bào uốn éo mềm mại rứt qua các kẽ tay của chúng. Những mảnh dăm bào trông như những lọn tóc của chúng.
- Con chúng ta, chàng dịu dàng hỏi, chúng giống những hình Chúa hài đồng à?
- Không, tôi nói, không, nhưng khi em nhìn chúng ra đi trên những bước chân chậm rãi, em thấy nơi chúng một chút gì khiêm tốn, tuyệt vọng và không có lý do tồn tại. Thế rồi những giọt nước mắt phẫn uất, sầu muộn trào lên khóe mắt em.
- Chúa ơi, chàng nói, em đang kiếm tìm gì đó -theo anh, em đang ganh tỵ một cách thật thà với cái tuổi trẻ của chúng.
- Không, Fred, không đâu, là em sợ không giúp cho chúng tránh được gì, cả sự nhẫn tâm của loài người cũng không, cả sự khắc nghiệt của bà Franke, người mà sáng nào cũng đi rước lễ Thánh Thể. Cứ mỗi lần có đứa nào trong nhà xí bước ra là bà ta chạy riết tới để xem nó có làm dơ gì không và chỉ cần một giọt nước chút xíu lỡ dính vào tấm giấy hoa dán vách là bà ta đứng ở cửa sừng sộ, la lối om sòm. Em sợ những tiếng la lối đó đến độ mỗi khi nghe mấy đứa nhỏ bị rầy la là em toát mồ hôi. Em không biết nói cách nào cho rõ ràng, nhưng có lẽ anh đã hiểu được những gì đã khiến em buồn phiền rồi chứ?
- Điều làm em buồn phiền chính là sự nghèo túng của chúng ta. Chỉ có thế. Và anh không có cách nào an ủi em hết. Không còn cách nào. Thí dụ như anh không thể hứa với em là một ngày nào đó chúng ta sẽ có nhiều tiền hơn. Mà bây giờ, cho dù em có sống trong một ngôi nhà sạch sẽ khang trang, không phải bận tâm về tiền bạc, em cũng sẽ không hết ngạc nhiên đâu - điều ngộ nghĩnh… là em sẽ không hết ngạc nhiên đâu!
- Em còn nhớ là nhà chúng ta hồi đó cái gì cũng sạch sẽ, tiền nhà trả đúng kỳ; về tiền bạc thì, Fred à, anh biết đó, chúng ta cũng đã…
- Anh biết, chàng nói theo, nhưng anh không còn nhớ rõ những chuyện xưa lắm đâu. Đầu óc anh trống rỗng, toàn là những lỗ hổng nối liền với nhau chi chít như một mạng lưới sắt. Chắc chắn là anh biết rõ thời kỳ chúng ta có được một căn nhà, một phòng tắm nữa, có đủ tiền để chi mọi thứ. Nhưng mà dạo đó anh làm gì hở em?
- Fred, anh không còn biết được hồi đó anh làm gì nữa hay sao?
- Đúng vậy, anh không còn nhớ gì nữa… chàng đặt tay vòng qua lưng tôi.
- Anh làm trong một xưởng chế tạo giấy hoa dùng dán vách.
- À, đúng rồi, chàng nói, quần áo anh hồi đó bay toàn mùi hồ và anh thường đem về cho Clement những mẩu giấy đã bỏ, nó thích chơi xé vụn ra trong chiếc giường con của nó. Anh còn nhớ, nhưng tình trạng đó không kéo dài được lâu…
- Được hai năm, cho đến khi chiến tranh bùng nổ.
- À, đúng rồi, cho tới khi chiến tranh bùng nổ, nếu em lấy một người đàn ông năng động thì có lẽ khá hơn, một trong những người say mê công việc và để tâm đến việc học hỏi.
- Anh im đi.
