Thượng lưu nhân vật

Thượng Lưu Nhân Vật

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Những Ngày Không Có Giày Để Đi

❊ ❊ ❊

Cây biết chạy

Mùi hương của hoa xoan vẫn vương vấn trong ký ức tuổi thơ.

Năm đó cậu sáu tuổi, sáu tuổi là cái tuổi có thể khắc ghi thời gian, thế nên cậu đã ghi nhớ trận gió mưa đêm hôm ấy.

Mưa rơi vào giữa đêm. Mưa gõ lên những chậu sành trong sân âm thanh như tiếng cồng đồng, thoạt đầu là tiếng "cách, cách" một giọt hai giọt, sau đó là tiếng những giọt mưa nặng hạt như mực, qua một trận "bốp bốp bốp..." liền xiên xẹo nhỏ thưa dần, thưa mà dính, thưa mà nhuần nhuyễn, hơi ẩm cứ từng chút từng chút áp vào ô cửa gỗ, chầm chậm hóa ngọt.

Thế là cậu ngửi thấy mùi hương của hoa xoan.

Hoa xoan rất nhạt, nhạt ngả sang màu tím, sắc tím ấy cứ từng lớp từng lớp thấm vào miệng loa kèn, nhuốm lên một làn ý tím, trong khi phần gốc cuống lại trắng ngần, trắng sữa, chút vị ngọt nhỏ nhoi ấy ngấm sâu ở cái chỗ non tơ tựa sữa ấy. Khi hoa nở, bứt hoa xoan ra khỏi cuống, cậu rất thích mút cái vị trắng muốt nhỏ bé ấy, ngậm bằng cái miệng nhỏ, ngậm lấy chỗ trắng ngà bé tí tẹo ấy, dùng chóp lưỡi để nếm vị ngọt. Vị ngọt ấy mọc ra từ trên cây, rất nguyên sơ. Trong lòng cậu gọi nó là "ngọt nương nương".

Trong đêm mưa, cậu nghe thấy hoa xoan đang nặng trĩu từng đợt ngấm nước. Dần dần, miệng loa kèn rủ xuống, phần cuống ấy lỏng ra, rồi từng bông từng bông bung nở, bung ra một thứ âm thanh đặc quánh, mực——đẻn, mực——đẻn... Thoắt cái, xoay xoay chầm chậm bay lả tả xuống, thế là vị ngọt ấy từng chút từng chút hòa tan trong hơi ẩm nặng nề. Thật tuyệt làm sao, những bông hoa xoan ấy! Trong đêm mưa mịt mùng, cậu nghe thấy hoa xoan giống như những con quạ màu mực kêu quác quác rơi xuống mặt đất, rơi rụng khắp sân tiếng bốp búp. Mẹ bảo, quạ không tốt, trên người mang khí đất của mồ mả, đó là "tai họa đụng đầu". Hôm trước, nhà Vương Hợp Tử xảy ra chuyện, vợ hắn vừa ra cửa thì đụng phải tiếng quạ kêu. Mẹ lại bảo, nhìn thấy quạ thì con phải phỉ phò nó! Phỉ thật lực vào, phỉ liên tục ba bãi! Đây là cách để tránh tai họa. Thế nhưng, cậu vẫn nghĩ đến quạ, một loài quạ rất ngọt.

Sau đó cậu chìm vào giấc ngủ, ngủ vùi trong hương hoa xoan.

Hôm sau, khi tỉnh dậy, mặt trời đã chiếu đến mông rồi. Cậu không biết mưa tạnh từ lúc nào, chỉ cảm thấy ánh nắng trên cửa sổ gỗ từng lớp từng lớp hắt lên. Cậu ngồim dậy, dụi dụi mắt, nhưng bất ngờ phát hiện sắc mặt của cha rất khác lạ. Chưa bao giờ cha lại thế này. Thân hình cha loạng choạng xiêu vẹo, chân thấp chân cao đi qua đi lại dồn dập, lúc trong nhà lúc ngoài sân, giống như một con thỏ bị thương, lại giống như một con gà mái già xù cánh lú lẫn. Đầu cha lắc lư như chiếc trống bỏi, miệng thì lầm bầm là nhảm, hừ hừ ư ử, trông rất giống như vừa có ai bất thừng nhét phân lừa đầy miệng!

Cha lặp đi lặp lại một câu nói, câu nói ấy sau khi cậu nghe rất nhiều lần mới hiểu rõ. Cha nói:

- Việc này phải nói cho ra lẽ...

- Đúng là phải nói cho ra lẽ. - Mẹ nói.

Nói cho ra lẽ, thế nào gọi là "nói cho ra lẽ", nói cái gì chứ?

Đi chân trần, lảo đảo lắc lư bước ra cửa nhà, cậu phát hiện heo vẫn chưa được cho ăn, heo trong chuồng đang kêu éc éc, đất trong sân cũng chưa quét, một chiếc chổi vứt chỏng chơ giữa sân...

Ngay lúc ấy, cậu hét lên một tiếng "á" thật to, thầm nghĩ trong lòng, sao cây lại chạy mất tiêu rồi?!

Đúng vậy, cây đã chạy mất. Sau một đêm gió mưa, cây xoan nhà cậu đã chạy rồi.

Cây xoan ấy được trồng ở góc sân rất gần bức tường, hôm qua cậu còn tè vào đó, cậu nhắm vào cây xoan ấy mà xả một bãi thật lực! Lúc ấy bị mẹ phát hiện, mẹ mắng cậu là quân phá gia chi tử! Mẹ bảo, một cái cây đàng hoàng, nó còn lớn hơn cả con, đã lớn được bảy năm rồi đấy. Tưới đi, tưới cho chết tiệt luôn đi cho con vừa lòng, đó là tiền học phí của con đấy!

Thế mà cây xoan ấy lại biết chạy ư?!

Cây xoan này vốn chẳng chạy đi xa, cây chạy được một thước, đây là một thước vô cùng quan trọng. Có một thước này, cây đã mọc sang bên kia tường rồi, nằm trong phần tường phía nhà Đồng Chùy...

Chợt, cậu nhìn thấy Đồng Chùy. Đồng Chùy đang đứng trên một cối đá trong sân nhà mình, đang nheo nheo đôi mắt hạt đậu kiễng chân nhìn sang bên này.

Cậu nhìn Đồng Chùy, Đồng Chùy nhìn cậu, chẳng ai nói câu nào. Thoắt cái, Đồng Chùy cười. Khuôn mặt Đồng Chùy toàn dầu mỡ.

Đồng Chùy sinh cùng năm với cậu. Có một hôm, mẹ nói, nhà này cũng thật là "quá đáng", lúc ăn "mì sợi", cái tên Lưu Nhất Đao đó nói câu nghe nghẹn cổ làm sao. Hắn nốc mấy ngụm rượu đế, đứng giữa sân phun nước bọt nói, nghe nói nhà ngươi sinh được thằng cu đặt tên là Cương Đản à? Cương Đản hay đấy. Hay, ngươi gọi là Cương Đản, tao đây gọi là Đồng Chùy! Ngươi mà là chảo gang, ông đây sẽ là vành nồi sắt! Mày nghe xem nào?...

Đất trong sân vẫn chưa quét, khắp mặt đất toàn là hoa xoan rụng, từng bông hoa xoan chết lặng trên mặt đất...

- Nói cho ra lẽ.

Thoáng chốc, mơ hồ trong sương mù, cậu dường như đã hiểu ra ý nghĩa của hai chữ "nói cho ra lẽ". Lúc này, cậu bỗng nghĩ, giá như cây biết nói chuyện thì tốt biết mấy. Để tự cái cây nói, tuyệt biết bao.

Nhưng cây không nói. Cây không biết nói.

Từ đó về sau, hai chữ "nói cho ra lẽ" đè nặng lên người cha như một ngọn núi. Cha là người coi trọng "thể diện". "Thể diện" của cha được mặc trên chiếc áo có phần sạch sẽ ấy của ông. Mỗi khi ra cửa, ông luôn cài tất cả các cúc áo lại cho thật chỉnh tề, cài rất trang trọng, cứ như thể sắp tham dự một buổi nghi lễ nào đó, thực ra ông chẳng qua chỉ mang theo mấy quả trứng gà.

Thợ đầu tiên dùng ba quả trứng gà đổi lấy một bao thuốc lá tại tiệm tạp hóa của Đông Lai. Lúc lấy trứng gà, mẹ nói: "'Bạch Bao' nhé? 'Bạch Bao' thì hai quả trứng thôi." Cha nghiêm túc nói: "'Lão Đao', 'Lão Đao'. Giao dịch chốn quan trường, phải là 'Lão Đao'." Thế là cha dùng khăn tay bọc ba quả trứng đi. Kết quả ba quả trứng gà chỉ đổi lại được mười chín điếu thuốc lá. Ở cửa hàng tạp hóa, Đông Lai kinh ngạc nói: "Chú cả à, chú hút thuốc 'Lão Đao' cơ à?!" Cha nói: "Đang có việc phải nhờ vả người ta." Đông Lai liền bảo: "Thế này không đủ đâu, phải ba quả trứng rưỡi cơ, chú cho cháu thêm năm xu nữa đi." Cha nói: "Chỉ có ba quả trứng thôi, tùy chú tính toán đấy." Đông Lai cười không đến nỗi cười nói: "Thôi được rồi, đành vậy." Vừa nói, hắn vừa xé niêm phong, tiện tay rút luôn một điếu từ bao thuốc ấy... Sau đó, cha cẩn thận cất gói thuốc đó đi, thẳng tiến đến trụ sở đại đội.

Trước cửa trụ sở đại đội, cha một chân trong nhà một chân ngoài cửa, trước tiên lấy thuốc trong túi ra, từng điếu một mời chào. Trong nhà có sáu người, cha liền mời luôn sáu điếu, rồi nói với bí thư:

- Quốc Đậu, có chút việc, tôi phải nói chuyện với anh cho ra lẽ.

Quốc Đậu đầy mặt rỗ, rỗ một cách nồng nhiệt. Quốc Đậu nói:

- Đang họp, đang họp đấy. Để lát nữa nói sau nhé.

- Thế thì tôi đợi vậy, tôi đợi. - Cha nói.

Đợi mãi cho đến tận chạng vạng tối, các cán bộ đại đội mới lục đục đi ra từ ngôi nhà ngói. Cha tiến lên chặn Quốc Đậu lại. Cha nài nỉ nói:

- Quốc Đậu, nói chuyện xem nào?

Quốc Đậu hờ hững ngồi xổm xuống đất:

- Nói thì nói.

Lúc này, cha lại châm mời một điếu thuốc, đó là điếu thuốc thứ bảy. Tiếp theo đó, cha kể chuyện cây cối... Cha nói:

- Cậu ra mà xem, ăn hiếp người ta quá đáng lắm chứ lị!

Quốc Đậu nói:

- Xí, chẳng qua chỉ là một cái cây thôi mà?

- Đó không phải là một cái cây đâu. - Cha nói.

- Cậu ra mà xem, cậu nhìn một cái là biết ngay. Cây đó tôi trồng bảy năm rồi đấy, là chú Đức kiếm cho cây giống đấy, chú Đức là người nhân hậu, chú Đức có thể làm chứng.

- Chú Đức có thể làm chứng cho anh á? - Quốc Đậu hỏi.

- Được chứ. Ông ấy kiếm cây giống cho, lẽ nào lại quên ư?

Điếu thuốc đó nhanh chóng hút xong. Hút thuốc xong, Quốc Đậu ấn tàn thuốc xuống đất, nói:

- Thế thì cứ vậy đi nhé, chú cả, lúc khác nói chuyện tiếp.

Cha khẩn khoản van xin:

- Phải nói cho ra lẽ chứ!

Quốc Đậu phủi áo, ra điều uy nghiêm nói:

- Nói thì nói.

Lúc trời chập tối, cha lại chặn ông Đức ở đầu làng. Ông Đức còng lưng gánh một bó cỏ, đi lầm lũi trông như một cái chum úp. Cha chặn ông lại, kể lại chuyện cái cây cho ông nghe một lần nữa. Cha nói:

- Đức anh à, bảy năm rồi đấy, cây giống ấy vẫn là do anh mua hộ cơ mà, anh không quên chứ?

Ông Đức chần chừ một lát, nhún nhún bờ vai gánh cỏ, sau đó, ánh mắt ông nhìn về phía đằng xa, hồi lâu mới nói:

- Cây, anh nói cái cây ấy...

Cha nhắc nhở:

- Cây xoan ở trong sân ấy, cây giống là anh giâm cành hộ mà, một tệ sáu hào, ba cái năm xu, hai cái năm xu, cái năm xu ấy là tiền xu cắc bạc đấy...

Ánh mắt của ông Đức bị làn khói bếp trong làng níu lại. Ở đằng xa, ông như nhìn thấy cái gì đó, lại như bị bàn là nung đỏ làm bỏng mắt. Ông Đức quay đầu lại, thẫn thờ lẩm bẩm:

- Cây á? Giâm cành từ sau Tết à?

Cha chìa ra một điếu thuốc lá nhãn Lão Đao. Cha nói:

- Đức anh à, đầu xuân cơ mà, là hồi đầu xuân.

Ông Đức kẹp điếu thuốc lên tai, lại trầm ngâm rất lâu mới khàn giọng nói:

- Chú cả à, tôi, dạo này hay quên lắm...

Cha sốt ruột, nói:

- Đức anh, anh nghĩ đi, anh nghĩ cho kỹ vào.

Ông Đức cúi gằm mặt bước lên phía trước hai bước, nói:

- Để tôi nghĩ đã.

Trời đã tối mịt, cha đứng lững thững ven đường đầu làng như một con quạ, hai tay dang rộng ra như đôi cánh, lẩm bẩm tự nói với bầu trời đêm bằng giọng cao vút:

- Bảo là cây, thế có thể là "cây" được sao? Ôi trời ơi, chuyện này mà không thể nói cho ra lẽ ư?!...

Đột nhiên, ông lại như một con chó cụp đuôi, quay đầu cắm cổ chạy về phía trong làng. Cha quá đau khổ, cha đang chạy lướt đi trông giống như một con la không thể sinh sản!

Lúc màn đêm buông xuống, bà nội Tuệ Nhi vẫn đang kéo sợi trong sân. Hồi đó trong nhà bà nội Tuệ Nhi có một chiếc máy kéo sợi bằng gỗ kiểu cũ, đó là của hồi môn đằng ngoại sắm cho bà khi về làm dâu. Trên chiếc máy kéo sợi ấy thắp một nén hương vòng, ánh lửa hương bay lơ lửng, chỉ một nén hương là đủ rồi, khi kéo sợi bà nội Tuệ Nhi chỉ cần một chút ánh sáng ấy. Trong thứ ánh sáng ấy có tiếng vo ve ù ù, kéo ra mấy tiếng vo ve như tiếng ong mật, lúc ngân dài, lúc ngắt quãng, dịu dàng đượm thơ như tiếng đàn hồ cầm. Bà nội Tuệ Nhi tâm tịnh, bà nội Tuệ Nhi có một người con trai ngoan.

Lúc này, cha sầm sập xông vào, cha như một chiếc chảo đen, ụp thẳng xuống trước mặt bà nội Tuệ Nhi! Cha nói:

- Thím à, đang kéo sợi đấy à?

Bà nội Tuệ Nhi giật mình! Chợt, bà nói:

- Là chú cả đấy ư?

Lúc này, cha ngồi xổm xuống đất bắt đầu kể chuyện "cây cối". Cha kể đầu đuôi câu chuyện "cây cối" một lượt, rồi nói:

- Thím à, quá hèn hạ rồi, làm chuyện thế này quá ư hèn hạ.

Máy kéo sợi vừa dài vừa ngắn lắng nghe, máy kéo sợi nghe rất kỹ càng, rất kiên nhẫn. Cho đến lúc nối bông sợi, bà nội Tuệ Nhi mới nói:

- Vạn Tuyển không có nhà đâu, Vạn Tuyển ở công xã cơ.

Cha nói:

- Vạn Tuyển về thì thím nói lại với nó một tiếng nhé.

Bà nội Tuệ Nhi liền nói:

- Để tôi nói cho.

Tiếp theo đó, cha đem chuyện cái cây kể cho tất cả mọi người trong làng nghe. Ở nhà kế toán Nhị Thủy, cha nói:

- Còn thiếu một câu đấy, thế này là thiếu một câu rồi.

Ở nhà thủ kho Quý Điền, cha nói:

- Quý Điền à, tính ra thì toàn là họ hàng cả đấy!

Ở nhà nhân viên ghi công Bảo Xán, cha nói:

- Cái gì là cái cân, lòng người luôn là cái cân chứ bộ?!

Ở nhà đội trưởng dân binh Thu Thực, cha nói:

- Tôi có phải là kẻ da mặt mỏng đâu, tôi có phải là thành phần cao đâu...

Ở nhà thợ nề lão Hòe, cha nói:

- Tôi cũng chẳng nói gì khác nữa, có thể làm thế được sao?!...

Ở nhà công nhân mỏ Quảng Sinh, cha đối với vợ Quảng Sinh là thím Lạt nói:

- Thế mà cũng gọi là cây à? Đó đâu phải là cây!...

Mọi người đều khách khí lắng nghe, ra vẻ rất thấu hiểu. Một bao thuốc lá nhãn Lão Đao, cứ thế từng điếu từng điếu được phân phát hết.

Thế nhưng nhà Đồng Chùy vẫn sừng sững bất động, nhà Đồng Chùy không có bất kỳ biểu hiện gì.

Có một hôm, cha đứng trong sân, chống một cái chĩa phân lúa lẩm bẩm nói:

- Liều mạng với nó thôi, tôi khô máu với nó!

Nhưng đến cuối cùng, đầu cha lại rũ xuống, rũ xuống một cách vô lực.

Trong ba ngày này, cậu nhìn thấy cha gục ngã từng ngày trong mắt mình. "Thể diện" của cha rất mỏng, mỏng tựa như một tờ giấy. Cậu đi theo cha hết nhà này đến nhà khác, mọi người đều đã hứa là sẽ "nói cho ra lẽ", kết quả là chẳng có ai đứng ra nói cả, không một ai lên tiếng cả.

Cây đã chạy mất, cây cứ thế chạy mất như vậy đấy. Tại sao lại thế cơ chứ?!

Trong quãng thời gian sau đó, qua những lời bàn tán của người ta, cậu dần dần, mơ màng cảm nhận được một số điều, những điều đó hầu như bao trùm cả tuổi thơ của cậu.

Ở Thượng Lương, gia đình họ Phùng chỉ có duy nhất nhà bọn họ.

