Thư Viện Khóa Và Chìa: Truyện Trinh Thám Và Bí Ẩn Kinh Điển: Tiếng Anh Hiện Đại

Lượt đọc: 262 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hội Tóc Đỏ

❊ ❊ ❊

Vào một ngày mùa thu năm ngoái, tôi đến thăm người bạn của mình là ông Sherlock Holmes và thấy anh đang say sưa trò chuyện với một vị khách lớn tuổi có dáng người vô cùng lực lưỡng, khuôn mặt đỏ hồng và mái tóc đỏ rực. Sau khi cất lời xin lỗi vì đã mạo muội làm phiền, tôi định quay bước lui ra thì Holmes liền kéo giật tôi vào phòng và khép cửa lại.

– Anh đến không thể đúng lúc hơn đâu, anh Watson thân mến ạ, – anh niềm nở lên tiếng.

– Tôi cứ tưởng anh đang bận tiếp khách.

– Thì đúng là vậy. Bận lắm chứ.

– Vậy để tôi sang phòng bên chờ vậy.

– Khỏi cần. Quý ông đây, ông Wilson, từng là cộng sự và là người hỗ trợ đắc lực cho tôi trong rất nhiều vụ án thành công nhất, và tôi tin chắc rằng ông ấy cũng sẽ giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong vụ việc của chính ông ấy.

Vị khách lực lưỡng khẽ chồm người khỏi ghế, cúi đầu chào rồi liếc nhanh tôi một cái đầy dò hỏi bằng đôi mắt nhỏ híp lại nằm giữa những ngấn thịt.

– Anh ngồi tạm lên chiếc sô-pha đi, – Holmes nói, rồi ngả người về phía sau ghế bầy tay, chụm các đầu ngón tay lại với nhau theo thói quen mỗi khi tập trung suy xét vấn đề. – Anh biết rõ mà, Watson thân mến, anh cũng có chung sở thích với tôi đối với những gì kỳ quái, vượt ra ngoài những khuôn phép và nhịp sống tẻ nhạt thường ngày. Anh đã chứng minh sự hào hứng đó qua lòng nhiệt thành khi ghi chép lại, và nếu tôi mạn phép được nói là, có phần tô vẽ thêm cho rất nhiều cuộc phiêu lưu nho nhỏ của chính tôi.

– Quả thật những vụ án của anh vẫn luôn đem lại cho tôi sự hứng thú lớn lao, – tôi nhận xét.

– Chắc anh còn nhớ, cách đây không lâu, ngay trước khi chúng ta giải quyết bài toán vô cùng đơn giản do cô Mary Sutherland đặt ra, tôi từng nói rằng để tìm những hiệu ứng kỳ lạ và sự kết hợp phi thường, chúng ta phải nhìn thẳng vào cuộc sống thực tế, vốn luôn táo bạo hơn bất kỳ trí tưởng tượng nào.

– Một quan điểm mà lúc đó tôi đã cả gan hoài nghi.

– Đúng vậy, thưa bác sĩ, nhưng dù sao thì anh cũng phải ngả theo quan điểm của tôi thôi, vì nếu không, tôi sẽ tiếp tục dội lên đầu anh hết sự thật này đến sự thật khác cho đến khi lý trí của anh chịu thua và phải công nhận tôi đúng. Giờ thì ông Jabez Wilson đây đã sẵn lòng ghé qua chỗ tôi sáng nay để bắt đầu kể lại một câu chuyện hứa hẹn sẽ là một trong những kỳ án hy hữu nhất mà tôi từng được nghe từ trước tới nay. Chắc anh từng nghe tôi nhận xét rằng những sự việc kỳ lạ và độc đáo nhất thường không gắn liền với những tội ác tơi lớn, mà lại gắn với những vụ nhỏ nhặt hơn, thậm chí đôi khi, người ta còn phải hoài nghi xem liệu có tội ác thực sự nào đã xảy ra hay không. Theo những gì tôi được biết, lúc này tôi chưa thể khẳng định vụ việc hiện tại có phải là một tội ác hay không, nhưng diễn biến của nó quả thực nằm trong số những chuyện kỳ quái nhất mà tôi từng được nghe. Thưa ông Wilson, phiền ông có thể bắt đầu kể lại câu chuyện của mình một lần nữa được không? Tôi đề nghị điều đó không chỉ vì bạn tôi, bác sĩ Watson, chưa được nghe phần mở đầu, mà còn vì bản chất kỳ lạ của câu chuyện khiến tôi rất muốn được nghe chính miệng ông thuật lại mọi chi tiết có thể. Thông thường, một khi đã nắm được chút ít manh mối về diễn biến sự việc, tôi có thể tự định hướng nhờ hàng ngàn trường hợp tương tự khác lưu giữ trong ký ức. Nhưng trong trường hợp này, tôi buộc phải thừa nhận rằng, theo những gì tôi tin tưởng, các tình tiết ở đây là có một không hai.

Vị khách đường bệ ưỡn ngực ra vẻ đầy tự kiêu, rồi rút từ trong túi áo bành-tô ra một tờ báo nhàu nát và dơ bẩn. Khi ông cúi đầu chúi về phía trước, trải phẳng tờ báo lên đùi và đảo mắt tìm kiếm trên cột quảng cáo, tôi liền quan sát kỹ con người này, cố gắng phỏng đoán những đặc điểm bộc lộ qua trang phục và dáng vẻ bên ngoài theo đúng cách của người bạn đồng hành.

Tuy nhiên, sự quan sát đó chẳng mang lại cho tôi mấy kết quả. Vị khách của chúng tôi mang đầy đủ nét đặc trưng của một tiểu thương người Anh bình thường, xuề xòa, mập mạp, phúng phính và chậm chạp. Ông mặc chiếc quần chéo kẻ sọc rộng thùng thình, chiếc áo chùng đen không được sạch sẽ cho lắm để phanh ngực, cùng chiếc áo ghi-lê màu xám troắt đeo sợi dây xích đồng nặng nề kiểu Albert, có một miếng kim loại khoét lỗ vuông vứcủng lủng lẳng làm đồ trang trí. Một chiếc mũ phớt sờn và chiếc áo khoác màu nâu phai có phần cổ nhung nhàu nhĩ đang vắt vẻo trên chiếc ghế bên cạnh ông. Tóm lại, dù có quan sát thế nào đi nữa, người đàn ông này chẳng có gì đáng chú ý ngoài mái tóc đỏ rực như lửa và vẻ mặt vô cùng chán nản, bực bội.

Ánh mắt tinh tường của Sherlock Holmes nhanh chóng nhận ra việc tôi đang làm, và anh mỉm cười lắc đầu khi thấy tôi nhìn vị khách với ánh mắt dò hỏi.

– Ngoài những sự thật hiển nhiên rằng ông ấy từng làm lao động chân tay, có thói quen hít thuốc bột, là một thợ cả Tam Điểm, từng đến Trung Quốc và dạo gần đây phải viết lách khá nhiều, tôi chẳng thể suy luận thêm điều gì khác.

Ông Jabez Wilson giật mình chồm dậy khỏi ghế, ngón trỏ vẫn đặt trên tờ báo nhưng đôi mắt lại dán chặt vào người bạn đồng hành của tôi.

– Nhân danh điều may mắn, làm sao mà ông biết được tất cả những điều đó vậy, thưa ông Holmes? – ông hỏi. – Ví dụ như làm sao ông biết tôi từng làm lao động chân tay? Đúng là chuẩn không cần chỉnh, vì khởi đầu của tôi vốn là một thợ mộc đóng tàu mà.

– Bàn tay của ông đấy, thưa ngài thân mến. Bàn tay phải của ông to hơn hẳn tay trái. Ông đã dùng nó để làm việc và các cơ bắp ở đó phát triển mạnh hơn.

– Chà, thế còn chuyện hít thuốc bột và hội Tam Điểm thì sao?

– Tôi sẽ không xúc phạm trí tuệ của ông bằng cách giải thích làm thế nào tôi đọc ra điều đó đâu, nhất là khi ông lại đeo cây trâm cài áo hình thước ê-ke và compa, việc vốn đi ngược lại những quy tắc nghiêm ngặt trong hội của ông.

– À, phải rồi, tôi quên mất điều đó. Thế còn chuyện viết lách thì sao?

– Còn gì khác có thể chỉ điểm ngoài cổ tay áo bên phải bóng nhẫy suốt năm inch và cổ tay áo bên trái có một khoảng nhẵn thín gần khuỷu tay nơi ông tì lên bàn làm việc nữa chứ.

– Chà, thế còn Trung Quốc?

– Con cá mà ông xăm ngay phía trên cổ tay chỉ có thể được thực hiện ở Trung Quốc mà thôi. Tôi đã có thời gian nghiên cứu đôi chút về các hình xăm, thậm chí từng viết bài đóng góp cho mảng tài liệu về đề tài này. Cái mẹo nhuộm vảy cá thành màu hồng nhạt ấy là nét đặc trưng hoàn hảo của người Trung Quốc. Khi tôi lại nhìn thấy một đồng tiền xu Trung Quốc treo lủng lẳng trên dây xích đồng hồ của ông nữa, thì mọi chuyện lại càng trở nên quá rõ ràng.

Ông Jabez Wilson cười lớn một cách nặng nề. – Chịu ông luôn đấy! – ông thốt lên. – Ban đầu tôi cứ tưởng ông vừa làm được một việc gì đó tài tình lắm, hóa ra xét cho cùng thì cũng chẳng có gì ghê gớm.

