Màu tím của núi Nhật Nạp nhuộm đẫm bầu trời xanh tinh khiết nhất thế gian. Buổi sáng, loài ưng Tùy Nhân trên núi Hymalaya là kẻ đầu tiên nhìn thấy sắc tím đột ngột xuất hiện ấy, nó kêu lên hoảng hốt rồi vút bay về phía mây ngàn.
Bố cục chiến tranh đã thành hình, một bên là tinh binh Thập Tự Anh Quốc do đại tá Garlan lãnh đạo, một bên là người của Giáp bản Âu Châu Giáp thuộc biên phòng Tây Mạng (Tây Tạng). "Giáp bản" nghĩa là đại đội trưởng trong tiếng Tạng, tuy mang danh đại đội trưởng nhưng chỉ có hơn năm mươi thuộc hạ. Hơn năm mươi binh lính Tạng trang bị thô sơ, phải chống lại đám tinh binh Thập Tự đông đúc như đàn cừu, đến cả loài ưng Tùy Nhân cũng cảm thấy nản lòng, chúng cất tiếng kêu bi thương đầy vẻ viễn kiến: quạ... quạ...
Âu Châu Giáp bản đứng trên mỏm đá chênh vênh mang sắc tím ở đèo Nhật Nạp, cúi đầu nhìn tấm bia đá dưới mỏm đá, trong lòng thấy yên tâm hơn đôi chút. Bia đá chính là bằng chứng, trên đó có khắc chữ. Tất cả các chữ đều xuất phát từ kinh văn thần thánh, ai dám coi thường nó. Phía nam bia đá thuộc về Triết Mạnh Xung, phía đông là Bố Lục Khắc Ba, còn phía bắc chính là Tây Tạng. Anh dậm chân lên những thảng đá Tây Tạng dưới chân như để tự cổ vũ chính mình, nhìn thấy loài ưng Tùy Nhân bay lượn về phía thung lũng phía nam - nơi ẩn giấu tinh binh Thập Tự, rồi u sầu cầu nguyện: Phật tổ từ bi ơi, xin hãy để ưng Tùy Nhân mổ mù mắt đại tá Garlan đi.
Anh đã nhận được tối hậu thư của đại tá Garlan:
Trước khi mặt trời mọc vào ngày mai, quân Tạng phải rút khỏi toàn bộ núi Nhật Nạp, Thượng đế phù hộ cho Đại đế quốc Anh không hề muốn nhìn thấy máu của người Tây Tạng chảy ra ở những nơi ngoài cơ thể họ.
Anh nói với kẻ đưa thư: "Chúng ta sẽ có viện binh, sẽ đến nhanh thôi, còn có cả lạt ma với phép thuật dọa chết người nữa cơ, cứ chờ đấy mà xem. Hãy về bảo với đại tá Garlan của các ngươi rằng, Phật của chúng tôi cũng không muốn máu của người Anh chảy ra ở những nơi ngoài cơ thể họ."
Năm ngày trước, khi Âu Châu nghe người Tạng ở Triết Mạnh Xung đến báo mật tin về động thái và ý đồ của tinh binh Thập Tự Anh Quốc, anh lập tức phái người đến cầu viện cấp trên của mình là Hạ Mã Nhữ bản (tiểu đoàn trưởng) đóng quân tại Cương Ba Tông, đồng thời gửi lời nhắn đến ngôi chùa Xuân Pi nằm gần núi Nhật Nạp nhất, thỉnh các lạt ma đến hiện trường để phân định cao thấp với vị Thượng đế dị giáo. Âu Châu gần đây mới biết Thượng đế là vị thần của người Anh, anh vô cùng chấn động khi biết vị thần của người Anh hóa ra không phải là Thích Ca Mâu Ni: chẳng lẽ trên thế giới này còn có vị thần nào lợi hại hơn, đáng tin cậy hơn Phật tổ hay sao? Tuyệt đối không thể có chuyện đó. Đã vậy, tại sao lại không mời các lạt ma tinh thông Phật pháp đến để chống lại sự xâm lược của Thượng đế chứ?
Thế mà viện binh và lạt ma đến tận bây giờ vẫn không thấy tăm hơi, mặt trời sắp mọc đến nơi rồi.
Núi Nhật Nạp có ba cửa ải, hai cửa thông với Triết Mạnh Xung, một cửa thông với Bố Lục Khắc Ba, khoảng cách giữa các cửa ải chừng một cây số, là nơi dễ công khó thủ. Ban đầu anh định chia thuộc hạ thành ba đội, mỗi đội giữ một cửa ải, nhưng hai Định bản (trung đội trưởng) nói rằng, hai cửa ải nhỏ ở cánh trái và cánh phải không có ụ tên, giống như ngọn núi không có chóp tuyết đỉnh đầu, ai còn coi đó là nơi để nương tựa chứ? Đừng nói là ma quỷ ngoại bang kéo đến, ngay cả một bầy dê núi tấn công cũng không giữ nổi.
Ụ tên còn gọi là Nga Bố, ý chỉ đống đá trên đỉnh núi có cắm tên và cờ, nó là nơi trú ngụ của các vị thần thiện phương, có công hiệu phù hộ cho địa phương giàu có, hưng thịnh, sinh sôi, bình an vân vân. Nhưng nếu nó xuất hiện ở cửa ải biên giới, đối mặt với ngoại tộc xâm lược, thì chắc chắn nó sẽ là cung điện của chiến thần, rừng tên là vũ khí của thần, cờ kinh là biểu tượng chiến thắng của thần, đống đá là lô cốt của thần, khói hương tùng, bơ và xam-ba là tâm nguyện chung của con người và chiến thần nhằm trấn áp tà ma ngoại đạo.
Âu Châu Giáp bản đồng ý, không có chiến thần thì con người sẽ không có gan dạ, có thủ cũng bằng thừa. Anh nói: "Được thôi, chúng ta thề đi, toàn thể biên phòng quân núi Nhật Nạp sẽ trấn thủ ở giữa đại ải, dù cho đàn ông chết hết đàn bà tuyệt diệt, quyết không lùi nửa bước."
Đúng vậy, "đàn ông chết hết đàn bà tuyệt diệt", ở đây vẫn còn có phụ nữ và trẻ em.
Hơn năm mươi binh lính Tạng đồn trú quanh năm ở núi Nhật Nạp hầu hết đều dẫn theo gia thuộc, thế nên trên sườn núi phía bắc đại ải, ngoài các trạm gác được xây bằng đá dựng bằng gỗ, còn có lác đác những chiếc lều vải và đàn bò đàn cừu. Nhà của Âu Châu Giáp bản cũng ở đây.
Lúc này, vợ của Âu Châu là Quả Mẫu cũng như mọi khi, ngâm nga câu dân ca đầu tiên trong ngày, bước ra khỏi lều vải, đi về phía bờ sông dưới đáy thung lũng để gánh nước. Cô đi theo con đường nhỏ, dìm chiếc thùng gỗ xuống sông cho ngập nước, lót miếng da bò chống ẩm rồi khoác dây thùng lên vai, thì bỗng nhìn thấy ở cửa thung lũng phía nam tận hạ lưu con sông, một vùng bóng người lố nhố đang di chuyển trong sương khói mặt nước. Cô vác thùng nước cất bước chạy đi, miệng hô lên: "Đến rồi, đến rồi." Nước dao động trên lưng cô, hất tung vào tận cổ khiến cô trượt ngã xuống đất, nước đổ tràn ra hết. Cô lồm cồm bò dậy, chạy ngược lên trên.
Âu Châu Giáp bản nghe thấy tiếng gọi, giận dữ tự tát vào mặt mình một cái: Kẻ thù xâm lược là ma quỷ ngoại bang vậy mà mình lại không phải là người đầu tiên nhìn thấy chúng, uổng công canh gác ở đây suốt cả buổi sáng. Anh nhảy phắt khỏi mỏm đá tím chênh vênh, lao tới tóm chặt lấy vợ: "Trông thế nào?"
Vợ Quả Mẫu đáp: "Trông giống hổ ấy, lông lá xù xì một mảng nhìn không thấy điểm cuối."
Âu Châu quay người lao bổ về phía ụ tên cách đó không xa, đập đầu vào tảng đá cầu khẩn: "Chiến thần ơi ngài tên là gì tôi không biết, nhưng uy danh của ngài thì từ kiếp trước tôi đã nghe tới rồi, việc chống lại ma quỷ ngoại bang đành phải trông cậy vào ngài đấy, đừng quên bơ và xam-ba dâng cúng cho ngài mỗi ngày nhé, hãy mau hiển linh đi, khiến chúng sợ đến tè ra quần rồi cút khỏi Tây Tạng thật xa vào."
Quả Mẫu đã sớm hô lớn "đến rồi đến rồi" khắp sườn núi. Ở các trạm gác và lều vải, binh lính lần lượt chạy ra ngoài.
Hơn năm mươi binh lính Tạng thuộc biên phòng Tây Tạng nằm rạp thành một hàng dài phía sau những mô đất đá ở đại ải núi Nhật Nạp. Phụ nữ và trẻ em thì cứ thế đứng nghễu nghện phía sau đám lính Tạng, người thì ngó cái này kẻ thì nhìn cái kia. Dù là người nhà đi theo quân ngũ, nhưng họ chưa từng thấy lính Tạng đánh giặc bao giờ, cũng chẳng thấy huấn luyện quân sự bao giờ, nên tỏ ra tò mò và kinh ngạc khi thấy đám lính Tạng lại có thể nằm rạp xuống một cách tề chỉnh đến vậy. Mấy đứa trẻ bật cười thành tiếng, liền bị mẹ chúng nghiêm khắc ngăn lại. Bầu không khí căng thẳng và trang nghiêm xuất phát từ nét mặt của đám lính Tạng, bao trùm cả một góc bầu trời.
2
Một tia sáng vàng rọi thẳng vào đèo Nhật Nạp như một ngón tay, mặt trời đã ló dạng.
Phía trước, lực lượng tiên phong của tinh binh Thập Tự Anh Quốc lặng lẽ xuất hiện. Họ vượt lên từ chỗ trũng của bãi cỏ cuối cùng ở phía bắc vương quốc Triết Mạnh Xung, nhanh chóng tản ra, tay cầm súng thận trọng áp sát lại gần. Âu Châu Giáp bản quay đầu trừng mắt nhìn vợ mình một cái: Giống hổ hồi nào chứ? Rõ ràng là khoác bộ da xám xịt cơ mà! Lông lá xù xì chính là tóc, thế này thì có khác gì người Tây Tạng đâu. Nhưng rất nhanh anh đã phát hiện ra điều kỳ lạ, đám ma quỷ ngoại bang xâm lược đều đang bò trườn, chúng đầu người thân người mà lại đi bằng bốn chân, khiến người Tây Tạng cười đến chết mất. Anh lại đầy thán phục liếc nhìn vợ một cái: Quả nhiên giống như hổ thật, là hổ xám đội mũ. Vợ hiểu ý gật đầu, dùng ánh mắt hỏi anh: Phải làm sao đây?
