Người phụ nữ mặc áo trắng

Lượt đọc: 224 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương: Câu chuyện do Frederick Fairlie, Esq., ở Limmeridge House viết tiếp

❊ ❊ ❊

Đại họa lớn nhất trong đời tôi là chẳng ai chịu để cho tôi được yên thân.

Tại sao—tôi hết thảy hỏi mọi người—tại sao cứ làm phiền tôi? Chẳng ai trả lời câu hỏi ấy, và chẳng ai để tôi yên cả. Họ hàng, bạn bè, và người lạ đều hùa nhau gây phiền toái cho tôi. Tôi đã làm gì nên tội? Tôi tự hỏi mình, tôi hỏi người hầu của tôi, Louis, năm mươi lần một ngày—rằng tôi đã làm gì chứ? Cả hai chúng tôi đều chẳng thể trả lời được. Thật quá đỗi lạ lùng!

Phiền toái mới nhất đeo bám tôi chính là việc bị bắt phải viết Bản tường thuật này. Liệu một người đang ở trong tình trạng suy kiệt thần kinh khốn khổ như tôi có đủ khả năng để viết tường thuật hay không? Khi tôi đưa ra lời phản đối hoàn toàn hợp lý này, người ta bảo với tôi rằng có những sự kiện rất nghiêm trọng liên quan đến cháu gái tôi đã xảy ra trong tầm trải nghiệm của tôi, và vì thế tôi là người thích hợp nhất để miêu tả lại chúng. Tôi bị đe dọa rằng nếu tôi không chịu gắng sức theo đúng yêu cầu, tôi sẽ phải gánh chịu những hậu quả mà tôi thậm chí không thể nghĩ đến nổi mà không suy sụp hoàn toàn. Thực ra chẳng có lý do gì phải đe dọa tôi cả. Bị tàn phá bởi sức khỏe tồi tệ và những rắc rối gia đình, tôi hoàn toàn bất lực không thể kháng cự. Nếu các người cứ khăng khăng, thì các người đang lợi dụng tôi một cách bất công, và tôi đành chịu thua ngay tức khắc. Tôi sẽ cố gắng nhớ lại những gì có thể (dù không đồng tình), và viết lại những gì có thể (cũng không đồng tình), còn những gì không thể nhớ và không thể viết, Louis phải nhớ và viết thay cho tôi. Nó là một tên ngốc, còn tôi là một bệnh nhân, và chắc chắn chúng tôi sẽ mắc đủ thứ sai sót giữa đôi bên với nhau. Thật là nhục nhã làm sao!

Người ta bảo tôi phải nhớ các mốc thời gian. Hỡi Chúa tôi! Chưa bao giờ trong đời tôi làm một việc như thế—giờ thì tôi phải bắt đầu thế nào đây?

Tôi đã hỏi Louis. Nó không hẳn là một tên ngốc như tôi từng tưởng tượng cho đến tận bây giờ. Nó nhớ được ngày tháng xảy ra sự việc, sai lệch chừng một hoặc hai tuần—và tôi thì nhớ tên của người đó. Thời gian là vào khoảng cuối tháng Sáu, hoặc đầu tháng Bảy, và cái tên (theo ý kiến của tôi là vô cùng tầm thường) ấy là Fanny.

Vậy là, vào cuối tháng Sáu hoặc đầu tháng Bảy, tôi đang nằm ngả người ở tư thế quen thuộc, xung quanh là đủ các món đồ nghệ thuật mà tôi đã sưu tầm để nâng cao khiếu thẩm mỹ cho đám người dã man ở vùng quê tôi ở. Nghĩa là, tôi bày biện xung quanh mình những bức ảnh chụp các bức họa, bản in, tiền xu, vân vân, mà một ngày nào đó tôi dự định sẽ hiến tặng (ý tôi là những bức ảnh chụp, nếu cái thứ tiếng Anh lủng củng này cho phép tôi ý thức được điều mình muốn nói) – hiến tặng cho viện bảo hiểm ở Carlisle (một nơi thật kinh tởm!), nhằm nâng cao gu thẩm mỹ cho các thành viên ở đó (toàn một lũ Goths và Vandals cả đám). Người ta có thể cho rằng một quý ông đang chuẩn bị ban một ân huệ quốc gia to lớn cho đồng bào của mình phải là quý ông cuối cùng trên đời bị làm phiền một cách vô cảm về những khó khăn riêng tư và chuyện gia đình chứ. Hoàn toàn lầm lẫn, tôi xin cam đoan với bạn, trong trường hợp của tôi.

Tuy nhiên, tôi cứ nằm đó, ngả ngơi giữa những báu vật nghệ thuật của mình, và chỉ muốn có một buổi sáng yên tĩnh. Chính vì tôi muốn một buổi sáng yên tĩnh nên Louis mới bước vào, là cái chắc. Việc tôi hỏi cho bằng rõ vì sao cái quái gì mà nó lại xuất hiện khi tôi chưa hề bấm chuông là điều hoàn toàn tự nhiên. Tôi hiếm khi thề thốt—đó là một thói quen vô phép tắc—nhưng khi Louis đáp lại bằng một cái nhếch mép, tôi nghĩ việc tôi nguyền rủa nó vì cái tội nhếch mép ấy cũng hoàn toàn tự nhiên thôi. Dù sao thì tôi cũng đã làm thế.

Tôi nhận thấy phương pháp đối xử nghiêm khắc này luôn luôn khiến những kẻ ở tầng lớp hạ lưu phải khôn hồn trở lại. Nó đã làm Louis khôn hồn. Nó rất nhã nhặn chịu thôi nhếch mép và thông báo cho tôi biết rằng có một Người Trẻ tuổi đang đứng ngoài muốn gặp tôi. Nó nói thêm (với cái tật ba hoa đáng ghét của lũ đầy tớ) rằng tên cô ta là Fanny.

“Fanny là ai?”

“Thưa ngài, là hầu gái của phu nhân Glyde.”

“Hầu gái của phu nhân Glyde muốn gì ở ta?”

“Một bức thư, thưa ngài——”

“Cầm lấy.”

“Cô ta từ chối đưa cho bất kỳ ai ngoài ngài, thưa ngài.”

“Ai gửi thư?”

“Thưa ngài, tiểu thư Halcombe.”

Ngay khoảnh khắc nghe thấy tên tiểu thư Halcombe, tôi liền đầu hàng. Đó là thói quen của tôi là luôn luôn đầu hàng tiểu thư Halcombe. Qua kinh nghiệm, tôi thấy làm vậy đỡ tốn hơi sức. Nhân dịp này tôi lại đầu hàng. Marian thân mến!

“Hãy để hầu gái của phu nhân Glyde vào đi, Louis. Khoan đã! Giày cô ta có kêu có cót két không?”

Tôi buộc phải hỏi câu đó. Giày kêu cọt kẹt luôn làm tôi phát bực suốt cả ngày. Tôi đành chấp nhận gặp Người Trẻ tuổi đó, nhưng tôi không đời nào chấp nhận để tiếng giày của Người Trẻ tuổi đó làm tôi chướng tai gai mắt. Sức chịu đựng của tôi cũng có giới hạn của nó.

Louis quả quyết một cách rõ ràng rằng giày của cô ta rất đáng tin cậy. Tôi phẩy tay. Nó dẫn cô ta vào. Có cần thiết phải nói rằng cô ta đã thể hiện sự bối rối của mình bằng cách mím chặt miệng và thở bằng mũi không? Đối với một người nghiên cứu bản chất con người ở tầng lớp hạ lưu như phụ nữ, thì chắc chắn là không cần rồi.

Tôi phải công bằng với cô gái này. Giày của cô ta không kêu cót két. Nhưng tại sao những Người Trẻ tuổi đi làm nghề hầu hạ lại đều ra mồ hôi ở lòng bàn tay cơ chứ? Tại sao tất cả bọn họ lại có cái mũi to bè và đôi má cứng nhắc? Và tại sao gương mặt của họ lại buồn thiu một cách dở dang như thế, nhất là ở khóe mắt? Bản thân tôi không đủ sức khỏe để suy ngẫm sâu xa về bất kỳ đề tài nào, nhưng tôi xin khẩn khoản hỏi các bậc chuyên gia, những người có đủ sức khỏe: Tại sao giống loài Người Trẻ tuổi của chúng ta lại chẳng hề có chút đa dạng nào thế?

“Cô có một bức thư gửi cho tôi từ tiểu thư Halcombe phải không? Xin hãy đặt nó lên bàn, và đừng làm đổ vỡ thứ gì nhé. Tiểu thư Halcombe có khỏe không?”

“Thưa ngài, cô ấy rất khỏe, cảm ơn ngài.”

“Còn phu nhân Glyde?”