Điều này giống như trong một ruộng lúa miến bạt ngàn lại mọc lên một cây cao lương, cô độc làm sao!

"Chú cả", đây là cách gọi mà mọi người dành cho cha. Bởi vì cha là người ở rể của Thượng Lương, ông gánh một đôi quang gánh bước vào cửa nhà vợ. Ở trong làng, chưa từng có ai gọi tên thật của cha cả. Nơi đồng bằng thôn dã, "chú cả" là cách gọi chuyên dùng cho con rể ở rể. Trong cách gọi ấy mang theo rất nhiều thành phần trêu chọc, giễu cợt, đằng sau sự khách khí bề ngoài ấy chứa đựng sự xa lánh và khinh miệt thấu tận xương tủy. Nói về mặt huyết thống, nói về mặt tình thân, thì đây có nghĩa là người ngoài họ khác rồi.

Vậy thì, nhà Đồng Chùy lại có gì chứ?

Mẹ của Đồng Chùy rất lợi hại, rất biết chửi mắng, nhảy cót lên ba thước! Hở ra là hai tay vỗ vào mông, dữ dằn chua ngoa, điều này cậu biết. Nhưng bà ta chẳng qua cũng chỉ là một người phụ nữ, một người phụ nữ mà dám đi đanh đá chửi mắng, thì dựa vào cái gì chứ?

Đó là một miếng thịt à?

Trong rất nhiều ngày tháng của tuổi thơ, cậu vẫn luôn cho rằng cha đã thua trước một miếng thịt.

Bố của Đồng Chùy có một biệt danh nổi tiếng gần xa, gọi là "Lưu Nhất Đao". Lưu Nhất Đao vốn là một kẻ mổ lợn, chuyên giết lợn. Nghe nói ông ta giết lợn chỉ dùng một nhát đao, cắt thịt cũng chỉ một nhát, không rút dao đâm bồi. Sau này ông ta trở thành chủ nhiệm một cửa hàng thực phẩm của hợp tác xã trong trấn. Nói một cách cay nghiệt, thực chất ông ta cũng chỉ là một kẻ bán thịt mà thôi. Một kẻ bán thịt thì có cái thá gì chứ? Chuyện này thật khiến người ta khó hiểu. Thế nhưng, người trong làng ngoài xã gật đầu chào ông ta thì rất nhiều. Ở công xã trong trấn, cũng thường xuyên có người mời ông ta uống rượu, có đôi khi say khướt ngay trên đường làng. Hầu như lần nào cũng vậy, ông ta cưỡi chiếc xe đạp "Bồ Câu" sáng loáng về làng, trên ghi-đông xe lủng lẳng treo một miếng thịt. Thường thì ông ta chẳng thèm xuống xe, cứ chống chân thế thôi rồi tiện tay ném miếng thịt đó cho Quốc Đậu... Người trong làng hễ có việc gì cần giải quyết, cũng sẽ mời ông ta đến, nói rằng, chủ nhiệm Lưu, vẫn phải nhờ anh ra tay thôi! Thế là ông ta nghênh ngang đi đến. Người ông ta lực lưỡng vạm vỡ, eo thường thắt một dải băng vải, dải băng vải ấy luôn lòi ra một đoạn đầu sợi dệt bằng vải, cứ lúc lỉu ở thắt lưng, đó chính là biểu tượng của kẻ mổ lợn, sau đó ông ta nhảy tõm vào trong chuồng, "phập" một đao chọc tiết lợn rồi quay người bỏ đi, ngồi xổm ở một bên thầm lặng hút thuốc, đợi khi con lợn đã cạo sạch lông mổ xong xuôi, ông ta lại mò từ dải băng vải ở cạp quần ra một con dấu đỏ, hà hơi vào miệng, lại một tiếng "phập", đóng một dấu đỏ rực. Lúc đi, chủ nhà sẽ cho ông ta mang theo một bộ lòng lợn, ông ta cũng chẳng mang về nhà, lại tiện tay vứt luôn cho Quốc Đậu hay một người nào đó...

Còn gì nữa chứ?

Có một dạo, cậu – Cương Đản lén lút đào một cái lỗ nhỏ trên bức tường đó, lén lút ra tè vào cái cây ấy! Mỗi ngày một bãi, cậu muốn dùng nước tiểu tưới cho chết tươi cái cây ấy cho bằng được!... Thế nhưng rốt cuộc cậu vẫn công cốc, cái cây ấy trái lại càng ngày càng tươi tốt mạnh khỏe.

Cứ như thế, cái cây đó trong mắt cậu lại lớn thêm ba năm, mọc đầy một cây "kiến". Mỗi khi cậu lủi thủi đi qua con đường làng, người ta lại nói, sao mắt đứa trẻ này độc địa thế nhỉ? Sau đó, thái độ của người dân trong làng bỗng trở nên vô cùng niềm nở, mỗi khi gặp cậu, lại ân cần thân mật nói: "Cương Đản, ăn cơm chưa?" "Cương Đản, cho này, thân cỏ ngọt đấy, ngọt lắm." "Cương Đản, cho miếng khoai lang này."... Thoạt đầu cậu ngẩn người ra. Sau đó, cậu dần dần hiểu ra. Người ta vẫn có lý lẽ phải trái, người ta đang uyển chuyển bày tỏ sự áy náy với cha. Vào khoảnh khắc nhận ra điều đó, cậu rất muốn khóc.

Sau đó, Lưu Nhất Đao đã bán cái cây ấy đi. Bán cho người thợ mộc ở làng bên cạnh.

Hôm đó, khi người thợ mộc làng bên cầm một cây thước gỗ đến xem cây, cha vắng nhà. Cậu có ở đó, cậu đứng sừng sững ở chân tường, đại diện cho cha lặng lẽ nhìn cái cây ấy, cái cây đó đã mười năm rồi, đã thành tài rồi. Người thợ mộc đó đi đến dưới gốc cây, dùng thước gỗ gõ gõ vào thân cây, ngước mắt liếc lên phía trên, rồi nói:

- Cây điếc rồi.

Lưu Nhất Đao nói:

- Làm gì có chuyện đó? Cây đang tốt thế cơ mà.

Người thợ mộc kiên quyết khẳng định:

- Điếc rồi, cái cây này điếc rồi.

Lưu Nhất Đao nhíu mày:

- Thế này là thế nào?

Thợ mộc nói:

- Cây bị điếc lõi rồi, bên trong xốp rỗng. Không tin thì cưa ra xem là biết ngay.

Lưu Nhất Đao nói:

- Mày cứ ra giá đi.

Thợ mộc nhìn cây, lại một lần nữa nói:

- Điếc rồi. Năm mươi đồng, không hơn được nữa đâu.

Lưu Nhất Đao nói:

- Dẹp đi, gỗ xoan giá thế nào chứ? Mày tưởng tao không biết chắc?!

Thợ mộc nói:

- Tôi không gạt anh đâu, chủ nhiệm Lưu, tôi dám gạt anh à? Cây này điếc thật rồi.

Lưu Nhất Đao thiếu kiên nhẫn nói:

- Thôi, thôi. Mày bảo bao nhiêu thì bấy nhiêu!

Lúc này, cậu ưỡn ngực thẳng người lên, đột nhiên cất lời:

- Đây là một cái cây biết chạy.

Sắc mặt Lưu Nhất Đao biến đổi đột ngột, ông ta trợn trừng hai mắt, từng bước từng bước đi tới, cho đến sát chân tường thì đứng lại, trân trân trừng trừng nhìn chằm chằm vào cậu.

Cậu cứ ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào Lưu Nhất Đao như thế, lặng thinh.

Chốc lát sau, Lưu Nhất Đao bỗng bật cười, nói:

- Thằng bé này hay thật đấy.

Đúng vậy, chính cái cây này đã mang lại cho cậu sự chín chắn trước tuổi về mặt tinh thần. Có một mầm cây đang chầm chậm nảy nở trong lòng cậu, từng ngày từng ngày lớn lên thành "người cha" của chính mình...

Hộp bánh ngọt treo trên xà nhà

Năm cậu chín tuổi, cha chính thức giao lại quyền "ngoại giao" của gia đình.

Trong khoảng thời gian chín năm, mẹ liên tiếp sinh thêm "bốn quả trứng": Thiết Đản, Cẩu Đản, Qua Đản, Nao Đản. Mẹ bảo, toàn là những cái miệng biết ăn, một đám cái miệng đang há hốc đòi ăn.

Hồi đó, cuộc sống gia đình ngày một quẫn bách. Có dạo, để nuôi sống người miệng đông đúc thế này, cha từng lén lút làm lại nghề cũ, gánh quang gánh, tay lắc chiếc trống bỏi, làm cái nghề "đổi tóc rối lấy kim khâu". Trong gánh của cha giấu một chiếc lọ thủy tinh, đó là "lọ báu" của ông, trong lọ đựng những viên kẹo đủ màu sắc xanh đỏ, ông chính là dùng những viên kẹo đó để câu dụ người ta. Thế nhưng ông chưa làm được mấy bận thì đã bị người của "Ủy ban quản lý thành phố" trong trấn tóm gọn. Ngày bị tóm ấy, trên người cha bị quét đầy hồ dán, đằng trước đằng sau dán đầy những chữ to viết bằng mực tàu: "Phần tử đầu cơ tích trữ!" Sau đó lại lôi ông đi diễu phố khắp bốn vùng quê... Từ đó về sau, cha không thể ngóc đầu làm người được nữa.

Hồi đó, cái gọi là "ngoại giao" đối với một gia đình mà nói, ngoài việc đúng giờ đúng khắc đến đội họp hành, phân rau, phân lương thực ra, thì chính là việc qua lại thăm hỏi giữa họ hàng với nhau. Theo tiếng địa phương vùng đồng bằng mà nói, thì gọi là "đi họ hàng". Nơi đồng bằng thôn dã, "đi họ hàng" là một hình thức giao tiếp thuần túy dân gian, là sự thể hiện tập trung của đời sống văn hóa nông thôn, đó cũng là sự khoe khoang và trưng bày tình trạng kinh tế cuộc sống. Sinh con phải trưng bày, cưới vợ cũng phải trưng bày, có người chết cũng phải trưng bày. Ở đây, hội hè hằng năm là phải đi; ma chay cưới hỏi là phải "thăm hỏi"; còn có một số ngày lễ dân gian cũng phải "đến lại qua".

Những năm trước đây, người đại diện cho một gia đình ra ngoài "giao lưu" đương nhiên là cha. Hồi đó, cha luôn mặc chiếc áo có phần sạch sẽ ấy, tay xách lỏng lẻo một hộp bánh ngọt, có chút cô độc đi trên con đường đất ở vùng quê. Cha là một người rất coi trọng sĩ diện, ông biết "thể diện" của mình đang nằm trong tay ông. Cho nên, mỗi lúc sắp ra cửa, miệng ông lại lầm bầm vài câu: "Chỉ có một hộp thôi." Mẹ luôn đáp lại ông một câu: "Còn định xách mấy hộp nữa hả? Ông có nhiều lắm đấy chắc?" Thế là, cha không dám hó hé gì nữa. Sau đó, rầu rĩ bước ra cửa.

Mà tính ra, ngoài làng ra, họ hàng nhà họ cũng chẳng lấy gì làm nhiều, những nhà thường xuyên qua lại cũng chỉ có ba bốn nhà. Nhà hai người dì, nhà một người cô, nhà một người chú, mà người chú ấy lại còn là chú "họ", tính ra là một người bạn thuở niên thiếu của cha. Chỉ với ba bốn nhà họ hàng như thế, cha "đi lại" vẫn cảm thấy quá sức. Chỉ xách có mỗi một hộp bánh ngọt ấy, "thể diện" của ông quả thực quá ư mỏng manh, mỏng đến mức ông chẳng dám đứng trước mặt ai. Cuối cùng vào một hôm, mùng tám tháng tư, đến kỳ phải đi hội nhà đại di rồi, người cha vừa mới diễu phố xong thật sự xấu hổ không dám ra cửa, ông ngẩng đầu nhìn xà nhà, chần chừ một lát, rồi nói:

- Cương Đản, con đi đi, con đi đi nhé.

Trên đầu xà nhà chỉ còn sót lại duy nhất một hộp bánh ngọt.

Hồi đó, ở những vùng quê đồng bằng, từng hộp từng hộp bánh ngọt ấy, vốn không phải để cho người ta ăn, mọi người cũng chẳng nỡ ăn, đó là thứ chuyên dùng để đi họ hàng. Nhà nào mà có họ hàng đến chơi, cho dù xách mấy hộp bánh ngọt đi chăng nữa, thì đều phải treo lên, treo lủng lẳng trên xà nhà trong phòng, đợi đến lần đi họ hàng tiếp theo thì lại mang ra dùng. Ở đây, người ta thậm chí không quá coi trọng chất lượng của bánh ngọt, thứ mà họ coi trọng hơn nữa, chính là chiếc hộp đựng bánh ấy. Chiếc hộp đó làm bằng giấy bìa vàng, bên trên đậy một chiếc nắp giấy hình chữ nhật, trên nắp có dán giấy niêm phong, là loại giấy dán vẽ họa tiết cát tường màu đỏ. Loại hộp giấy này hễ treo lâu ngày, rất dễ bị dầu từ bánh ngọt thấm ố vàng. Cho nên, những người cầu kỳ một chút, sẽ lấy bánh ngọt bên trong ra, dùng giấy dầu gói lại riêng, mà chỉ treo mỗi cái hộp trống không ấy lên, đợi đến ngày mai đi họ hàng lại lót bọc đóng hộp lại từ đầu, trông cứ như mới mua vậy. Trên xà nhà, treo bao nhiêu hộp bánh ngọt, đó thực sự là biểu tượng của sự bề thế đấy.

Chín tuổi, lần đầu tiên đại diện cho gia đình ra ngoài "giao tế", cậu rất phấn khích. Mẹ bảo: "Đi rửa chân đi, mang giày vào." Bình thường cậu ít khi mang giày, hôm ấy cậu đã mang giày vào. Giày là do một tay mẹ làm, mang vào chân thấy hơi chật, chật thì chật vậy. Sau đó, cha cẩn thận hạ hộp bánh ngọt đó từ trên xà nhà xuống, thổi lớp bụi phủ bên trên, rồi đưa vào tay cậu. Cha xoa đầu cậu, nói:

- Đi đi con.

Lúc sắp bước chân ra khỏi cửa nhà, cậu phát hiện ba người em trai của mình: Thiết Đản, Cẩu Đản, Qua Đản, Nao Đản, miệng ngậm ngón tay đang thẫn thờ nhìn theo mình, ánh mắt đứa nào đứa nấy ánh lên màu xanh lét (hồi đó Nao Đản còn nhỏ hơn, Nao Đản vẫn đang bú sữa mẹ). Cậu cảm thấy đột nhiên mình đã lớn khôn, quay người vỗ vỗ vào cái đầu trọc của các em, nói:

- Ở nhà nghe lời nhé.

Thế nhưng, khi cậu bước lên con đường làng, sự nhục nhã vô hình ấy bất ngờ dâng trào lên. Đúng vậy, hèn chi cha không muốn ra cửa. Trên con đường làng, cậu nhìn thấy rất nhiều người dân trong làng đi dự hội, họ có người cưỡi xe đạp, cũng có người đi bộ, ăn mặc tươi tắn chưa nói, hộp bánh ngọt trong tay họ cái nào cái nấy xếp chồng lên nhau. Có nhà năm hộp, có nhà ba hộp, ít nhất cũng phải hai hộp... Đặc biệt là cậu nhìn thấy Đồng Chùy, Đồng Chùy ngồi trên yên sau chiếc xe đạp "Bồ Câu" của Lưu Nhất Đao, cười ha hả, "vèo" một cái lướt qua người cậu. Trên ghi-đông chiếc xe ấy, mỗi bên chất một chồng, vậy mà treo tới mười hộp! Còn cậu, trong tay chỉ xách độc có một hộp, đó chính là "thể diện" của cả một nhà cơ mà!

Nhà đại di ở thôn Tiêu Trang, cách tám dặm đường. Cậu cứ lủi thủi bước đi như thế, đi rất chậm, không đi chung đường với bất kỳ ai. Khi bước lên cây cầu nhỏ, cậu đã gặp phải cuộc khủng hoảng đầu tiên trong đời. Lúc đó, cậu hoảng loạn cực độ! Mồ hôi trên người bỗng chốc trào ra hết. Vốn dĩ, cậu đang ung dung bước đi, vừa lên đến cầu nhỏ, sợi dây buộc hộp bánh ngọt trong tay cậu bỗng nhiên đứt phựt, hộp bánh ngọt "bốp" một tiếng rơi xuống đất. Lẽ ra, rơi thì cũng chẳng có vấn đề gì to tát, buộc lại là được chứ gì. Thế nhưng, cậu vừa nhìn thấy thì ngây người đờ đẫn luôn, trời ơi, trong hộp bánh ấy vậy mà chẳng đựng bánh ngọt, mà lại đựng toàn phân lừa khô! Đúng vậy, thứ rơi từ trong cái hộp ấy ra, chính là tám viên phân lừa đã khô khốc!!...

Cậu bệt mông ngồi phịch xuống đất, cứ ngồi thừ ra ở đầu cầu như thế. Trán cậu chưa từng đổ nhiều mồ hôi đến thế bao giờ, những giọt mồ hôi to như hạt đậu lấm tấm trên mặt, rồi chảy ròng ròng xuống cổ như một dòng suối nhỏ, trên người giống như có vô số con giun đất đang bò lúc nhúc. Cậu ngồi ngẩn ngơ ở đầu cầu rất lâu rất lâu, nhìn thấy mặt trời đã lên đến đỉnh đầu rồi, thế mà cậu vẫn không biết phải làm sao đây? Quay về ư? Quay về thì nói thế nào đây, nói trong hộp bánh ngọt đựng toàn "phân lừa khô" á? Cha có tin cậu không? Mẹ có tin cậu không? Lần đầu tiên cậu ra ngoài một mình, lại gặp phải tình huống khó xử thế này... Thế là, cậu khóc.

Đợi sau khi đã khóc xong, cậu chầm chậm ngồi xổm xuống, nhặt từng viên trong số tám viên phân lừa khô đó bỏ lại vào hộp bánh ngọt, đậy nắp giấy lại, trước tiên dùng lòng bàn tay miết phẳng phiu từng chút một tờ giấy niêm phong vẽ họa tiết cát tường màu đỏ lên, đè ép lại lên mặt hộp, dùng sợi dây buộc đã được thắt nút cẩn thận tỉ mỉ buộc lại một lượt. Sau đó, cậu đứng dậy, ngẩng đầu nhìn trời, hít sâu một hơi thật sâu, lại tiếp tục lên đường.