Âu Châu Giáp bản đã sớm nghĩ xong phải làm thế nào. Anh đầy tự tin mở khoang súng hỏa mai, nạp đạn, nhồi thuốc súng, cắm dây cháy chậm, dùng thanh đánh lửa giắt ở lưng ma sát với đá lửa để châm ngòi dây cháy chậm, ngắm nghía thật kỹ về phía bầu trời bao la, “pằng” một tiếng bắn ra phát súng, rồi hét lớn một tiếng: "La-xô-rô, chiến tranh nổ ra rồi." Anh lại chỉ lên bầu trời ra lệnh cho thuộc hạ: "Mỗi người bắn một phát súng cho ta."
Hai vị Định bản Xích Nãi và Thứ Đăng đều hỏi: "Tại sao lại bắn súng lên trời?"
Âu Châu đáp: "Trên trời của chúng ta có thần của chúng ta, trên trời của bọn chúng có thần của bọn chúng, bắn hạ thần của bọn chúng đi thì bọn chúng sẽ không còn sức mà bước tới đây nữa." Lúc này vừa khéo có một tên lính Anh nghe thấy tiếng súng liền vội vã nép ra sau mô đất, vì trốn quá vội nên bị vấp đá ngã nhào xuống đất. Âu Châu vui mừng hét lớn: "Nhìn kìa, thần của bọn chúng không phù hộ cho chúng nữa rồi."
Đám lính Tạng lần lượt nhắm lên bầu trời, nối tiếp nhau mỗi người bắn một phát súng.
Lực lượng tiên phong của tinh binh Thập Tự dừng bước tiến. Trong mắt bọn họ, bắn súng lên trời chính là hành động cảnh cáo, đã dám cảnh cáo thì tất yếu phải nghiêm túc đối phó. Một vị lạt ma mặc cà sa tía sậm bước ra, xua tay hét lớn bằng tiếng Tạng: "Đừng nổ súng, có chuyện gì thì từ từ nói."
Âu Châu Giáp bản cảnh giác đáp lại: "Đừng có qua đây, muốn nói chuyện thì đứng ở phần đất của các người mà nói." Anh cảm thấy cho phép kẻ xâm lược bước vào Tây Tạng để nói chuyện chẳng khác nào để cho đối phương chiếm tiện nghi, giống như cho kẻ mình căm thù ngủ trên tấm thảm nỉ nhà mình vậy. Mà việc anh cần làm không những là không để bản thân chịu thiệt, mà còn phải chiếm tiện nghi của đối phương. Anh đứng dậy bước đi, ra tới bên ngoài cửa ải cách bia đá mười bước chân, đắc ý nghĩ: Bây giờ mình đã đặt chân đến Triết Mạnh Xung rồi, nhất định phải nói nhiều thêm chút nữa, chiếm nhiều tiện nghi thêm chút nữa.
Vị lạt ma mặc cà sa tía sậm lại nói: "Chúng ta là đến đàm phán, đừng mang súng."
Âu Châu lắc lư khẩu súng hỏa mai, thành thật nói: "Nhìn đi, bên trong không có thuốc súng đâu."
Vị lạt ma mặc cà sa tía sậm dẫn theo một sĩ quan Anh đi tới. Tên sĩ quan vừa đi vừa nhét khẩu súng lục vào bao súng ở thắt lưng. Âu Châu ngẩn người nhìn, lúc này mới nhận ra đám ma quỷ ngoại bang xâm lược vốn không hề đi bằng bốn chân, hành động bò trườn vừa rồi rõ ràng là để che đậy vóc dáng cao lớn của chúng. Anh không khỏi lùi lại nửa bước, quay đầu hét lớn về phía người của mình: "Bọn chúng đến hai người, sao bên ta lại chỉ có mỗi mình tao? Qua thêm một người nữa xem nào."
Đám lính Tạng bất động, đều nhìn về phía hai vị Định bản. Hai vị Định bản Xích Nãi và Thứ Đăng nhìn nhau, còn chưa thương lượng xong xem ai qua đó, thì lạt ma và sĩ quan Anh đã áp sát Âu Châu rồi. Quả Mẫu sợ chồng mình chịu thiệt, cất tiếng hô hào như hát dân ca rồi chạy ù sang.
Cuộc đàm phán bắt đầu. Đây là cuộc đàm phán đầu tiên của cuộc chiến này, diễn ra giữa một viên đại đội trưởng quân Tạng và một tên trung úy quân Anh, nhưng kẻ lên tiếng thì chỉ có phía quân Anh.
Trung úy nói: "Tại sao các người lại không chịu cân nhắc đề nghị của đại tá Garlan? Bây giờ vẫn còn kịp đấy, mau chóng rút khỏi núi Nhật Nạp đi, mặt trời không có chuyện vừa mọc lên đã lặn xuống đâu."
Vị lạt ma mặc cà sa tía sậm uyển chuyển phiên dịch bằng tiếng Tạng. Âu Châu Giáp bản ra vẻ như không nghe hiểu, trừng mắt nhìn trung úy quân Anh không chớp mắt. Vợ anh là Quả Mẫu cũng vậy, giống như có lần cô và Âu Châu ân ái trong bụi cỏ rậm, lúc đứng dậy nhìn ra thì cách đó vài bước chân là một con hổ vức, tiến không được mà lùi cũng chẳng xong, chỉ có thể ngẩn ngơ đối mặt trong cơn hoảng hốt, đến thở mạnh cũng không dám thở.
Trung úy nói: "Các người đã nổ súng, nhưng chúng tôi không hề đánh trả, đây là sự khoan dung của Thượng đế. Nếu các người muốn coi sự khoan dung ấy là sự hèn nhát, thì các người sẽ trực tiếp nghe thấy tiếng gầm giận dữ của Thượng đế trong huyết quản của mình đấy."
Càng trừng mắt nhìn viên trung úy, mắt Âu Châu và Quả Mẫu càng trợn trừng ra, cả hai hóa đá lúc nào không hay.
Trung úy lại nói: "Xin hãy nhớ kỹ lời khuyên can mà Dung Hạc - tín đồ của Thượng đế đã dành cho các người, hãy nhớ kỹ vị lạt ma thức thời này, hắn tên là Cát Tát, là người bạn Tây Tạng của chúng tôi, là trợ lý của đại tá Garlan, đồng thời cũng là trợ lý của Thượng đế."
Cát Tát cân nhắc từng chữ để dịch lại. Âu Châu và Quả Mẫu nhìn nhau một cái, đột ngột quay phắt người, vừa kéo nhau vừa chạy về trận địa của mình, lúc này mới thở phào trút ra hơi thở đang nén chặt.
"Ma quỷ!" Âu Châu đưa ra kết luận. Không phải loại ma quỷ dùng để hình dung kẻ xấu, mà là ma quỷ bằng xương bằng thịt hàng thật giá thật. Chỉ có mắt của ma quỷ mới có màu xanh, là sắc xanh u ám, xảo quyệt và đáng sợ của loài chó sói, lúc chớp lúc lóe, lúc đảo qua đảo lại, có vẻ như sẽ cướp đi linh hồn của bạn ngay tức khắc. Âu Châu đi về phía ụ tên, dùng trán chạm vào cờ kinh rồi nói: "Chiến thần ơi tôi nói cho ngài biết, mắt của ma quỷ có màu xanh da trời, mặt mũi cổ họng thì tái nhợt, tóc thì vàng óng. Béng cái vị Thượng đế Phật tổ của chúng, bọn chúng còn có cả Thượng đế nữa cơ, tất cả chúng ta cùng nổ súng mà vẫn không tiêu diệt được Thượng đế của bọn chúng. Chiến thần bây giờ phải trông cậy vào ngài đấy, xin hãy tung pháp lực ra đi." Gió thổi phần phật, rừng tên và cờ kinh ào ào đáp lại anh.
Âu Châu Giáp bản trở lại trận địa, thấy đám ma quỷ ngoại bang lại bắt đầu đi bằng bốn chân, trước mặt là những cái đầu ma quỷ lăn lông lốc về phía này trên mọi địa hình phẳng phiu, anh bèn đầy ngờ vực nhìn bầu trời, lại nhìn sang Xích Nãi và Thứ Đăng ở bên cạnh, cất tiếng hỏi: "Các người có cách gì không?"
Hai vị Định bản lắc đầu như đang thi xem ai lắc nhanh hơn. Thế nhưng vợ anh là Quả Mẫu lại đứng sau lưng anh nói: "Hãy để ma quỷ ngoại bang đợi một chút, lạt ma của chúng ta còn chưa đến cơ mà." Sau đó cất giọng hát dân ca:
Lạt ma trong các lạt ma khoe tài tuấn,
Lạt ma thiện tới lạt ma ác tiêu tùng.
Vợ nói đúng lắm. Âu Châu Giáp bản gật đầu: Có lẽ Thượng đế, ma quỷ ngoại bang, Dung Hạc, đại tá Garlan đều không quan trọng, quan trọng là bọn chúng lại có lạt ma Phật giáo làm trợ lý. Vị lạt ma Tây Tạng kia tên là gì nhỉ? Cát Tát? Thuộc ngôi chùa nào thế? Sao lại có thể cho phép hắn giúp đỡ ma quỷ ngoại bang tấn công quê hương mình cơ chứ? Kẻ phản đồ! Xem ra tình hình hiện nay là, sở dĩ bọn chúng không tiêu diệt được vị Thượng đế dị giáo đó, chính là vì có tên lạt ma phản đồ Cát Tát đóng vai trò bảo vệ. Muốn đánh lui ma quỷ ngoại bang xâm lược, trước tiên phải khuất phục cho được lạt ma Cát Tát, mà muốn khuất phục lạt ma Cát Tát, thì phải trông cậy vào lạt ma của chính chúng ta. Thế nhưng lạt ma của chúng ta lại cứ khất lần khất lữa không chịu xuất hiện, giống như bộ kinh trường thọ niệm cho người chết vậy, lúc nào cũng trễ hết lần này đến lần khác. Lạt ma ở Tây Tạng thì nhiều vô số kể, thế nhưng lúc cần dùng đến thì lại chẳng có ai kịp có mặt, cho dù lời nhắn của ta gửi đến chùa Xuân Pi không đến nơi đi nữa, thì các lạt ma cũng có thể dùng năng lực thỉnh thần để biết được nguy cấp ở chỗ chúng ta cơ mà! Sốt ruột chết đi được, sốt ruột chết đi được.
Âu Châu quay đầu nhìn ngắm núi non sông ngòi của Tây Tạng: Lạt ma ơi lạt ma, lạt ma của chính chúng ta ơi.
Còn có một điểm vợ Quả Mẫu cũng nói rất đúng: "Hãy để ma quỷ ngoại bang đợi một chút." Giống như việc tỉ thí vật lộn, bắn cung, đua ngựa, đối thủ không đến thì ngươi đi so tài với ai? Không so tài thì sao ngươi có thể tuyên bố mình chiến thắng? Nhận thức về chiến tranh của Âu Châu Giáp bản vẫn chưa hề pha lẫn những khái niệm như mưu mô, quỷ kế, trí lấy, lừa đoạt, anh cứ nghĩ đàng hoàng, công bằng, hợp lý là tiêu chuẩn tối thiểu, thế nên anh cho rằng mình cần phải thông báo cho ma quỷ ngoại bang đang tiến công bằng vũ lực biết rằng: Hãy đợi một chút.
