Người phụ nữ mặc áo trắng

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I

❊ ❊ ❊

Khi tôi khép lại trang cuối cùng của bản thảo do Bá tước để lại, khoảng thời gian nửa tiếng mà tôi cam kết ở lại Đường Forest đã trôi qua. Ngài Rubelle nhìn đồng hồ và cúi đầu chào. Tôi đứng dậy ngay lập tức, để mặc viên đại diện ở lại trong ngôi nhà trống hoác. Tôi không bao giờ gặp lại hắn nữa — cũng chẳng hề hay biết thêm chút tin tức nào về hắn hay vợ hắn. Từ những ngóc ngách tăm tối của sự gian trá và lừa lọc, chúng đã lẩn khuất bước vào cuộc đời chúng tôi — rồi cũng vào chính những lối đi khuất tất ấy, chúng len lỏi bò về trong bóng tối và biến mất tăm.

Chỉ mười lăm phút sau khi rời khỏi Đường Forest, tôi đã về đến nhà.

Chỉ cần vài lời là tôi có thể kể cho Laura và Marian nghe cuộc phiêu lưu liều lĩnh của tôi đã kết thúc ra sao, và sự kiện tiếp theo trong đời chúng tôi có khả năng là gì. Tôi để lại mọi chi tiết để kể rõ hơn vào cuối ngày, rồi vội vã quay lại St. John’s Wood để tìm gặp người lái xe ngựa thuê theo lệnh của Bá tước Fosco khi ông ta đi đón Laura ở nhà ga.

Địa chỉ tôi đang nắm giữ dẫn đến một bãi cho thuê xe ngựa, cách Đường Forest chừng một phần tư dặm. Chủ tiệm tỏ ra là một người lịch thiệp và đáng kính. Khi tôi giải thích rằng một vấn đề gia đình quan trọng buộc tôi phải nhờ ông tra cứu sổ sách nhằm xác định một ngày tháng mà các giao dịch kinh doanh của ông có thể ghi lại, ông không hề tỏ ra ngần ngại mà sẵn sàng đồng ý. Cuốn sổ được mang ra, và kìa, dưới dòng ngày “26 tháng 7 năm 1850,” chuyến xe đã được ghi lại bằng những từ này —

“Xe Brougham đưa Bá tước Fosco, số 5 Đường Forest. Hai giờ. (John Owen).”

Qua dò hỏi, tôi được biết cái tên “John Owen” đi kèm với bút tích chính là người được thuê lái chiếc xe ngựa đó. Lúc bấy giờ anh ta đang làm việc ở bãi xe, và đã được gọi đến gặp tôi theo yêu cầu của tôi.

— Anh có nhớ vào tháng Bảy năm ngoái, mình từng chở một quý ông từ số 5 Đường Forest đến nhà ga cầu Waterloo không? — tôi hỏi.

— Dạ thưa ngài, — người đàn ông đáp, — tôi không dám chắc là mình nhớ.

— Có lẽ anh còn nhớ chính vị quý ông đó? Anh có nhớ mình từng chở một người ngoại quốc vào mùa hè năm ngoái — một quý ông cao lớn và cực kỳ mập mạp không?

Khuôn mặt người đàn ông bừng sáng ngay lập tức. — Tôi nhớ chứ, thưa ngài! Vị khách béo nhất mà tôi từng thấy, và cũng là vị khách nặng nề nhất mà tôi từng chở. Vâng, vâng — tôi nhớ ra rồi, thưa ngài! Quả thực chúng tôi đã ra ga, và xuất phát từ Đường Forest. Có một con vẹt, hoặc thứ gì đó đại loại vậy, đang kêu éc éc ở cửa sổ. Vị quý ông tỏ ra cực kỳ vội vã về hành lý của người phụ nữ, và ông ấy đã boa cho tôi một khoản hậu hĩnh vì tội lanh lẹ lo giùm mấy cái tráp.

Lo giùm mấy cái tráp! Tôi sực nhớ ngay đến lời kể của chính Laura khi cô đến London, rằng hành lý của cô đã được thu xếp sẵn bởi một người mà Bá tước Fosco đã dẫn theo cùng ra nhà ga. Chính là người đàn ông này.

— Anh có nhìn thấy người phụ nữ đó không? — tôi hỏi. — Trông cô ấy thế nào? Cô ấy còn trẻ hay đã lớn tuổi?

