"Cái quái gì thế nhỉ?"
Tôi nằm trên giường trong trạng thái lơ mơ giữa tỉnh và mê. Khi cuối cùng tôi nhận ra mình đã thức giấc, tôi tự hỏi điều gì đã đánh thức tôi dậy. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy có cái gì đó đang phát ra tiếng động giữa đêm khu vực tĩnh mịch. Tôi nằm lắng nghe trong giây lát. Rồi tôi ngồimật dậy trên giường.
"Cái quái gì thế nhỉ?"
Âm thanh ấy giống như tiếng tích tắc của một chiếc đồng hồ lớn có âm điệu vang và trong đến lạ thường. Nó đúng là tiếng đồng hồ, nếu như cứ độ nửa tá tiếng tích tắc, âm thanh ấy lại không bị phá ngang bởi một thứ tiếng rít nghẹn ngào, tựa như tiếng kêu của một sinh vật nhỏ bé đang quằn quại trong nỗi đau khốn cùng. Tôi bước xuống giường; thật nực cười nếu nghĩ đến chuyện ngủ tiếp khi tiếng thét kỳ quái đó cứ tiếp diễn. Tôi bật diêm. Âm thanh phát ra từ khu vực bàn trang điểm của tôi. Tôi tiến về phía bàn trang điểm, tay cầm que diêm đang cháy, và ngay lúc đó, mắt tôi chạm phải chiếc hộp bí ẩn của Pugh. Cùng khoảnh khắc ấy, từ trong lòng chiếc hộp vang lên một tiếng rít còn khó chịu hơn bất cứ âm thanh nào tôi từng nghe trước đó. Nó khiến tôi giật mình đến mức đánh rơi que diêm xuống sàn nhà. Căn phòng chìm trong bóng tối. Tôi đứng đó, không hẳn là run rẩy, mà đang lắng nghe — xét về âm lượng thì — đó là những tiếng thét kỳ quái nhất mà tôi từng nghe thấy trong đời. Tất cả bỗng chốc im bặt. Rồi tiếng tích tắc, tích tắc, tích tắc lại vang lên. Tôi quẹt mộtque diêm khác và bật đèn gas lên.
Pugh đã để lại chiếc hộp giải đố của hắn. Cả hai chúng tôi đã làm mọi cách có thể cùng nhau để giải cái hộp này. Hắn để lại nó ở đây để xem tôi tự mình làm được gì. Nó đã thu hút sự chú ý của tôi đến mức tôi mang cả vào phòng ngủ, cốt để trước khi đi ngủ, tôi sẽ thử một lần cuối cùng xem có giải mã được bí ẩn này không. Giờ thì thứ quái quỷ gì đã ám lấy cái vật này thế nhỉ?
Khi tôi đứng đó, nhìn và lắng nghe, một điều bắt đầu trở nên rõ ràng đối với tôi: một thứ cơ chế nào đó đã được khởi động bên trong chiếc hộp. Nó được kích hoạt bằng cách nào lại là chuyện khác. Nhưng chiếc hộp đã bị cầm nắm quá nhiều, bị ấn và nện búa đến mức chẳng có gì lạ nếu cuối cùng Pugh hoặc tôi đã vô tình chạm trúng cái lò xo khiến toàn bộ guồng máy hoạt động. Có lẽ bộ máy đã quá gỉ sét nên nó không chịu hoạt động ngay lập tức. Nó đã bị kẹt, và phải mất vài giờ sau, thứ gì đó mới giải phóng được nguồn năng lượng vận hành đang bị giam cầm bên trong.
Nhưng còn tiếng rít thì sao? Liệu có sinh vật sống nào đang ẩn náu bên trong chiếc hộp không? Phải chăng tôi đang nghe tiếng kêu của một con vật nhỏ đang quằn quại trong đau đớn? Suy ngẫm trong giây lát, tôi cho rằng lời giải thích cho điều này cũng chính là lời giải thích cho điều kia. Gỉ sét! — bí ẩn nằm ở đó. Chính lớp gỉ sét từng ngăn bộ máy hoạt động ngay lập tức nay lại đang gây ra tiếng rít. Những âm thanh kỳ quái đó chẳng qua là vì thiếu đi một hai giọt dầu mà thôi. Lời giải thích ấy có thể không làm Pugh thỏa mãn, nhưng nó làm tôi thỏa mãn.
Nhấc chiếc hộp lên, tôi áp nó sát vào tai.
"Tự hỏi màn biểu diễn nhỏ này sẽ kéo dài trong bao lâu đây. Và chuyện gì sẽ xảy ra khi nó chịu ngưng lại? Tôi hy vọng" — một ý nghĩ khó chịu chợt lóe lên trong đầu tôi — "tôi hy vọng Pugh không vớ được món đồ chơi mới mẻ kỳ thú nào mang dáng dấp của một cỗ máy hủy diệt đấy chứ. Sẽ là một trò đùa thượng hạng nếu cả hắn và tôi đều đang cố gắng giải cái câu đố làm sao để kích hoạt nó đấy."
Tôi không ngại thừa nhận rằng khi suy nghĩ này thoáng qua trong đầu, tôi đã đặt chiếc hộp giải đố của Pugh trở lại bàn trang điểm. Ý nghĩ đó hoàn toàn không làm tôi thấy dễ chịu chút nào. Chiếc hộp rõ ràng chứa đựng một cơ chế kỳ lạ nào đó. Nó có thể còn kỳ lạ hơn là mang lại sự thoải mái. Biết đâu lại là một thiết bị đồng hồ thú vị nào đó thì sao. Tiếng tích tắc, tích tắc, tích tắc gợi liên tưởng đến bộ máy đồng hồ được thiết kế để chạy trong một khoảng thời gian nhất định, rồi sau đó — rồi sau đó, đối với tôi mà nói, sẽ kích ngòi chất nổ và — nổ tung. Sẽ là một cái kết vô cùng duyên dáng cho câu đố nếu nó phát nổ ngay lúc tôi đang đứng đây, mặc áo ngủ và trơ mắt đứng nhìn. Đúng là chiếc hộp rất nhẹ. Có lẽ, như tôi đã nói, toàn bộ sự việc chẳng nặng nổi hai ounce. Nhưng chính cái sự nhẹ bẫng ấy lại có thể là một phần trong trò chơi tinh vi của nhà phát minh. Có những loại chất nổ mà người ta có thể tạo ra một mức độ tàn phá vô cùng thỏa đáng với trọng lượng chưa đầy hai ounce.