Tôi chẳng nhận được câu trả lời nào. Gương mặt của Người Trẻ tuổi càng trở nên dở dang hơn bao giờ hết, và tôi nghĩ cô ta bắt đầu khóc. Tôi quả thực thấy có gì đó ươn ướt quanh khóe mắt cô ta. Nước mắt hay mồ hôi đây? Louis (người mà tôi vừa tham khảo ý kiến) nghiêng về phỏng đoán đó là nước mắt. Nó thuộc cùng tầng lớp xã hội với cô ta, nên chắc chắn nó phải biết rõ nhất. Cứ cho là nước mắt đi.

Ngoại trừ khi quá trình gọt giũa của nghệ thuật loại bỏ một cách khôn ngoan mọi nét tương đồng với Tự nhiên ở họ ra, tôi hoàn toàn phản đối nước mắt. Nước mắt được giới khoa học mô tả là một dạng Chất Tiết. Tôi có thể hiểu rằng một chất tiết có thể lành mạnh hoặc không lành mạnh, nhưng tôi chẳng thể thấy sự thú vị nào của một chất tiết xét từ góc độ tình cảm. Có lẽ vì các chất tiết của chính tôi đều trục trặc cả một lượt nên tôi đâm ra hơi có thành kiến về vấn đề này. Không hề gì. Trong dịp này, tôi đã hành xử với tất cả sự đúng đắn và tình cảm có thể. Tôi nhắm mắt lại và bảo Louis—

“Hãy tìm cách xác định xem cô ta định nói gì.”

Louis đã cố gắng, và Người Trẻ tuổi cũng đã cố gắng. Họ đã thành công rực rỡ trong việc làm cho đối phương bối rối đến mức mà vì lòng biết ơn thông thường, tôi buộc phải nói rằng họ thực sự đã làm tôi thấy giải trí. Tôi nghĩ mình sẽ gọi họ vào lại mỗi khi tâm trạng tôi u ám. Tôi vừa nhắc ý tưởng này với Louis. Thật kỳ lạ, nó có vẻ làm cho anh chàng thấy không thoải mái. Tội nghiệp thật!

Chắc chắn là tôi không bị kỳ vọng phải thuật lại lời giải thích của cô hầu gái của cháu gái tôi về những giọt nước mắt của cô ta, được phiên dịch qua thứ tiếng Anh của gã hầu phòng người Thụy Sĩ của tôi chứ? Chuyện đó rõ ràng là bất khả thi. Có lẽ tôi có thể nêu lên những ấn tượng và cảm xúc của riêng mình. Làm thế có ổn không nhỉ? Xin hãy nói là Có.

Ý tôi là cô ta bắt đầu bằng cách kể với tôi (thông qua Louis) rằng ông chủ của cô ta đã sa thải cô ta khỏi dịch vụ của bà chủ. (Hãy quan sát xuyên suốt, sự lạc đề kỳ lạ của Người Trẻ tuổi. Đó có phải lỗi của tôi đâu mà cô ta mất việc?) Sau khi bị sa thải, cô ta đã đến quán trọ để ngủ. (Tôi có quản lý quán trọ đâu—sao lại kể chuyện đó với tôi?) Từ sáu giờ đến bảy giờ, tiểu thư Halcombe đã đến để chào từ biệt và đưa cho cô ta hai bức thư, một bức gửi cho tôi, và một bức gửi cho một quý ông ở Luân Đôn. (Tôi có phải là quý ông ở Luân Đôn đâu—mặc kệ cái ông quý ông ở Luân Đôn ấy chứ!) Cô ta đã cẩn thận nhét hai bức thư vào ngực áo (liên quan gì đến ngực áo của cô ta chứ cơ chứ?); cô ta đã vô cùng đau khổ khi tiểu thư Halcombe đi rồi; cô ta không có tâm trạng để đưa dù chỉ một miếng ăn hay ngụm nước vào miệng cho đến khi trời gần giờ đi ngủ, và rồi, khi đã sát mốc chín giờ, cô ta chợt nghĩ mình muốn uống một chén trà. (Tôi có phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ sự biến động tầm thường nào bắt đầu bằng sự bất hạnh và kết thúc bằng ấm trà này không?) Đúng lúc cô ta đang hâm nóng ấm trà (tôi dẫn lại lời theo thẩm quyền của Louis, kẻ nói rằng nó biết chúng có nghĩa gì và muốn giải thích, nhưng tôi đã dội cho nó một gáo nước lạnh theo nguyên tắc)—đúng lúc cô ta đang hâm ấm trà thì cửa mở ra, và cô ta bị choáng váng hết cả người (lại là nguyên văn lời của cô ta, và lần này thì hoàn toàn khó hiểu đối với cả Louis lẫn chính tôi) bởi sự xuất hiện trong phòng khách quán trọ của phu nhân Nữ bá tước. Tôi thuật lại lời miêu tả của cô hầu gái của cháu gái tôi về tước hiệu của chị gái tôi với một cảm giác vô cùng thích thú. Chị gái tôi, người chị tội nghiệp thân yêu của tôi, là một người đàn bà phiền phức đã kết hôn với một kẻ ngoại quốc. Nói tiếp chuyện cũ: cửa mở ra, phu nhân Nữ bá tước xuất hiện trong phòng khách, và Người Trẻ tuổi bị choáng váng hết cả người. Thật quá đỗi đáng chú ý!

Tôi thực sự phải nghỉ ngơi một chút mới có thể tiếp tục được. Khi tôi đã nằm ngả người một lát với đôi mắt nhắm nghiền, và khi Louis đã làm dịu đôi thái dương đau nhức đáng thương của tôi bằng một ít dầu eau-de-Cologne, có lẽ tôi sẽ có thể tiếp tục.

Phu nhân Nữ bá tước——

Không. Tôi có thể tiếp tục, nhưng không thể ngồi dậy được. Tôi sẽ nằm ngả người và đọc cho viết. Louis có giọng phát âm thật khủng khiếp, nhưng nó biết tiếng và có thể viết. Thật là tiện lợi làm sao!

Phu nhân Nữ bá tước đã giải thích về sự xuất hiện bất ngờ của mình tại quán trọ bằng cách bảo với Fanny rằng bà đến để đem theo một hai lời nhắn nhủ nhỏ mà tiểu thư Halcombe vì vội vã quá đã quên mất. Thế là Người Trẻ tuổi liền thấp thỏm chờ đợi để nghe những lời nhắn đó là gì, nhưng Nữ bá tước có vẻ không muốn nhắc đến chúng (đúng là cái kiểu phiền phức của chị tôi!) cho đến khi Fanny uống xong chén trà của cô ta. Phu nhân tỏ ra vô cùng tử tế và chu đáo về chuyện đó (cực kỳ khác với chị tôi), và nói rằng: “Ta chắc chắn, cô gái tội nghiệp của ta, là cô đang rất thèm trà. Chúng ta có thể để mấy lời nhắn đó tính sau. Nào, nào, nếu không có gì khác có thể làm cô thấy thoải mái, ta sẽ pha trà và cùng uống một chén với cô.” Tôi nghĩ những lời đó là như vậy, theo lời thuật lại đầy hào hứng trước mặt tôi bởi Người Trẻ tuổi. Dù sao thì, Nữ bá tước cũng khăng khăng đòi pha trà, và đẩy cái sự phô trương nực cười về tính khiêm tốn của mình đi xa đến mức tự mình uống một chén và bắt cô gái phải uống chén còn lại. Cô gái đã uống trà, và theo lời kể của chính cô ta, đã kỷ niệm sự kiện phi thường đó năm phút sau đó bằng cách ngất lịm đi lần đầu tiên trong đời. Ở đây tôi lại dùng nguyên văn lời của cô ta. Louis nghĩ rằng chúng đi kèm với sự gia tăng tiết ra nước mắt. Bản thân tôi thì không rõ. Nỗ lực lắng nghe đã ngốn gần như sạch sẽ sức lực tôi có thể xoay sở, nên mắt tôi nhắm nghiền cả lại.

Tôi vừa bỏ dở ở đoạn nào nhỉ? À vải—cô ta ngất xỉu sau khi uống một chén trà với Nữ bá tước—một tiến trình có lẽ đã khiến tôi quan tâm nếu tôi là bác sĩ của cô ta, nhưng chẳng là gì sất nên tôi đâm ra chán ngấy khi nghe kể về nó, chẳng có gì hơn. Khi cô ta tỉnh lại nửa tiếng sau đó, cô ta đang nằm trên ghế sofa và chẳng có ai ở bên ngoài bà chủ quán trọ. Nữ bá tước, thấy đã quá muộn để ở lại quán trọ lâu hơn nữa, đã bỏ đi ngay khi cô ta có dấu hiệu tỉnh lại, và bà chủ quán trọ tốt bụng đã giúp cô ta lên lầu đi ngủ.