- Tối đến hai người có thể đọc chung với nhau một quyển sách hay, em vẫn thích thế - mấy đứa trẻ sẽ có một phòng ngủ sang trọng - trên tường sẽ có tranh nữ hoàng Ai Cập, hình chạm nổi của Isenheim dán trên gỗ, lại thêm hoa hướng dương của Van Gogh, một bản in lại rất công phu, rất tài tình được treo phía trên chiếc giường của hai vợ chồng, bên cạnh bức họa Thánh Nữ Đồng Trinh theo phong cách Beuron, em sẽ có một cây sáo nhỏ đựng trong cái vỏ đỏ, chắc chắn nhưng đây mỹ thuật, phải không em? À, anh sẽ điên đầu lên vì mấy thứ đó - anh luôn luôn bực bội khó chịu khi phải sống trong nhà căn nhà sang trọng như vậy, anh bực bội khó chịu mà không hiểu lý do vì sao. Thật tình thì em muốn gì? Chàng bỗng hỏi.
Tôi nhìn chàng và lần đầu tiên từ khi biết chàng, tôi thấy dường như chàng đang nổi nóng. “Em cũng không biết em muốn gì”, tôi vừa nói và quăng điếu thuốc xuống sàn nhà, bên cạnh chiếc xe song mã và dùng chân dập tắt.
- Em không biết em muốn gì, nhưng có bao giờ em nói tới chuyện nữ hoàng Ai Cập, hình chạm nổi của Isenheim, tuy rằng không phải là em ghét những thứ đó, có bao giờ em nói tới những người đàn ông năng động đâu, bởi vì em ghét hạng người đó, em không thể tưởng tượng những hạng người nào đáng chán hơn, hầu như lúc nào cũng vậy, hễ động tới là công việc, công việc. Nhưng em cũng muốn biết trong thâm tâm anh, anh nghĩ gì, muốn gì. Những điều mà người khác cho là việc nghiêm túc thì anh lại chẳng coi ra gì và ít có chuyện gì mà anh coi là đứng đắn quan trọng hơn những người khác. Anh không có một nghề nghiệp gì - bán thuốc, chụp hình, rồi giữ thư viện - trông anh làm việc trong thư viện sao thảm quá, ngay cả việc lấy một quyển sách anh cũng không biết, kế đó anh vào làm nhân viên giữ hàng trong một hãng chế tạo giấy hoa dán tường, đúng không anh, và sau cùng là ngành điện thoại, em tin là lần này chính cuộc chiến đã xô đẩy anh vào đó.
- À, em đừng nói tới giặc giã, chàng nói, anh chán lắm rồi.
- Được, tôi nói, trọn cuộc đời của em, cuộc đời của hai đứa chúng ta kể từ ngày em về ở với anh, đã trôi qua trong những tiệm bán xúc xích, những tiệm goulasch, trong những quán rượu nhớp nhúa, trong các khách sạn bẩn thỉu, trong các hội chợ và trong căn nhà lụp xụp mà chúng ta đã sống từ tám năm trời nay.
- Và trong các nhà thờ…
- Trong các nhà thờ, phải, tôi nói.
- Em đừng quên là còn các nghĩa trang nữa chứ.
- Em không quên các nghĩa trang đâu, nhưng mà ngay cả những lần chúng ta đi du lịch, có bao giờ anh để ý tới những gì về văn hóa đâu.
- Văn hóa, chàng nói, em có thể cắt nghĩa cho anh nghe nó có nghĩa là gì không. Không, anh không thích thứ đó. Anh để tâm đến Chúa, đến các nghĩa trang, đến em, đến mấy người bán xúc xích, đến các hội chợ và đến các khách sạn tồi tàn.
- Anh đừng quên rượu nữa chứ.
- Ừ, rượu thì rượu. Và anh cũng chịu phép em luôn với những lần đi xi-nê và những lần chơi máy đồng xu.
- Còn mấy đứa nhỏ nữa.
- Ờ, mấy đứa nhỏ. Anh thương chúng lắm, chắc chắn là hơn cả em tưởng nữa - thật đấy, anh thương lắm. Nhưng anh đã bốn mươi tuổi rồi và anh không thể nói em hiểu được là anh mệt mỏi đến mức độ nào, em nghĩ cho anh một chút xíu - chàng nói và đột nhiên quay hắn lại nhìn tôi, chàng hỏi: Em lạnh không, em có muốn mình đi không?
- Không, không, tôi nói, anh cứ nói tiếp đi.