— Dạ thưa ngài, vì lúc đó quá vội vã lại thêm cảnh đám đông xô đẩy chen chúc, nên tôi không dám chắc trông người phụ nữ ấy ra sao. Thú thật là tôi chẳng tài nào nhớ nổi điều gì về cô ấy, ngoại trừ tên của cô ấy.

— Anh nhớ tên cô ấy cơ à?

— Vâng, thưa ngài. Tên cô ấy là Phu nhân Glyde.

— Sao anh lại có thể nhớ được điều đó trong khi đã quên mất mặt mũi cô ấy trông ra sao?

Người đàn ông mỉm cười, đôi chân có chút ngượng ngùng đổi chỗ cho nhau.

— Dạ, để thưa thật với ngài, — anh ta nói, — vào thời điểm đó tôi vừa mới kết hôn chưa lâu, và tên vợ tôi trước khi đổi theo họ tôi thì cũng trùng tên với phu nhân — nghĩa là mang họ Glyde, thưa ngài. Chính phu nhân đã nhắc đến điều đó. “Tên cô có ghi trên ráp không, thưa phu nhân?” tôi hỏi. “Có chứ,” cô ấy đáp, “tên tôi có ghi trên hành lý — tôi là Phu nhân Glyde.” “Ô hay!” tôi tự nhủ với mình, “Đầu óc mình vốn dĩ rất kém trong việc nhớ tên tuổi mấy bậc quyền quý — nhưng cái tên này nghe thân quen như người nhà vậy.” Tôi không nhớ rõ thời gian chính xác, thưa ngài, có lẽ là gần một năm trước, hoặc cũng có thể chưa tới. Nhưng tôi dám thề về vị quý ông mập mạp, và dám thề về tên của vị phu nhân.

Chẳng cần thiết phải để anh ta nhớ rõ thời gian — ngày tháng đã được ấn định chắc chắn qua sổ ghi chép của ông chủ tiệm. Tôi lập tức cảm thấy trong tay mình đã nắm giữ phương tiện để giáng một đòn chí mạng vào toàn bộ âm mưu bằng thứ vũ khí không thể chối cãi của những sự thật rành rành. Không một phút do dự, tôi kéo chủ tiệm xe ngựa sang một lời và cho ông biết tầm quan trọng thực sự từ bằng chứng trong sổ sách cùng lời khai của người đánh xe. Việc thỏa thuận để đền bù cho sự gián đoạn công việc tạm thời của người đàn ông được tiến hành vô cùng suôn sẻ, và bản sao của trang sổ ghi chép đã được chính tôi chép lại, có chữ ký xác nhận của chủ tiệm làm chuẩn. Tôi rời khỏi tiệm thuê xe sau khi đã dàn xếp để John Owen sẵn sàng túc trực theo lệnh tôi trong ba ngày tới, hoặc lâu hơn nếu tình hình bắt buộc.

Giờ đây tôi đã có trong tay tất cả những giấy tờ mình cần — bản sao giấy chứng tử do chính viên đăng ký hộ tịch khu vực cấp, cùng bức thư có ghi ngày tháng của Sir Percival gửi cho Bá tước đều nằm yên vị trong ví của tôi.

Với những bằng chứng bằng văn bản mang theo bên mình, cùng những câu trả lời của người đánh xe vẫn còn hằn nguyên trong trí nhớ, tôi liền rẽ bước, lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu mọi cuộc điều tra, hướng thẳng về văn phòng của ông Kyrle. Một trong những mục đích của chuyến ghé thăm lần thứ hai này, dĩ nhiên là để thuật lại cho ông nghe những gì tôi đã làm. Mục đích thứ hai là cảnh báo ông về quyết định của tôi: đưa vợ mình trở về Limmeridge vào sáng hôm sau, để cô đường đường chính chính được đón nhận và công nhận tại gia đình bác ruột. Tôi để ông Kyrle tự quyết định trong hoàn cảnh này, và trong lúc vắng mặt ông Gilmore, liệu với tư cách là luật sư gia đình, ông có buộc phải có mặt trong dịp đó để bảo vệ quyền lợi gia đình hay không.

Tôi sẽ không nói gì về sự kinh ngạc của ông Kyrle, hay những lời lẽ ông dùng để bày tỏ quan điểm của mình về cách hành xử của tôi từ chặng đầu tiên cho đến tận cùng cuộc điều tra. Chỉ cần biết rằng ông đã lập tức quyết định đồng hành cùng chúng tôi đến vùng Cumberland.