Trong lúc tôi còn đang do dự — tôi xin thú nhận! — không biết có nên ngâm chiếc hộp của Pugh vào một xô nước, hay ném nó qua cửa sổ, hay gọi với xuống bảo Bob đem ngay nó đi nơi khác, thì cả tiếng tích tắc lẫn tiếng rít đều ngừng bặt, và mọi thứ trong hộp trở nên tĩnh lặng. Nếu nó định nổ, thì là lúc này hoặc không bao giờ. Theo bản năng, tôi bước về phía cửa.
Tôi đứng chờ với một nỗi bất an nhất định. Tôi chờ đợi trong vô vọng. Chẳng có chuyện gì xảy ra cả, thậm chí tiếng động cũng không tái diễn.
Ngiá như Pugh cứ giữ cái món đồ quý giá của hắn ở nhà. Thứ này thực sự thử thách thần kinh con người ta.
Khi thấy có vẻ như chẳng có chuyện gì xảy ra nữa, tôi quay lại gần chiếc bàn. Tôi liếc nhìn chiếc hộp với vẻ hoài nghi. Tôi cầm nó lên một cách dè dặt. Biết đâu có thứ gì đó sẽ phát nổ bất cứ lúc nào không chừng. Thật quá nực cười nếu món đồ quý giá của Pugh nổ tung ngay trong tay tôi. Tôi lắc nó đầy vẻ ngờ vực; chẳng có tiếng động lục cục nào vang lên. Tôi áp nó vào tai. Không một tiếng động. Chuyện gì đã xảy ra vậy? Phải chăng bộ máy đồng hồ đã chạy hết cót, và cỗ máy được sắp đặt với sự tinh vi ma quái đến mức phải cần một khoảng thời gian nhất định sau khi hết cót thì vụ nổ mới xảy ra? Hay gỉ sét lại khiến bộ máy tiếp tục bị kẹt?
Ít ra thì sau khi gây ra từng ấy náo động, cái thứ này cũng phải bung ra chứ. Tôi đập mạnh chiếc hộp vào góc bàn với vẻ bực tức. Tôi cảm thấy thà cứ để một vụ nổ xảy ra còn hơn là chẳng có gì xuất hiện cả. Chẳng ai muốn bị đánh thức khỏi giấc ngủ ngon vào lúc canh ba chỉ vì một chuyện vặt vãnh.
Ta có tò mò lấy một cái búa ra và thử — như người ta vẫn nói trong các sách dạy nấu ăn — theo một cách khác xem sao.
Đáng tiếc là tôi đã hứa với Pugh sẽ không dùng đến vũ lực. Lễ ra tôi có thể dùng búa đập vỡ tung chiếc hộp ra, rồi ngụy biện rằng nó bị rơi, bị dẫm phải, bị ngồi lên hay tai nạn gì đó nên mới vỡ nát, chỉ có điều tôi sợ Pugh sẽ không tin mình. Bản thân gã là một kẻ chuyên nói dối nên luôn mang một mối nghi ngờ kinh niên về sự trung thực của người khác.
À này, nếu anh không định nổ tung, không định bung ra hay làm gì cả, thì tôi xin phép đi ngủ đây.
Tôi gõ thêm một cái cuối bằng đốt ngón tay và lắc chiếc hộp lần cuối, đặt nó lại lên bàn, tắt đèn gas và quay lại giường.
Tôi vừa thiu thiu chợp mắt trở lại thì cái hộp đó lại bắt đầu kêu. Đúng là Pugh đã mua chiếc hộp giải đố này, nhưng hiển nhiên toàn bộ niềm vui sướng khi sở hữu nó lại được định sẵn là dành cho tôi. Thật vô ích khi nghĩ đến chuyện ngủ ngác khi cái màn trình diễn ấy đang diễn ra. Tôi lại ngồi bật dậy trên giường.
Có vẻ như câu đố nằm ở chỗ làm thế nào để có thể ngủ được khi trong phòng ngủ có món đồ mà Pugh mới mua về đây. Kiểu này còn thú vị hơn bài thuốc cổ truyền chữa bệnh mèo kêu trên mái nhà ấy chứ.
Tôi thấy tiếng động rõ ràng là lớn hơn trước; điều này đúng với cả tiếng tích tắc lẫn tiếng rít.
Biết đâu, tôi tự nhủ khi bật sáng đèn gas lên lần nữa, vụ nổ sẽ xảy ra vào lần này chăng.
Tôi quay sang nhìn chiếc hộp. Không còn nghi ngờ gì nữa; tiếng động đã lớn hơn. Và nếu tôi có thể tin vào đôi mắt mình, thì chiếc hộp đang chuyển động — thực hiện một chuỗi những cú nhảy nhỏ. Đây có lẽ chỉ là ảo ảnh thị giác, nhưng với mỗi tiếng tích tắc, chiếc hộp dường như lại nảy lên một chút. Trong những tiếng rít — nghe còn giống tiếng kêu của một con vật đang quằn quại trong nỗi đau đớn tột cùng hơn cả lúc trước — nếu nó không tự chao nghiêng hết đầu này đến đầu khác, thì tôi thề sẽ không bao giờ tin vào chứng cứ từ đôi mắt mình nữa. Và chắc chắn là chiếc hộp đã to lên; tôi có thể thề không chỉ là nó đã lớn hơn, mà nó vẫn đang lớn lên ngay khi tôi đứng đó nhìn ngắm. Nó đã phình ra, và vẫn đang tiếp tục phình ra, rộng hơn, dài hơn và sâu hơn. Pugh, dĩ nhiên, sẽ quy điều đó cho thế lực siêu nhiên; chẳng có gã nào có chiếc mũi thính nhạy với ma quỷ như hắn. Tôi có thể hình dung ra cảnh hắn đứng ở vị trí của tôi, run lẩy bẩy trong chiếc áo ngủ khi chứng kiến phép lạ đó diễn ra trước mắt mình. Lời giải đáp xuất hiện ngay trong đầu tôi — thứ mà đời nào Pugh nghĩ ra được! — chính là chiếc hộp được cấu tạo theo kiểu các lớp chồng lên nhau, và cơ chế tinh vi bên trong đang ép các thành hộp dịch chuyển đồng thời cả lên trên lẫn ra ngoài. Tôi cầm nó lên trong tay. Tôi có thể cảm nhận thấy thứ gì đó đang đập vào đáy hộp, tựa như tiếng gõ lốc cốc của một chiếc búa nhỏ xíu.
