Đời Sống Luân Đôn Và Những Truyện Khác

Lượt đọc: 63 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii

❊ ❊ ❊

Cuối cùng, ông cũng ngỏ lời về việc vẽ chân dung Đại tá: thời gian trong năm đã muộn – chẳng còn mấy chốc là đến lúc mọi người tản mác đi nơi khác. Ông bảo họ phải tận dụng tối đa thời gian này; điều quan trọng nhất là bắt tay vào việc; rồi đến mùa thu, khi cuộc sống ở Luân Đôn bắt đầu trở lại, họ có thể tiến xa hơn. Bà Capadose phản đối rằng bà thực sự không thể nhận thêm một món quà có giá trị lớn nhường ấy. Lyon từng tặng bà bức chân dung của chính bà ngày trước, và ông đã chứng kiến cảnh họ thiếu tế nhị thế nào với nó. Giờ đây, ông lại ngỏ ý muốn tặng bà kỷ vật tuyệt đẹp này về đứa trẻ – rõ ràng nó sẽ rất đẹp khi hoàn thành, nếu ông có thể làm vừa lòng chính mình; một báu vật vô giá mà họ sẽ trân trọng mãi mãi. Nhưng lòng hào phóng của ông phải dừng lại ở đó – họ không thể mang ơn ông nhiều đến thế. Họ không thể đặt vẽ bức tranh – chắc chắn ông hiểu điều đó mà không cần bà phải giải thích: đó là một thứ xa xỉ vượt ngoài tầm với của họ, bởi họ biết những bức tranh của ông có giá cao đến nhường nào. Hơn nữa, họ từng làm được gì – đặc biệt là bà từng làm gì – để ông phải ban ơn cho họ nhiều đến thế? Không, ông quá tốt bụng; Clement thực sự không thể làm mẫu được. Lyon lắng nghe bà không một lời phản đối, không một tiếng cắt ngang, trong khi vẫn cúi người miệt mài làm việc, và cuối cùng ông cất lời: "Thôi được, nếu bà không chịu nhận nó, sao không để ông ấy làm mẫu cho tôi vì niềm vui và lợi ích của chính tôi nhỉ? Hãy xem đó là một ân huệ, một việc tôi nhờ cậy ông ấy. Vẽ ông ấy sẽ mang lại cho tôi rất nhiều lợi ích và bức tranh sẽ vẫn nằm trong tay tôi."

"Lại mang lại cho ông nhiều lợi ích là sao chứ?" bà Capadose hỏi.

"Thì là, ông ấy là một mẫu vẽ hiếm có – một đề tài vô cùng thú vị. Khuôn mặt ông ấy thật biểu cảm. Nó sẽ dạy cho tôi khối điều hay."

"Biểu cảm về cái gì cơ?" bà Capadose nói.

"Thì là về bản chất của ông ấy."

"Và ông muốn vẽ cả bản chất của ông ấy nữa ư?"

"Dĩ nhiên rồi. Đó là những gì một bức chân dung lớn mang lại cho bạn, và tôi sẽ biến bức chân dung của Đại tá thành một tác phẩm vĩ đại. Nó sẽ đưa tên tuổi tôi lên một tầm cao mới. Thế nên bà thấy đấy, yêu cầu của tôi hoàn toàn có dụng ý vụ lợi đấy chứ."

"Làm thế nào mà ông có thể cao hơn vị trí hiện tại được cơ chứ?"

"Ồ, lòng tham của tôi là vô đáy! Xin bà hãy nhận lời đi," Lyon nói.

"Thôi được, bản chất của ông ấy rất cao thượng," bà Capadose nhận xét.

"À, cứ tin ở tôi, tôi sẽ lột tả được điều đó!" Lyon thốt lên, cảm thấy hơi hổ thẹn với chính mình.

Trước khi ra về, bà Capadose cho biết chồng bà có lẽ sẽ nhận lời mời của ông, nhưng bà nói thêm: "Sẽ chẳng có gì dụ dỗ được tôi để ông xâm nhập vào tâm can tôi theo cách đó đâu!"

"Ồ, riêng bà ấy à," Lyon cười lớn – "tôi có thể vẽ bà ngay cả trong bóng tối!"

Không lâu sau đó, Đại tá đã sắp xếp thời gian rảnh rỗi để họa sĩ tùy ý sử dụng và đến cuối tháng 7 đã đến thăm ông vài lần. Lyon không hề thất vọng, dù là về chất lượng của người làm mẫu hay về mức độ ông hòa hợp với hoàn cảnh; ông thực sự tự tin rằng mình sẽ tạo ra một tác phẩm tuyệt đẹp. Ông đang có hứng; ông say mê nguồn cảm hứng của mình và vô cùng hứng thú với thử thách đặt ra. Điểm duy nhất làm ông bận tâm là ý nghĩ rằng khi đem gửi bức tranh đến Viện Hàn lâm, ông sẽ không thể đơn giản đặt tên cho nó trong danh mục triển lãm là "Kẻ nói dối." Tuy nhiên, điều đó chẳng mấy quan trọng, bởi ông đã quyết định rằng tính cách này sẽ có thể nhận thức được ngay cả đối với trí tuệ tầm thường nhất – nổi trội hệt như cách nó hiện lên trong tâm trí ông khi đối diện với con người bằng xương bằng thịt. Vì ông chẳng nhìn thấy gì khác ở Đại tá vào lúc này, ông đành phó mặc cho niềm vui được vẽ chính điều đó. Ông không thể diễn giải nổi mình đã làm thế nào, nhưng ông có cảm giác rằng bí quyết để thực hiện nó cứ hiện về rành mạch mỗi khi ông ngồi xuống làm việc. Nó nằm trong đôi mắt và ở khóe môi, trong từng đường nét của khuôn mặt và từng dáng vẻ của tư thế, ở vết lúm trên cằm, ở cách mái tóc mọc, bộ râu mép được xoắn lại, nụ cười lúc đến lúc đi, hơi thở lúc dâng lúc trầm. Tóm lại, nó nằm ở cái cách ông nhìn đời bằng ánh mắt ngơ ngác đầy vẻ bịp bóm – cái cách mà ông sẽ mãi mãi nhìn đời như thế. Có khoảng nửa tá bức chân dung ở châu Âu được Lyon đánh giá là đỉnh cao; ông coi chúng là bất tử, bởi chúng được bảo quản hoàn hảo chừng nào thì lại được vẽ một cách tài hoa chừng nấy. Chính nhóm tác phẩm mẫu mực ít ỏi này là đích đến mà ông khao khát bức họa mình đang thực hiện có thể sánh vai cùng. Một trong những tác phẩm góp phần tạo nên nhóm đó chính là bức họa tuyệt mỹ vẽ Moroni tại Phòng trưng bày Quốc gia – chàng thợ may mặc áo khoác trắng, đang ngồi làm việc bên chiếc bàn cắt cùng chiếc kéo. Đại tá không phải là thợ may, và người mẫu của Moroni – không giống như nhiều thợ may khác – cũng chẳng phải kẻ nói dối; nhưng xét về sự minh bạch tài tình trong việc khắc họa cá tính con người thì tác phẩm của ông sẽ cùng chung một đẳng cấp ấy. Ông có được niềm hạnh phúc cảm nhận sự sống đang lớn dần, lớn dần dưới ngọn cù-lèo của mình ở mức độ mà hiếm khi nào trước đó ông có được. Hóa ra, Đại tá rất thích ngồi làm mẫu và ông thích trò chuyện trong suốt buổi ngồi: điều đó thật may mắn, bởi những lời nói của ông phần lớn tạo nên nguồn cảm hứng cho Lyon. Lyon đã đưa vào thực tế ý nghĩ khơi gợi ông ấy mà ông đã ấp ủ từ nhiều tuần nay: ông không thể có được mối quan hệ nào thuận lợi hơn với Đại tá cho mục đích này. Ông khích lệ, phỉnh phờ, kích động ông ấy, thể hiện một sự cả tin vô đáy, và những lúc duy nhất ông ngắt lời là khi Đại tá không hưởng ứng. Ông ấy cũng có những khoảng lặng, những giờ phút cạn kiệt ý tưởng, và khi ấy Lyon cảm thấy bức tranh cũng trở nên ủ rũ theo. Người bạn đồng hành của ông bay bổng đến đâu, thực hiện bao nhiêu vòng lượn trên bầu trời xanh bao nhiêu, thì ông vẽ càng đẹp bấy nhiêu; ông chỉ ước chi những chuyến bay đó kéo dài mãi. Ông thúc giục mỗi khi đối phương chùng xuống; đôi lúc nỗi lo sợ dâng trào trong ông rằng Đại thế sẽ phát hiện ra mưu đồ của mình. Nhưng rõ ràng là ông ấy chưa từng nhận ra; ông ấy tắm mình và nở rộ trong thứ ánh sáng dịu êm, đều đặn từ sự chú ý của người họa sĩ. Cứ thế, bức tranh lớn lên rất nhanh; thật đáng kinh ngạc khi công việc ấy lại ngắn ngủi đến vậy so với bức chân dung cô bé. Đến ngày mùng 5 tháng 8, bức tranh đã hoàn thành kha khá: đó là ngày ngồi làm mẫu cuối cùng mà Đại tá có thể sắp xếp vào thời điểm này, vì ông sẽ rời thành phố vào ngày hôm sau cùng vợ. Lyon hoàn toàn mãn nguyện – ông nhìn rõ hướng đi của mình: ông có thể tự do hoàn thành những phần còn lại bất cứ lúc nào thuận tiện, có hoặc không có sự hiện diện của người bạn. Dù sao đi nữa, vì không có gì vội vã, ông sẽ cứ để đó cho đến khi chính ông trở lại Luân Đôn vào tháng 11, khi ấy ông sẽ quay lại với một cái nhìn tươi mới hơn. Khi Đại tá hỏi liệu vợ mình có thể đến xem tranh vào ngày hôm sau nếu bà tìm được chút thời gian – vì đó là mong mỏi tha thiết của bà – Lyon đã khẩn khoản xin bà hãy đợi thêm một chút: ông vẫn chưa thể vừa lòng chút nào. Đây là sự lặp lại của lời đề nghị mà bà Capadose từng đưa ra trong lần ghé thăm trước, và khi ấy ông cũng đã xin khất lại – tuyên bố rằng bản thân hoàn toàn chưa vừa lòng. Thực chất ông đang vô cùng phấn khích, và ông lại thấy hơi hổ thẹn với chính mình.