Chúng tôi khởi hành vào sáng hôm sau trên chuyến tàu sớm. Laura, Marian, ông Kyrle và tôi ngồi chung một toa, còn John Owen và một nhân viên tập sự từ văn phòng của ông Kyrle ngồi ở toa khác. Khi tới ga Limmeridge, trước hết chúng tôi ghé vào trang trại tại Todd’s Corner. Tôi hạ quyết tâm vững chắc rằng Laura không được phép bước chân vào nhà bác ruột cho đến khi cô xuất hiện tại đó với tư cách được công nhận công khai là cháu gái của ông. Tôi để Marian giải quyết vấn đề phòng ốc với bà Todd, ngay sau khi người phụ nữ tốt bụng ấy hoàn toàn hồi phục sau cơn choáng váng khi nghe rõ mục đích chuyến đi của chúng tôi đến Cumberland là gì, đồng thời tôi cũng thu xếp với chồng bà để John Owen được chu đáo tiếp đón theo lòng hiếu khách quen thuộc của đám gia nhân trong trang trại. Những việc chuẩn bị ban đầu ấy đã hoàn tất, ông Kyrle và tôi cùng nhau rảo bước hướng về Limmeridge House.

Tôi không thể viết dài dòng về cuộc gặp gỡ của chúng tôi với ông Fairlie, bởi tôi không thể nhớ lại nó mà không mang theo những cảm giác bực bội và khinh miệt, thứ khiến cho khung cảnh ấy, dẫu chỉ là trong ký ức, cũng trở nên hoàn toàn ghê tởm đối với tôi. Tôi chỉ muốn ghi lại một cách đơn giản rằng tôi đã đạt được mục đích của mình. Ông Fairlie lại định đối xử với chúng tôi theo bài bản quen thuộc của ông ta. Chúng tôi phớt lờ thái độ xấc xược lịch sự của ông ta ngay từ đầu cuộc gặp. Chúng tôi lắng nghe mà không mảy may thương cảm trước những lời than van mà ông ta tiếp tục giở ra nhằm thuyết phục chúng tôi rằng việc phanh phui âm mưu đã khiến ông ta ngã quỵ. Cuối cùng, ông ta thậm chí còn rên rỉ và khóc lóc hệt như một đứa trẻ quấy khóc. “Làm sao ông ta có thể biết cháu gái mình vẫn còn sống khi người ta bảo nó đã chết? Ông ta sẽ vui mừng chào đón thân ái Laura, chỉ cần chúng tôi cho ông ta thời gian để hồi sức. Bộ chúng tôi tưởng ông ta trông giống như đang muốn bị thúc ép xuống mồ lắm sao? Không. Vậy thì tại sao lại giục giã ông ta?” Ông ta cứ lặp đi lặp lại những lời trách móc ấy ở mọi cơ hội có thể, cho đến khi tôi chặn đứng chúng một lần và mãi mãi bằng cách đặt ông ta vào tình thế tiến thoái lưỡng nan không thể chối cãi. Tôi đưa ra cho ông hai sự lựa chọn: một là đối xử công bằng với cháu gái theo các điều kiện của tôi, hai là phải đối mặt với hậu quả từ việc công khai tuyên bố sự tồn tại của cô ấy trước tòa án pháp luật. Ông Kyrle — người mà ông ta quay sang cầu cứu — đã nói thẳng thừng rằng ông ta phải đưa ra quyết định ngay tại chỗ. Mang bản tính quen thói chọn giải pháp nào giúp mình sớm thoát khỏi mọi lo âu phiền muộn cá nhân nhất, ông ta bỗng bùng lên một chút năng lượng, lớn tiếng tuyên bố rằng mình không đủ sức khỏe để chịu đựng thêm bất kỳ sự áp bức nào nữa và chúng tôi muốn làm gì thì tùy.

Ông Kyrle và tôi liền đi xuống lầu, cùng nhau thống nhất nội dung bức thư sẽ được gửi tới những người tá điền từng tham dự đám tang giả, triệu tập họ nhân danh ông Fairlie đến tập trung tại Limmeridge House vào ngày mốt. Một chỉ thị liên quan đến cùng ngày hôm đó cũng được soạn thảo, ra lệnh cho một thợ điêu khắc ở Carlisle cử người đến nghĩa trang Limmeridge để đục bỏ một dòng khắc chữ — ông Kyrle, người đã sắp xếp ở lại qua đêm tại dinh thự, nhận trách nhiệm đảm bảo ông Fairlie sẽ được nghe đọc những bức thư đó và tự tay đặt bút ký tên.

