– Khỏe hơn chưa anh bạn?
Tôi ngước lên. Joseph Tress đang cất tiếng hỏi.
– Có chuyện gì thế? Tôi bị ốm à?
– Trông anh có vẻ như vừa trải qua một cơn ngất xỉu nào đó.
Giọng điệu của Tress thật kỳ lạ, thậm chí có phần khô khan.
– Ngất xỉu! Cả đời này tôi chưa từng mắc phải chuyện quái gở ấy.
– Tôi cũng vậy, cho đến khi hút chiếc tẩu đó.
Tôi ngồim dậy. Chính động tác ngồi dậy ấy khiến tôi nhận ra mình vừa nằm dài trên sàn. Và tôi cũng nhận thức rõ rằng đầu óc mình đang trống rỗng và choáng váng hơn mức bình thường. Cảm giác ấy tựa hồ tôi vừa tỉnh giấc sau một giấc ngủ mê mệt, kỳ lạ – một trạng thái mà tôi từng đọc qua sách vở và nghe người ta kể lại, nhưng đây là lần đầu tiên bản thân trải nghiệm.
– Tôi đang ở đâu thế này?
– Anh đang nằm trên chiếc ghế dài trong phòng mình. Ban nãy anh ngã quỵ xuống sàn nhà; nhưng tôi nghĩ tốt hơn hết là nên vực anh lên và đặt ra đây – mặc dù chẳng có ai thèm làm ơn làm phước như thế với tôi khi tôi nằm dưới sàn đâu.
Lại một lần nữa, giọng điệu của Tress tỏ ra vô cùng khô khan.
– Sao anh lại có mặt ở đây?
– À, câu hỏi hay đấy chứ. Anh ta đưa tay xoa cằm – một thói quen từng khiến tôi ngứa mắt không chỉ một lần. – Anh có nghĩ là mình đã hồi phục đủ tỉnh táo để nghe tôi giải thích một cách đơn giản thế này không?
Tôi trân trân nhìn anh ta đầy kinh ngạc. Anh ta vẫn tiếp tục vuốt cằm.
– Sự thật là khi gửi chiếc tẩu cho anh, tôi đã sơ ý quên mất một chút.
– Sơ ý ư?
– Tôi quên dặn anh là đừng có hút nó.
– Và tại sao lại thế?
– Bởi vì... chà, tôi có lý do để tin rằng món đồ đó đã bị tẩm thuốc mê.
– Tẩm thuốc mê!
– Hoặc bị bỏ độc.
– Bỏ độc! Lúc đó thì tôi đã hoàn toàn tỉnh táo. Tôi bật dậy khỏi chiếc ghế dài với một sự lanh lẹ minh chứng cho điều đó.
– Cơ sự là thế này. Tôi có được nó trong một hoàn cảnh khá kỳ quặc. Anh ta dừng lại, như thể chờ tôi đưa ra một lời bình luận, nhưng tôi vẫn im lặng. – Không mấy khi tôi châm hút một món đồ trong bộ sưu tập, nhưng vì lý do nào đó, tôi đã hút chiếc tẩu này. Ý tôi là tôi đã bắt đầu hút nó. Còn việc tôi tiếp tục hút trong bao lâu thì chịu, không sao nhớ nổi. Nó gây ra cho tôi thứ hiệu ứng kỳ quái hệt như những gì nó vừa giáng lên người anh vậy. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm bẹp dưới sàn nhà.
– Dưới sàn nhà á?
– Dưới sàn nhà. Ở một tư thế khó chịu nhất mà anh có thể tưởng tượng ra. Tôi nằm sấp mặt, hai chân quặp lại bên dưới. Chưa bao giờ trong đời tôi lại ngạc nhiên đến thế khi thấy mình rơi vào hoàn cảnh đó. Ban đầu tôi cứ đinh ninh rằng mình vừa bị đột quỵ. Nhưng dần dần tôi nhận ra cảm giác của mình không giống như người bị đột quỵ chút nào. (Nhân tiện xin nói thêm, Tress từng là một bác sĩ quân y). – Tôi cảm thấy buồn nôn rõ rệt. Nhìn quanh quẩn, tôi trông thấy chiếc tẩu. Nó cũng rơi xuống sàn giống như tôi. Xét đến những đường nét chạm trổ tinh vi của nó, tôi đinh ninh rằng cú ngã đã làm chiếc tẩu gãy nát. Thế nhưng khi nhặt lên, tôi thấy nó vẫn nguyên vẹn không mảy may hư hại. Trong lúc đang săm soi nó, một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi. Liệu nó có phải là thủ phạm gây ra chuyện vừa rồi hay không? Giả sử, chẳng hạn như nó đã bị tẩm thuốc mê thì sao? Tôi từng nghe đến những trường hợp như thế. Hơn nữa, ở trường hợp của tôi lại xuất hiện đầy đủ các triệu chứng ngộ độc thuốc, dẫu cho loại thuốc nào đã được sử dụng thì tôi hoàn toàn không thể hình dung nổi. Tôi quyết định sẽ thử lại chiếc tẩu đó một lần nữa.
– Trên người anh á? Hay là trên người một kẻ khác, ý anh là tôi ư?
– Trên người tôi chứ, anh Pugh thân mến của tôi ạ – trên người tôi! Tại thời điểm tiến hành cuộc điều tra ấy, tôi còn chưa hề nghĩ đến anh. Tôi châm lửa và làm một điếu nữa.
– Kết quả thế nào?
– Chà, điều đó còn tùy thuộc vào góc nhìn của anh khi đánh giá sự việc. Xét từ một khía cạnh, kết quả hoàn toàn mỹ mãn – tôi đã chứng minh được rằng món đồ đó thực sự bị tẩm thuốc, và hơn thế nữa.
– Anh lại ngã nữa à?
– Đúng vậy. Và còn dính thêm vài thứ khác nữa kìa.
– Chính vì lý do đó, tôi đoán là anh đã quyết định tống khứ báu vật này sang cho tôi phải không?
– Một phần vì lý do đó, và một phần vì nguyên nhân khác nữa.
– Nói thật nhé, tôi rất cảm kích lòng tốt của anh đấy. Lẽ ra anh nên dán nhãn đề chữ "thuốc độc" lên món đồ ấy chứ.
– Chính xác. Nhưng anh phải nhớ lại xem mình đã từng bao nhiêu lần bảo với tôi rằng anh chẳng bao giờ thèm hút mấy món đồ trong bộ sưu tập của mình cơ mà.
– Đó không phải là lý do để anh không thèm hé môi dù chỉ một lời gợi ý rằng thứ đó nguy hiểm hơn cả thuốc nổ.
– Sau đó tôi mới nhận ra điều đó. Thế nên tôi mới phải ghé qua đây để bù đắp lại chút thiếu sót nhỏ nhặt ấy.
– Thiếu sót nhỏ nhặt, anh gọi thế là nhỏ nhặt ư! Tôi tự hỏi nếu lúc đó anh quay lại mà thấy tôi đã chết cứng thì anh sẽ gọi nó là gì.
– Nếu biết trước anh có ý định lôi nó ra hút thì tôi đã chẳng lấy làm ngạc nhiên chút nào nếu chuyện đó thực sự xảy ra.