Trước lúc lên đường, tựa hồ như có ma xui quỷ khiến, trong đầu cậu bỗng trào lên một ý nghĩ kỳ lạ, chính ý nghĩ này đã khiến cho cậu trong những năm tháng sau đó, có được những lĩnh hội hoàn toàn mới mẻ về cuộc đời. Hồi đó, cậu đã là học sinh lớp hai trường tiểu học rồi. Cậu mò trong túi áo ra một mẩu bút chì cụt ngủn, cẩn thận nâng hộp bánh lên, ngay ở đáy hộp "bánh ngọt" này, vẽ một dấu hoa thị hình chữ "+ô". Cậu cũng chẳng nói rõ được tại sao cứ nhất thiết phải làm một cái dấu như thế, nhưng cậu đã làm rồi.

Trước mắt chính là Tiêu Trang rồi. Tiêu Trang là một ngôi làng lớn, cái "hội" ở đây cũng nổi tiếng khắp mấy chục dặm xung quanh. Từ đằng xa, âm thanh ồn ào náo nhiệt cuồn cuộn ùa đến như nước. Thoạt đầu là mùi nước tiểu nồng nặc từng đợt từng đợt dội tới, đó là phát ra từ khu chợ gia súc, trong mùi hôi thối đột ngột vang lên tiếng thét chói tai của một con lừa hoang, tiếng thét ấy tựa như đóng đinh mặt trời đứng sững lại, nghe thật xa xăm và u tịch; tiếp theo đó là tiếng kêu la inh ỏi của bầy heo bầy cừu, tiếng kêu la chói tai lộn xộn rối rắm, giống như đám dòi sống nhảy mổ ra từ hũ tương! Đàn bà chen chúc nhau ở khu chợ vải vóc xanh đỏ rực rỡ, ai nấy đều trông giống như được "giải phóng" cạp quần vậy, uốn éo cái mông từng cái từng cái một. Trước những hàng quán bán bánh rán, bánh dầu, canh cay phảng phất hương thơm nức mũi, mùi hương ấy giữa tiếng rao hàng inh tai nhức óc cứ từng đợt tóm lấy mũi người ta, làm nao núng cả tâm can! Những người đàn ông xách hộp bánh ngọt ai nấy đều tỏ ra vô cùng ra vẻ câu nệ, giữa một bầu không khí thơm phức chậm chạp bước đi, ra dáng vẻ vô cùng đường hoàng, thế nhưng đa số họ đều mặc những chiếc quần mới vừa, rách miệng ở đũng, chiếc quần ấy đương nhiên là hàng dự trữ giấu đáy rương của các bà vợ, chiếc nào chiếc nấy trông chật ních đũng quần... Chẳng ai lại dẫm lên trái tim mình mà đi đường cả, duy chỉ có cậu là đang dẫm lên trái tim mình để bước đi. Cậu không chỉ dẫm lên tim, trong tay còn đang bưng một cục than hồng! Cậu cứ thế từng bước từng bước bước vào đám đông, bước vào "đại hội" của Tiêu Trang. Sắp bước đến nhà đại di rồi, cậu không biết kết cục sẽ ra sao đây!

Quẹo qua một khúc cua nhỏ, cậu bất ngờ phát hiện ven đường làng trước mắt có hai hàng đàn bà ngồi xổm ngay ngắn tắp, trước mặt mỗi người phụ nữ đều trải một chiếc khăn vuông, trên khăn vuông bày từng chồng hộp bánh ngọt. Các bà các cô ai nấy đều thay những bộ quần áo tươi tắn rực rỡ, dưới ánh mặt trời trông giống như một mảnh cao lương lùn vậy! Những cây "cao lương" nghiêng nghiêng cái cổ như cổ ngỗng, dải lụa đỏ trên bím tóc phe phẩy từng nhịp, ngóng cổ trông chờ những người qua lại tấp nập, hết người này đến người khác cất tiếng hỏi: "Mua không?"

Cậu biết, những người phụ nữ này đem bánh ngọt ra bán. Hễ là nhà nào họ hàng đông, thì nhận được bánh ngọt cũng nhiều, có nhà liền xách ra bán luôn ngay lúc đó, để đổi lấy ít tiền mua mắm muối. Các bà các cô ai nấy đều tự rao mời những hộp bánh ngọt bày trước mặt mình, có hộp đã tháo niêm phong, gỡ nắp ra rồi, đó là bày hẳn ra cho người mua xem. Vốn dĩ mua hộp bánh ngọt giá một đồng từ hợp tác xã hoặc ngoài "hội" về, ở đây chỉ bán bảy xu, tám xu... Nhìn thấy những người phụ nữ này, trong đầu cậu "oành" một tiếng nổ tung! Tiếp theo đó, từng bước chân đi cứ như đang di chuyển trên đinh vậy. Có một khoảnh khắc nào đó, cậu bỗng muốn chạy, quay đầu cắm cổ chạy quắt lại! Thế nhưng cậu vẫn nhẫn nhịn lại. Lúc này, cậu nghe thấy tiếng rao của những người phụ nữ bán bánh ngọt vang lên: "Xem đi, niêm phong mới, hộp mới đây. Niêm phong mới, hộp mới..." Giữa tiếng rao bán "niêm phong mới, hộp mới" ngập trời ấy, có một giọng nói chọc ngang qua như con thỏ, giọng nói ấy hướng thẳng về phía cậu: "Cương Đản, là Cương Đản phải không đấy? Đã qua ngọ rồi, sao giờ mới tới thế hả?!" Có một lúc nào đó, cậu giống như bị đóng đinh tại chỗ, ngẩn ngơ đứng chết trân giữa con đường làng, đầu óc trống rỗng! Cậu chỉ ôm chặt lấy hộp bánh ngọt đó trong ngực, tựa như sợ bị ai cướp mất vậy... Ngay lúc ấy, bên tai nổ tung một tiếng roi ngựa vút qua! Một kẻ đánh xe quát lên: "Thằng bé này, ngốc à?" Giật mình thon thót, cậu nghe ra rồi, là người chị họ đang gọi mình, đó là giọng của chị họ Thải Thải, chị họ cũng mang bánh ngọt ra bán. Vậy thì, nếu như chị ấy... Chị họ nhìn cậu ngẩn ngơ, mồ hôi nhễ nhại đầm đìa, liền nói tiếp:

- Vào nhà đi thôi, mau vào nhà đi.

Cậu là vị khách cuối cùng bước vào nhà đại di. Lúc cậu bước vào sân, nhà đại di đã bắt đầu dọn "mâm" rồi. Đại di đét vào đầu cậu một cái, nói:

- Thằng bé này, sao giờ này mới đến hả?

Vừa nói, tay vừa tiện thể cầm lấy hộp "bánh ngọt" đó, đặt lên chiếc tủ gỗ ở gian nhà chính. Sau đó dắt tay cậu đi ra ngoài, thế nhưng cậu vẫn ngẩn ngơ nhìn chằm chằm hộp "bánh ngọt" ấy...

Trong sân bày hai chiếc bàn gỗ vuông, xung quanh bàn gỗ đã ngồi kín người. Lúc này, họ hàng đều đã ăn uống từ lâu rồi, đại di ấn cậu ngồi xuống ngay cạnh một góc chiếc bàn gỗ kiểu cũ, nói:

- Ngồi chen vào đây chút, ăn đi.

Nói xong liền bận rộn đi ngay.

Ở nhà đại di, bữa cơm đó cậu ăn mà tim đập chân tay run lẩy bẩy! Trên bàn bày la liệt mấy cái bát tô lớn, phần lớn là miến, dăm bông, đậu hũ loại này, thỉnh thoảng còn có vài miếng thịt mỡ bóng loáng! Lại có cả bánh bao nữa, là loại bánh bao cuộn hoa có bọc vỏ. Tất cả những thứ này đều là món cậu thích ăn nhất. Nếu như là ngày thường, trong cổ họng cậu hận không thể thò cả một bàn tay ra mà chộp lấy ấy chứ! Thế nhưng lúc này đây, cậu lại chẳng nuốt trôi nổi một miếng nào, chỉ cảm thấy buồn nôn, muốn ói...

Cậu cứ trân trân nhìn đôi đũa bay lượn trước mắt mình, cái miệng của họ hàng cứ chép chép, nhồm nhoàm, như gió cuốn mây tan, trân trân nhìn những chiếc bát tô lần lượt cạn sạch! Thế nhưng cậu vẫn ngồi ngẩn ngơ ở đó, bất động không nhúc nhích. Một người họ hàng ngồi cạnh cậu kinh ngạc liếc nhìn cậu một cái, nói:

- Ăn đi chứ.

Cậu cúi gằm đầu không hó hé nửa lời, một tiếng cũng không phát ra. Lúc này, đại di đi tới, ân cần hỏi:

- Sao thế? Lạ người à?

Cậu dùng giọng nhỏ xíu như con muỗi đáp:

- Không sao ạ.

Đại di nói:

- Sao không ăn?

Cậu lí nhí đáp lại:

- Cháu ăn rồi ạ.

Đại di "hừm" một tiếng, xoa đầu cậu, rồi lại bận rộn đi làm việc khác. Đôi mắt cậu giống như hai viên bi thủy tinh, cứ đăm đăm dõi theo bóng đại di lướt đi, đại di đi đến đâu, ánh mắt cậu liền bám theo đến đó. Có mấy lần, khi đại di đi đến chiếc tủ gỗ đặt hộp bánh ngọt ấy, tim cậu bỗng nhảyót lên tận cổ họng, suýt chút nữa thì nôn thốc nôn tháo ra ngoài! Đợi khi đại di bước đi rồi, mới chầm chậm nuốt ngược trở vào. Trái tim ấy suýt chút nữa thì từng giọt máu rỉ ra ở cổ họng, toàn bộ thực quản tanh nồng vị máu! Cứ lộn lên lộn xuống giày vò như thế mấy bận, con người cậu suýt chút nữa thì kiệt sức...

Ôi trời ơi, khoảng thời gian đó từng chút từng chút một lê thê trôi qua trên mũi kim nhọn.

Sau đó, cậu chuồn khỏi nhà đại di như trốn chạy. Trên đường về nhà, cậu cảm thấy cơ thể bỗng chốc nhẹ bẫng đi, nhẹ tựa chim yến! Cậu tung tăng nhảy nhót bước đi trên con đường đất ở vùng quê, cơn gió đồng nội đã gột rửa đi lớp mồ hôi nóng bức trên người, tiếng chim hót líu lo khiến cậu cảm thấy vô cùng thân thiết! Khi ngoảnh đầu nhìn lại Tiêu Trang, cậu mỉm cười, cười mà nhòe cả hai mắt giàn giụa nước mắt. Hai chiếc bánh bao cuộn hoa mà đại di cho mang về, cậu ăn một chiếc để dành một chiếc, vị ngọt ngào ngon lành ấy là thứ khiến cậu suốt đời khó mà quên được!

Cậu vẫn trải qua mấy ngày nơm nớp lo sợ. Hồi đó, mỗi ngày tan học về nhà, trước khi bước chân vào cửa, cậu đều phải lén lút hỏi Thiết Đản một câu:

- Đại di đến chưa?

Thiết Đản lắc đầu, nói:

- Chưa ạ.

- Thật sự không đến á?

- Thật mà không đến.

Đến lúc ấy, cậu mới có thể thầm thở phào nhẹ nhõm.

Vốn dĩ, mọi chuyện cứ thế trôi qua. Vết xước để lại trong lòng tuy có hơi nặng nề một chút, nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một vết xước mà thôi. Cha không bao giờ ra cửa nữa, toàn bộ công việc "ngoại giao" trong gia đình đều giao phó hết cho cậu. Bởi vì, cậu tuy chỉ là một học sinh lớp hai tiểu học, nhưng đã trở thành người biết chữ duy nhất trong nhà. Những chuyện mà cậu phải đối mặt vẫn còn rất nhiều...

Thế nhưng khoảng nửa năm sau, bỗng có một ngày, cậu lại bất ngờ phát hiện ra hộp bánh ngọt ấy ở nhà Thu Sinh!

Hôm đó cậu sang nhà Thu Sinh mượn cái nong, ở gian nhà chính nhà cậu ta, bất chợt ngẩng đầu lên, sững sờ nhìn thấy hộp bánh ngọt có làm dấu hiệu ấy. Trên xà nhà tổng cộng treo năm hộp bánh, có bốn hộp được buộc chung lại với nhau, còn hộp này thì để riêng lẻ. Cậu không nhìn nhầm đâu, dấu hiệu ấy vẫn còn kìa, một chữ "Thập" xiêu vẹo, chính là do cậu dùng mẩu bút chì viết lên ở trên cây cầu nhỏ... Có một khoảnh khắc nào đó, cậu ngây người, mất một lúc lâu mới định thần lại được. Cuối cùng, cậu không nhịn được mà bật cười. Thu Sinh kinh ngạc hỏi:

- Mày cười gì thế?

Cậu thu sắc mặt lại, nói:

- Tao có cười đâu.

Thu Sinh nói:

- Mày vừa cười mà.

Cậu ra vẻ nghiêm túc nói:

- Không có cười.

Bước ra khỏi sân nhà Thu Sinh, cậu liền nhào lộn ba vòng liên tiếp trong đống rơm rạ, cười lớn không ngừng!

Sau đó, hộp "bánh ngọt" ấy trước tiên chuyển sang nhà Quý Điền, tiếp theo lại chuyển sang nhà Nhị Thủy, từ nhà Nhị Thủy chuyển sang nhà Bảo Xán, rồi lại tới nhà Phương Đẩu, nhà Tam Xuân, nhà Mạch Thành, nhà lão Kiều... Cậu vẫn luôn ghi nhớ dấu hiệu ấy, dấu hiệu đó đã khắc sâu vào tận đáy lòng cậu rồi. Chẳng hiểu sao, cậu vô duyên vô cớ hình thành một thói quen hay nhìn lên xà nhà người ta, hễ bước vào nhà ai, cậu cũng không kìm được mà ngước lên nhìn xà nhà người ta, nhìn những hộp bánh ngọt treo lủng lẳng trên xà nhà ấy... Đó chính là "thể diện" ư? Hết nhà này đến nhà khác, cứ xách qua xách lại như thế, rốt cuộc là vì cái gì chứ?

Đúng vậy đấy, những chiếc hộp ấy chính là thể diện của người nhà quê. Cho dù đó chỉ là "phân lừa khô" đi chăng nữa, chỉ cần dán niêm phong đóng hộp vào, là có thể đường đường chính chính treo lủng lẳng trên xà nhà rồi! Thuở ban đầu, ý nghĩ này khiến cậu hoảng hồn sợ hãi, trong ý nghĩ ấy ẩn chứa một thứ gì đó khiến người ta không sao nói rõ được. Cậu sợ hãi. Cậu bị cái vẻ "giả tạo" đường đường chính chính ấy làm cho sợ hãi.

Có một lần, ở nhà Tam Xuân, cậu bất chợt thốt lên một tiếng "á". Lúc ấy, cậu rất muốn nói ra đầu đuôi ngọn ngành mọi chuyện. Cậu muốn nói cho mọi người biết, trong hộp đó đựng toàn là "phân lừa khô"! Thế nhưng cậu nghiến răng một cái, rốt cuộc vẫn không dám nói. Mức độ "bánh ngọt" đó đã luân chuyển qua bao nhiêu là nhà rồi, giấy niêm phong cũng đã bị người ta thay đổi mấy bận, chẳng lẽ không một ai mở ra xem thử sao?! Trực giác mách bảo cậu rằng, không thể nói được.

Đến dịp giáp Tết, cuối cùng thì vào một ngày nọ, hộp "bánh ngọt" ấy lại được luân chuyển quay trở lại nhà. "Bánh ngọt" là do ông cậu què chân Nhị Cụt người cùng làng xách đến, ông cậu què một chân nói với cha:

- Chú cả à, hộp bánh ngọt này là do cô ba ở Mã Kiều gửi đến đấy, nói thật nhé, thời gian chắc cũng không ngắn đâu, xách qua xách lại, dây buộc sắp đứt đến nơi rồi. Nhà chú lắm con trẻ, để cho bọn trẻ con ăn đi.

Cha cười cười, cha nói:

- Ông xem này, làm thế này để làm gì cơ chứ? Ai nấy đều chẳng khá giả gì.

Nhưng Nhị Cụt đặt bánh ngọt xuống là bỏ đi ngay.

Đêm Ba mươi Tết, cha đã mở hộp bánh ngọt ấy ra thật, cha lần đầu tiên nói với vẻ vô cùng rộng lượng:

- Ăn đi.

Thế nhưng lời của cha còn chưa dứt thì sắc mặt đã trầm xuống, sắc mặt cha đen sì như mực. Mẹ bảo:

- Trả lại cho hắn đi! Cho hắn tận mắt nhìn thấy.

Cha ngồi ở đó, trầm mặc hồi lâu không nói năng gì, qua một lát sau, ông thầm lặng cất lời:

- Thôi đi. Đừng nói nữa, ai cũng đừng nhắc đến nữa.

Tiếp theo đó, cha không nói thêm gì nữa, ông chỉ đem "phân lừa khô" đựng trong hộp bánh ấy ra ngoài đổ đi...

Sáng hôm sau, khi cậu mở mắt tỉnh dậy, đập vào mắt chính là hộp bánh ngọt treo lủng lẳng trên xà nhà, ở đáy hộp có làm một dấu hiệu. Thế nhưng cậu biết, chiếc hộp này là hộp trống rỗng...

Buổi sáng, đứng trong sân ngập trời tuyết bay, cậu đột nhiên nói với em trai Thiết Đản rằng:

- Có những lúc, cuộc sống này đau đớn lắm em ạ.

Thiết Đản kinh ngạc nhìn cậu, nói:

- Anh hai, chân anh bị gai châm phóc à?

Mười hai cái gai châm đâm vào lòng bàn chân

Mẹ lâm bệnh vào tháng Chạp năm đó.

Năm cậu mười hai tuổi, mẹ mắc bệnh nghẹn cổ họng. Đó là một thứ bệnh rất kỳ lạ, không thể ăn uống gì được, cứ ăn vào là nôn thốc nôn tháo, kết cục chỉ còn lại việc kéo dài hơi tàn qua ngày đoạn tháng.