Đúng là một câu đố hay ho của Pugh. Hắn chắc sẽ bảo đó là tiếng gõ báo hiệu điềm chết chóc. Còn tôi thì không đặt nhiều niềm tin vào mấy cái điềm gở hay mấy thứ đại loại thế, nhưng quả thực đó là một tiếng gõ rất kỳ lạ; không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo đây?
Rõ ràng là chẳng có gì xảy ra cả, ngoại trừ việc những âm thanh bí ẩn đó cứ tiếp tục vang lên. Việc chiếc hộp đã tăng lên về kích thước là điều tôi hoàn toàn chắc chắn, không có gì phải bàn cãi. Tôi dám cá là nó đã phình thêm ít nhất một inch về mọi hướng, lớn thêm được khoảng nửa inch trong suốt thời gian tôi đứng nhìn. Nhưng khi tôi còn đang trố mắt nhìn thì sự lớn lên của nó đột ngột và rõ mồn một dừng lại; nó ngừng chuyển động. Chỉ có tiếng động là vẫn tiếp diễn.
Tôi tự hỏi còn lâu không mới có một chuyện gì đó đáng chú ý xảy ra đây! Chắc chắn là phải có chuyện gì đó sắp xảy ra chứ; chẳng thể nào làm ra cái vẻ om sò thế này mà lại vô tích sự được. Nếu đó là một thứ gì đó mang phong cách cỗ máy hủy diệt và sắp có một vụ nổ xảy ra, thì tôi thà cứ ở lại đây để tận mắt chứng kiến còn hơn. Có lẽ tôi nên châm một tẩu thuốc.
Tôi mặc áo choàng tắm vào. Tôi châm tẩu thuốc. Tôi ngồi thừ ra và dán mắt vào chiếc hộp. Tôi dám cá là mình đã ngồi đó suốt hai mươi phút thì, giống như trước, chẳng có lấy một lời cảnh báo nào, âm thanh bỗng im bặt. Sự ngưng bặt đột ngột ấy khiến tôi giật mình.
Bộ máy lại bị kẹt nữa ư? Hay lần này vụ nổ sắp diễn ra rồi? Nó chẳng nổ gì cả; chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Thế cái hộp này không định mở ra luôn à?
Nó không mở ra. Chỉ là sự tĩnh lặng đột ngột bao trùm, và thế là hết. Tôi ngồi đó chờ đợi thêm vài khoảnh khắc nữa. Nhưng tôi chờ trong vô ích. Tôi đứng dậy. Tôi cầm chiếc hộp lên tay. Tôi lắc nó.
Cái trò giải đố này đúng là hóc búa thật. Tôi áp chiếc hộp lần lượt vào tai này rồi tai kia. Tôi búng liền mấy cái mạnh bằng các đốt ngón tay. Không có lấy một tiếng động đáp lại, thậm chí cả thứ âm thanh vang vọng mà Pugh và tôi từng nhận thấy lúc đầu cũng biến mất. Nó nghe còn trống rỗng hơn trước. Cứ như thể linh hồn của chiếc hộp đã chết vậy. Tôi đoán là nếu mình đặt nó xuống, tắt đèn gas và quay lại giường, thì chỉ khoảng nửa tiếng nữa, ngay lúc tôi thiu thiu ngủ, cái màn trình diễn này sẽ lại tái diễn cho mà xem. Biết đâu "quá tam ba bận" thì sao.
Nhưng tôi đã nhầm — chẳng có lần thứ ba nào cả. Khi tôi quay lại giường vào lúc đó, tôi chìm ngay vào giấc ngủ và được thả cho ngủ yên; không có màn trình diễn nào tiếp diễn nữa, ít nhất là theo những gì tôi biết. Bởi vì vừa chui vào chăn là tôi bị cơn buồn ngủ không tài nào cưỡng lại được tấn công, cơn buồn ngủ áp đảo đến mức tôi — tôi tưởng tượng chắc là ngay lập tức — đã chìm vào giấc ngủ kéo dài đến tận khi trời đã sáng rõ. Còn liệu có thêm âm thanh bí ẩn nào phát ra từ trong lòng chiếc hộp của Pugh nữa hay không thì tôi chịu. Nếu chúng có phát ra đi chăng nữa thì cũng chẳng tài nào đánh thức nổi tôi dậy.
Thế mà, khi tôi thực sự tỉnh giấc, tôi có cảm giác lờ mờ rằng việc mình thức dậy là do một điều gì đó kỳ lạ gây ra. Đó là gì thì tôi không thể đoán được. Ấn tượng của riêng tôi là tôi bị đánh thức bởi cái chạm tay của ai đó. Nhưng ấn tượng ấy chắc chắn là nhầm lẫn, bởi vì như tôi có thể dễ dàng nhìn thấy khi đảo mắt quanh phòng, chẳng có ai ở trong phòng để mà chạm vào tôi cả.
Trời đã sáng bạch. Tôi nhìn đồng hồ; đã gần mười một giờ. Thường thì tôi là kẻ ngủ nướng, nhưng tôi hiếm khi ngủ đến tận giờ này. Tên đểu cáng Bob chắc chắn sẽ để mặc tôi ngủ cả ngày mà chẳng thèm nghĩ đến chuyện gọi tôi dậy. Tôi vừa định tung chăn bước xuống giường với ý định bấm chuông cho Bob một trận ra trò vì tội để tôi ngủ muộn thế này, thì ánh mắt tôi rơi vào chiếc bàn trang điểm — nơi tối hôm qua tôi đã đặt chiếc hộp giải đố của Pugh. Nó đã biến mất!
Sự biến mất của nó khiến tôi ngạc nhiên đến mức chạy ngay lại bàn. Nó đã biến mất thật. Nhưng nó đi không xa; nó đã vỡ tung thành từng mảnh! Những mảnh vỡ nằm vương vãi đúng ngay chỗ chiếc hộp từng đứng. Câu đố đã tự giải xong. Phải nói là chiếc hộp đã mở tung, mở tung một cách đầy dữ dội. Giống như gã Humpty Dumpty bất hạnh mà các sử gia kể lại rằng từng ngồi trên bức tường thành, chắc chắn "tất cả ngựa của nhà vua và tất cả bề tôi của nhà vua" cũng không bao giờ có thể chắp vá chiếc hộp của Pugh lại được nữa!
