Trời mới tảng sáng khi tôi rời khỏi nhà ga, các ngả đường vắng hoe, chênh chếch trước những dãy nhà có mặt tiền quét vôi trắng bệch từng chỗ. Trời lạnh, vài anh tài xế tắc-xi đứng run lập cập, hai tay thọc trong túi áo khoác. Bất giác bốn năm khuôn mặt nhợt nhạt dưới những chiếc nón cối xanh đồng loạt quay về phía tôi như những cái đầu con rối được điều khiển bằng dây. Rồi thì như một cái máy, những khuôn mặt trở về vị trí ban đầu, đối diện với ngõ ra của nhà ga.
Không thấy cả bóng một cô gái, tôi lững thững quay mặt về phía nhà ga và thấy cây kim dài đã chỉ lên tới số chín: sáu giờ kém mười lăm. Tôi đi vào một con đường chạy dọc theo dãy nhà gạch phía bên tay phải, và ngắm nghía vào các mặt kính. Hẳn đã có một quán cà phê mở cửa, hoặc một quán rượu hoặc một hiệu kem mà tôi kinh khiếp, nhưng tôi còn thích hơn là cái quầy giải khát ở nhà ga. Ở đó vào giờ này, người ta bắt đầu bán thứ cà phê âm ấm và món canh lạt lẽo hâm nóng nhắc nhở bầu không khí của trại lính. Tôi dựng cổ áo khoác lên, cẩn thận bắt tréo hai ve áo lại và phủi lớp bụi đen dính trên áo.
Chiều hôm trước, tôi uống nhiều hơn ngày thường và khoảng một giờ sáng tôi đã đến nhà ga gặp Max, người thỉnh thoảng vẫn cho tôi tạm trú. Max làm việc tại phòng gởi hành lý - đó là một người bạn quân ngũ - và ở đây có một cái lò sưởi lớn, chung quanh chất đồ đạc tạo thành một cái ghế dài. Chính trên đó những người thuộc tầng lớp dưới vẫn đến nghỉ ngơi: những người khuân vác, những người làm công trong phòng và trong thang máy. Mớ đồ đạc bằng cây này cách khoảng với lò sưởi nên khỏi sợ lọt vào đó. Ở bên dưới có một khoảng trống tối tăm, ấm cúng. Nằm dài ở đó, tôi cảm thấy bình yên, lòng thanh thản. Men rượu lan khắp các mạch máu của tôi, và tiếng rầm rập điếc tai của những chiếc xe lửa đến và đi, tiếng ồn ào của những chiếc xe bốc hàng ở phía trên, tiếng thang máy lên xuống, tất cả những tiếng động rối loạn trong bóng tối đó đã dỗ giấc ngủ tôi khá nhanh chóng. Có khi tôi đã ứa nước mắt; tôi khóc khi nghĩ đến Kate và mấy đứa nhỏ, dù rằng những giọt nước mắt của một tên say rượu chẳng đáng kể gì và khi nghĩ lại tôi không thấy hối hận chút nào. Tôi khổ sở, chỉ có vậy. Ngay trước chiến tranh, tôi đã uống rượu, nhưng đó là một tình cảnh người ta quên mất điều đó và thường phê phán sự trụy lạc tinh thần của tôi một cách bao dung rằng: Hắn đã chiến đấu.
Tôi chỉnh lại vẻ ngoài với tất cả sự chu đáo trước khung kính hiệu cà phê. Tấm gương ném lại nhiều lượt cái bóng dáng nhỏ thó, gầy gò của tôi như một trò chơi ky kiểu cách, trong đó những chiểc bánh kem và những cái đầu mọi đen dính sô cô la nhào lộn bên tôi. Tôi trông thấy tôi tường tận, cái thằng người bé bỏng đang vừa quay cuồng trong đám bánh ngọt vừa quờ quạng với những cử chỉ rối loạn và kéo lại chiếc quần.
Tôi đi lang thang trước những cô gái bán hoa và những gian hàng thuốc lá lẻ, trước những người bán quần áo may sẵn có những hình người mẫu đang chăm chăm nhìn tôi bằng con mắt lạc quan đầy gượng gạo và giả dối. Bên phải là chỗ bắt đầu của một con đường với những dãy nhà gỗ xơ xác, nghèo nàn, trong góc là một tấm băng rôn trắng dài, mang hàng chữ: “Những người bán thuốc xin chào mừng các bạn!”