Mẹ ngã bệnh liệt giường, từ đó không bao giờ xuống giường được nữa. Lúc ban đầu, bà vẫn có thể uống được một chút nước, trong cổ họng phát ra tiếng "cục cục", nuốt rất khó khăn. Tiếp theo đó, ngay cả nước cũng không thể rót vào được nữa. Hết ngày này qua ngày khác, mẹ cứ thế héo mòn dần, héo quắt lại chỉ còn là một lớp da mỏng, trên lớp da ấy nứt nẻ từng nếp nhăn căng cứng, các khe nứt há miệng toác hoác ra, người ta bảo thế gọi là "da tuyết". Hồi đó, mẹ luôn gọi năm anh em bọn họ lại bên mép giường, nhìn đứa này một chút, sờ đứa kia một cái, cuối cùng, trong khóe mắt mẹ ngấn lệ cất giọng nghẹn ngào:

- Cương Đản à, con là anh cả, con nhất định phải gánh vác gia đình này đấy nhé!

Cậu lầm lũi gật đầu, chẳng nói nên lời.

Trong những ngày cuối đời, mẹ chỉ muốn đánh một cái rắm. Mẹ bảo, nếu tao mà có thể đánh được một cái rắm thì tốt biết mấy!

Hôm đó, cha lại một lần nữa mời "Kiều Tam Châm" đến. "Kiều Tam Châm" cũng coi như là một "thầy" thuốc Đông y trong làng, "thầy" ngồi xuống trước tiên bắt mạch, sau đó điềm đạm hỏi:

- Có "xì hơi" được không?

Cha ngẩn người, không biết nên trả lời thế nào cho phải.

"Kiều Tam Châm" sốt ruột, cộc lốc quát lớn:

- Ái chà, chính là có đánh rắm hay không ấy mà?!

Mẹ khó nhọc lắc lắc đầu. "Thầy" thuốc thở dài thườn thượt, thu hộp kim châm lại, không nói thêm câu nào nữa. Mãi cho đến khi ra tới ngoài cửa, ông ta mới nói với cha rằng:

- Cầm cự chẳng được mấy ngày nữa đâu, chuẩn bị hậu sự đi.

Hồi đó, một năm ăn khoai lang nửa năm ăn lương thực, cả ngôi làng nồng nặc mùi hôi thối, tiếng đánh rắm liên hồi không dứt, toàn là rắm khoai lang. Thế nhưng tâm nguyện duy nhất của mẹ lại là có thể giống như người bình thường, đánh được một cái rắm. Mẹ bảo, sao tao lại không thể đánh nổi một cái rắm cơ chứ? Mẹ nằm trên giường, gầy trơ xương bọc da, trên lớp da ấy phủ một lớp vảy trắng muốt tựa như tuyết khô, hễ sờ vào là bong tróc rơi xuống. Lúc này, trên người mẹ chẳng còn lấy một chút sức lực nào, thứ ánh sáng le lói trong hốc mắt khiến người ta nhìn vào mà giật mình thắt ruột! Ôi mẹ ơi, ấn tượng đó khắc sâu tựa như được rót chì vào tận đáy lòng cậu. Mãi cho đến tận rất nhiều ngày sau, cậu mới hiểu ra rằng, một khi sinh mệnh đã đi đến ngã rẽ cuối cùng, muốn đánh được một cái rắm thôi cũng khó khăn biết nhường nào!

Mẹ qua đời sau đó bảy ngày.

Trước lúc lâm chung, đôi mắt mẹ trân trân nhìn trân trân lên trần nhà, sau đó ánh mắt chuyển xuống phía dưới, hé nhẹ đôi môi, muốn thét gọi điều gì đó, thế nhưng bà không thét lên được... Cậu lao đến chộp lấy bàn tay mẹ, nhưng bàn tay mẹ đã lạnh ngắt rồi.

Sau khi mẹ mất, cha ngớ ngẩn như kẻ mất hồn, ông bệt mông ngồi phịch xuống bậc cửa, mãi chẳng thể đứng dậy nổi. Cậu hốt hoảng chạy đi gọi đại cật tới, đại cật lật mi mắt mẹ lên nhìn, thầm lặng nói:

- Người hết cứu nổi rồi.

Từ đó về sau, đại cật dắt tay cậu, mua thiếu một súc vải trắng ở tiệm tạp hóa trong làng. Trên đường đi, đại cật ngạc nhiên liếc nhìn cậu một cái, nói:

- Cương Đản, sao mày không biết khóc hả?

Cậu lầm lũi, hoàn toàn không khóc nổi, thế nhưng trong lòng cậu đang khóc thét. Về đến nhà, đại cật gọi năm anh em bọn họ lại một chỗ, trùm lên đầu mỗi người một mảnh vải trắng, rồi bảo với cậu:

- Cương Đản, mày là anh cả, dẫn các em đi "đưa tang" đi.

Cậu ngẩng đầu lên, lặng lẽ nhìn đại cật...

- "Đưa tang" chính là đi báo tang. Đi đi, dẫn các em mày đi, từng nhà từng nhà một, bước vào sân cũng không cần phải nói nhiều, quỳ xuống dập đầu một cái là được. Nhớ kỹ nhé, từng nhà dập đầu, người ta chưa kéo mày dậy thì đừng có đứng lên... Đi đi, đi ngay bây giờ đi.

Thế là, cậu dẫn các em đi "đưa tang". Vừa ra khỏi cửa, thằng ba Cẩu Đản cười hì hì nói:

- Anh hai, có phải khóc không?

Cậu khựng lại, quay phắt người lại, "bốp, bốp, bốp, bốp!" tát mỗi đứa một bạt tai! Thế là tiếng khóc lúc ấy mới nghẹn ngào vang lên.

Đến từng nhà dập đầu, từng nhà dập đầu... Đây là cáo phó của sự sống, là lời tuyên bố trước tang lễ, là đi cầu xin, là cầu cứu, là tối hậu thư? Rất lâu về sau, cậu dần dần mới hiểu ra rằng, cái quỳ gập xuống đất ấy chính là "đầu hàng". Nơi đồng bằng thôn dã, "đầu hàng" gần như là một bộ môn nghệ thuật, lại còn là bộ môn nghệ thuật vĩ đại nhất. Sinh tử được hoàn thành trong vô số lần "đầu hàng". Có những lúc, mày buộc phải "đầu hàng", mày bắt buộc phải "đầu hàng". Có hình thức "đầu hàng" ấy rồi, thì mới có nội dung của sự sống. Cứ như thế, cậu lần lượt dập đầu cho từng người trong làng bước ra khỏi cửa. Chỉ có duy nhất một nhà, cậu không đến, đó là ngôi nhà ở gần nhất, nhà Đồng Chùy. Cậu kiên quyết không đi.

Tang lễ của mẹ được hoàn thành dưới sự giúp đỡ của người dân trong làng. Trong tang lễ, với tư cách là con trưởng, dưới sự dẫn dắt của cậu ruột, cậu tiếp tục học hỏi nghệ thuật "đầu hàng". Đó là hình thức "đầu hàng" cấp cao — "Nghi thức hai mươi tư lạy." "Nghi thức hai mươi tư lạy" là một kiểu biểu diễn gần giống như chốn cung đình, là một hình thức "thần phục" mang tính chất nghi lễ. Ở chốn thôn quê, đây chính là sự "đầu hàng" cao cấp nhất, nhã nhặn nhất! Đó là việc cậu phải ở các phương vị khác nhau, với các tư thế khác nhau dập hai mươi tư cái đầu, dập đầu ở cả bốn phía trước sau trái phải, dập thành một chữ "Hồi" thật to. Lúc cậu dập đầu, cậu nghe thấy mọi người đang cười cợt mình. Đúng vậy, trong đám tang, mọi người cười ồ lên, cười chê cậu dập đầu không đủ tiêu chuẩn. Người ta trầm trồ khen ngợi Bảo Xán, Bảo Xán dập đầu động tác sống động nhất! Cúi chào tiến lùi, từng chiêu từng thức đều khiến người ta ngưỡng mộ: quỳ thật sâu, đứng dậy thật vuông vức, đôi chân đó bảo cưa là cưa rắc... Tình cảnh đó trông chẳng giống đang đưa tang người ta chút nào, mà giống như đang biểu diễn tuyệt kỹ hơn! Thế nhưng cậu thì không được, tâm can cậu đã chết lặng rồi, lúc cậu dập xong hai mươi tư cái đầu ấy đứng dậy, trước mắt tối sầm, suýt ngã quỵ xuống đất. Thế nhưng cậu vẫn đứng vững, chỉ là chỗ đầu gối nóng ran, rớm máu!

Cậu là con trưởng, chiếc "vại xá tang" của mẹ cũng là do cậu đập vỡ. Trên chiếc "vại xá tang" đục khoét năm cái lỗ, thứ đó gọi là "lỗ tử tôn", do năm anh em bọn họ dùng đầu kéo khoét thủng từng cái một. Thằng út quá nhỏ, cậu phải cầm tay nó để khoét cùng. Mẹ đã chết rồi, tại sao còn phải đập vại xá tang? "Vại xá tang" rốt cuộc là gì? Sống là "ngục", chết cũng là "ngục" ư? Khoét những cái lỗ đó ra, là để rọi chút ánh sáng cho người mẹ chăng?

Và rồi lại đến nghi thức "tạ tang" (còn gọi là cởi tang). Vẫn là đi dập đầu từng nhà một... Rất nhiều năm sau, cậu vẫn nhớ như in cảnh tượng mình quỳ xuống dập đầu cho người ta. Có một khoảnh khắc nào đó, cậu nhìn thấy bầu trời lọt qua đũng quần! Cậu khắc ghi khoảnh khắc nhìn trời qua đũng quần ấy, khoảnh khắc khiến cậu đời đời kiếp kiếp không thể nào quên. Ngay chính trong khoảnh khắc ấy, từ trong đũng quần của cậu bất chợt trào lên một luồng khí, luồng khí ấy ngay lập tức nâng bổng cậu đứng dậy, cậu đang quỳ, thế nhưng trái tim cậu thì đã đứng thẳng lên rồi.

Lúc mẹ còn sống, chẳng ai cảm thấy bà quan trọng đến nhường nào, mẹ vừa đi, cái nhà liền chẳng ra cái nhà nữa. Hồi đó, cha từng nảy sinh ý định đi bước nữa. Thế nhưng, trong nhà có tới năm quả trứng, một đám cái miệng, có ai bằng lòng gánh chịu gánh nặng liên lụy này chứ? Thế là, cha lại thường xuyên nằm lì trên giường, thở dài từng tiếng một.

Mẹ đi rồi, tiếp sau đó là những ngày tháng không có giày để đi.

Rất nhanh chóng, giày của năm quả trứng bọn họ đều rách tươm từng đôi một, chẳng còn đôi giày nào nữa.

Mùa hè năm ấy, lúc đi cắt cỏ, cậu dẫn bốn người em đến một bãi cỏ tranh. Ở bãi cỏ tranh, cậu bắt Thiết Đản, Cẩu Đản, Qua Đản, Nao Đản đứng xếp thành một hàng trước mặt mình, rồi nói:

- Nghe đây, mẹ mất rồi, không ai làm giày cho các em nữa. Bây giờ, anh sẽ làm cho mỗi đứa một đôi giày.

Bốn người anh em kinh ngạc nhìn anh, ai nấy trông đều rất vui mừng. Thiết Đản nói: "Anh, anh còn biết làm giày nữa cơ à?"

Anh không nói gì, ngồi bệt xuống đất, duỗi tay ra, lộ ra sáu hạt tật lê đang nắm trong tay. Tiếp đó, anh co chân lại, chìa đôi bàn chân của mình ra, dùng tay vỗ vỗ lớp đất bám trên chân, nói: "Cả nhà đều nhìn cho kỹ đây——"

Nói dứt lời, "phụt, phụt, phụt" ba tiếng, anh lần lượt đâm ba hạt tật lê vào bàn chân trái; tiếp theo, lại "phụt, phụt, phụt" ba tiếng nữa, anh lại đâm tiếp ba hạt tật lê vào bàn chân phải! Sau đó, anh đứng dậy, chắp hai tay sau lưng, ra điều kiêu ngạo bước một vòng quanh thung lũng.

Bốn anh em đờ đẫn nhìn anh, Thiết Đản lên tiếng: "Cái này, gọi là giày á?"

Anh đáp: "Giày, giày sắt."

Cẩu Đản hỏi: "Đau, đau lắm không?"

Anh nhấc một chân lên, để bọn chúng nhìn rõ những hạt tật lê đâm chi chít trên chân, rồi nói: "Lúc đầu sẽ đau một chút, đợi đến khi chân mọc chai ra thì sẽ không đau nữa."

Nói đoạn, anh lại bồi thêm một câu: "Đứa nào dám đi, buổi trưa được thưởng thêm một vá cơm."

Thế là, bốn đôi chân nhỏ xíu đồng loạt chìa ra, từng đứa thò sát ngay trước mặt anh.

Anh cầm chân của Thiết Đản lên xem xét trước, đâm một hạt tật lê vào mỗi bàn chân cho nó. Thiết Đản chỉ nhíu mày, cố tỏ vẻ ra oai: "Không đau." Tiếp đến là Cẩu Đản, vừa chạm tới bàn chân, Cẩu Đản liền nhăn mặt, định rụt chân lại, nhưng anh nắm chặt lấy không buông, cứ thế cứng rắn đâm vào chân nó. Đến lượt Qua Đản, nó im thin thít, chỉ biết quay mặt đi chỗ khác... Còn Nao Đản vẫn còn nhỏ, nhìn đôi bàn chân con con của Nao Đản, anh chần chừ giây lát rồi bảo: "Nao Đản thôi đi, Nao Đản còn nhỏ." Thế nhưng Nao Đản lại cất cái giọng non nớt nói: "Anh ơi, em cũng muốn 'đau'." Nghe vậy, anh bèn nói: "Được, Nao Đản ngoan nhất." Vừa nói, anh vừa thọc tay vào túi áo lấy ra hai dải vải trắng, cuộn những hạt tật lê vào trong dải vải, rồi buộc chặt vào từng chân cho nó. Lúc toan đứng dậy, Thiết Đản bỗng cất giọng: "Anh ơi, em xin thêm một hạt nữa, buổi trưa cho em thêm hai vá cơm nhé! Được không anh?"

Anh phớt lờ nó, cất giọng bảo: "Đứng lên, tất cả đứng lên hết cho ta. Đứng dậy đi thử xem nào."

Bốn đứa trứng, đứa nào đứa nấy "á, á" đứng dậy, tất cả đều nhón chân đi nghiêng ngả... Anh đứng một bên hô lớn: "Đi mau, phải đi được mới tính, xem đứa nào dũng cảm nhất!"

Thế là dưới ánh nắng chói chang, đội ngũ có những hạt tật lê đâm vào chân này, kẻ khập khiễng người xiêu vẹo, bắt đầu lê bước trong thung lũng.

Anh cất giọng dặn: "Nhìn về phía trước, đừng nghĩ đến cái đau ấy. Mày không nghĩ đến nó, thì nó sẽ không đau nữa."

Cẩu Đản ngoảnh đầu lại, hỏi: "Anh ơi, đến bao giờ thì mới không phải đâm nữa ạ?"

Anh đáp: "Đợi khi chân có 'sắt' rồi, thì không cần đâm nữa."

Suốt cả mùa hè ấy, lũ trẻ nhà "cô dượng" đứa nào đứa nấy vai đeo bó cỏ, nhăn mặt nhăn mày đi trên con đường đất ở vùng quê. Điều khiến dân làng cảm thấy kỳ lạ nhất chính là, sao bọn chúng lại cứ điệu bộ đi quẹo chân như thế? Có hỏi, bọn chúng cũng chẳng hé răng, không một ai chịu nói nửa lời. Ở Thượng Lương, cảnh tượng đó tựa như một bức tranh phong cảnh kỳ lạ; cứ đến chạng vạng tối, từng đứa trứng lại lững thững bước ra từ ánh hoàng hôn đỏ rực như màu quýt chín, trút từng bó cỏ trên người xuống khoảng sân đạp lúa, rồi chìa bàn chân ra, hết ngụm này đến ngụm khác nhổ nước bọt lên chân mình...

Cả bốn đứa trứng, đứa nào cũng mỏi mòn ngóng chờ thứ "sắt" ấy xuất hiện, thế nhưng "sắt" đang ở chốn nào cơ chứ?!

Mùa thu năm ấy, bốn đứa trứng đã có thể đi thẳng bàn chân được rồi. Bọn chúng vây quanh người anh Cả, nhao nhao hỏi: "Anh, thế này đã được tính là có 'sắt' chưa ạ?"

Thế rồi, vào một buổi chiều tà, anh dẫn tất cả lũ chúng ra khoảng sân phẳng lì, dùng khẩu khí của "người cha" ra lệnh: "Ngồi xuống." Đợi khi bọn chúng đã ngồi xuống đầy đủ, anh bèn duỗi chân ra, khua trước mặt chúng một lượt rồi bảo: "Sờ thử xem." Bọn chúng liền ngoan ngoãn lần lượt giơ tay ra sờ qua một lượt... Anh hỏi: "Cứng hay không?" Lũ trứng đáp: "Cứng ạ." Tiếp đó, anh xòe tay ra, bày ra mười hai hạt tật lê đang nắm chặt trong lòng bàn tay! Để bọn chúng nhìn cho thật rõ từng hạt một, rồi anh mới cắm từng hạt tật lê lên hai bàn chân. Sau khi đã cắm xong xuôi, nhân lúc bọn chúng đang chứng kiến, anh hít một hơi thật sâu, tung người một bước nhảy phốc lên chiếc luân đá! Rồi cứ thế đứng vững trên chiếc luân đá ấy, tuyên bố với chúng rằng: "Thế này mới gọi là có 'sắt' chứ!"

Lúc bấy giờ, Cẩu Đản bỗng hốt hoảng kêu lên: "Anh ơi, chân anh dính máu kìa!"

Anh lườm nó một cái, điềm tĩnh đáp: "Đấy không phải máu, đấy là gỉ sắt."

Chân cắm mười hai hạt tật lê, vậy mà anh vẫn hiên ngang đi lại một vòng thật lớn giữa khoảng sân để thị phạm cho chúng xem. Lòng bàn chân dẫu có tê rần đôi chút, nhưng trong thâm tâm anh tự nhủ, có đôi khi, cuộc đời chính là sự đau đớn nhường ấy. Mày không thể sợ hãi nỗi đau, mày phải dẫm lên gian khó mà đi, cứ từng bước từng bước vững chắc mà bước tiếp.

Cả bốn đứa em đều ngước nhìn anh, nhìn đến mức trợn mắt há mồm! Bọn chúng từ nay không bao giờ thắc mắc nữa. Cuối cùng thì bọn chúng cũng đã thấu hiểu, thế nào là "sắt"...