Đến ngày mùng 5 tháng 8, thời tiết rất oi ả, và vào ngày hôm ấy, trong lúc Đại tá ngồi thẳng người và huyên thoảo chuyện trò, Lyon đã mở một cánh cửa nhỏ thông thẳng từ phòng vẽ ra khu vườn để thông gió – cửa này đôi khi được dùng làm lối ra vào cho người mẫu và khách ghé thăm bình thường, cũng như lối đi cho các khung vải, khung tranh, thùng đóng hàng và các dụng cụ nghề nghiệp khác. Lối vào chính đi qua ngôi nhà và các căn hộ của riêng ông, và lối tiếp cận này mang lại hiệu quả thú vị là đưa bạn vào một phòng trưng bày cao trước tiên, từ đó một chiếc cầu thang xoắn ốc đầy vẻ đẹp nên thơ cho phép bạn bước xuống căn phòng rộng rãi, được trang hoàng lộng lẫy và bày biện đủ thứ. Cảnh quan của căn phòng này nhìn từ trên cao xuống, với tất cả những nét khéo léo nghệ thuật và các món đồ có giá trị mà Lyon đã sưu tầm, chưa từng thất bại trong việc khơi gợi những tiếng thốt lên đầy thích thú từ những ai bước vào phòng trưng bày. Lối đi từ phía vườn thì giản dị hơn, vừa thực tế hơn lại vừa kín đáo hơn. Cơ ngơi của Lyon ở St. John's Wood không rộng lớn gì, nhưng khi cánh cửa mở toang trong một ngày hè, nó hé lộ khung cảnh hoa lá cỏ cây, bạn ngửi thấy mùi hương ngọt ngào và nghe thấy tiếng chim hót. Vào buổi sáng đặc biệt này, cửa hông đã được một vị khách không báo trước tìm thấy rất tiện lợi: một người phụ nữ trẻ vừa đứng trong phòng trước khi Đại tá kịp nhận ra sự có mặt của cô, và ông đã nhìn thấy cô trước khi bạn ông kịp chú ý. Cô rất tĩnh lặng, và đưa mắt nhìn từ người đàn ông này sang người đàn ông khác. "Ôi trời, lại thêm một người nữa kìa!" Lyon thốt lên ngay khi ánh mắt ông vừa chạm vào cô. Quả thực, cô thuộc về một tầng lớp hơi phiền toái – những người mẫu đang tìm kiếm việc làm, và cô giải thích rằng mình đã đánh liều bước thẳng vào theo lối đó, bởi rất thường xuyên, khi cô đến tìm gặp các quý ông, đám gia nhân hay chơi trò quỷ quái, xua đuổi cô và không chịu vào xướng tên cô.

"Nhưng làm thế nào cô vào được trong vườn vậy?" Lyon hỏi.

"Cổng mở thưa ông – cổng dành cho người hầu ấy ạ. Chiếc xe chở thịt đang đậu ở đó."

"Lẽ ra người hàng thịt phải đóng cửa lại chứ," Lyon nói.

"Thế ra ông không cần tôi phải không thưa ông?" người phụ nữ tiếp lời.

Lyon tiếp tục công việc vẽ tranh; ban đầu ông ném cho cô một cái nhìn sắc lẹm, nhưng giờ thì ánh mắt ông chẳng buồn ghé đến cô nữa. Tuy nhiên, Đại tá lại chăm chú quan sát cô với vẻ hứng thú. Cô là một người mà khó lòng nói rằng khi còn trẻ thì trông cô già hay khi đã già thì trông cô lại trẻ; dẫu sao thì cô rõ ràng cũng đã đi qua không ít giông bão cuộc đời và có khuôn mặt ửng hồng nhưng chẳng hiểu sao lại hoàn toàn thiếu đi nét tươi tắn. Tuy nhiên, cô trông vẫn xinh xắn và thậm chí còn có vẻ như đã từng có thời làm người mẫu chuyên ngồi vẽ nước da. Cô đội một chiếc mũ gắn nhiều lông vũ, mặc chiếc áo đính đầy cườm đen, đeo găng tay đen dài viền vòng bạc, và mang đôi giày rất tệ. Có cái gì đó ở cô không hẳn giống một nữ gia sư thất nghiệp cũng chẳng hoàn toàn ra dáng một nữ diễn viên đang tìm vai diễn, mà mang hơi hướng của một nghề nghiệp dang dở hoặc thậm chí là một sự nghiệp tiêu tan. Trông cô khá nhếch nhác và lấm lem, và sau khi đứng trong phòng vài phút, bầu không khí – hoặc ít ra là khứu giác – bắt đầu nhận ra một luồng hơi men thoang thoảng nồng nặc mùi rượu. Cô phát âm chữ "h" không chuẩn, và khi Lyon cuối cùng cũng cảm ơn và bảo rằng ông không cần cô – ông không làm gì cần đến sự trợ giúp của cô cả – cô đáp lại với vẻ tổn thương: "Thưa ông, ai chẳng biết là ông 'đã từng' thuê tôi rồi!"

"Tôi không nhớ cô," Lyon đáp.

"Chà, tôi dám cá là những người xem tranh của ông thì có đấy! Tôi không có nhiều thời gian, nhưng cứ nghĩ là mình nên ghé qua xem sao."

"Tôi rất cảm ơn cô."

"Nếu bao giờ ông cần đến tôi, ông cứ gửi cho tôi một tấm bưu thiếp——"

"Tôi không bao giờ gửi bưu thiếp cả," Lyon nói.

"Ồ chà, tôi sẽ rất quý một bức thư riêng! Cứ gửi cho cô Geraldine, số nhà Mews, Sân thượng Mortimer, Notting 'ill——"

"Được rồi; tôi sẽ nhớ," Lyon nói.

Cô Geraldine vẫn nấn ná. "Tôi nghĩ mình cứ ghé qua thử vận may xem thế nào."

"Tôi e là mình không thể hứa trước điều gì đâu, tôi đang bận tối mặt với mấy bức chân dung," Lyon tiếp tục.

"Vâng; tôi thấy ông đang bận rồi. Ước gì tôi được ở vị trí của vị quý ông kia."

"Tôi e rằng trong trường hợp đó bức tranh trông sẽ chẳng giống tôi chút nào," Đại tá vừa cười vừa nói.

"Ồ, dĩ nhiên là nó không thể so sánh được rồi – trông sẽ không được 'đẹp trai' thế đâu! Nhưng mà tôi cực ghét mấy cái bức chân dung ấy chứ!" cô Geraldine tuyên bố. "Chúng cướp đi cơm áo gạo tiền của chúng tôi nhiều quá."

"Chà, có rất nhiều người không thể vẽ nổi chúng mà," Lyon an ủi gợi ý.

"Ồ, tôi đã từng làm mẫu cho những họa sĩ hàng đầu – và chỉ làm cho những người hàng đầu thôi nhé! Có khối kẻ chẳng làm được gì nên hồn nếu thiếu tôi."