Âu Châu Giáp bản gọi Định bản Xích Nãi - người từng có mấy năm đọc kinh trong tu viện thời niên thiếu - lại gần và nói: "Cậu là người biết đọc biết viết, đã đến lúc dùng đến rồi, tôi muốn nói vài câu với ma quỷ ngoại bang." Xích Nãi đành bất lực dang hai tay nói: "Không có giấy với bút thì phải làm sao bây giờ?" Người Tạng sùng bái giấy bút, càng mù chữ lại càng sùng bái, bởi vì giấy và bút đều là thứ dùng để viết kinh văn. Biên phòng quân Tây Tạng ở núi Nhật Nạp làm sao có thể có được thứ quý giá nhường ấy.
Quả Mẫu nói: "Nhà em có giấy." Cô chạy về lều vải của nhà mình, lấy ra một tờ giấy, hóa ra đó chính là bức "tối hậu thư" do người của đại tá Garlan phái người đưa tới ngày hôm qua. Cô thấy trên đó có chữ, nên đã coi nó như kinh văn mà cung phụng trước bàn thờ Phật linh thiêng trong lều. Bây giờ đành phải lấy ra dùng thôi, giấy do ma quỷ gửi tới thì trả lại cho ma quỷ, xét ra cũng là chuyện hợp tình hợp lý. Một di vật trân quý là nhân chứng đầu tiên cho cuộc chiến tranh nổi tiếng này, sắp rời khỏi Tây Tạng rồi.
Bút mực thì dễ giải quyết, Xích Nãi từng thấy lạt ma tu luyện Mật pháp viết huyết kinh trong tu viện, bây giờ cứ làm theo phép cũ là được. Anh ta lấy chiếc bát gỗ mang theo người ra, rạch ngón tay nhỏ vài giọt máu, lại bảo Quả Mẫu rút một chiếc trâm bạc mảnh mai trên tóc đưa cho mình, sau đó nằm rạp xuống đất ngẩng đầu hỏi: "Viết gì thế?"
Âu Châu đáp: "Ma quỷ đưa cho chúng ta tối hậu thư, chúng ta đưa lại cho bọn chúng cũng phải là tối hậu thư." Sau đó mở miệng là đọc tuôn ra một lèo:
Vào lúc cái bụng của chúng ta kêu rột rột vì đói, thì hạt xam-ba đáng yêu ấy vẫn còn đang mọc trên những thửa ruộng lúa mạch xanh rì. Vào những ngày nước sông khô cạn, chim chóc muông thú chỉ còn biết chờ đợi những ngọn núi băng mùa hè tan chảy ào ào. Những ai từng phơi nắng đều biết rằng, ánh nắng buổi sáng là thoải mái nhất, thế nên bọn họ nguyền rủa những đám mây đen đã chôn vùi mặt trời. Ồ kìa, ma quỷ ngoại bang các ngươi đã đến rồi, xin hãy đợi một chút nhé, vị lạt ma thần thông quảng đại của chúng tôi vẫn đang uống trà trong tu viện kìa. Ngài ấy đã biết các ngươi đến rồi, một chân bước ra khỏi ngưỡng cửa, một chân vẫn còn trong tu viện. Thượng đế nếu không đành lòng chết đi để chuyển thế, thì nên phục tùng sự thuần hóa của thần Phật. Ta lại một lần nữa long trọng thông báo: Chiếc giày của vị lạt ma chinh phục ma quỷ ấy không bị cái mùa đông lạnh giá này làm cho đông cứng, bởi vì ngài ấy có một đôi bốt năm lớp da cừu ba lớp da bò. Hãy đợi thêm một chút nữa đi, đôi bốt đang trên đường tới rồi. Khoảnh khắc đọ sức pháp lực sắp đến rồi, La-xô-rô."
Toàn bộ nội dung của bức tối hậu thư chủ yếu là đang chỉ trích và châm biếm vị lạt ma mãi không thấy đến, đủ để thấy sự phẫn nộ của Âu Châu Giáp bản đối với việc lạt ma không đến còn vượt qua cả sự phẫn nộ đối với ma quỷ ngoại bang.
Đến đoạn giữa, Xích Nãi nói: "Nói chậm thôi, nói nhiều quá hết máu rồi." Lại ra lệnh cho hai tên lính của mình: "Lại nặn thêm nửa bát máu cùi bắp của các cậu đưa cho tôi mau."
Âu Châu nói: "Nặn máu của tôi ấy, máu của Giáp bản quý giá hơn các cậu, có pháp lực."
Đàn ông đàn bà đều vây quanh ở đây, vươn cổ ngó nghiêng xem người ta viết "tối hậu thư" như thế nào, suýt chút nữa thì quên mất cả việc tinh binh Thập Tự đang tấn công.
Quả Mẫu hỏi: "Âu Châu, anh bảo đôi bốt đang trên đường tới, thế đi đến đâu rồi?"
Âu Châu tiện miệng đáp: "Đoạn núi Long Thổ này chứ đâu."
Quả Mẫu bảo: "Thế thì sắp đến rồi đấy, viết vào đi."
Âu Châu đầy thán phục liếc nhìn vợ một cái rồi bảo: "Đúng, viết vào."
Xích Nãi nói: "Hết chỗ viết rồi, phải chừa lại một ít để ký tên chứ." Vừa nói vừa lật mặt giấy lại cho mọi người xem bức tối hậu thư của người Anh, "Ma quỷ cũng có ký tên cơ mà."
Âu Châu bảo: "Được, vậy thì chừa chỗ trống ra, ký tên tôi vào, Âu Châu Giáp bản, không, phải là Tây Tạng Âu Châu Giáp bản."
3
Đến Xuân Pi xong, Tây Giáp lạt ma liền rời khỏi quân Sâm Ba, đi thẳng đến chùa Xuân Pi.
Ông vì cái chết mà đến Tây Tạng, chiến tranh sắp nổ ra, Nhiếp chính vương đang phải đối mặt với thử thách, ông vì Nhiếp chính vương mà đến đây đánh ma quỷ ngoại bang, dẫu có chịu chết thì đây cũng là cái chết để báo đáp; ông đã cản trở con đường thành Phật của Nhiếp chính vương, đáng lý ra ông phải chết, nhưng hiện tại ông vẫn chưa chết, không chết chính là để tìm kiếm một cái chết có giá trị hơn, đây là cái chết để chuộc tội. Hai nguyên nhân cộng lại, trong đầu ông chỉ có một ý nghĩ duy nhất là chiến đấu đến chết. Thế nhưng quân Sâm Ba, đội quân Sâm Ba nam thanh nữ tú cười cười nói nói, trong mắt ông tuyệt đối không phải là một đội quân dám đối mặt với cái chết. Đương nhiên, kẻ khiến ông quyết tâm rời đi còn có một câu nói của cô gái Tang Trúc: "Dù anh thừa nhận hay không, chỉ cần anh ở bên em, anh chính là kẻ phản đồ của Đan Cát Lâm. Địch Mục sớm muộn gì cũng sẽ giết anh." Tây Giáp sợ hãi, trong lòng liên tục lắc đầu: Không thể vì cô gái Tang Trúc mà khiến Nhiếp chính vương oán hận mình thêm nữa. Ông biết dù cô gái Tang Trúc có thù hận Phật sống Địch Mục đến đâu đi nữa, thì Địch Mục vẫn coi cô như em gái ruột của mình. Giống như việc ông rời khỏi cô gái Tang Trúc theo mong muốn của Phật sống Địch Mục hồi trước, bây giờ ông vẫn sẽ tránh đi thật xa. Quý tộc và bình dân, vĩnh viễn có khoảng cách xa như trời với đất. Nhất là hiện tại, ông đã trở thành một vị lạt ma cấp thấp trốn chạy hình phạt để đến tìm cái chết, lại càng nên nhìn nhận rõ cái bộ mặt hèn m hạ này của mình. Chiêm ngưỡng từ xa vậy thôi, mắt nhìn mắt, linh hồn chạm linh hồn. Tuyệt đối không được đến gần, khoảng cách chính là tất cả, là tất cả của cô gái Tang Trúc.
Lúc rời đi, Đại bản Nô Mã cứ níu lấy ông không buông: "Anh đi rồi tụi tôi biết ma quỷ ngoại bang ở chỗ nào."
Tây Giáp tiện tay chỉ một cái: "Đi thẳng về phía trước chính là ma quỷ ngoại bang." Bản thân ông vốn chẳng hề biết ngón tay mình đang chỉ vào là rãnh Mễ Câu của núi Long Thổ, chỉ biết đó là hướng biên giới, là nơi nhất định phải tới để đánh ma quỷ. Ông đùa cợt nói: "Mau đi đi, ma quỷ ngoại bang cũng thích khiêu vũ lắm đấy."
Nô Mã vui mừng nói: "Tôi muốn dùng điệu nhảy của chúng ta để chiến thắng điệu nhảy của ma quỷ ngoại bang."
Tây Giáp không thể ngờ được rằng, quân Sâm Ba đi rồi quả nhiên lại đụng độ ma quỷ ngoại bang. Đại bản Nô Mã đầy thán phục nói: "Tây Giáp lạt ma này quả nhiên là người ở cạnh Nhiếp chính vương, có thần thông quảng đại thật đấy, cách cả ngàn quả núi mà vẫn nhìn thấy ma quỷ ngoại bang." Trong khi bản thân Tây Giáp thì vẫn đang dò hỏi khắp trong ngoài chùa Xuân Pi xem ma quỷ ngoại bang ở nơi nào.
Trụ trì chùa Xuân Pi là Đa Cát sống Phật nghe tin Tây Giáp lạt ma đến từ Đan Cát Lâm, bấy giờ cứ ngỡ là do Nhiếp chính vương phái đến thủ biên chống ma, nên vô cùng cung kính, lúc nói chuyện thì Tây Giáp ngồi, còn ông ta thì khom lưng đứng, nói rằng: "Chùa Xuân Pi có ba mươi vị đầu đà chân đất, đến lúc đó tất cả đều do ngài sai khiến."
Tây Giáp nói: "Không cần đâu, muốn chết thì một mình tôi chết là đủ."
Đa Cát sống Phật thận trọng hỏi: "Chỉ một mình ngài thôi á?" Lại hối hận tự vả nhẹ vào miệng mình mấy cái, "Ngài xem tôi hỏi cái câu ngớ ngẩn gì thế này, đầu đà Đan Cát Lâm có pháp lực lớn, một mình chính là thiên binh vạn mã."
Tây Giáp nói: "Nếu thiên binh vạn mã đều sợ chết, chẳng thà một mình ôm lấy quyết tâm phải chết còn hơn. Ông chỉ cho tôi biết ma quỷ ngoại bang ở chỗ nào đi?"
Đa Cát sống Phật nói: "Chuyện đại lạt ma ngài còn không biết, tiểu sống Phật như tôi sao mà biết được? Từ Xuân Pi đi về phía nam là Á Đông, Lãng Nhiệt, Tắc Lợi Lạp, Lặc Bố, Niệm Na, Nạp Đường, núi Long Thổ, núi Nhật Nạp, chẳng biết nơi nào có nữa."
Tây Giáp kinh ngạc nói: "Nhiều nơi thế này, rốt cuộc tôi phải đi đâu để đánh ma quỷ ngoại bang đây?"
Đa Cát sống Phật sai người bưng trà sữa và xam-ba lên.