– Watson này, bắt đầu thấy là tôi đã sai lầm khi giải thích rồi đấy, – Holmes nói. – Anh biết câu 'Omne ignotom pro magnifico' rồi đấy, và cái danh tiếng nghèo nàn của tôi, dù có ra sao đi chăng nữa, cũng sẽ tiêu đời nếu tôi cứ cả tin bộc bạch thế này. Ông không tìm thấy mẩu quảng cáo đó sao, thưa ông Wilson?

– Vâng, tôi tìm thấy rồi đây, – ông đáp, ngón tay dày và đỏ áp vào giữa cột báo. – Nó đây rồi. Chính cái này đã khơi mào cho toàn bộ câu chuyện. Xin mời ông tự đọc lấy đi, thưa ngài.

Tôi nhận lấy tờ báo từ tay ông và đọc như sau:

"Gửi Hội Tóc Đỏ: Do khoản tiền di tặng của cố ông Ezekiah Hopkins, ở Lebanon, Pa., thuộc Mỹ, hiện đang có một vị trí trống dành cho một hội viên với mức lương bốn bảng một tuần cho những công việc mang tính thủ tục là chính. Tất cả những người đàn ông tóc đỏ có thể chất lẫn tinh thần lành mạnh, trên hai mươi một tuổi đều đủ điều kiện ứng tuyển. Hãy đến nộp đơn trực tiếp vào lúc mười một giờ thứ Hai tới gặp ông Duncan Ross, tại văn phòng của Hội, số 7 Pope's Court, Fleet Street."

– Cái quái gì thế này? – tôi thốt lên sau khi đã đọc đi đọc lại thông báo kỳ lạ đó hai lần.

Holmes khúc khích cười và nhúc nhích người trên ghế đúng theo thói quen mỗi khi phấn chấn. – Nó hơi khác lạ so với lối mòn thông thường phải không? – anh nói. – Và giờ thì, thưa ông Wilson, xin mời ông bắt đầu câu chuyện từ vạch xuất phát, kể cho chúng tôi nghe tất cả về bản thân ông, gia đình ông và ảnh hưởng mà mẩu quảng cáo này đã gây ra cho vận mệnh của ông. Trước tiên, bác sĩ hãy ghi lại tên tờ báo và ngày tháng nhé.

– Đó là tờ The Morning Chronicle ngày 27 tháng 4 năm 1890. Đúng hai tháng trước.

– Rất tốt. Giờ xin mời ông Wilson.

– Vâng, mọi chuyện đúng như những gì tôi vừa trình bày với ông, thưa ông Sherlock Holmes, – ông Jabez Wilson vừa nói vừa lau trán. – Tôi có một cửa hiệu cầm đồ nhỏ ở quảng trường Saxe-Coburg, gần khu Thành phố (City). Cơ ngơi ấy không lớn lắm, và mấy năm gần đây nó chẳng kiếm đủ nuôi sống tôi qua ngày. Trước kia tôi thường giữ hai người phụ tá, nhưng giờ thì chỉ giữ có một người; và tôi cũng suýt chẳng trả nổi lương cho cậu ta nếu như cậu ta không chịu nhận nửa lương để ở lại học nghề.

– Cậu thanh niên tốt bụng đó tên là gì vậy? – Sherlock Holmes hỏi.

– Cậu ta tên là Vincent Spaulding, mà cũng chẳng phải trẻ trung gì cho cam. Thật khó đoán tuổi của cậu ta. Thưa ông Holmes, tôi không mong tìm được một người phụ tá nào lanh lợi hơn thế; và tôi thừa biết cậu ta hoàn toàn có thể tìm được nơi làm tốt hơn, kiếm được gấp đôi số tiền tôi trả. Nhưng suy cho cùng, nếu cậu ta đã thấy thỏa mãn, hà cớ gì tôi phải nhồi nhét những ý định khác vào đầu cậu ta chứ?

– Quả thật là vậy! Ông thật quá may mắn khi có được một nhân viên chấp nhận mức lương thấp hơn mặt bằng chung. Đó không phải là trải nghiệm phổ biến đối với những người chủ lao động trong thời đại này. Tôi không rõ liệu người phụ tá của ông có đáng chú ý bằng mẩu quảng cáo kia không nữa.

– Ồ, cậu ta cũng có những khuyết điểm của mình chứ, thưa ông Wilson. Chẳng có kẻ nào thích chụp ảnh như cậu ta cả. Cứ cắm cúi bấm máy khi lẽ ra phải trau dồi tri thức, rồi lại chui tăm lủi xuống tầng hầm như thỏ vào hang để rửa ảnh. Đó là tật xấu lớn nhất của cậu ta; nhưng nhìn chung, cậu ta làm việc rất tốt. Chẳng có thói hư tật xấu gì.

– Tôi đoán là hiện tại cậu ta vẫn làm việc cho ông chứ?

– Vâng, thưa ngài. Cậu ta cùng một cô bé mười bốn tuổi chuyên lo việc nấu nướng đơn giản và dọn dẹp nhà cửa — đó là tất cả những người trong nhà tôi, vì tôi là kẻ góa vợ và chưa từng có con cái. Ba con người chúng tôi sống rất lặng lẽ, thưa ngài; chí ít thì chúng tôi cũng có mảnh che đầu và trả đủ mọi khoản nợ, dẫu chẳng tích lũy được gì hơn.

Điều đầu tiên khiến chúng tôi xáo trộn chính là mẩu quảng cáo đó. Sáng hôm ấy, đúng vào tám tuần trước, Spaulding đi xuống văn phòng cầm theo chính tờ báo này và bảo:

– "Chúa phù hộ, thưa ông Wilson, ước gì cháu là một người tóc đỏ."

– "Sao lại thế?" – tôi hỏi.

– "Thì ngài xem," – cậu ta nói, – "lại có thêm một vị trí trống ở Hội những người tóc đỏ kìa. Nó đáng giá cả một gia tài nhỏ đối với bất kỳ ai giành được, và cháu nghe nói số chỗ trống còn nhiều hơn cả số người ứng tuyển, thế nên các ủy viên đang vò đầu bứt tai không biết phải giải quyết số tiền đó ra sao. Ước gì tóc cháu đổi được màu thì đây quả là một chỗ ăn nên làm ra đã dọn sẵn cho cháu bước vào rồi."

– "Thế rốt cuộc nó là cái gì vậy?" – tôi hỏi. Số là, thưa ông Holmes, tôi là một kẻ rất ít khi đi đâu xa nhà, và vì công việc tự tìm đến với tôi chứ tôi chẳng phải bôn ba đâu cả nên có khi hàng tuần trời tôi chẳng đặt chân ra khỏi bậc cửa. Cứ thế nên tôi chẳng mảy may biết gì về những gì diễn ra bên ngoài, và tôi luôn thấy háo hức mỗi khi nghe được mẩu tin tức nào đó.

– "Bộ ngài chưa từng nghe nói về Hội Những người tóc đỏ sao?" – cậu ta hỏi với đôi mắt trợn tròn.

– "Chưa hề."

– "Chà, cháu ngạc nhiên thật đấy, vì chính ngài cũng đủ điều kiện ứng tuyển một trong những vị trí trống đó cơ mà."

– "Thế quyền lợi của nó ra sao?" – tôi hỏi.

– "Ồ, chỉ khoảng vài trăm một năm thôi, nhưng công việc thì nhàn hạ và chẳng mấy khi ảnh hưởng đến các công việc khác của người ta cả."

Chà, các vị có thể dễ dàng hình dung điều đó đã làm tôi động lòng đến mức nào, bởi công việc kinh doanh mấy năm nay chẳng mấy khá khẩm, và có thêm vài trăm bảng thì thực sự quá tiện lợi.

– "Hãy kể cho tôi nghe tất cả về nó đi," – tôi bảo.

– "Vâng," – cậu ta đáp, vừa chỉ cho tôi xem mẩu quảng cáo, – "ngài có thể tự mình nhìn thấy hội đang khuyết một chỗ, và đó là địa chỉ ngài cần đến để hỏi chi tiết. Theo những gì cháu hiểu, hội được thành lập bởi một nhà triệu phú người Mỹ tên là Ezekiah Hopkins, một kẻ có những tính cách vô cùng kỳ quặc. Bản thân ông ta tóc đỏ, và ông ta rất đồng cảm với tất cả những người đàn ông tóc đỏ; thế nên khi qua đời, người ta phát hiện ra ông đã để lại khối tài sản kếch xù trong tay các ủy viên hội đồng với chỉ thị dùng tiền lãi để chu cấp những công việc nhàn hạ cho những ai có mái tóc màu đó. Qua những gì cháu nghe được thì thù lao rất hậu hĩnh mà việc lại chẳng có là bao."

– "Nhưng," – tôi nói, – "sẽ có hàng triệu người đàn ông tóc đỏ kéo đến ứng tuyển mất."

– "Không nhiều như ngài tưởng đâu," – cậu ta đáp. – "Ngài thấy đấy, nó thực chất chỉ giới hạn cho những người sống ở London và đã trưởng thành. Lão người Mỹ này từng rời London từ hồi còn trẻ và lão muốn làm một việc tốt cho thị trấn cũ. Hơn nữa, cháu nghe nói nếu tóc ngài là màu đỏ nhạt, đỏ sậm hoặc bất kỳ màu nào khác ngoài màu đỏ tươi rực rỡ như lửa cháy thì đến xin cũng vô ích. Giờ nếu ngài hứng thú nộp đơn, thưa ông Wilson, ngài cứ việc đường hoàng bước vào; nhưng có lẽ chẳng đáng để ngài phải lặn lội bận tâm vì vài trăm bảng đâu."

