Barry càu nhàu phản đối, toan giật lấy chiếc khăn lau bụi từ tay Betty, nhưng cô bé lắc đầu rồi tiếp tục công việc một cách hăng hái và thạo việc.
– Chúng em có sẵn nước đánh bóng đồ gỗ ở đâu đây, – cô nói, – và ngày mai em sẽ bôi lên. Đây là một chiếc bàn làm việc thực sự đẹp đấy. Anh có gửi mua từ nhà mang đến không?
– Ồ, không; anh mua nó ở làng, từ một lão già có bộ râu vàng. Ông ấy có cái mà ông gọi là cửa hàng đồ cổ.
– Của ông Hannabury, – Betty vừa nói vừa gật đầu. – Mẹ em từng mua vài thứ ở chỗ ông ấy.
Barry vô thức liếc nhìn chiếc tủ đựng hồ sơ, và Betty tinh ý nhận ra liền mỉm cười lắc đầu.
– Không, cái đó không phải mua từ tiệm đồ cổ đâu. Nó được để lại đây từ ba bốn năm trước bởi một cậu nam sinh ở phòng phía sau. Em biết nó không được đẹp lắm đâu, – cô nói thêm vẻ phân trần. Rồi thẳng thắn thừa nhận: – Nhiều đồ đạc của chúng em cũng vậy thôi, anh Locke ạ.
[47]
– Thế này là quá đủ tốt rồi, – anh quả quyết tuyên bố. – Và tên anh là Barry.
Cô gật đầu.
– Và tên em thì anh biết rồi đấy. Nếu cần bất cứ thứ gì, anh cứ bảo em nhé. Dĩ nhiên là, – cô cười, – có thể chúng em không có, nhưng cũng có thể là có. Em tiếc là anh lại phải đi mua bàn. Lẽ ra anh không nên để mặc cho Toby làm chuyện đó.
– Chà, quả thật cậu nhóc rất cần nó mà, – Barry cười trừ nói. – Rốt cuộc thì con mẻ làm gì với đống đồ đạc trong đó thế hả em?
– Chỉ sưu tầm thôi. Mấy tay sưu tầm thì anh biết rồi đấy. Bọn họ cứ thế là... sưu tầm thôi!
– Nhưng cậu ta toàn sưu tầm mấy thứ gớm ghiếc ấy chứ, – Barry phản đối. – Nào là côn trùng rồi... rồi cả ếch nhái...
– Ồ, đúng vậy, cả rùa và thậm chí là rắn nữa. Nhưng có vẻ cậu ấy rất hào hứng với việc đó, nên chúng em cố gắng không bận tâm. Mà cậu nhóc cũng là một đứa trẻ ngoan nữa.
Betty lại mỉm cười, gật đầu rồi biến mất khỏi khung cửa.
Barry dành nửa giờ tiếp theo để sắp xếp bàn làm việc và kiểm tra những cuốn sách mới cứng gáy, hãy còn vương mùi mực in dễ chịu. Cuối cùng, tra lại thời khóa biểu lên lớp, anh chọn một cuốn sách và ngồi xuống chiếc ghế bọc nệm duy nhất cạnh cửa sổ bên đường. Nhưng anh chẳng
[48]thể tập trung học hành lúc đó được lâu, bởi từ khung cửa sổ có thể phóng tầm mắt ngắm con đường uốn lượn chậm rãi cùng một góc khuôn viên ngập bóng cây, và trang trại của Brazer với những hàng cây du đứng gác đổ chiếc bóng dài lên những ngôi nhà bình dị, tiện nghi. Anh cũng có thể nhìn thấy dòng sông lấp ló đây đó, như một dải rùa xanh ngắt dưới nắng viền theo vùng đồng cỏ của người nông dân, uốn lượn quanh chân đồi Crow rồi cuối cùng khuất dạng dưới cây cầu đá. Tất cả những thứ ấy thu hút sự chú ý của anh hơn là trang sách.
Thỉnh thoảng, những tiếng hô vang vọng từ sân bóng bầu dục lại lọt vào tai anh, và có lúc, vượt qua ngọn cây, một quả bóng bầu dục bay lơ lửng khoảnh khắc giữa bầu trời. Anh thầm thở dài nghĩ rằng, hình như ai nấy cũng đang có những giờ phút rất vui vẻ — ngoại trừ John Barry Locke.