Tây Giáp nuốt nước bọt xua tay nói: "Tôi đến để đánh ma quỷ ngoại bang, chứ có phải đến để ăn xam-ba đâu." Ông bước ra khỏi tu viện, lang thang trong thôn xóm Xuân Pi bao quanh tu viện, gặp ai cũng gặng hỏi có nhìn thấy ma quỷ ngoại bang hay không. Vẫn chưa hỏi ra manh mối gì, đang định rời đi, thì đột nhiên có người vỗ vai ông từ phía sau và nói: "Tôi biết ma quỷ ngoại bang ở đâu đấy."
Người này chính là kẻ đã mang lời nhắn của Âu Châu Giáp bản đi. Hắn ta vốn đến biên phòng quân núi Nhật Nạp để thăm anh em, lúc này đang vội vã về nhà, thấy một vị lạt ma đang dò hỏi về ma quỷ ngoại bang liền chủ động xáp lại gần, đem lời nhắn thỉnh cầu các lạt ma đến hiện trường để phân định cao thấp với vị Thượng đế dị giáo của Âu Châu Giáp bản kể cho ông nghe. Hắn ta lại dặn dò thêm: "Phiền ngài nhắn lại cho trụ trì chùa Xuân Pi là Đa Cát sống Phật nhé."
Tây Giáp xua tay nói: "Không cần phải nhắn qua nhắn lại thế này đâu, làm phiền tôi đi một chuyến là được chứ gì. Ha ha, tôi sắp đại diện cho Tây Tạng để đi đọ sức pháp lực với vị Thượng đế của ma quỷ ngoại bang rồi đây." Nói xong, bụng đói meo nhưng vẫn hân hoan lên đường, sải bước thật nhanh đi đến tuyến biên giới để bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Bức tối hậu thư do Âu Châu Giáp bản đại diện cho Tây Tạng gửi tới cho người Anh đã được bắn sang bằng một mũi tên săn bắn. Lực lượng tiên phong của tinh binh Thập Tự vốn có thể nhanh chóng chiếm lĩnh đèo Nhật Nạp lúc này đang dừng lại quan sát, bởi vì trung úy Dung Hạc có chút hoài nghi: Đại địch hiện tiền, biên phòng quân Tây Tạng chụm lại một đống để làm gì? Có phải đang lén lút dựng pháo, chôn mìn hay không? Ông ta ra lệnh cho bộ đội tản ra ẩn nấp, tự mình trèo lên điểm cao để thầm quan sát, thứ quan sát được lại không phải là đạn pháo bay tới, mà là một bức tối hậu thư được gửi tới bằng ngọn tên sắc bén.
Đã là tối hậu thư từ phía Tây Tạng gửi tới, trung úy Dung Hạc tất nhiên không thể tự mình xử lý được. Ông ta phái người phi ngựa mang đến giao cho tổng chỉ huy tinh binh Thập Tự phía sau là đại tá Garlan.
Đại tá Garlan bảo mục sư Das đọc cho mình nghe, vừa nghe đã lập tức bị cách diễn đạt hài hước dí dỏm ấy thu hút. Ông nghiền ngẫm từng câu từng chữ, hoàn toàn không suy diễn ra ý nghĩa bảo quân đội Anh hãy đợi một chút, sẽ có lạt ma đến tiền tuyến để phân định cao thấp với Thượng đế dị giáo. Ngược lại, ông lại hiểu thành người Tây Tạng đã đợi người Anh từ rất lâu rồi, có lạt ma mang tâm trạng gấp gáp mặc đôi bốt thượng hạng đến nghênh đón, mục đích của bức thư này chính là để bọn họ chờ đợi đón tiếp.
Ông hỏi mục sư Das: "La-xô-rô nghĩa là gì?"
Das đáp: "Thắng lợi thuộc về thần. Người Tây Tạng muốn đọ sức pháp lực với chúng ta."
Đại tá nghĩ, thế thì đúng rồi, thứ mà người Tây Tạng đang chờ đợi chắc chắn không phải là súng đạn của người Anh, mà là Thượng đế, là Chúa Jesus. Ông chợt nhận ra rằng việc để mình và vị mục sư đại diện cho Chúa bước vào Tây Tạng trước tiên chính là cách tuyệt vời nhất, đó là sự thể hiện kép của việc chinh phục tín ngưỡng và chinh phục quân sự. Là một tín đồ Cơ Đốc sùng đạo và cuồng nhiệt, ông đặc biệt coi trọng vinh quang khi Thượng đế bước vào Tây Tạng, mà ông chính là vị sứ đồ giương cao ngọn cờ của Thượng đế. Một mặt ông hạ lệnh cho lực lượng tiên phong tạm thời ngừng tấn công, mặt khác gọi mục sư Das đồng hành nhanh chóng tiến về phía trước.
Từ đây đi đến đèo Nhật Nạp, cưỡi ngựa mất một tiếng đồng hồ. Đây là một tiếng đồng hồ vô cùng quan trọng, nó mang lại sự bình yên cuối cùng cho núi Nhật Nạp, đồng thời cũng cho phép binh lính Tạng và người nhà của biên phòng quân Tây Tạng có thời gian ăn no một bữa bữa sáng. Bữa sáng còn chưa ăn xong, Âu Châu Giáp bản đã phát hiện ra mục đích bắt ma quỷ phải đợi một chút của mình đã đạt được: Hướng núi Long Thổ cuối cùng cũng xuất hiện một vị lạt ma, ông ta vóc dáng cao lớn, mặt mày rạng rỡ, mang theo sự tự tin đọ sức pháp lực với ma quỷ ngoại bang, sải bước đi tới. Âu Châu không kịp đặt bát gỗ uống trà xuống, kích động nghênh đón.
Tây Giáp lạt ma trẻ trung khỏe mạnh mang vẻ mặt trời không sợ đất chẳng sợ gì, nghe xong màn tự giới thiệu của Âu Châu Giáp bản liền hỏi: "Nhận được lời nhắn rồi, Thượng đế ở đâu?"
Âu Châu chỉ lên bầu trời trên đầu ma quỷ đáp: "Đấy, thấy chưa?"
Tây Giáp nheo mắt nhìn một lát rồi nói: "Thấy rồi. Tránh ra, tôi phải niệm kinh đây."
Ông bước lên trước mấy bước, dạng chân đứng thẳng, hai tay chống nương, cất giọng oang oang niệm "Úm ma ni bát mế hồng" về phía phương hướng của tinh binh Thập Tự. Tất cả mọi người vểnh tai lên nghe, thế nhưng lại phát hiện ra ông niệm đi niệm lại cũng chỉ có câu "Úm ma ni bát mế hồng". Cái này thì ai mà chẳng biết, ở Tây Tạng, câu đầu tiên mà các bà mẹ dạy cho trẻ con chính là nó, cần gì phải mời lạt ma chuyên niệm kinh đến để niệm cơ chứ?
Âu Châu Giáp bản thận trọng nói: "Cái này e là không ăn thua đâu nhỉ, có bài kinh nào lợi hại hơn không?"
Tây Giáp đáp: "Các người biết cái gì, đây chính là bài kinh tuyệt vời nhất đấy, văn lạt ma niệm ra thì thành văn kinh, võ lạt ma niệm ra thì thành võ kinh. Tôi là võ lạt ma, một câu chính là một mũi tên rít gió, mười câu là mười mũi tên rít gió, một vạn câu là một vạn mũi tên rít gió, ma quỷ thì tính là cái thá gì, cứ đến là chết." Đột nhiên, ông dán mắt vào chiếc bát gỗ còn vương cặn trà sữa trong tay Âu Châu Giáp bản, liếm đôi môi khô khốc nói: "Nôn nóng quyết chiến, đi đường vội vàng quá nên đói rồi, không có sức niệm kinh nữa."
Âu Châu quay đầu, lớn tiếng hét với vợ: "Mau đem đồ ăn lên đây."
Quả Mẫu xách ấm trà và túi xam-ba lao ra từ lều vải, vừa chạy vừa phát ra tiếng leng keng khắp người. Những kẻ đồn trú ở biên giới quanh năm suốt tháng chẳng dễ gì mới gặp được một vị lạt ma, để tỏ lòng cung kính, Quả Mẫu đã thay bộ trang phục đẹp nhất, khoác lên người tất cả đồ trang sức bằng bạc và bằng đá quý. Những người phụ nữ khác cũng giống như cô, sớm đã ăn mặc xúng xính nhiều màu sắc trông ra dáng lắm rồi.
Tây Giáp lạt ma ngồi bệt xuống đất, sai mấy người phụ nữ hầu hạ ăn uống xong xuôi, ợ một cái rồi đứng dậy, thong thả bước ra ngoài đại ải, chống nương đứng thẳng, hướng về phía trận địa tinh binh Thập Tự, gầm lên câu "ma ni" (lục tự đại minh chú) một cách hùng hồn hơn.
Trên trận địa của tinh binh Thập Tự đột nhiên cũng vang lên một trận âm thanh gầm vang câu "ma ni". Một dải cà sa tía sậm lướt ra. Tây Giáp lạt ma kinh ngạc quay đầu nhìn Âu Châu Giáp bản một cái: Sao ma quỷ ngoại bang cũng có lạt ma thế này?
Âu Châu lớn tiếng đáp: "Anh đi so tài pháp lực với lạt ma Cát Tát trước đã, tên phản đồ này chính là trợ lý của Thượng đế đấy."
Vị Thượng đế không biết lượng sức kia, vậy mà lại dẫn theo một vị lạt ma Tây Tạng làm trợ lý. Tây Giáp lạt ma ngậm miệng lại, thầm nghĩ: "Ma ni" so với "Ma ni" thì so kiểu gì? So cho đến chết thì cũng chỉ là kẻ tám lạng người nửa cân mà thôi.
Thấy hai vị lạt ma giằng co với nhau, Âu Châu phấn khích hùa theo hô hào: "So pháp lực đi, so pháp lực đi."
Tây Giáp lạt ma bước về phía trước. Cát Tát lạt ma cũng ngậm miệng bước về phía này. Hai vị lạt ma đối địch gặp nhau ở vùng đất trung gian, đối phương trừng mắt nhìn nhau hết mức lạnh lùng sắc bén.
Tây Giáp lạt ma hỏi: "Ngài có pháp lực gì?"
Cát Tát lạt ma vặn hỏi lại: "Ngài có pháp lực gì?"
Tây Giáp đáp: "Pháp lực của tôi chính là cái này." Vung nắm đấm lên liền đánh.Cát Tát lạt ma vóc dáng nhỏ bé không ngờ đây lại là cách đọ sức pháp lực, không kịp né tránh, đã bị đối phương đánh ngã nhổng xuống đất. Tây Giáp hết lần này đến lần khác kéo dậy, hết lần này đến lần khác đánh ngã. Âu Châu Giáp bản cách đó không xa đến mức có chút không nỡ nhìn, cứ "áy náy" rên rỉ thay cho Cát Tát lạt ma. Không một ai bước ra can ngăn, bởi vì đây là một phần của chiến tranh, là sự đọ sức bản lĩnh giữa các sứ giả do thần linh của hai bên phái tới. Cả tinh binh Thập Tự lẫn quân Tạng đều cảm thấy chưa đến lúc để Cát Tát lạt ma thi triển pháp lực, một khi đã thi triển, dù không thể thắng bằng kỳ tích thì cũng sẽ khiến Tây Giáp lạt ma kinh ngạc đến ngây người.