Những ngôi nhà gỗ đã được dựng lên giữa khoảng hoang tàn, đổ nát. Chúng chen chúc nhau trên những nền nhà xiêu vẹo, cháy xém, nhưng những ngôi nhà đó lại là những gian hàng bán thuốc lá lẻ, những gian hàng bán quần áo may sẵn, những sạp báo, và khi tôi đến một hàng kem nhỏ thì nó đã đóng cửa. Tôi phá hư một cái nắm cửa, nhìn quanh và thấy một vùng ánh sáng.
Tôi băng qua đường để đến gần nó. Vùng ánh sáng đến từ một ngôi nhà thờ. Cửa kính màu kiểu gô-tích ở trên cao đã được sửa chữa lại một cách sơ sài bằng vôi gạch vụn và người ta gắn vào đó một khung cửa sổ màu vàng dường như lấy từ một buồng tắm nào ra. Sau bốn ô vuông nhỏ, sáng lên một ngọn đèn leo lét. Tôi dừng bước, nghĩ ngợi trong giây phút: ít hy vọng gì, nhưng có thể bên trong ấm cúng hơn… Tôi bước lên mấy bậc thềm hư hại. Cánh cửa có vẻ như không hề hấn gì, nó được độn bằng da. Trong nhà thờ không có vẻ có gì ấm cúng. Tôi giở mũ, lách mình qua những hàng ghế, đi về chỗ đọc kinh. Sau cùng tôi tìm thấy những ngọn đèn sáp đang chạy ở khoảng trung bộ giáo đường đã được sửa chữa lại. Tôi tiếp tục bước tới mặc dù biết rằng ở bên trong còn lạnh hơn ở bên ngoài. Gió từ khắp nơi mặc tình thổi vào. Những bức tường hư chưa được sửa chữa, người ta giăng những tấm biển bằng sợi, chất hồ lỗ chỗ khắp nơi, nó tróc ra thành nhiều lớp, cong lên, rịn nước, tạo thành những chỗ sưng phù bẩn thỉu. Tôi dừng bước, ngỡ ngàng bên một góc cột.
Đứng trước chiếc bàn đá, giữa hai khung kính màu, mặc áo hai vạt trắng với hai cây đèn sáp ở hai bên, vị linh mục đang đọc kinh, hai bàn tay ông giơ lên, và mặc dù quay lưng về phía tôi, tôi cũng biết rõ là ông đang lạnh. Thoạt đầu, người ta tưởng là ông đang một mình - với quyển kinh mi sa mở ra, với hai bàn tay giơ cao, và cái lưng run rẩy. Nhưng trong vùng ánh sáng mờ đục, dưới những ngọn đèn nến chập chờn, tôi nhận ra mái đầu vàng nâu của một cô gái đang nghiêng về phía trước trong một dáng điệu thành khẩn. Người nàng nghiêng tới độ mái tóc bồng bềnh chẻ ra làm hai phần cân xứng, buông xõa trên vai nàng. Quỳ gối cạnh cô gái, một đứa bé đang quay lưng lại, và trong bóng tối mập mờ, tôi nhận ra thằng nhóc qua nét mặt nhìn nghiêng, qua cặp lông mày đỏ phình ra, qua đôi má bầu, qua cái miệng há hốc với đôi môi xoắn lại một cách lạ lùng, khuôn mặt đần độn, ngốc nghếch của nó thể hiện một vẻ khinh mạn trông rất thô bỉ.