Đã gần sáu giờ khi ánh nhìn của anh rơi vào hai bóng người vừa rẽ khỏi cổng trường. Một người là Crawford Jones. Họ đang trò chuyện hăng say, thân mật, và Barry lại thở dài. Chỉ cách khu đất của nhà Lyle một quãng ngắn thì hai người tách ra, cậu thanh niên lạ mặt băng sang ngôi nhà đối diện. Barry thầm mong Jones sẽ để ý đến cánh cửa hé mở mà ghé mắt vào nhìn. Nhưng Jones cứ thế đi qua mà không dừng lại. Barry gấp sách lại và chuẩn bị đi ăn tối.
Khi anh bước xuống lầu, một người đàn ông vóc người hơi nhỏ đang
[49]đọc báo ở một đầu hiên nhà. Ông hạ đầu xuống, nhìn chằm chằm qua gọng kính lên Barry. Rồi ông nói “Hừm!” có phần lúng túng và bồi thêm, “Chào buổi tối.” Ông có vẻ thân thiện, và trong cơn thèm khát bầu bạn lúc bấy giờ, Barry vô cùng chào đón cơ hội được cất lời. Anh đáp lại lời chào và bước dọc theo hành lang hiên.
– Chắc hẳn ngài là ông Lyle, thưa ngài, – anh tiếp lời, mỉm cười và đưa tay ra.
– Phải, phải, – tiếng đáp lại gần như mang vẻ chộn rộn. – Rất vui được làm quen với cháu, cậu thanh niên! Hừm! Thật vinh hạnh được... ừm... chào mừng cháu đến với mái nhà khiêm tốn của chúng ta. Cháu không ngồi xuống sao?
Ông đang đứng đó, một tay cầm chặt tờ báo, đôi mắt cận thị nhìn trân trân qua cặp kính, và sau khi bắt tay Barry, ông vẫn tiếp tục mỉm cười. Không rõ vì sao ông lại khơi gợi lòng trắc ẩn trong anh, nhưng sự thật là thế. Có lẽ bởi vì, dẫu cho đang cố tỏ ra tự nhiên, ra dáng cung cách của một chủ nhà, ông vẫn toát lên sự e dè thường trực của một kẻ nhận thức rõ sự nhỏ bé của bản thân. Trông ông độ chừng bốn mươi hai hay bốn mươi ba tuổi, vóc người thấp, gầy, và rõ là gù lưng, dẫu có những khoảnh khắc chớp nhoáng tự tin, ông lại đứng thẳng người lên đúng dáng quân nhân. Barry hiểu vì sao mọi người lại gọi ông là ông Benjy. Cái tên ấy hợp với ông đến hoàn hảo.
– Cảm ơn ngài, nhưng cháu đang trên đường đi ăn tối. Cháu chỉ muốn làm quen chút thôi, thưa ngài. – Anh mỉm cười lấy lòng và ông Benjy trông có vẻ cảm động đến phát bủn rủn. – Tên cháu là Barry Locke, thưa ngài.
– Phải, phải, ta biết rồi. Ý ta là, Elizabeth... à nhầm, vợ ta... đã nhắc đến cháu. Cháu đang ở... ừm... căn phòng phía tây nam. Thực sự rất vui được đón cháu ở chung với chúng ta, cậu... ừm...
– Cứ gọi cháu là “Barry” đi ạ. Cảm ơn ngài. – Barry gật đầu rồi tiếp tục cất bước. Ông Benjy dõi theo bóng anh qua mép tờ báo cho đến khi anh khuất dạng.
– Một cậu bé ngoan, – ông lẩm bẩm. – Davy cũng khá giống thế khi nó... Hừm! – Ông Benjy cau mày, thở dài, rồi xột xoạt giật lại tờ báo lên vị trí cách cặp kính chừng vài phân.
Barry nhận ra mình đang vô cùng đói bụng và đã thưởng thức bữa tối rất ngon lành. Cậu thiếu niên ngồi bên phải, vượt qua sự rụt rè ban đầu, đã đánh bạo cất lời nửa chừng bữa ăn, và quãng thời gian còn lại họ trò chuyện khá rôm rả. Barry từng hơi tò mò về cậu nhóc này, mà giờ đây qua câu chuyện mới biết tên là Fessenden.