Thưa các ông, thực tế là, như các ông có thể tự mình trông thấy, mái tóc của tôi mang một sắc đỏ rất đậm và đầy đặn, thế nên tôi nghĩ rằng nếu có bất kỳ cuộc cạnh tranh nào diễn ra, cơ hội của tôi chẳng thua kém bất kỳ ai mà tôi từng gặp. Vincent Spaulding tỏ ra am hiểu tường tận đến mức tôi nghĩ cậu ta có thể sẽ hữu ích, vì vậy tôi liền bảo cậu ta kéo cửa hàng xuống nghỉ một ngày và đi ngay với tôi. Cậu ta rất hào hứng được nghỉ một ngày, thế là chúng tôi đóng cửa tiệm và lên đường tìm đến địa chỉ được ghi trong mẩu quảng cáo.

Tôi chưa từng mong sẽ được chứng kiến một cảnh tượng nào như thế lần nữa, thưa ông Holmes. Từ hướng bắc, nam, đông, tây, bất cứ kẻ nào có chút sắc đỏ nào trên mái tóc đều lũ lượt kéo vào khu Thành phố để ứng tuyển mẩu quảng cáo đó. Phố Fleet tắc nghẽn bởi những người tóc đỏ, và ngõ Pope's Court trông chẳng khác nào chiếc xe đẩy cam của một tay bán hàng rong. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng trên cả đất nước này lại có đông người tóc đủ màu sắc tập trung lại chỉ vì một mẩu quảng cáo duy nhất như vậy. Đủ mọi sắc thái màu sắc — rơm, chanh, cam, gạch, chó săn Ai-len, gan lợn, bùn đất; nhưng đúng như Spaulding đã nói, số người có sắc đỏ rực rỡ như ngọn lửa bùng cháy thực sự chẳng đáng là bao. Khi chứng kiến cảnh đông đúc đang chờ đợi, tôi đã định quay lưng bỏ cuộc trong tuyệt vọng; nhưng Spaulding kiên quyết không chịu. Tôi không tài nào tưởng tượng nổi bằng cách nào mà cậu ta cứ vừa xô đẩy, vừa lôi kéo vừa húc đầu cho tôi len lỏi qua đám đông để tiến thẳng lên những bậc thềm dẫn vào văn phòng. Có hai dòng người xuôi ngược trên cầu thang, kẻ thì bước lên với hy vọng, người lại đi xuống với vẻ thất vọng ê chề; nhưng chúng tôi cứ thế luồn lách hết sức có thể và chẳng mấy chốc đã đặt chân được vào trong văn phòng.

– Trải nghiệm của ông quả là vô cùng lý thú, – Holmes nhận xét khi vị khách dừng lời để bốc một nhúm thuốc hít to nhằm xốc lại trí nhớ. – Xin ông hãy tiếp tục câu chuyện vô cùng thú vị của mình đi.

– Trong văn phòng chẳng có gì ngoài hai chiếc ghế gỗ và một chiếc bàn gỗ thông, đằng sau là một người đàn ông thấp người với cái đầu còn đỏ hơn cả tôi. Ông ta nói vài lời với từng ứng viên khi họ bước lên, và rồi lúc nào ông ta cũng tìm ra được một lỗi nào đó để loại họ ra. Việc kiếm được một chỗ trống xem ra không hề dễ dàng như tôi tưởng. Tuy nhiên, đến lượt chúng tôi, người đàn ông thấp bé ấy tỏ ra thiện cảm với tôi hơn hẳn những người khác, và ông ta khép cửa lại ngay khi chúng tôi bước vào để có thể trao đổi riêng với chúng tôi.

– "Đây là ông Jabez Wilson," – người phụ tá của tôi lên tiếng, – "và ông ấy sẵn lòng lấp vào vị trí còn trống của hội."

– "Và ông ấy quả là người thích hợp một cách hoàn hảo," – người kia đáp. – "Ông ấy đáp ứng mọi yêu cầu. Tôi không thể nhớ nổi lần cuối cùng mình thấy một mái tóc đẹp đến thế." Ông ta lùi lại một bước, nghiêng đầu sang một bên và chằm chằm nhìn mái tóc tôi đến mức tôi thấy ngượng ngùng vô cùng. Rồi đột nhiên ông ta chồm tới, siết chặt tay tôi và nồng nhiệt chúc mừng thành công của tôi.

– "Thật bất công nếu còn chần chừ," – ông ta nói. – "Tuy nhiên, tôi chắc ông sẽ thông cảm cho tôi vì phải thực hiện một biện pháp phòng ngừa hiển nhiên." Dứt lời, ông ta chộp lấy mái tóc tôi bằng cả hai tay và giật mạnh đến mức tôi hét lên vì đau đớn. – "Mắt ông đã ngấn lệ rồi," – ông ta nói khi buông tôi ra. – "Tôi nhận thấy mọi thứ đều hoàn toàn chuẩn xác. Nhưng chúng ta phải cẩn thận, vì đã có hai lần chúng ta bị lừa bởi tóc giả và một lần bởi sơn. Tôi có thể kể cho ông nghe những câu chuyện về keo dán giày đủ làm ông thấy ghê tởm bản chất con người." Ông ta bước đến bên cửa sổ và hô lớn hết cỡ qua khung kính rằng vị trí trống đã được lấp đầy. Một tiếng thở dài thất vọng cất lên từ phía dưới, và đám đông lũ lượt tản đi theo các hướng khác nhau cho đến khi chẳng còn thấy bóng dáng chiếc đầu đỏ nào khác ngoài tôi và vị quản lý.

– "Tên tôi," – ông ta nói, – "là Duncan Ross, và bản thân tôi cũng là một trong những người hưởng trợ cấp từ quỹ do vị ân nhân cao quý của chúng ta để lại. Ông đã có gia đình chưa, thưa ông Wilson? Ông đã có vợ con gì chưa?"

Tôi đáp là chưa.

Khuôn mặt ông ta xụ xuống ngay lập tức.

– "Trời ạ!" – ông ta nghiêm giọng nói, – "Đó thực sự là một vấn đề lớn đấy! Tôi rất tiếc khi nghe ông nói vậy. Quỹ này suy cho cùng được lập ra nhằm duy trì và nhân rộng những mái tóc đỏ bên cạnh việc hỗ trợ sinh kế cho họ. Thật vô cùng bất hạnh khi ông lại là một kẻ độc thân."

Mặt tôi dài ra khi nghe điều đó, thưa ông Holmes, vì tôi tưởng rốt cuộc mình sẽ không giành được vị trí đó nữa; nhưng sau khi suy nghĩ vài phút, ông ta bảo mọi chuyện sẽ ổn thỏa cả thôi.

– "Với người khác," – ông ta nói, – "sự phản đối này có thể là chí mạng, nhưng chúng ta phải châm chước vì lợi ích của một người có mái tóc như ông. Khi nào thì ông có thể bắt đầu nhận nhiệm vụ mới?"

– "Chà, hơi bất tiện một chút, vì tôi đang có sẵn một cửa hiệu," – tôi đáp.

– "Ồ, đừng bận tâm về điều đó, thưa ông Wilson!" – Vincent Spaulding nói. – "Cháu sẽ lo liệu giùm ngài việc đó."

– "Thời gian làm việc thế nào?" – tôi hỏi.

– "Từ mười đến hai giờ."

Thưa ông Holmes, công việc của một tiệm cầm đồ chủ yếu diễn ra vào buổi tối, đặc biệt là tối thứ Năm và thứ Sáu, tức là ngay trước ngày trả lương; thế nên việc kiếm thêm chút đỉnh vào buổi sáng rất phù hợp với tôi. Hơn nữa, tôi thừa biết người phụ tá của mình là một kẻ tháo vát và cậu ta sẽ quán xuyến mọi việc phát sinh.

– "Thế thì quá hợp với tôi rồi," – tôi nói. – "Còn tiền công thì sao?"

– "Bốn bảng một tuần."

– "Và công việc?"

– "Chỉ là thủ tục mang tính hình thức thôi."

– "Thế nào là thủ tục mang tính hình thức?"

– "À, ông phải có mặt ở văn phòng, hoặc ít nhất là trong tòa nhà, trong suốt thời gian đó. Nếu ông rời đi, ông sẽ mất vĩnh viễn vị trí của mình. Di chúc quy định rất rõ về điểm đó. Ông sẽ vi phạm điều kiện nếu rời khỏi văn phòng dù chỉ trong khoảng thời gian ấy."

– "Chỉ có bốn tiếng một ngày, và tôi chẳng đời nào nghĩ đến chuyện rời đi cả," – tôi nói.

– "Sẽ không có bất kỳ lý do nào được chấp nhận," – ông Duncan Ross nói, – "dù là ốm đau, công việc hay bất cứ thứ gì khác. Ông phải ở lại đó, bằng không sẽ mất suất làm việc."

– "Còn công việc cụ thể?"

– "Là sao chép bộ 'Bách khoa toàn thư Britannica'. Cuốn đầu tiên nằm ở chiếc tủ kia. Ông phải tự túc mực, bút và giấy thấm, còn bàn ghế thì chúng tôi cung cấp. Ngày mai ông có thể bắt đầu được chứ?"

– "Chắc chắn rồi," – tôi đáp.