Vị linh mục, vốn là một người nhà quê gân guốc có nước da xanh xao, quay mặt lại nhìn về phía gốc cột nơi tôi đang đứng, ông ta chắp hai bàn tay lại, dang chúng ra và lâm râm đọc một câu kinh nào đó. Đoạn ông ta lại quay về phía bàn thờ, nghiêng người về phía trước và bất chợt xoay nửa vòng, trịnh trọng làm dấu ban phép cho cô gái và thằng ngốc, trông thật dị hợm. Tôi đang ở trong nhà thờ và tôi có cảm tưởng ông ta không thèm ban phép cho tôi trong cuộc hành lễ của ông ta. Ông ta quay lại, đội mũ lên đầu, cầm bình rượu lễ và sau khi thổi tắt đèn bên phải, trịnh trọng đi về phía bàn thờ chính nơi ông ta quỳ xuống làm lễ trước khi biến mất trong bóng tối sâu hút của ngôi nhà thờ. Tôi chỉ còn nghe tiếng một cánh cửa rít lên. Rồi thì trong phút chốc, tôi trông thấy cô gái hiện ra trong vùng ánh sáng, vẻ mặt nàng thật dịu dàng, tươi thắm, và nàng đứng dậy, một cách thành khẩn, không kiểu cách, nàng bước lên những cái bục, thổi tắt ngọn đèn còn lại. Đứng thẳng người trong thứ ánh sáng vàng vọt kia, trông nàng đẹp hẳn ra: người cao, mảnh khảnh, khuôn mặt thuần khiết. Nàng hướng đôi môi về phía ngọn lửa, nhưng động tác đó không có vẻ gì kỳ cục. Rồi thì cùng với đứa bé, nàng rút vào bóng tối và tôi chỉ trông thấy lại nàng khi nàng bước đi dưới cánh cửa sổ vây phủ bằng những vụn đá nhỏ, trong lớp ánh sáng màu xám nhạt. Một lần nữa tôi cảm thấy xúc động khi trông thấy nàng ngoảnh mặt bằng một động tác nhẹ nhàng của cái cần cổ khi đi ngang qua trước mặt tôi, nàng có vẻ như hỏi han tôi bằng một thoáng nhìn lặng lẽ. Nàng đi về phía cửa. Nàng đẹp, và tôi lững thững bước theo sau. Đến cửa, nàng quỳ xuống làm lễ và đẩy cửa, kéo thằng ngốc ra ngoài.
Tôi bước theo nàng. Nàng đi về hướng mà tôi vừa rời bỏ, về phía nhà ga, nàng rẽ sang một con đường vắng nơi chỉ có những nhà gỗ lụp xụp và những đống gạch ngói đổ nát. Tôi trông thấy nàng quay đầu lại nhiều lần. Người nàng mảnh khảnh, hơi ốm, trông nàng không quá mười tám, mười chín tuổi, và nàng kéo thằng ngốc theo phía sau một cách nhẫn nại bằng một bàn tay lanh lợi và cứng cáp.
Nhà cửa trở nên đông đúc hơn, những mái nhà lụp xụp ít hẳn đi, những con đường sắt tăng gia gấp bội: tôi nhận ra một khu phố mà xưa kia tôi ít khi đặt chân tới. Hẳn nơi đây phải có một trạm xe điện. Quả thật tôi nghe từ sau một bức tường đỏ nhạt sửa chữa sơ sài tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt, tôi trông thấy những tia lửa từ những máy hàn xẹt ra trong những tia sáng đầu tiên của buổi bình minh, và tôi nghe những bình dưỡng khí rít lên.
Tôi như bị thôi miên bởi bức tường kia, và tôi không để ý cô gái đã dừng lại. Tôi bước trờ đến và thấy nàng đứng trước một ngôi nhà gỗ, đang tìm chìa khóa trong xâu. Thằng ngốc ngẩng nhìn nền trời xám ngắt một màu. Cô gái nhìn tôi và khi đến trước mặt nàng, tôi lúng túng không biết xoay xở cách nào - nhưng mà cửa hàng nàng đang mở là một tiệm kem…
Qua khung cửa mở, tôi nhác thấy những chiếc ghế, một cái quầy hàng và cái bình lọc cà phê, tất cả chìm đắm trong bầu không khí tối tăm, buồn bã. Một mùi bánh mì sữa mốc meo xông ra và sau một tấm gương tôi trông thấy những viên thịt chất trong hai cái đĩa, những miếng thịt sườn nguội và một cái bình đựng dưa chuột.
Tôi đứng đó, và cô gái nhìn tôi. Nàng vừa dỡ những cánh cửa bản bằng lá sắt và tôi, tôi cũng nhìn thẳng vào mặt nàng.
- Xin lỗi cô, tôi nói. Có phải đã tới giờ cô mở cửa không?
- Dạ phải, nàng vừa trả lời vừa bước qua trước mặt tôi để mang cánh cửa bản sau cùng vào trong. Giờ đây mặc dầu tất cả những cánh cửa bản đã được gỡ ra, nàng vẫn trở lại, nàng nhìn thấy tôi và tôi hỏi nàng:
- Vào được không cô?