[51]Anh đoán cậu khoảng mười bốn tuổi, học năm thứ Tư. Cậu có mái tóc tối màu cứng đầu không chịu khuất phục trước chiếc lược, đôi lông mày rậm và hàng mi dài che khuất đôi mắt nâu phảng phất nét mơ màng, cùng đôi má tái nhợt rất dễ ửng đỏ. Một cậu bé rụt rè, nhạy cảm và theo cách nào đó rất thu hút, Barry kết luận. Rõ ràng là cuộc sống tại trường Broadmoor chẳng lấy gì làm vui vẻ đối với cậu, dẫu cậu không nói ra điều đó một cách trực diện. Barry phỏng đoán rằng cậu nhóc cũng đang cảm thấy cô đơn và có lẽ là cả nỗi nhớ nhà nữa, và anh đã sẵn lòng bầu bạn với cậu thiếu niên nếu như không có hẹn đi tìm Clyde. Dẫu sao thì họ cũng chia tay ở bên ngoài tòa nhà Bates, Fessenden trước khi rẽ vào lối vào thư viện đã gật đầu thay cho lời cảm ơn đầy biết điều trước sự thân thiện của đàn anh.
Tối hôm đó, bầu không khí quanh khuôn viên trường mang một vẻ bất an khó tả, với xu hướng la cà quanh bãi cỏ hình bầu dục và trước những bậc thềm của các tòa nhà. Barry thoáng tự hỏi có chuyện gì đang xảy ra, nhưng rồi sự tò mò nhanh chóng bay biến khi anh phát hiện ra phòng số 42 đang trống không. Ý định ban đầu của anh là tận dụng lợi thế đó để né tránh một buổi tối chẳng có mấy điều thú vị, nhưng suy nghĩ thứ hai đã giữ anh lại với lời hứa của mình; thế là anh bật đèn, với lấy một tờ tạp chí và ngồi xuống chờ đợi Clyde quay về.
[52]
Anh tìm được một câu chuyện đủ hấp dẫn để giữ chân sự tập trung suốt gần một giờ đồng hồ. Sau đó, nhận thấy Clyde vẫn chưa về, anh quyết định mình được tự do rời đi, bèn tắt đèn và tìm đường ra cầu thang. Nếu quen thuộc hơn với ký túc xá Dawson trong những điều kiện bình thường, anh sẽ nhận thấy một sự yên tĩnh bất thường. Đâu đó từ cánh cửa nào hành lang vọng lại tiếng nói chuyện, nhưng nhìn chung các phòng đều tối thui. Trên bậc thềm, một vài gã vẫn nán lại như đang chờ đợi điều gì đó xảy ra, nhưng những thứ ấy chẳng để lại ấn tượng gì trong lòng Barry, và anh rảo bước qua phía cuối tòa nhà Croft rồi nhanh chóng đi dọc theo lối đi để trở về nhà.
Anh vừa bước ra đường thì trong bóng tối dày đặc, một luồng ánh sáng trắng rọi thẳng vào mặt, khiến anh giật mình thảng thốt rụt người lại.
– Học khối nào đấy? – một giọng nói hách dịch cất lên.
Barry nheo mắt che chắn luồng sáng từ chiếc đèn pin cầm tay, nhìn thấy bốn người, hoặc có lẽ nhiều hơn thế, trong đám đông vây quanh mình. Cảm thấy khó hiểu và hơi bất mãn vì cú dọa vừa rồi, anh đáp lại một cách cộc lốc:
– Các cậu muốn biết để làm gì?
– Hắn là một thằng “chó con” đấy! – một cái bóng lờ mờ tuyên bố, và “Chắc chắn rồi còn gì!” người thứ hai tiếp lời.
[53]Một bàn tay thô bạo đặt lên vai Barry. Anh lùi lại, giật mạnh vai để thoát ra.
– Trò gì thế này? – anh hỏi gặng.
Ánh đèn bỗng tắt phụt và gương mặt của những kẻ khác dần hiện rõ. Barry thấy một tên di chuyển về phía mép lề đường, và cùng lúc đó trí nhớ kịp thời mách bảo anh. Mùa đông năm trước, Clyde từng vừa cười vừa kể cho anh nghe về “Đêm Chó Con” ở trường. Barry đã quên béng đi mất, nhưng giờ thì anh sực nhớ ra rằng theo tiếng lóng ở Broadmoor, học sinh năm Tư được gọi là “chó con” và buổi tối thứ hai của học kỳ chính là “Đêm Chó Con”, thời điểm học sinh năm Ba tổ chức những nghi thức nhất định ở cái ao nhỏ, với sự hỗ trợ — có phần miễn cưỡng — của số học sinh năm Tư bị tóm cổ được càng nhiều càng tốt. Cơ bắp anh chùng xuống và anh mỉm cười nói:
– Tôi học năm Ba các cậu ạ. Thành thật xin lỗi nhé!
– Tên gì? – một gã cao lớn, rõ là kẻ cầm đầu nhóm, hỏi với vẻ nghi kỵ.