"Tôi rất mừng vì cô đắt sô đến vậy." Lyon bắt đầu cảm thấy chán ngấy và nói thêm rằng ông sẽ không giữ cô lại nữa – ông sẽ gọi cô khi có việc cần.

"Thôi được; hãy nhớ địa chỉ là khu Mews nhé – thật đáng tiếc làm sao! Trông ông ngồi làm mẫu không có nghề bằng chúng tôi đâu!" cô Geraldine vừa nói vừa nhìn Đại tá. "Nếu ông có cần tôi, thưa ngài——"

"Cô làm anh ấy mất tập trung đấy; cô đang làm anh ấy lúng túng rồi," Lyon nói.

"Làm anh ấy lúng túng, ôi lạy chúa!" vị khách thốt lên kèm theo một tiếng cười tỏa ra ngào ngạt hương thơm. "Chắc là ông thích gửi bưu thiếp lắm phải không, hả?" cô tiếp tục quay sang nói với Đại tá; rồi cô lùi bước với dáng đi loạng choạng. Cô bước ra vườn theo lối cũ.

"Thật là kinh khủng – cô ta say xỉn rồi!" Lyon nói. Ông đang cắm cúi vẽ nhưng chợt ngẩng lên, khựng lại: cô Geraldine, ở ngay khung cửa đang mở, đã ngó đầu thụt vào.

"Vâng, tôi cực ghét nó – loại việc thế đấy!" cô kêu lên kèm theo tràng cười phá lên xác nhận lời tuyên bố của Lyon. Rồi cô biến mất.

"Loại việc gì cơ – cô ta có ý gì vậy?" Đại tá hỏi.

"Ồ, ý là chuyện tôi vẽ ông, trong khi lẽ ra tôi có thể vẽ cô ta."

"Và ông đã từng vẽ cô ta bao giờ chưa?"

"Chưa bao giờ trong đời; tôi chưa từng gặp cô ta. Cô ta nhầm lẫn hoàn toàn rồi."

Đại tá im lặng một lát; đoạn ông nhận xét: "Cô ta rất xinh – cách đây mười năm."

"Tôi dám cá là thế, nhưng cô ta hỏng hẳn rồi. Đối với tôi, chỉ hơi quá đà một chút thôi là hỏng bét; tôi chẳng thèm để tâm đến cô ta đâu."

"Anh bạn thân mến, cô ta không phải là người mẫu đâu," Đại tá vừa cười vừa nói.

"Hôm nay thì chắc chắn cô ta không xứng với cái tên đó rồi; nhưng cô ta từng là thế."

"Jamais de la vie! Tất cả chỉ là cái cớ thôi."

"Cái cớ?" Lyon vểnh tai lên – ông bắt đầu tự hỏi sắp có chuyện gì đây.

"Cô ta không cần ông – cô ta cần tôi."

"Tôi nhận thấy cô ta có để ý đến ông đấy. Cô ta muốn gì ở ông chứ?"

"Ồ, muốn chơi xỏ tôi một vố ấy mà. Cô ta ghét tôi – khối phụ nữ ghét tôi lắm. Cô ta đang rình rập tôi – cô ta bám theo tôi."

Lyon ngả người ra thành ghế – ông chẳng tin dù chỉ một từ. Ông càng cảm thấy thích thú hơn với điều đó và với phong thái rạng rỡ, thẳng thắn của Đại tá. Câu chuyện vừa nở rộ, thơm ngát ngay tại chỗ. "Ôi Đại tá thân mến!" ông lầm bầm, bày tỏ sự quan tâm và niềm thương cảm thân thiết.

"Tôi đã hơi bực mình khi cô ta bước vào – nhưng tôi không hề hoảng sợ," vị khách làm mẫu của ông tiếp tục.

"Nếu anh hoảng sợ thì anh đã che giấu rất giỏi đấy."

"À, khi một người đã trải qua những chuyện như tôi! Dù vậy, hôm nay tôi thú nhận là mình đã chuẩn bị tinh thần sẵn một nửa. Tôi đã thấy cô ta lảng vảng quanh đây – cô ta nắm rõ mọi di chuyển của tôi. Sáng nay cô ta ở gần nhà tôi – hẳn cô ta đã bám theo tôi."

"Nhưng rốt cuộc cô ta là ai mà lại trơ trẽn thế nhỉ?"

"Vâng, cô ta có bộ mặt dày đó chứ," Đại tá nói; "nhưng như ông nhận xét đấy, cô ta đã được 'lên dây cót' sẵn rồi. Mặc dù vậy, việc cô ta dám bước xộc vào quả là một sự trơ trẽn. Ồ, cô ta là một ả tồi tệ! Cô ta không phải người mẫu và chưa bao giờ là thế cả; không chừng cô ta quen biết vài người phụ nữ kiểu đó nên học đòi được cái điệu bộ ấy thôi. Cô ta từng bám lấy một người bạn của tôi mười năm về trước – một thằng ngốc nghếch cứ để mặc cho người ta vặt lông nhưng tôi vì lý do gia đình mà buộc phải quan tâm đến nó. Đó là một câu chuyện dài – tôi thực sự đã quên sạch sành sanh rồi. Cô ta ba mươi bảy tuổi đầu rồi đấy. Tôi đã nhúng tay vào và bắt nó tống cổ cô ta đi – tôi đã đuổi cổ ả. Cô ta biết chính tôi là người mang ơn đó. Cô ta chưa từng tha thứ cho tôi – tôi nghĩ cô ta bị điên rồi ấy chứ. Tên cô ta hoàn toàn không phải Geraldine và tôi rất nghi ngờ đó có phải địa chỉ nhà cô ta không."

"Ồ, thế tên cô ta là gì?" Lyon hỏi, vô cùng chăm chú. Các chi tiết luôn bắt đầu nhân lên, dồi dào hẳn lên một khi người bạn đồng hành của ông đã trôi chảy vào guồng – chúng tuôn ra như những tiểu đoàn.

"Là Pearson – Harriet Pearson; nhưng trước đây cô ta hay tự gọi mình là Grenadine – chẳng phải đó là một cái tên kỳ quặc sao? Grenadine – Geraldine – việc chuyển đổi thật dễ dàng." Lyon vô cùng thích thú trước câu trả lời nhanh chóng này, và người đối thoại với ông lại tiếp tục: "Tôi đã không nghĩ đến cô ta từ nhiều năm nay – tôi đã mất hút tin tức về cô ta hoàn toàn. Tôi không biết ý đồ của cô ta là gì, nhưng trên thực tế cô ta vô hại. Lúc bước vào đây, tôi cứ tưởng mình thoáng thấy cô ta ở đoạn đầu đường. Chắc cô ta đã dò ra việc tôi đến đây và đến trước tôi. Tôi dám cá – hay đúng hơn là tôi chắc chắn – cô ta đang đợi tôi ở ngoài đó ngay lúc này."

"Anh không định cần người bảo vệ đấy chứ?" Lyon vừa cười vừa hỏi.

"Sự bảo vệ tốt nhất là năm shilling – tôi sẵn sàng chi đến mức đó. Trừ phi cô ta mang theo một lọ axít vitriol. Nhưng bọn họ chỉ hắt axít vào những kẻ đã lừa dối họ thôi, còn tôi chưa bao giờ lừa dối cô ta – tôi đã nói với cô ta ngay lần đầu gặp mặt rằng chuyện đó không thể thành đâu. Ôi, nếu cô ta ở ngoài đó, chúng ta sẽ cùng đi một đoạn đường, vừa đi vừa bàn chuyện và, như tôi đã nói, tôi sẽ chi mạnh tay đến năm shilling."

"Được thôi," Lyon nói, "tôi sẽ đóng góp thêm năm shilling nữa." Ông cảm thấy số tiền này chẳng đáng là bao để đổi lấy màn giải trí này.