- Dạ được, nàng nói, nhưng mà trời hãy còn lạnh.
- Ô, không sao! Tôi vừa nói vừa bước vào.
Bên trong nghe xông lên một mùi hôi. Tôi móc thuốc từ trong túi, châm lửa đốt một điếu. Nàng bật đèn và tôi lấy làm lạ nhận thấy cái gì cũng có vẻ sạch sẽ.
- Tháng chín thời tiết gì mà kỳ thật! Nàng nói. Buổi trưa thì nóng bức thế mà bây giờ lại lạnh cóng người.
- Đúng, tôi nói. Lạ thật, buổi sáng trời lạnh quá.
- Tôi đi nhóm lửa ngay bây giờ đây.
Giọng nàng trong sáng, hơi khô khan và tôi để ý thấy nàng có vẻ bối rối.
Tôi gật đầu biểu lộ sự đồng tình với nàng. Tôi đứng sát bên vách, cạnh quầy hàng, nhìn quanh. Những bức vách bằng ván thô, dán bằng bích chương quảng cáo thuốc lá có màu mè sặc sỡ. Những tấm bích chương này trình bày những người đàn ông lịch sự, tóc màu muối tiêu đang chìa hộp thuốc mời các bà ăn mặc thật hở hang, vừa nhếch môi hẳn là để nở nụ cười mời mọc trong khi bàn tay kia cầm một chai rượu sâm banh, hoặc những chàng cao bồi đang cưỡi ngựa, mặt rực lên một niềm vui ngáo ngổ, quỷ quái, một bàn tay cầm một sợi dây thòng lọng, một bàn tay kẹp một điếu thuốc với một làn khói xanh tỏa ra như một lá cờ lấp lánh chạy dài tới cuối đồng cỏ.
Thằng ngốc ngồi xổm bên lò sưởi đang run lên từng chập. Nó cầm trong tay một viên kẹo gắn vào một cái que, nó mê mải liếm đầu viên kẹo đỏ tươi trông thật thảm hại, nước dãi nó ứa ra hai bên mép.
Bernard, cô gái nói giọng dịu dàng vừa nghiêng người bên nó để chùi sạch mồm mép nó bằng một chiếc khăn tay. Nàng mở nắp lờ sưởi, vò vò tờ giấy nhật trình dồn vào trong đó, và châm quẹt đốt sau khi đã chất củi và than vào.
- Mời ông ngồi, nàng bảo tôi.
- Cám ơn, tôi nói, nhưng tôi vẫn chưa chịu ngồi.
Tôi thấy lạnh, tôi muốn đứng gần bên ngọn lửa và mặc dù cảm giác buồn nôn gợi lên từ mặt mày thằng ngốc và những thức ăn nguội lạnh, rẻ tiền trong tủ kính, tôi bắt gặp một tình cảm thoải mái, dễ chịu khi nghĩ đến hương vị cà phê kèm theo một miếng bánh mì phết bơ. Tôi nhìn lên cô gái, bắt đầu từ cái ót trắng ngà như sữa của nàng cho đến đôi vớ rách được mạng lại một cách vội vàng. Tôi quan sát những nét cong cong mềm mại ở đầu nàng khi nghiêng tới trước để theo dõi ngọn lửa đang bắt cháy.
Trước tiên chỉ có một làn khói dày rồi có những tiếng lách tách, tiếp theo là những ngọn lửa đầu tiên khởi sự bập bùng và rồi làn khói trở nên yếu ớt dần. Trong suốt thời gian đó, nàng ngồi xổm dưới chân tôi, dùng những ngón tay khói than trong miệng lò và thỉnh thoảng nàng lại cúi sát người xuống để thổi lửa. Khi nàng cúi người như thế, mắt tôi có thể theo dõi con đường chạy dài từ ót nàng xuống tới lưng, trắng như lưng một đứa trẻ.