– "Vậy chào tạm biệt ông Jabez Wilson, và cho phép tôi được chúc mừng ông một lần nữa vì vị trí quan trọng mà ông đã may mắn giành được." Ông ta cúi đầu tiễn tôi ra khỏi phòng, và tôi ra về cùng người phụ tá trong tâm trạng ngỡ ngàng chẳng biết nên nói hay làm gì, vì tôi quá đỗi vui mừng trước vận may của mình.

Vâng, tôi đã ngẫm nghĩ về chuyện đó suốt cả ngày, và đến chiều tối thì tâm trạng tôi lại chùng xuống; bởi tôi đã tự thuyết phục bản thân rằng toàn bộ câu chuyện này hẳn chỉ là một trò lừa bịp hoặc gian lận tày đình nào đó, dẫu mục đích của nó là gì thì tôi hoàn toàn không tài nào tưởng tượng nổi. Thật khó lòng tin được rằng lại có kẻ lập ra một bản di chúc kỳ quặc như thế, hay họ lại chịu chi một số tiền lớn nhường ấy chỉ để làm một việc đơn giản là sao chép 'Bách khoa toàn thư Britannica'. Vincent Spaulding đã làm mọi cách để vực dậy tinh thần cho tôi, nhưng đến giờ đi ngủ thì tôi đã tự gạt bỏ được ý định đó qua những suy luận của chính mình. Tuy nhiên, đến sáng hôm sau, tôi vẫn quyết định cứ đến ngó thử một chuyến xem sao, thế nên tôi mua một lọ mực một xu, cầm theo một cây bút lông ngỗng cùng bảy tờ giấy khổ lớn và khởi hành đi đến ngõ Pope's Court.

Chà, ngạc nhiên và sung sướng làm sao, mọi thứ đều suôn sẻ đúng như những gì hoàn hảo nhất có thể. Chiếc bàn đã được bày sẵn sàng chờ tôi, và ông Duncan Ross có mặt ở đó để chắc chắn rằng tôi bắt đầu công việc thuận lợi. Ông ta hướng dẫn tôi bắt đầu từ chữ cái A rồi bỏ đi; nhưng thỉnh thoảng ông ta vẫn ghé qua để xem xét mọi việc của tôi có ổn thỏa không. Đúng hai giờ, ông ta nói lời chào tạm biệt, khen ngợi số lượng trang giấy tôi đã viết được và khóa cửa văn phòng lại sau khi tôi bước ra.

Cứ thế ngày qua ngày, thưa ông Holmes, và đến thứ Bảy, vị quản lý bước vào, đặt phịch bốn đồng tiền vàng ròng lên bàn cho tuần làm việc của tôi. Tuần tiếp theo cũng thế, và tuần sau nữa lại càng thế. Sáng nào tôi cũng có mặt lúc mười giờ và chiều nào cũng rời đi lúc hai giờ. Dần dà, ông Duncan Ross chỉ ghé qua một lần vào buổi sáng, rồi một thời gian sau, ông ta chẳng thèm ghé qua lần nào nữa. Dù vậy, tất nhiên là tôi không bao giờ dám rời khỏi phòng dù chỉ một giây, vì tôi chẳng thể chắc lúc nào ông ta sẽ xuất hiện, hơn nữa vị trí đó lại quá tốt và hợp với tôi đến mức tôi không muốn mạo hiểm đánh mất nó.

Tám tuần trôi qua như thế, và tôi đã viết xong phần về Tu viện trưởng (Abbots), Bắn cung (Archery), Giáp phục (Armor), Kiến trúc (Architecture), xứ Attica (Attica), và hy vọng với sự chăm chỉ này, tôi có thể chuyển sang chữ B trong thời gian không xa. Tôi tốn khác nhiều tiền mua giấy khổ lớn, và các trang viết của tôi đã lấp đầy gần kín một cái giá sách. Để rồi đột nhiên toàn bộ cơ sự ấy đi đến hồi kết.

– Đến hồi kết ư?

– Vâng, thưa ngài. Và chẳng phải lúc nào khác ngoài sáng nay. Tôi đến làm việc đúng giờ như mọi khi vào lúc mười giờ, nhưng cánh cửa đã đóng chặt và khóa kín, với một mảnh bìa cứng hình vuông được đóng đinh ghim thẳng vào chính giữa tấm pan-nen cửa. Nó đây, các ông có thể tự đọc lấy.

Ông giơ lên một mảnh bìa các-tông trắng, kích thước cỡ tờ giấy ghi chú. Trên đó viết thế này:

"HỘI TÓC ĐỎ ĐÃ GIẢI THỂ.

Ngày 9 tháng 10 năm 1890."

Sherlock Holmes và tôi ngắm nhìn thông báo cộc lốc ấy cùng với vẻ mặt rầu rĩ của người đàn ông đằng sau nó, cho đến khi sự hài hước của tình huống lấn át mọi suy nghĩ khiến cả hai chúng tôi cùng phá lên cười vang.

– Tôi chẳng thấy có gì là buồn cười sất, – vị khách của chúng tôi kêu lên, mặt đỏ bừng tận chân mái tóc rực lửa. – Nếu các ông chẳng làm được gì hay ho hơn ngoài việc cười cợt tôi, thì tôi sẽ đi tìm nơi khác.

– Không, không, – Holmes kêu lên, đẩy giật ông ta trở lại chiếc ghế mà ông vừa chồm dậy một nửa. – Thật tình tôi không đời nào muốn bỏ lỡ vụ án của ông đâu. Nó mới mẻ và thú vị một cách sảng khoái. Nhưng thưa ông, nếu tôi mạn phép được nói thế, mọi chuyện quả thực có chút gì đó buồn cười. Xin hỏi ông đã thực hiện những bước gì khi phát hiện tấm biển trên cửa vậy?

– Tôi thực sự chết sững, thưa ngài. Tôi chẳng biết phải làm gì nữa. Sau đó tôi có hỏi thăm các văn phòng xung quanh, nhưng chẳng ai hay biết gì về chuyện đó cả. Cuối cùng, tôi tìm gặp người chủ nhà, một kế toán sống ở tầng trệt, và hỏi xem ông ta có biết Hội Tóc Đỏ đã đi đâu mất rồi không. Ông ta bảo chưa từng nghe nói về hội nào như thế cả. Tôi bèn hỏi tiếp ông Duncan Ross là ai. Ông ta đáp rằng cái tên đó hoàn toàn xa lạ với ông ta.

– "Chà," – tôi nói, – "thế còn quý ông ở phòng số 4?"

– "Ý ông là người đàn ông tóc đỏ ấy hả?"

– "Vâng."

– "Ồ," – ông ta bảo, – "tên hắn là William Morris. Hắn là một luật sư và đang mượn phòng của tôi dùng tạm trong lúc chờ trụ sở mới hoàn thiện. Hắn đã dọn đi ngày hôm qua rồi."

– "Tôi có thể tìm hắn ở đâu?"

– "Ồ, tại văn phòng mới của hắn. Hắn có nói cho tôi địa chỉ mà. Vâng, số 17 phố King Edward, gần nhà thờ St. Paul."

Tôi lập tức lên đường, thưa ông Holmes, nhưng khi tìm đến địa chỉ đó thì hóa ra đó là một xưởng sản xuất khớp gối nhân tạo, và chẳng có ma nào ở đó từng nghe đến tên ông William Morris hay ông Duncan Ross cả.

– Thế rồi ông đã làm gì? – Holmes hỏi.

– Tôi quay về quảng trường Saxe-Coburg và xin lời khuyên từ người phụ tá của mình. Nhưng cậu ta chẳng thể giúp gì được cho tôi. Cậu ta chỉ bảo rằng nếu kiên nhẫn chờ đợi, thế nào tôi cũng nhận được tin qua đường bưu điện. Nhưng thế thì chưa đủ tốt, thưa ông Holmes. Tôi không muốn mất đi một chỗ làm tốt như thế mà không đấu tranh, thế nên khi nghe nói ông sẵn lòng cho lời khuyên những người nghèo khổ đang cần giúp đỡ, tôi liền chạy thẳng đến chỗ ông.

– Và ông đã làm rất khôn ngoan, – Holmes nói. – Vụ án của ông cực kỳ đáng chú ý, và tôi rất vui được tìm hiểu nó. Qua những gì ông kể, tôi nghĩ có khả năng ẩn sau đó những vấn đề nghiêm trọng hơn vẻ bề ngoài ban đầu của nó.

– Đủ nghiêm trọng rồi chứ lỵ! – ông Jabez Wilson thốt lên. – Các ông xem, tôi vừa mất bốn bảng một tuần cơ mà.

– Xét về cá nhân ông, – Holmes nhận xét, – tôi thấy ông chẳng có lý do gì để phàn nàn về cái hội phi thường này cả. Ngược lại, theo tôi hiểu thì ông đang giàu lên thêm tầm ba mươi bảng, chưa kể khối kiến thức uyên bác mà ông thu lượm được về mọi chủ đề bắt đầu bằng chữ cái A. Ông có mất mát gì đâu nào.

– Không, thưa ngài. Nhưng tôi muốn tìm hiểu về bọn chúng, chúng là ai, và mục đích của chúng khi giở trò đùa cợt này — giả sử đó là trò đùa — với tôi là gì. Đó là một vò đùa khá tốn kém đối với chúng, vì nó ngốn mất ba mươi mươi bảng chẵn đấy.

– Chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ những điểm đó giúp ông. Và trước tiên, xin hỏi ông một hai câu, thưa ông Wilson. Người phụ tá đã khơi gợi sự chú ý của ông vào mẩu quảng cáo này — cậu ta làm việc cho ông được bao lâu rồi?