Bị bỏ lại một mình, cô ta đã sờ vào ngực áo (tôi lấy làm tiếc vì phải đề cập đến phần chủ đề này lần thứ hai), và tìm thấy hai bức thư ở đó vẫn nguyên vẹn, nhưng lại bị nhàu nát một cách kỳ lạ. Cô ta đã bị chóng mặt trong đêm, nhưng đã thức dậy đủ khỏe để đi lại vào buổi sáng. Cô ta đã thả bức thư gửi cho gã người lạ phiền toái kia, vị quý ông ở Luân Đôn, vào thùng thư, và giờ đã trao tận tay tôi bức thư còn lại như đã được dặn dò. Đó là sự thật rành rành, và mặc dù cô ta không thể tự trách mình về bất kỳ sự lơ đễnh cố ý nào, cô ta vẫn vô cùng bứt rứt trong lòng và rất cần một lời khuyên nhủ. Đến điểm này, Louis nghĩ rằng các chất tiết lại xuất hiện một lần nữa. Có lẽ là thế thật, nhưng việc đề cập đến một điều quan trọng hơn vô hạn là cũng ở điểm này, tôi đã mất hết kiên nhẫn, mở mắt ra và nhúng tay vào can thiệp.

“Ý nghĩa của tất cả chuyện này là gì vậy?” tôi hỏi.

Cô hầu gái lạc đề của cháu gái tôi trợn tròn mắt, đứng chết sững không nói nên lời.

“Hãy cố gắng giải thích xem nào,” tôi bảo người hầu của mình. “Phiên dịch lại cho ta nghe đi, Louis.”

Louis cố gắng và phiên dịch. Nói cách khác, nó lao đầu thẳng xuống một cái hố sâu không đáy của sự hỗn độn, và Người Trẻ tuổi cũng lủi theo nó xuống đó. Tôi thực sự không biết từ khi nào mình lại cảm thấy được giải trí đến thế. Tôi cứ để mặc họ ở dưới đáy cái hố chừng nào họ còn làm tôi thấy buồn cười. Khi họ ngừng làm tôi buồn cười, tôi liền vận dụng trí tuệ của mình và kéo họ ngoi lên lại.

Thật không cần phải nói rằng sự can thiệp của tôi đã giúp tôi, vào đúng thời điểm thích hợp, nắm bắt được ý nghĩa đằng sau những lời nhận xét của Người Trẻ tuổi.

Tôi phát hiện ra rằng cô ta bất an trong lòng là vì chuỗi sự kiện mà cô ta vừa miêu tả cho tôi nghe đã cản hạn cô ta nhận được những lời nhắn bổ sung mà tiểu thư Halcombe đã ủy thác cho Nữ bá tước chuyển giao. Cô ta sợ rằng những lời nhắn đó có thể rất quan trọng đối với lợi ích của bà chủ cô ta. Nỗi sợ hãi Sir Percival đã ngăn cản cô ta không dám đến Blackwater Park vào lúc đêm muộn để dò hỏi về chúng, và chính những chỉ dẫn của tiểu thư Halcombe dặn cô ta bằng mọi giá không được lỡ chuyến tàu vào buổi sáng đã ngăn cản cô ta không được nán lại quán trọ vào ngày hôm sau. Cô ta vô cùng lo lắng rằng tai họa ngất xỉu của mình sẽ dẫn đến tai họa thứ hai là làm cho bà chủ nghĩ rằng cô ta lơ là nhiệm vụ, và cô ta khẩn khoản xin hỏi tôi xem tôi có khuyên cô ta viết những lời giải thích và cáo lỗi gửi cho tiểu thư Halcombe hay không, và xin nhận lại các lời nhắn qua thư, nếu vẫn chưa quá muộn. Tôi không thèm xin lỗi vì đoạn văn dài dòng buồn ngủ này đâu. Tôi đã nhận lệnh phải viết nó ra đấy chứ. Có những con người, nghe có vẻ khó mà hiểu nổi, lại thực sự quan tâm đến những gì hầu gái của cháu gái tôi nói với tôi trong dịp này hơn là những gì tôi nói với hầu gái của cháu gái tôi. Thật là một sự ngoan cố đáng buồn cười!

“Tôi sẽ rất biết ơn ngài, thưa ngài, nếu ngài có thể vui lòng bảo tôi nên làm gì bây giờ,” Người Trẻ tuổi lên tiếng.

“Cứ để mọi thứ ở nguyên trạng đi,” tôi nói, điều chỉnh ngôn từ cho phù hợp với người nghe. “Tôi lúc nào cũng để mọi thứ ở nguyên trạng hết. Phải. Thế thôi à?”

“Nếu ngài nghĩ việc tôi viết thư là một sự mạo muội, thưa ngài, thì đương nhiên tôi sẽ không dám làm thế. Nhưng tôi vô cùng lo lắng muốn làm mọi thứ có thể để phục vụ bà chủ một cách trung thành——”

Những kẻ ở tầng lớp hạ lưu chẳng bao giờ biết khi nào hoặc làm thế nào để bước ra khỏi một căn phòng cả. Bọn họ lúc nào cũng cần phải được những kẻ bề trên tống khứ giúp ra ngoài. Tôi nghĩ đã đến lúc cao điểm phải tống khứ Người Trẻ tuổi ra ngoài. Tôi làm điều đó bằng hai từ thật khôn ngoan—

“Chào buổi sáng.”

Có thứ gì đó bên ngoài hoặc bên trong cô gái kỳ lạ này đột nhiên kêu cọt kẹt. Louis, kẻ đang nhìn cô ta (điều mà tôi không làm), nói rằng cô ta kêu cọt kẹt lúc nhún gối chào. Thật tò mò. Có phải giày của cô ta, áo nịt ngực của cô ta, hay xương cốt của cô ta vậy? Louis nghĩ đó là áo nịt ngực của cô ta. Quá sức lạ lùng!

Ngay khi bị bỏ lại một mình, tôi đã tranh thủ chợp mắt một chút—tôi thực sự rất cần điều đó. Khi tỉnh dậy, tôi để ý thấy bức thư của Marian thân mến. Nếu tôi mà có mảy may ý niệm nào về những gì bên trong nó, chắc chắn tôi đã chẳng thèm mở nó ra làm gì. Vì, rất không may cho bản thân, hoàn toàn ngây thơ không chút nghi ngờ gì, tôi đã đọc bức thư. Nó lập tức làm tôi đảo lộn tâm trí suốt cả ngày.

Bản tính tôi vốn là một trong những sinh vật dễ tính nhất từng tồn tại trên đời này—tôi thông cảm cho tất cả mọi người, và chẳng bao giờ thấy phật ý vì điều gì cả. Nhưng như tôi đã lưu ý trước đó, sức chịu đựng nào cũng có giới hạn của nó. Tôi đặt bức thư của Marian xuống, và cảm thấy bản thân mình—đích thực cảm thấy mình là một kẻ đang bị tổn thương.

Tôi sắp sửa đưa ra một nhận xét. Đương nhiên là nó áp dụng cho vấn đề rất nghiêm trọng đang được chú ý hiện nay, nếu không thì tôi đã chẳng cho phép nó xuất hiện ở đây rồi.

Theo quan điểm của tôi, chẳng có gì phơi bày sự ích kỷ đáng ghét của loài người dưới một ánh sáng rành rành đầy phản cảm như cách đối xử, ở mọi tầng lớp xã hội, mà những kẻ Độc thân nhận được từ tay những kẻ Đã có gia đình. Một khi bạn đã thể hiện mình là người quá chu đáo và biết hy sinh để không đẻ thêm một gia đình của riêng mình vào một dân số vốn đã quá tải, bạn sẽ bị những người bạn đã lập gia đình của mình—những kẻ chẳng hề có sự chu đáo hay hy sinh nào như thế—ghim lại một cách đầy thù hằn để làm kẻ nhận phân nửa những rắc rối vợ chồng của họ, và làm người bạn sinh ra đã dành cho tất cả con cái của họ. Những ông chồng bà vợ thì cứ nói về những mối bận tâm của hôn nhân, còn những kẻ đầu thang độc thân thì gánh chịu chúng. Lấy trường hợp của chính tôi đi. Tôi đầy chu đáo duy trì cảnh độc thân, còn người anh trai tội nghiệp thân yêu Philip của tôi lại bất cẩn kết hôn. Anh ta làm gì khi chết? Anh ta để lại con gái mình cho tôi. Con bé là một đứa trẻ ngọt ngào—nhưng đồng thời cũng là một trách nhiệm khủng khiếp. Tại sao lại trút nó lên vai tôi chứ? Bởi vì tôi buộc phải, dưới tư cách vô hại của một gã độc thân, gánh vác mọi rắc rối của chính những người thân đã kết hôn của mình. Tôi đã cố gắng hết sức với trách nhiệm từ anh trai tôi—tôi cưới gả cháu gái mình, với vô vàn phiền phức và khó khăn tột độ, cho người đàn ông mà bố nó muốn nó lấy. Nó và chồng nó lục đục, và những hậu quả khó chịu liền theo sau. Nó làm gì với những hậu quả đó? Nó trút chúng lên đầu tôi. Tại sao lại trút lên đầu tôi chứ? Bởi vì tôi buộc phải, dưới tư cách vô hại của một gã độc thân, gánh vác mọi rắc rối của chính những người thân đã kết hôn của mình. Những kẻ độc thân tội nghiệp! Bản chất con người thật tội nghiệp!