Nàng thốt nhiên đứng dậy, nhìn tôi mỉm cười và đi ra sau quầy hàng. Đoạn nàng mở vòi nước, rửa tay và sửa soạn bình lọc cà phê. Trong khi đó, tôi bước tới bên lò sưởi dùng chiếc que sắt giở nắp lò lên: những ngọn lửa vây phủ lấy những thanh củi và những hòn than đã đỏ rực. Tôi bắt đầu thấy dễ chịu và hơi nước thoát ra từ bình lọc cà phê càng làm tôi thèm thuồng thêm. Mỗi lần uống, tôi đều bắt gặp hương vị thơm ngon của cà phê và của bữa điểm tâm, nhưng khi nhìn những khúc xúc xích có lớp da bọc nhăn nheo và những mớ rau cải tôi thấy ơn ớn phần nào. Lại nữa khi cô gái bưng một cái rổ sắt đựng vỏ chai bước ra ngoài, còn lại mình tôi đối đầu với thằng ngốc, tôi cảm thấy bực bội lạ lùng, đứa bé không để ý gì tới tôi nhưng tôi giận dữ vì phải trông thấy nó ngồi đó, thỏa mãn với chính nó, vừa mút cái que kẹo não lòng của nó.
Khi tôi ném mẩu tàn thuốc, cánh cửa xịch mở và tôi kinh ngạc trông thấy không phải cô gái mà vị linh mục vừa hành lễ bước vào. Khuôn mặt nhà quê, vuông vức và nhợt nhạt với chiếc nón đen chụp lên trên trông thật đúng điệu. Ông ta thốt lời chào và thất vọng thấy đầu quầy bên kia không có người, nỗi thất vọng khiến cho vẻ mặt ông ta sa sầm lại. Tôi nói, “chào”. Và tôi nghĩ, tên đểu cáng khốn khổ! Trong giây phút đó, tôi chợt nhớ ra ngôi nhà thờ tôi vừa bước vào là nhà thờ trực thuộc giáo khu Đức-Mẹ-Bảy-Điều-Khó và tôi biết rõ hồ sơ của vị linh mục ngay trong chi tiết: Ông ta được phê điểm một cách tệ hại, ông ta không lôi cuốn giáo dân được chút nào bởi những bài giảng của ông ta thiếu hẳn nhiệt tâm và giọng nói của ông ta thì rè rè như một cái máy hát cũ. Trong thời chiến tranh, ông ta không gây ra được một tiếng tăm nào ra hồn: ông ta chẳng phải là một vị anh hùng cũng không phải là một người đi kháng chiến, ông ta không có được một cái huy chương nào, cũng không có được một vòng hoa vô hình nào của một người bị khổ nhục. Hồ sơ của ông ta còn hoen ố bởi tội vi phạm giờ giới nghiêm và bị phạt vạ. Tuy nhiên tất cả những chuyện đó còn ít trầm trọng hơn một câu chuyện đàn bà thật kỳ lạ. Thật vậy, đồng ý là thứ tình yêu lý tưởng kiểu Platon vẫn còn tồn tại, nhưng những tình cảm dịu dàng đã được đẩy đi quá xa, tới độ làm phật ý tòa giám mục. Vị linh mục ở nhà thờ Thánh-Nữ-Marie-Bảy-Điều-Khó thuộc những người mà đức giám mục lưỡng lự giữa hai lời phê: “Tệ” và “Xấu”. Vẻ bối rối thêm vào sự thất vọng của vị linh mục trông quá rõ ràng đến độ làm tôi áy náy, khó chịu. Tôi châm một điếu thuốc khác, lặp lại tiếng “chào”, và cố không thèm nhìn vào cái khuôn mặt tầm thường đầy tiêu biểu đó. Mỗi khi nhìn bọn thầy tu kém cỏi trong bộ áo tu sĩ của họ, với vẻ ngây ngô và tự tin nơi chính họ, tuy nhiên lại thiếu hẳn một sự quả quyết, tôi nghe dấy lên một tình cảm kỳ lạ đến từ lòng thương hại và sự giận dữ, giống như lúc có mặt các con tôi.
Bằng một cử chỉ nóng nảy, ông ta cầm đồng hai mác gõ nhẹ lên cái đĩa thủy tinh ở cuối quầy hàng. Cổ, rồi đến mặt mày ông ta chợt đỏ hẳn lên khi cánh cửa mở ra và cô gái bước vào.
- À! Ông ta vội vàng lên tiếng. Chỉ vì mấy điếu thuốc.
Tôi quan sát ông ta một cách chăm chú. Ông ta đưa những nhón tay trắng trẻo và ngắn ngủn thận trọng lướt đi giữa hai đống thịt sườn, tìm cách đến gần những gói thuốc lá, sau cùng lấy ra gói thuốc màu đỏ, đoạn ném đồng tiền trên quầy hàng rồi ngoe nguẩy rời khỏi cửa hiệu sau khi thốt lên một tiếng “chào” mơ hồ.