Đồng thời, anh còn truyền thụ cho chúng một tuyệt chiêu: Vào buổi trưa, hãy đặt hai bàn chân vào rãnh bánh xe trên đường lớn, dùng thứ đất tơi xốp được phơi nắng cho ấm áp vùi lấp lại, cứ vùi kỹ bằng lớp đất nóng mịn màng như bột ấy, đắp thật kín mít, chôn vùi chừng một hai tiếng đồng hồ, tha hồ hấp cho thật kỹ, nướng cho thật nhừ, thì chân sẽ đỡ đau đi trông thấy, và điều quan trọng nhất là, "sắt" sẽ mọc ra cực kỳ nhanh.

Thế là, trong những ngày tháng sau đó, mấy đứa "trứng" nhà họ Phùng thường hay thả gánh nặng trên vai xuống, ngồi bệt bên lề đường lớn, thọc hai bàn chân vào rãnh xe, dùng đất nóng phủ lên để "tắm chân"... Đó là một niềm vui hiếm có khó tìm! Khi ngâm "tắm" bàn chân vào trong lớp đất nóng ấm áp ấy, cái hơi ấm sực nức, sự mềm mại tựa như bột mịn, cảm giác mơn man ngứa ngáy trơn tru, cùng với chút hơi lạnh từ từ bốc lên từ lòng bàn chân, vào những khoảnh khắc nhắm nghi mắt lại, mang đến cho bọn chúng một thứ cảm giác say sưa tựa như uống rượu nồng. Thật tuyệt vời làm sao! Việc "tắm chân". Trong quãng thời gian ấy, "tắm chân" đã trở thành sự hưởng thụ cao cấp nhất của lũ "trứng" nhà họ Phùng. Sau khi "tắm" xong, bọn chúng sẽ đồng loạt rút chân ra khỏi lớp đất nóng, trước tiên là để phơi khô một lát, rồi mày sờ chân tao, tao sờ chân mày, để xem rốt cuộc bàn chân đứa nào cứng cáp hơn.

Trò này gọi là so kè "sắt".

Phải đấy, thứ "sắt" ấy đang lớn dần lên từng ngày, thế nhưng trong lớp "sắt" đang đâm chồi nảy lộc ấy, thỉnh thoảng vẫn mọc ra một chiếc gai nhọn hoắt, đó chính là gai của quả tật lê. Đôi khi chiếc gai ấy bị gãy sâu vào trong da thịt, cùng lớn lên với lớp "sắt", sẽ mang lại những cơn đau nhói thấu tận tâm can. Điều này cũng chẳng hề hấn gì, cứ nhổ ra là xong. Lúc nhổ, lại sinh ra một thứ niềm vui không tên. Mày thử nghĩ mà xem, cứ cạy cạy, bấu bấu trong da thịt... cuối cùng cũng nặn ra được thứ gì đó, nỗi đau nhói ấy lập tức tan biến, cảm giác tê tê, râm rả, kèm theo chút ngứa ngáy thoả mãn, thật sướng biết bao!

Mi mắt của người cha đã sụp xuống. Tấm lưng của người cha cũng đã còng gập. Chẳng bao lâu sau, một người cha từng oai phong lẫm liệt, rốt cuộc lại biến thành một lão gù lưng. Kể từ sau khi giao nộp quyền lực "ngoại giao" trong gia đình, đối với mọi hành vi của anh, cha chưa từng thốt ra nửa lời trách móc. Thế nhưng, đúng vào ngày anh cắm mười hai hạt tật lê lên bàn chân, người cha đang cặm cụi ngồi nhóm lửa trong gian bếp bỗng chốc vùng chạy out khỏi bếp lửa, cất giọng kêu lên đầy khác thường: "Con trai, mày đang làm cái quái gì thế — hả?"

Anh lại dám dùng ánh mắt khinh miệt liếc nhìn cha một cái, kiêu ngạo đáp: "Đang đi đường thôi!"

Câu nói ấy nghe thật đột ngột làm sao! Đó là sự đột ngột mang ý nghĩa phản nghịch. Đây chính là lời tuyên bố của anh, đối diện với người cha, đây là lần tuyên bố trực diện nhất. Bước đi, chính là cách sống, đây là phương thức của tôi, tôi "đi" con đường của chính tôi.

Cha nghẹn họng không nói nên lời. Đó là lần đầu tiên cha gọi anh là "con trai", để rồi từ đó về sau cha chẳng bao giờ gọi anh như thế nữa.

Mùa đông năm ấy, trận tuyết đầu mùa rơi xuống cũng là thời điểm anh kiểm chứng "sắt". Anh không đi đôi guốc gỗ kiểu "cộp cạch" mà cha làm cho, cứ thế để chân trần bước ra khỏi cửa nhà. Tuyết vẫn đang rơi lả tả, trên đường lớn không một bóng người, xung quanh tĩnh mịch đến lạ thường, màn tuyết trắng xóa vô tận tựa như từng đôi "loại giày ấy" đang bay tới tấp về phía anh! Cả một ngày ngập tràn "loại giày ấy"! Loại giày ấy (sau này anh mới biết đó gọi là "giày tennis") từng được một người họ hàng nhà Cầu Sinh đi qua, màu trắng, trắng hồng, ngay cả dây giày cũng trắng muốt! Người ta là người thành phố, khi về quê thăm họ hàng liền xỏ vào chân, mỗi bước đi đều nhún nhảy, lọt vào tầm mắt anh, kèm theo cả tất ni lông nữa... Cứ thế, anh bước đi giữa nền tuyết trắng, từng bước từng bước kiểm chứng lớp "sắt" trên chân. Thoạt đầu, khi bàn chân dẫm xuống, tuyết vô cùng ấm áp, thậm chí còn hơi bỏng rát, một cái ấm áp âm ấm. Thế nhưng khi bước tiếp, lại thấy mềm mại xốp mịn, thậm chí còn có chút độ đàn hồi, quả thực có chút đàn hồi đấy chứ. Dưới lòng bàn chân, lớp tuyết ấy mềm thịt, nóng hổi, hoặc giả tựa như miếng đậu phụ trong nồi nước sôi, bàn chân bỗng hóa thành một con dao bén, lúc mày cắt qua nó, cái cảm giác mềm mại ấy thật sướng tai sướng mắt, sướng đến vô cùng vô tận! Cứ bước đi tiếp, chân bắt đầu dính chút bùn đất. Lúc này, anh chợt hiểu ra, tuyết đang sợ đôi bàn chân của anh đây rồi. Tuyết sợ anh, bởi vì đôi bàn chân ấy đã luyện ra được "sắt", tuyết cứ chạm vào chân là tan chảy, nó không dám không tan. Giữa mùa đông giá lạnh, đôi bàn chân của anh đã hoàn toàn chinh phục được tuyết! Không đau, thực sự không hề đau chút nào nữa, không có lấy dù chỉ một chút xíu cảm giác đau đớn. Chỉ có niềm vui sướng, đó là niềm vui trào dâng từ tận đáy lòng bàn chân, một thứ niềm vui sung sướng tựa như mèo liếm! Niềm vui ấy đã khơi dậy trong anh một khao khát chinh phục mãnh liệt, anh sải bước chạy thật nhanh giữa cánh đồng tuyết, vừa chạy vừa ngửa cổ hú lên vang dội, tiếng thét của anh vọng đi rất xa giữa chốn đồng không hiu quạnh! Sau đó, anh băng qua cánh đồng, từng bước từng bước leo lên bờ đê sông, đứng trên đỉnh đê, ánh mắt anh phóng tầm nhìn về phía màn tuyết bay mờ mịt ở đằng xa, tuyết giăng lên một bức rèm bay ngược cuồn cuộn ở bờ phía nam con sông, bức rèm tuyết ấy đang uyển chuyển khiêu vũ trong gió, ngay tại giây phút này đây, anh bỗng có cảm giác như mình đang bay lượn, một luồng hơi nóng từ dưới lòng bàn chân trào ngược lên, nóng rẫy cả người!

Vào khoảnh khắc ấy, anh trang trọng thốt lên: Sẽ có giày để đi thôi.

Lồng dế không kêu

Năm mười sáu tuổi, cuối cùng anh cũng có được cho mình một đôi giày.

Đôi giày ấy là do một thiếu nữ tên là Lưu Hán Hương tặng cho anh. Cô ấy vừa đem tặng, cũng đồng thời gửi gắm cả một nỗi tiếc nuối to lớn trong cuộc đời mình.

Lưu Hán Hương là con gái của bí thư chi bộ Quốc Đậu. Khuôn mặt Quốc Đậu dẫu có dăm ba nốt rỗ, thế nhưng vợ của Quốc Đậu lại không hề có vết rỗ nào trên mặt, không những mặt không rỗ, mà bà ấy còn là người phụ nữ đẹp nổi tiếng trong vùng mười dặm tám thôn. Người phụ nữ này có biệt danh là "Đào Tơ", còn một cách gọi khác là "Mười Dặm Thơm". Lại có người bảo rằng, mẹ kiếp, nước sông Vĩnh Hợp có tốt đến đâu đi nữa, thì cũng chỉ vun vén cho nhà Quốc Đậu mà thôi. Mẹ kiếp! Tưới luống này xong lại chuyển sang luống khác, hết đợt này đến đợt khác vun tưới, toàn là nước ngon nước ngọt. Thật là bất công quá đi mà!

Lưu Hán Hương này chính là đứa con gái rượu do một tay "Đào Tơ" sinh ra.

Thuở ban đầu, Lưu Hán Hương chỉ là một cô nhóc tì gầy gò ươn ướt, trông ủ rũ chẳng có gì nổi bật. Thế nhưng càng lớn, cô bé bỗng chốc trở nên rực rỡ hẳn lên. Rực rỡ đến mức làm say đắm lòng người! Thế là bắt đầu có kẻ xì xào bàn tán rằng, Lưu Hán Hương chính là cái "Quốc Đậu" trong nhà họ Quốc Đậu!

Vào thời điểm đó, anh hoàn toàn không hề hay biết có kẻ đang ngấm ngầm chú ý đến mình, anh thực sự không hề hay biết. Con người ta khi đã nghèo đến mức cùng đường mạt lộ rồi, thì nào dám ngẩng đầu nhìn ngang liếc dọc. Ngay cả khi theo học ở trường cấp hai thị trấn, anh cũng chưa bao giờ dám nhìn lung tung. Mày nhìn cái nỗi gì, có nhìn thì cũng bằng thừa, túi tiền của kẻ nghèo rớt mồng tơi thì ánh mắt cũng phải tằn tiện lắm chứ bộ.

Ngay trước thời điểm anh bước chân vào cấp hai, mấy đứa trứng nhà "cô dượng" đã có tên tuổi đàng hoàng cho riêng mình. Những cái tên ấy là do một vị tiên sinh dạy học vỡ lòng làm công tác cứu tế xã hội được phái xuống huyện điều tra hộ khẩu đặt cho. Vị tiên sinh ấy vuốt râu, bỗng chốc hứng khởi văn chương tuôn trào, đặt bút viết thẳng vào sổ hộ khẩu: Cả Đản - anh cả được đổi thành Phùng Gia Xương; Thiết Đản - anh hai thành Phùng Gia Hưng; Cẩu Đản - anh ba thành Phùng Gia Vận; Qua Đản - anh tư thành Phùng Gia Hòa; Nao Đản - út éc thành Phùng Gia Phúc. Sau đó, vị tiên sinh dùng cây bút lông tiểu khải viết cho mỗi đứa một mảnh giấy nhỏ, ghi rõ tên họ tương ứng của từng đứa, tiên sinh dặn dò: "Hãy nhớ kỹ, đây là 'tên chính thức' đấy nhé!"

Thế nhưng trong làng chẳng có ai thèm gọi những cái tên "chính thức" ấy cả, người ta không quen dùng những thứ cao sang "chẳng giống ai" ấy, nghe cứ có vẻ ra điều trí thức quá mức. Ở trong làng này, đứa nào là "trứng" thì vẫn cứ hoàn "trứng" mà thôi. Chỉ mãi cho đến tận sau này, khi từng đứa lần lượt rời khỏi ngôi làng, những cái tên "chính thức" ấy mới thực sự trở thành tên gọi của chúng.

Mảnh ruộng cao lương ấy chính là cơ duyên định mệnh trong cuộc đời anh.

Đó là một buổi chiều sau kỳ nghỉ hè, anh vẫn như thường lệ vai đeo tay nải đến trường cấp hai thị trấn để làm thủ tục nhập học. Đã vào thu, màn trướng xanh đã vươn mình cao lớn, sắc xanh ngút ngàn không bờ bến từ cánh đồng lan tràn ra từng lớp từng lớp, che khuất con đường nhỏ đến mức thon hẹp lại, bước đi trên đường, con người ta có cảm giác như bị chìm ngập giữa những đợt sóng xanh mơn mởn ấy, khắp nơi đều sực nức cái mùi oi nồng của lúa mùa chín rộ, khắp nơi ngập tràn vị ngọt ngấy đượm đà đang thời ấp ủ, từng đợt gió lướt qua kẽ lá của những khóm hoa màu, lớp đất dưới chân dường như cũng đã chín mọng đến độ già cỗi, vỡ vụn từng mảng, tựa như trái dưa bở bị sụp thân. Dưới sự che chở của màn trướng xanh ngút ngàn, lúc đi ngang qua ruộng ngô, anh còn tiện tay bẻ trộm mấy bắp ngô non, thời buổi ấy lương thực lúc nào cũng thiếu thốn, nếu gặm được vài bắp ngô, bữa tối coi như được tiết kiệm. Khi anh giấu trong ngực mấy bắp ngô vừa hái trộm, lom khom băng qua ruộng ngô, đi đến ven một mảnh ruộng cao lương, mắt anh chợt sáng bừng lên, sững người đứng khựng lại——

Ngay trước mặt xuất hiện một đôi giày!

Đó là một đôi "giày vải quân đội". Loại giày này chỉ có quân nhân trong quân đội mới có tư cách mang, mà lại còn là giày mới tinh nữa chứ.

Đôi giày ấy được đặt ngay bên lề ruộng cao lương, trông mới tinh tươm, như thể chưa từng có dấu chân người xỏ vào vậy. Anh trân trân nhìn đôi giày ấy, chần chừ giây lát, thầm nghĩ trong đầu, trên đời lại có chuyện tốt thế này ư? Anh ngẩng đầu lên, vểnh tai lắng nghe động tĩnh trong ruộng cao lương. Cao lương sắp chín tới nơi rồi, những bông cờ đỏ rực từng đợt sóng dập dờn trong gió, những chiếc lá sắc nhọn kêu xào xạc, âm thanh phát ra vô cùng có quy luật. Khi gió ngừng thổi, không gian lại chìm vào tĩnh mịch, tĩnh lặng đến độ trầm mặc, tĩnh lặng một cách tao nhã. Xem ra, trong ruộng cao lương không một bóng người, quả thực không có ai cả. Phía Đông là ruộng khoai lang, phía Tây là nương ngô, ruộng khoai lang hiển nhiên chẳng có ma nào, nương ngô cũng chẳng giống như có bóng người, thế thì... rốt cuộc giày của ai đây nhỉ? Người đi đường làm rơi ư? Xem ra cũng không giống lắm. Đôi giày được đặt ngay ngắn trên mặt đất trước mặt anh, tựa như được chuẩn bị sẵn sàng dành riêng cho anh vậy. Nghĩ đến đây, anh mỉm cười lắc đầu, không thể nào, trên đời tuyệt đối không bao giờ có chuyện tốt nhường này. Anh vòng quanh đôi giày một lượt, trong lòng thấp thỏm không yên, sức hút thật là quá đỗi cám dỗ. Cuối cùng, anh không kìm nổi bèn vỗ vỗ lớp đất bám trên chân, xỏ chân vào đôi giày ấy ướm thử, mẹ kiếp, lại vừa như in mới tài chứ!

Trời quang mây tạnh, mây lững lờ trôi, xung quanh vắng bóng người qua lại, trước mặt lại có một đôi giày... Thế nhưng, lỡ như thì sao? Lỡ như có ai đó cởi ra để ở đây, mày vừa định bước đi thì ở đằng kia lại có tiếng gọi giật lại, nhục nhã biết bao nhiêu cơ chứ?! Thôi, dẹp đi. Không phải chỉ là một đôi giày thôi sao? Hơn nữa, anh đã quen với việc đi chân trần rồi, bỗng nhiên xỏ giày vào, quả thực thấy có chút ngượng ngùng, vô cùng khó chịu. Thế là, anh lại cởi đôi giày đang mang trên chân ra, đặt ngay ngắn lại bên lề ruộng, đoạn mới quả quyết mang tay nải tiếp tục lên đường.

Đột nhiên, từ phía sau vang lên tiếng cười "khúc khích——"! Tiếng cười ấy tựa như một tiếng sét giữa trời quang mây tạnh, lại giống như một con gà mái vừa vãi ra từ chiếc túi vải, hay giống như một chuỗi nhạc chuông được tung ra từ chiếc cổ bò, vừa đột ngột lại vừa lanh lảnh đanh thép! Ngay sau đó, lại là một tiếng nổ đét như rang đậu: "—— Gia Xương!"

Khuôn mặt anh đỏ bừng lên như gấc chín, tựa như bị tóm quả tang tại trận vậy, trong lòng chột dạ như một tên "kẻ trộm". Anh tự nhủ với lòng mình, mắc bẫy rồi chứ gì? Sập bẫy của con mẹ nó rồi. Đừng quay đầu lại, cứ đi đi, cứ tiến về phía trước!

Ai ngờ, anh vừa mới bước đi được mấy bước, liền nghe thấy phía sau vang lên một tiếng quát lớn: "Phùng Gia Xương, đứng lại cho tôi!"

Anh khựng lại, chậm rãi quay đầu nhìn lại, và chính trong khoảnh khắc liếc mắt ấy, anh đã nhìn thấy một vệt hồng thắm đang đứng ngay trước mắt. Phía sau vệt hồng thắm ấy là một màu xanh ngút ngàn không bờ bến, sắc xanh ấy dường như càng trở nên cuồng nhiệt hơn chính là nhờ vào vệt sắc đỏ này, trong ruộng hoa màu bỗng nổi lên những trận gió lốc, cao lương và ngô đều uốn lượn uyển chuyển, những chiếc lá tung bay phấp phới sắc bén như dao! Anh cúi gằm đầu xuống.

Đó là một nữ sinh!