Thật hoàn toàn không cần thiết phải nói rằng bức thư của Marian đã đe dọa tôi. Ai ai cũng đe dọa tôi cả. Đủ thứ kinh hoàng sắp đổ xuống cái đầu bất hạnh của tôi nếu tôi chần chừ không biến Limmeridge House thành một trại tị nạn cho cháu gái tôi và những bất hạnh của nó. Dù vậy, tôi vẫn chần chừ.

Tôi đã nhắc đến việc đường lối thông thường của tôi từ trước đến nay là khuất phục Marian thân yêu để đỡ phải ồn ào. Nhưng trong dịp này, những hệ lụy đi kèm với đề xuất vô cùng bất cẩn của cô ta mang một bản chất khiến tôi phải khựng lại. Nếu tôi mở Limmeridge House làm trại tị nạn cho phu nhân Glyde, tôi lấy gì làm bảo đảm chống lại việc Sir Percival Glyde bám theo cô ta đến đây trong trạng thái giận dữ tột độ với tôi vì đã cấm cửa che chở vợ hắn? Tôi nhìn thấy một mê cung rắc rối hoàn toàn vướng víu trong hành động này đến mức tôi quyết định phải dò dẫm đường đi nước bước trước đã. Do đó, tôi đã viết thư cho Marian thân mến để nài nỉ (vì cô ta không có chồng nào đứng ra đòi quyền lợi) rằng cô ta hãy một mình đến đây trước, rồi hẵng bàn thảo kỹ lưỡng mọi chuyện với tôi. Nếu cô ta có thể giải đáp những phản đối của tôi làm tôi mãn nguyện hoàn toàn, khi ấy tôi bảo đảm với cô ta rằng tôi sẽ chào đón nàng Laura ngọt ngào của chúng ta với niềm vui sướng lớn nhất, còn nếu không thì đừng hòng.

Đương nhiên là vào lúc đó tôi cảm thấy chiêu kéo dài thời gian này của mình có lẽ sẽ kết thúc bằng việc Marian lôi xác đến đây trong một trạng thái phẫn nộ đầy đức hạnh, sập cửa rầm rầm. Nhưng ngặt một nỗi, hướng hành động kia có thể kết thúc bằng việc lôi Sir Percival đến đây trong trạng thái phẫn nộ đầy đức hạnh, cũng sập cửa rầm rầm không kém, và trong hai cái sự phẫn nộ cùng sập cửa đó, tôi thích của Marian hơn, bởi vì tôi đã quen với cô ta rồi. Theo đó, tôi đã gửi đi bức thư bằng đường bưu điện khứ hồi. Dù sao thì nó cũng giúp tôi mua được thời gian—và, ôi trời ơi, đó mới là một điểm xuất phát tuyệt vời làm sao!

Khi tôi hoàn toàn suy sụp (tôi đã nhắc đến việc mình hoàn toàn suy sụp vì bức thư của Marian chưa nhỉ?) thì tôi luôn mất tận ba ngày mới gượng dậy lại được. Tôi đã rất vô lý—tôi cứ mong ngóng có được ba ngày yên tĩnh. Đương nhiên là tôi chẳng có được chúng rồi.

Bức thư của ngày thứ ba mang đến cho tôi một bức thư vô cùng xấc láo từ một kẻ mà tôi hoàn toàn xa lạ. Hắn ta tự mô tả mình là đối tác hành xử thay mặt cho người đại diện pháp lý của chúng tôi—lão già cứng đầu đáng yêu Gilmore của chúng tôi—và hắn thông báo cho tôi hay rằng gần đây hắn đã nhận được qua đường bưu điện một bức thư gửi cho hắn bằng nét chữ của tiểu thư Halcombe. Khi mở phong bì ra, hắn đã phát hiện, trong sự kinh ngạc của mình, rằng nó chẳng chứa gì ngoài một tờ giấy trắng không đầu đề. Hoàn cảnh này đối với hắn có vẻ đáng ngờ đến mức (gợi ý cho cái đầu óc pháp lý không yên ổn của hắn rằng bức thư đã bị can thiệp chơi xỏ) hắn đã ngay lập tức viết thư cho tiểu thư Halcombe, và không nhận được bất kỳ câu trả lời nào khi thư hồi âm đến. Trong tình huống khó khăn này, thay vì hành xử như một kẻ có óc phán đoán và để mọi thứ diễn ra theo đúng guồng quay của nó, hành động ngớ ngẩn tiếp theo của hắn, theo lời kể của chính hắn, lại là làm phiền tôi bằng cách viết thư hỏi xem tôi có biết chút gì về chuyện đó không. Cái quái gì mà tôi phải biết về nó chứ? Sao lại đi khủng bố tôi cũng như khủng bố chính hắn cơ chứ? Tôi đã viết thư trả lời với nội dung y như vậy. Đó là một trong những bức thư sắc sảo nhất của tôi. Tôi chưa từng sản xuất ra được thứ gì có mép cạnh thư từ sắc bén hơn thế kể từ khi tôi trực tiếp đưa đơn sa thải bằng văn bản cho kẻ cực kỳ phiền phức đó, ngài Walter Hartright.

Bức thư của tôi đã tạo ra hiệu quả. Tôi không còn nghe tin gì từ tay luật sư đó nữa.

Điều này có lẽ không hẳn là hoàn toàn đáng ngạc nhiên. Nhưng quả thực là một hoàn cảnh đáng chú ý khi không có bức thư thứ hai nào từ Marian gửi đến tôi, và không có dấu hiệu cảnh báo nào xuất hiện về sự có mặt của cô ta. Sự vắng mặt bất ngờ của cô ta đã mang lại cho tôi những điều tuyệt vời đến ngạc nhiên. Thật là dễ chịu và êm đềm làm sao khi suy luận (như tôi tất nhiên đã làm) rằng đám người thân đã kết hôn của tôi đã làm lành lại với nhau rồi. Năm ngày trời yên biển lặng không bị quấy rầy, của sự độc thân diễm phúc tuyệt đối, đã phục hồi hoàn toàn cho tôi. Đến ngày thứ sáu, tôi cảm thấy đủ khỏe để cho gọi thợ chụp ảnh của mình tới, và bắt tay hắn làm việc trở lại với các bản in biếu tặng những báu vật nghệ thuật của mình, với mục đích, như tôi đã đề cập từ trước, là để nâng cao gu thẩm mỹ ở vùng quê dã man này. Tôi vừa mới tống khứ hắn về xưởng, và vừa mới bắt đầu tán tỉnh mấy đồng tiền xu của mình, thì Louis đột nhiên xuất hiện trên tay cầm một tấm danh thiếp.

“Lại một Người Trẻ tuổi nữa à?” tôi nói. “Ta không gặp đâu. Trong tình trạng sức khỏe của ta, mấy Người Trẻ tuổi toàn mang lại sự khó chịu. Không có nhà.”

“Lần này là một quý ông, thưa ngài.”

Một quý ông thì dĩ nhiên là tạo ra sự khác biệt rồi. Tôi nhìn vào tấm danh thiếp.

Chúa nhân từ ơi! Chồng ngoại quốc của mụ chị gái phiền phức nhà tôi, Bá tước Fosco.

Có cần thiết phải nói ấn tượng đầu tiên của tôi là gì khi nhìn vào tấm danh thiếp của vị khách không? Chắc chắn là không rồi! Chị tôi đã lấy chồng ngoại quốc, nên chỉ có duy nhất một ấn tượng mà bất kỳ người đàn ông nào còn tỉnh táo cũng có thể cảm nhận được. Tất nhiên là Bá tước đến để vay tiền tôi rồi.

“Louis,” tôi nói, “ngươi nghĩ hắn có chịu biến đi nếu ngươi cho hắn năm shilling không?”