Cô gái nhìn ông ta bước đi, đặt cái rổ trên tay xuống và miệng tôi ứa nước bọt khi trông thấy những ổ bánh mì vàng rực mà nàng vừa mang tới. Cổ họng tôi thắt lại, tôi nuốt nước bọt, ngậm chặt đầu điếu thuốc và loay hoay tìm chỗ ngồi. Lò sưởi bằng lá sắt phát ra hơi nóng hừng hực, kèm theo một làn khói than mỏng, và tôi nghe khó ở trong người như có một vị chua dâng lên trong dạ dày.
Bên ngoài, những chiếc xe điện rời trạm đang rít lên, rẽ sang khúc quanh, những đoàn tàu có màu trắng bẩn thỉu lướt đi, ngừng lại, đang chạy ra xa, những tiếng ken két phát ra, tỏa khắp theo những đường dây trắng giống như một mạng chỉ chằng chịt.
Nước reo êm đềm trong bình lọc cà phê, thằng ngốc đang mút tới cái que cây nơi chỉ còn dính có một lớp kẹo mỏng màu hồng trong suốt.
- Ông dùng cà phê chứ? Cô gái hỏi tôi từ sau quầy hàng.
- Dạ, xin cô, tôi hối hả trả lời. Như bị xúc động bởi giọng nói của tôi, cô gái ngoảnh khuôn mặt xinh xắn bình thản về phía tôi, mỉm cười và khẽ ra dấu bằng đầu, vừa đẩy cái tách nằm trên một cái đĩa tới miệng vòi bình lọc cà phê. Sau đó nàng thận trọng mở nắp chiếc hộp bằng sắt trắng đựng bột cà phê và một mùi thơm tuyệt diệu xông lên tận mũi trong lúc nàng múc ra một muỗng. Nàng ngập ngừng:
- Bao nhiêu… tôi phải bỏ bao nhiêu mới đủ đây?
Tôi vội móc tiền từ trong túi ra, vuốt những tờ giấy bạc, đặt những đồng tiền chồng lên nhau, rồi tiếp tục moi trong túi, lẩm nhẩm đếm và nói:
- Ba. Vâng. Cô cho tôi ba tách.
- Ba tách à? Nàng vừa nói vừa mỉm cười một lần nữa, nếu vậy, tôi sẽ cho ông một vại, rẻ nhất đó!
Tôi nhìn nàng cho bốn muỗng bột đầy vào cái ngăn bằng kền, đẩy cái ngăn đó vào và thay cái tách phía dưới bằng một cái vại. Nàng điều chỉnh các vòi nước một cách lặng lẽ. Hơi nước trong bình thoát ra nghi ngút trong tiếng nước sôi sùng sục. Một cuộn khói bay qua trước mặt nàng và chất nước lỏng màu nâu dợt bắt đầu nhỏ giọt, tim tôi rộn lên nhẹ nhàng.
Thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ đến cái chết, vào giữa cái khoảnh khắc người ta bước từ cuộc đời này sang cuộc đời khác, và làm bảng tổng kết về những gì sẽ còn lại cho tôi vào cái giây phút tuyệt vời đó: Khuôn mặt xanh xao của vợ tôi, vành tai mỏng của một thầy tu trong phòng xưng tội của ông ta, những buổi lễ thì thầm trong những ngôi nhà thờ được soi sáng bằng thứ ánh sáng lờ mờ và thấm đẫm sự hài hòa êm đềm của lễ nghi và của những bài hát, làn da hồng hào và ấm áp của các con tôi, men rượu đang rần rật trong các mạch máu của tôi, những bữa điểm tâm - một vài bữa điểm tâm - và, vừa nhìn thấy cô gái điều chỉnh các vòi nước của bình lọc cà phê, tôi biết rằng nàng cũng dự phần đó. Tôi mở nút áo khoác và ném chiếc mũ bê-rê lên ghế.
- Cô cho tôi một ổ bánh mì nhỏ nhỏ được chứ? Tôi hỏi. Mới không?
- Dạ mới, nàng nói. Ông muốn bao nhiêu đây?… Bánh mì mới cả.