– Thật tình đấy, Tress ạ, sự tử tế của anh làm tôi ngày càng kính nể! Thế còn hiện thân của lòng nhân ái tuyệt vời ấy đang nằm ở đâu? Anh đã đút túi nó vì tiếc nuối cái phút lỡ dại bước chân vào con đường hào phóng hiếm hoi đó rồi chứ gì? Hay là nó đã vỡ vụn thành tro bụi rồi?
– Không phải thế này cũng chẳng phải thế kia. Anh cứ tìm chiếc tẩu trên bàn ấy. Tôi chẳng buồn đòi lại mà nó cũng chẳng hề hấn gì. Tôi chỉ nêu lên quan điểm cá nhân của mình khi cho rằng thứ đó không tài nào bị tàn phá nổi. Dĩ nhiên, sau khi đã phát hiện ra những tác dụng tai hại của nó, chắc chắn anh sẽ chẳng muốn châm hút nó lần nữa đâu. Do đó, anh có thể tận hưởng cảm giác tự hào khi sở hữu thứ mà tôi thực sự tin là chiếc tẩu kỳ lạ nhất trên đời này. Chào anh nhé, Pugh.
Anh ta biến mất trước khi tôi kịp thốt lên lời nào. Từ sự vội vã trong bước chân tẩu thoát của anh ta, tôi lập tức kết luận rằng chiếc tẩu chắc chắn đã bị hỏng. Nhưng khi đem nó ra săm soi kỹ càng, tôi chẳng tìm thấy dấu hiệu hư hại nào cả. Trong lúc tôi vẫn đang dán mắt vào nó với ánh mắt nghi kỵ đầy săm soi, cánh cửa lại mở ra và Tress bước vào lần nữa.
– Nhân tiện đây, anh Pugh, tôi muốn nhắc thêm một điều, nhất là khi tôi biết chắc điều đó chẳng làm thay đổi được gì đối với anh.
– Còn tùy thuộc vào đó là chuyện gì. Nếu anh đã đổi ý và muốn đòi lại chiếc tẩu, thì tôi xin nói thẳng là không đời nào đâu nhé. Theo quan điểm của tôi, một khi đã đem cho thì đừng hòng đòi lại.
– Phải rồi; tôi có muốn đòi lại đâu. Anh cứ yên tâm về điểm đó. Tôi chỉ muốn nói cho anh biết lý do tại sao tôi lại đem tặng nó cho anh thôi.
– Anh vừa nói rồi còn gì.
– Chỉ một phần thôi, anh Pugh thân mến ạ – chỉ một phần thôi. Anh đâu có nghĩ rằng tôi lại đem tặng anh một chiếc tẩu như thế chỉ vì vô tình nó bị tẩm thuốc mê chứ? Khó lòng lắm! Tôi tặng nó cho anh vì tôi đã phát hiện ra một sự thật rành rành không thể chối cãi, và chính tôi là kẻ phải gánh chịu hậu quả đắt giá: nó bị ma ám.
– Ma ám?
– Phải, bị ma ám đấy. Chào anh.
Anh ta lại biến mất. Tôi lao ra khỏi phòng, cất tiếng gọi với theo anh ta xuống tận cầu thang. Anh ta đã đặt chân xuống đến tầng dưới cùng rồi.
– Tress! Quay lại đây mau! Anh nói nhảm nhí cái quái gì thế hả?
– Dĩ nhiên đó chỉ là lời nhảm nhí rồi. Chúng ta đều biết mấy thứ chuyện đó trước nay vẫn luôn là nhảm nhí mà. Nhưng nếu sau này anh có lý do để cho rằng ẩn giấu đằng sau những lời nhảm nhí ấy còn có uẩn khúc gì khác, thì có lẽ anh sẽ thấy việc đến hỏi tôi là một việc đáng làm đấy. Còn lâu tôi mới rước cái tẩu đó về lại bên mình dưới bất kỳ điều kiện nào đâu – hãy nhớ kỹ điều đó nhé!
Tiếng đóng sập cửa trước cho tôi biết anh ta đã bước ra đường phố. Tôi để mặc anh ta đi. Tôi tự cười thầm khi quay trở lại phòng. Ma ám! Ý tưởng đó của anh ta không tồi chút nào. Tôi nhìn thấu toàn bộ sự tình chỉ trong chớp mắt. Sự thật là anh ta đang cảm thấy tiếc nuối món quà của mình, và anh ta sẵn sàng giở mọi trò thủ đoạn nếu có thể phỉnh gạt tôi trả lại món quà ấy. Anh ta thừa biết tôi ôm giữ những quan điểm về một vài vấn đề không hoàn toàn trùng khớp với định kiến thông thường của xã hội đương thời, và đặc biệt là trên vấn đề thường được gọi là các hiện tượng siêu nhiên, tôi luôn có lập trường riêng của mình. Thế nên, việc anh ta cố tìm cách nhồi sọ tôi tin rằng chiếc tẩu – thứ mà anh ta thừa biết tôi hằng ao ước – ẩn chứa những điều không thể lý giải bằng quy luật thông thường, quả là một nước đi không tồi. Tuy nhiên, đúng như bản năng mách bảo anh ta rằng chuyện đó sẽ xảy ra, nếu anh ta chịu tĩnh tâm ngẫm nghĩ lại dù chỉ một lát, mưu kế ấy đã thất bại thảm hại. Bởi vì tôi chưa đến mức lú lẫn để mà đi tin rằng một chiếc tẩu làm bằng bọt biển và hổ phách, theo đúng nghĩa đen mà tôi hiểu, lại có thể bị ma ám – một cái tẩu, xét cho cùng cũng chỉ là một cái tẩu mà thôi.
– Ồ lạ chưa! Tôi cứ tưởng mấy cái tua của con sinh vật ấy phải quấn chặt lấy phần nõ tẩu cơ chứ!
Tôi đang cầm chiếc tẩu trên tay, ngắm nghía nó bằng ánh mắt đầy trìu mến mà một tay sành sỏi thường dành cho món đồ cổ độc lạ, thì bất chợt thốt lên câu đó. Quả thực tôi có ấn tượng rằng, khi mới lấy chiếc tẩu ra khỏi hộp, hai, nếu không muốn nói là ba cái tua của nó đã quấn chặt lấy phần nõ – quấn chặt đến mức chẳng lọt nổi một tia sáng nào giữa chúng và bề mặt tẩu. Thế mà bây giờ chúng hầu như đã rời ra hoàn toàn, chỉ còn phần chóp chạm nhẹ vào lớp bọt biển, và những chiếc tua cụ thể ấy đang co quắp lại như thể con vật chuẩn bị lao đi vồ mồi. Dĩ nhiên là tôi đã nhìn gà hóa cuốc: mấy cái tua đó vốn dĩ không hề quấn chặt; chỉ mới cách đó một giây thôi, tôi sẵn sàng cá một ăn một nghìn rằng chúng có quấn. Dù sao đi nữa, con người ta đôi khi vẫn mắc phải những sai lầm, thậm chí là những sai lầm ngớ ngẩn tột cùng. Song, thú thật là khi nhìn thấy con quái vật gớm ghiếc ấy chễm chệ ngay mép ngoài của nõ tẩu, trông hệt như nó sắp chồm đến cắn xé mình, tôi không khỏi giật mình thon thót. Tôi sực nhớ lại rằng lúc đang hút tẩu, quả thực tôi từng tưởng tượng ra cảnh cái xúc tu giơ lên đang chuyển động, như thể nó đang vươn dài về phía tôi. Và tôi nhớ rất rõ rằng ngay khoảnh khắc chìm dần vào trạng thái bất tỉnh kỳ lạ đó, tôi mang ấn tượng rằng con sinh vật ấy đang oằn mình quằn quại, cứ như thể nó bỗng chốc mang theo hơi thở sự sống. Trong hoàn cảnh ấy, những dòng suy nghĩ đó chẳng mấy dễ chịu chút nào. Tôi đâm ra bực mình vì Tress lại đi thốt ra những lời nhảm nhí về chuyện cái tẩu bị ma ám. Biết rõ nó đã bị tẩm thuốc mê và chứa đầy độc tố thôi là quá đủ rồi, hà cớ gì phải thêm thắt mấy chuyện đó nữa.