- À, thôi bỏ qua những chuyện đó đi, tại sao lại quay lại từ… Chúng ta sẽ không bàn cãi, em hiểu anh đó, vì em đã rõ anh là một người chồng tồi, và ở tuổi anh, anh không còn sửa đổi được nữa. Không ai thay đổi được gì. Điều duy nhất còn vớt vát được cho anh là anh thương em.
- Phải, tôi nói, anh không làm được chuyện gì ra hồn cả.
- Em muốn mình đi ngay bây giờ không?
- Không, ở lại đây một chút nữa đi anh. Hay là anh lạnh hả anh?
- Không, chàng nói, nhưng anh muốn vô khách sạn với em.
- Mình sẽ đi ngay, nhưng trước hết em muốn anh trả lời câu hỏi của em, anh không bực mình chứ?
- Em cứ hỏi, chàng đáp.
Tôi tựa đầu vào ngực chàng, không nói lời nào. Và cả hai chúng tôi lắng nghe tiếng nhạc của chiếc phong cầm máy, tiếng la hét của mấy người đến chơi trò cưỡi ngựa gỗ, và tiếng của mấy tên mời khách, cụt ngủn và khàn khàn.
- Fred, anh ăn uống có được bình thường không? Anh há miệng em coi. Tôi quay đầu lại, chàng há miệng ra, tôi thấy lợi chàng đỏ và sưng lên, tôi sờ vào răng và nghe chúng lung lay.
- Răng anh hư hết. Cùng lắm là một năm nữa anh phải có một bộ răng giả.
- Có thật vậy không em? Chàng hỏi bằng một giọng âu lo. Chàng vuốt tóc tôi và tiếp lời: Chúng ta không còn nghĩ tới mấy đứa nhỏ nữa.
Chúng tôi lại im lặng, tiếng ồn ào từ bên ngoài vọng vào, tôi nói:
- Anh cứ yên tâm, em không lo cho chúng chút nào cả. Hồi nãy em còn lo sợ cho chúng. Chúng đi chơi với hai cô cậu kia, sẽ không có gì xảy ra cho chúng đâu. Fred à - tôi gọi chàng rất khẽ và áp đầu sát vào ngực chàng - anh ở đâu?
- Ở với gia đình Block, đường Escher.
- Gia đình Block à? Tôi nói, em không biết.
- Em không biết gia đình Block sao, chàng nói, họ ở phía dưới nhà ba anh đó, họ có cái xưởng làm giấy ấy mà?
- Mấy người đó à? Cái ông có bộ tóc quăn một cách kỳ lạ và không hút thuốc bao giờ đó chứ gì. Anh ở nhà họ à?
- Được một tháng rồi. Anh gặp ông ta trong một quán giải khát bình dân. Ông ta kéo anh đi nhậu say mèm. Rồi từ đó anh ở nhà ông ta.
- Họ có đủ chỗ không anh?
Chàng không trả lời. Gần bên, rạp hát bắt đầu mở cửa, có người khua kẻng ầm ĩ liên hồi, và bằng một giọng khàn khàn hắn hét vào loa: “Xin lưu ý - một màn trình diễn dành cho quý ông đây!”.
- Fred à, tôi hỏi, anh không nghe em nói à?
- Anh nghe chứ. Nhà Block ở khá rộng. Họ có tới mười ba phòng.
- Mười ba phòng?
- Phải, chàng nói, Block làm gác-dan cho một ngôi nhà bỏ trống từ ba tháng nay, ngôi nhà của một người Anh, nếu anh không lầm thì của ông Stripper nào đó, ông ta là một vị tướng hoặc một tay anh chị nào đó, có thể là cả hai hoặc làm gì khác, anh cũng chẳng rõ, nhưng dù sao ông ta cũng đã đi du lịch từ ba tháng nay rồi và gia đình Block trông nom ngôi nhà cho ông ta. Họ phải chăm sóc bãi cỏ và ngay cả về mùa đông các nguyên tắc nghệ thuật cũng phải được tôn trọng. Mỗi ngày Block phải đi dạo khắp khu vườn rộng với những cái máy xén cỏ và kéo tỉa cây, và cứ mỗi ba ngày là phải có một bao phân, phải, một bao phân. Thật tuyệt, để anh nói em nghe, có rất nhiều phòng tắm, anh nhớ là bốn, và thỉnh thoảng ông ta cho anh dùng một phòng. Có một thư viện với vô số sách vở và anh không thể không nể vì, anh có thể nói với em là chúng có giá trị, những ấn bản tuyệt đẹp, có tới hàng đống - và một phòng hút thuốc, một phòng ăn, một phòng dành cho con chó, hai phòng ngủ ở tầng một, một dành cho cái ông anh chị kia hay là ông gì đó, một phòng cho vợ của ông ta và ba phòng cho khách khứa bạn bè. Dĩ nhiên là họ có một hoặc hai nhà bếp, và…
- Thôi Fred, tôi nói, đừng nói nữa anh.