– Lúc đó khoảng một tháng.

– Cậu ta đến bằng cách nào?

– Ứng tuyển qua mẩu quảng cáo.

– Cậu ta là người duy nhất đến nộp đơn à?

– Không, tôi có cả tá người cơ.

– Tại sao ông lại chọn cậu ta?

– Vì cậu ta tháo vát và chịu làm với mức lương rẻ.

– Thậm chí là nửa lương, phải không?

– Vâng.

– Cậu ta trông thế nào, cái cậu Vincent Spaulding ấy?

– Người thấp, đậm người, cực kỳ lanh lợi trong tác phong, mặt không có râu tóc gì dẫu tuổi đã ngót nghét ba mươi. Có một vết axit màu trắng trên trán.

Holmes ngồi thẳng người lên ghế với vẻ đầy hào hứng. – Tôi đoán ngay mà, – anh nói. – Ông có bao giờ để ý thấy tai cậu ta bị bấm lỗ để đeo khuyên tai không?

– Vâng, thưa ngài. Cậu ta bảo hồi nhỏ có một người digan đã bấm lỗ tai cho cậu ta.

– Hừm! – Holmes lẩm bẩm, ngả người ra sau trầm ngâm suy nghĩ. – Cậu ta vẫn đang làm việc cho ông chứ?

– Ồ, vâng thưa ngài; tôi vừa mới rời khỏi chỗ cậu ta xong.

– Và công việc kinh doanh của ông có được quán xuyến trong lúc ông vắng nhà không?

– Chẳng có gì đáng phàn nàn đâu thưa ngài. Buổi sáng thì bao giờ cũng chẳng có mấy việc để làm.

– Thế là đủ rồi, thưa ông Wilson. Tôi sẽ rất vui được đưa ra nhận định về vấn đề này trong một hoặc hai ngày tới. Hôm nay là thứ Bảy, và tôi hy vọng đến thứ Hai chúng ta có thể đi đến kết luận.

– Nào Watson, – Holmes nói khi vị khách đã rời đi, – anh nghĩ sao về toàn bộ cơ sự này?

– Tôi chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả, – tôi thẳng thắn đáp. – Quả là một vụ việc kỳ bí hết sức.

– Thông thường, – Holmes nói, – mọi thứ càng kỳ quái thì lại càng ít tỏ ra bí hiểm. Chính những tội ác tầm thường, vô vị mới thực sự làm người ta bối rối, giống như một khuôn mặt bình thường là thứ khó nhận diện nhất vậy. Nhưng tôi phải khẩn trương giải quyết vụ này thôi.

– Thế anh định làm gì? – tôi hỏi.

– Hút thuốc, – anh đáp. – Đây là một bài toán cỡ ba tẩu thuốc, và tôi xin anh đừng nói chuyện với tôi trong vòng năm mươi phút tới. Anh cuộn tròn người trên chiếc ghế bành, hai đầu gối gầy guộc chụm vào chiếc mũi khoằm như mỏ chim, cứ thế ngồi im lìm, đôi mắt nhắm nghiền và chiếc tẩu đất màu đen nhô ra y như cái mỏ của một loài chim kỳ lạ nào đó. Tôi vừa đi đến kết luận rằng anh đã ngủ gật, và bản thân tôi cũng bắt đầu gật gù theo, thì đột nhiên anh chồm dậy khỏi ghế với tác phong của một kẻ đã hạ quyết tâm, đặt chiếc tẩu xuống bệ lò sưởi.

– Chiều nay Sarasate biểu diễn ở St. James's Hall, – anh nhận xét. – Anh nghĩ sao, Watson? Các bệnh nhân của anh có thể tha lỗi cho anh vài tiếng chứ?

– Hôm nay tôi chẳng có việc gì cả. Phòng khám của tôi chưa bao giờ bận rộn đến mức ấy.

– Vậy thì đội mũ lên và đi thôi. Tôi sẽ ghé qua khu Thành phố trước, và chúng ta có thể ăn trưa dọc đường. Tôi thấy trong chương trình có khá nhiều bản nhạc Đức, đúng gu của tôi hơn là nhạc Ý hay Pháp. Nó mang tính nội tâm, và tôi đang muốn hướng nội đây. Đi thôi!

Chúng tôi đi tàu điện ngầm đến tận Aldersgate; và chỉ đi bộ một quãng ngắn là tới quảng trường Saxe-Coburg, hiện trường của câu chuyện kỳ lạ mà chúng tôi vừa được nghe hồi sáng. Đó là một khu chật chội, nhỏ bé, mang vẻ thanh lịch tàn tạ, nơi bốn dãy nhà gạch hai tầng tối tăm nhìn ra một khoảng sân nhỏ có hàng rào bao quanh, nơi một thảm cỏ dại cùng vài khóm cây nguyệt quế héo úa đang chật vật đấu tranh chống lại bầu không khí ngột ngạt vì khói bụi. Ba quả cầu mạ vàng cùng tấm biển nâu ghi dòng chữ JABEZ WILSON bằng những chữ cái màu trắng trên góc một ngôi nhà đã chỉ rõ nơi vị khách tóc đỏ của chúng tôi tiến hành việc kinh doanh. Sherlock Holmes dừng lại trước cửa, đầu nghiêng sang một bên và quan sát kỹ lưỡng, đôi mắt sáng rực lấp lánh giữa hai mí mắt nheo lại. Sau đó anh thong thả đi dọc con phố rồi vòng ngược lại góc đường, ánh mắt vẫn không ngừng đăm đăm dò xét những ngôi nhà. Cuối cùng, anh quay lại trước tiệm cầm đồ, giậm mạnh gậy xuống vỉa hè hai ba lần rồi bước tới gõ cửa. Cánh cửa được mở ngay lập tức bởi một chàng trai trẻ có vẻ ngoài lanh lợi, cạo râu nhẵn nhụi, cất tiếng mời chúng tôi bước vào.

– Cảm ơn, – Holmes nói, – tôi chỉ muốn hỏi đường từ đây ra Strand thì đi thế nào.

– Rẽ phải lần ba, rẽ trái lần bốn, – người phụ tá đáp ngay lập tức rồi đóng sầm cửa lại.

– Cậu thanh niên lanh lợi thật đấy, – Holmes nhận xét khi chúng tôi bước đi. – Theo phán đoán của tôi, cậu ta là gã lanh lợi thứ tư ở London này, và về độ táo bạo thì chưa chắc cậu ta không có cửa lọt vào top ba. Tôi từng biết chút ít về cậu ta trước đây.

– Hiển nhiên là thế, – tôi nói, – người phụ tá của ông Wilson đóng vai trò rất lớn trong bí ẩn về Hội Tóc Đỏ này. Tôi chắc là anh hỏi đường chẳng qua chỉ để tận mắt nhìn thấy cậu ta thôi.

– Không phải cậu ta.

– Thế thì là gì?

– Đầu gối quần của cậu ta.

– Và anh đã thấy gì?

– Những gì tôi mong đợi được thấy.

– Tại sao anh lại gõ xuống vỉa hè?

– Bác sĩ thân mến, đây là lúc dành cho quan sát chứ không phải trò chuyện. Chúng ta đang là những kẻ dò la trên đất địch. Chúng ta đã biết chút ít về quảng trường Saxe-Coburg. Giờ hãy cùng khám phá những khu vực nằm ở phía sau nó xem sao.

Con đường hiện ra trước mắt khi chúng tôi rẽ góc từ khu quảng trường Saxe-Coburg thanh vắng mang lại sự tương phản mạnh mẽ chẳng khác nào mặt trước và mặt sau của một bức tranh. Đó là một trong những mạch máu chính chuyên chở dòng lưu lượng giao thông của khu Thành phố hướng lên phía bắc và phía tây. Lòng đường nghẽn đặc bởi dòng chảy thương mại khổng lồ cuồn cuộn theo hai chiều ra vào, trong khi vỉa hè đen đặc bởi đám đông người đi bộ đang tất bật hối hả. Thật khó lòng mường tượng nổi khi ngắm nhìn dãy cửa hàng sang trọng và những trụ sở kinh doanh nguy nga ấy rằng mặt bên kia của chúng lại giáp với khu quảng trường phai tàn, tù đọng mà chúng tôi vừa rời khỏi.

– Để xem nào, – Holmes đứng ở góc đường, phóng tầm mắt dọc theo dãy nhà, nhận xét. – Tôi muốn ghi nhớ trật tự của các ngôi nhà ở đây. Sở thích của tôi là nắm rõ London một cách chính xác. Kia là hiệu bán thuốc lá Mortimer; cửa hàng báo nhỏ; chi nhánh Coburg thuộc Ngân hàng Thành phố và Ngoại ô (City and Suburban Bank); Nhà hàng Chay; và xưởng đóng xe McFarlane. Điều đó đưa chúng ta đi thẳng sang dãy nhà tiếp theo. Và giờ thì, thưa bác sĩ, chúng ta đã hoàn thành công việc, đến lúc thưởng thức đôi chút giải trí rồi. Một chiếc bánh kẹp và một tách cà phê, rồi sau đó tiến thẳng tới xứ sở vĩ cầm, nơi mọi thứ đều ngọt ngào, tinh tế, hòa hợp, và chẳng có vị khách tóc đỏ nào làm phiền chúng ta với những câu đố hóc búa của họ nữa.