– Locke.
– Đúng rồi đấy, Rusty, – một tên khác lên tiếng. – Nó học cùng mấy lớp với tao. Tao nhớ nó mà.
– Chà, trông nó có vẻ xấc láo phết nhỉ, – Rusty làu bàu. Rồi quay sang Barry: – Có thấy con “chó con” nào quanh đây không?
– Không, tôi không thấy.
[54]
– Ờ, bọn tao đang tìm một đứa ở tuốt dưới con đường này này. Người nhà bảo nó chưa về, nhưng biết đâu họ đang xỏ xiên bọn tao. Mày ở trọ nhà nào?
– Nhà bà Lyle, – Barry đáp. – Ở đó chẳng có đứa học sinh năm Tư nào cả.
– Không có, nhưng có một thằng ở bên kia đường, – Rusty nói, – và bọn tao muốn tóm cổ nó. Thôi nào— – Nó ngập ngừng chần chừ.
– Tôi sẽ bảo nó nếu thấy, – Barry tốt bụng đáp lời rồi bước tiếp. Ai đó khúc khích cười, nhưng Rusty lại không nuốt trôi trò đùa đó.
– Mày mà dám, – hắn gầm gừ hạ giọng đe dọa, – tao sẽ cho mày một đấm đấy, đồ năm Nhất!
Barry cố gắng nhớ lại xem Rusty là ai. Có thứ gì đó ở hắn, có lẽ là giọng nói, có lẽ là gương mặt lờ mờ trong bóng tối, rất quen thuộc. Có lẽ anh đã chạm trán hắn trong một buổi sinh hoạt nào đó sáng nay. Dù thế nào đi nữa, anh tự nhủ, anh không thích gã này. Ý nghĩ đó vừa dứt thì anh đã về tới cổng nhà, và đang quờ quạng tìm cái chốt cửa thì một tiếng hò hét từ phía sau dọc theo con đường khiến anh khựng lại. Tiếp theo là những tiếng la ó, thêm một tiếng hét nữa, và tiếng chân chạy thình thịch. Barry ngoái đầu nhìn vào màn đêm. Từ bên kia đường, con mồi đang phóng thục mạng về phía anh, tốp đuổi theo bám riết phía sau và đang rút ngắn khoảng cách, lúc này vẫn chỉ là những cái bóng đậm dần trong bóng tối nhưng đang dần thành hình
[55]khi tiến vào vùng sáng của ngọn đèn hồ quang ngay sát những ngôi nhà. Cuộc rượt đuổi kết thúc bất ngờ. Kẻ trốn chạy vấp ngã cách cổng nhà Anderson chừng chục bước chân, ngã nhào xuống, và đám thợ săn đã chồm tới nơi! Nụ cười trên môi Barry vụt tắt, bởi một tiếng thét thuần khiết của sự kinh hoàng vang lên bên tai anh.
– Ồ, xin các cậu! Xin hãy tha cho tôi! – kẻ bị tóm mếu máo kêu khóc. – Hãy để tôi đi! Cho tôi đi!
Barry không hề thích âm thanh đó chút nào. Cậu nhóc, bất kể là ai, đang vô cùng hoảng sợ, gần như lên cơn cuống loạn. Barry nhanh chóng băng qua đường. Có năm bóng người trong đám đông đang chậm chạp lùi lại vào bóng tối. Chúng đã túm chặt được nạn nhân, nhưng cậu ta đang chống cự tuyệt vọng, thở dốc từng hồi, quá hoảng loạn đến mức không thể kiểm soát nổi giọng mình nữa.
– Ồ, câm miệng đi, – Rusty gầm gừ. – Bọn tao có định làm hại mày đâu, đồ mít ướt!
Tiếng bước chân xô xát của chính chúng đã át đi tiếng Barry lại gần, và âm thanh đột ngột cất lên từ anh khiến chúng khựng lại tức khắc.
– Dừng tay lại một phút đi, – Barry nói. – Cậu nhóc này sợ lắm rồi. Các cậu đừng làm tới mức này nữa chứ, anh em.
– Mày không định à? – Rusty mỉa mai vặn vẹo. – Này, ai thèm xin phép mày chứ? Lo việc bao đồng của mày đi, cậu nhóc.
Cậu bé đã im bặt, dẫu Barry vẫn
[56]có thể nghe thấy những tiếng nấc nghẹn ngào của cậu. Barry kìm chế cơn giận khi đáp lời:
– Thì tôi cũng học năm Ba mà, các cậu biết đấy, và tôi không hề có ý phá đám vui chơi của các cậu, nhưng các cậu cũng phải tự nhìn nhận lại chứ...