Louis trông có vẻ hết sức sốc. Nó làm tôi ngạc nhiên đến tột cùng khi tuyên bố rằng chồng ngoại quốc của chị tôi ăn mặc lộng lẫy thượng hạng, và trông giống hệt một bức tranh của sự thịnh vượng. Trong những hoàn cảnh này, ấn tượng đầu tiên của tôi đã thay đổi ở một mức độ nào đó. Giờ thì tôi mặc nhiên cho rằng Bá tước đang gặp phải những khó khăn hôn nhân của chính hắn, và rằng hắn đã đến, giống như phần còn lại của gia đình, để trút tất cả chúng lên vai tôi.

“Hắn có đề cập đến mục đích chuyến đi không?” tôi hỏi.

“Bá tước Fosco nói rằng ngài ấy đến đây, thưa ngài, bởi vì tiểu thư Halcombe không thể rời khỏi Blackwater Park.”

Lại những rắc rối mới, có vẻ là vậy. Không hẳn là của riêng hắn như tôi từng phỏng đoán, mà là của Marian thân yêu. Dù sao thì cũng là rắc rối. Ôi trời ơi!

“Cho hắn vào đi,” tôi nói với vẻ cam chịu.

Lần xuất hiện đầu tiên của Bá tước thực sự làm tôi giật mình. Hắn ta là một gã to lớn đến mức đáng báo động khiến tôi run lẩy bẩy. Tôi chắc mẩm rằng hắn sẽ làm rung sàn nhà và đánh sập mấy báu vật nghệ thuật của tôi mất. Hắn chẳng làm điều này mà cũng chẳng làm điều kia. Hắn ăn mặc trang phục mùa hè một cách sảng khoái—phong thái của hắn điềm tĩnh và dễ chịu một cách thú vị—hắn có một nụ cười vô cùng quyến rũ. Ấn tượng đầu tiên của tôi về hắn là vô cùng thiện cảm. Việc thừa nhận điều này không làm vẻ vang gì cho sự tinh tường của tôi cả—như đoạn kết sẽ phơi bày—nhưng tôi là một người có bản tính bộc trực, và dẫu vậy tôi vẫn cứ thừa nhận nó.

“Cho phép tôi được tự giới thiệu, thưa ngài Fairlie,” hắn nói. “Tôi đến từ Blackwater Park, và tôi có vinh dự lẫn niềm hạnh phúc là chồng của phu nhân Fosco. Cho phép tôi được tận dụng lợi thế duy nhất và cuối cùng từ hoàn cảnh đó bằng cách khẩn khoản xin ngài đừng coi tôi như người xa lạ. Tôi cầu xin ngài đừng làm phiền bản thân—tôi cầu xin ngài đừng di chuyển.”

“Ngài thật quá tốt,” tôi đáp lời. “Ước gì tôi đủ khỏe để đứng dậy. Rất hân hạnh được đón tiếp ngài tại Limmeridge. Xin mời ngồi ghế.”

“Tôi e rằng hôm nay ngài đang phải chịu đựng đau đớn,” Bá tước nói.

“Như mọi khi thôi,” tôi nói. “Tôi chẳng là gì ngoài một búi dây thần kinh được mặc đồ cho giống hình người.”

“Tôi đã nghiên cứu nhiều đề tài trong đời mình,” kẻ đồng cảm này nhận xét. “Trong số đó có đề tài vô tận về dây thần kinh. Tôi có thể đưa ra một gợi ý, vừa đơn giản nhất lại vừa thấu đáo nhất được không? Ngài có phiền cho phép tôi thay đổi ánh sáng trong phòng này không?”

“Chắc chắn rồi—nếu ngài quá tử tế đến mức không để chút ánh sáng nào lọt vào người tôi.”

Hắn bước về phía cửa sổ. Thật là một sự tương phản với Marian thân yêu làm sao! cực kỳ chu đáo trong mọi cử động!

“Ánh sáng,” hắn nói, với cái giọng tâm tình đầy dễ chịu vốn rất xoa dịu cho một bệnh nhân, “là yếu tố cốt lõi đầu tiên. Ánh sáng kích thích, nuôi dưỡng, bảo tồn. Ngài không thể sống thiếu nó được đâu, thưa ngài Fairlie, chẳng khác nào ngài là một bông hoa vậy. Hãy quan sát đây. Ngay chỗ ngài ngồi này, tôi kéo sập các khung chớp lại để làm dịu tâm trí ngài. Còn ở đằng kia, nơi ngài không ngồi, tôi kéo rèm lên và thả ánh nắng đầy sinh khí vào. Hãy dung nạp ánh sáng vào phòng ngài nếu ngài không thể chịu đựng nó chiếu trực tiếp lên người mình. Ánh sáng, thưa ngài, là sắc lệnh tối cao của Đấng Tối Cao. Ngài chấp nhận Đấng Tối Cao với những giới hạn của riêng ngài. Hãy chấp nhận ánh sáng theo những điều kiện tương tự.”

Tôi nghĩ điều này rất có sức thuyết phục và rất ân cần. Hắn đã thuyết phục được tôi cho đến tận cái điểm nói về ánh sáng đó, hắn quả thực đã thuyết phục được tôi.

“Ngài thấy tôi đang bối rối,” hắn nói, quay trở lại chỗ ngồi—“xin lấy danh dự ra thề, thưa ngài Fairlie, ngài đang thấy tôi bối rối trước mặt ngài đây.”

“Tôi rất tiếc khi nghe điều đó. Tôi có thể hỏi lý do vì sao không?”

“Thưa ngài, liệu tôi có thể bước vào căn phòng này (nơi ngài đang ngồi chịu đựng bệnh tật), và nhìn thấy ngài vây quanh bởi những tác phẩm nghệ thuật đáng ngưỡng mộ này, mà không nhận ra rằng ngài là một người có cảm xúc vô cùng nhạy cảm, có sự đồng cảm luôn luôn sôi sục cơ chứ? Hãy nói cho tôi biết, liệu tôi có thể làm thế được sao?”

Nếu tôi đủ khỏe để ngồi dậy trên ghế, đương nhiên tôi đã cúi đầu chào rồi. Vì không đủ khỏe, tôi đarh mỉm cười thay cho lời biểu lộ lòng biết ơn. Làm thế cũng ổn chán, cả hai chúng tôi đều ngầm hiểu ý nhau.

“Xin hãy theo dõi dòng suy nghĩ của tôi,” Bá tước tiếp tục. “Tôi ngồi đây, bản thân cũng là một kẻ có sự đồng cảm tinh tế, ở trước mặt một người khác cũng có sự đồng cảm tinh tế không kém. Tôi ý thức được một sự cần thiết khủng khiếp phải xé nát những sự đồng cảm đó bằng cách đề cập đến những sự kiện gia đình mang tính chất vô cùng bi thảm. Hậu quả tất yếu là gì? Tôi đã vinh dự chỉ ra nó cho ngài rồi đấy. Tôi ngồi đây trong sự bối rối.”

Có phải đến điểm này là tôi bắt đầu nghi ngờ rằng hắn sắp sửa làm mình chán ngấy tới nơi không nhỉ? Tôi nghĩ là có đấy.

“Có hoàn toàn cần thiết phải đề cập đến những vấn đề khó chịu này không?” tôi hỏi. “Theo cách nói thông thường của người Anh chúng ta, thưa Bá tước Fosco, chúng không để lúc khác được sao?”

Bá tước, với vẻ trang nghiêm đáng sợ nhất, thở dài và lắc đầu.

“Tôi thực sự phải nghe chúng sao?”

Hắn nhún vai (đó là cử động mang tính ngoại quốc đầu tiên mà hắn làm kể từ khi bước vào phòng), và nhìn tôi với một ánh mắt soi mói khó chịu. Bản năng mách bảo tôi rằng tốt hơn hết là nên nhắm mắt lại. Tôi đã tuân theo bản năng của mình.

“Xin hãy nhẹ nhàng hé lộ thôi,” tôi nài nỉ. “Có ai chết chưa?”

“Chết!” Bá tước kêu lên, với vẻ hung dữ đậm chất ngoại quốc không cần thiết. “Thưa ngài Fairlie, sự điềm tĩnh mang tính quốc gia của ngài làm tôi khiếp sợ. Nhân danh Chúa, tôi đã nói hay làm cái gì khiến ngài nghĩ tôi là sứ giả của thần chết cơ chứ?”

“Xin hãy nhận cho lời cáo lỗi của tôi,” tôi đáp. “Ngài chẳng nói hay làm gì cả. Tôi đặt ra quy tắc trong những trường hợp đau buồn này là luôn luôn lường trước điều tồi tệ nhất. Nó làm giảm bớt đòn giáng bằng cách đối đầu với nó nửa đường, vân vân. Chắc chắn là vô cùng nhẹ nhõm khi nghe tin chẳng có ai chết cả. Có ai ốm không?”