Bạn tôi là một nhạc sĩ đầy nhiệt huyết, bản thân anh không chỉ là một nghệ sĩ biểu diễn cừ khôi mà còn là một nhà soạn nhạc có tay nghề không tầm thường. Suốt cả buổi chiều, anh ngồi ở hàng ghế khán giả chìm đắm trong niềm hạnh phúc viên mãn, những ngón tay dài gầy guộc khẽ khàng nhịp nhàng theo điệu nhạc, trong khi khuôn mặt mỉm cười dịu dàng cùng đôi mắt mơ màng, uể oải hoàn toàn trái ngược với hình ảnh một tên thám tử Holmes sắc sảo, tàn nhẫn, trí tuệ mẫn tiếu, hành động chớp nhoáng như người ta vẫn tưởng tượng. Trong tính cách kỳ lạ của anh, hai bản ngã cứ thế luân phiên trỗi dậy, và sự cẩn trọng cùng óc phán đoán tinh vi của anh, như tôi vẫn thường nghĩ, chính là phản ứng bù trừ lại cho tâm trạng thi sĩ và trầm mặc thỉnh thoảng lại chi phối anh. Sự dao động trong bản tính đưa anh từ trạng thái uể oải cực độ sang nguồn năng lượng cuồng nộ; và như tôi thừa hiểu, anh chưa bao giờ tỏ ra đáng sợ thực sự cho bằng những ngày dài đằng đẵng nằm ườn trên ghế bành giữa những bản ngẫu hứng và những cuốn sách cổ. Ấy là lúc ngọn lửa săn lùng bất chợt bùng cháy trong anh, và năng lực suy luận kiệt xuất vươn lên tầm trực giác, khiến những kẻ không quen thuộc với phương pháp của anh phải nhìn anh với ánh mắt dè chừng như thể một kẻ mang tri thức không phải của người phàm. Khi nhìn thấy anh chiều hôm ấy chìm đắm trong âm nhạc tại St. James's Hall, tôi cảm thấy một thời kỳ đen tối sắp sửa giáng xuống đầu những kẻ mà anh đã hạ quyết tâm truy cùng diệt tận.

– Chắc anh muốn về nhà nhỉ, thưa bác sĩ, – anh nhận xét khi chúng tôi bước ra.

– Ừ, về cũng tốt.

– Còn tôi có chút việc phải giải quyết, sẽ mất vài tiếng đồng hồ. Vụ việc ở quảng trường Saxe-Coburg này rất nghiêm trọng.

– Sao lại nghiêm trọng?

– Một âm mưu phạm tội tày đình đang đượcù mưu. Tôi có mọi lý do để tin rằng chúng ta sẽ đến kịp lúc để ngăn chặn nó. Nhưng việc hôm nay là thứ Bảy lại khiến mọi chuyện phức tạp thêm chút ít. Tối nay tôi sẽ cần sự giúp đỡ của anh.

– Mấy giờ?

– Mười giờ là sớm chán.

– Tôi sẽ có mặt ở phố Baker lúc mười giờ.

– Rất tốt. À này, thưa bác sĩ! có thể sẽ có chút ít nguy hiểm đấy, thế nên phiền anh nhét khẩu súng lục của quân đội vào túi nhé.

Anh vẫy tay, quay ngoắt gót giày và biến mất giữa đám đông trong chớp mắt.

Tôi tin rằng mình không đến nỗi chậm hiểu hơn những người xung quanh, nhưng tôi luôn bị đè nặng bởi cảm giác ngu ngốc của chính mình mỗi khi giao du với Sherlock Holmes. Ở đây, tôi đã nghe những gì anh nghe, tôi đã thấy những gì anh thấy, thế nhưng qua lời nói của anh, rõ ràng anh nhìn thấu không chỉ những gì đã xảy ra mà cả những gì sắp sửa xảy ra, trong khi đối với tôi, toàn bộ câu chuyện vẫn cứ rối rắm và kỳ quái. Khi lái xe về nhà ở Kensington, tôi ngẫm nghĩ lại tất cả, từ câu chuyện kỳ lạ về gã sao chép "Bách khoa toàn thư" tóc đỏ cho đến chuyến viếng thăm quảng trường Saxe-Coburg, và những lời đầy điềm gở khi anh chia tay tôi. Cuộc viễn chinh ban đêm này là gì, và tại sao tôi lại phải mang theo vũ khí? Chúng ta đang đi đâu và sẽ làm gì? Tôi đã được Holmes bật mí rằng gã phụ tá tiệm cầm đồ mặt mày nhẵn nhụi kia là một kẻ đáng gờm — một kẻ có thể chơi một ván cờ thâm độc. Tôi cố gắng vắt óc suy luận nhưng rồi đành buông xuôi trong tuyệt vọng, đành gác lại mọi chuyện cho đến khi màn đêm đem lại lời giải đáp.

Mới qua chín giờ rưỡi một chút khi tôi khởi hành từ nhà, băng qua Công viên rồi đi dọc đường Oxford để đến phố Baker. Hai chiếc xe hạm-xợm (hansom) đang đậu trước cửa, và khi bước vào hành lang, tôi nghe thấy tiếng nói chuyện vang lên từ trên lầu. Bước vào phòng anh, tôi thấy Holmes đang hào hứng trò chuyện với hai người đàn ông, một trong số đó tôi nhận ra là Peter Jones, viên cảnh sát chính quy; trong khi người kia là một người đàn ông gầy gò, cao ngồng, mặt ủ dột, đội chiếc mũ bóng loáng và mặc chiếc áo chùng đen đượm vẻ tôn kính đến ngột ngạt.

– A! đội hình của chúng ta đã đầy đủ, – Holmes nói, cài khuy áo khoác ngắn và nhấc chiếc roi săn nặng nề trên giá xuống. – Watson, tôi nghĩ anh quen ông Jones bên sở Scotland Yard chứ? Xin giới thiệu với anh ông Merryweather, người sẽ là bạn đồng hành của chúng ta trong cuộc phiêu lưu đêm nay.

– Lại đi săn theo cặp rồi đấy nhé bác sĩ, anh thấy đấy, – Jones lên giọng ra chiều quan trọng. – Bạn của chúng ta đây là một tay cự phách trong việc đánh động con mồi. Cậu ta chỉ cần một con chó già để giúp việc truy đuổi đến cùng thôi.

– Tôi chỉ mong cuộc truy đuổi của chúng ta không kết thúc bằng việc bắt hụt con mò hòn tên lửa nào đấy, – ông Merryweather ủ rũ nhận xét.

– Ông hoàn toàn có thể đặt trọn niềm tin vào ông Holmes, thưa ngài, – viên cảnh sát cao giọng nói. – Cậu ta có những phương pháp riêng nho nhỏ của mình, nếu cậu ta không phiền khi tôi nói thế, là hơi mang tính lý thuyết và viển vông một chút, nhưng cậu ta có tố chất của một thám tử thực thụ. Sẽ không quá lời khi nói rằng có đôi bận, chẳng hạn như trong vụ án mạng Sholto và kho báu Agra, cậu ta đã phán đoán chính xác hơn cả lực lượng cảnh sát chính quy.

– Ồ, nếu anh đã nói thế, thưa anh Jones, thì mọi chuyện ổn cả! – người lạ mặt cung kính đáp. – Dù vậy, thú thực là tôi rất nhớ ván bài cầu của mình. Đây là tối thứ Bảy đầu tiên trong suốt hai mươi bảy năm qua tôi không được đánh bài cầu đấy.

– Tôi nghĩ ông sẽ thấy rằng, – Sherlock Holmes nói, – tối nay ông sẽ đặt cược một ván bài lớn hơn bất cứ lần nào trước đây, và ván đấu cũng sẽ kịch tính hơn nhiều. Đối với ông, thưa ông Merryweather, số tiền đặt cược sẽ là khoảng ba mươi ngàn bảng; còn đối với anh, Jones, đó sẽ là kẻ mà anh hằng khao khát tóm lấy tay.

– John Clay, kẻ sát nhân, tên trộm, kẻ xé tiền và làm tiền giả. Hắn còn trẻ lắm, thưa ông Merryweather, nhưng hắn đứng đầu trong giới của mình, và tôi thà tròng còng số 8 vào tay hắn còn hơn bất kỳ tên tội phạm nào ở London. Hắn là một kẻ phi thường đấy, gã John Clay trẻ tuổi ấy. Ông nội hắn là một Hoàng thân Hoàng gia, và bản thân hắn từng học ở Eton và Oxford. Bộ óc của hắn xảo quyệt y như đôi tay, và dù chúng ta bắt gặp dấu vết của hắn ở mọi ngã đường, chúng ta chẳng bao giờ biết phải tìm chính bản thân hắn ở đâu. Tuần này hắn có thể khoắng sạch một cái két ở Scotland, tuần sau lại đi quyên tiền xây trại mồ côi ở Cornwall. Tôi đã bám theo đuôi hắn nhiều năm nay mà chưa từng được nhìn thấy mặt hắn lần nào.

– Hy vọng tối nay tôi sẽ có vinh dự giới thiệu hắn với anh. Tôi cũng từng có vài phen chạm trán với tên John Clay này, và tôi đồng ý với anh rằng hắn đứng đầu bảng trong nghề của mình. Dù sao thì cũng đã qua mười giờ rồi, đến lúc chúng ta xuất phát thôi. Nếu hai anh đi chiếc xe hạm-xợm đầu tiên, tôi và Watson sẽ theo sau ở chiếc thứ hai.