Tuy nhiên, màn giải trí đó đã bị gián đoạn vì Đại tá phải ra về. Lyon hy vọng sẽ nhận được một bức thư kể lại cái kết giả tưởng đó; nhưng rõ ràng vị khách rạng rỡ của ông không mấy mặn mà với việc cầm bút. Dù sao thì ông ta cũng rời thành phố mà không viết lứa gì; họ đã hẹn gặp lại nhau sau ba tháng nữa. Oliver Lyon luôn trải qua kỳ nghỉ theo cùng một cách; trong những tuần đầu, ông đến thăm người anh trai trưởng, người đang sở hữu một ngôi nhà cổ rộng thênh thang ở miền nam nước Anh với những khu vườn trang trọng mà ông vô cùng yêu thích, rồi sau đó ông ra nước ngoài – thường là đi Ý hoặc Tây Ban Nha. Năm nay ông vẫn duy trì thói quen đó sau khi ngắm nghía lại bức tranh gần như đã hoàn chỉnh của mình và cảm thấy hài lòng với nó chừng mực như mọi khi ông hài lòng với việc đôi tay chuyển tải ý tưởng – mà với ông, đó luôn là một sự thỏa hiệp đáng thương. Vào một buổi chiều vàng vòm trời miền quê, khi đang hút tẩu trên một trong những bậc thềm cổ kính, ông bỗng bị thôi thúc muốn ngắm lại bức tranh lần nữa và làm thêm hai ba nhát cọ: ông đã nghĩ về nó rất nhiều lần trong lúc thong thả ngồi đó. Sức mạnh của thôi thúc ấy quá lớn không thể gạt bỏ, và mặc dù ông dự định sẽ quay lại thành phố trong khoảng một tuần nữa, ông không thể chịu đựng được sự chậm trễ đó. Ngắm bức tranh trong năm phút là đủ – nó sẽ giải đáp một số thắc mắc đang vo ve trong đầu ông; thế nên sáng hôm sau, để tự thưởng cho mình sự xa xỉ đó, ông lên tàu về Luân Đôn. Ông không báo trước một tiếng nào; ông sẽ ăn trưa ở câu lạc bộ và có lẽ sẽ bắt chuyến tàu 5 giờ 45 để quay lại Sussex.

Ở St. John's Wood, nhịp sống con người chưa bao giờ trôi nhanh, và trong những ngày đầu tháng Chín, Lyon tìm thấy sự trống vắng tuyệt đối trên những con đường thẳng tắp ngập nắng, nơi những bức tường vườn trát vữa nhỏ bé với những cánh cửa khép kín mang vẻ hơi hướng phương Đông. Có một sự tĩnh lặng rõ rệt trong chính ngôi nhà của ông, nơi ông tự mở cửa bằng chìa khóa riêng với một lý lẽ rằng đôi khi nên đón tiếp bọn gia nhân khi chúng chưa kịp chuẩn bị. Tuy nhiên, người phụ nữ tốt bụng phụ trách chính công việc nhà – người kiêm nhiệm cả hai vai trò đầu bếp lẫn quản gia – đã nhanh chóng xuất hiện bởi bước chân của ông, và (ông vốn nuôi dưỡng sự cởi mở trong giao tiếp với người làm) đón tiếp ông mà không hề có vẻ lú lẫn vì bất ngờ. Ông bảo bà ấy không cần bận tâm việc nhà cửa chưa được ngăn nắp gọn gàng, ông chỉ ghé lên vài tiếng – ông sẽ bận rộn trong phòng vẽ. Đáp lại điều này, bà ấy bảo ông vừa về đúng lúc để gặp một quý bà và một quý ông đang có mặt ở đó lúc này – họ vừa đến cách đó năm phút. Bà đã bảo họ rằng ông vắng nhà nhưng họ nói không sao cả; họ chỉ muốn xem tranh và sẽ vô cùng cẩn thận với mọi thứ. "Tôi hy vọng mọi chuyện đều ổn, thưa ông," bà quản gia kết luận. "Vị quý ông nói ông ấy là người mẫu và đã để lại tên – một cái tên khá kỳ lạ; tôi nghĩ là tên trong quân ngũ. Vị quý bà là một phu nhân rất sang trọng, thưa ông; dù sao thì họ đang ở đó."

"Ồ, không sao đâu," Lyon nói, nhận diện được vị khách của mình. Người phụ nữ tốt bụng không thể biết được, bởi bà hiếm khi phải bận tâm đến chuyện khách khứa ra vào; người hầu nam của ông – người chuyên dắt khách ra vào – đã đi cùng ông về quê. Ông rất đỗi ngạc nhiên khi bà Capadose lại đến xem chân dung chồng mình trong khi biết rõ chính người họa sĩ không muốn bà làm thế; nhưng một sự thật quen thuộc đối với ông là bà là một phụ nữ có cá tính mạnh mẽ. Hơn nữa, biết đâu vị phu nhân đó không phải là bà Capadose; Đại tá có thể đã dẫn theo một người bạn tò mò nào đó, một kẻ muốn vẽ chân dung chồng mình. Dù sao thì, họ làm gì ở thành phố vào lúc này cơ chứ? Lyon đi về phía phòng vẽ với một sự tò mò nhất định; ông thầm tự hỏi những người bạn của mình đang 'giở trò gì'. Ông vén tấm màn nhung treo ở cửa thông nhau – cánh cửa mở ra phòng trưng bày mà người ta thấy thuận tiện xây thêm vào thời điểm phòng vẽ được cất nối vào nhà. Khi tôi nói ông vén nó lên, tôi nên đính chính lại câu văn của mình; ông đặt tay lên tấm màn, nhưng đúng lúc đó ông bị khựng lại bởi một âm thanh vô cùng kỳ lạ. Nó phát ra từ sàn căn phòng bên dưới và làm ông giật mình thon thót, thoạt nghe dường như là một tiếng khóc nghẹn ngào đầy thống thiết – một dạng tiếng thét bị nén lại – đi kèm với một đợt nức nở nghẹn ngào dữ dội. Oliver Lyon chăm chú lắng nghe trong giây lát, rồi ông bước ra ban công được phủ một tấm thảm Moorish dày cũ kỹ. Bước chân ông không một tiếng động, dù ông chẳng hề cố tình làm thế, và sau khoảnh khắc ban đầu ấy, ông thấy mình không tài nào cưỡng lại được việc tận dụng sự tình cờ là mình đã không thu hút sự chú ý của hai con người trong phòng vẽ đang đứng thấp hơn ông khoảng hai mươi thước. Thật ra họ đang bị cuốn vào một việc gì đó vô cùng sâu sắc và kỳ lạ đến mức sự thiếu ý thức về việc đang bị quan sát đã được giải thích rõ. Cảnh tượng diễn ra trước mắt Lyon là một trong những cảnh tượng kỳ lạ nhất mà ông từng chứng kiến. Sự tế nhị và việc không tài nào hiểu nổi đã giữ chân ông lại, không cho ông ngắt lời ngay từ đầu – bởi cái mà ông nhìn thấy là một người phụ nữ đã ngả người khóc nức nở vào bầu ngực của người bạn đời – và những cảm xúc ấy ngay sau đó (chỉ vỏn vẹn vài phút và rất ngắn ngủi) đã được thay thế bằng một động cơ rõ ràng, hiện tại có đủ sức mạnh khiến ông lùi hẳn lại sau tấm màn. Tôi xin nói thêm rằng nó cũng đủ sức mạnh khiến ông tận dụng khe hở do việc túm gọn hai cánh màn cửa lại để tiếp tục quan sát. Ông hoàn toàn ý thức được việc mình đang làm – lúc này ông chẳng khác nào một kẻ nghe lén, một tên thám tử; nhưng ông cũng ý thức được rằng một vụ việc rất kỳ quặc, nơi lòng tin của ông bị đem ra đùa cỡt, đang diễn ra, và dẫu xét theo một khía cạnh nào đó thì nó không liên quan đến ông, nhưng ở một khía cạnh khác thì nó lại liên quan cực kỳ mật thiết. Mọi sự quan sát và ngẫm nghĩ của ông diễn ra chỉ trong chớp mắt.

Những vị khách của ông đang đứng giữa phòng; bà Capadose bấu víu lấy chồng, nức nở, khóc lóc như thể trái tim đã vỡ vụn. Nỗi đau khổ của bà thật kinh khủng đối với Oliver Lyon, nhưng sự kinh ngạc của ông còn lớn hơn cả sự kinh khủng khi nghe Đại tá đáp lại điều đó bằng những từ thốt lên đầy phẫn nộ: "Đồ khốn, đồ khốn, đồ khốn kiếp!" Chuyện quái quỷ gì đã xảy ra vậy? Tại sao bà lại khóc lóc và ông ta đang nguyền rủa ai chứ? Điều đã xảy ra, như Lyon thấy ngay khoảnh khắc tiếp theo, là Đại tá cuối cùng đã lục tung tìm ra bức chân dung dở dang của mình (ông biết góc phòng mà người họa sĩ thường cất nó đi, úp mặt vào tường) và dựng nó lên trước mặt vợ mình trên một chiếc giá vẽ trống. Bà đã nhìn nó vài phút và rồi – hiển nhiên là thế – những gì bà nhìn thấy trong đó đã tạo ra một sự bùng nổ của nỗi hoảng hốt và phẫn nộ. Bà quá bận khóc lóc còn Đại tá thì quá bận ôm lấy vợ và lặp đi lặp lại những lời nguyền rủa, đến mức chẳng buồn ngoái đầu hay ngước nhìn lên. Cảnh tượng quá bất ngờ đối với Lyon khiến ông không thể ngay lập tức nhìn nhận đó là minh chứng cho sự thành công vang dội của đôi tay mình – một cú hit chấn động: ông chỉ có thể tự hỏi chuyện quái quỷ gì đang xảy ra trên đời này không biết. Ý nghĩ về sự thành công đến muộn hơn một chút. Dù vậy, ông vẫn có thể nhìn thấy bức chân dung từ vị trí của mình; ông giật mình trước vẻ sống động của nó – ông không ngờ nó lại đạt đến độ tài tình nhường ấy. Bà Capadose vùng vẫy ra khỏi vòng tay chồng – bà ngã sụp xuống chiếc ghế gần nhất, vùi mặt vào hay tay gục xuống bàn. Tiếng khóc của bà đột ngột ngưng bặt thành tiếng, nhưng cô vẫn run lẩy bẩy ở đó như thể bị đè nặng bởi nỗi thống khổ và sự hổ thẹn. Chồng cô đứng sững lại trong giây lát nhìn chằm chằm vào bức tranh; rồi ông tiến đến bên bà, cúi người xuống, ôm lấy bà lần nữa, dỗ dành. "Có chuyện gì thế em yêu, chuyện quái quỷ gì thế này?" ông gặng hỏi.