- À, không, chàng nói, anh sẽ không dừng lại được. Anh chưa bao giờ nói em nghe, bởi vì anh không muốn làm em khổ sở, anh đâu có ý định kể, nhưng bây giờ thì em nên nghe cho hết câu chuyện. Anh phải kể cho em nghe - anh mơ tưởng tới nó, anh uống rượu để đừng nghĩ tới nó, ngôi nhà đó. Nhưng ngay khi say, anh vẫn nghĩ tới nó. Anh đã kể được mấy phòng rồi kìa? Tám hoặc chín gì đó, anh không nhớ nữa. Có cả thảy là mười ba phòng, phải chi em thấy cái phòng họ dành riêng cho chó - nó hơi rộng hơn căn phòng của chúng ta, không lớn hơn nhiều, phải nói cho nó đúng, căn phòng có lẽ vào khoảng hơn hai mươi thước vuông thôi, chắc chắn là không hơn nữa đâu, phải nói rõ cho nó công bằng. Hai chữ công bằng có lẽ là cái tiêu ngữ khiêm tốn riêng của hai ta có phải không không mình?
- Ồ, Fred, tôi nói, anh vẫn muốn làm khổ em, Fred à.
- Anh làm khổ em? Em không hiểu anh. Không khi nào anh muốn làm khổ em, nhưng anh phải kể em nghe về ngôi nhà này mới được, thật vậy. Cái cũi chó hình ngôi chùa, to bằng cái tủ đồ ăn hạng sang. Ngoài bốn phòng tắm ra còn có vài buồng có vòi nước để tắm, điều này anh quên, lỗi tại anh, anh muốn kể cho chính xác, chính xác tới cùng. Anh không thể nào kể một cái buồng nhỏ là phòng được, nói như thế không đúng và trong niềm tin của chúng ta “công bằng” phải đi đôi với “chính xác” nữa. Nhưng điều tệ hơn nữa là ngôi nhà không có ai ở em ạ - ồ, những bãi cỏ phía sau các tòa nhà đồ sộ mới tuyệt làm sao, nếu có được một đứa bé tung tăng - hoặc chỉ cần một con chó. Ước gì mấy con chó của chúng ta có được những bãi cỏ đẹp hả em! Nhưng ngôi nhà đó lại bỏ trống, bãi cỏ đó không được sử dụng, nếu anh được xài cái tiếng ác ôn đó. Các phòng ngủ: bỏ trống. Các phòng khách: bỏ trống. Tầng dưới: bỏ trống. Sát trên mái nhà còn có ba cái gác nhỏ, một cái dành cho bà quản gia, một cái khác cho bà bếp, cái thứ ba cho anh bồi phòng và người đàn bà nhân từ kia đã có lần than phiền rằng không có phòng riêng cho chị bồi phòng nên chị phải ở tạm trong một phòng khách. Chúng ta phải nghĩ đến điều đó em à, để đến khi chúng ta xây tòa nhà đặc biệt, trên đó phất phới một lá cờ có đề hai chữ công bằng và chính xác.
- Fred, em chịu đựng hết nổi rồi.