Phần gỗ khảm đã tự rã ra thành các thành phần cấu thành của nó. Làm thế nào mà những bộ phận ấy từng được ghép lại với nhau đúng là một điều kỳ bí. Chúng không hề được dán trên bất kỳ lớp nền nào giống như các sản phẩm khảm gỗ thông thường. Các miếng gỗ rời rạc không chỉ khác nhau về hình dáng và kích thước mà còn mỏng như lớp vỏ bào mỏng nhất; thế mà chiếc hộp lại được hình thành chỉ bằng cách ghép chúng lại với nhau. Kẻ làm ra chiếc hộp đó hẳn phải sở hữu sự khéo léo xứng đáng với một mục đích cao cả hơn.
Tôi nhận ra cách thức hoạt động của câu đố. Chiếc hộp chứa một hệ thống lò xo, khi được giải phóng, chúng sẽ tự bung ra theo các hướng khác nhau cho đến khi chính sức giãn nở đó xé nát chiếc hộp thành từng mảnh. Kia kìa, những chiếc lò xo đang nằm giữa đống đổ nát do chúng gây ra.
Bên cạnh những chiếc lò xo ấy, giữa đống đổ nát còn có một thứ khác; đó là một mẩu giấy viết thư nhỏ. Tôi nhặt nó lên. Mặt sau của nó được viết bằng một nét chữ nhỏ, nguệch ngoạc: "Quà Tặng Cho Bạn." Quà gì tặng cho tôi nhỉ? Tôi nhìn, và không phải lần đầu tiên kể từ khi trông thấy món đồ quý giá của Pugh, tôi gần như không thể tin vào mắt mình.
Đang lơ lửng giữa hai sợi dây thép đứng, với phần đầu uốn cong giữ nó lơ lửng giữa không trung, là một mảnh thủy tinh hoặc — một viên pha lê. Mẩu giấy viết thư vừa vặn che kín nó. Tôi hiểu ra vấn đề, khi Pugh và tôi gõ búa, chính thứ này đã khiến những tiếng gõ phản hồi phát ra từ bên trong. Những nhát gõ của chúng tôi đã làm các sợi dây dao động, và trong những nhịp dao động đó, viên pha lê được treo lơ lửng đã chạm vào thành hộp.
Tôi nhìn lại mẩu giấy. "Quà Tặng Cho Bạn." Đây chính là món quà — viên pha lê này sao? Tôi chăm chú ngắm nhìn nó.
"Nó không thể là kim cương được."
Ý nghĩ ấy thật nực cười, vô lý. Chẳng có kẻ nào lại đem nhét kim cương vào bên trong một cái hộp giải đố trị giá hai xu rưỡi cả. Thứ này to bằng cả quả óc chó cơ mà! Thế mà — tôi là một kẻ có con mắt khá tinh tường về đá quý — nếu đây không phải là kim cương thô thì nó cũng là bản sao hoàn hảo nhất mà tôi từng thấy. Tôi nhặt nó lên. Tôi săm soi nó thật kỹ. Càng ngắm kỹ, sự kinh ngạc trong tôi càng lớn dần.
Nó chính là kim cương!
Nhưng ý nghĩ đó quá ho đường để có thể tin được. Ai lại đem tặng một viên kim cương to bằng quả óc chó kèm theo một món đồ chơi giải đố rẻ tiền cơ chứ? Hơn nữa, tất cả những viên kim cương trên thế giới này có kích thước như thế đều nổi tiếng chẳng kém gì viên Koh-i-noor.
Nếu đây là kim cương, thì nó đáng giá — đáng giá — Chúa mới biết nếu là kim cương thì nó đáng giá bao nhiêu.
Tôi soi nó qua một chiếc kính lúp bỏ túi cường độ cao. Khi làm vậy, tôi không khỏi thốt lên một tiếng kinh ngạc.
Đánh cược cả gia cơ với một quả cam tàu đi, đây chính là kim cương!
Lời vừa thốt ra khỏi miệng thì có tiếng gõ cửa.
Vào đi! Tôi gọi lớn, đinh ninh đó là Bob. Không phải Bob, mà là Pugh. Theo bản năng, tôi giấu vội chiếc kính lúp và viên pha lê ra sau lưng. Vừa thấy tôi mặc áo ngủ, Pugh bắt đầu lắc đầu ngầy ngậy.
Trời ạ, anh Tress, mấy giờ rồi thế hả! Này thân mến ơi, tôi đã ăn sáng, đọc báo và xem thư từ xong xuôi, đi từ nhà tôi đến tận đây mà anh vẫn chưa dậy cơ à!
Trông tôi có giống người chưa dậy không nào?
Chà, anh Tress! Tress ạ! Hắn tiến lại gần bàn trang điểm. Ánh mắt hắn rơi vào đống đổ nát. Cái gì thế này?
Đó là lời giải cho câu đố đấy.
Anh đã — anh đã giải nó một cách đàng hoàng đấy chứ, Tress?
Nó tự giải đấy chứ. Việc chúng ta cầm nắm, gõ và đập búa chắc đã giải phóng những chiếc lò xo bên trong hộp, và trong đêm qua, khi tôi ngủ, chúng đã khiến chiếc hộp tự bung ra.
Khi anh ngủ á? Chúa tôi! Lạ thật đấy! Thế — thế những thứ này là gì?
Hắn đã phát hiện ra hai sợi dây thép thẳng đứng dùng để giữ viên pha lê lơ lửng.
Tôi đoán chúng là một phần của câu đố.
Thế trong hộp có gì không? Cái gì thế này? Hắn nhặt mẩu giấy lên; tôi đã để quên nó trên bàn. Hắn đọc những dòng chữ viết trên đó: "'Quà Tặng Cho Bạn.' Nghĩa là gì thế? Tress, cái này có trong hộp à?"
Đúng thế.
Nghĩa quà cáp gì thế này? Trong hộp còn có gì khác nữa không?