Thế nhưng chẳng mấy chốc Cát Tát lạt ma đã nằm bò ra đất không đứng dậy nổi nữa.
Tây Giáp lạt ma ngừng đánh đập bạo lực, mắng: "Đồ vong ân bội nghĩa, Nhiếp chính vương với Đạt Lai lạt ma không cho ngươi ăn hay không cho ngươi mặc hả, mà ngươi dám phản bội Tây Tạng. Đừng quên quy tắc do Thích Ca Mâu Ni đặt ra: Lạt ma gặp lạt ma, không phục thì đánh chết. Chưa đánh chết ngươi chính là lòng từ bi của đầu đà chân đất Đan Cát Lâm ta đây, mau đứng dậy, đi gọi Thượng đế của các ngươi ra đây, phiền ngài ấy đến phân định cao thấp với ta một trận."
Tinh binh Thập Tự phái mấy người chạy tới, khiêng Cát Tát lạt ma đi về phía sau. Cát Tát lạt ma bỗng giãy giụa, ra hiệu cho họ đặt mình xuống, sau đó đứng dậy, nhìn Tây Giáp lạt ma, phun ra ngụm máu đặc nghẹn trong cổ họng. Một đường cong màu đỏ rực xé gió bắn tới, chính xác dán chặt lên mặt Tây Giáp lạt ma cách đó hơn mười mét. Tây Giáp vừa lau vừa nhổ, tức giận gào thét ầm ĩ. Pháp lực, lúc này mọi người mới được chứng kiến pháp lực của Cát Tát lạt ma, quả là lợi hại.
Lúc này đại tá Garlan đã đến. Ông bước tới dưới sự bảo vệ của mấy tên vệ binh, tận mắt nhìn đôi bốt của Tây Giáp lạt ma, thứ nhìn thấy không phải là đôi bốt thượng hạng năm lớp da cừu ba lớp da bò, mà là một đôi chân trần nổi gân đen sì, không khỏi khó hiểu lắc đầu: Sao lại thế này? Ông vẫn chưa nhận thức được rằng thứ mình đang đối mặt là một dân tộc có trí tưởng tượng quan trọng hơn cả thực tế, mà chỉ cảm thấy tối hậu thư của Âu Châu Giáp bản đã lừa gạt mình không nhẹ, chẳng có ai đi một đôi bốt thượng hạng đến nghênh đón ông cả. Ông vội vàng quay về trận địa của mình, bực bội nói: "Chúng ta làm lỡ mất thời gian rồi."
Trung úy Dung Hạc nói: "Nên phái người chiếm lĩnh ngay hai cửa ải nhỏ ở hai bên trái phải núi Nhật Nạp, tạo thế bao vây từ phía sau, sau đó phát động một trận tấn công mãnh liệt ở đây, khiến người Tây Tạng không đường trốn chạy."
Mục sư Das nói: "Chúng ta không chỉ đến để đánh giặc, trong ý chí của Thượng đế, thứ vô dụng nhất chính là đạn dược. Vẫn là nên dùng quy tắc của Tây Tạng để chinh phục Tây Tạng đi."
Đại tá Garlan đầy tin tưởng nhìn ông hỏi: "Hình như anh có cách tốt hơn phải không, mục sư?"
4
Vẫn là so tài pháp lực, nhưng đã giao kèo trước là không được dùng tay chân, nắm đấm của Tây Giáp lạt ma thì họ đã lĩnh giáo qua rồi. Mục sư Das mang theo nụ cười khó lường, ấn định mục tiêu của trận so tài này: Hiển lộ kỳ tích, xem ai có thể bắt được thần của đối phương. Lại nói: "Muốn bắt thần thì phải đổi chỗ, anh qua bên chúng tôi bắt, tôi sang bên các người bắt." Tây Giáp lạt ma đứng ngoài vạch ranh giới ngoái đầu nhìn Âu Châu Giáp bản đang lấp lửng không có ý kiến gì, đại diện cho Tây Tạng đồng ý.
Tây Giáp lạt ma hỏi: "Ai bắt trước?"
Mục sư Das đáp: "Anh bắt phần của anh tôi bắt phần của tôi, ai bắt được trước thì người đó thắng. Anh thắng thì người Anh rút lui, từ nay không đến nữa. Tôi thắng thì người Tây Tạng rút lui, từ nay không đến nữa."
Tây Giáp vừa định đồng ý, thì nghe thấy Âu Châu Giáp bản phía sau hét lên: "Cái gì gọi là từ nay không đến nữa, đây là địa phận của chúng ta, chúng ta sao có thể từ nay không đến nữa được chứ?"
Das trừng mắt nhìn Âu Châu lớn tiếng nói: "Thần ở đâu thì người ở đó, chẳng lẽ Tây Tạng các người không phải vậy sao? Tôi sẽ bắt được thần của các người, còn an vị thần của chúng ta nữa, các người còn lý do gì để đến đây nữa chứ?"
Âu Châu ngẩn người, không biết phải trả lời thế nào.
Vợ anh là Quả Mẫu nói: "Các người không bắt được thần của chúng tôi đâu."
Tây Giáp bỗng cười lớn, hỏi Âu Châu và Quả Mẫu: "Các người có biết tại sao hắn không bắt được thần của chúng ta không? Bởi vì thần của bọn chúng sắp bị tôi bắt mất rồi."
Tây Giáp sải bước đi về phía quân Anh. Das cũng sải bước đi tới. Hai người lướt vai qua nhau.
Tây Giáp lạt ma lại gầm lớn hô hét niệm "ma ni" giống như lúc nãy, khua khoắng tay chân một cách hỗn loạn, đi ngang qua đại tá Garlan và trung úy Dung Hạc, đi thẳng đến trước mặt Cát Tát lạt ma. Cát Tát lạt ma đã lau sạch vết máu trên mặt, rụt rè nhìn Tây Giáp.
Tây Giáp bất ngờ buông "ma ni" ra, nghiêm giọng hỏi: "Ngươi là lạt ma ở vùng nào của Tây Tạng?"
Cát Tát không thích thái độ hùng hổ dọa người của đối phương, lùi lại nửa bước, ngẩng đầu nhìn trời, dõng dạc đáp: "Chùa Tát Ma, thì sao nào?"
Tây Giáp sực nhớ ra: Thảo nào Cát Tát lại trở thành trợ lý của vị Thượng đế dị giáo. Mấy năm trước, chùa Tát Ma vì tranh chấp nợ nần nên đã bị Mật đại sống Phật Đan Vượng Tự - pháp chủ ngôi chùa lớn Môn Vụ - mang quân truy đòi. Chùa Tát Ma ngoan cố chống cự, chiếm cứ đỉnh núi để cản trở người của Mật đại sống Phật, cuối cùng vì ít địch nhiều nên thất bại, tăng chúng một phần phiêu tán đến Giang Tắc và Lạp Thả, một phần đi theo trụ trì Cát Tát trốn sang Ấn Độ. Chùa Tát Ma cùng với đỉnh hộp sọ Đức Phật vốn là vật trấn sơn của chùa đã thuộc về Đan Vượng Tự để trừ nợ. Chuyện này cả Tây Tạng ai cũng biết.
Tây Giáp khinh miệt nói: "Ngươi chạy sang Ấn Độ chính là để đầu cơ ma quỷ ngoại bang đấy phỏng?"
Cát Tát đáp: "Ai có thể giúp tôi trở lại chùa Tát Ma, tôi sẽ đầu quân cho người đó."
Tây Giáp nói: "Được thôi, tôi cho phép ngươi đầu quân. Đừng quên quy tắc do Thích Ca Mâu Ni đặt ra: Lạt ma gặp lạt ma, mọi người nói thật lòng. Ngươi nói cho ta biết, Thượng đế của ma quỷ ngoại bang ở đâu?"
Cát Tát không chắc Thích Ca Mâu Ni có đặt ra quy tắc thế này hay không, nhìn bộ dạng đường đường chính chính của đối phương, liền hoang mang nghĩ rằng, coi như là có đi. Ông thành thật nói: "Thượng đế của nhà người ta anh không nhìn thấy đâu, nằm trong tim ấy."
Tây Giáp tóm chặt lấy chiếc cà sa tía sậm của Cát Tát: "Ngươi bảo ở trong tim ngươi á?"
Cát Tát hoàn toàn hiểu được mạch suy nghĩ của Tây Giáp, vội vàng nói: "Ai đọ sức pháp lực với anh thì ở trong tim kẻ đó."
Tây Giáp "ồ" lên một tiếng, cứ ngỡ mình đã nhanh chóng đánh tan kẻ phản đồ Cát Tát, Cát Tát đã tiết lộ bí mật về nơi ở của Thượng đế cho mình, liền hất Cát Tát ra rồi sải bước quay về.
Trên trận địa của biên phòng quân Tây Tạng, mục sư Das đang hiển lộ kỳ tích. Ông ta lấy ra một chiếc đĩa trong suốt, vồ vồ từ phía sau giống như bắt mông ấy, tóm lấy một thứ mà người khác không nhìn thấy được thả vào trong đĩa, lại liếm láp xì xì giống như liếm cháo xam-ba một lúc, sau đó ngậm chặt miệng phồng má, có vẻ như đang ngậm đầy thứ gì đó rất khó nuốt. Bỗng ông ta há miệng, phun ra một ngụm khí vàng. Ngụm khí vàng ấy đan xen với ánh nắng mặt trời xuyên qua chiếc đĩa, phóng thẳng lên ụ tên - nơi trú ngụ của thần linh. Cờ kinh trên ụ tên lập tức bốc khói, tiếp theo đó, ngọn lửa bùng lên.
Âu Châu Giáp bản nhìn Xích Nãi và Thứ Đăng ở bên cạnh, lại nhìn sang vợ Quả Mẫu, tất cả mọi người đều mang vẻ mặt kinh hãi, pháp lực của Thượng đế quả nhiên phi phàm. Mấy tên lính Tạng sợ hãi bỏ chạy khỏi hiện trường, trốn biệt vào trong lều vải.
Rừng tên là bằng cành cây, cờ kinh là bằng vải thô, cộng thêm hương tùng và bơ, đều là những thứ dễ bắt lửa. Chẳng mấy chốc ngọn lửa đã bùng to, tiếng réo phần phật vang lên, ụ tên biến mất, chỉ còn lại đống đá trơ trọi. Xong rồi xong rồi, cung điện của chiến thần không còn nữa, vũ khí chống địch, biểu tượng chiến thắng, tâm nguyện cầu nguyện đều tan thành mây khói.
Âu Châu Giáp bản và thuộc hạ của anh ai nấy mặt cắt không còn giọt máu.
Thế nhưng việc bốc cháy vẫn chưa phải là tất cả của kỳ tích, điều khiến người Tây Tạng chấn động nhất chính là, vào khoảnh khắc ngọn lửa tắt ngấm, mục sư Das lao bổ về phía phế tích của thần điện, bới tung lớp tro tàn ở giữa, rút ngay ra một bức tượng Phật bằng đồng đã hoen gỉ từ bên trong.
Das hét lên: "Bắt được rồi, bắt được rồi, tôi đã bắt được thần của người Tây Tạng rồi."