- Em phải ráng chịu đựng thêm, em đã sinh ra được đến năm đứa con cho anh, anh phải nói cho hết. Anh không thể dừng lại, nếu em thấy chán thì cứ bỏ đi, dù rằng anh rất sung sướng có được em bên cạnh trong đêm nay - em cứ bỏ đi nếu em không còn muốn nghe anh nữa. Anh đã sống trong khách sạn này từ một tháng nay và anh phải kể cho em nghe về nó, cho chính em, người mà anh yêu mến, nể vì. Em đã hỏi anh thì bây giờ em hãy nghe anh trả lời. Người đàn bà nhân từ đó đã thật tình toan tự tử vì thiếu phòng dành riêng cho người ở. Em thấy đó là hạng người nhạy cảm nhất và em cũng biết những mối ưu tư nào đã hành hạ họ. Nhưng mà họ đã đi du lịch ba tháng nay, một năm mười hai tháng thì họ đi xa hết chín tháng, vì cái ông anh chị - hay em muốn gọi gì gì cũng được - rất say mê Dante, đó là một trong những chuyên viên về nhà thơ đó. Người ta vẫn nói một cách trọng nể về ông ta cũng như về vị giám mục của chúng ta, anh hy vọng là em thừa biết điều đó, bởi vì em là một con người Công giáo có học mà. Ngôi nhà vẫn bỏ trống chín tháng trong một năm, trong thời gian đó Block chăm nom săn sóc cho thảm cỏ, em thấy có chu đáo không chứ, có gì tuyệt vời hơn một thảm cỏ được cắt xén kỹ lưỡng không? Phòng của mấy con chó không được đánh bóng. Cấm không cho mấy đứa nhỏ vào nhà.
- Chú ý, chú ý, tên mời khách trong hội chợ cất giọng khàn khàn, đây là điều sẽ làm say mê quý ông: Manuela, người đẹp tuyệt vời đã xuất hiện.
- Fred, tôi khẽ hỏi chàng, tại sao cấm không cho trẻ con vào?
- Cấm trẻ con vào vì bà chủ không thích trẻ con. Nghe mùi con nít bà không chịu được, và nếu có chúng đi qua, thì chín tháng sau bà vẫn còn nghe hơi hướm của chúng. Người trước Block là một người tàn phế, một hôm ông ta cho hai đứa con ông ta vào chơi dưới hầm, em nghe rõ chưa, dưới hầm chứ không phải trên thảm cỏ. Ông ta cho phép tụi nó vào chơi dưới hầm, lúc về nhà bà chủ khám phá ra điều bí mật và đã sa thải ông ta. Việc đó cắt nghĩa cho sự cẩn trọng của Block, có lần anh hỏi ông ta xem mấy đứa con anh có thể đến thăm ông không, nghe anh hỏi mặt ông tái xanh như tàu lá chuối. Còn anh, anh có thể ở đó là vì được coi như giúp một tay để chăm sóc khu vườn và lo về việc sưởi nhà. Anh có một phòng nhỏ ở ngoài phòng trước, nói cho đúng đó là một phòng để quần áo và mỗi buổi sáng, lúc anh thức dậy, anh có trước mặt bức họa của một họa sư già người Hà Lan, màu sắc dịu dàng, tiêu sơ - cảnh một chiếc quán. Có lần anh định đánh cắp một tấm, vì trong thư viện có nhiều lắm - nhưng nếu làm như vậy sẽ bị phát giác ngay và có lỗi với gia đình Block.
“Manuel và bản tình ca của nàng”. Có tiếng rao to bên cạnh chúng tôi.
- Block còn cho rằng người đàn bà đó mắc chứng đồng tính luyến ái.
- Kìa Fred, anh không dừng lại được sao? Nếu mình còn tính vào khách sạn.
- Một phút nữa thôi, chàng nói, em hãy kiên nhẫn thêm một phút nữa, khi anh kể xong em sẽ biết là anh sống ở đâu và sống như thế nào. Vị giám mục thỉnh thoảng có đến đó. Ông ta là người duy nhất được phép vào nhà, ông ta có quyền sử dụng tất cả những gì viết về Dante. Block có bổn phận lo cho ông ta những tiện nghi nho nhỏ - đốt lò sưởi, kéo màn - và anh được nhiều lần trông thấy ông ta, vị giám mục, dáng vẻ thanh thản và hạnh phúc, trên tay cầm quyển sách, ly trà trước mặt và những gì cần thiết để viết lách. Tên tài xế của ông ta ngồi với bọn này dưới hầm, hắn hút ống vố và thỉnh thoảng chạy ra ngó chiếc xe. Khi nào vị giám mục muốn đi, ông ta nhận chuông, tên tài xế tức tốc chạy ra. Block cũng theo ra, hắn được gọi là “người đảm đang” và nhận món tiền trà nước. Xong rồi đó, chúng ta có thể đi nếu em muốn. Em muốn đi thật chứ?