Tôi đặt nó trở lại vào chiếc hộp gỗ đàn hương. Rồi cất chiếc hộp vào trong tủ kính. Hoàn toàn tách biệt khỏi câu hỏi chiếc tẩu đó có bị ma ám hay không, tôi biết chắc chắn rằng nó đang ám ảnh tôi. Nó hiện diện bên tôi theo nghĩa bóng – và điều đó còn tồi tệ hơn cả nghĩa đen – suốt cả ngày dài. Tệ hại hơn nữa, nó bám theo tôi suốt cả ban đêm. Nó ẩn hiện trong những giấc mơ của tôi. Những giấc mơ quái ác làm sao! Có lẽ tôi vẫn chưa hoàn toàn bình phục sau dư chấn của loại độc dược hiểm độc kia, nhưng dù thế đi chăng nữa, Tress thật quá đáng khi lái dòng suy nghĩ của tôi theo hướng đó. Anh ta thừa biết tôi là kẻ có trí tưởng tượng phong phú, và việc tiêm nhiễm những ý nghĩ bệnh hoạn vào đầu tôi dễ hơn là xua đuổi chúng đi rất nhiều. Trước khi đêm ấy trôi qua, tôi đã thầm ước gì mình chưa bao giờ nhìn thấy chiếc tẩu quái quỷ đó!
Tôi tỉnh giấc từ cơn ác mộng này để rồi rơi tõm vào một cơn ác mộng khác. Một giấc mơ kinh hoàng cứ bủa vây tôi suốt quãng thời gian ấy – một con bò sát màu xanh lục gớm ghiếc từ trong chốn tối tăm mịt mùng từ từ tiến lại gần tôi, nhích từng inch một, cho đến khi nó chồm lên bóp cổ tôi, áp chặt đôi môi vào môi tôi, hút cạn dòng máu nóng trong huyết quản tôi trong khi ôm ghì lấy tôi bằng một nụ hôn nhớp nhúa. Những giấc mơ như thế chẳng hề mang lại sự nghỉ ngơi chút nào. Khi ánh sáng ban mai ló dạng, tôi tỉnh dậy trong trạng thái rã rời chẳng khác nào vừa trải qua một trận chiến. Và khi đứng dậy mặc quần áo, tôi cảm thấy giá như mình đừng bao giờ đặt lưng xuống giường thì có lẽ mọi chuyện đã khá hơn biết mấy. Thần kinh của tôi suy nhược hoàn toàn, và tôi mang cảm giác run rẩy toàn thân – thứ cảm giác mà tôi tin là người bạn đồng hành bất đắc dĩ của những giai đoạn nghiện rượu nặng. Tôi chẳng màng ăn sáng. Thường ngày tôi vốn chẳng thiết tha gì chuyện ăn sáng, nhưng sáng hôm ấy thì tôi hoàn toàn không nhốt nổi một hạt cơm nào vào bụng.
– Nếu tình cảnh này còn tiếp diễn, tôi sẽ mang chiếc tẩu trả lại cho Tress. Cho dù anh ta có cười nhạo tôi đi chăng nữa, thà chịu nhục còn hơn phải chịu đựng thế này.
Mang theo tâm trạng u ám tựa như đang đưa đám, tôi tiến đến chiếc tủ kính nơi đặt chiếc hộp gỗ đàn hương. Nhưng khi vừa mở nắp ra, nỗi u sầu trong lòng tôi bỗng vơi đi một nửa. Mình vừa tự huyễn hoặc ra những ảo tưởng quái quỉ gì thế này! Chắc chắn việc tôi đinh ninh rằng mấy cái xúc tu từng quấn quanh nõ tẩu chỉ là một sự hoang tưởng hoàn toàn do tôi tự biên tự diễn. Con sinh vật vẫn nằm yên ở đúng vị trí mà tôi đã để lại từ hôm trước – hệt như tôi thừa biết nó phải thế – chễm chệ trong tư thế chực chờ lao đi. Tôi đang tự nhủ bản thân thật ngốc nghếch khi để cho những lời nói của Tress ám ảnh dù chỉ trong chốc lát, thì Martin Brasher được mời vào phòng.
Brasher là một người bạn lâu năm của tôi. Chúng tôi có chung một mối quan tâm – những bóng ma. Chỉ có điều chúng tôi tiếp cận chúng từ những góc độ khác nhau. Anh ta nghiên cứu dưới lăng kính khoa học – tâm lý học. Anh ta luôn háo hức được nghe kể về ma cỏ để có cơ hội "bóc trần" chúng.
– Tôi có một món đúng gu của anh đây này, tôi lên tiếng chào khi anh ta vừa bước vào.
– Gu của tôi ư? Sao lại thế? Tôi đâu có cuồng tẩu thuốc.
– Không; nhưng anh cuồng ma. Mà đây lại là một chiếc tẩu bị ma ám.
– Tẩu bị ma ám! Anh Pugh thân mến ạ, tôi thấy anh còn cuồng ma quái hơn cả tôi đấy.
Thế là tôi kể hết mọi chuyện cho anh ta nghe. Anh ta tỏ ra vô cùng hứng thú, đặc biệt là lúc tôi tiết lộ chiếc tẩu đã bị tẩm thuốc mê. Nhưng khi tôi nhắc lại lời của Tress về việc nó bị ma ám, đồng thời kể về sự hoang tưởng của chính mình rằng con vật đã cử động, anh ta lại nhìn nhận vấn đề nghiêm túc hơn nhiều so với dự tính ban đầu của tôi.
– Tôi đề nghị chúng ta cứ làm theo gợi ý của Tress, đến gặp anh ta để hỏi cho ra lẽ.
– Nhưng chẳng lẽ anh thực sự nghĩ trong chuyện này có uẩn khúc gì sao?
– Đối với những chủ đề này, tôi chưa bao giờ cho phép mình phán đoán vội vàng. Ở đây chúng ta có lời nói của Tress, và có cả câu chuyện của anh nữa. Ai nấy đều đồng thuận rằng chiếc tẩu sở hữu những đặc tính kỳ lạ. Xem ra ngần ấy lý do đã đủ để tiến hành một cuộc điều tra rồi đấy chứ.
Anh ta đã thuyết phục được tôi. Tôi đi cùng anh ta. Tất nhiên, chiếc tẩu nằm trong hộp gỗ đàn hương cũng được mang theo. Tress đón tiếp chúng tôi với một nệu cười nhếch mép – nụ cười ấy càng trở nên rõ mồn một khi tôi đặt chiếc hộp gỗ đàn hương lên bàn.