Lyon nghe thấy tiếng bà đáp. "Thật tàn nhẫn – ôi, quá tàn nhẫn!"

"Đồ khốn – đồ khốn – đồ khốn kiếp!" Đại tá lặp lại.

Bà Capadose lại tiếp lời: "Nó phơi bày tất cả rồi – tất cả đều ở đó rồi!"

"Chết tiệt, cái quái gì ở đó cơ chứ?"

"Mọi thứ không nên có – mọi thứ ông ta đã nhìn thấy – thật quá sức khủng khiếp!"

"Mọi thứ ông ta nhìn thấy? Chứ anh không phải là một anh chàng ưa nhìn à? Ông ta vẽ anh trông khá đẹp trai cơ mà."

Bà Capadose đã chồm dậy; bà lại ném thêm một cái nhìn sắc lạnh vào sự phản bội được phác họa trên tranh. "Đẹp trai á? Gớm ghiếc, gớm ghiếc! Không đời nào – không bao giờ, không bao giờ!"

"Nhân danh Chúa, không phải cái gì cơ?" Đại tá gần như hét lên. Lyon có thể nhìn thấy khuôn mặt đang đỏ bừng, bối rối của ông ta.

"Những gì ông ta vẽ về anh – những gì anh thừa biết! Ông ta biết – ông ta đã nhìn thấy. Mọi người sẽ biết – mọi người sẽ nhìn thấy. Thử tưởng tượng cái thứ đó bày ở Viện Hàn lâm xem!"

"Em điên mất rồi cưng ạ; nhưng nếu em ghét nó thế thì chúng ta không đem đi nữa."

"Ồ, ông ta sẽ gửi nó đi thôi – nó quá hoàn hảo mà! Đi thôi – đi nào!" bà Capadose vừa khóc lóc vừa kéo chồng đi.

"Nó quá hoàn hảo á?" tội nghiệp người đàn ông thốt lên.

"Đi nào – đi thôi," bà chỉ lặp đi lặp lại bấy nhiêu; rồi quay người hướng về phía cầu thang dẫn lên phòng trưng bày.

Lyon nghe thấy Đại tá phản đối: "Đừng đi lối đó – đừng đi qua nhà trong cái tình trạng thế này của em. Lối này – chúng ta có thể qua," ông nói thêm; và kéo vợ về phía cánh cửa nhỏ mở ra khu vườn. Cánh cửa bị chốt, nhưng ông đẩy chốt và mở toang cửa. Bà bước ra ngoài rất nhanh, nhưng ông vẫn đứng đó nhìn ngược lại vào trong phòng. "Đợi anh một lát!" ông gọi giật lại với vợ; và với những sải bước đầy kích động, ông bước ngược trở lại phòng vẽ. Ông lại tiến đến sát bức tranh, một lần nữa đứng ngắm nghía nó. "Đồ khốn – đồ khốn – đồ khốn kiếp!" ông lại gầm lên lần nữa. Lyon không rõ lời nguyền rủa này nhắm vào nguyên mẫu hay người họa sĩ vẽ chân dung. Đại tá quay phắt đi, rảo bước nhanh quanh phòng như thể đang tìm kiếm thứ gì đó; trong giây lát Lyon không tài nào đoán được ý định của ông ta. Rồi người họa sĩ tự nhủ thầm trong cổ họng: "Hắn định phá hoại nó kìa!" Bản năng đầu tiên của ông là lao xuống ngăn lại; nhưng ông khựng lại, khi tiếng nức nở của Everina Brant vẫn văng vẳng bên tai. Đại tá đã tìm thấy thứ mình muốn – tìm thấy nó giữa đám đồ lặt vặt trên chiếc bàn nhỏ và lao ngược lại với nó về phía giá vẽ. Ngay trong một khoảnh khắc, Lyon nhận ra vật mà ông ta vừa vớ lấy là một con dao găm nhỏ phương Đông và ông ta đã đâm phập nó vào bức tranh. Ông ta trông như bị một cơn thịnh nộ bất chợt cuồng nộ chi phối, vì với lực tay cực mạnh, ông ta kéo giật lưỡi dao xuống (Lyon biết rõ nó chẳng bén nhọt gì cho cam) tạo ra một vết rách dài gớm ghiếc. Rồi ông ta rút dao ra và đâm phập nó thêm mấy nhát nữa vào khuôn mặt của bức chân dung, hệt như thể ông ta đang đâm một nạn nhân bằng xương bằng thịt: nó mang lại một hiệu ứng kỳ lạ nhất – giống như một kiểu tự sát mang tính biểu tượng. Chỉ vài giây sau, Đại tá đã vứt phăng con dao đi – khi ném, ông ta còn liếc nhìn nó như thể sợ nó dính đầy máu – rồi hối hả chuồn khỏi căn phòng, đóng sầm cửa lại phía sau.

Điều kỳ lạ nhất trong tất cả – như có lẽ sẽ hiển hiện – là Oliver Lyon chẳng hề có động thái nào để cứu lấy bức tranh của mình. Nhưng ông không có cảm giác như mình đang đánh mất nó hay chẳng màng nếu có mất thật, bởi ông càng cảm thấy rõ ràng hơn rằng mình đang giành được một sự chắc chắn. Người bạn cũ của ông cảm thấy xấu hổ về chồng mình, và chính ông đã khiến bà ấy cảm thấy như vậy, và ông đã ghi được một thắng lợi vang dội, dẫu cho bức tranh đã bị xé rách tả tơi. Khải thị đó kích thích ông đến mức – quả thực là toàn bộ cảnh tượng ấy cũng vậy – khi ông bước xuống bậc thang sau khi Đại tá đã rời đi, ông run rẩy vì niềm xúc động hạnh phúc; ông hoa mắt chóng mặt đến mức phải ngồi xuống một lát. Bức chân dung chi chít hàng tá vết thương nham nhở – Đại tá thực sự đã băm vằm nó đến chết. Lyon cứ để mặc nó ở đó, chưa bao giờ chạm vào, thậm chí chẳng thèm nhìn lấy một cái; ông chỉ đi qua đi lại trong phòng vẽ, vẫn đầy phấn khích, suốt một tiếng đồng hồ. Đến cuối khoảng thời gian đó, bà quản gia tốt bụng bước vào khuyên ông nên ăn chút gì đó; có một lối đi phía dưới gầm cầu thang dẫn từ khu vực phụ ra.

"À, quý bà và quý ông đã về rồi thưa ông? Tôi không nghe thấy họ đi."

"Ừ; họ đi bằng lối vườn."

Nhưng bà đứng khựng lại, trân trân nhìn vào bức tranh trên giá vẽ. "Lạy Chúa, sao ông lại ra tay tàn nhẫn với nó thế hả thưa ông!"

Lyon bắt chước theo Đại tá. "Ừ, tôi cắt nát nó ra – trong một phút tức giận."

"Trời ạ, sau bao nhiêu công sức của ông! Chỉ vì họ không vừa lòng hả ông?"

"Đúng vậy; họ không vừa lòng."

"Chà, chắc họ phải cao sang lắm đấy! Có chết tôi cũng chẳng đời nào làm thế!"

"Cứ băm nhỏ nó ra; dùng để nhóm lò được đấy," Lyon nói.