Tôi hất đầu lên, không nói được lời nào. Nước mắt làm tôi nghẹn ngào. Tôi cảm thấy rất mệt mỏi, bên ngoài còn nắng và tất cả những gì Fred vừa nói với tôi đều có vẻ không đúng: giọng nói của chàng đây giận dỗi. Và gần bên chúng tôi, người đàn ông đang hét vào máy phóng thanh: “Kính thưa quý ông, chúng ta hãy còn thì giờ để xem Manuela, nghe nàng hát, người con gái tuyệt vời sẽ làm quý ông phải ngẩn ngơ”.
Chúng tôi nghe có ai bước lên gian hàng ngựa gỗ ở phía đối diện. Fred nhìn tôi. Có tiếng mở cửa, tiếp theo là tiếng bật công tắc điện và ngay sau đó, cây đại phong cầm của gian hàng bắt đầu rền vang, tất cả chan hòa ánh sáng, vì có người nào đó, mà chúng tôi không nhìn ra được, đang cuốn màn và cánh cửa nhỏ ở giữa mở ra để lộ gương mặt xanh xao của một người đàn ông, hắn cất tiếng gọi chúng tôi: “Quý ông quý bà ở đây có muốn ở lại để đi vòng thứ nhất không? Dĩ nhiên là khỏi tốn tiền”. Hắn lột chiếc mũ có vành xuống, một mớ tóc vàng nâu rũ xuống trán, hắn gãi đầu, đội mũ trở lên và lặng lẽ nhìn tôi: Mặt hắn có vẻ buồn, dù hắn ráng tươi cười. Rồi tia mắt hắn hướng về phía Fred, hắn nói với chàng: “Không được, cái này không hợp với bà nhà đâu.”
- Anh nói sao? Fred hỏi.
- Không được, không tốt đâu.
Hắn có vẻ như trông đợi ở tôi một nụ cười, hắn thất vọng và nhún vai. Fred nhìn tôi trong lúc người đàn ông đóng sập cánh cửa nhỏ, đi vòng qua chiếc phong cầm và tiến đến phía chúng tôi. Hắn đứng sát bên chúng tôi. Hắn cao lớn, hai tay áo khoác quá ngắn để lòi hai cánh tay ốm, rắn chắc và trắng bệch. Hắn nhìn tôi chăm chú và tuyên bố: “Tôi chắc chắn như vậy. Không, không tốt cho bà nhà đâu. Nhưng chúng tôi có thể đợi, nếu ông bà muốn suy nghĩ thêm giây lâu nữa…”
- Ồ, không, tôi nói, chúng tôi phải đi. Trong lúc người ta thấy các tấm màn che đã cuốn hết lên và đã có vài đứa trẻ leo lên mấy con ngựa hoặc mấy con thiên nga. Chúng tôi đứng dậy và bước xuống. Người đàn ông lại giở nón ra một lần nữa, ra dấu hiệu từ biệt chúng tôi và nói: “Xin chúc ông bà may mắn, xin chúc ông bà may mắn”.
- Cám ơn, tôi đáp lại hắn, Fred không nói một lời nào. Chúng tôi băng ngang qua khu đất của hội chợ, không chần chừ nữa. Chàng vẫn nắm chặt cánh tay tôi, kéo tôi đến đường Mommsen và từ đó chúng tôi thong thả đi giữa những cảnh hoang tàn đổ nát, đi qua nhà thờ để đến khách sạn.
Đường phố quanh nhà ga hãy còn vắng vẻ; trời còn nắng, ánh nắng chan hòa soi rõ lớp bụi phủ kín lứp cỏ hoang mọc trên những đống gạch vụn.
Bỗng nhiên nhịp quay của dàn ngựa gỗ trở lại, tôi nghe xây xẩm mặt mày.
- Fred, tôi nói rất khẽ, em cần phải nằm hoặc ngồi xuống mới được.