– Các anh nên nhớ cho điều này, rằng một món quà đã cho đi là dứt khoát mất luôn. Dưới bất kỳ điều kiện nào tôi cũng không đời nào đồng ý nhận lại chiếc tẩu đó đâu nhé.
Thái độ của anh ta khiến tôi hơi chạnh lòng.
– Anh cứ yên tâm chẳng phải lo đâu. Tôi chẳng có ý định đề cập đến chuyện đó làm gì.
– Mục đích chúng tôi đến đây, Brasher mở lời – phải thừa nhận rằng phong cách của anh ta có phần hơi khoa trương – mang tính chất khoa học, và tôi cũng xin nhấn mạnh là nó đồng thời mang tính pháp lý nữa. Mục tiêu của chúng tôi là Theo đuổi Chân lý và Thúc đẩy Nghiên cứu.
– Các anh vừa thử làm một điếu nữa à? Tress hỏi, hất cằm về phía tôi.
Chưa kịp để tôi đáp lời, Brasher lại lải nhải tiếp:
– Người bạn của chúng tôi đây nói với tôi rằng anh khẳng định chiếc tẩu này bị ma ám.
– Tôi khẳng định nó bị ma ám bởi vì đích thực là nó bị ma ám.
Tôi nhìn Tress. Thoáng nghi ngờ không biết anh ta đang cố giễu cợt chúng tôi. Nhưng trông anh ta có vẻ vô cùng nghiêm túc.
– Trong những vấn đề này, Brasher nhận xét, điệu bộ cứ như thể anh ta vừa thốt ra một chân lý mới mẻ và trọng đại, luôn tồn tại phương pháp nghiên cứu mang tính khoa học và phi khoa học. Phương pháp khoa học là phải bắt đầu từ nguyên thủy. Tôi xin phép được hỏi chiếc tẩu này lọt vào tay anh bằng cách nào vậy?
Tress ngập ngừng trước khi trả lời.
– Các anh cứ việc hỏi. Anh ta lại ngừng lại. – Ờ, cứ thoải mái hỏi đi. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẽ khai tuốt tuồn tuột cho các anh nghe đâu.
– Chẳng lẽ mục đích của anh, cũng giống như chúng tôi, không phải là Truyền bá Chân lý hay sao?
– Tôi không nghĩ vậy. Hoàn toàn có thể tưởng tượng ra một trường hợp mà việc truyền bá chân lý sẽ khiến tôi trông có vẻ hơi lố bịch đấy.
– Thật vậy sao! Brasher mím chặt môi. – Những lời nói của anh suýt khiến người ta suy diễn rằng cách thức anh có được chiếc tẩu này ẩn chứa những điều mà anh có đủ lý do trọng đại để che giấu.
– Tôi chẳng thấy có lý do gì phải giấu giếm các anh cả. Tôi đoán hai anh cũng chẳng tốt đẹp gì hơn tôi đâu. Thôi được, tôi chẳng ngại kể cho các anh nghe cách tôi vớ được chiếc tẩu này đâu. Tôi đã ăn cắp nó đấy.
– Ăn cắp ư!
Brasher tỏ vẻ vừa kinh ngạc vừa sốc nặng. Thế nhưng tôi, kẻ từng có kinh nghiệm xương máu về những phương pháp sưu tầm của Tress, thì chẳng mảy lấy làm bất ngờ. Vài chiếc tẩu mà anh ta vỗ ngực nhận là của mình, nếu toàn bộ sự thật về chúng bị phơi bày trước công chúng, thì chắc chắn anh ta đã dính án tù từ lâu rồi.
– Có gì to tát đâu chứ! anh ta tiếp tục. – Tên sưu tầm nào mà chẳng đi ăn cắp! Điều răn thứ tám vốn dĩ đâu phải sinh ra để áp dụng cho bọn họ. Mà này, ngay cả anh Pugh đây cũng đã "tiện tay dắt dê" tới ba phần tư số tẩu mà anh ta cứ huyễn hoặc là của mình đấy thôi.
Cáo buộc đó khiến tôi chết trân đến mức á khẩu. Tôi ngồi im thít trong sự kinh ngạc đến cực độ. Tress vẫn tiếp tục sảng giọng:
– Lúc vừa vớ được chiếc tẩu quái quỷ này, tôi sợ nó đến mức cất xó đi phải tới ba tháng trời. Khi lôi nó ra ngắm nghía lại, có điểm gì đó ở món đồ khiến tôi thích thú đến mức quyết định phải châm hút thử. Do những hoàn cảnh tế nhị xoay quanh cách thức món đồ rơi vào tay tôi, mà tôi thì chẳng muốn đào sâu làm gì – anh không thích nhắc đến những chuyện dạng này lắm phải không, anh Pugh? – nên thực chất tôi chẳng biết mảy may gì về chiếc tẩu cả. Hệt như trường hợp của Pugh, một đặc tính kỳ quái đã được tôi kiểm chứng qua thực tế đau thương. Và cũng chính từ thực tế đau thương ấy, tôi mới nhận ra rằng món đồ này – chà, tôi đã nói là bị ma ám, nhưng các anh muốn dùng từ nào khác tùy ý.
– Hãy kể cho chúng tôi nghe ngắn gọn nhất có thể, rốt cuộc thì anh đã phát hiện ra những gì.
– Lấy chiếc tẩu ra khỏi hộp đi! Brasher nhấc chiếc tẩu ra khỏi hộp và cầm nó trên tay. – Anh thấy con sinh vật bám trên đó chứ. Chà, khi mới về tay tôi, nó nằm ở phía dưới đáy tẩu cơ.
– Ý anh là sao, nằm ở phía dưới đáy tẩu?
– Nó cuộn tròn túm lại ở mặt dưới phần thân, ngay sát đoạn giáp với cán tẩu, y hệt như một con ruồi đang bám lơ lửng trên trần nhà vậy. Khi tôi bắt đầu châm lửa hút, tôi trông thấy con vật ngóc đầu cử động.
– Nhưng tôi cứ tưởng trạng thái bất tỉnh ập đến ngay lập tức sau đó chứ.
– Nó ập đến thật, nhưng là sau khi tôi kịp chứng kiến cảnh con vật đang nhúc nhích. Chính vì nghĩ rằng mình vừa trở thành nạn nhân của một cơn mê sảng nào đó nên tôi mới dám thử điếu thứ hai. Nghi ngờ chiếc tẩu đã bị tẩm thuốc mê, tôi nuốt vào bụng thứ mà tôi tin là một chất giải độc cực mạnh. Nó giúp tôi chống chọi lại sức mạnh của chất gây mê lâu hơn trước rất nhiều, và trong lúc vẫn giữ được sự tỉnh táo, tôi đã chứng kiến con sinh vật bò trườn dọc theo mặt dưới thân tẩu rồi vượt qua phần nõ. Chính khoảnh khắc đó, tôi tin rằng, đã góp phần không nhỏ khiến tôi phát điên. Khi tỉnh lại, ngay tại thời điểm đó, tôi quyết định đem chiếc tẩu tặng cho Pugh. Vẫn còn một điều nữa tôi muốn lưu ý. Lúc chiếc tẩu rời khỏi tay tôi, mấy cái chân của con vật còn đang quấn chặt lấy nõ tẩu. Thế mà bây giờ chúng đã thu lại cả rồi. Có lẽ anh, anh Pugh, hoàn hảo có thể nối tiếp câu chuyện của tôi bằng một câu chuyện ly kỳ của riêng anh đấy nhỉ.