Tôi mở mắt ra và nhìn hắn. Lúc bước vào trông hắn có vàng khè không, hay là hắn vừa chuyển sang màu vàng khè trong phút chốc vừa qua thế nhỉ? Tôi thực sự không thể nói nổi, và tôi cũng chẳng thể hỏi Louis, bởi vì nó không có mặt trong phòng vào lúc đó.

“Có ai ốm không?” tôi lặp lại, nhận thấy sự điềm tĩnh mang tính quốc gia của mình dường như vẫn làm ảnh hưởng đến hắn.

“Đó là một phần tin xấu của tôi, thưa ngài Fairlie. Vâng. Có người ốm.”

“Tôi rất lấy làm tiếc. Ai trong số họ vậy?”

“Đến nỗi buồn sâu sắc của tôi, đó là tiểu thư Halcombe. Có lẽ ngài đã phần nào chuẩn bị tinh thần để nghe điều này chăng? Có lẽ khi ngài nhận ra tiểu thư Halcombe không tự mình đến đây như ngài đã đề xuất, và không viết bức thư thứ hai, sự lo lắng đầy âu yếm của ngài đã khiến ngài sợ rằng cô ấy bị ốm chăng?”

Tôi không hoài nghi gì việc sự lo lắng đầy âu yếm của mình đã dẫn đến sự e sợ bi thảm đó vào lúc này hay lúc khác, nhưng ngay tại thời điểm đó, trí nhớ khốn khổ của tôi hoàn toàn thất bại trong việc nhắc nhở tôi về hoàn cảnh ấy. Dù sao thì, tôi vẫn nói có, để tự biện hộ cho chính mình. Tôi đã vô cùng sốc. Việc một kẻ cường tráng như Marian thân yêu lại bị ốm là một điều hoàn toàn không đúng với bản chất của cô ấy, nên tôi chỉ có thể cho rằng cô ấy đã gặp phải tai nạn nào đó. Một con ngựa, hoặc một cú hụt chân trên cầu thang, hay đại loại thế.

“Có nghiêm trọng không?” tôi hỏi.

“Nghiêm trọng—không còn nghi ngờ gì nữa,” hắn đáp. “Nguy hiểm—tôi hy vọng và cầu mong là không. Thật bất hạnh khi tiểu thư Halcombe đã phơi mình để cho cơn mưa lớn làm ướt sũng người. Trận cảm lạnh theo sau đó thuộc loại trở nặng, và giờ nó đã mang theo hậu quả tồi tệ nhất—chứng sốt.”

Khi tôi nghe thấy từ sốt, và khi tôi đồng thời nhớ ra rằng kẻ vô lại không có nguyên tắc đang đứng trước mặt tôi đây vừa mới từ Blackwater Park đến, tôi nghĩ mình suýt ngất lịm ngay tại chỗ.

“Lạy Chúa tôi!” tôi nói. “Nó có lây không?”

“Hiện tại thì chưa,” hắn đáp, với sự điềm tĩnh đáng ghét. “Nó có thể chuyển thành lây nhiễm—nhưng chưa hề có biến chứng đáng tiếc nào như thế xảy ra khi tôi rời khỏi Blackwater Park. Tôi đã cảm thấy sự quan tâm sâu sắc nhất đối với ca bệnh này—tôi đã nỗ lực hỗ trợ vị bác sĩ thường trực trong việc theo dõi nó—xin ngài hãy nhận những bảo đảm cá nhân của tôi về tính chất không lây nhiễm của cơn sốt vào lần cuối cùng tôi nhìn thấy nó.”

Nhận những bảo đảm của hắn ư! Chưa bao giờ trong đời tôi lại ở xa cái ý định chấp nhận điều gì đến thế. Tôi đời nào thèm tin hắn cho dù hắn có mang thề thốt ra đi chăng nữa. Hắn quá vàng khè để có thể tin được. Trông hắn cứ như một ổ dịch bệnh Tây Ấn đi bằng hai chân ấy. Hắn to lớn đến mức đủ sức mang theo bệnh thương hàn theo tấn, và làm nhuốm đỏ chính tấm thảm hắn đang dẫm lên bằng bệnh sốt đỏ. Trong một số tình huống khẩn cấp, tâm trí tôi được quyết định cực kỳ nhanh chóng. Tôi lập tức quyết định tống khứ hắn đi cho khuất mắt.

“Xin ngài lượng thứ cho một bệnh nhân,” tôi nói—“nhưng những cuộc hội dài dòng dưới bất kỳ hình thức nào luôn luôn làm tôi suy sụp. Tôi xin phép được hỏi chính xác mục đích nào đã mang lại cho tôi vinh dự đón tiếp chuyến viếng thăm của ngài vậy?”

Tôi tha thiết hy vọng rằng lời ám chỉ rõ mồn một này sẽ đánh bật hắn khỏi sự thăng bằng—làm hắn bối rối—khiến hắn phải đưa ra những lời cáo lỗi lịch sự—nói tóm lại là cút xéo khỏi phòng. Ngược lại, nó chỉ càng làm hắn bám chặt lấy chiếc ghế của mình hơn. Hắn càng trở nên nghiêm trang, đường bối và tâm tình hơn nữa. Hắn giơ hai ngón tay gớm ghiếc của mình lên và tặng cho tôi thêm một cái nhìn soi mói khó chịu nữa. Tôi phải làm sao đây? Tôi không đủ sức khỏe để cãi nhau với hắn. Xin hãy tưởng tượng hoàn cảnh của tôi xem nào. Liệu ngôn từ có đủ để miêu tả nó không? Tôi nghĩ là không.

“Mục đích chuyến viếng thăm của tôi,” hắn tiếp tục, hoàn toàn không sao cản lại được, “được đếm trên những ngón tay của tôi. Chúng có hai mục đích. Thứ nhất, tôi đến để mang lại lời làm chứng của mình, với nỗi buồn sâu sắc, về những sự bất hòa đáng tiếc giữa Sir Percival và phu nhân Glyde. Tôi là người bạn lâu năm nhất của Sir Percival—tôi có họ hàng với phu nhân Glyde qua đường hôn nhân—tôi là nhân chứng sống của tất cả những gì đã xảy ra tại Blackwater Park. Dưới ba tư cách đó, tôi dùng uy quyền, sự tự tin, và sự hối tiếc đầy danh dự để lên tiếng. Thưa ngài, tôi thông báo với ngài, với tư cách là người đứng đầu gia đình phu nhân Glyde, rằng tiểu thư Halcombe không hề phóng đại bất cứ điều gì trong bức thư mà cô ấy viết gửi tới địa chỉ của ngài. Tôi khẳng định rằng biện pháp mà người phụ nữ đáng ngưỡng mộ đó đề xuất là biện pháp duy nhất giúp ngài tránh khỏi sự kinh hoàng của vụ bê bối trước công chúng. Sự ly thân tạm thời giữa vợ và chồng là giải pháp hòa bình duy nhất cho khó khăn này. Hãy tách họ ra vào lúc này, và khi mọi nguyên nhân gây kích động được gỡ bỏ, tôi, kẻ hiện đang vinh dự được trò chuyện với ngài—tôi sẽ đứng ra đảm bảo đưa Sir Percival trở lại với lý trí. Phu nhân Glyde vô tội, phu nhân Glyde bị tổn thương, nhưng—hãy theo dõi suy nghĩ của tôi ở điểm này!—chính vì lý do đó (tôi nói điều này với sự hổ thẹn), cô ấy chính là nguyên nhân gây kích động khi cô ấy vẫn còn ở dưới mái nhà của chồng mình. Không một ngôi nhà nào khác có thể tiếp đón cô ấy một cách phù hợp ngoài nhà của ngài. Tôi mời ngài hãy mở rộng cửa đón lấy cô ấy.”

Thật là ngông cuồng. Một trận cuồng phong hôn nhân đang trút xuống miền Nam nước Anh, và tôi được mời chào, bởi một kẻ có mầm bệnh sốt trong từng nếp áo, bước ra từ miền Bắc nước Anh để đến gánh phần hứng chịu những trận đòn roi tơi tả đó. Tôi đã cố gắng đưa ra lập luận một cách mạnh mẽ, đúng như cách tôi vừa đặt nó ở đây. Bá tước thong thả hạ một trong những ngón tay gớm ghiếc của mình xuống, giữ ngón kia giơ lên, và tiếp tục—cán qua người tôi, có thể nói thế, mà thậm chí chẳng buồn thèm có cái sự chú ý tầm thường như một gã đánh xe ngựa là thét lên một tiếng “Tránh ra!” trước khi húc ngã tôi.