- Dạ bốn, tôi nói. Với bơ.
- Dạ bao nhiêu?
- Dạ… năm mươi gam.
Nàng lấy những ổ bánh mì nhỏ từ trong rổ, đặt vào đĩa và dùng một con dao vạch nhiều phần trên miếng bơ nửa ký lô.
- Tôi không có cân. Thêm một chút nghe ông? Một phần tám… tôi dùng dao cắt được không?
- Dạ được chứ, tôi đáp và thấy miếng bơ nàng đặt bên những ổ bánh mì lớn hơn một phần tám: Đó là những miếng lớn nhất trong bốn miếng nàng cắt ra.
Cái đĩa nhảy múa trước mặt tôi bởi nàng đang loay hoay trải chiếc khăn bàn nhỏ. Tôi giúp nàng mở chiếc khăn và trong giây phút đó tôi nhận ra mùi thơm ngon của đôi bàn tay nàng.
- Đây rồi, nàng nói.
- Cám ơn cô, tôi trả lời.
Tôi rót cà phê, bỏ thêm đường, quậy cho tan và uống. Cà phê nóng và ngon tuyệt, chỉ có vợ tôi mới pha được một tách cà phê ngon như thế, nhưng tôi lại ít khi uống cà phê do nàng pha và tôi nhớ lại lần sau cùng tôi được diễm phúc uống một tách cà phê như thế. Tôi uống nhiều ngụm liên tiếp và cảm thấy trong người mình dễ chịu hơn sau đó.
- Ngon tuyệt! Tôi kêu lên. Cà phê cô pha ngon tuyệt.
Cô gái mỉm cười với tôi, biểu lộ sự đồng tình bằng cái gật đầu nhẹ, và bất chợt tôi nhận ra nỗi hứng thú được gặp nàng. Sự hiện diện của nàng làm cho lòng tôi tràn đầy thoải mái và bình yên.
- Chưa ai khen cà phê ngon tuyệt như ông mới khen.
- Ngon tuyệt thật mà, tôi nói.
Một chập sau, tôi nghe từ bên ngoài có tiếng chai không va chạm vào nhau trong những chiếc rổ bằng sắt, người bán sữa bước vào với những cái chai đầy và nàng chậm rãi tính tiền với đôi bàn tay trắng nõn nà của nàng: sữa, ca cao, yaourt, kem. Không khí trong quán giờ đây trở nên oi bức hơn, thằng ngốc không động đậy, nó vẫn còn ngậm cái que cây trong miệng, mút đi mút lại và ú ớ nói những gi không ai nghe ra nổi ngoài những âm thanh kỳ bí, man rợ. Khi cô gái quay nhìn về phía nó thì mặt mày nó nhăn nhó cố nở một nụ cười.
Những anh nhân viên xe điện bước vào, tháo kính che mắt, tìm chỗ ngồi và uống sữa trong chai bằng những cái ống hút, tôi nhận ra huy hiệu thành phố may trên bộ đồng phục đi làm của họ. Bên ngoài, sinh hoạt vẫn tiếp diễn, từng hàng tàu điện tuần tự thay thế những toa xe có màu trắng bẩn thỉu, chúng rít trên đường sắt nghe ken két.
Tôi nghĩ tới Kate, vợ tôi, mà chiều nay tôi sẽ gặp. Nhưng việc trước tiên là phải kiếm được tiền và giữ một gian phòng. Đi xin xỏ, vay hỏi tiền bạc quả vất vả. Phải chi có một người nào có sẵn tiền cho tôi ngay bây giờ. Nhưng mà trong một thành phố như thành phố này, một thành phố ba trăm ngàn dân, “cái người nào đó” thật là khó tìm. Tôi nghĩ tới vài người mà có lẽ tôi đỡ phải vất vả hơn khi tiếp xúc, trò chuyện với họ. Tôi sẽ tới họ và thử tìm ra một gian phòng.
Tôi đã uống xong cà phê, sắp tới bảy giờ. Một làn khói thuốc lan ra khắp quán và một người tàn phế có vẻ mệt mỏi, râu tóc không cạo, đang khập khễnh bước vào. Một nụ cười điểm trên môi, người ấy tìm chỗ ngồi bên cạnh lò sưởi, gọi cà phê uống và nhồi cho thằng ngốc ăn những lát bánh mì phô mai lấy ra từ một gói giấy nhật trình.