– Quả thực tôi từng tưởng tượng ra cảnh mình nhìn thấy con vật cử động. Nhưng tôi cứ đinh ninh rằng trong lúc đang phê thuốc, trí tưởng tượng đã chơi khăm mình một vố.
– Làm gì có chuyện đó! Tin tôi đi, con quái vật ấy đã bị yểm bới rồi. Ngay đến mắt tôi nhìn vào còn thấy thế, huống chi là một bộ óc tinh tường như anh, anh Pugh ạ! Anh đã cất công đi tìm quỷ dữ suốt bao lâu nay, và cuối cùng thì anh cũng tóm được nó rồi đấy.
– Tôi – tôi mong anh đừng thốt ra những lời kiểu đó nữa, Tress. Chúng làm tôi gai người đấy.
– Thú thật là, Brasher xen vào – tôi nhận ra anh ta đã đặt chiếc tẩu xuống bàn tự bao giờ cứ như thể anh ta đã chán ngấy việc cầm nó trên tay – theo suy nghĩ của tôi, những lời lẽ như thế là không đúng lúc chút nào. Song đồng thời, tôi buộc phải thừa nhận rằng những gì anh vừa kể nghe có vẻ hơi kỳ quặc. Nhưng dĩ nhiên, thứ tôi cần là phải được chứng kiến bằng da bằng thịt cơ. Bản thân tôi chưa hề thấy nó chuyển động lần nào cả.
– Không, nhưng anh sẽ được mục sở thị ngay lập tức thôi nếu anh chịu khó làm một hơi tẩu bằng chính thực lực của mình đấy. Nào, làm ơn đi Brasher, chiều tôi một chút đi mà!
– Xem ra, chuyển động ấy chỉ có thể quan sát được khi chiếc tẩu đang được hút. Cuối cùng chúng ta cũng bước được sang bước số 1.
– Đây có hộp diêm đây, Brasher! Châm lửa lên đi, và thế là chúng ta sẽ tiến tới bước số 2.
Tress bật một que diêm rồi chìa ra trước mặt Brasher. Brasher lùi lại né tránh vùng sáng.
– Cảm ơn anh, thưa ông Tress, như anh đã biết, tôi vốn không biết hút thuốc. Và tôi cũng chẳng có nhu cầu học đòi nghệ thuật hút thuốc bằng một chiếc tẩu độc dược đâu.
Tress cười lớn. Anh ta thổi tắt que diêm rồi ném thẳng vào lò sưởi.
– Thế thì tôi sẽ làm cách này – tôi sẽ gọi thằng Bob lên đây.
– Bob – sao lại gọi Bob?
– Bob – tên thật là Robert Haines, mặc dù tôi nghĩ chắc hắn đã quên bén cái tên khai sinh ấy rồi, bởi vì hiếm khi nào người ta gọi hắn bằng cái tên đó – là người hầu của Tress. Hắn vốn là một cựu binh, từng theo hầu chủ nhân khi xuất ngũ. Hắn là một kẻ đồi bại chẳng kém gì bản thân Tress. Thậm chí tôi không dám chắc hắn còn tệ hại hơn cả chủ nhân của mình nữa kìa. Tôi sẽ không bao giờ quên thái độ hỗn xược mà hắn từng đối xử với chính tôi. Hắn dám cả gan quy chụp tôi tội mưu toan ăn cắp món cổ vật ở phố Wardour mà Tress vẫn ảo tưởng đinh ninh rằng từng thuộc sở hữu của ngài Sir Walter Raleigh. Sự thật là tôi chỉ vô tình nhét nhầm nó vào túi quần cùng với chiếc khăn tay trong một phútng lãng trí mà thôi. Một kẻ dám vu khống tôi như thế thì chuyện tày đình nào hắn cũng dám làm tất. Do đó, tôi hoàn toàn đồng tình với Brasher khi anh ta thắc mắc không hiểu lôi Bob lên đây để làm gì. Tress liền giải thích.
– Tôi sẽ bắt hắn hút chiếc tẩu này, anh ta nói.
Brasher và tôi đưa mắt nhìn nhau, nhưng đều giữ im lặng.
– Chẳng hại gì hắn đâu, Tress trấn an.
– Ý anh sao – không hại gì một chiếc tẩu độc á? Brasher hỏi lại.
– Nó không có độc – nó chỉ bị tẩm thuốc mê thôi.
– Chỉ bị tẩm thuốc mê ư!
– Chẳng thứ gì quật ngã nổi thằng Bob cả. Hắn y hệt như một con đà điểu vậy. Hắn sở hữu một bộ máy tiêu hóa thuộc về riêng hắn. Nó sẽ chỉ tác dụng với hắn hệt như đã từng tác dụng với tôi – và với Pugh – nó sẽ hạ gục hắn. Tất cả những việc này đều là vì Mục tiêu Theo đuổi Chân lý và Sự nghiệp Phát triển Nghiên cứu.
Tôi nhận ra Brasher chẳng mấy thiện cảm với cái giọng điệu mà Tress vừa lặp lại những lời đó. Còn về phần tôi, đương nhiên chẳng dại gì nhúng tay vào một chuyện chẳng dính dáng gì đến mình. Nếu Tress muốn đầu độc gã gia nhân của hắn, thì đó là chuyện của hắn, chẳng liên quan gì đến tôi. Tress tiến ra cửa và cất giọng quát lớn:
– Bob! Lại đây mau, cái đồ khốn kiếp này!
Đấy, cách mà hắn ta hay dùng để giao tiếp với người làm của mình đấy. Chẳng có người hầu chân chính nào lại chịu đựng nổi cách đối xử ấy. Tôi chắc chắn sẽ không đời nào dám cất lời với Nalder – người hầu của tôi – theo kiểu đó cả. Hắn sẽ nộp đơn xin nghỉ việc ngay lập tức. Bob bước vào. Hắn là một gã to xác thô kệch lúc nào cũng nhe răng cười nhăn nhở. Tress đang cầm trên tay một bình đựng rượu mạnh. Hắn rót đầy một ly nguyên chất không pha loãng.
– Này Bob, mày nghĩ sao nếu làm một ly rượu mạnh nguyên chất – hàng xịn đấy – hả con trai?
– Cảm ơn ngài ạ.
– Thế mày nghĩ sao nếu làm một hơi tẩu sau khi đã nốc cạn ly rượu đó!
– Hút tẩu á? Gã này thừa ranh mãnh khi cần thiết. Tôi thấy hắn liếc nhìn chiếc tẩu đặt trên bàn, rồi lại nhìn chúng tôi, và một tia sáng khôn lỏi bỗng lóe lên trong mắt hắn. – Tôi sẽ làm vì một đô-la, thưa ngài.
– Một đô-la, cái đồ ăn cắp này?
– Ý tôi là mười shilling cơ ạ, thưa ngài.
– Mười shilling, cái đồ vô lại mặt dày này?
– Chắc tôi phải đổi thành một bảng Anh mất thôi.
– Một bảng Anh! Đã bao giờ thiên hạ chứng kiến chuyện vô lý thế này chưa! Mày dám mở miệng đòi tận một bảng chỉ để làm một hơi tẩu của chủ mày cơ à?