Chẳng ai biết ụ tên này đã tồn tại bao lâu, pho tượng thần bên trong đã bị chôn vùi bao lâu rồi. Lẽ ra chúng đã xuất hiện kể từ khi nơi đây trở thành biên giới, tính ra cũng phải mấy trăm năm rồi chứ nhỉ? Chúng dựa vào pháp lực vô địch của chính mình, kiên định trấn thủ nơi đây, giúp cho Tây Tạng luôn được bình an vô sự. Thế nhưng bây giờ thần lại bị bắt đi biến thành tù binh, chẳng những không thể bảo vệ Tây Tạng, mà ngay cả bảo vệ chính mình cũng không làm nổi. Mấy người phụ nữ bật khóc. Âu Châu Giáp bản run rẩy nói: "Ma quỷ, đúng là ma quỷ."
Lúc này Tây Giáp lạt ma sải bước quay lại, tóm chặt lấy vạt áo mục sư Das: "Tôi biết Thượng đế của các ông ở đâu rồi, chính là ở trong tim ông đấy. Tôi cũng bắt được rồi, bắt được rồi." Sau đó vươn một tay về phía Âu Châu Giáp bản: "Đưa tôi một con dao, tôi muốn mổ tim hắn ra."
Das hình như đã sớm đoán trước được điều này, đẩy Tây Giáp ra rồi nói: "Anh quên giao ước của chúng ta rồi à, không được dùng tay chân."
Tây Giáp lạt ma tức giận dậm chân chân trần liên hồi, dùng lưỡi liếm liếm môi, buông tay ra, thầm nghĩ vậy mình dùng miệng có được không? Cũng không được, đối phương sẽ không đứng yên bất động để cho ông cắn rách tim trong người ra đâu.
Mục sư Das cuồng hoan rời đi. Đại tá Garlan cũng giống như Das, gương mặt ngập tràn vẻ vui mừng không giống vẻ mặt của một vị chỉ huy quân đội chút nào cả. Đương nhiên ông sẽ không cho rằng việc bắt được một pho tượng thần thì đồng nghĩa với việc đã giành được thắng lợi. Thế nhưng thắng lợi chắc chắn là có rồi, hơn nữa còn là thắng lợi về tâm lý, về tín ngưỡng, đó là giành được quyền chủ quản về mặt tâm lý, điều này quan trọng hơn việc chiếm lĩnh quân sự và thống trị chính trị gấp một vạn lần. Mà việc khiến người Tây Tạng cảm thấy sợ hãi và hoảng hốt về mặt tâm lý chính là tiền đề để quy thuận Thượng đế.
Trung úy Dung Hạc dường như có vẻ hứng thú hơn với giá trị di vật của pho tượng thần, ôm lấy nó từ tay Das rồi nói: "Tác phẩm điêu khắc tinh xảo, trông vừa cổ kính vừa đẹp đẽ, hình như là một vị nữ thần, cứ để tôi bảo quản nó nhé, tôi sẽ từ từ thưởng thức."
Đại tá Garlan lớn tiếng nói: "Xin mục sư hãy bảo với người Tây Tạng, mau chóng rời đi, từ nay đừng đến đây nữa. Vi phạm giao ước là sẽ phải chịu trừng phạt đấy."
Ở bên này, Âu Châu Giáp bản đau đớn chất vấn Tây Giáp lạt ma: "Lạt ma gia của tôi ơi, pháp lực của ngài chạy đi đâu mất rồi?"
Tây Giáp oan ức đáp: "Úm ma ni bát mế hồng không phát huy tác dụng thì tôi biết làm thế nào?" Ông vốn không hề biết rằng ma quỷ ngoại bang trong mắt ông là tôn giáo độc thần không chủ trương sùng bái thần tượng, dung mạo của Thượng đế đến cả mục sư còn chưa từng thấy bao giờ, làm sao có thể để ông bắt tận tay được chứ? Trong khi Phật giáo có vô số vị thần, thần tượng nhan nhản khắp nơi, bắt một cái là chuẩn xác luôn, lần này thiệt thòi lớn mất rồi.
Tây Giáp lạt ma hận không thể giấu nổi sự bực bội vì đã không bắt được Thượng đế, có sức mà không biết trút đi đâu bèn ôm lấy tấm bia đá dưới mỏm đá đá mạnh một cú "rầm" xuống đất, liên tiếp nện mấy cú mà vẫn không thể nguôi ngoai, cuối cùng dứt khoát ném luôn tấm bia đá về phía phế tích ụ tên. Bia đá rất nặng, người bình thường không ôm nổi, thế nhưng Tây Giáp lại có thể ném đi xa mấy mét. Trên phế tích ụ tên, đống đá vẫn y nguyên, còn tấm bia đá không lệch chút nào, rơi thẳng vào chính giữa đống đá. Bức tượng thần ở giữa đã bị mục sư Das bắt đi, tấm bia đá vừa khéo lấp vào vị trí của tượng thần, nện một cú "rầm" xuống, làm dấy lên một làn khói bụi, sau khi khói bụi hạ xuống thì không thể nhận ra đó là một tấm bia đá nữa, mà chỉ giống như một hòn đá trong đống đá mà thôi. Điều này có vẻ chính là công tích mà Tây Giáp lạt ma đã lập ra khi đến núi Nhật Nạp, ông vô tình chôn vùi tấm bia đá, khiến nó không bị phong hóa, không bị hư hỏng, lại càng không bị người ta dịch chuyển sang nơi khác. Nhiều năm sau, chiến tranh đã kết thúc, những người trong cuộc từ lâu đã không còn trên đời, khi các quốc gia liên quan tranh cãi không dứt về việc rốt cuộc biên giới nằm ở đâu, các nhân viên khảo sát đã phát hiện ra tấm bia đá thô ráp này nằm trong đống đá giữa muôn trùng núi non. Những chữ viết trên bia đá thể hiện rõ ràng rằng: Phía tây nam bia đá thuộc về Triết Mạnh Xung, phía đông là Bố Lục Khắc Ba, còn phía bắc chính là Tây Tạng của Trung Quốc.
Tây Giáp lạt ma - kẻ đã chôn vùi tấm bia đá - ngồi bệt xuống đất, không biết phải làm sao cho phải.
Quả Mẫu đầy thông cảm nói: "Ngài đúng là một vị lạt ma nhỏ không có bốt, giá mà đại lạt ma đến thì hay biết mấy."
Một câu nói nhắc nhở Tây Giáp, ông lau nước mũi đứng dậy: "Tôi đi mời Đa Cát sống Phật của chùa Xuân Pi tới đây, ngài ấy mới thực sự là đại lạt ma."
Tây Giáp lạt ma định trốn chạy khỏi nơi này, không muốn cứ đứng đây chịu đựng sự lúng túng mặt dày mày dạn nữa. Người ta vốn dĩ đâu có mời ông tới, chỉ là cầu xin ông nhắn lại một lời nhắn cho trụ trì chùa Xuân Pi là Đa Cát sống Phật thôi, thế mà ông lại cứ tự ý chạy đến. Xem ra việc bắt Thượng đế của ma quỷ ngoại bang không phải là chuyện nhỏ, bản thân ông quá hèn m hạ, pháp lực còn lâu mới đủ. Ông chán nản bước lên con đường trở về.
Quả Mẫu đuổi theo, nhét cho ông một túi vải thô đựng xam-ba cùng một ít bơ, dặn dò: "Ăn xong nhớ trả lại túi vải thô cho em đấy nhé."
"Ồ." Tây Giáp lạt ma cảm kích đáp lời.
Ở trận địa quân Anh, tiếng hét của mục sư Das truyền tới: "Đã đến lúc thực hiện tín ước rồi, xin các người mau chóng rời đi."
Âu Châu Giáp bản căng thẳng hỏi thuộc hạ: "Làm thế nào đây? Thần mất rồi, chúng ta phải làm sao bây giờ?"
Đám thuộc hạ của anh ai nấy mất hồn mất vía, chẳng ai trả lời nổi.
Vào thời khắc then chốt vẫn là vợ anh - Quả Mẫu - thể hiện linh tính bẩm sinh, cô nói: "Đến lạt ma chân đất không có pháp lực còn tới đây rồi, Hạ Mã Nhữ bản của Cương Ba Tông sao mãi vẫn chưa tới vậy?"
Âu Châu Giáp bản giật mình: Đúng vậy, nãy giờ cứ mải bận tâm đến chuyện lạt ma so tài pháp lực, sao lại quên mất cả cấp trên cơ chứ. Cương Ba Tông cách núi Nhật Nạp cưỡi ngựa nhanh lắm cũng chỉ nửa ngày đường, viện binh sớm nên đến rồi chứ nhỉ. Anh lập tức phái hai tên lính Tạng phi ngựa đi gấp, một lần nữa thỉnh cầu tăng viện khẩn cấp. Anh lớn tiếng quát vào tấm lưng của hai tên lính: "Cứ bảo là sao trên trời đều mọc cả rồi mà sao ngôi sao sáng nhất vẫn chưa thấy đâu? Eo của chúng ta đã còng suốt một ngày rồi, trán thì sắp chạm đến mũi giày da bò rồi đấy, chỉ đành chờ Hạ Mã Nhữ bản tự mình tới hiện trường thôi." Sau đó lại hét về phía tinh binh Thập Tự: "Ma quỷ nghe đây, viện binh Cương Ba Tông Hạ Mã Nhữ bản của chúng tôi sắp tới rồi, đến lúc đó nói chuyện tiếp. Hán tử đấu hán tử, anh hùng đánh anh hùng, sư tử không bắt nạt kiến, trán không với tới mông." Người Tây Tạng chưa từng đánh trận quả là thật thà đến mức cực điểm, chuyện nên nói thì nói, chuyện không nên nói cũng nói luôn.
Đại tá Garlan vừa nghe thấy sẽ có viện binh đến, lập tức hạ lệnh cho thuộc hạ: "Bắt đầu tấn công."
5
《Thánh sử》 chỉ ra rằng, khi người Anh giải thích lý do chiến tranh, luôn nhấn mạnh là quân đội Tây Tạng nổ súng trước, thế nhưng lại che giấu sự thật quan trọng nhất: Quân đội Tây Tạng là phòng thủ, còn bọn họ là tấn công; quân đội Tây Tạng là bắn lên trời, còn bọn họ là bắn vào người.
Súng vừa vang lên, biên phòng quân Tây Tạng đã có người ngã xuống. Âu Châu Giáp bản tưởng là do sợ hãi, không bận tâm lắm, vừa thong thả nhồi thuốc súng vào súng hỏa mai vừa suy nghĩ: Có nên đánh trả hay không? Lúc này vợ anh là Quả Mẫu hét lên chói tai từ phía sau: "Người của chúng ta chết rồi." Lúc này anh mới quay phắt đầu lại, nhìn thấy máu đã nhuộm đỏ một tên lính tên là Nham Thố Tam Đán, giống hệt với sắc tím đột ngột xuất hiện ở núi Nhật Nạp.
Đây là người chết đầu tiên trong cuộc chiến này. Đám quân Tạng vốn hoàn toàn mù tịt về chiến tranh lúc này mới nhận thức được rằng chiến tranh chính là cái chết. Âu Châu Giáp bản vẫn luôn luống cuống không biết làm thế nào, lúc này cuối cùng cũng biết nên đối phó với kẻ thù ra sao, liền hô lớn: "Đạn dược đã nạp xong chưa? Ngắm vào tim ma quỷ, cứ như đánh gấu mà nả cho tao."