Bình thản với chiếc khăn lau trên tay, cô gái đang thu tiền, thối tiền, mỉm cười, chào hỏi, nàng vẫn ngồi sau quầy hàng bởi vì nàng còn phải xoay tay vặn của bình lọc cà phê và lau chùi những cái chai nhúng vào nước sôi. Tất cả những công việc đó, nàng hoàn tất một cách tốt đẹp mà không cần phải cố gắng. Nàng cũng không để lộ một vẻ gì mệt mỏi, mặc dù đôi khi khách hàng chen chúc, xô lấn nhau, nóng lòng được dọn trước. Nàng rót một ly sữa nóng, một ly sô cô la lạnh, một ly sô cô la nóng, thả hơi nước bay trước mặt, vớt một trái dưa chuột trong cái lọ đục ngầu bằng một cái kẹp bằng cây, và bỗng nhiên quán trở nên vắng hoe. Nơi quầy hàng chỉ có một người thanh niên mập mạp với nước da vàng nhợt cầm một trái dưa chuột trong tay và bàn tay kia thì cầm một miếng thịt sườn lạnh. Hắn ngốn sạch, ngậm một điếu thuốc lá và chầm chậm móc hết nắm tiền trong túi quần ra. Tôi bất chợt để ý tới bộ com-lê mới nguyên mặc dù hơi nhàu và chiếc cà vạt của hắn. Tôi nhận ra hôm nay là Chúa nhật, và dân thành phố đang sửa soạn cho ngày nghỉ. Tôi nghĩ tới nỗi khó khăn trong việc xoay xở tiền bạc vào một ngày như thế này.
Đến lượt người thanh niên rời khỏi quán, bây giờ chỉ còn có người tàn phế râu tóc không cạo gọt đang mải mê nhồi những mẩu bánh mì phô mai vào miệng thằng ngốc. Ông tìm cách nhại nho nhỏ những tiếng ú ớ của nó, nhưng lại không tài nào tìm được cái nhịp điệu man rợ và quái đản của nó. Tôi trầm ngâm quan sát thằng ngốc đang nuốt bánh mì sau khi nhai cẩn thận. Cô gái tựa ra sau vách, nhìn cả hai, người cha và đứa con. Nàng uống sữa nóng đựng trong một cái vại, từ tốn nhai từng mẩu bánh mì khô. Sự bình yên thoải mái tìm cách trở lại và tôi nghe lòng mình dấy lên một cơn xúc động dữ dội.
- Tính tiền! Tôi kêu lên và đứng dậy.
Tôi nghe hổ thẹn không đâu bởi vì người tàn phế đang lạnh lùng nhìn tôi bằng đôi mắt dò xét. Thằng ngốc cũng quay mặt về phía tôi, nhưng đôi mắt xanh lơ của nó như nhìn tận đâu đâu, cô gái ôn tồn nói, đánh tan niềm im lặng:
- Cha để nó yên. Bernard ăn đủ rồi.
Nàng đón lấy tờ giấy bạc của tôi, bỏ vào trong chiếc hộp xì gà ở dưới mặt bàn, chậm rãi đếm những đồng tiền đựng trong cái đĩa thủy tinh, nhận món tiền boa của tôi, yếu ớt nói “cảm ơn” rồi lại cầm vại sữa đưa lên miệng.
Ở ngoài sáng trông nàng cũng đẹp như thường, và trong phút chốc tôi cảm thấy trù trừ trước khi bước ra ngoài: Hắn tôi muốn ở lại đây, hết giờ này đến giờ nọ, ngồi lì ra đó và đợi. Tôi đã dừng bước lại, tôi quay lưng về phía cả ba, tôi cố trấn tĩnh cho lòng mình bớt dao động, tôi nói tiếng “chào” nho nhỏ và vội vàng cất bước ra ngoài.
Trước cửa, hai cậu con trai đang bận trải tấm băng rôn khẩu hiệu để căng giữa hai cái cột đèn. Có những cánh hoa vung vãi trên mặt đất, tôi đợi cho tấm băng rôn trải dài ra và đọc hàng chữ đỏ viết trên nền vải trắng: “Hoan nghênh đức giám mục!”
Tôi châm một điếu thuốc, lững thững bước về phía thành phố để cố xoay cho được một món tiền và mướn một gian phòng cho buổi tối.