Pugh, nếu anh chịu ra khỏi phòng này thì tôi mới có thể thay đồ được; tôi không có thói quen tiếp khách sớm thế này, bằng không tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để đón tiếp anh rồi. Nếu anh chịu đợi ở phòng bên, tôi sẽ sang ngay khi mặc quần áo xong. Có một vài vấn đề nho nhỏ liên quan đến chiếc hộp mà tôi muốn bàn với anh.
Vấn đề liên quan đến chiếc hộp á? Vấn đề gì thế?
Tôi sẽ nói cho anh biết, Pugh, khi tôi đã vệ sinh cá nhân xong xuôi.
Sao bây giờ anh không nói luôn đi?
Ý anh là tôi phải đứng đây run lẩy bẩy trong chiếc áo ngủ trong khi anh cứ đứng thong thả ba hoa thế à? Cảm ơn nhé; tôi rất biết ơn nhưng xin từ chối. Tôi xin phép hỏi anh lần nữa, Pugh, phiền anh đợi tôi ở căn phòng bên cạnh nhé?
Hắn lủi về phía cửa. Đi được dăm bước, hắn khựng lại.
Tôi — tôi hy vọng là anh — anh không chơi xỏ tôi đấy chứ, Tress?
Chơi xỏ anh á? Đời nào tôi lại đi chơi xỏ người bạn thân nhất của mình cơ chứ?
Khi hắn đã đi khuất — có vẻ như với một bộ mặt đầy vẻ hoài nghi — tôi mang viên pha lê ra cửa sổ. Tôi kéo rèm cửa lên. Tôi để ánh nắng chiếu rọi vào nó. Tôi săm soi nó lại một lần nữa, thật gần và thật kỹ lưỡng với sự trợ giúp của chiếc kính lúp bỏ túi. Đó chính là kim cương; không thể nghi ngờ gì nữa. Nếu với kiến thức về đá quý của mình mà tôi còn bị lừa, thì tôi đã bị lừa một cách ngoạn mục chưa từng thấy trong đời. Tim tôi đập loạn nhịp khi nhận ra thực tế rằng mình đang nắm giữ trong tay thứ rất có thể là một gia tài lớn đối với một kẻ có những ham muốn bình thường. Dĩ nhiên, Pugh chẳng biết gì về những gì tôi đã khám phá ra, và chẳng có lý do gì để hắn phải biết cả. Chẳng có lấy một lý do! Rắc rối duy nhất là nếu tôi ém nhẹm chuyện này, đem bán viên đá và sử dụng số tiền bán được, tôi sẽ phải bịa ra một câu chuyện để giải thích cho việc tại sao bỗng nhiên mình lại giàu sụ lên như thế. Pugh nắm rõ chuyện của tôi hầu như chẳng kém gì chính tôi. Đó là cái khổ của việc có những người bạn thâm niên thế này đấy!
Khi tôi ra gặp Pugh, tôi thấy hắn đang nhảy cẫng lên phòng khách như một con gấu đang đứng trên vỉ sắt nóng. Hắn chẳng thèm cho tôi thò mũi vào cửa đã lao vào tấn công tôi.
Tress, đưa tôi thứ có trong hộp đây.
Pugh thân mến, sao anh biết trong hộp có thứ gì để mà đòi?
Tôi biết chắc chắn là có!
Thế á? Nếu anh biết trong hộp có thứ gì đó, thì có lẽ anh cũng sẽ nói cho tôi biết thứ đó là gì chứ nhỉ?
Hắn liếc tôi đầy vẻ ngờ vực. Rồi tiến lại gần, hắn đặt lên cánh tay tôi một bàn tay đang run lẩy bẩy.
Tress, anh — anh sẽ không chơi xỏ một người bạn cũ chứ.
Anh nói đúng đấy, Pugh, tôi không làm thế đâu, mặc dù tôi tin là đôi khi anh vẫn có những hoài nghi về chuyện đó. Nhân tiện đây, Pugh, tôi tin rằng mình là người bạn lâu năm nhất mà anh có đấy.
Tôi — tôi không biết nữa. Có — có Brasher kìa.
Brasher! Brasher là ai chứ? Anh lại đem tình bạn của tôi ra so sánh với thứ tình bạn của một kẻ như Brasher cơ à? Hãy nghĩ xem chúng ta có những sở thích chung nào, anh và tôi. Cả hai chúng ta đều là những nhà sưu tầm.
Ừ — ừ, chúng ta đều là nhà sưu tầm.
Tôi biến lợi ích của mình thành lợi ích của anh, và anh biến lợi ích của anh thành lợi ích của tôi. Đúng thế không, Pugh?
Tress, rốt cuộc — rốt cuộc trong hộp có cái gì?
Tôi sẽ thành thật với anh, Pugh. Giả sử trong hộp thực sự có thứ gì đó, liệu anh có sẵn lòng cưa đôi với tôi về phát hiện này không?
Cưa đôi á! Phát hiện của anh cơ à, Tress! Trả lại thứ thuộc về tôi mau!
Rất sẵn lòng, Pugh, nếu anh chịu nói cho tôi biết thứ gì là của anh.
Nếu — nếu anh không đưa lại cho tôi thứ có trong hộp, tôi sẽ — tôi sẽ gọi cảnh sát đấy.
Cứ làm thế đi! Vậy thì tôi sẽ có cơ hội giao nộp thứ có trong hộp cho họ để nó được trao trả lại cho đúng chủ nhân thực sự của nó.
Chủ nhân thực sự á! Tôi mới là chủ nhân thực sự của nó chứ!
Xin lỗi nhé, nhưng tôi không hiểu sao lại thế được; ít nhất là cho đến khi cảnh sát điều tra rõ ràng. Tôi cho rằng chủ nhân thực sự phải là người mà anh đã mua chiếc hộp từ đó, hoặc, có lẽ là người mà người đó đã mua lại, và không chừng đã đem bán nó đi trong sự vô tri hoặc nhầm lẫn. Cứ thế đi, Pugh, nếu anh chịu gọi cảnh sát, chúng ta sẽ nhận được lòng biết ơn từ một người mà chúng ta chưa từng nghe tên bao giờ trong đời — tôi vì đã khám phá ra nội dung bên trong hộp, còn anh vì đã đem trả lại chúng.
Vừa nói câu đó, tôi thấy khuôn mặt Pugh trông thật đáng thương. Hắn há hốc mồm thở hổn hển. Hắn thậm chí lôi cả khăn tay ra để lau mồ hôi trán.