Tôi dành trọn ngày hôm sau ở trang trại để viết lại một bản tường thuật rõ ràng về âm mưu, đồng thời bổ sung thêm một tuyên bố về sự mâu thuẫn rành rành giữa thực tế khách quan với lời khẳng định rằng Laura đã chết. Tôi đưa bản thảo này cho ông Kyrle xem trước khi đọc nó cho đám đông tá điền tụ họp vào ngày hôm sau. Chúng tôi cũng sắp xếp hình thức trình bày các bằng chứng sao cho thật rành mạch vào cuối buổi đọc. Sau khi những việc này đã hòm hòm, ông Kyrle cố gắng lái câu chuyện sang các vấn đề tài chính của Laura. Vốn chẳng biết gì và cũng chẳng muốn múc sâu vào những chuyện đó, lại thêm phần hoài nghi liệu với tư cách một người làm ăn, ông ấy có tán thành cách hành xử của tôi đối với quyền lợi hưởng hoa lợi trọn đời của vợ tôi từ khoản thừa kế để lại cho Madame Fosco hay không, tôi bèn khẩn khoản xin ông Kyrle thứ lỗi vì tôi xin phép được né tránh chủ đề này. Nó vốn gắn liền, như tôi có thể thành thật nói với ông, với những nỗi buồn và giông bão trong quá khứ mà chúng tôi chưa từng nhắc lại giữa những người thân trong nhà, và là điều mà bản năng mách bảo chúng tôi phải tránh né khi bàn luận với người ngoài.

Công việc cuối cùng của tôi khi màn đêm buông xuống là thu thập “Bản tường thuật trên bia mộ” bằng cách chép lại dòng khắc giả trên ngôi mộ trước khi nó bị xóa sổ.

Ngày hôm đó cuối cùng cũng đến — ngày Laura một lần nữa bước chân vào căn phòng ăn quen thuộc tại Limmeridge House. Tất cả mọi người có mặt đều đứng dậy khỏi ghế khi Marian và tôi dìu cô bước vào. Một cảm giác kinh ngạc hiện rõ trên nét mặt, một tiếng thì thầm khe khẽ vì tò mò lan truyền khắp phòng khi họ nhìn thấy gương mặt cô. Ông Fairlie cũng có mặt (theo đúng yêu cầu nghiêm ngặt của tôi), bên cạnh là ông Kyrle. Viên quản gia đứng ngay phía sau, một tay cầm sẵn ống muối ngửi, tay kia cầm chiếc khăn tay trắng đẫm nước hoa eau-de-Cologne.

Tôi mở đầu buổi lễ bằng cách công khai thỉnh cầu ông Fairlie xác nhận xem tôi có xuất hiện ở đây theo đúng thẩm quyền và sự cho phép rõ ràng của ông ta hay không. Ông ta dang rộng hai tay về phía ông Kyrle và viên quản gia — được hai người họ dìu đứng thẳng dậy, rồi cất lời thế này: “Cho phép tôi giới thiệu ông Hartright. Tôi vẫn mãi là một kẻ bệnh hoạn yếu đuối, và cậu ấy rất đỗi tử tế khi chịu nói thay cho tôi. Chủ đề này thực sự vô cùng gây bối rối. Xin mọi người hãy lắng nghe cậu ấy, và xin đừng làm ồn!” Dứt lời, ông ta từ từ tụt người ngồi phịch xuống ghế, tìm sự che chở sau chiếc khăn tay thơm ngát mùi hương của mình.