Sherlock Holmes không mấy cởi mở trong suốt chặng đường dài, anh ngả người ra sau ghế lẩm nhẩm những giai điệu vừa nghe lúc chiều. Chúng tôi xóc nảy qua một mê cung vô tận những con đường sáng đèn gas cho đến khi đổ ra phố Farringdon.

– Chúng ta sắp đến nơi rồi, – bạn tôi nhận xét. – Lão Merryweather này là giám đốc ngân hàng và có lợi ích trực tiếp trong vụ này. Tôi nghĩ kéo theo Jones đi cùng cũng là một ý hay. Anh ta không đến nỗi tồi, dẫu là một kẻ đần độn tuyệt đối trong nghề nghiệp của mình. Anh ta có một phẩm chất tích cực. Anh ta dũng cảm như một con chó sục, và lì lợm như một con tôm hùm nếu đã kẹp chặt móng vuốt vào ai. Đến nơi rồi, họ đang đợi chúng ta kìa.

Chúng tôi đã đến con phố đông đúc hồi sáng. Hai chiếc xe được cho lui, và theo sự dẫn đường của ông Merryweather, chúng tôi bước xuống một lối đi hẹp, đi qua một cánh cửa hông do ông mở sẵn. Bên trong là một hành lang nhỏ, kết thúc bằng một cánh cổng sắt cực kỳ kiên cố. Cánh cổng này cũng được mở ra, dẫn xuống một dãy bậc thang đá vòng vèo chấm dứt ở một cánh cổng đáng sợ khác. Ông Merryweather dừng lại châm đèn lồng, rồi dẫn chúng tôi đi dọc theo một lối đi tối tăm, nồng nặc mùi đất, và sau khi mở cánh cửa thứ ba, bước vào một căn hầm hoặc kho chứa khổng lồ, xung quanh chất đầy những thùng gỗ và các hộp kim loại lớn.

– Các ông không dễ bị tấn công từ phía trên đâu, – Holmes nhận xét khi giơ cao ngọn đèn lồng nhìn xung quanh.

– Cũng chẳng sợ từ dưới lên, – ông Merryweather nói, gõ gõ cây gậy xuống những phiến đá lát sàn. – Ôi chao, nghe có vẻ rỗng lắm nhé! – ông ngước lên nhìn với vẻ ngạc nhiên.

– Thực sự tôi phải đề nghị ông giữ trật tự hơn một chút, – Holmes nghiêm giọng nói. – Ông đã làm tổn hại đến toàn bộ sự thành công của cuộc thám hiểm rồi đấy. Phiền ông có thể ngồi lên một trong những chiếc hộp kia và đừng can thiệp gì nữa được không?

Ông Merryweather nghiêm nghị tẽn tò ngồi lên một chiếc thùng gỗ với vẻ mặt đầy ấm ức, trong khi Holmes quỳ sụp xuống sàn, dùng đèn lồng và kính lúp bắt đầu săm soi từng khe nứt giữa các viên đá. Chỉ mất vài giây để anh thỏa mãn sự tò mò, anh vùng dậy đứng thẳng người và đút kính lúp vào túi.

– Chúng ta vẫn còn ít nhất một tiếng đồng hồ, – anh nhận xét, – vì bọn chúng khó lòng có thể hành động cho đến khi lão tiệm cầm đồ đã ngủ say trên giường. Sau đó chúng sẽ không phí một phút nào, vì làm việc càng nhanh thì chúng càng có nhiều thời gian để tẩu thoát. Bác sĩ chắc hẳn đã đoán ra, hiện tại chúng ta đang có mặt ở tầng hầm chi nhánh thuộc khu Thành phố của một trong những ngân hàng lớn nhất London. Ông Merryweather đây là chủ tịch hội đồng quản trị, và ông ấy sẽ giải thích cho anh lý do tại sao những tên tội phạm táo tợn nhất London lại dành sự quan tâm đặc biệt cho căn hầm này vào lúc này.

– Đó là số vàng Pháp của chúng tôi, – vị giám đốc thì thầm. – Chúng tôi đã nhận được vài lời cảnh báo rằng có kẻ nhòm ngó đến nó.

– Vàng Pháp của các ông ư?

– Vâng. Cách đây vài tháng, chúng tôi có dịp củng cố nguồn lực và đã vay ba mươi ngàn đồng tiền vàng napoleon từ Ngân hàng Pháp cho mục đích đó. Người ta đã biết rằng chúng tôi chưa hề có dịp khui đống tiền đó ra, và nó vẫn đang nằm trong hầm chứa. Chiếc thùng gỗ tôi đang ngồi chứa hai mươi ngàn đồng napoleon được chèn giữa các lớp giấy chì. Dự trữ vàng thỏi của chúng tôi hiện tại lớn hơn nhiều so với mức thường thấy ở một chi nhánh đơn lẻ, và ban hội đồng quản trị đã có những mối lo ngại về vấn đề này.

– Sự lo ngại hoàn toàn có cơ sở, – Holmes nhận xét.

– Và giờ là lúc chúng ta sắp xếp kế hoạch nhỏ của mình. Tôi đoán trong vòng một tiếng nữa mọi chuyện sẽ ngã ngũ. Trong lúc này, thưa ông Merryweather, chúng ta phải che tấm chắn lên ngọn đèn lồng tối này.

– Và ngồi trong bóng tối ư?

– e là vậy. Tôi có mang theo một bộ bài trong túi, và cứ ngẫm rằng vì chúng ta đủ một sルの (bộ bốn người), ông vẫn có thể đánh ván bài cầu của mình. Nhưng tôi thấy sự chuẩn bị của kẻ địch đã tiến xa đến mức chúng ta không thể mạo hiểm thắp đèn. Và trước hết, chúng ta phải chọn vị trí ẩn nấp. Bọn chúng là những kẻ táo tợn, và dẫu chúng ta đánh úp bất ngờ, chúng vẫn có thể gây nguy hại nếu chúng ta không cẩn thận. Tôi sẽ đứng đằng sau chiếc thùng này, còn anh hãy ẩn nấp sau những chiếc kia. Sau đó, khi tôi bật đèn chiếu vào chúng, hãy nhanh chóng áp sát. Nếu chúng nổ súng, thưa Watson, đừng ngần ngại bắn hạ chúng.

Tôi đặt khẩu súng lục đã lên cò lên nắp chiếc thùng gỗ nơi tôi đang nép người. Holmes trượt nắp che phía trước đèn lồng, để lại chúng tôi trong màn đêm đặc quánh — một thứ bóng tối tuyệt đối mà tôi chưa từng trải qua bao giờ. Mùi kim loại nóng hừng hực vẫn còn vương lại bảo đảm rằng ngọn đèn vẫn ở đó, sẵn sàng lóe sáng bất cứ lúc nào. Đối với tôi, khi thần kinh đã căng lên đến cực điểm chờ đợi, sự tối tăm đột ngột cùng bầu không khí lạnh lẽo, ẩm mốc của căn hầm mang lại một cảm giác thật đè nén và u ám.

– Bọn chúng chỉ có một đường rút lui, – Holmes thì thầm. – Đó là quay ngược qua ngôi nhà để ra quảng trường Saxe-Coburg. Anh đã làm đúng như tôi yêu cầu chứ, Jones?

– Tôi đã bố trí một thanh tra và hai sĩ quan chờ sẵn ở cửa trước.

– Thế là chúng ta đã bịt mọi ngả đường. Giờ thì phải giữ im lặng và chờ đợi.

Khoảng thời gian ấy mới dài làm sao! Khi so sánh thời gian sau đó, thực chất nó chưa đầy một tiếng rưỡi, thế mà với tôi dường như đêm đã cạn và bình minh sắp ló dạng phía trên chúng ta rồi. Chân tay tôi mỏi nhừ và tê cứng vì sợ thay đổi tư thế, nhưng các giác quan thì căng như dây đàn, thính nhức nhạy đến mức tôi không chỉ nghe thấy tiếng thở đều đều của các bạn đồng hành, mà còn phân biệt được tiếng thở sâu và nặng hơn của gã Jones to béo với tiếng thở dài khẽ khàng của vị giám đốc ngân hàng. Từ vị trí của mình, tôi có thể nhìn qua chiếc thùng hướng về phía mặt sàn. Đột nhiên mắt tôi bắt gặp ánh lóe sáng của một tia sáng.

Ban đầu nó chỉ là một đốm lửa leo lét trên sàn đá. Sau đó nó kéo dài ra thành một đường màu vàng, rồi không một tiếng động hay dấu hiệu báo trước nào, một đường rạch dường như mở ra và một bàn tay xuất hiện, một bàn tay trắng trẻo, gần giống như tay phụ nữ, đang khua khoang giữa vùng sáng nhỏ hẹp. Suốt một phút hoặc hơn thế, bàn tay với những ngón tay quằn quại nhô lên khỏi mặt sàn. Rồi nó rụt lại nhanh chóng như lúc xuất hiện, và mọi thứ lại chìm vào bóng tối ngoại trừ đốm lửa leo lét đánh dấu khe nứt giữa những viên đá.

Tuy nhiên, sự biến mất của nó chỉ diễn ra trong chốc lát. Kèm theo tiếng rách, xé toạc, một trong những phiến đá trắng bản lớn lật nghiêng sang một bên, để lộ ra một cái lỗ hình vuông ngoác miệng, từ đó luồng sáng của đèn lồng chiếu ngược lên. Ngó qua mép lỗ là một khuôn mặt thanh tú, trẻ trung đảo mắt quan sát sắc bén xung quanh, rồi với hai tay bấu vào hai mép lỗ, hắn trườn người lên ngang vai rồi ngang thắt lưng cho đến khi một đầu gối tì lên mép. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, hắn đã đứng phắt bên cạnh miệng hố và đang kéo theo một kẻ đồng bọn lanh lẹ, nhỏ thó giống hệt mình, với khuôn mặt tái mét và mái tóc đỏ quạch.