Ông quay lại vùng quê bằng chuyến tàu 3 giờ 30 và vài ngày sau thì sang Pháp. Trong suốt hai tháng vắng bóng ở nước Anh, ông ngóng chờ điều gì đó – dù khó mà nói chính xác là điều gì; một biểu hiện nào đó từ phía Đại tá. Chẳng lẽ ông ta không viết thư, không giải thích, không mặc nhiên cho rằng Lyon đã phát hiện ra cái cách mà – như lời mụ đầu bếp đã nói – ông ta đối xử với bức tranh và thấy rằng ít nhất cũng nên tỏ chút lòng trắc ẩn nào đó đối với sự hoang mang của ông hay sao? Liệu ông ta sẽ nhận tội hay sẽ chối bay chối biến đây? Con đường thứ hai sẽ rất khó khăn và đòi hỏi sự vận dụng tài năng đáng kể, xét đến lời khai chắc như đinh đóng cột của quản gia nhà Lyon – người đã đón tiếp các vị khách và sẽ xác lập mối liên hệ giữa sự hiện diện của họ với hành vi bạo lực đã xảy ra. Liệu Đại tá có đưa ra lời xin lỗi hay sự đền bù nào không, hay bất kỳ lời nào từ phía ông ta cũng chỉ là sự thể hiện tiếp theo của cái bản tính bốc đồng đầy phá hoại mà bạn của chúng ta đã chứng kiến vợ ông ta truyền sang ông ta một cách vô cùng bất ngờ và mạnh mẽ? Ông ta sẽ buộc phải tuyên bố rằng mình không hề chạm tay vào bức tranh hoặc thừa nhận chính mình đã làm, và trong cả hai trường hợp, ông ta đều phải thêu dệt nên một câu chuyện hay ho. Lyon rất nóng lòng chờ đợi câu chuyện đó và, khi chẳng có bức thư nào được gửi tới, ông cảm thấy hụt hẫng vì nó không thành hiện thực. Tuy nhiên, sự nóng lòng của ông còn lớn hơn rất nhiều đối với phiên bản của bà Capadose, nếu như có phiên bản nào đó được đưa ra; bởi chắc chắn đó sẽ là bài kiểm tra thực sự, sẽ cho thấy bà ấy sẵn sàng tiến xa đến mức nào vì chồng, một bên, hay vì ông – Oliver Lyon – bên kia. Ông dường như không thể chờ đợi được lâu hơn để xem bà sẽ đứng về phía nào; liệu bà có đơn giản là hùa theo phía Đại tá, bất kể đó là gì đi nữa. Ông muốn khơi gợi bà mà không cần phải chờ đợi lâu, để có sẵn một ý niệm trước. Ông đã viết thư cho bà từ Venice, bằng giọng điệu quen thuộc của tình bạn lâu năm, hỏi thăm tin tức, kể lể về những chuyến đi, hy vọng họ sẽ sớm gặp nhau ở Luân Đôn và không thỏ thẻ nửa lời về bức tranh. Ngày lại ngày trôi qua sau khoảng thời gian đó, và ông chẳng nhận được hồi âm nào; nhân đó ông ngẫm nghĩ rằng bà không dám tin tưởng chính mình để viết thư – vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi cảm xúc do sự "phản bội" của ông gây ra. Chồng bà đã đồng lòng với cảm xúc ấy và bà cũng đã đồng lòng với hành động mà ông ta thực hiện bắt nguồn từ đó, và thế là mối quan hệ hoàn toàn rạn nứt để rồi mọi thứ chấm dứt. Lyon ngẫm nghĩ về viễn cảnh này với vẻ khá rầu rĩ, đồng thời ông cũng thấy thật đáng tiếc khi những con người đáng yêu nhường ấy lại tự đặt mình vào thế sai trái một cách rõ mồn một như vậy.

Cuối cùng, ông cũng được an ủi dẫu chẳng vỡ vạc thêm được bao nhiêu, khi nhận được một bức thư ngắn gọn nhưng tràn ngập sự vui vẻ, không hề hé lộ chút bất bình hay cắn rứt lương tâm nào. Phần thú vị nhất trong bức thư đối với Lyon là phần tái bút, bao gồm những dòng này: "Tôi có một lời thú nhận với ông. Chúng tôi đã ở thành phố trong vài ngày, vào ngày mùng 1 tháng Chạp, và tôi đã nhân cơ hội đó để thách thức quyền uy của ông – thật là tồi tệ khi làm thế nhưng tôi không thể cưỡng lại được. Tôi bắt Clement phải đưa tôi đến phòng vẽ của ông – tôi quá khát khao muốn tận mắt thấy ông đã làm gì với bức chân dung của anh ấy, mặc cho mọi mong muốn của ông có ra sao đi nữa. Chúng tôi đã bắt đám gia nhân mở cửa cho vào và tôi đã ngắm nghía kỹ bức tranh. Thật sự tuyệt diệu!" Từ "tuyệt diệu" thật chẳng cam kết điều gì, nhưng ít ra với bức thư này thì không có sự rạn nứt nào cả.

Ngày thứ ba sau khi Lyon trở lại Luân Đôn là một ngày Chủ nhật, thế nên ông có thể đến mời bà Capadose ăn trưa. Vào mùa xuân, bà từng đưa ra lời mời chung cho phép ông làm điều đó và ông đã tận dụng nó vài lần. Đó là những dịp (trước khi ông vẽ chân dung Đại tá) mà ông được nhìn thấy Đại tá trong những hoàn cảnh thân mật nhất. Ngay sau bữa ăn, chủ nhà biến mất (ông ta bảo đi ra ngoài thăm mấy người quen) và nửa tiếng đồng hồ thứ hai mới là khoảng thời gian tuyệt vời nhất, ngay cả khi có mặt những người khác. Giờ đây, vào những ngày đầu tháng Mười hai, Lyon may mắn tìm thấy hai người ở nhà một mình, thậm chí không có cả Amy – cô bé hiếm khi xuất hiện trước công chúng. Họ đang ở phòng khách, chờ bữa ăn được thông báo, và ngay khi ông bước vào, Đại tá đã thốt lên: "Anh bạn thân mến, tôi rất vui được gặp anh! Tôi đang háo hức muốn bắt đầu lại lắm rồi."

"Ôi, hãy vẽ tiếp đi, nó tuyệt đẹp cơ mà," bà Capadose nói khi đưa tay cho ông.

Lyon nhìn người nọ rồi lại nhìn người kia; ông không biết mình đã mong đợi điều gì, nhưng chắc chắn không phải là thế này.

"À, thế ra anh chị nghĩ tôi có tác phẩm rồi chứ?"

"Ông có tất cả rồi còn gì," bà Capadose nói, đôi mắt màu nâu vàng ánh lên nụ cười.

"Cô ấy đã viết thư kể về vụ phạm tội nhỏ của chúng tôi cho anh chưa?" chồng bà hỏi. "Cô ấy lôi cổ tôi đến đó – tôi buộc phải đi." Lyon tự hỏi trong giây lát liệu ông ta có ám chỉ vụ tấn công vào bức tranh là vụ phạm tội nhỏ của họ hay không; nhưng những lời tiếp theo của Đại tá không hề xác nhận cách hiểu đó. "Anh biết tôi rất thích ngồi làm mẫu mà – nó mang lại cơ hội tuyệt vời cho cái tật hay huyên thoảo của tôi. Và hiện tại thì tôi đang rảnh rỗi."

"Anh phải nhớ là tôi đã suýt hoàn thành rồi đấy," Lyon lưu ý.

"Đúng thế thật. Thật là tiếc. Tôi rất muốn anh bắt đầu lại từ đầu."

"Anh bạn thân mến, tôi sẽ phải bắt đầu lại từ đầu thôi!" Oliver Lyon vừa cười vừa nói, nhìn thẳng vào bà Capadose. Bà tránh ánh mắt của ông – bà đã đứng dậy để bấm chuông gọi người dọn cơm. "Bức tranh đã bị đập phá nát bét rồi," Lyon tiếp tục.

"Đập phá ư? Chà, sao ông lại làm thế chứ?" bà Capadose hỏi, đứng đó trước mặt ông trong toàn bộ vẻ đẹp rạng ngời và kiêu sa của mình. Giờ đây khi nhìn vào ông, bà hoàn toàn không thể dò thấu.

"Không phải tôi – tôi tìm thấy nó trong tình trạng đó – với tá lú lỗ thủng chi chít trên tranh!"

"Trời ạ!" Đại tá kêu lên.

Lyon quay sang nhìn ông ta, mỉm cười. "Tôi hy vọng anh không làm điều đó chứ?"

"Nó bị hủy hoại rồi sao?" Đại tá hỏi. Ông ta vẫn giữ vẻ vô tội rạng rỡ hệt như vợ mình và trông cứ như thể câu hỏi của Lyon hoàn toàn không thể là chuyện nghiêm túc. "Chỉ vì ham ngồi làm mẫu cho anh thôi ư? Anh bạn thân mến, nếu tôi nghĩ ra được điều đó, tôi đã làm rồi chứ phỏng!"

"Cả anh nữa chứ?" người họa sĩ chất vấn bà Capadose.

Chưa kịp để bà trả lời, chồng bà đã chộp lấy cánh tay bà, như thể một ý tưởng vô cùng gợi mở vừa nảy ra trong đầu. "Này em yêu, người phụ nữ đó – người phụ nữ đó!"