Chàng lộ vẻ hốt hoảng, ôm ngang lưng tôi và dìu tôi vào một ngôi nhà đổ nát. Xung quanh chúng tôi là những bức tường trát vôi; trên một bức tường có hàng chữ: “Chiếu quang tuyên X ở bên trái”. Fred đưa tôi qua một cánh cửa, đặt tôi dựa vào tường và lúc chàng cởi áo khoác ra, tôi vẫn ngồi yên không cử động. Rồi chàng buộc tôi nằm xuống, đầu tôi đặt lên chiếc áo chàng vừa cuộn lại. Tôi cảm thấy chỗ mình nằm mát và trơn, tôi sờ vào rìa tấm đá tôi đang nằm, đó là những tấm đá lát.
- Lẽ ra em không nên cưỡi ngựa gỗ, tôi thì thầm, nhưng mà thích quá đi! Em thích cưỡi ngựa gỗ lắm!
- Em cần gì không? Fred dịu dàng hỏi tôi. Một ly cà phê chăng, nhà ga không xa đây đâu…
- Không, anh hãy ở gần bên em. Một chút xíu nữa là em có thể đi đến khách sạn được rồi. Anh ở lại đây với em đi.
- Được, chàng nói và đặt tay lên trán tôi.
Tôi nhìn chăm chú lên bức tường sát bên, màu xanh nhạt, điểm một vết đỏ do mảnh vỡ của một pho tượng đất sét, một hàng chữ mà tôi không đọc được, bởi vì lúc đó tôi thấy mình bắt đầu quay tròn với đôi chân làm tâm. Ban đầu còn chậm - rồi cứ thế mà tôi quay tròn nhanh mãi. Giống như trong gánh xiếc lúc một lực sĩ vai u thịt bắp đến nằm hai chân một thiếu nữ mảnh mai, xinh đẹp và quay vòng vòng một cách dã man.
Ban đầu tôi còn trông ra bức tường màu xanh nhạt điểm một vết đỏ và, từ phía bên đối diện, ánh sáng màu trắng tỏa ra từ những khe cửa sổ biến thành sự phô diễn của màu xanh lục và màu trắng luân phiên xen kẽ nhau, nhưng sự phô diễn của màu sắc chợt ngừng bặt, các màu sắc chồng lên nhau, một vệt sáng vừa xanh, vừa trắng thật chói chang đã quay tít trước mặt tôi - hay là tôi quay tít trước nó - cho đến lúc cuộc chuyển động quay tròn đó đạt đến một tốc độ khủng khiếp khi màu sắc hoàn toàn trộn lẫn với nhau thành một vùng ánh sáng không màu, tôi nằm ở giữa vùng sáng trung hòa đó, quay song song với mặt đất, chỉ khi nào chuyển động đó chậm hẳn lại tôi mới có thể nhận ra thế nằm của tôi, đầu tôi, chỉ riêng đầu tôi là đuổi theo cái ảo giác quay tròn của nó, khi thì lơ lửng một bên người tôi, khi thì ở dưới chân trong một thoáng thôi, ở đúng vị trí của chính nó, phía trên cổ.
Tôi có cảm tưởng như đầu của tôi chạy vòng quanh cơ thể, nhưng nó chỉ là một cảm tưởng bởi lẽ khi lấy tay sờ vào cằm, tôi chạm vào khối xương đó; ngay khi cảm thấy đầu mình chạy tuốt xuống dưới chân, tôi vẫn sờ đụng cằm mình. Biết đâu là chỉ có hai mắt tôi quay tròn, tôi cũng không rõ, chỉ có một điều rõ rệt không còn nghi ngờ gì được, đó là sự chóng mặt của tôi, một cảm giác chua áy, dữ dội trào lên cuống họng tôi, tụt xuống rồi lại trồi lên từ từ. Nó làm cho tôi không tài nào nhắm mắt lại được; và khi tôi nhắm mắt thì không chỉ riêng đầu tôi quay tròn, mà ngực tôi, chân tôi cũng bị lôi cuốn theo điệu quay cuồng đó, đồng thời vẽ thành những vòng tròn trong một vũ điệu thác loạn càng khiến tôi buồn mửa hơn nữa.