“Hãy theo dõi suy nghĩ của tôi thêm một lần nữa, nếu ngài không phiền,” hắn tiếp cuộc nói chuyện. “Mục đích thứ nhất của tôi, ngài đã được nghe rồi. Mục đích thứ hai của tôi khi đến ngôi nhà này là làm thay cho những việc mà căn bệnh của tiểu thư Halcombe đã ngăn cản cô ấy tự mình làm. Kinh nghiệm dày dặn của tôi luôn được thỉnh vấn trong mọi vấn đề khó khăn tại Blackwater Park, và lời khuyên thân thiện của tôi đã được thỉnh cầu về đề tài thú vị trong bức thư của ngài gửi cho tiểu thư Halcombe. Tôi đã hiểu ngay lập tức—bởi vì sự đồng cảm của tôi chính là sự đồng cảm của ngài—lý do vì sao ngài muốn gặp cô ấy ở đây trước khi ngài cam kết mời phu nhân Glyde tới. Ngài hoàn toàn đúng, thưa ngài, khi chần chừ không chịu tiếp đón người vợ cho đến khi ngài hoàn toàn chắc chắn rằng người chồng sẽ không dùng quyền lực của hắn để đòi lại cô ấy. Tôi đồng ý với điều đó. Tôi cũng đồng ý rằng những lời giải thích tế nhị như khó khăn này liên quan đến không phải là những lời giải thích có thể được giải quyết thỏa đáng chỉ bằng cách viết thư. Sự hiện diện của tôi ở đây (đến mức gây bất tiện lớn cho chính tôi) chính là bằng chứng cho thấy tôi nói năng chân thành. Còn về bản thân những lời giải thực tế, tôi—Fosco—tôi, kẻ hiểu rõ Sir Percival hơn nhiều so với việc tiểu thư Halcombe hiểu hắn, xin khẳng định với ngài, trên danh dự và lời hứa của mình, rằng hắn sẽ không bén mảng đến gần ngôi nhà này, hay tìm cách liên lạc với ngôi nhà này, chừng nào vợ hắn còn đang sống trong đó. Công việc làm ăn của hắn đang gặp khó khăn. Hãy trao cho hắn sự tự do thông qua sự vắng mặt của phu nhân Glyde. Tôi hứa với ngài hắn sẽ chớp lấy sự tự do đó, và quay trở lại lục địa vào thời điểm sớm nhất có thể tẩu thoát được. Điều này đã rõ ràng với ngài như pha lê chưa? Vâng, nó đã rõ rồi đấy. Ngài có câu hỏi nào muốn đặt ra cho tôi không? Cứ tự nhiên đi, tôi ở đây để trả lời mà. Xin hãy hỏi đi, thưa ngài Fairlie—làm ơn hãy hỏi cho đến khi thỏa mãn trái tim ngài đi.”

Hắn đã thốt ra quá nhiều điều bất chấp ý muốn của tôi, và hắn trông có vẻ vô cùng đáng sợ trong khả năng thốt ra thêm nhiều điều nữa cũng bất chấp ý muốn của tôi, đến nỗi tôi đành từ chối lời mời nhã nhặn của hắn thuần túy để tự vệ.

“Vô cùng cảm ơn,” tôi đáp. “Tôi đang chìm xuống rất nhanh. Trong tình trạng sức khỏe của tôi, tôi buộc phải mặc nhiên coi mọi thứ là thế. Cho phép tôi được làm vậy trong dịp này nhé. Chúng ta hoàn toàn hiểu nhau rồi. Vâng. Tôi chắc chắn rất biết ơn vì sự can thiệp tốt bụng của ngài. Nếu tôi có bao giờ khá hơn, và bao giờ có cơ hội thứ hai để trau dồi tình quen biết của chúng ta—”

Hắn đứng dậy. Tôi tưởng hắn sắp sửa biến rồi. Không. Lại thêm những lời nói, lại thêm thời gian để phát triển những ảnh hưởng lây nhiễm—lại còn ở trong phòng tôi nữa chứ—hãy nhớ lấy điều đó, ở trong phòng tôi đấy!

“Thêm một khoảnh khắc nữa thôi,” hắn nói, “một khoảnh khắc trước khi tôi cáo từ. Tôi xin phép trước lúc chia tay được nhấn mạnh vào một sự cấp thiết khẩn bách. Nó thế này, thưa ngài. Ngài không được phép nghĩ đến chuyện chờ đợi cho đến khi tiểu thư Halcombe bình phục rồi mới tiếp đón phu nhân Glyde. Tiểu thư Halcombe có sự chăm sóc của bác sĩ, của bà quản gia tại Blackwater Park, và của cả một y tá có kinh nghiệm nữa—ba con người mà về năng lực và lòng tận tụy của họ, tôi xin lấy mạng sống ra để bảo đảm. Tôi nói cho ngài biết điều đó. Tôi cũng nói cho ngài hay rằng sự lo lắng và hoảng hốt trước căn bệnh của người chị đã ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của phu nhân Glyde rồi, và khiến cô ấy hoàn toàn không còn đủ sức để có ích trong căn phòng bệnh tật nữa. Vị thế của cô ấy với chồng ngày càng trở nên bi thảm và nguy hiểm hơn qua từng ngày. Nếu ngài tiếp tục để cô ấy ở lại Blackwater Park lâu hơn nữa, ngài chẳng làm gì để thúc đẩy sự bình phục của chị cô ấy cả, và đồng thời, ngài còn mạo hiểm rước lấy vụ bê bối trước công chúng mà ngài và tôi, và tất cả chúng ta, đều bị buộc phải tránh vì những lợi ích thiêng liêng của gia đình. Bằng cả tâm hồn mình, tôi khuyên ngài hãy gỡ bỏ trách nhiệm nặng nề của sự chậm trễ ra khỏi đôi vai của chính mình bằng cách viết thư bảo phu nhân Glyde đến đây ngay lập tức. Hãy làm tròn bổn phận đầy tình cảm, đầy danh dự, không thể chối cãi của ngài, và bất kể điều gì xảy ra trong tương lai, sẽ chẳng ai có thể đổ lỗi lên đầu ngài được. Tôi nói từ kinh nghiệm dày dặn của mình—tôi đưa ra lời khuyên thân thiện của mình. Nó có được chấp nhận hay không—Có, hay Không?”

Tôi nhìn hắn—chỉ đơn thuần nhìn hắn—với cảm giác về sự cả gan đáng kinh ngạc của hắn, cùng với quyết tâm đang chớm nở trong tôi là bấm chuông gọi Louis tới và tống cổ hắn ra khỏi phòng được thể hiện rõ trên từng đường nét gương mặt tôi. Thật hoàn toàn khó tin, nhưng lại hoàn toàn có thật, là mặt tôi hình như chẳng hề tạo ra nổi mảy may ấn tượng nào lên hắn. Sinh ra vốn đã không có dây thần kinh—hiển nhiên là sinh ra vốn đã không có dây thần kinh.

“Ngài đang chần chừ ư?” hắn nói. “Thưa ngài Fairlie! Tôi hiểu sự chần chừ đó. Ngài phản đối rằng—hãy nhìn xem, thưa ngài, sự đồng cảm của tôi nhìn thấu tắp lự vào những suy nghĩ của ngài kìa!—ngài phản đối rằng phu nhân Glyde không đủ sức khỏe và tinh thần để tự mình thực hiện chuyến hành trình dài từ Hampshire đến nơi này. Hầu gái riêng của cô ấy đã bị tước khỏi cô ấy, như ngài đã biết, và những người hầu khác đủ điều kiện đi lại cùng cô ấy, từ đầu này đến đầu kia nước Anh, thì ở Blackwater Park chẳng có ai cả. Ngài lại phản đối rằng cô ấy không thể dừng chân thoải mái và nghỉ ngơi ở Luân Đôn trên đường đến đây, bởi vì cô ấy không thể một mình đến một khách sạn công cộng một cách thoải mái trong khi cô ấy là một kẻ hoàn toàn xa lạ ở đó. Trong một hơi thở, tôi chấp nhận cả hai sự phản đối đó—trong hơi thở tiếp theo, tôi xóa bỏ chúng. Xin hãy theo dõi tôi, đây là lần cuối cùng. Ý định của tôi, khi tôi trở lại nước Anh cùng Sir Percival, là định cư ở vùng phụ cận Luân Đôn. Mục đích đó vừa mới được hoàn thành một cách tốt đẹp. Tôi đã thuê, trong sáu tháng, một ngôi nhà nhỏ có đầy đủ đồ đạc ở khu phố gọi là St. John’s Wood. Xin ngài hãy lưu ý thực tế này trong đầu, và quan sát chương trình hành động mà tôi đề xuất lúc này. Phu nhân Glyde đi du lịch đến Luân Đôn (một chuyến đi ngắn)—chính tôi sẽ đón cô ấy ở ga tàu—tôi đưa cô ấy về nhà tôi để nghỉ ngơi và ngủ lại, đó cũng là ngôi nhà của dì cô ấy—khi cô ấy hồi sức, tôi lại tháp tùng cô ấy ra ga tàu—cô ấy đi đến nơi này, và hầu gái riêng của cô ấy (kẻ hiện đang ở dưới mái nhà của ngài) sẽ đón cô ấy ngay cửa xe ngựa. Ở đây sự thoải mái được chăm sóc—ở đây lợi ích của sự phép tắc được chăm sóc—ở đây bổn phận của chính ngài—bổn phận của lòng hiếu khách, sự đồng cảm, sự bảo vệ dành cho một người phụ nữ bất hạnh đang rất cần cả ba thứ đó—được dọn đường và làm cho suôn sẻ, từ đầu cho đến cuối. Tôi nồng nhiệt mời ngài, thưa ngài, hãy hưởng ứng những nỗ lực của tôi vì những lợi ích thiêng liêng của gia đình. Tôi nghiêm túc khuyên ngài hãy viết thư, qua đôi tay của tôi, ngỏ lời mời mọc lòng hiếu khách từ ngôi nhà (và trái tim) của ngài, và lòng hiếu khách từ ngôi nhà (và trái tim) của tôi, gửi đến người phụ nữ bị tổn thương và bất hạnh mà tôi đang đứng ra bào chữa cho ngày hôm nay.”