– Chắc tôi phải tính lên thành hai bảng quá.
– Quỷ tha ma bắt mày đi! Này Pugh, cho tôi vay một bảng.
– Tiếc quá, hình như tôi để quên ví ở phòng bên kia mất rồi.
– Thế thì cho tôi vay mười shilling – hỡi cái tên Ananias gian manh!
– Tôi e là mình chỉ còn giữ vỏn vẹn năm shilling thôi.
– Thế thì đưa đây năm shilling ấy mau. Còn Brasher, cho tôi vay nốt mười lăm shilling còn lại đi.
Brasher đành móc túi cho hắn vay mười lăm shilling. Tôi nghi ngờ chẳng biết tụi tôi có bao giờ lấy lại được số tiền ấy từ tay hắn nữa không. Tress thảy tờ một bảng vào tay Bob.
– Rượu đây – nốc cạn đi! Bob uống một hơi hết sạch chẳng chừa một giọt, cạn sạch cả cái ly. – Và đây là tẩu.
– Có độc không hả ngài?
– Có độc cái con khỉ khô ấy, cái đồ tiểu nhân này! Mày định ám chỉ cái gì hả?
– Đây đâu phải lần đầu tôi được chứng kiến mấy trò mèo của ngài – phải thế không nào? Với lại ngài đời nào lại vung tiền phóng tay bố thí một bảng mà chẳng vì mục đích gì đâu. Nếu nó làm tôi mất mạng thì xin ngài gửi xác tôi về cho u tôi nhé – cụ thể là bà cụ sẽ rất muốn biết tin tôi đã tử trận đấy.
– Gửi xác mày về cho cụ cố tổ mày luôn đi! Đồ đần độn, ngồi xuống và hút ngay cho tao!
Bob ngồi xuống ghế. Tress đã nhồi sẵn thuốc vào tẩu, đoạn đưa nó kèm theo một que diêm đã châm lửa cho Bob. Gã gia nhân từ chối cầm que diêm. Hắn cầm chiếc tẩu lên một cách vô cùng dè dặt, xoay đi xoay lại tứ phía, săm soi nó bằng mọi ngóc ngách của con mắt.
– Cảm ơn ngài – nếu các ngài không phiền thì tôi xin tự châm lửa lấy vậy. Tôi có mang theo diêm của riêng mình mà. Công nhận đây là một chiếc tẩu đẹp tuyệt trần. Chưa bao giờ tôi thấy cái nào xấu xí đến thế. Thế còn con quái vật nhớp nhúa trông như muốn ăn tươi nuốt sống cái mũi tôi kia là cái thá gì thế nhỉ? Nó còn sống hay đã chết ngắc rồi vậy hả ngài?
– Thôi đi, tụi tao đâu có rảnh ngồi đây hầu mày suốt cả ngày đâu hả anh bạn!
– Dạ vâng, thưa ngài, cái bộ dạng của chiếc tẩu này làm dạ dày tôi lộn mửa cả lên rồi đây này. Giá mà tôi được làm thêm một ngụm rượu nữa thì tốt biết mấy, nếu các ngài không phiền.
– Thêm một ngụm nữa ư! Chẳng phải mày vừa nốc trọn một ly đầy rồi còn gì! Thêm một ly nữa nốc chồng lên trên đó đi. Mày chẳng cần phải đợi tẩu giết đâu – mày sẽ lăn ram chết trước khi kịp chạm vào nó cho mà xem.
– Thế chẳng phải chết theo quy luật tự nhiên thì tốt hơn sao?
Bob trệu trạo nốc cạn ly rượu mạnh thứ hai cứ như thể hắn đang uống nước lã vậy. Tôi tin chắc hắn có nốc cạn cả một cái thùng phuy rượu to tướng mà nét mặt cũng chẳng thèm biến sắc cho cam! Đoạn, hắn lại đăm đăm nhìn chiếc tẩu. Tiếp đó, rút một hộp diêm từ túi áo ghi-lê ra, hắn hít một hơi thật sâu như thể đang phó mặc số phận cho đất trời. Quẹt mạnh que diêm vào mông chiếc quần ếch, trong lúc ngọn lửa đang được lòng bàn tay che chắn dần bùng lên mạnh mẽ, hắn lần lượt đưa mắt nhìn từng người chúng tôi trong phòng. Khi ánh mắt hắn dừng lại ở Tress, tôi trông thấy rõ mồn một hắn đang nháy mắt ra hiệu. Thật chẳng dám tưởng tượng nổi cảm giác của tôi sẽ ra sao nếu có một gã đầy tớ dám nháy mắt với mình như thế! Que diêm được áp vào đám thuốc lá, một làn khói phả ra từ đôi môi hắn – chiếc tẩu đã được châm cháy!
Suốt quá trình châm tẩu ấy, chúng tôi đã ngồi – tôi không hề dùng từ ngữ quá lời đâu, nhưng chúng tôi đã ngồi đó trân trân theo dõi mọi động tác của gã bợm nhậu nát rượu ấy hệt như đang chứng kiến một sự kiện trọng đại sẽ ghi dấu ấn vào lịch sử thời đại. Khi thấy chiếc tẩu đã bén lửa, chúng tôi đồng loạt giật mình thon thót. Brasher thụt hai tay vào vạt áo đuôi tôm rồi nhảy cẫng lên một cái. Tôi chồm hẳn người lên khỏi ghế phải đến sáu inch, trong khi Tress thì cười khúc khích xoa xoa hai lòng bàn tay vào nhau. Chỉ duy nhất mỗi mình Bob là vẫn điềm nhiên như không.
– Nào, Tress hét lên, các anh sẽ được thấy con quỷ dữ nhúc nhích cho mà xem.
Bob liền bỏ chiếc tẩu ra khỏi môi.
– Thấy cái quái gì cơ chứ? hắn càu nhàu.
– Này Bob, cái đồ khôn kiếp, ngậm ngay cái tẩu vào mồm cho tao, và hút tiếp đi nếu mày còn muốn giữ lấy cái mạng chó của mình!
Bob liếc xéo chiếc tẩu.
– Tôi cũng muốn thế lắm chứ, nhưng cái tôi muốn biết là rốt cuộc con quái vật này đã chết ngắc hay vẫn còn sống nhăn răng thế này. Tôi không muốn nó lao thẳng vào cắn nát mũi tôi đâu – trông cái bộ dạng của nó dữ tợn đủ thứ rồi đấy.
– Trả lại đây một bảng cho tao, cái đồ ăn cắp, rồi cuốn gói cút xéo khỏi nhà tao ngay lập tức.
– Đừng có hòng đòi lại một xu nào hết nhé.
– Thế thì hút ngay cái tẩu đó vào!
– Thì tôi vẫn đang hút đây thôi, có đúng thế không nào?
Với vẻ thong thả hết chỗ nói, Bob ngậm lại chiếc tẩu vào miệng. Hắn phả ra thêm một hai làn khói nữa.
– Nào – mau lên! Tress la lên đầy phấn khích, quơ quơ bàn tay giữa không trung.
Chúng tôi xúm lại gần. Đúng lúc đó Bob lại một lần nữa kéo chiếc tẩu ra.