Mười sáu tuổi, là lứa tuổi tràn ngập những mộng mơ ảo tưởng, trước mắt lại đứng một nữ sinh, rực rỡ tươi tắn đến mức khiến người ta chẳng dám ngước nhìn. Thế là anh cũng chẳng dám nhìn nữa, mồ hôi vã ra như tắm!

Lưu Hán Hương tung tăng bước đến trước mặt anh, mỉm cười lên tiếng: "Gia Xương, đi giày vào đi, đó là quà tôi tặng cho anh đấy."

Lưu Hán Hương, cái tên này đối với anh vô cùng quen thuộc, phải nói là cực kỳ quen thuộc. Bọn họ ngồi chung một phòng học suốt sáu năm trời, rồi sau đó lại cùng nhau thi đậu vào trường cấp hai thị trấn. Thế nhưng, người ta là con gái của bí thư, là cái "Quốc Đậu" trong nhà Quốc Đậu, chẳng cùng đẳng cấp với anh. Cho nên, dẫu có ngồi chung một lớp học, nhưng khoảng cách giữa họ vẫn xa lạ muôn trùng, anh chưa từng mở miệng nói chuyện với cô bao giờ. Vả lại, ở trong trường cấp hai, anh cũng là đối tượng bị người ta cười chê chế giễu, ai nấy đều gọi anh là "Xích Cước Đại Tiên" (Tiên ông chân đất).

Anh đứng chôn chân tại chỗ, lặng lẽ lắc đầu. Anh không đi, anh sẽ không đời nào mang nó.

Lưu Hán Hương cất giọng dịu dàng: "Thật đấy, thực sự là đem tặng cho anh mà. Bao nhiêu năm nay, tôi vẫn luôn thấy anh đi chân trần, anh... đôi giày này là tôi xin từ anh trai tôi đấy, anh tôi đã xuất ngũ rồi. Mang vào đi."

Anh đáp một cách vô cùng dứt khoát: "Tôi không đi."

Lưu Hán Hương hầm hè: "Anh dám!"

Anh quay đầu bỏ đi thẳng, thầm nghĩ trong bụng, có gì mà dám với không dám chứ?

Lưu Hán Hương nổi giận, giậm chân thình thịch quát lớn: "Phùng Gia Xương, anh nghe cho rõ đây, nếu anh dám bước đi, tôi sẽ hô lên đấy——"

Anh khựng lại, cảm thấy vô cùng buồn cười. Anh cất lời: "Cô cứ hô đi. Cô định hô cái gì nào?"

Lưu Hán Hương sững người giây lát, bỗng nhiên lớn tiếng: "Tôi hô—— tôi hô anh ăn trộm bắp ngô! Anh cứ thử xem, tôi chỉ cần hô lên một tiếng thôi, là tóm gọn cổ anh ngay lập tức..."

Lập tức, anh vỡ lẽ ra rằng, hóa ra cô ấy vẫn luôn bám theo sau mình từ nãy đến giờ. Cô ấy là con gái của bí thư chi bộ, nếu cô ấy hô thật, thì chắc chắn sẽ có thể trói gô anh lại thật ấy chứ... Anh đờ đẫn đứng ngây người ra đó, ngẩn ngơ hồi lâu chẳng thốt nên lời.

Cô ấy giục: "Anh xỏ vào đi."

Anh từ chối: "Tôi không xỏ."

Hai người cứ thế giằng co kè kè ở đó. Lẽ ra anh hoàn toàn có thể nhấc chân bỏ đi ngay lập tức, thế nhưng mấy bắp ngô ôm trong ngực lại níu chân anh lại. Cuối cùng, anh ngẩng phắt đầu lên, trân trân nhìn thẳng vào cô, cất giọng: "Cô muốn hô thì cứ việc hô đi."

Lời còn chưa dứt, anh đã hoàn toàn bị choáng ngợp. Anh bị chấn động bởi khung cảnh ánh sáng tuyệt mĩ ấy. Đó là ánh nắng mùa thu rọi chiếu tạo nên một vẻ đẹp tuyệt trần. Đó chẳng phải là một khuôn mặt nữa, mà là sự mịn màng của trái đào bọc phấn, là sự mỡ màng của trái mơ chín vàng ươm, là vẻ non tơ mọng nước của lõi cải thảo, là sự trong trẻo tựa hạt lựu, là sắc hồng thắm trên cành táo đỏ, là cõi ảo ảnh được kết hợp từ ánh sáng mùa thu, là cảnh sắc lung linh huyền ảo do dòng sông Vĩnh Hợp dung dưỡng hóa thành! Dưới ánh nắng thu rực rỡ, trên khuôn mặt đẹp như hoa như ngọc ấy vẫn còn vương vấn một lớp tơ hồng mỏng manh tựa sương khói ảo ảnh, lớp tơ ấy hệt như bóng của ánh sáng, sương của ánh sáng, hào quang của ánh sáng, giai điệu của ánh sáng, lớp váng men của ánh sáng, hay giống như cậu em vợ chuyên chơi trò phù thủy của ánh sáng! Vẻ sinh động ấy khiến người ta chỉ hận không thể vươn một bàn tay từ trong sâu thẳm cõi lòng ra để nhẹ nhàng chạm vào một cái, thế nhưng lại chẳng dám đưa tay chạm, chỉ sợ hãi rằng nếu khẽ chạm vào một cái thôi thì nước sẽ rỉ ra mất... Chỉ thoáng qua một cái nhìn duy nhất, anh ngỡ như bị đóng đinh tại chỗ, ba hồn bảy vía bay đi đâu mất tiêu! Anh chẳng dám ngước lên nhìn thêm dù chỉ một lần, anh muốn nhanh chóng thu hồi lại cái "trái tim" của mình, thế nhưng "trái tim" đã lạc mất tiêu rồi, anh chẳng thể tìm lại được nữa!

Vào lúc này, Lưu Hán Hương lao tới trước mặt, mặc kệ sự đời, sụp hẳn người xuống ngay trước chân anh, ra lệnh: "Nhấc chân lên!"

Tựa như có ma đưa lối quỷ dẫn đường, anh không tài nào kiềm chế nổi bản thân, cứ thế vô thức nhấc chân lên. Nhấc chân lên rồi mới thấy hối hận đôi chút, thế nhưng Lưu Hán Hương không cho phép anh hối hận, cô nắm chặt lấy bàn chân anh, cứ thế cứng rắn xỏ giày vào cho anh, xỏ xong chiếc này lại tiếp tục xỏ sang chiếc kia... Đoạn, cô đứng phắt dậy bảo: "Đi thôi."

Thế rồi, bọn họ bắt đầu lên đường, cứ thế kẻ trước người sau bước đi. Mang trên chân đôi "giày vải quân đội" thế này, trong ngực lại ôm kè kè mấy bắp ngô ăn trộm, anh đi kiểu gì cũng thấy ngượng ngùng kỳ quặc, đôi chân sắt ngăm đen tựa như bị trói chặt bởi sợi dây thừng, bước đi lêu khêu vấp váp, trông vô cùng buồn cười. Nhìn từ xa, quang cảnh ấy hệt như một tên "tù binh" đang bị Lưu Hán Hương áp giải vậy!

Suốt dọc đường đi, Lưu Hán Hương vui mừng khôn xiết, cô liên tục cười "khúc khích", nói cười rôm rả suốt cả quãng đường. Thế nhưng anh thì ngược lại, suốt dọc đường chỉ thốt ra đúng một câu duy nhất. Khi sắp đến thị trấn, anh cất lời: "Bắt nạt người ta quá đáng lắm đấy!"

Lưu Hán Hương ngạc nhiên hỏi: "Ai bắt nạt anh cơ chứ?"

Anh chẳng buồn thốt thêm nửa lời nào nữa, trong lòng mọc um tùm một ổ cỏ lau rậm rạp!

Khi hai người đến sát cổng trường học, Lưu Hán Hương cố tình giảm tốc độ bước chân lại, dần dần tụt hẳn về phía sau. Phía sau bóng dáng vắng đi một "kẻ áp giải", lúc này anh mới cảm thấy bước đi của mình có chút tự tại hơn đôi chút. Thế nhưng, vừa đặt chân đến cổng trường, anh lại bị đám đông vây kín mít. Một số học sinh vai đeo chăn màn đến trường làm thủ tục nhập học tụm năm tụm ba lại gần anh, dùng ánh mắt vô cùng kinh ngạc nhìn chằm chằm: "Đại Tiên ơi, sao thế, hôm nay mang giày rồi cơ à?" Miệng anh ậm ừ "ừ, ừ". Mấy kẻ đó vậy mà còn đuổi theo gặng hỏi: "Trời đất quỷ thần ơi, giày mới tinh cơ à?!" Anh đáp gọn lỏn: "Giày mới." Lại hỏi: "Giày vải quân đội á hả?!" Anh đáp: "Giày vải quân đội." Có kẻ tỏ ra vô cùng kiên trì gặng hỏi: "Này, thế không phải cậu từng bảo đi chân trần mới là thoải mái nhất cơ mà?" Thế là, chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ ngắn ngủi, sự kiện này đã trở thành một giai thoại kỳ lạ chấn động cả một vùng. Toàn bộ khuôn viên trường học truyền tai nhau náo nhiệt: "Đại Tiên" đã mang giày rồi kìa!

Đêm hôm đó, khi đám học sinh tò mò ấy lũ lượt kéo ùa vào căn phòng ký túc xá của anh, mục đích để xem cái trò hề "Xích Cước Đại Tiên" xỏ giày ra sao, thì anh đã sớm cởi đôi "giày vải quân đội" ấy ra vứt xó từ đời nào rồi, và vẫn tiếp tục duy trì thói quen đi đôi chân trần to bè.

Kể từ đó về sau, trong một khoảng thời gian dài đằng đẵng, anh vẫn luôn đinh ninh đó chính là một sự nhục nhã ê chề. Anh thầm mắng trong lòng, mày đã đầu hàng rồi, mày lại đầu hàng thêm lần nữa rồi, thật là kém cỏi quá đi mất, sao mày cứ mãi đầu hàng hoài thế hả?! Ngay vào đêm tối hôm ấy, bàn chân anh bỗng đau nhức ê ẩm, bàn chân vô tình đá phải ngưỡng cửa, nhức buốt thấu tận xương tủy! Giữa cơn đau đớn ấy, hình ảnh gương mặt của thiếu nữ bỗng hiện lên mồn một trong tâm trí anh, khuôn mặt ấy hệt như vầng trăng sáng soi bóng dưới chậu nước, cứập nhờn chao đảo từng đợt, xua thế nào cũng không sao bay đi nổi! Đây là điều chưa từng có trước đây, anh cảm thấy vô cùng hổ thẹn với hành vi của chính mình.

Anh chưa từng mang lại đôi giày ấy một lần nào nữa.

Đôi giày ấy sau đó đã trở thành món đồ xa xỉ phẩm của "bốn đứa trứng". Giày đã xỏ chân một lần rồi, thì không thể đem trả lại được nữa. Vào ngày Chủ nhật, anh len lén kẹp đôi giày ấy mang về nhà, vứt toẹt cho mấy đứa em trai. "Bốn đứa trứng" nhao nhao lao tới, đứa nào đứa nấy trân trân nhìn đôi giày đầy vẻ kinh ngạc, đứa này xông lên sờ sờ, đứa kia chồm lên nắn nắn. Cẩu Đản tính tình vốn hung hăng ngang ngược hơn chút, là kẻ lên tiếng trước tiên: "Anh ơi, đứa nào được đi thế?!" Anh liếc nhìn Thiết Đản một cái, rồi lại đưa mắt nhìn Cẩu Đản, Qua Đản. Nhìn xong, anh lại liếc sang người cha đang ngồi lom khom dưới đất, cha sụp mi mắt xuống, ngậm họng im thít chẳng hé răng nửa lời. Thế là, anh phán một câu: "Luân phiên nhau mà đi." Kết quả là, mấy đứa "trứng" cứ thế chuyền tay nhau luân phiên mang. Đầu tiên là Thiết Đản mang diện mấy hôm cho mới chán, tiếp theo là Cẩu Đản xỏ lê lết mấy ngày, rồi đến lượt Qua Đản. Qua Đản mang thì quá rộng, mỗi bước đi cứ lêu khêu lạng quạng, thế là nó nhét thêm ít bông vụn vào mũi giày. Đến lượt Nao Đản mang thì nó chỉ thấy hiếu kỳ lạ lẫm, liền đục khoét hai lỗ ở gót giày, xỏ dây thừng qua, dùng dây buộc chặt đôi giày vào chân mà đi, mỗi bước lê lết sạt sạt cứ hệt như chèo thuyền trên cạn vậy... Cứ thế chuyền tay nhau mang hết lần này đến lượt khác, chẳng bao lâu sau, đôi giày ấy đã bị phá nát tơi tả chẳng còn ra thể thống gì nữa.

Chẳng hiểu vì lý do gì, sự nhục nhã ấy vẫn luôn khắc sâu tận đáy lòng anh, cất giấu qua năm tháng dài đằng đẵng, chẳng ngờ lại ủ ra được một chút vị ngọt ngào. Cảm giác ấy hệt như một viên kẹo ngọt nhỏ xíu được cất giấu nơi sâu thẳm tâm hồn, nó cứ chực nhảy nhót trào dâng từ tận lồng ngực, nhảy nhởn ngay trước mắt để trêu ngươi cám dỗ anh.

Lưu Hán Hương làm thế rốt cuộc là vì điều gì cơ chứ? Trong miền ký ức của anh, hình ảnh về Lưu Hán Hương vô cùng mơ hồ mờ mịt. Suốt bao nhiêu năm trời, trong tâm trí anh thậm chí chẳng còn lưu lại lấy một chút ấn tượng nào. Phải rồi, bọn họ chưa từng ngồi chung bàn, cũng chẳng hề cất lời trò chuyện với nhau bao giờ, thoạt đầu hình như cũng chỉ là mấy đứa nhóc tì lít nhít, sao bỗng chốc lại lớn phổng lên lúc nào không hay? Lại còn đem tặng anh cả một đôi giày nữa chứ?!

Bỗng nhiên, anh sực nhớ ra, liệu có phải là vì chiếc đinh vẽ bản đồ ấy hay không?

Vào thời điểm đó, dẫu anh có nghèo đến mức ngay cả giày cũng chẳng có mà mang, thế nhưng lại vô cùng đam mê chơi bóng rổ. Mỗi khi tan lớp, anh luôn để đôi chân trần chạy băng băng trên sân bóng rổ, cũng chính vì thế mà có biệt danh là "Xích Cước Đại Tiên". Sân bóng rổ của trường cấp hai thị trấn vô cùng thô sơ giản dị, chỉ là một khoảng sân trống trong khuôn viên trường, dựng hai cây cột gỗ ở hai đầu Đông Tây, trên cột gỗ đóng một tấm ván gỗ hình chữ nhật, trên tấm ván lại đóng thêm một chiếc ròng sắt, thế là thành sân bóng rổ rồi. Rất nhiều khoảng thời gian sau giờ học, anh đều đắm chìm trên sân bóng rổ, anh là một cuồng tín đồ bóng rổ chính hiệu. Sân bóng rổ nằm gần nhà ăn, cho nên lúc nào cũng có rất nhiều người vây quanh đứng xem. Anh nhớ có lần khi đang thi đấu giao hữu với đội bóng của trường trung học dưới huyện, anh đang chạy băng băng thì bỗng "phụt" một tiếng, bàn chân mềm nhũn ra, anh liền khụy xuống ngay bên lề sân, cứ thế ngồi xổm đó, lật ngược bàn chân lên xem xét, hóa ra lòng bàn chân đã bị đâm thủng bởi một chiếc đinh vẽ bản đồ! Anh chẳng thèm bận tâm, chỉ rút chiếc đinh găm trong chân ra, tiện tay vứt phắt ra lề sân, rồi tiếp tục cắm cổ chạy băng băng đi, thậm chí còn bắt được một đường chuyền đẹp mắt, ném bóng trúng rổ ngon lành! Chính vào khoảnh khắc ấy, anh nghe thấy bên lề sân vang lên râm ran những tiếng hô hoảng hốt "Á! Á!". Trong khoảnh khắc liếc mắt nhìn sang, anh bắt gặp một dải bóng dáng kiều diễm của các nữ sinh, không biết trong số đó có Lưu Hán Hương hay không?

Còn gì nữa không nhỉ? Hoàn toàn không còn gì nữa, chẳng còn bất cứ chuyện gì khác. Thế nhưng người ta lại cất công tặng anh một đôi giày. Dẫu tự nhủ bản thân đừng nghĩ ngợi vẩn vơ nữa, đừng tơ tưởng thêm điều gì, người ta dẫu sao cũng là cái "Quốc Đậu" trong nhà Quốc Đậu cơ mà! Mày rốt cuộc là cái thá gì chứ?! Tự nhủ là không nghĩ, thế nhưng vẫn không tài nào kìm chế được. Thỉnh thoảng, viên "kẹo nhỏ" ấy vẫn cứ bất chợt nảy mầm từ tận sâu thẳm trái tim, để rồi lại được vòm họng của trái tim đón lấy, ngọt ngào thêm dăm ba khắc.

Thế nhưng ở trong trường học, hai người lại chẳng màng đoái hoài gì đến đối phương, giáp mặt nhau cũng không thèm cất lời chào hỏi. Lúc rửa bát, cậu ở vòi nước này, thì tôi sang vòi nước khác, hệt như kẻ thù đũa mốc mà đòi mâm son vậy. Cảm giác này thật tuyệt vời làm sao, tuyệt vời đến vô tận!

Việc học hành ngày càng trở nên chăm chỉ hơn bội phần, con người ta tựa như bị roi quất mà lao đi, từ "Spasiba" trong tiếng Nga lúc nào cũng thường trực trên môi, bên cạnh đó còn có "Dasvidaniya" (tạm biệt), tất cả mọi thứ đều hóa thành âm điệu "chíu, chíu, chíu, chíu" —— đó chính là vị ngọt ngào tựa mật ong (từng chút một, từng chút một). Phải rồi, đây là một bí mật. Bí mật khiến con người ta trở nên viên mãn phong phú, trong lòng nếu ngầm cất giấu một tâm sự nào đó, con người ta sẽ trở nên trầm tĩnh và vững vàng hơn hẳn. Những lúc việc học hành quá đỗi nhọc nhằn khổ sở, viên "kẹo nhỏ" ấy sẽ kịp thời nhảy nhót xuất hiện, mang lại cho bạn chút ngọt ngào để xua tan đi vị đắng ngắt. Cứ giấu kín thế đi nhé, cất giấu cho thật kỹ vào. Trong học kỳ năm ấy, điểm số tiếng Nga của anh đã đạt thành tích đứng đầu toàn trường một cách đầy bất ngờ!