– Mọi chuyện an toàn rồi, – hắn thì thầm. – Cậu mang dùi đục và các túi đựng chưa? Chúa ơi! Nhảy đi Archie, nhảy đi, tao sẽ lo việc này cho!

Sherlock Holmes chồm người ra túm lấy cổ áo kẻ đột nhập. Tên còn lại lao đầu thụt xuống lỗ, và tôi nghe thấy tiếng vải rách khi Jones chộp lấy vạt áo hắn. Ánh đèn chớp lóe lên trên nòng súng lục, nhưng chiếc roi săn của Holmes giáng xuống cổ tay kẻ đó khiến khẩu súng leng keng rơi xuống sàn đá.

– Vô ích thôi, John Clay, – Holmes điềm đạm nói, – mày chẳng còn chút cơ hội nào đâu.

– Tôi thấy vậy đấy, – kẻ kia đáp với vẻ bình tĩnh tột độ. – Tôi đoán là tòng phạm của tôi vẫn ổn cả, dẫu tôi thấy ông đã tóm được đuôi áo hắn rồi.

– Có ba kẻ đang chờ hắn ở cửa đấy, – Holmes nói.

– Ồ, vậy sao. Các ông làm việc thật chu đáo trọn vẹn. Tôi phải khen ngợi các ông đấy.

– Và tôi cũng phải khen ngợi anh, – Holmes đáp. – Ý tưởng mái tóc đỏ của anh rất mới lạ và hiệu quả.

– Chẳng mấy chốc anh sẽ gặp lại tòng phạm của mình thôi, – Jones nói. – Hắn chui xuống lỗ nhanh hơn tôi đấy. Đứng yên để tôi còng số 8 vào nào.

– Xin đừng dùng những bàn tay dơ bẩn của các ông chạm vào người tôi, – tù nhân của chúng tôi lên tiếng khi còng tay va vào nhau leng keng. – Các ông có lẽ không biết rằng trong huyết quản tôi mang dòng máu hoàng gia. Xin hãy lịch sự dùng từ 'thưa ngài' và 'làm ơn' mỗi khi mở miệng nói chuyện với tôi.

– Được thôi, – Jones trợn mắt cười khúc khích. – Nào, xin mời ngài bước lên lầu để chúng ta kiếm một chiếc xe đưa điện hạ về đồn cảnh sát nhé?

– Thế mới ngoan chứ, – John Clay thản nhiên đáp. Hắn cúi đầu chào sâu cả ba chúng tôi rồi thong thả bước đi dưới sự áp giải của viên thám tử.

– Thực tình thưa ông Holmes, – ông Merryweather lên tiếng khi chúng tôi nối đuôi họ rời khỏi căn hầm, – tôi không biết ngân hàng phải cảm ơn hay đền đáp ông thế nào cho đủ. Chắc chắn rằng ông đã phát hiện và đập tan một cách hoàn hảo nhất một trong những âm mưu cướp ngân hàng táo tợn nhất từng xuất hiện trong trải nghiệm của tôi.

– Tôi cũng có một vài món nợ nhỏ của riêng mình cần thanh toán với tên John Clay, – Holmes nói. – Tôi có tốn kém đôi chút trong vụ này và mong ngân hàng sẽ hoàn lại, nhưng ngoài ra tôi đã được đền bù quá dư dả khi có được một trải nghiệm độc đáo về nhiều mặt, cũng như được lắng nghe câu chuyện vô cùng đáng kinh ngạc về Hội Tóc Đỏ.

– Anh thấy đấy, Watson, – Holmes giải thích vào những giờ đầu buổi sáng khi chúng tôi ngồi nhâm nhi ly rượu whisky pha soda ở phố Baker, – ngay từ đầu đã hiển nhiên thấy rõ mục đích duy nhất của cái trò kinh doanh kỳ quái về mẩu quảng cáo của hội và việc chép 'Bách khoa toàn thư' không gì khác ngoài việc tống khứ gã tiệm cầm đồ kém thông minh này ra khỏi nhà trong suốt mấy tiếng đồng hồ mỗi ngày. Đó là một cách dàn xếp kỳ lạ, nhưng quả thật rất khó để gợi ý một phương án nào tốt hơn. Phương pháp đó chắc chắn được gợi ý cho bộ óc xảo quyệt của Clay nhờ màu tóc của kẻ đồng phạm. Mức lương bốn bảng một tuần là miếng mồi nhử chắc chắn sẽ câu được lão, và chừng đó có nghĩa lý gì với bọn chúng, những kẻ đang nhắm đến hàng ngàn bảng? Chúng tung mẩu quảng cáo ra, một tên thuê văn phòng tạm thời, tên kia xúi giục lão đến nộp đơn, và thế là cả hai cùng phối hợp để đảm bảo lão vắng mặt vào mọi buổi sáng trong tuần. Ngay từ khi nghe tin gã phụ tá chấp nhận nhận nửa lương, tôi đã thấy rõ hắn có động lực rất mạnh mẽ để giành lấy vị trí đó.

– Nhưng làm sao anh đoán được động lực đó là gì?

– Nếu có phụ nữ trong nhà, tôi đã nghi ngờ đó chỉ là một vụ tò te nhảm nhí tầm thường. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn bị loại trừ. Tiệm của lão ta nhỏ, và chẳng có gì trong nhà có thể biện minh cho sự chuẩn bị công phu cùng khoản chi phí lớn đến vậy mà chúng đã bỏ ra. Vậy thì nó phải là thứ nằm ngoài ngôi nhà. Nó có thể là gì chứ? Tôi nghĩ đến sở thích chụp ảnh của gã phụ tá và mánh khóe biến mất xuống tầng hầm. Tầng hầm! Đó chính là nút thắt của mớ bòng bong này. Sau đó tôi dò la về gã phụ tá bí hiểm này và phát hiện ra mình đang phải đối phó với một trong những tên tội phạm lạnh lùng và táo bạo nhất London. Hắn đang làm gì đó dưới tầng hầm — một việc ngốn rất nhiều tiếng đồng hồ mỗi ngày suốt mấy tháng trời. Một lần nữa, đó có thể là gì? Tôi chẳng thể nghĩ ra điều gì khác ngoài việc hắn đang đào một đường hầm sang tòa nhà khác.

Tôi đã lần mò đến đó khi chúng ta đến thăm hiện trường vụ án. Tôi làm anh ngạc nhiên khi đập gậy xuống vỉa hè. Tôi đang xác định xem tầng hầm kéo dài ra phía trước hay phía sau. Không phải ở phía trước. Sau đó tôi bấm chuông, và đúng như tôi hy vọng, gã phụ tá ra mở cửa. Chúng tôi từng chạm trán vài lần nhưng chưa từng giáp mặt nhau trước đó. Tôi hầu như không nhìn mặt hắn. Đầu gối hắn mới là thứ tôi muốn thấy. Bản thân anh chắc hẳn cũng nhận ra chúng mòn vẹt, nhăn nheo và bám bẩn thế nào. Chúng tố cáo những giờ phút cặm cụi đào bới. Điểm duy nhất còn lại là chúng đào bới để làm gì. Tôi rẽ qua góc phố, thấy Ngân hàng Thành phố và Ngoại ô giáp với cơ ngơi của người bạn chúng ta, và cảm thấy mình đã giải được bài toán. Khi anh lái xe về nhà sau buổi hòa nhạc, tôi đã ghé qua sở Scotland Yard và gặp chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng, với kết quả mà anh đã thấy.

– Thế làm sao anh biết được bọn chúng sẽ ra tay vào tối nay? – tôi hỏi.

– Chà, khi bọn chúng đóng cửa văn phòng hội, đó là dấu hiệu cho thấy chúng không còn bận tâm đến sự hiện diện của ông Jabez Wilson nữa; nói cách khác, chúng đã hoàn thành đường hầm của mình. Nhưng việc sử dụng nó sớm là điều tối quan trọng, vì nó có thể bị phát hiện hoặc số vàng thỏi có thể bị chuyển đi. Thứ Bảy sẽ là ngày phù hợp với chúng hơn bất kỳ ngày nào khác, vì nó cho chúng hai ngày để tẩu thoát. Vì tất cả những lý do đó, tôi đã đoán trước bọn chúng sẽ hành động vào tối nay.

– Anh suy luận thật tuyệt vời làm sao, – tôi thốt lên với sự ngưỡng mộ chân thành. – Đó là một chuỗi mắt xích dài nhưng mắt xích nào cũng chuẩn xác.

– Nó cứu tôi khỏi nỗi chán ngắt, – anh vừa ngáp vừa đáp. – Than ôi! Tôi đã cảm thấy nó bắt đầu bao vây mình rồi. Cuộc đời tôi trôi qua trong nỗ lực dài đằng đẵng nhằm trốn chạy khỏi sự tầm thường của sự tồn tại. Những bài toán nhỏ này giúp tôi làm điều đó.

– Và anh là một ân nhân của nhân loại, – tôi nói. Anh nhún vai.

– Chà, có lẽ rốt cuộc thì nó cũng có chút ích lợi nhỏ nhoi nào đó, – anh nhận xét.

'L'homme c'est rien—l'oeuvre c'est tout', như Gustave Flaubert từng viết cho Georges Sands.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.