– Thế nghĩa là thế nào hả mấy người? Tôi không đời nào để các ngài giở trò đùa cợt lên đầu lên cổ tôi đâu nhé. Tôi thừa biết có điều gì đó mờ ám đang diễn ra, nhưng đời nào tôi lại đem cái mạng ra vứt đi chỉ vì hai mươi shilling – còn lâu nhé.
Tress, vốn là kẻ chẳng bao giờ có được cái tính điềm tĩnh lấy một ngày, bỗng nổi cơn thịnh nộ tột cùng.
– Thề có chúa phù hộ, hỡi cậu trai trẻ, nếu mày dám giở trò lừa bịp tao bằng cách thè cái tẩu ra khỏi miệng trước khi có lệnh của tao, thì mày hãy xéo khỏi căn phòng này ngay lập tức, và đừng bao giờ mong được làm người hầu của tao nữa.
Tôi đoán gã gia nhân đã rút ra được bài học xương máu qua quãng thời gian dài phục vụ để biết lúc nào chủ nhân của mình nói thật và lúc nào là nói đùa. Chẳng thèm đôi co nửa lời, hắn ngoan ngoãn ngậm lại chiếc tẩu vào miệng. Hắn tiếp tục lầm lũi phì phèo nhả khói. Tress chộp lấy cánh tay tôi.
– Anh thấy chưa? Nhìn kìa – nhìn kìa! Cái xúc tu đó đang động đậy kìa.
Cái xúc tu đang giơ cao thực sự dịch chuyển. Nó đang làm cái việc mà tôi từng tưởng tượng ra trong cơn hoang tưởng trước đó – nó đang vươn dài về phía trước. Chắc chắn Bob đã nhìn thấy hành động của con vật; nhưng không rõ là do tuân thủ mệnh lệnh của chủ nhân, hay vì chất gây mê đã bắt đầu phát huy tác dụng, hắn hoàn toàn không có ý định rút tẩu ra. Hắn đờ đẫn dán mắt theo dõi cái xúc tu đang rón rén tiến sát lại gần chóp mũi mình với một vẻ kinh hoàng tột độ hiện rõ trên gương mặt đến mức rợn cả tóc gáy. Con sinh vật càng lúc càng vươn dài ra phía trước, cho đến khi đột ngột, với một cái giật cục, hướng chuyển động sà xuống thấp dần, và cái xúc tu từ từ hạ thấp cho đến khi phần chóp chạm hẳn vào phần thân tẩu. Trong giây lát, con vật nằm bất động. Tôi đang tự trấn an thần kinh bằng suy nghĩ rằng thứ này chỉ là một trò mánh khóe điêu luyện của nghệ nhân chạm khắc, và những gì chúng ta vừa chứng kiến chỉ xuất phát từ một dạng ác mộng mà thôi, thì toàn bộ cơ thể con quái vật gớm ghiếc bỗng dưng rung lên bần bật như thể hứng chịu một cơn co giật. Trông nó có vẻ đang quằn quại trong đau đớn. Nó run rẩy dữ dội đến mức tôi cứ ngỡ nó sẽ buông lỏng phần bám vào thân tẩu mà rơi rớt xuống đất. Bản thân tôi cũng phải cố gắng lắm mới giữ được chút lý trí để liếc trộm sang nhìn Bob. Chúng tôi chí ít còn có chút manh mối chuẩn bị trước cho những gì sắp xảy ra. Còn hắn thì hoàn toàn bất ngờ. Khi chứng kiến con sinh vật mang hình hài gớm ghiếc giống hệt con người ấy đang bừng tỉnh sự sống ngay cách chóp mũi mình chỉ đúng một hai inch, tròng mắt hắn trợn trừng rộng gấp đôi bình thường. Tôi chỉ cầu mong cho hắn ngất lịm đi dưới tác dụng của chất gây mê trước khi sự hoảng sợ tột độ tước đoạt nốt chút lý trí cuối cùng của hắn. Có lẽ vì phản xạ máy móc nên hắn vẫn tiếp tục phì phèo nhả khói.
Cơn run rẩy của con sinh vật ngày càng trở nên dữ dội. Trông nó có vẻ phình to ra ngay trước mắt chúng tôi. Rồi, hệt như lúc bắt đầu, cơn co giật đột ngột biến mất. Lại thêm một khoảnh khắc tĩnh lặng ngắn ngủi. Tiếp đó, con quái vật bắt đầu lê mình bò dọc theo thân tẩu! Nó di chuyển với một sự cẩn trọng kinh ngạc, mỗi lần nhích chỉ vỏn vẹn một chút xíu vô cùng nhỏ nhoi. Thế nhưng nó vẫn dịch chuyển! Ánh mắt chúng tôi bị hút chặt vào nó bằng một thứ ma lực đầy ám ảnh và ghê tởm. Chỉ cần nghĩ lại thôi là tôi đã cảm thấy cồn cào cả ruột gan rồi. Những cơn ác mộng đêm qua chẳng thấm tháp gì so với cảnh tượng này.
Chậm rãi, chậm rãi từng chút một, nó tiến sát lại gần chiếc mũi của gã hút tẩu hơn bao giờ hết. Tư thế di chuyển của nó quả thực vô cùng chướng mắt. Nó trượt đi, suốt quãng đường đi tôi không hề thấy nó nhấc mấy cái xúc tu khỏi thân tẩu lần nào. Nó nhích mấy cái chân phía sau đuổi kịp những cái chân đang đi trước. Rồi đến lượt chúng, nó lại đẩy mấy cái chân ở phần đầu vươn lên trước. Trông nó di chuyển có vẻ cực kỳ nhọc nhằn, toàn thân run rẩy như thể đang oằn mình chịu đựng những cơn đau đớn khôn cùng.
Về phần chúng tôi, ai nấy đều câm lặng không thốt nên lời. Tôi thầm cầu mong thuốc mê sẽ sớm ngấm vào người Bob. Hoặc là thể chất của hắn đủ sức kháng lại các loại thuốc độc, hoặc là lượng lớn rượu mạnh nguyên chất hắn vừa nốc vào đã đóng vai trò – đúng như dụng ý thâm độc ban đầu của Tress – như một thứ thuốc giải. Có vẻ như hắn chẳng bao giờ chịu gục ngã cả. Con vật vẫn tiếp tục lê lết – bò mãi, bò mãi với những bước di chuyển nhỏ như hạt cát. Tôi đứng chôn chân như bị thôi miên. Giờ phút này, tôi sẵn sàng đánh đổi cả thế giới để được thét lên, để có thể phát ra dù chỉ một tiếng động. Nhưng tôi chẳng làm được gì ngoài việc trân trân đứng nhìn.
Con sinh vật đã bò đến tận cùng phần thân tẩu. Nó đã đặt chân lên phần cán hổ phách. Nó chỉ còn cách chóp mũi gã hút tẩu đúng một inch. Nó vẫn tiếp tục tiến lên. Có vẻ như nó di chuyển linh hoạt hơn khi đặt chân lên lớp hổ phách. Tốc độ bò của nó đã nhanh hơn. Nó thực sự đã chạm vào đặc điểm nổi bật nhất trên gương mặt của gã hút tẩu, và tôi đang chờ đợi khoảnh khắc nó chồm lên tóm lấy gã Bob tội nghiệp, thì bỗng nhiên nó bắt đầu lắc lư từ bên này sang bên khác. Biên độ lắc lư của nó ngày càng trở nên dữ dội hơn. Và rồi nó rơi oạch xuống sàn nhà. Ngay đúng khoảnh khắc đó, chất gây mê đã chiến thắng. Bob ngả nghiêng người ngã lăn khỏi ghế, chiếc tẩu vẫn bị kẹp chặt cứng ngắc giữa hai hàm răng đang cứng đờ của hắn.