Giày thì đã xỏ mang rồi, thế nhưng không thể mang không công được. Dù thế nào đi nữa, nhân tình này đã trót thiếu nợ người ta rồi. Lấy gì để đền đáp đây?

Tiếp theo đó, anh đã dùng trọn vẹn bốn ngày Chủ nhật liền, dẫn dắt lũ trứng dốc toàn tâm toàn ý cẩn trọng đan kết một chiếc lồng dế hai tầng. Để đan được chiếc lồng dế này, anh đã phải tốn rất nhiều tâm sức khổ công, trước tiên là sai đám trứng đi khắp nơi lùng sục những thân cây cao lương vừa nhẵn nhụi vừa nhỏ gọn, loại thân cao lương mảnh mai này mỗi cây chỉ dùng được đúng một đốt, mà ngay cả cái đốt độc nhất ấy cũng phải là hàng trăm cây mới chọn được một, cực kỳ khó kiếm. Thế là, khắp các cánh đồng cao lương ở bốn vùng giáp ranh đâu đâu cũng thấp thoáng bóng dáng tất bật của lũ trứng, cuối cùng thì cũng gom đủ số lượng. Chiếc lồng dế do một tay anh tự mình đan kết, anh không cho phép bất kỳ ai chạm vào, chỉ thui thủi một mình trốn trong phòng cặm cụi tỉ mẩn xoay xở. Mỗi lần bắt đầu, anh đều phải rửa sạch tay thật kỹ lưỡng, đoạn mới bắt tay vào đan chiếc lồng: Phần mái của lồng dế hai tầng ấy có chóp có mái hiên, có hành lang có sảnh đường; cửa ra vào là cửa đôi hai cánh, cửa sổ hình thoi, cánh cửa của cả hai tầng trên dưới đều có thể đóng mở linh hoạt; điều khiến anh vắt óc khó khăn nhất chính là, anh còn đan thêm cả một chiếc cầu thang lầu uốn lượn bên trong "cầu lầu hai tầng" ấy... Đợi khi hoàn thiện xong xuôi tất cả, anh lại ép buộc đám trứng phải nộp đủ mười hai con dế đang kêu ran.

Lại một buổi chiều Chủ nhật nọ, anh thậm chí chẳng thèm ăn cơm trưa, đã vội vã chuồn khỏi trường học từ sớm. Mang theo chiếc lồng dế ấy, anh len lén trốn vào một khu rừng cây hòe bên bờ đê sông. Cứ kiên nhẫn đợi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống, từ đằng xa trông thấy Lưu Hán Hương đang rảo bước đi tới trên con đường lớn, anh mới đặt chiếc lồng dế ấy lên lối mòn trên bờ đê...

Đó là con đường mà cô ấy nhất định phải đi qua.

Cuối cùng, Lưu Hán Hương vai đeo cặp sách đã đi tới nơi, cô vừa liếc mắt liền trông thấy chiếc lồng dế ấy. Cô sững người đứng khựng lại, cứ thế đứng ngắm nghía một hồi lâu, đoạn bỗng ngoắt đầu lên, cất cao giọng nói: "Anh ra đây đi."

Anh không nhúc nhích. Trái tim đập thình thịch liên hồi, thế nhưng anh vẫn đứng im không động đậy.

Lưu Hán Hương lại một lần nữa cất cao giọng: "Ra đây mau, tôi nhìn thấy anh rồi đấy!"

Lần này thì anh hết đường trốn tránh, đành phải lủi thủi bước ra từ trong khu rừng hòe...

Lưu Hán Hương ngước nhìn anh, cất lời: "Anh tự đan đấy à?"

Anh cúi gằm đầu đáp: "Tôi tự đan."

Lưu Hán Hương hỏi: "Tặng cho tôi à?"

Anh đáp: "Tặng cho cô." Nói dứt lời, anh lại rịn mồ hôi bồi thêm một câu: "Tôi không muốn nợ ơn nghĩa của cô..."

Lưu Hán Hương cúi người nhặt chiếc lồng dế lên, tấm tắc: "Đan khéo quá đi mất!"

Anh câm như hến, cứ thế đứng chôn chân tại chỗ.

Thế nhưng Lưu Hán Hương bỗng xoay chuyển giọng điệu, hậm hực trách móc: "Sao anh lại không chịu mang đôi giày mà tôi tặng chứ hả?!"

Anh đáp: "Tôi không thể mang được."

Cô gặng hỏi: "Tại sao cơ chứ?"

Anh đáp: "Nhà tôi có năm anh em, đều chẳng có giày mà mang. Tôi không thể ích kỷ tự mình mang độc lập được."

Cô chần chừ giây lát, bảo rằng: "Anh đã đi học cấp hai rồi mà..."

Anh đáp một cách khô khốc: "Đó không phải là lý do." Nói xong, anh quay phắt đầu lại, chạy đi nhanh tựa cơn gió.

Phía sau lưng vang lên râm ran tiếng dế kêu ran, âm thanh ấy nóng rẫy đến tê người!

Đáng tiếc thay, chiếc lồng dế ấy thoạt đầu bị buộc treo ngắt trên một cây táo ta, chính là cây táo ta trong sân nhà họ Quốc Đậu. Bởi vì mười hai con dế ấy đều là những con "lão luyện" được tuyển chọn kỹ càng, kêu quá ồn ào inh õng, khiến người ta nhức đầu không tài nào chợp mắt nổi! Sau đó, mãi cho đến tận khi chiếc lồng chìm vào tĩnh mịch hoàn toàn, nó mới chính thức được treo lên đầu giường của Lưu Hán Hương —

Bởi vì mười hai con dế ấy đều đã lăn ra chết sạch cả lũ rồi.

Người, một con người; tay, hai bàn tay

Sự mập mờ thật tuyệt vời, mập mờ chính là đêm chạng vạng tối trăng mờ.

Chính vào đêm hôm ấy, anh và cô đã nảy sinh tình ý mập mờ với nhau. Phải rồi, cũng chỉ có thể là "mập mờ" mà thôi, đó là một trạng thái hồ đồ, không rõ trắng đen. Anh mới mười sói tuổi đầu, thế nhưng chẳng biết một chút gì sất, chỉ biết thế nào là "tốt", mà cái gọi là "tốt" ấy rốt cuộc là gì nhỉ, một chữ "nữ" ghép với một chữ "tử" chẳng phải thành chữ "hảo" (tốt) là gì?

Khi chiều tà buông xuống, út éc Nao Đản lê lết đôi giày vải quân đội rách rưới trở về nhà. Nó có vẻ thần bí bước vào sân, đến trước mặt anh với điệu bộ hơi kỳ lạ, nhìn anh chằm chằm rồi bảo: "Trong miệng em có kẹo này." Anh phớt lờ nó. Thế nhưng Nao Đản lại xích lại gần anh thêm chút nữa, thè lưỡi ra, khoe viên kẹo dính bết trên lưỡi, nói: "Thật đấy, trong miệng em có kẹo nè." Anh trừng mắt lườm nó một cái, quát: "Lau sạch cái đám nước mũi của mày đi!" Nao Đản dùng ống tay áo quẹt ngang mũi một cái, đoạn bỗng vươn tay ra trước mặt anh, nói: "Chị Hán Hương cho đấy."

Thứ Nao Đản đang xòe ra trên lòng bàn tay, chính là một mẩu giấy vo tròn lại.

Trong lòng anh bỗng nhói lên một nhịp, bèn cầm mẩu giấy vo tròn ấy từ tay thằng út, đoạn cất lời: "Đi chơi đi."

Mãi cho đến khi Nao Đản lê lết cái dáng vẻ lê la "lẻn" ra khỏi cổng sân, anh mới từ từ giở từng chút một mẩu giấy vo viên thành cục ấy ra, chỉ thấy bên trên viết bốn chữ:

Hẹn gặp ở rừng hòe.

Có đi hay không đây? Thoạt đầu anh có chút chần chừ do dự, thậm chí còn có phần sợ hãi. Gương mặt đầy "nốt rỗ" của Quốc Đậu cứ chập chờn hiện lên trong tâm trí anh! Lỡ như... Thế nhưng cuối cùng anh vẫn quyết định đi.

Lúc bước ra khỏi làng, trước tiên anh nghe thấy một trận chó sủa inh ỏi. Tiếng chó sủa vút lên từ giữa màn đêm xám xịt, đen kịt, lướt vút qua với vẻ hung tợn sùng sục, khiến người ta hoảng hốt, da đầu tê rần! Thế nhưng, khi tiếng sủa ấy đến gần hơn, lại chuyển thành tiếng gừ "ừ... ừ..." hiền lành, tựa như đang cất lời chào: Mày đấy phỏng? Đại chân trần, tao nhận ra mày rồi đây. Đoạn chúng cứ lững thững đi theo sau ở khoảng cách xa, từng tốp ba năm con, hệt như những tên lính hộ vệ vậy. Đến đầu làng, chúng liền dừng bước không tiễn nữa, chớp chớp những đốm lửa xanh le lói, lặng lẽ nhìn theo, trông rất có tính người, tựa như đang thấu hiểu lòng người mà thì thầm: Đi đi, cứ mạnh dạn lên!

Rừng hòe nằm ở bãi sông phía Tây ngôi làng. Đó là một khu rừng phòng hộ rộng chừng mấy chục mẫu, vừa bước chân vào trong, dưới chân đã vang lên tiếng lạo xạo khô khốc, âm thanh xào xạc ấy khiến tim đập thình thịch. Xuyên qua kẽ lá của những tán cây, ánh trăng vắt vẻo trên đỉnh đầu mờ ảo tối tăm, vầng trăng cứ nhợt nhạt chao đảo trong tầng mây, hệt như một miếng dưa hấu từng bị ngâm nước vàng. Thỉnh thoảng, khu rừng bỗng rực sáng lên một cách đột ngột, sáng đến mức khiến mày cảm thấy trần trụi, chẳng có chỗ nào để che giấu! Giữa một khoảng xám xịt, những thân cây mang sắc nâu sẫm ấy bỗng dựng đứng lên hệt như những tên lính đang vây kín lại tứ phía! Khi mày vừa kịp trấn định lại tâm trí một chút, không gian bỗng chốc lại tối sầm xuống, đột ngột đến mức con người ta có cảm giác như rơi tõm vào một nồi cháo đặc sánh to tướng, đầu óc quay cuồng choáng váng, chỉ lơ đễnh một chút là đâm sầm vào thân cây ngay. Lớp lá khô dưới chân vỡ vụn lạo xạo, đi đến đâu là âm thanh vang theo đến đó, nghe quái dị rợn tóc gáy. Cứ bước đi, chỗ này "vút" một tiếng, chỗ kia "phụt" một tiếng, tim cũng vì thế mà lỗi nhịp thon thót. Cảnh tượng ấy hệt như một tên trộm vặt lần đầu tiên ra tay ăn trộm, còn chưa làm gì đã tự loạn trận tuyến trước. Anh tự nhủ trong bụng, mày đừng có sợ, mày sợ cái gì chứ, chính cô ấy hẹn mày ra đây mà. Lúc này những cơn gió bỗng thổi tới, gió quậy tung những âm thanh xào xạc khắp khu rừng, lá khô xoay tít vù vù như còi hú, có chú chim nhỏ vỗ cánh trong góc tối, đom đómập nhờn bay lượn, dế giun nhảy nhót kêu rả rích trong đám cỏ, thứ hỗn độn trong chốn mông muội ấy vừa khiến người ta tơ tưởng... lại vừa khiến người ta kính sợ.

Bất ngờ trong bóng tối, có một bàn tay vươn tới, nóng rẫy. Trong lúc hoảng hốt, bàn tay ấy chỉ nắm lấy một ngón tay của anh, chính là ngón trỏ, cứ thế dắt đi. Thế là ngón tay ấy hệt như một tép tỏi nhúng mật nha, hay giống như đại hồi phết mật ong, ngọt ngào, tê rần, lại vương vấn chút cay nồng, là cay ở trong tim, chẳng biết phải làm sao đành ngoan ngoãn bước theo. Dưới chân vấp váp lêu khêu, con người ta có cảm giác như mất đi gốc rễ, phía trước có tiếng thở dẫn đường, không khí trong rừng cũng trở nên ẩm ướt, đó là thứ độ ẩm mơn man da thịt, độ ẩm đượm hương thơm con gái. Trong cơn mơ màng mờ mịt, hai người hoảng hốt bước đến một đoạn bờ mương giữa rừng. Đó là một con mương dẫn nước chạy cắt ngang qua rừng hòe, nền mương được đầm đất chắc chắn, cao chừng nửa người, mọc đầy cỏ dại. Đột nhiên, bàn tay ấy buông lỏng ra, buông lỏng một cách có trình tự, thoạt đầu còn siết chặt, sau đó hơi mút nhẹ, tiếp tục lùi dần từng nấc... Liền có tiếng cất lên: "Gia Xương."

Giữa bầu không khí ấy, sao con người ta lại hóa thành một đốt ngón tay thế kia? Đang lúc mơ màng suy nghĩ vẩn vơ, mây trưa bỗng như vén mở, màn đêm bỗng chốc sáng bừng lên, sáng rực rỡ! Xung quanh rực ngời sắc hồng phấn chan hòa, từng thân cây sừng sững tĩnh lặng, không còn mang cái vẻ "trộm cắp" trong bóng tối nữa. Quay mặt sang nhìn, Lưu Hán Hương đang đứng ngay trước mặt, chẳng phải yêu ma quỷ quái gì sảng, mà là một con người bằng xương bằng thịt đích thực! Đêm nay, hai bím tóc dài của cô ấy vậy mà lại được bới gọn gàng lên trên đầu, một chiếc cặp tóc hình bươm bướm màu trắng (cặp tóc nhựa) vô cùng nổi bật kẹp lệch trên mái tóc đen nhánh, đứng thẳng tắp duyên dáng như một ngọn hành nước, con người bỗng trở nên thon thả thanh mảnh hơn hẳn; nửa thân trên cô mặc chiếc áo vải hoa táo nền trắng họa tiết xanh lam, bên dưới là chiếc quần chéo xanh lông cút xẻ tà một bên, mang đôi giày vải đen có quai, đôi tất trắng tinh làm tôn lên vẻ mộc mạc dịu dàng. Cô đứng sừng sững ở đó, hệt như một bóng hình thủy mặc được cắt ra từ làn khí đêm mờ ảo sắc phấn, thanh tân dịu dàng. Điều kiện gia đình người ta tốt biết bao! Khuôn mặt ấy đối diện trực diện với anh, đôi mắt to sáng long lanh, đôi môi hơi mím lại, trên má ửng hồng một nét thẹn thùng; bộ ngực phập phồng lên xuống hệt như đôi con thỏ nằm phục đang nhấp nhô nhún nhảy... Lưu Hán Hương lên tiếng: "Nếu anh mà còn không đến nữa, là em quay lưng về luôn đấy nhé."

Phùng Gia Xương giật mình khựng lại, bật thốt lên: "Ai cơ?"

Lưu Hán Hương uốn éo cơ thể, đáp: "Còn ai vào đây nữa."

Lúc này, Lưu Hán Hương lại cất lời: "Anh xem chiếc cặp tóc trên đầu em có đẹp không nào?"

Anh liếc nhìn cô một cái, hỏi: "Cặp tóc á?"

Lưu Hán Hương giơ tay sờ lên chiếc "bươm bướm trắng" kẹp trên đầu, cười bảo: "Anh tôi gửi từ Bắc Kinh về đấy. Anh tôi xuất ngũ rồi. Anh ấy bảo đây là làm bằng 'nhựa hữu cơ đấy', có đẹp không?"

Anh tiện miệng đáp: "Đẹp."

Cô gặng hỏi: "Thật á?"

Anh đáp: "Tôi lừa cô làm cái gì chứ?"

Tiếp theo đó lại là bầu không khí trầm mặc im lặng, tựa như cả hai bỗng chốc cạn sạch lời để nói. Hơi sương ban đêm trong rừng cứ từng đợt lan tỏa khếch tán, tiếng côn trùng rả rích trong đám cỏ, ánh trăng lại lu mờ đi, chỉ còn tiếng thở của hai người là vẫn nặng nhọc vang lên...

Lúc này, Lưu Hán Hương cúi người xuống, trải hai chiếc khăn tay lên bờ mương, thoạt đầu trải hơi sát nhau một chút, sau đó lại dịch chuyển sang bên cạnh một chút, cô tự mình ngồi xuống trước, cất giọng bảo: "Ngồi xuống đi."

Thế nhưng anh lại chẳng ngồi, chỉ ngồi xổm ngay xuống bờ mương, cách cô chừng bốn năm thước.

Màn đêm ngày càng mờ mịt, chỉ có chiếc khăn tay trắng kẻ ô xanh ấy vẫn lấp lánh trong bóng tối... Cô liếc nhìn anh một cái, trách yêu: "Sao anh lại không chịu ngồi xuống? Ngồi xuống đi chứ."

Anh đáp: "Tôi ngồi xổm quen rồi."

Cô bảo: "Anh ngồi xích lại gần đây chút xem nào, em chẳng nhìn thấy anh nữa rồi."

Anh vô cùng miễn cưỡng nhích người xích lại gần cô đôi chút, vẫn giữ nguyên tư thế ngồi xổm, ấp úng đáp: "Quần tôi... bẩn lắm."

Cô kiên quyết: "Em không chịu đâu. Anh ngồi xuống đi, em bắt anh phải ngồi cơ."

Ngọn lửa trong lòng anh bỗng chốc bùng cháy dữ dội. Anh tự nhủ trong bụng, ngồi thì ngồi, tao sợ cái quái gì chứ? Nghĩ đoạn, cuối cùng anh cũng chịu ngồi lên chiếc khăn tay ấy.

Lưu Hán Hương cất giọng: "Anh nghe đi, đêm tĩnh mịch quá, màn đêm bỗng chốc tĩnh lặng hẳn đi."

Phải rồi, đêm đã tĩnh lặng. Đêm vừa tĩnh lặng, tiếng thở của con người ta bỗng trở nên thô ráp hẳn. Khi Phùng Gia Xương vừa mới ngồi xuống, đột nhiên cảm thấy thứ mình đang ngồi bên dưới không phải là "khăn tay", mà là một "lò sưởi" làm bằng da thịt! Không những thế, đó còn là chiếc "thảm bay", là "mê hương", là "cái chảo nóng", là "ổ rơm rối", là "kim châm quả táo", là con "bọ chét" nhảy tót vào lũng quần, là mòng rận đủ thứ... Chỉ cảm thấy đầu óc quay cuồng choáng váng, cơ thể rịn đẫm mồ hôi, lũng quần nóng rẫy lên như lửa đốt.