– Thuê lấy một cái hội trường mà nói đi! – Rusty chồm tới đẩy mạnh Barry khiến anh lảo đảo ngã vào một tên khác trong nhóm. – Lô xô lên nào anh em! “Dìm chết chó con thôi”!
Barry lấy lại thăng bằng và lách qua gã thanh niên mà ngón chân chắc hẳn vừa bị anh dẫm phải. Động tác đó đưa lưng anh áp sát vào hàng rào, và với một cái giật mạnh bất ngờ, anh kéo thốc cậu học trò bị bắt về phía mình rồi nhanh chóng chắn ngay trước mặt cậu. Giờ thì anh đã nhận ra cậu bé: đó chính là Fessenden, cậu bạn cùng bàn ăn. Cú ra đòn bất ngờ khiến Rusty ngẩn người đến mức ngạc nhiên và uất ức không thốt nên lời, và ngay trong khoảnh khắc đó, Barry hơi quay đầu thì thầm: “Chạy ngay đi khi có cơ hội!”. Fessenden có nghe thấy hay nghe rồi mà hiểu được hay không, Barry không thể chắc chắn. Rusty vừa thô bạo đẩy văng một tên đồng bọn sang một bên và đang trợn mắt trừng trừng nhìn kẻ nhiều chuyện cách đó chỉ vài phân. Barry kiên quyết buông thõng hai tay bên người. Anh vẫn đang mỉm cười, dẫu có lẽ bóng tối đã che giấu đi sự thật đó.
– Mày cút ngay khỏi đây! – Rusty gầm lên. – Biến! Cút mau! – Hắn túm lấy vai áo khoác của Barry và cố nhấc bổng anh ra chỗ khác. Vải áo căng phồng lên, nhưng Barry không hề dịch chuyển. Thay vào đó, một tay anh vung lên chớp nhoáng tóm lấy cổ tay Rusty, một chân đá thốc về trước, và rồi chính anh mới là kẻ ra sức xô, khiến Rusty bị kéo chúi người về phía trước và vấp phải cái chân đang duỗi thẳng của Barry, lảo đảo lao người sang một bên rồi đâmầm rầm vào hàng rào. Và ngay khoảnh khắc đó, Barry hét lớn:
– Chạy đi!
Nhưng Fessenden hoàn toàn không thể chạy nổi, cậu chỉ biết co ro núp bên cạnh anh, thở hổn hển và bất lực.
– Tóm lấy nó! – Rusty lồng lộn gầm lên khi lấy lại được thăng bằng và hạ thấp người trừng trừng nhìn Barry lần nữa. Nhưng lúc này hắn đã dè chừng hơn. Hắn thích gây gổ, nhưng lại ghét bị ăn đòn, và thái độ điềm tĩnh của vóc dáng thẳng tắp đang đứng đối diện đã mách bảo hắn nên cẩn trọng. Barry, kẻ vốn chẳng thích đánh nhau nhưng vẫn có thể ra tay khi cần thiết, bước dọc theo hàng rào một quãng để tách ra khỏi Fessenden — người lúc này đã được bảo vệ an toàn một lần nữa. Anh chẳng mảy may lo lắng về những tên còn lại. Bọn chúng sẽ đứng ngoài cuộc thôi. Trận này sẽ chỉ là chuyện giữa anh và gã to con mang tên Rusty đó.
Gã kia lúc này đã im lặng và toát lên vẻ đe dọa. Barry tĩnh quan tò mò và chờ đợi. Rồi đối thủ lao tới, áp sát. Barry lùi lại nửa bước, nghiêng đầu sang phải, và hứng trọn một cú đấm trời giáng vào khuỷu tay. Sau đó, anh vung tay phải đấm thốc lên trên và cảm nhận luồng đau nhói từ cú va chạm chạy dọc cánh tay. Một tiếng “Ưh!” ngạc nhiên phát ra từ Rusty khi hắn lảo đảo lùi lại, và rồi:
– Chơi đẹp lắm ông bạn già, – một giọng nói cất lên tán thưởng, và một nhân vật mới xuất hiện trong màn kịch bước đến bên Barry, tiện tay vắt chiếc áo khoác vừa cởi vội lên hàng rào rồi đối mặt với nhóm người.
– Thêm tao vào thành hai cặp đấu đôi nhé, – Crawford Jones vui vẻ nói. – Còn đứa nào muốn chơi nữa không?
[59]