Hắn phẩy phẩy cái tay gớm ghiếc của mình về phía tôi—hắn đấm vào cái lồng ngực mang mầm bệnh của hắn—hắn nói năng hùng biện như thể tôi đang nằm nghỉ ngơi trong Hạ viện vậy. Đã đến lúc cấp bách phải áp dụng một biện pháp tuyệt vọng nào đó rồi. Đồng thời cũng đã đến lúc cấp bách phải gọi Louis tới, và áp dụng biện pháp phòng ngừa là xông hương khử trùng cho căn phòng.

Trong tình huống khẩn cấp đầy thử thách này, một ý tưởng chợt lóe lên trong đầu tôi—một ý tưởng vô giá, có thể nói là một mũi tên trúng hai đích phiền phức. Tôi quyết định sẽ tống khứ sự hùng biện phiền toái của Bá tước, cùng những rắc rối phiền toái của phu nhân Glyde, bằng cách chiều theo yêu cầu của gã ngoại quốc gớm ghiếc này và viết bức thư ngay tức khắc. Chẳng có lấy một nguy hiểm nhỏ nào việc lời mời sẽ được chấp nhận, bởi vì chẳng có lấy một cơ hội nhỏ nào việc Laura sẽ đồng ý rời khỏi Blackwater Park chừng nào Marian vẫn còn đang nằm ốm ở đó. Làm sao mà cái chướng ngại vật vô cùng tiện lợi này lại có thể lọt khỏi sự soi mói nhiều chuyện của Bá tước cơ chứ, thật là không tài nào tưởng tượng nổi—nhưng quả thực nó đã lọt qua mắt hắn. Nỗi sợ của tôi rằng hắn có lẽ vẫn sẽ phát hiện ra nó nếu tôi cho hắn thêm thời gian để suy nghĩ đã kích thích tôi đến mức kinh ngạc, khiến tôi oằn mình ngồi dậy—chộp lấy, thực sự chộp lấy, đống dụng cụ viết lược ở cạnh bên, và tạo ra bức thư nhanh chóng như thể tôi chỉ là một gã thư ký xoàng xĩnh trong văn phòng vậy. “Laura yêu dấu, Xin hãy đến bất cứ khi nào em muốn. Hãy chia nhỏ chặng hành trình bằng cách ngủ lại Luân Đôn tại nhà dì của em. Rất đau buồn khi nghe tin bệnh tình của Marian thân yêu. Thân ái gửi em.” Tôi trao những dòng này, ở khoảng cách một sải tay, cho Bá tước—tôi ngả người lửng lơ ngã quỵ trở lại ghế—tôi nói, “Xin lỗi ngài—tôi hoàn toàn suy sụp rồi—tôi không thể làm gì hơn được nữa. Ngài có muốn nghỉ ngơi và ăn trưa ở dưới nhà không? Gửi lời yêu thương đến tất cả, và sự đồng cảm, vân vân. Chào buổi sáng.”

Hắn lại làm một bài diễn văn nữa—gã đàn ông này quả thực là cạn kiệt nổi đâu mà cạn. Tôi nhắm mắt lại—tôi cố gắng nghe càng ít càng tốt. Bất chấp những cố gắng của tôi, tôi vẫn bị buộc phải nghe một lượng lớn những lời nhảm nhí. Chồng của chị tôi, kẻ chẳng biết điều là gì, chúc mừng chính hắn, và chúc mừng tôi, về kết quả của cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi—hắn đề cập dài dòng hơn nữa về sự đồng cảm của hắn và của tôi—hắn than vãn về sức khỏe thảm hại của tôi—hắn đề nghị kê cho tôi một đơn thuốc—hắn nhấn mạnh vào tai tôi sự cần thiết không được quên những gì hắn đã nói về tầm quan trọng của ánh sáng—hắn chấp nhận lời mời nhã nhặn của tôi ở lại nghỉ ngơi và ăn trưa—hắn khuyên tôi nên trông đợi phu nhân Glyde trong hai hoặc ba ngày tới—hắn cầu xin sự cho phép của tôi được hướng tầm nhìn mong đợi về cuộc gặp gỡ tiếp theo của chúng ta, thay vì làm tổn thương bản thân và làm tổn thương tôi bằng cách thốt lên lời chào tạm biệt—hắn nói thêm rất nhiều điều nữa mà tôi lấy làm mừng vì đã không thèm để tâm tới vào lúc đó, và giờ thì cũng chẳng nhớ nổi nữa. Tôi nghe thấy giọng nói đầy đồng cảm của hắn dịch chuyển rời xa tôi dần dần—nhưng dù to lớn nhường ấy, tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng bước chân của hắn. Hắn mang một ưu điểm phủ định là hoàn toàn không phát ra tiếng động. Tôi không biết lúc nào hắn mở cửa, hay lúc nào hắn đóng cửa lại. Tôi mạo hiểm sử dụng đôi mắt của mình trở lại, sau một khoảng thời gian im ắng—và hắn đã biến mất.

Tôi bấm chuông gọi Louis, và rút lui vào phòng tắm. Nước ấm pha chút giấm thơm dành cho bản thân tôi, cùng với việc xông khói khử trùng thật nồng nặc cho phòng nghiên cứu của tôi, là những biện pháp phòng ngừa hiển nhiên phải làm, và tôi tất nhiên đã áp dụng chúng. Tôi vô cùng sung sướng khi thấy chúng đã tỏ ra thành công. Tôi đã tận hưởng giấc ngủ trưa quen thuộc của mình.

Tôi thức dậy trong trạng thái ẩm ướt và mát mẻ.

Những câu hỏi đầu tiên của tôi là về Bá tước. Chúng ta đã thực sự tống khứ được hắn chưa? Rồi—hắn đã đi bằng chuyến tàu buổi chiều. Hắn đã ăn trưa chưa, và nếu có thì ăn món gì? Hoàn toàn chỉ ăn bánh tart trái cây và kem. Quả là một con người! Quả là một hệ tiêu hóa!

Tôi có bị kỳ vọng phải nói thêm điều gì nữa không? Tôi tin là không. Tôi tin rằng mình đã chạm tới những giới hạn được phân định cho tôi rồi. Những hoàn cảnh gây sốc xảy ra vào một thời điểm muộn hơn, ơn Chúa, đã không xảy ra trước mặt tôi. Tôi thực sự khẩn khoản nài xin không một ai lại vô cảm đến mức đổ bất kỳ phần trách nhiệm nào của những hoàn cảnh đó lên đầu tôi. Tôi đã làm mọi thứ vì những điều tốt đẹp nhất. Tôi không phải là kẻ chịu trách nhiệm cho một thảm họa đáng tiếc mà việc tiên tri trước là hoàn toàn bất khả thi. Tôi đã bị tàn phá bởi nó—tôi đã chịu đựng dưới sức nặng của nó, điều mà không một ai khác phải chịu đựng. Người hầu của tôi, Louis (kẻ thực sự gắn bó với tôi theo cái cách không mấy thông minh của nó), nghĩ rằng tôi sẽ chẳng bao giờ vượt qua nổi cú sốc này. Nó nhìn thấy tôi đang đọc cho viết vào khoảnh khắc này, với chiếc khăn tay áp vào đôi mắt. Tôi muốn nhắc lại, để tỏ sự công bằng với chính mình, rằng đó không phải là lỗi của tôi, và rằng tôi hoàn toàn kiệt sức và tan nát cõi lòng. Tôi có cần phải nói thêm nữa không?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Wilkie Collins

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.