"Người phụ nữ nào cơ?" bà Capadose lặp lại; và Lyon cũng tự hỏi không biết ông ta đang ám chỉ người phụ nữ nào.

"Em không nhớ lúc chúng ta bước ra ngoài, ả ta ở cửa – hoặc cách đó một đoạn sao? Anh đã nói với em về ả – anh đã kể cho em nghe mà. Geraldine – Grenadine – kẻ đã xông xáo lao vào ngày hôm đó ấy," ông giải thích cho Lyon nghe. "Chúng ta thấy ả ta lảng vảng quanh đó – anh đã thu hút sự chú ý của Everina vào ả ta mà."

"Ý anh là ả ta đã đột nhập vào phòng tranh của tôi ư?"

"À vâng, em nhớ rồi," bà Capadose nói với một tiếng thở dài.

"Ả ta lại xông vào lần nữa – ả đã dò ra đường đi nước bước – ả đang chờ đợi cơ hội của mình," Đại tá tiếp tục. "Chà, con khốn nhỏ mọn!"

Lyon nhìn xuống; ông thấy mặt mình nóng bừng lên. Đây chính là điều ông đã chờ đợi từ lâu – ngày mà Đại tá sẽ nhẫn tâm hy sinh một người vô tội nào đó. Và liệu vợ ông ta có nhúng tay vào hành động tàn bạo tột cùng đó không? Lyon đã tự nhủ hết lần này đến lần khác trong những tuần trước đó rằng khi Đại tá thực hiện hành vi sai trái của mình, bà ấy đã rời khỏi phòng từ trước; nhưng ông vẫn lập luận không chút nghi ngờ – đó là một sự chắc chắn hiển nhiên – rằng ngay sau khi nhập lại với vợ, ông ta đã khoe khoang chiến tích của mình cho bà rõ. Ông ta đang trong cơn hưng phấn của thành tựu; và ngay cả khi ông ta không nhắc đến những gì mình đã làm thì bà cũng sẽ đoán ra được. Ông không mảy may tin rằng tội nghiệp cô Geraldine lại lảng vảng quanh cửa nhà mình, và tài khoản giải thích do Đại tá dựng lên vào mùa hè năm ngoái về mối quan hệ của ông ta với người phụ nữ này cũng không hề đánh lừa được ông dù chỉ một chút. Lyon chưa bao giờ gặp cô ta trước ngày cô ta sấn sổ bước vào phòng vẽ của mình; nhưng ông biết rõ và xếp loại cô ta như thể chính tay ông đã tạo ra cô ta. Ông đã quá quen thuộc với người mẫu nữ ở Luân Đôn trong mọi biến thể của họ – trong mọi giai đoạn phát triển và mọi bước đường suy tàn. Khi ông bước vào ngôi nhà của mình vào buổi sáng tháng Chín đó ngay sau khi hai vị người bạn vừa đến, hoàn toàn chẳng có bất kỳ dấu hiệu nào dọc theo con đường cho thấy sự xuất hiện trở lại của cô Geraldine. Thực tế đó đã được khắc ghi trong tâm trí ông nhờ việc ông nhớ lại sự trống vắng của cảnh vật khi mụ đầu bếp báo rằng có một quý bà và một quý ông đang ở trong phòng vẽ của mình: ông đã tự hỏi sao không có chiếc xe ngựa hay xe taxi nào đỗ trước cửa. Rồi ông đã ngẫm ra rằng có lẽ họ đã đi bằng tàu điện ngầm; nhà ông nằm rất gần ga Marlborough Road và ông thừa biết Đại tá, mỗi khi đến ngồi làm mẫu, đã không dưới một lần tận dụng sự tiện lợi đó. "Làm sao mà ả ta lẻn vào được cơ chứ?" Ông đặt câu hỏi đó cho cả hai vị khách một cách bàng quan.

"Chúng ta xuống ăn trưa thôi," bà Capadose nói, bước ra khỏi phòng.

"Chúng tôi đi bằng lối vườn – không làm phiền người hầu nhà anh – anh muốn cho vợ tôi xem mà." Lyon đi theo nữ chủ nhân cùng chồng bà và Đại tá chặn ông lại ở đầu cầu thang. "Anh bạn thân mến, chắc tôi không mắc cái điều ngu ngốc là không cài cửa chứ nhỉ?"

"Tôi chắc chắn là mình không biết đâu, thưa Đại tá," Lyon vừa nói vừa bước xuống. "Đó là một bàn tay vô cùng kiên quyết – hệt như một con mèo hoang chính hiệu."

"Chà, ả ta chính là một con mèo hoang – mặc thây ả! Đó là lý do tại sao tôi muốn lôi anh ra khỏi tầm ảnh hưởng của ả."

"Nhưng tôi không hiểu động cơ của ả."

"Ả ta bị điên rồi – và ả căm ghét tôi; đó chính là động cơ của ả."

"Nhưng ả ta đâu có căm ghét tôi, anh bạn thân mến!" Lyon cười nói.

"Ả căm ghét bức tranh – anh không nhớ ả từng nói thế sao? Càng có nhiều chân dung thì cơ hội việc làm cho những kẻ như ả càng ít đi."

"Đúng; nhưng nếu ả ta không thực sự là người mẫu như ả mạo nhận, điều đó làm tổn hại gì đến ả chứ?" Lyon hỏi.

Câu hỏi khiến Đại tá bối rối trong giây lát – nhưng chỉ chớp nhoáng mà thôi. "À, ả ta đang trong một mớ bòng bong tồi tệ! Như tôi đã nói, ả ta bị điên rồi."

Họ đi vào phòng ăn, nơi bà Capadose đang chuẩn bị ngồi vào chỗ của mình. "Thật quá quắt, thật quá sức kinh khủng!" bà nói. "Ông thấy đấy, số phận đang chống lại ông. Sợ rằng Chúa trời sẽ không để ông mãi cao thượng thế đâu – vẽ những kiệt tác mà chẳng lấy một xu."

"Bà có nhìn thấy người phụ nữ đó không?" Lyon gặng hỏi, với một vẻ nghiêm nghị gần như không thể kìm nén.

Bà Capadose tỏ ra như không nhận ra hoặc không thèm đếm xỉa đến điều đó nếu có. "Có một người, không cách cửa nhà ông là bao, mà Clement đã thu hút sự chú ý của tôi vào. Anh ấy có kể cho tôi nghe vài điều về ả nhưng chúng tôi đang đi theo hướng ngược lại."

"Và bà nghĩ chính ả đã làm việc đó ư?"

"Làm sao tôi biết được chứ? Nếu đúng là ả làm thì ả ta điên thật rồi, tội nghiệp con mụ khốn khổ."

"Tôi rất muốn tóm cổ ả ta," Lyon nói. Đây là một tuyên bố sai sự thật, bởi ông chẳng có chút ham muốn nào để trò chuyện thêm với cô Geraldine nữa. Ông đã vạch trần những người bạn của mình trước mặt chính ông, nhưng ông không có ý định phơi bày họ trước bất kỳ ai khác, nhất là trước chính bản thân họ.

"Ồ, cứ tin tôi đi, ả ta sẽ chẳng bao giờ xuất hiện nữa đâu. Ông an toàn rồi!" Đại tá thốt lên.

"Nhưng tôi nhớ địa chỉ của ả – số nhà Mews, Sân thượng Mortimer, Notting Hill."

"Ồ, đó chỉ là trò bịp bợm thuần túy thôi; làm gì có cái chỗ nào như thế."

"Chúa ơi, đúng là một tay lừa đảo cừ khôi!" Lyon nói.

"Còn ai khác mà anh hoài nghi nữa không?" Đại tá tiếp tục.

"Không một bóng người."

"Thế còn đám gia nhân nhà anh nói sao?"

"Chúng bảo không phải chúng làm, và tôi đáp lại rằng tôi chưa từng nói là chúng làm. Đại khái các cuộc hội ý của chúng tôi chỉ có thế."

"Và họ phát hiện ra thảm họa đó từ bao giờ?"

"Họ chẳng bao giờ tự phát hiện ra cả. Chính tôi là người đầu tiên nhận ra điều đó – khi tôi quay trở về."

"Chà, ả ta hoàn toàn có thể lẻn vào một cách dễ dàng," Đại tá nói. "Anh không nhớ ả ta từng xông xáo xuất hiện ngày hôm đó thế nào à, hệt như tên hề trong rạp xiếc ấy?"

"Đúng, đúng thế; ả ta có thể hoàn thành công việc chỉ trong ba giây, chỉ có điều là bức tranh khi đó không được lôi ra ngoài."