Chúng tôi hoàn toàn im lặng. Nằm bất động dưới sàn nhà là Bob. Ngay sát bên cạnh hắn là con sinh vật. Chỉ cần lệch sang bên trái thêm vài inch nữa thôi là hắn đã đè bẹp dí nó xuống sàn rồi. Nó rơi ngửa lưng. Mấy cái xúc tu chĩa ngược lên trời. Chúng đang oằn mình quằn quại, vặn vẹo và uốn lượn giữa không trung.
Tress là kẻ phá vỡ sự im lặng đầu tiên.
– Tôi nghĩ làm một ngụm brandy lúc này sẽ chẳng thừa đâu nhỉ. Rót nốt phần rượu mạnh còn lại vào ly, anh ta ngửa cổ nốc cạn một hơi. – Giờ thì đến màn săm soi kỹ hơn người bạn của chúng ta nào. Vớ lấy cái kẹp gắp than cạnh lò sưởi, anh ta tóm gọn con sinh vật giữa hai gọng kẹp. Rồi thả nó lên mặt bàn. – Tôi đoán chừng đây là một ca mổ xẻ tiêu chuẩn rồi đấy.
Anh ta rút một con dao nhíp từ túi áo ghi-lê ra. Bật chiếc lưỡi dao bản lớn, anh ta cắm phập mũi dao vào sinh vật đang nằm trên bàn. Dường như chẳng gặp mấy kháng cự khi lưỡi dao đâm thủng, thế nhưng ngay khoảnh khắc mũi dao ngập vào trong, đám xúc tu đồng thời quằn quại vặn vẹo trở lại. Tress rút dao ra.
– Quả nhiên đúng như tôi nghĩ! Anh ta giơ lưỡi dao ra trước mặt chúng tôi để kiểm tra. Phần mũi dao dính đầy một thứ chất nhầy dính nhớp. – Đó chính là máu! Con vật này còn sống sờ sờ!
– Còn sống ư!
– Còn sống! Đấy chính là bí mật đằng sau toàn bộ màn kịch này!
– Nhưng mà...
– Đừng có nhưng nhó gì với tôi hết, anh Pugh thân mến ạ! Bí ẩn đã bị phơi bày! Thế giới này vừa mất đi một câu chuyện ma rồi nhé! Gã thương nhân mà tôi vớ được chiếc tẩu này vốn là một tay phù thủy đường phố Ấn Độ – rành rỏi đủ mọi trò mánh khóe bịp bợm. Hắn, hoặc một kẻ nào đó đứng sau hắn, đã tóm được món bảo vật này trong thế giới loài bò sát – và chắc chắn là khó lòng kiếm được một hiện vật nào hoàn hảo hơn thế – rồi trét lên mình nó một lớp chế phẩm nào đó, có lẽ là gôm-arabic. Hắn để cho lớp keo ấy khô cứng lại. Sau đó hắn dán con vật – vẫn còn đang sống nhăn, bởi vì mấy giống loài quái gở này rất khó chết – dính chặt vào chiếc tẩu. Hệ quả là khi có ai đó châm tẩu hút, hơi nóng sẽ truyền qua chất kết dính – một lần nữa, chắc chắn lại là một dạng chế phẩm gôm nào đó – làm cho nó ẩm mềm ra, và con sinh vật với biết bao sự chật vật vô tận, đã có thể cử động được. Thế nhưng tôi sẵn sàng cá cược với bất kỳ quý ông có máu ăn chơi nào rằng những ngày tháng bôn ba của con sinh vật này đến đây là chấm dứt. Nó vừa cho tôi nếm trải một liều lượng kinh hoàng vượt quá mức tốt cho hệ tiêu hóa của tôi rồi đấy.
Dùng sự trợ giúp của chiếc kẹp gắp, anh ta nhấc con sinh vật rời khỏi mặt bàn. Đoạn thả nó xuống tấm thảm lò sưởi. Trước khi Brasher hay tôi kịp định hình xem anh ta định làm gì tiếp theo, anh ta úp sập một khối chặn giấy bằng cẩm thạch nặng trịch lên người nó. Sau đó anh ta đứng thăng bằng lên trên khối chặn giấy, dùng sức dồn toàn lực giữa phiến cẩm thạch và mặt sàn nhà nghiền nát bét con sinh vật ra.
Trong lúc màn hành quyết vẫn đang diễn ra, Bob lồm cồm ngồi dậy từ dưới sàn.
– Ồ kìa! hắn ngớ ngẩn hỏi, chuyện gì vừa xảy ra thế nhỉ?
– Bọn tao vừa nốc sạch chai rượu rồi, Bob ạ, Tress điềm nhiên đáp. – Nhưng vẫn còn một chai khác ở chỗ tao lấy chai này đấy. Có lẽ mày vẫn có thể nốc thêm một ly nữa chứ hả cậu trai?
Bob nốc cạn thật!
Mấy gã loài vật đó quả thật rất khó tiêu diệt. Đây là sự thật hiển nhiên, hoàn toàn không phải hư cấu. Những câu chuyện ly kỳ về loài thằn lằn chẳng kém phần giật gân so với Câu chuyện Bí ẩn này hoàn toàn có thể tìm thấy trong các trang sách giáo khoa động vật học trang trọng.
Thực tế là, loài bò sát chẳng hề câu nệ chút nào về những vấn đề không khí, không gian, và đặc biệt là nhiệt độ. Ếch nhái và những loài sinh vật mang dòng máu lạnh lẽo tương tự vẫn có thể sống sót sau khi bị đông cứng ngắc trong băng. Máu của chúng chỉ ấm hơn không khí hoặc nước đôi chút, chẳng có thêm lớp áo giáp lông vũ hay lông mao nào bảo vệ.
Không khí và thức ăn dường như được loài thằn lằn coi nhẹ. Máu của chúng không cần phải mang hàm lượng oxy quá cao; nó vẫn nuôi dưỡng cơ thể tốt lành ngay cả khi không tinh khiết. Vào những vùng khí hậu ôn đới, thằn lằn chui vào hang ngủ đông suốt cả mùa lạnh; một vài loài ở vùng sa mạc nhiệt đới lại ngủ say sưa suốt cả mùa hè. Cấu trúc giải phẫu của chúng không bao gồm cơ chế nạp và thải khí liên tục; phổi của loài bò sát chẳng khác nào những chiếc túi khép kín, không có cấu trúc tế bào phức tạp.
Nếu cần thêm bất kỳ dẫn chứng động vật học nào nữa để kiểm chứng cho hồi kết của "Chiếc Tẩu", thì đó có lẽ là nhận định chung rằng loài thằn lằn vốn dĩ là những sinh vật quái đản bất thường. Hãy ngẫm lại loài tắc kè hoa với khả năng thay đổi màu sắc khôn lường xem. Và người ta sẽ phải suy nghĩ thế nào về một loài động vật mà khi bị tóm gọn ở phần đuôi, lại có thể tẩu thoát bằng cách chủ động vứt bỏ luôn cả cái phần phụ thừa thãi ấy đi? – BAN BIÊN TẬP.