Tress, tôi — tôi nghĩ anh không cần phải dùng cái giọng điệu đó với tôi đâu. Chẳng có chút tình cảm nào cả. Thế — thế rốt cuộc trong hộp có cái gì?
Chúng ta hãy rõ ràng với nhau thế này nhé, Pugh. Nếu anh không giao nộp thứ có trong hộp cho cảnh sát, thì tôi sẽ đòi cưa đôi.
Pugh lại bắt đầu nhảy cẫng lên quanh phòng.
Đúng là tôi ngu ngốc mới đi tin tưởng anh! Lẽ ra tôi phải biết không nên tin anh mới phải. Tôi chẳng nói gì cả. Tôi quay người bấm chuông gọi điện. Thế này là thế nào?
Điều đó, Pugh thân mến ạ, là để gọi bữa sáng, và nếu anh muốn, là để gọi cả cảnh sát nữa. Anh biết đấy, dù anh đã ăn sáng rồi nhưng tôi thì chưa. Có lẽ trong lúc tôi đang ăn điểm tâm, anh muốn gọi các đại diện của pháp luật và trật tự đến đấy.
Bob bước vào. Tôi gọi bữa sáng. Rồi tôi quay sang Pugh. Anh có muốn dùng gì không?
Không, tôi — tôi ăn sáng rồi.
Tôi đâu có nghĩ đến bữa sáng. Tôi đang nghĩ đến — một chuyện khác. Bob đang sẵn sàng phục vụ anh kìa, nếu ví dụ anh muốn sai vặt nó đi đâu.
Không, tôi chẳng cần gì cả. Bob cứ đi đi.
Bob đi rồi. Ngay khi hắn vừa khuất dạng, Pugh quay phắt lại phía tôi. Anh sẽ được nửa phần. Trong hộp có cái gì?
Tôi sẽ được nửa phần á?
Anh chắc chắn sẽ được!
Tôi nghĩ không cần thiết phải đưa các điều khoản trong thỏa thuận nhỏ của chúng ta thành văn bản đen trắng rành mạch đâu. Tôi tin rằng trong hoàn cảnh này, tôi có thể tin tưởng anh được đấy, Pugh. Tôi tin là mình đủ khả năng để chắc chắn rằng trong vụ này, anh không dám qua mặt tôi đâu. Thứ đó nằm trong hộp đấy.
Tôi giơ viên pha lê ra giữa ngón tay cái và ngón trỏ.
Nó là cái gì thế?
Đó cũng là điều tôi đang muốn tìm hiểu đây.
Cho tôi xem nào.
Anh cứ thoải mái ngắm nó ngay tại chỗ đi. Cứ nhìn bao lâu tùy thích và săm soi cho kỹ vào.
Pugh rướn người qua tay tôi. Đôi mắt hắn bắt đầu ánh lên tia sáng. Bản thân Pugh cũng chẳng phải tay vừa trong việc nhận diện đá quý.
Nó — nó là — Tress ơi! — đây là kim cương phải không?
Câu hỏi đó tôi cũng vừa tự hỏi mình xong.
Cho tôi xem nào! Ở với tôi sẽ an toàn mà! Nó là của tôi cơ mà!
Tôi lập tức giấu bén vật đó ra sau lưng.
Xin lỗi nhé, nó không thuộc về anh cũng chẳng thuộc về tôi. Nó rất thuộc về kẻ đã bán món đồ chơi giải đố đó cho cái gã mà anh đã mua lại — có lẽ là một góa phụ khốn khổ nào đó, Pugh ạ, hoặc một đứa trẻ mồ côi bất hạnh — hãy nghĩ mà xem. Chúng ta đừng để xảy ra thêm sự hiểu lầm nào về điểm đó nữa nhé, người bạn thân mến của tôi. Dù vậy, vì anh là người bạn thân lâu năm của tôi, tôi sẵn lòng tin tưởng giao cho anh món phát hiện này của tôi, với điều kiện anh không được mang nó ra khỏi tầm mắt tôi và phải trả lại ngay khoảnh khắc tôi yêu cầu.
Anh — anh đối xử với tôi tàn nhẫn quá đấy. Tôi ra hiệu đưa tay vào túi áo ghi-lê. Tôi sẽ trả lại cho anh mà!
Tôi đưa viên pha lê cho hắn, kèm theo cả chiếc kính lúp bỏ túi của mình.
Với sự trợ giúp của chiếc kính đó, tôi tưởng tượng anh sẽ có thể tiến hành một cuộc kiểm tra kỹ càng hơn đấy, Pugh ạ.
Hắn bắt đầu soi nó qua chiếc kính lúp. Vừa nhìn vào, hắn đã thốt lên một tiếng kinh ngạc. Chỉ một lát sau, hắn ngước lên nhìn tôi. Đôi mắt hắn lấp lánh sau tròng kính. Tôi thấy rõ là hắn đang run.
Tress, nó — nó là kim cương, kim cương Brazil chính hiệu. Nó đáng giá cả gia tài đấy!
Tôi rất vui vì anh nghĩ thế.
Vui vì tôi nghĩ thế á! Anh không nghĩ đây là kim cương thật à?
Trông nó có vẻ là kim cương. Trong điều kiện bình thường thì tôi sẽ không ngần ngại khẳng định nó chính là kim cương. Nhưng khi cân nhắc các tình tiết xoay quanh việc phát hiện ra nó, tôi lại đâm ra hoài nghi. Anh đã mua cái hộp giải đố đó bao nhiêu tiền thế, Pugh?
Chín xu; gã đó đòi một shilling, nhưng tôi đưa chín xu. Gã có vẻ mãn nguyện.
Chín xu! Liệu có hợp lý không khi chúng ta tìm thấy một viên kim cương — nếu đúng là kim cương thì đây là viên đá tuyệt đẹp nhất mà tôi từng thấy và từng chạm tay vào — bên trong một món đồ chơi giải đố giá chín xu? Chẳng phải nó lọt vào đó một cách ngẫu nhiên đâu, rõ ràng nó được đặt ở đó để được tìm thấy, và rõ ràng là dành cho bất kỳ ai tình cờ giải được câu đố; cứ nhìn dòng chữ trên mẩu giấy thì rõ.
Pugh săm soi lại viên pha lê.