Việc phanh phui âm mưu diễn ra ngay sau khi tôi đưa ra lời giải thích sơ bộ, trước hết bằng những từ ngữ ngắn gọn và rành mạch nhất. Tôi có mặt ở đây (tôi thông báo với những người có mặt) để tuyên bố, thứ nhất, rằng người vợ của tôi hiện đang ngồi bên cạnh tôi đây, chính là con gái của cố ông Philip Fairlie; thứ hai, để chứng minh bằng những sự kiện rành rành rằng đám tang mà họ từng tham dự tại nghĩa trang Limmeridge thực chất là đám tang của một người phụ nữ khác; thứ ba, để tường thuật rõ ràng cho họ nghe mọi chuyện đã diễn ra như thế nào. Không cần thêm lời dạo đầu nào nữa, tôi lập tức đọc bản tường thuật về âm mưu, phác họa nó bằng những nét chính rõ ràng và chỉ xoáy sâu vào động cơ vụ lợi tiền tài, nhằm tránh làm phức tạp hóa lời khai bằng những chi tiết không cần thiết liên quan đến bí mật của Sir Percival. Làm xong điều đó, tôi nhắc lại cho thính giả nhớ ngày tháng khắc trên tấm bia ở nghĩa trang (ngày 25), và củng cố tính chính xác của nó bằng cách trưng ra tờ giấy chứng tử. Tiếp đó, tôi đọc cho họ nghe bức thư ngày 25 của Sir Percival, trong đó thông báo về chuyến đi dự kiến của vợ ông ta từ Hampshire đến London vào ngày 26. Tôi tiếp tục chứng minh rằng cô ấy đã thực hiện chuyến đi đó qua lời khai nhân chứng của người đánh xe ngựa, đồng thời xác thực cô ấy đã thực hiện đúng lịch trình vào ngày đã định thông qua cuốn sổ đặt xe của tiệm cho thuê. Marian sau đó bổ sung thêm lời khai của chính cô về cuộc gặp gỡ giữa Laura và cô tại nhà thương điên, cũng như cuộc đào tẩu của người chị gái. Sau cùng, tôi khép lại buổi họp bằng cách thông báo cho những người có mặt về cái chết của Sir Percival và cuộc hôn nhân của chính tôi.

Ông Kyrle đứng dậy khi tôi vừa ngồi xuống, và với tư cách là cố vấn pháp lý của gia đình, ông tuyên bố rằng vụ án của tôi đã được chứng minh bằng những bằng chứng rõ ràng nhất mà ông từng nghe thấy trong đời. Khi những lời ấy vừa thốt lên, tôi vòng tay ôm lấy Laura, nâng cô đứng dậy để mọi người trong phòng đều có thể nhìn thấy cô thật rõ ràng.

— Tất cả quý vị có cùng chung một suy nghĩ đó không? — tôi hỏi, bước lên phía trước vài bước và chỉ tay về phía vợ mình.

Hiệu ứng của câu hỏi ấy chẳng khác nào một dòng điện chạy qua. Tít tận cuối phòng, một trong những người tá điền cao tuổi nhất trong điền trang vùng dậy khỏi ghế, lập tức dẫn dắt những người khác hưởng ứng theo. Giờ đây tôi vẫn còn nhìn thấy người đàn ông ấy, với gương mặt rám nắng chất phác cùng mái tóc điểm hoa râm, đứng trên bệ cửa sổ, tay vung vẩy chiếc roi ngựa nặng trịch trên đầu và dẫn dắt mọi người hô vang những lời chúc mừng. — Kìa, cô ấy đây rồi, vẫn sống khỏe mạnh bình an — Chúa phù hộ cho cô ấy! Cất tiếng lên đi mấy đứa ơi! Cất tiếng lên nào! Tiếng hò reo hưởng ứng vang lên, dội đi dội lại, chính là bản âm thanh ngọt ngào nhất mà tôi từng được nghe trong đời. Lũ trẻ nghèo trong làng và học sinh từ trường học tụ tập ngoài bãi cỏ cũng nhao lên hò reo hưởng ứng rồi vọng ngược lại phía chúng tôi. Các bà vợ tá điền xúm xít vây quanh Laura, tranh nhau được là người đầu tiên nắm lấy tay cô, nghẹn ngào tuôn trào dòng nước mắt trên má, khẩn khoản mong cô hãy kiên cường vững vàng và đừng khóc nữa. Cô ấy xúc động đến mức suýt ngất đi, buộc lòng tôi phải dìu cô ra khỏi đám đông và đưa đến tận cửa. Ở đó, tôi giao cô lại cho sự chăm sóc của Marian — người chị chưa từng bỏ rơi chúng tôi, người có bản lĩnh tự chủ kiên cường chưa từng nao núng dù trong hoàn cảnh nào. Đứng lại một mình bên ngưỡng cửa, tôi ngỏ lời mời toàn thể mọi người có mặt (sau khi gửi lời cảm ơn chân thành nhân danh cả Laura và tôi) hãy đi theo tôi ra nghĩa trang, để tận mắt chứng kiến dòng chữ khắc giả trên bia mộ bị đục bỏ.