"Anh bạn thân mến, đừng nguyền rủa tôi nhé! – nhưng dĩ nhiên là chính tôi đã lôi nó ra."

"Anh không cất nó về chỗ cũ sao?" Lyon hỏi với giọng đầy bi kịch.

"Trời ơi Clement, Clement, em đã chẳng dặn anh phải cất đi cơ mà?" bà Capadose thốt lên với giọng điệu trách móc đầy tinh tế.

Đại tá rên rỉ một cách đầy kịch tính; ông ta lấy hai tay ôm mặt. Những lời của người vợ chính là nhát dao kết liễu đối với Oliver Lyon; chúng khiến toàn bộ viễn cảnh trong đầu ông sụp đổ hoàn toàn – giả thuyết của ông rằng bà vẫn giữ gìn sự trung thực thầm kín. Ngay cả với người tình cũ của mình, bà ấy cũng sẽ không thể làm thế! Ông thấy lợm giọng; ông chẳng thể nuốt nổi trôi; ông biết trông mình lúc này rất kỳ lạ. Ông lầm bầm vài câu về chuyện thật vô ích khi cứ ngồi khóc lóc cho số sữa đã đổ – ông cố chuyển hướng cuộc trò chuyện sang những chuyện khác. Nhưng đó là một sự cố gắng khủng khiếp và ông tự hỏi liệu họ có cảm thấy tồi tệ nhiều như ông không. Ông thắc mắc đủ điều: liệu họ có đoán được là ông không hề tin họ (còn chuyện ông đã tận mắt chứng kiến thì chắc chắn họ sẽ chẳng bao giờ ngờ tới); liệu họ đã sắp xếp sẵn câu chuyện từ trước hay đó chỉ là cảm hứng tức thời; liệu bà đã chống cự, phản đối khi Đại tá đưa ra đề nghị đó, rồi sau đó bị ông ta áp đảo; nói tóm lại, liệu bà có đang cảm thấy ghê tởm chính mình khi ngồi đó hay không. Sự tàn nhẫn, sự hèn nhát khi trút hành vi tội lỗi của họ lên đầu người phụ nữ khốn khổ kia khiến ông thấy thật quái đản – quả thực chẳng kém phần quái đản so với sự cợt nhả có thể khiến họ đánh cược với rủi ro rằng ả ta sẽ vạch mặt họ trong cơn phẫn nộ chính đáng. Dĩ nhiên rủi ro đó chỉ có thể minh oan cho ả ta chứ không thể buộc tội họ – các xác suất đã bảo vệ họ quá hoàn hảo; và điều mà Đại tá tính toán đến (điều mà ông ta đã tính toán ngay vào ngày ông ta tuôn ra những lời lẽ ấy tại phòng vẽ sau lần đầu nhìn thấy cô ta, nếu khi đó ông ta thực sự suy nghĩ về vấn đề chứ không nói ra từ sự bộc phát thuần túy của thiên bẩm) đơn giản là cô ta đã thực sự biến mất vĩnh viễn vào cõi vô danh của mình. Lyon rất muốn chấm dứt chủ đề này nên khi một lát sau bà Capadose nói với ông rằng: "Nhưng không còn cách nào cứu vãn sao, bức tranh không thể phục hồi được nữa à? Ông biết người ta làm được những điều kỳ diệu cỡ nào với những việc đó hiện nay mà," ông chỉ đáp lại: "Tôi không biết, tôi chẳng thèm quan tâm, tất cả chấm hết rồi, n'en parlons plus!" Sự giả dối của bà khiến ông nổi da gà. Thế nhưng, cốt để lột bỏ tấm màn che đậy cuối cùng sự hổ thẹn của bà, ông lại bộc bạch với bà một lần nữa, chẳng bao lâu sau đó: "Và thực sự là chị thích nó chứ?" Để rồi bà đáp lại, nhìn thẳng vào mặt ông, không một chút đỏ mặt, không tái mét, không né tránh: "Ồ, tôi vô cùng yêu thích nó!" Quả thật chồng bà đã huấn luyện bà quá đỗi thành công. Sau đó Lyon không nói thêm lời nào nữa và những người bạn đồng hành cũng tạm thời kiên-nhẫn không nài nỉ thêm, tựa như những con người khéo léo và biết thấu cảm rằng tai nạn gớm ghiếc ấy đã làm ông tổn thương sâu sắc.

Khi họ rời khỏi bàn ăn, Đại tá bỏ đi mà không lên lầu; nhưng Lyon quay lại phòng khách cùng nữ chủ nhân, dẫu vậy ông có nói với bà trên đường đi rằng mình chỉ có thể ở lại một lát. Ông dành khoảnh khắc đó – nó kéo dài thêm một chút – đứng cùng bà trước lò sưởi. Bà không ngồi xuống cũng chẳng mời ông ngồi; thái độ của bà cho thấy bà có ý định đi ra ngoài. Đúng vậy, chồng bà đã huấn luyện bà rất khéo; thế nhưng Lyon vẫn thầm mơ mộng trong chốc lát rằng giờ đây khi ở lại một mình với bà, có lẽ bà sẽ sụp đổ, sẽ rút lại lời nói, sẽ xin lỗi, sẽ tâm sự, sẽ nói với ông rằng: "Người bạn cũ thân thiết của ông ơi, hãy tha thứ cho vở kịch gớm ghiếc này – chắc ông hiểu mà!" Và khi ấy ông sẽ yêu thương và xót xa biết bao, sẽ bảo bọc, sẽ luôn giúp đỡ bà! Nếu bà không sẵn sàng làm một điều gì đó đại loại thế, tại sao bà lại đối xử với ông như thể ông là một người bạn già thân thiết; tại sao bà lại để ông hoang mang suốt nhiều tháng trời về một số chuyện – hay suýt chút nữa là thế; tại sao bà lại ngày ngày đến phòng vẽ của ông để ngồi sát bên ông dưới cái cớ là bức chân dung của con mình, cứ như thể bà thích thú ngẫm nghĩ về những chuyện có thể đã xảy ra? Tại sao bà lại đến gần một lời thú nhận ngầm đến thế, nói tóm lại, nếu bà không sẵn sàng tiến thêm một bước nữa? Và bà không sẵn sàng – bà không hề; ông có thể nhận ra điều đó khi cứ ngập ngừng nấn ná ở đó. Bà đi loanh quanh trong phòng một lúc, sắp xếp lại hai ba món đồ trên bàn, nhưng chẳng làm gì hơn thế nữa. Đột ngột, ông hỏi bà: "Khi hai anh chị bước ra ngoài, ả ta đi về hướng nào vậy?"

"Ai cơ – người phụ nữ chúng ta nhìn thấy ấy hả?"

"Đúng vậy, người bạn kỳ lạ của chồng chị. Đó là một manh mối đáng để lần theo đấy." Ông chẳng có chút ham muốn làm bà hoảng sợ; ông chỉ muốn truyền đi cái xung lực khiến bà phải thốt lên rằng: "À, xin hãy tha thứ cho tôi – và tha thứ cho anh ấy! Hoàn toàn không có con người nào như thế cả."

Thay vì thế, bà Capadose đáp: "Ả ta đi ngược hướng với chúng tôi – ả băng qua đường. Chúng tôi thì đang đi về phía nhà ga."

"Và ả có vẻ nhận ra Đại tá không – ả có ngoái đầu lại nhìn không?"

"Có chứ; ả có ngoái lại nhìn, nhưng tôi không để ý lắm. Có một chiếc xe hansom chạy tới và chúng tôi trèo lên đó. Mãi đến lúc đó Clement mới kể cho tôi nghe ả là ai: tôi nhớ anh ấy có nói rằng ả xuất hiện chẳng có ý tốt gì đâu. Lẽ ra chúng tôi nên quay lại thì hơn."

"Đúng thế; các anh chị đã cứu được bức tranh rồi."

Trong giây lát bà không nói gì; đoạn bà mỉm cười. "Về phần ông, tôi rất lấy làm tiếc. Nhưng ông phải nhớ rằng tôi đang sở hữu nguyên mẫu cơ mà!"

Nghe đến đây, Lyon quay phắt đi. "Thôi, tôi phải đi đây," ông nói; và từ biệt bà mà chẳng nói thêm lời nào khác rồi tìm đường rời khỏi ngôi nhà. Khi lững thững bước lên con phố, cảm giác về cái nhìn thoáng qua đầu tiên khi ở Stayes lại ùa về trong tâm trí ông – cái cách ông nhìn thấy bà đăm đăm nhìn qua bàn ăn về phía chồng mình. Lyon dừng chân ở góc phố, ngẩn ngơ nhìn ngược nhìn xuôi. Ông sẽ không bao giờ quay lại nữa – ông không thể. Bà vẫn say đắm Đại tá – ông ta đã huấn luyện bà quá mức hoàn hảo rồi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.