Nó là kim cương! Tôi dám cá cả mạng sống rằng đây là kim cương!
Dẫu vậy, dù nó có là kim cương đi nữa, tôi vẫn thấy có điều gì đó bất ổn!
Ý anh là sao?
Tôi có linh cảm mạnh mẽ rằng kẻ đã nhặt viên kim cương đó bỏ vào trong hộp giải đố có ý định chơi khăm kẻ phát hiện ra nó. Bản chất của trò đùa đó là gì thì hiện tại tôi chưa thể nói trước, nhưng tôi rất muốn đánh cược với anh rằng kẻ chế tạo ra cái hộp giải đố đó là một tay chơi khăm thực thụ đầy tinh vi. Tôi có thể sai, Pugh ạ; rồi chúng ta sẽ thấy. Nhưng cho đến khi chứng minh được điều ngược lại, tôi không tin rằng trên đời này lại có một kẻ điên khùng nào lại đem vứt bỏ một viên kim cương trị giá — ta cứ thử nói là một nghìn bảng xem — một cách vô duyên vô cớ như thế.
Một nghìn bảng á! Viên kim cương này đáng giá nhiều hơn một nghìn bảng rất nhiều.
Ừ, điều đó càng củng cố thêm lập luận của tôi; tôi không tin rằng trên đời có một kẻ điên nào lại đem vứt bỏ một viên kim cương trị giá hơn một nghìn bảng với sự bồng bột tuyệt đối giống như hành động của chủ nhân thực sự của viên đá mà tôi tìm thấy trong món đồ chơi chín xu của anh đâu, Pugh ạ.
Trên thế giới này từng có những nhân vật kỳ quặc, những nhân vật vô cùng kỳ quặc. Dù sao, như anh nói đấy, chúng ta cứ chờ xem. Tôi hình như biết một người sẵn lòng sở hữu một viên kim cương thế này, và hơn thế nữa, sẵn sàng trả một mức giá hợp lý để sở hữu nó; tôi sẽ mang nó đến chỗ hắn và xem hắn nói gì.
Pugh, trả lại viên kim cương đó cho tôi mau.
Tress thân mến, tôi chỉ định —
Bob bước vào mang theo khay ăn sáng.
Pugh, hoặc là anh trả lại nó cho tôi ngay lập tức, hoặc Bob sẽ đi gọi các đại diện của pháp luật và trật tự đấy.
Hắn đành đưa lại viên kim cương cho tôi. Tôi ngồi xuống bàn ăn sáng với một sự thèm ăn tràn trề. Pugh đứng đó lườm nguýt tôi.
Joseph Tress, tôi có một niềm tin chắc chắn, và tôi không ngần ngại nói thẳng bằng tiếng Anh rằng anh là một tên trộm.
Pugh thân mến, có vẻ như chúng ta đang có đầy đủ tiềm năng để trở thành một cặp đôi đạo tặc đấy chứ.
Đừng có đánh đồng tôi với anh!
Không đâu, anh còn tệ hơn tôi đấy. Chính anh mới là kẻ từ chối trả lại nội dung bên trong chiếc hộp cho chủ nhân thực sự của nó. Hãy tự đặt mình vào hoàn cảnh đó xem, anh cũng có chút ít lẽ phải mà, người bạn thân mến của tôi! — anh có nghĩ rằng một viên kim cương trị giá hơn một nghìn bảng lại có thể được mua một cách hợp pháp với giá chín xu không?
Hắn lại giở cái thói quen cũ là nhảy cẫng lên khắp phòng.
Đúng là tôi ngu ngốc khi để anh giữ cái hộp! Lẽ ra tôi phải thừa khôn ngoan để không tin tưởng anh mới phải; Chúa biết là anh đã cho tôi đủ lý do để không tin nổi anh rồi! Hết lần này đến lần khác! Tiếng tăm của anh quá ư là khét tiếng rồi đấy! Anh đã vơ vét cả bạn bè lẫn kẻ thù như nhau — cả bạn bè lẫn kẻ thù như nhau! Còn về đống rác rưởi mà anh gọi là bộ sưu tập của mình ấy, chín phần mười trong số đó, tôi biết chắc chắn là anh đã đi trộm cắp về chứ gì.
Ai đã ăn trộm chiếc tẩu thuốc Sir Walter Raleigh của tôi thế nhỉ? Chẳng phải là một gã tên là Pugh đó sao?
Nghe đây, Joseph Tress!
Tôi đang nghe đây.
Ồ, nói chuyện với anh đúng là vô ích, chẳng ích gì chút nào! Anh — anh đã trơ trơ với mọi tiếng gọi của lương tâm rồi! Tôi xin mạn phép hỏi ngài Tress đây, anh định tính làm gì tiếp theo nào?
Tôi chẳng định làm gì cả, ngoại trừ việc gọi các đại diện của pháp luật và trật tự. Nếu không làm thế, Pugh thân mến ạ, tôi có một ý tưởng mơ hồ, rất mơ hồ là sẽ mang nội dung bên trong món đồ chơi chín xu của anh đến một hãng nào đó ở Hatton Garden, những kẻ chuyên buôn bán đá quý, để tìm hiểu từ họ xem họ có sẵn sàng trả tiền cho nó không, và nếu có thì là bao nhiêu.
Tôi sẽ đi cùng anh.
Rất sẵn lòng, với điều kiện anh phải trả tiền xe taxi.
Tôi trả tiền taxi á! Tôi sẽ trả một nửa.
Không đời nào. Hoặc là anh trả toàn bộ tiền cước, hoặc tôi sẽ đi một chiếc xe còn anh đi chiếc khác. Tiền cước taxi từ đây đến Hatton Garden là ba shilling. Nếu anh định đi chung xe với tôi, phiền anh vui lòng nộp đủ ba shilling đó trước khi chúng ta xuất phát.
Hắn há hốc mồm, nhưng cuối cùng vẫn chịu nộp ba shilling. Trên đời này có rất ít thứ khiến tôi thích thú bằng việc moi tiền từ tay Pugh!
Trên đường đến Hatton Garden, chúng tôi cãi nhau gần như suốt dọc đường. Tôi thừa nhận mình cảm thấy khá thỏa mãn khi chọc tức Pugh, hắn là một kẻ dễ nổi cáu làm sao. Hắn muốn biết tôi nghĩ chúng ta sẽ kiếm được bao nhiêu từ viên kim cương này.