Trái lại, nếu mở mắt, tôi có thể nhận ra bức tường vẫn ở đó, với một bên là một khoảng xanh lục phía trên có đường viền màu sô cô la và một bên khác là một câu châm ngôn màu nâu nhạt viết trên nền lục sáng. Khi thì những chữ của câu châm ngôn đó thu nhỏ lại theo kích thước của những chữ nhìn trong kính hiển vi như người ta vẫn thấy nơi các bác sĩ nhãn khoa, khi thì, giống như những khoanh xúc xích, chúng căng phồng lên nhanh đến độ người ta không nhớ lập hình thái và giá trị phát âm của chúng, và chúng vỡ ra, làm nhạt nhòa cả bức vách, không ai còn đọc ra gì nữa, để rồi sau đó, chúng lại thu nhỏ thành những đường nét li ti như những vệt phân của loài ruồi muỗi - tuy vậy chúng vẫn còn đó.
Động cơ khiến tôi múa may quay cuồng là sự buồn mửa, đó chính là cái trục quay của gian hàng ngựa gỗ kia, và tôi kinh ngạc nhận ra một cách bất chợt rằng tôi vẫn ở yên tại chỗ, đúng vào chỗ của những giây phút trước đây, không xê xích một phần nào cả. Tôi nhận ra điều đó khi cơn oằn oại của lòng tôi tạm thời lắng xuống: Bây giờ thì tất cả trở nên lặng lẽ, sự vật gom lại với nhau, tôi phân biệt được bộ ngực của tôi, cùng với lớp da màu sẫm và bẩn thỉu của đôi giày. Cái nhìn tôi rơi vào đúng hàng chữ trên vách, tôi có thể đọc được nó: Vị y sĩ của bạn sẽ giúp đỡ bạn, nếu Thượng Đế giúp đỡ ông ta.
Tôi nhắm mắt lại, từ Thượng đế vẫn kề sát bên, trước hết là dáng vẻ của chữ viết, gồm những nét chữ lớn màu nâu nhạt dựng đứng sau hai mí mắt nhắm nghiền của tôi. Tiếp theo tôi không còn trông thấy từng nét nữa, chỉ còn lại cái toàn thể đang mỗi lúc mỗi một ngấm sâu vào tâm hồn tôi, đồng thời không ngừng loạng choạng trong đó, nhưng rồi nó lại bất chợt xuất hiện bên tôi: Nó không còn là chữ viết, nó trở thành lời nói: Thượng Đế.
Dường như chỉ có Thượng đế là ở lại bên tôi giữa lúc tình cảnh buồn nôn đang ngập tràn lòng tôi, đang căng phồng và luân lưu trong các mạch máu của tôi, đồng thời khiến tôi toát mồ hôi lạnh và tạo cho tôi một niềm xao xuyến chết người đi được.
Trong một thoáng sau khi nghĩ tới Fred, tới các con, sau khi mường tượng ra khuôn mặt của mẹ tôi và mường tượng các con hệt như lúc tôi trông thấy chúng trong đáy nước, giờ đây tôi cảm thấy tất cả những hình ảnh đó đang cuốn trôi theo ngọn thủy triều kia, tôi thấy lòng mình dửng dưng với chúng làm sao, chỉ còn lại bên tôi hai từ: Thượng đế.
Tôi khóc, tôi không trông thấy gì nữa, tôi không còn nghĩ tới điều gì nữa nếu không phải là cái từ đơn độc, duy nhất kia, những dòng lệ nóng hổi tuôn xối xả trên mặt tôi, và vì không cảm thấy chúng thấm ướt cằm và cổ, tôi biết rằng mình đang nằm nghiêng sang một bên, và rồi, tôi bắt đầu xoay tròn trong điên loạn, tôi nghiêng người qua đám vôi gạch vụn nát của bức tường và khạc trên một đám cỏ xanh phủ đầy bụi. Fred rờ lên trán tôi trong một cử chỉ quen thuộc. Chàng dịu dàng hỏi:
- Em đã thấy khá hơn chưa?
Tôi đáp trong khi chàng dùng mùi xoa thận trọng chùi vào môi tôi:
- Dạ, em đỡ rồi, nhưng mà em mệt quá.
- Em sắp được ngủ một giấc, khách sạn chỉ cách đây có mấy bước thôi!
- Dạ, ngủ.