Tất cả mọi người rời khỏi ngôi nhà, cùng hòa vào dòng người dân làng đang tụ tập quanh ngôi mộ, nơi người thợ điêu khắc đang kiên nhẫn đợi chúng tôi. Trong bầu không khí tĩnh lặng đến nghẹt thở, cú đánh sắc bén đầu tiên của lưỡi thép vang lên đanh gọn trên phiến đá cẩm thạch. Không một tiếng động thốt lên — không một bóng người dịch chuyển, cho đến khi ba từ ấy, “Laura, Phu nhân Glyde,” hoàn toàn biến mất khỏi tầm mắt. Lúc bấy giờ, cả đám đông mới thở phào một tiếng nhẹ nhõm lớn lao, tựa hồ như họ cảm nhận được xiềng xích cuối cùng của âm mưu đã thực sự bị đập nát khỏi thân phận của Laura, và đoàn người chậm rãi tản đi. Trời đã xế chiều khi toàn bộ dòng chữ khắc trên bia mới được đục bỏ hoàn toàn. Chỉ còn độc nhất một dòng chữ được khắc thay thế vào đó sau này: “Anne Catherick, ngày 25 tháng 7 năm 1850.”

Tôi trở về Limmeridge House từ chập tối để kịp nói lời tạm biệt với ông Kyrle. Ông ấy cùng viên thư ký và người đánh xe ngựa đã quay trở lại London trên chuyến tàu đêm. Ngay sau khi họ rời đi, một lời nhắn đầy xấc xược được gửi đến tai tôi từ phía ông Fairlie — kẻ đã được người ta khiêng ra khỏi phòng trong tình trạng suy sụp tột độ ngay khi tiếng hò reo đầu tiên hưởng ứng lời kêu gọi của tôi vang lên đối với các tá điền. Lời nhắn gửi đến chúng tôi “những lời chúc mừng tốt đẹp nhất từ ông Fairlie,” đồng thời dò hỏi xem liệu “chúng tôi có tính chuyện ở lại luôn trong ngôi nhà này không.” Tôi liền sai người nhắn lại rằng mục đích duy nhất khiến chúng tôi bước chân qua cánh cửa nhà ông ta đã hoàn thành — rằng tôi chẳng có ý định ở nhờ trong bất kỳ dinh thự của kẻ nào ngoài nhà của chính mình — và rằng ông Fairlie không cần phải bận tâm lo lắng mảy may về việc sẽ còn phải nhìn thấy hay nghe ngóng bất kỳ tin tức nào từ chúng tôi nữa. Chúng tôi quay trở lại bên những người bạn ở trang trại để nghỉ ngơi qua đêm, rồi vào sáng hôm sau — được toàn thể dân làng cùng tất cả các điền chủ trong vùng tiễn đưa ra ga với sự nhiệt tình và thiện chí nồng nhiệt nhất — chúng tôi chính thức trở về London.

Khi khung cảnh những ngọn đồi ở Cumberland dần lùi xa và phai mờ trong khoảng không xa thẳm, tôi hồi tưởng lại những hoàn cảnh đầy nản lòng thuở ban đầu khi cuộc chiến trường kỳ nay đã khép lại còn đang tiếp diễn. Thật kỳ lạ làm sao khi nhìn lại quá khứ để nhận ra rằng, chính cái nghèo từng tước đoạt đi của chúng tôi mọi hy vọng về sự trợ giúp lại trở thành con đường gián tiếp dẫn đến thành công, bởi nó buộc tôi phải tự thân vận động. Nếu như lúc đó chúng tôi giàu có đến mức có thể tìm kiếm được sự hỗ trợ pháp lý, thì kết quả sẽ ra sao? Lợi ích thu về (xét theo chính quan điểm của ông Kyrle) chắc chắn sẽ vô cùng mơ hồ — còn tổn thất, nếu đối chiếu theo thước đo rõ rành của thực tế diễn ra, là điều cầm chắc trong tay. Pháp luật muôn đời sẽ chẳng bao giờ giúp tôi có được cuộc gặp gỡ với bà Catherick. Pháp luật cũng sẽ chẳng bao giờ biến Pesca thành chìa khóa ép buộc Bá tước phải cúi đầu nhận tội.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.