Anh đừng có mong kiếm được nhiều từ nội dung bên trong một món đồ chơi chín xu, thậm chí còn chẳng đủ tiền trả cước taxi ấy chứ, Pugh.
Hắn liếc tôi nhưng im lặng suốt mấy phút liền. Rồi hắn lại mở mồm.
Tress, tôi nghĩ chúng ta không nên để nó ra đi với giá thấp hơn — thấp hơn năm nghìn bảng đâu.
Nói thật đấy, Pugh, tôi nghi ngờ liệu sau khi toàn bộ vụ việc kết thúc, chúng ta có kiếm nổi năm nghìn xu cho nó không, hay thậm chí là năm nghìn đồng xu kẽm.
Nhưng tại sao lại không? Tại sao lại không chứ? Đó là một viên đá tráng lệ — tuyệt tráng lệ! Tôi dám cá cả mạng sống của mình vào đó cơ mà.
Tôi lấy đầu ngón tay vỗ nhẹ vào ngực mình.
Có một tiếng nói cảnh báo trong lồng ngực tôi mà lẽ ra nó cũng phải có trong lồng ngực anh đấy, Pugh! Có gì đó mách bảo tôi, có lẽ chính là nhờ dòng máu lẽ phải cực kỳ mạnh mẽ mà tôi đang sở hữu, rằng thứ bên trong món đồ chơi chín xu của anh hóa ra lại là một trò lừa đảo vĩ đại — một trò chơi khăm tinh vi đầy thực tế đấy bạn tôi ơi.
Tôi không tin đâu.
Nhưng tôi nghĩ là hắn có tin đấy; ít nhất thì tôi cũng đã làm lung lay những nền tảng đức tin của hắn rồi.
Chúng tôi bước vào văn phòng ở Hatton Garden đi sát cạnh nhau; trong nỗi lo sợ tôi vượt lên trước, Pugh thậm chí túm chặt lấy tay áo tôi. Văn phòng được ngăn đôi bởi một quầy giao dịch chạy từ tường này sang tường kia. Tôi tiến đến chỗ một người đàn ông đang đứng phía bên kia quầy.
Tôi muốn bán cho anh một viên kim cương.
Chúng tôi muốn bán cho anh một viên kim cương, Pugh chen vào.
Tôi quay sang nhìn Pugh. Tôi "gài" hắn vào tầm mắt của mình.
Tôi muốn bán cho anh một viên kim cương. Nó đây này. Anh sẽ trả tôi bao nhiêu cho nó?
Lấy viên pha lê ra khỏi túi áo ghi-lê, tôi đưa nó cho người đàn ông ở phía bên kia quầy. Ngay khi hắn cầm được nó trong tay và nhận ra thứ mình đang cầm là gì, tôi nhận thấy một tia sáng bất ngờ lóe lên trong mắt hắn.
Đây là — đây là một viên đá khá đẹp đấy.
Pugh huých cùi chỏ vào tay tôi.
Tôi đã bảo anh thế mà. Tôi phớt lờ Pugh. Anh trả tôi bao nhiêu cho nó?
Ý anh là tôi sẽ trả bao nhiêu tiền mặt trao tay ngay tại chỗ ấy hả?
Đúng thế — anh trả bao nhiêu tiền mặt trao tay ngay tại chỗ?
Người đàn ông xoay đi xoay lại viên pha lê trong tay.
Chà, đây là một yêu cầu khá lớn đấy. Chúng ta không thường xuyên có cơ hội mua được một viên đá như thế này ngay tại quầy giao dịch đâu. Anh nghĩ sao nếu — chà — nếu là mười nghìn bảng?
Mười nghìn bảng! Con số vượt ngoài sức tưởng tượng điên rồ nhất của tôi. Pugh há hốc mồm. Hắn lảo đảo ngã vào quầy.
Mười nghìn bảng! Hắn lặp lại.
Người đàn ông ở bên kia quầy liếc nhìn hắn, tôi có cảm giác là với một chút tò mò.
Nếu các anh có thể đưa ra người bảo lãnh, hoặc thỏa mãn tôi bằng cách nào đó về tính xác thực của các anh, tôi sẵn sàng trả cho viên kim cương này một tờ séc để trống trị giá mười nghìn bảng, hoặc nếu các anh thích, tiền mặt luôn cũng được.
Tôi trố mắt nhìn; tôi vốn không quen thấy các giao dịch kinh doanh được tiến hành theo kiểu đó chút nào.
Chúng tôi nhận lời, Pugh thì thầm; tôi tin là hắn quá choáng váng trước cảm xúc của mình đến mức chẳng làm gì hơn ngoài việc lẩm bẩm. Tôi chen ngang.
Thưa ngài, ngài sẽ tha lỗi cho tôi nếu nói rằng ngài đi đến kết luận quá nhanh đấy chứ. Thứ nhất, làm sao ngài chắc chắn đó là kim cương?
Người đàn ông đứng sau quầy mỉm cười.
Tôi sẽ chẳng ra gì nếu giữ cái vị trí này mà không nhận diện được kim cương ngay khi vừa nhìn thấy nó, nhất là với một viên đá thế này.
Nhưng ngài không có bài kiểm tra nào có thể áp dụng được sao?
Chúng tôi có các bài kiểm tra được áp dụng trong những trường hợp còn hoài nghi, nhưng trong trường hợp này thì không còn gì phải nghi ngờ nữa. Tôi chắc chắn đây là kim cương cũng như chắc chắn không khí tôi đang thở đây. Tuy nhiên, đây là bài kiểm tra.
Ngay cạnh người nói có một chiếc bánh xe. Nó được vận hành bằng bàn đạp. Trông nó giống một loại đá mài của thợ hàn lưu động loại cao cấp hơn là bất cứ thứ gì khác. Người đàn ông sau quầy đặt chân lên bàn đạp. Bánh xe bắt đầu quay. Hắn đưa viên pha lê tiếp xúc với chiếc bánh xe đang quay vù vù. Có tiếng s — s — sh! Và trong chớp mắt, bàn tay hắn trống hoác; viên pha lê đã biến mất vào không khí.
Chúa tôi! Hắn thở hổn hển. Chưa bao giờ tôi thấy vẻ kinh ngạc tột độ như thế hiện trên gương mặt con người. Nó vỡ vụn ra rồi!