Quả Mẫu đuổi lũ trẻ đang hóng hớt vào trong lều vải, lại dẫn mấy người phụ nữ cầm bơ bôi lên sống lưng của tất cả lính Tạng. Đây là ngụ ý tránh hung cầu phúc, bảo hộ ụ tên của họ không còn nữa, ngay cả chiến thần cũng bị bắt mất rồi, thế nên đành phải trông cậy vào chính con người mà thôi.
Tệ hại là, rất nhiều lính Tạng tay chân vụng về nạp đạn mãi không xong, đợi đến lúc nạp xong thì đá lửa lại không lóe ra tia lửa, chật vật mãi mới lóe lửa thì lại phát hiện ra quên cắm dây cháy chậm. Quá căng thẳng, đều là những binh lính lần đầu đánh trận, huống chi đã nhìn thấy người chết, Nham Thố Tam Đán từng ngày ngày nói nói cười cười mà đến một tiếng rên cũng không rên nổi đã bỏ mạng.
Âu Châu Giáp bản lớn tiếng mắng mỏ binh lính: "Đám ngựa đực bị thiến kia ơi, đến phát điên đánh nhau cũng không biết nữa thì giữ các ngươi lại có tác dụng gì chứ." Thế nhưng dây cháy chậm của chính anh cũng không châm nổi lửa, hòn đá lửa cứ như được nấu trong nước vậy, đánh thế nào cũng không thèm lóe lên tia lửa. Âu Châu sốt ruột đến mức vừa lau mồ hôi vừa cầu nguyện: Thần đến rồi thần đến rồi, xin hãy để chúng tôi bắn một phát súng cho đàng hoàng đi mà.
Biên phòng quân còn chưa kịp đánh trả phát súng nào, đã nghe có tiếng ai đó nói: "Kiên trì được đến bây giờ, các người không dễ dàng gì đâu."
Âu Châu Giáp bản quay đầu nhìn lại, hóa ra là Hạ Mã Nhữ bản dẫn viện binh tới rồi.
Quân Tạng không có quân lễ, thuộc hạ gặp cấp trên trực tiếp đều phải khom lưng, cất mũ, lè lưỡi, gặp cấp trên lớn hơn nữa thì phải tránh đi từ xa. Âu Châu Giáp bản hoảng hốt vội vàng bò dậy.
Hạ Mã Nhữ bản ngồi xổm xuống, một tay ấn anh lại và bảo: "Cẩn thận đấy, đạn đang nhảy múa nhảy điệu cszong-xa trên da đầu kìa."
Hạ Mã Nhữ bản đã nhận được tin cấp báo và cầu viện của Âu Châu Giáp bản từ ba ngày trước, sở dĩ trì hoãn mãi không đến tăng viện là vì Cương Ba Tông nơi ông dẫn quân đồn trú cũng xuất hiện người Anh.
Người Anh đến Cương Ba Tông là một vị mục sư và một đội quân hộ tống mục sư. Vị mục sư là một thanh niên lịch sự nhã nhặn, từ đằng xa đã ra lệnh cho quân đội Anh dừng lại tại chỗ, tự mình vứt bỏ thú cưỡi, một mình đi đến trước trận địa quân Tạng, ôn tồn nói bằng tiếng Tạng: "Tôi là mục sư Ma Ông, rất vinh hạnh khi được đến đây, muốn bàn bạc một chút với sĩ quan của các ông."
Hạ Mã Nhữ bản nghĩ: Trên mặt dã ngưu nhìn không ra hung ác, lúc nên húc người thì vẫn cứ húc như thường. Thời tiết mùa đông tuy đẹp, nhưng ngặt nỗi càng trời quang thì lại càng lạnh. Hắn hừ một tiếng, nói với Mục sư Ma Ông mặc áo đen toàn thân, cao gầy mảnh khảnh rằng: "Núi của Tây Tạng ngọn này cao hơn ngọn kia, quan chức của chúng ta người này lớn hơn người kia. Ta chỉ là một vị quan lớn cỡ con rận, nói đến chuyện bàn bạc thì chưa có tư cách. Nhiệm vụ của ta chính là không để các người bước qua biên giới."
Mục sư Ma Ông cười hỏi: "Biên giới ở đâu, sao tôi không nhìn thấy?"
Hạ Mã Nhữ bản nói: "Anh cứ đợi đấy, tôi vẽ ngay đây." Lập tức ra lệnh cho binh lính dùng dao găm vạch ra một vạch ở ngay sau lưng mục sư.
Mục sư Ma Ông ngoảnh đầu nhìn, kinh ngạc nói: "A, sao lại ở đây?"
Sau đó Mục sư Ma Ông kể, dựa theo kiến thức ông ta nắm giữ, ông ta và những binh lính hộ tống thực ra đã đi sâu vào biên giới Tây Tạng mười mấy cây số, không ngờ quân biên phòng Tây Tạng lại cứ thế xuề xòa cắt đứt mười mấy cây số đất đai cho người ngoại quốc. Thực ra chuyện này cũng không thể trách Hạ Mã Nhữ bản. Triết Mạnh Xung và Bruksba nằm giáp ranh với Tây Tạng lúc bấy giờ đều là chư hầu của Tây Tạng, hằng năm đều phải phái sứ giả đến cống hiến vật phẩm cho Đạt Lai Lạt Ma, Nhiếp chính vương, Chính phủ Cáp Tát và Đại thần trú tạng, chúc mừng năm mới. Để đáp lễ, phía Tây Tạng có trách nhiệm phái cao tăng và quan tục đến điều đình khi nội bộ Triết Mạnh Xung và Bruksba xảy ra tranh chấp. Mối quan hệ tầng lớp trên mật thiết như thế, qua lại thường xuyên, bàn chân ai đặt lên đất của ai cũng không còn là chuyện quan trọng nữa. Thêm vào đó cả hai bên đều là người Tạng, có chung một niềm tin và lối sống, kết hôn buôn bè, qua qua lại lại, bên này là chú, bên kia là cậu, đường biên giới từ lâu đã thành ra qua loa đại khái rồi. Sai lầm của Hạ Mã Nhữ bản nằm ở chỗ, hắn không ý thức được rằng Anh Quốc – cường quốc thực phẩm số một thế giới trong lúc khai thác Ấn Độ, đã cơ bản khống chế được Triết Mạnh Xung và Bruksba, biên giới nằm ở đâu thì không thể giống như trước đây mà hững hờ vẽ một vạch ở đây, vạch một vạch ở kia được nữa.
Hạ Mã Nhữ bản vạch ra đường biên giới, xua tay nói: "Trở về đi, anh đã bước lên đất Tây Tạng rồi."
Mục sư Ma Ông lùi lại hai bước, đứng ra ngoài vạch và nói: "Người lính trung thành với nhiệm vụ, nếu anh cảm thấy không tiện nói chuyện, thì hãy để tôi qua, diện kiến Tông bản địa phương của các anh."
Hạ Mã nói: "Anh không thể qua đây, có bàn có gặp thì cũng ở đây."
Cương Ba Tông vừa là một Tông (huyện) của Tây Tạng, vừa là trang viên của Chát Thập Luân Bố Tự ở Hậu Tạng. Hạ Mã Nhữ bản lập tức phái ra hai người, một người đi đến chỗ ở của Tông bản, mời Tông bản đến hiện trường; một người đi đến Cương Ba Tự quản lý trang viên, mời họ phái người báo cáo lên Chát Thập Luân Bố Tự. Lẽ ra hắn càng nên phái người báo cáo cấp trên trực tiếp của mình là A Đạt Ni Mã Đại bản (đoàn trưởng), nhưng hắn hoàn toàn không biết A Đạt Ni Mã Đại bản đang đóng quân ở đâu, từ trước tới nay chưa từng biết.
Hai canh giờ sau, Tông bản mới phái quản gia của phủ Tông bản đến đây.
Quản gia nói: "Tông bản không nhận được văn thư của Cáp Tát, không thể nói chuyện với người ngoại quốc, muốn nói thì cũng phải có lạt ma của Chát Thập Luân Bố Tự có mặt. Bảo người Anh quay về đi, sau này hãy hay." Nói đoạn châm một đống phân bò ướt mang theo. Đây là thói quen của người du mục: Trước lều đặt một đống phân bò ướt bốc khói nghi ngút, ý chỉ nhà chủ có người bệnh, không hoan nghênh khách đến viếng thăm.
Hạ Mã nói: "Ngươi tưởng người Anh là anh em họ hàng nhà ngươi chắc, không cho đến là không đến nữa à?"
Quản gia kinh ngạc nói: "Không cho đến mà họ vẫn cứ đến, trên đời lại có loại người này cơ à?"
Hạ Mã Nhữ bản và Mục sư Ma Ông tiếp tục giằng co, giằng co hai ngày, mục sư mới rời đi.
Lúc đi mục sư nói: "Chúng tôi sẽ không từ bỏ Tây Tạng, ba ngày sau sẽ lại tới."
Hạ Mã nói: "Đây là một cuộc hẹn ước phải không? Vậy thì ba ngày, trong vòng ba ngày các anh không được phép đến. Hy vọng anh có thể tuân thủ."
Mục sư Ma Ông lớn tiếng nói: "Vâng, là hẹn ước, ba ngày sau."
Mặc kệ ba ngày sau thế nào, cứ tăng viện cho núi Nhật Na rồi tính tiếp. Hạ Mã Nhữ bản đắc ý vì kế hoãn binh của mình, trợn mắt nhìn Mục sư Ma Ông và đội vệ binh của ông ta đi khuất dạng, để lại một tiểu đội binh lực cùng vợ con của tất cả quan binh đồn trú, dẫn theo bốn mươi người còn lại, không chần chừ vội vã chạy tới.
Cuộc tiến công của tinh binh Thập Tự vẫn tiếp tục, sau một loạt tiếng súng dày đặc, những bóng người bắt đầu di chuyển về phía trước. Âu Châu Giáp bản nói: "Nhìn kìa, ác ma phương Tây lại chuẩn bị đi bằng bốn chân rồi."
Hạ Mã Nhữ bản rốt cuộc quan lớn hơn một cấp, lập tức đính chính: "Cái này gọi là bò trườn, lúc tấn công thì phải thế này, học tập cho kỹ vào."
Âu Châu khó hiểu hỏi: "Học tập cho kỹ? Học theo ác ma phương Tây á?"
Quả Mẫu ném cho chồng một thanh đao tùy thân: "Ác ma phương Tây không có cái này."
Âu Châu nắm chặt lấy đao, nói: "Đấu súng không lại, vậy thì giáp lá cà."
Vô ích rồi, núi Nhật Na thực ra đã thất thủ, ngay trước khi tinh binh Thập Tự phát động tiến công từ chính diện, Đại tá Garlan đã sớm phái người đi đến hai tiểu ải khẩu bên trái và bên phải. Bây giờ quân Anh đã vượt qua tiểu ải khẩu, đang vòng lại bao vây từ phía này. Mấy người phụ nữ phát hiện ra bóng dáng bọn chúng, hoảng hốt kêu lên.
Âu Châu nhìn thấy liền phẫn nộ: "Hay lắm, vậy mà đã qua rồi, đến một tiếng chào cũng không thèm đánh. Thế thì chúng ta cũng qua đó, chiếm luôn đất của bọn chúng, có qua có lại mới không thiệt thòi."
Hạ Mã Nhữ bản đồng tình nói: "Từ đây qua là Triết Mạnh Xung, qua nữa là Ấn Độ, bên kia Ấn Độ chính là Anh Quốc. Bọn chúng chiếm Tây Tạng, chúng ta chiếm Anh Quốc."
Âu Châu nghiêm túc nói: "Tôi đến Anh Quốc, sẽ ở luôn trong nhà chỉ huy của bọn chúng không đi nữa."
Hạ Mã nói: "Anh ở nhà hắn làm gì?"
Âu Châu nói: "Hắn không có vợ à? Vợ hắn mà hoảng sợ, sẽ gọi hắn về ngay."
Hạ Mã nói: "Cách này của anh rất hay, nhưng tôi chỉ là một Nhữ bản, không có quyền phái anh đi Anh Quốc, tôi phải báo cáo Đại bản, Đại bản phải báo cáo Chát Thập Luân Bố Tự, Chát Thập Luân Bố Tự phải báo cáo Lạp Tát, còn Lạp Tát báo cáo ai thì tôi không biết nữa."
Âu Châu nói: "Ôi trời ơi, cứ báo cáo mãi, báo cáo đến cuối cùng tôi già đến mức đi không nổi nữa, thì còn đi Anh Quốc kiểu gì?"
Quả Mẫu là người Tây Tạng hiếm hoi nói chuyện không dùng phép ẩn dụ, không vòng vo, sớm đã nghe đến mức không kiên nhẫn nổi nữa, lớn tiếng hỏi: "Trước sau trái phải toàn là ác ma phương Tây, nói mau phải làm sao đây?"
Hạ Mã nhìn quanh bốn phía rồi nói: "Rút thôi, rút về núi Long Thổ rồi tính tiếp."
Âu Châu vô thức đáp lời, đột nhiên lại nói: "Không được đâu Đại nhân Nhữ bản, chúng ta đã thề rồi: Dù nam giới cạn kiệt, phụ nữ chết hết, quyết không lùi nửa bước."
Hạ Mã đảo mắt nhìn đống hào lũy đã bị thiêu rụi rồi nói: "Ở đây thần linh cũng chẳng còn, các ngươi thề với ai chứ? Rút lui nhanh chóng, đến ngọn núi Long Thổ có thần linh, thề lại từ đầu."
Âu Châu còn muốn tranh cãi, một loạt tiếng súng vang lên, đạn vèo vèo bay qua đỉnh đầu. Vợ anh ta là Quả Mẫu đột nhiên giật lấy khẩu súng từ tay chồng, dùng thanh đá đánh lửa nấu trà của mình để đánh lửa dây dẫn cháy, chĩa thẳng vào người lính Anh ở gần cô ta nhất, bi thương nói: "Chúng tôi có chọc gì các anh đâu, các anh đến đây làm gì hả?" Sau đó trả súng lại cho chồng, sải bước đi về phía sườn núi.
6
Việc rút lui không thể nào diễn ra nhanh chóng được, bởi vì còn phải nhổ lều trại, lùa trâu dê, mang theo vợ con. Tiếng kêu của trâu dê hỗn loạn thành một mảng. Đi chưa được bao xa, người và súc vật đều dừng lại, ngoảnh đầu nhìn trạm gác bằng đá dựng gỗ ghép trên núi Nhật Na với vẻ lưu luyến không nỡ rời. Đầu tiên là trâu dê quay ngược trở lại, chúng dường như còn quan tâm đến việc mất mát lãnh thổ hơn cả con người, càng không muốn rời khỏi nơi chưa từng rời đi này. Một con bò đực Tây Tạng tên là Cương Trọng dường như biết tại sao lại phải rời quê hương, lao thẳng vào đội ngũ tinh binh Thập Tự, húc loạn xạ hết bên này đến bên kia, mấy tên lính Anh đã bị nó húc lật nhào xuống đất.
Tiếng súng vang lên. Đại tá Garlan trực tiếp nổ súng bắn chết con bò đực Tây Tạng có linh tính tên Cương Trọng.
Tất cả bò đực đều nổi điên, lao về phía tinh binh Thập Tự, thấy người là húc. Tiếng súng dày đặc vang lên, rất nhiều bò đực ngã gục xuống đất.
Người Tây Tạng đứng nhìn từ xa kêu lên kinh hãi. Quả Mẫu xông lên trước tiên, Âu Châu Giáp bản chạy theo sau. Tiếng súng, đây là lời cảnh báo của người Anh: Qua đây là tao bắn chết chúng mày. Hạ Mã Nhữ bản đã hiểu ra, lao tới ôm ngang lưng Quả Mẫu. Quả Mẫu không chạy nữa, Âu Châu Giáp bản cũng dừng lại. Người Tây Tạng đau buồn phẫn nộ đứng sững tại chỗ, nhìn trạm gác bị cướp mất – nơi họ vẫn luôn chăn thả, ăn uống, làm tình, phòng thủ ở cửa ải Nhật Na, nhìn những con bò Tây Tạng chết nằm ngang ngửa, nước mắt họ tuôn rơi. Khắp nơi đều là tiếng khóc thảm thiết. Trong lòng người Tây Tạng, đột nhiên ngập tràn những câu hỏi thế này: Hỡi Đức Phật ơi, tại sao những người ngoại quốc này không dùng đạo lý để đi lại, mà lại vác súng ống hoành hành ngang ngược?
Dưới sự đe dọa của súng ống đại bác phương Tây, lần này người Tây Tạng thực sự đã rời đi.
Họ dùng ngựa thعng thi thể người lính Tạng bị quân Anh bắn chết. Người chết phải được điểu táng, cần phải đến nơi có lạt ma tụng kinh siêu độ. Thế nhưng những con bò Tây Tạng đã chết thì không thể thõng lưng chở đi được nữa, chúng sẽ trở thành bữa sáng, bữa trưa và bữa tối của người Anh. Người Tây Tạng cứ nghĩ đến những điều này là đau xót đến mức tưởng như vỡ vụn. Những con bò đó là bạn đồng hành trong cuộc sống, dùng để thõng lưng chở muối và lúa mạch từ hậu phương tới, họ chưa từng nghĩ tới chuyện phải giết chúng đi để nấu thịt ăn cả.
Quả Mẫu cất cao tiếng hát khúc dân ca vẫn thường hát lúc đi đường và làm việc, người nói chuyện không vòng vo này, khi cất lên tiếng hát dân ca lại vòng vèo hơn bất kỳ ai. Có lẽ hát dân ca đã chán chê rồi, nên nói chuyện liền không vòng vo nữa.
Thượng đế ơi ngài nói rắn và sói loài nào từ bi hơn?
Thượng đế nói sói từ bi hơn.
Thượng đế ơi, sao ngài lại bảo sói dữ từ bi hơn?
Trên thế gian không có loài sói dữ từ bi,
Cũng giống như ngoại quốc không có Thượng đế tốt bụng.
Muốn hỏi trên thế gian loài nào từ bi hơn,
Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi hơn.
Quả Mẫu dùng sự châm chọc để thay thế cho bi thương và phẫn nộ, vừa đi vừa hát. Đàn ưng núi Himalaya nương theo tiếng hát bay tới, kêu lên quác quác bằng những tiếng kêu bi thương để hòa giọng cùng tâm trạng từ biệt của Quả Mẫu. Máu tanh thấm đẫm những tảng đá bắt đầu chảy ròng ròng, sắc tím của núi Nhật Na càng lúc càng nhuộm đẫm ngập tràn bầu trời xanh thuần khiết của Tây Tạng.
Có người cưỡi ngựa từ hướng núi Long Thổ chạy tới, hét lớn: "Đánh nhau rồi, núi Long Thổ đánh nhau rồi."
Hạ Mã Nhữ bản nhớ tới Mục sư Ma Ông cùng đội vệ binh của ông ta, thầm nghĩ người Anh đã bội ước, nhanh như vậy đã xông đến núi Long Thổ rồi. Hắn hoảng hốt hét lên: "Mau lên, vứt bỏ vợ con, đàn trâu đàn dê đi, đàn ông xông lên phía trước!"
Đây là một ngày bắt đầu sự bi thương trong mùa xuân. Kể từ ngày này, người Anh bắt đầu cuộc tiến công vào Tây Tạng. Nhưng chính sử lại không ghi chép lại ngày này, bởi vì từ khi chiếm đóng núi Nhật Na cho đến khi đánh chiếm núi Long Thổ, thời gian rất ngắn, qua lâu rồi nhìn không ra khoảng cách; lại còn vì núi Nhật Na cách núi Long Thổ chỉ có ba mươi hai cây số, trên bản đồ hoàn toàn không nhìn ra khoảng cách. Các nhà sử học chính thống sơ ý một chút, liền gom luôn cả núi Nhật Na vào trong núi Long Thổ. Hơn nữa núi Nhật Na không đổ máu lớn, quân Tạng chết một người, tinh binh Thập Tự bị thương một người, lại đều không phải là quan chức, đối với một cuộc chiến tranh mà nói thì cơ bản có thể bỏ qua không tính đến. Còn về những con bò Tây Tạng đã chết, hoàn toàn không thể tính vào con số thương vong được. Thế nhưng cuốn tiểu thuyết bắt nguồn từ chốn sơn dã này lại phải ghi nhớ bọn chúng, người lính Anh bị thương tên là gì không tra ra được; người lính Tây Tạng đã chết tên là: Nham Thố Tam Đán. Nếu như anh ta không phải là người hy sinh thân mình đầu tiên, thì chẳng ai biết người mang cái tên này đã từng tung tăng nhảy nhót thế nào cả.
Hai ngày sau, Nham Thố Tam Đán được đưa đến Xuân Pi. Ở đó có đài điểu táng, có lạt ma chuyên lo việc ma chay.
Thần ưng của Xuân Pi đều đến cả rồi. Chúng biết rằng, bắt đầu từ bây giờ, nhất định phải ăn thịt không chút lơi lỏng, sau đó bay vút lên không trung phi nhanh, tiêu hóa thật nhanh, bằng không thì sẽ ăn không kịp. Chúng trung thành với nhiệm vụ, hiểu rõ ý nghĩa của những làn khói tang, tiếng người gầm thét, tiếng kinh kệ, tiếng trống vang, càng hiểu rõ hơn sự mong đợi của con người: Nếu thi thể không được ăn sạch sành sanh, điều đó chứng tỏ không có một sự đầu thai tốt đẹp. Chúng không muốn khiến con người thất vọng, cho nên không chỉ vì để lấp đầy dạ dày, dù có đang no căng bụng thì chúng vẫn cứ đến, một cách thần thánh và trang nghiêm tranh nhau ăn cướp uống, sau đó đưa linh hồn bay đi ở nơi cao nhất có thể. Chúng biết từ ánh mắt ngóng trông đầy thiết tha của con người rằng, chúng bay càng cao, linh hồn người chết càng có nhiều hy vọng.
Tương truyền rằng, linh hồn của Nham Thố Tam Đán – người chết đầu tiên vì bảo vệ Tây Tạng, đã được đưa đến Đâu Suất Thiên cung, đó là cõi tịnh thổ của vị Phật tương lai Di Lặc Tôn Giả.