Im lặng một lát, Lưu Hán Hương dịu dàng cất giọng: "Chân của anh không đau nữa à?"

Đầu óc anh choáng váng, nghe chẳng rõ, bèn hỏi lại: "Hả?"

Cô đáp: "Chân của anh ấy..."

Anh đáp: "Không đau. Đi quen chai sần lên là không đau nữa."

Cô bảo: "Tiếng bước chân của anh không giống của người khác chút nào, hễ cứ nghe thấy tiếng bước chân là em biết ngay, cái kẻ 'hung thần' ấy đến rồi đây." Nói đoạn, cô không kìm được bật cười "khúc khích".

Anh cất lời: "Cô đang cười chê tôi đấy phỏng?"

Cô vội vàng thanh minh: "Không, không phải đâu. Bước chân của anh nặng nề, chắc nịch. Em chỉ nghe là nhận ra ngay. Học chung bao nhiêu năm trời, cái kiểu bước đi hùng hục dõng dạc của anh, 'thịch, thịch, thịch', hệt như giã cối vậy, cứ như là giáng thẳng vào... tim người ta ấy." Màn đêm ngày càng tối sẫm, giọng nói của cô cũng nhỏ dần đi, nhỏ đến mức gần như chẳng thể nghe thấy.

Anh cố moi chuyện để nói: "Cô cười cợt tôi."

Cô đáp: "Ở trường học, anh chẳng thèm đếm xỉa gì đến ai..."

Anh hỏi: "Cô đang nói ai thế?"

Cô lúng túng nói nhảm: "Còn ai vào đây nữa chứ? Cái tên 'hung thần' ấy kìa. Trong mắt anh ta có coi ai ra gì đâu cơ chứ? Cứ nhắm thẳng hướng mà đi thẳng thừng. Mùa hè không mang giày, mùa đông cũng chẳng thèm mang giày, mấy vết nứt nẻ rớm máu hằn sâu từng đường, nhìn thực sự chướng mắt quá đi mất..."

Anh đáp: "Nhà tôi có năm anh em, tôi lại là anh cả..."

Cô lại vội vã tiếp lời: "Là anh cả thì sao chứ? Làm anh cả chẳng lẽ không biết thương lấy bản thân mình chắc sao?! Đâu có phải thế. Anh tôi ở nhà cũng là anh cả đấy thôi, nhưng mà anh ấy..."

Vào đúng lúc này, cô bỗng nhiên lại đổi chủ đề: "Này nhé, anh tôi sắp lấy vợ rồi đấy..."

Anh đáp: "Ồ, lấy vợ cơ à?"

Cô bảo: "Đúng thế chứ sao. 'Hảo ưng' đã đính ước xong xuôi hết cả rồi, người ở thôn Tiêu Trang cơ."

Anh hỏi: "Người Tiêu Trang á?"

Cô đáp: "Người Tiêu Trang."

Tiếp theo đó, lại bỗng chốc im bặt chẳng nói câu nào nữa. Những lời hay ý đẹp tựa như chuỗi tràng hạt đứt đoạn, chẳng tài nào xỏ kết lại vào với nhau được nữa. Bàn tay Lưu Hán Hương khẽ mơn man những ngọn cỏ non xung quanh, từng ngón tay cong cong khều khều. Nửa bên trái cơ thể Phùng Gia Xương cứng đờ như gỗ, thế nhưng nửa bên phải lại nóng bừng như lửa đốt, lòng bàn tay vã mồ hôi, liền áp chặt xuống nền đất bờ mương, cốt để tìm chút hơi mát dịu, thế nhưng chẳng hiểu sao, cứ cào đi cào lại, những ngón tay của hai người lại móc ngoéo quấn quýt lấy nhau tự lúc nào. Vào khoảnh khắc ấy, nhịp thở ngưng bặt, nhịp đập trái tim cũng dừng lại, chỉ còn những ngón tay đang đan cài vào nhau ấy, những ngón tay hệt như dây "củ mây", quấn quýt xoắn xuýt lấy nhau không rời. Tiếp theo đó, đôi bàn tay ấy cứ khều qua ngoáy lại, lại tựa như chiếc ốc vít được siết chặt, từng vòng từng vòng xoắn ốc quấn lấy nhau... Chẳng mấy chốc, đôi bàn tay đã áp sát nắm chặt lấy nhau tự lúc nào. Cứ nắm chặt như thế, trong vòm họng bỗng trào lên từng đợt vị ngọt ngào. Thứ vị ngọt ấy hệt như đang được rang, được nướng trên chiếc chảo lửa nóng bỏng, từng chút từng chút thiêu đốt tâm can! Rốt cuộc thì muốn thế nào đây? Mọi thứ vẫn vô cùng mờ mịt không rõ ràng. Dường như sắp sửa phải làm một việc gì đó rồi, cái "trái tim" bị nướng hỏng đã bắt đầu bốc khói rồi kìa. Vào lúc này, bàn tay Phùng Gia Xương hệt như mất đi sự kiểm soát, bỗng phắt rút ra khỏi mớ "ốc vít" đang xoắn xuýt ấy, giạng rộng hệt như một chiếc ngoặc vuông to tướng, cứ thế ôm chầm lấy Lưu Hán Hương! Lưu Hán Hương khẽ run lên bần bật, tiếp đó cơ thể uốn lượn uyển chuyển như loài rắn, đột ngột ngoảnh phắt mặt lại, một tiếng "bốp" vang lên, đầu hai người va đập vào nhau! Lưu Hán Hương hệt như chú chim nhỏ rướn người hôn lên má anh một cái, thầm thì thỏ thẻ: "Anh hoang dã quá. Trái tim anh thực sự quá đỗi hoang dã."

Trong khoảnh khắc bàng hoàng, ánh trăng từ tầng mây "thoát" ra rọi chiếu, trong rừng sáng bừng rực rỡ. Màn đêm mang sắc mực tàu tựa như vừa được nước gột rửa sạch sẽ, mọi thứ đều hiển hiện rành rành ngay trước mắt! Hơi lạnh đượm đà hơi nước theo ánh trăng trút xuống, từng đợt lan tỏa ẩm ướt, khiến người ta trong lòng vô thức dâng lên một luồng khí lạnh, cái ôm "chặt" ấy cũng vì thế mà lỏng ra. Thế nhưng Lưu Hán Hương lại thở dốc mềm nhũn tựa đầu lên bờ vai anh, thì thầm thì thào: "Em muốn đan cho anh một đôi giày..."

Anh từ chối: "Thôi đừng, nhà tôi có năm anh em cơ mà."

Cô vẫn tựa đầu trên vai anh, khăng khăng: "Em vẫn cứ muốn đan cho anh một đôi giày."

Anh đáp: "Đừng mà. Nhà tôi có năm anh em."

Cô tựa đầu vào vai anh nghỉ ngơi giây lát, ngước nhìn ánh trăng xa xôi, cất lời: "Gia Xương, anh còn nhớ những khung cảnh hồi học tiểu học không?"

Anh đáp: "Chẳng nhớ nổi nữa."

Cô thắc mắc: "Sao lại không nhớ nổi cơ chứ? Thế rốt cuộc anh còn nhớ được những gì nào?"

Anh đáp: "Tôi á? Nhớ..."

Cô giục: "Chính là anh đấy, thử nghĩ xem nào."

Anh ngẫm nghĩ một hồi, cất lời: "Thứ mà tôi vẫn còn nhớ được, chính là bài văn hồi lớp một..."

Cô kinh ngạc thốt lên: "Thật á, bài nào cơ?"

Anh đáp: "Chính là bài đầu tiên."

Cô bảo: "Ái chà, anh thật sự nhớ được cơ à? Em quên bẵng đi từ lâu rồi. Đọc thử xem nào, nội dung ra sao thế?"

Anh đọc: "Người, một con người; tay, hai bàn tay."

Cô mỉm cười, bảo: "Trí nhớ của anh tốt thật đấy. Chỉ có mỗi thế này thôi á?"

Anh đáp: "Chỉ có thế thôi." Nói đoạn, anh đọc lại một lượt nữa: "Bài đầu tiên: Người, một con người; tay, hai bàn tay."

Cô bảo: "Anh này, anh này, ngoài cái đó ra còn nhớ được gì nữa không? Ví dụ như, em..."

Đột nhiên, anh đứng phắt dậy. Chẳng hiểu vì lý do gì, trong người anh bỗng trào lên một luồng khí thế, luồng khí ấy thậm chí còn khiến anh có cảm giác như đang du ngoạn bốn phương trời! Đứng giữa khu rừng rậm, anh một cách vô cùng đột ngột, hiên ngang cất cao giọng đọc vang lên:

"Người, một con người; tay, hai bàn tay!"

Cô thẹn thùng cất lời: "Trí nhớ của anh tốt thật đấy!"

Thế nhưng anh thừa biết rằng, đây chẳng phải là do trí nhớ tốt, hoàn toàn không phải. Chẳng có liên quan gì đến năng lực ghi nhớ cả. Tám chữ này ẩn chứa một thứ gì đó, một thứ khiến dòng máu trong người anh sục sôi nóng rẫy!

... Sau đó, khi hai người rời khỏi khu rừng ấy, Phùng Gia Xương bỗng cảm thấy có chút sợ hãi hồn vía. Anh thầm nghĩ trong bụng, sao mày lại dám làm thế chứ? Sao mày lại dám gan lợn thế cơ chứ? Cô ấy dẫu sao cũng là con gái của nhà bí thư Quốc Đậu cơ mà!

Phải rồi, dẫu cho mọi thứ vẫn còn ngơ ngác hồ đồ, thế nhưng một khi đã có lần đầu tiên này rồi, thì khó lòng mà tránh khỏi lần thứ hai. Sự tưởng tượng vẩn vơ cứ ấp ủ sâu kín trong lòng, tựa như một quả bom chực chờ phát nổ bất cứ lúc nào, lúc nào cũng xì xèo bốc khói nghi ngút! Sợ thì vẫn sợ, thế nhưng lại chẳng tài nào kìm chế được khao khát, hệt như chiếc cưa đã ăn sâu vào da thịt, cưa một nhát thì đau, mà cưa hai nhát cũng đau thấu trời xanh, thứ cảm giác "đau đớn" ấy mới tuyệt diệu và hạnh phúc làm sao!

Huống chi, còn có lão Ngũ thèm rỏ dãi. Hắn nếm được chút ngọt ngào, liền thường xuyên xỏ đôi giày vải Giải Phóng rách đứng ở đầu làng, hễ nhìn thấy Lưu Hán Hương là lại sà sát lại gần nói: "Hán Hương tỷ, có 'tiểu thư' không? 'Tiểu thư', để em đưa. Em đi đưa cho chị."

Khuôn mặt Lưu Hán Hương "phụt" một cái đỏ bừng lên... Đương nhiên, có kẹo.

Quả hồng ngâm giấu trong đống rơm

Cuối cùng vẫn "nổ tung".

Đống rơm, chính là đống rơm cao ngất ấy. Nó vừa là tổ ấm nhỏ của tình yêu, cũng vừa là nấm mồ của tình yêu.

Đúng vậy, khi hắn bị dây thừng treo ngược lên, hắn mới thấy hối hận đôi chút, nhưng hối hận thì đã muộn.

Lão Ngũ, chính là lão Ngũ tham ăn kia, suốt ngày đóng vai trò "đồng phạm" của bọn họ. Hắn đóng vai trò xâu kim dẫn tuyến lại còn thêm dầu vào lửa, quyền lợi chẳng qua chỉ là một viên kẹo. Lão Ngũ này, sự nhiệt tình của hắn là có "hứa hẹn đồ ngọt". Năm đó, hắn mới bảy tuổi mà ranh mãnh như khỉ, quả thực là có mặt ở khắp mọi nơi. Chỉ vì viên kẹo ấy, hắn cả gan tày trời, một đứa trẻ con bé xíu mà dám xông thẳng đến nhà bí thư Quốc Đậu! Hắn đứng trước cửa viện nhà Quốc Đậu, lê lết đôi giày vải Giải Phóng rách bươm, nước mũi dãi dề hai hàng, ra điều rụt rè như muỗi kêu: "Có ai ở nhà không?" Không ai đáp lại hắn, có lẽ là không nghe thấy. Thế là, hắn cất cao giọng, dùng giọng điệu của người lớn mà nói: "Có ai ở nhà không?" Ngay lập tức, trong nhà có tiếng người đáp lại: "Ai đấy?" Vừa nói như vậy, Đại Bạch Đào với dáng người đẫy đà, phơi phới từ trong nhà bước ra. Đại Bạch Đào đứng ở trong sân, liếc ra ngoài cửa một cái, lại hỏi: "Ai đấy?" Lúc này, cửa viện nhẹ nhàng phát ra tiếng "ké khẽ", một đứa trẻ thấp bé như chiếc xe kéo chầm chậm áp sát vào. Đại Bạch Đào ngạc nhiên, có chút kinh ngạc nhìn nó. Chưa đợi hỏi câu nào, lão Ngũ đã cất tiếng gọi, nó chẳng biết phải xưng hô thế nào, nhưng nó rất ranh mãnh, thấy cô ta trắng trẻo lại đẫy đà, liền gọi: "Bạch cữu mẫu..." Đại Bạch Đào nghe xong liền phì cười, nói: "Đứa nhỏ này." Lão Ngũ nói: "Bạch cữu mẫu, có người tìm Hán Hương tỷ." Đại Bạch Đào khựng lại một chút, hết sức cảnh giác hỏi: "Ai tìm con bé Hán Hương nhà tao?" Lão Ngũ bắt đầu nói dối, lão Ngũ nói: "Một người qua đường." Đại Bạch Đào nói: "Người qua đường ư?!" Lão Ngũ chậm chạp nói: "Một người qua đường, cưỡi chiếc xe đạp "dương xa" mới tinh, cái chuông kêu to lắm..." Đại Bạch Đào nói: "Người qua đường ư? Nó tìm con bé Hán Hương nhà tao làm gì?" Lão Ngũ nói: "Một người qua đường, cưỡi chiếc xe đạp "dương xa" mới tinh, cái chuông kêu to lắm cơ. Nó bảo, bảo em nhắn lại với Hán Hương tỷ vài lời..." Đại Bạch Đào lại một lần nữa kinh ngạc nói: "Mày ư? Nhắn lời gì?!" Lão Ngũ liền nói: "Bảo chị ấy đến trường học họp cái gì ấy mà..." Lúc này, Đại Bạch Đào mới "ồ" lên một tiếng, dĩ nhiên cô ta biết rõ, vào thời điểm đó, chỉ có cán bộ trên huyện, hoặc người nào đó ở trường trung học thị trấn mới có xe "dương xa" mới tinh để cưỡi. Đại Bạch Đào cuối cùng cũng tin, cô ta nói: "Con bé Hán Hương nhà tao không có nhà, Hán Hương đến trường học đầu đông đẩy xe rồi." Lúc này, lão Ngũ tỏ vẻ vô cùng thất vọng nói: "Thế thì, Bạch cữu mẫu, em đi đây."

Lão Ngũ không được ăn kẹo, vẫn chưa chịu bỏ cuộc. Thế là, hắn "lê, lê, lê" lại chạy đến trường tiểu học ở đầu đông thôn. Ở trường học, cuối cùng hắn cũng dò la rõ ràng tung tích của Lưu Hán Hương, hóa ra Lưu Hán Hương đã vào thành rồi. Cô mượn chiếc xe đạp của hiệu trưởng trường tiểu học, đi vào huyện thành mua vải.

Đến chạng vạng tối, lão Ngũ tham ăn cuối cùng cũng đợi được Lưu Hán Hương quay về. Hắn đứng ở đầu làng, giống như một con "cò cổ dài", ngẩng đầu đăm đăm nhìn con đường đất dẫn vào huyện thành. Trong ánh chiều tà ở đầu làng, khuôn mặt Lưu Hán Hương bỗng chốc đỏ bừng, cô nhảy xuống xe, hỏi: "Nại Đản, mày làm gì thế?"

Lão Ngũ mặt dày mày mạnh, nói: "Đợi chị đấy."

Lưu Hán Hương móc từ trong túi ra một gói kẹo, cười nói: "Cho em này."

Lão Ngũ nhận lấy kẹo nhưng không chịu đi, nhỏ giọng nói: "Hán Hương tỷ, trong đống rơm có quả hồng ngâm đấy."

Lưu Hán Hương nói: "Hồng ngâm á?"

Lão Ngũ đắc ý nói: "Hồng ngâm đấy. Em giấu ở trong đó."

Lưu Hán Hương không hiểu, cô chỉ "ồ" lên một tiếng.

Lão Ngũ nói tiếp: "Anh em bảo em nói với chị, trong đống rơm có quả hồng ngâm."

Lưu Hán Hương nói: "Là anh em bảo thế à?"

Lão Ngũ liền tiếp tục bịa chuyện nói: "Anh em bảo, trời tối rồi, trong đống rơm có quả hồng ngâm."

Lưu Hán Hương lại "ồ" một tiếng, nói: "Chị biết rồi."

Lão Ngũ ra điều người lớn dặn dò: "Còn 'tiểu thư' thì sao? Chị viết một tờ giấy đi."

Lưu Hán Hương đỏ bừng mặt nói: "Không cần viết đâu, chị biết rồi."

Lão Ngũ không chịu đi, lão Ngũ bướng bỉnh nói: "Chị viết một tờ đi, anh em muốn xem tờ giấy của chị cơ."

Lưu Hán Hương chần chừ giây lát, sau đó, cô lấy bút từ trong túi áo ra, lúc ấy cũng chẳng tìm đâu ra giấy, trong lúc hoảng hốt, dứt khoát viết thẳng lên lòng bàn tay lão Ngũ hai chữ: Đống rơm.

Cứ như vậy, sau khi trời tối, hắn bước từng bước hướng về cái "cạm bẫy" do một tay lão Ngũ đạo diễn...

Trên bãi phơi lúa mùa thu, chất cao một đống rơm hình chữ nhật. Ngay trong đống rơm ấy, ẩn giấu một lối đi nhỏ vừa vặn một người lách mình chui qua. Lối đi đó là do một mình lão Ngũ lén đào, dài khoảng bốn, năm mét. Ở tận cùng lối đi là một cái ổ nhỏ được lót cỏ lúa mạch, có thể chứa vừa hai người. Phía trên cái ổ nhỏ ấy có một cái hốc nhỏ vừa tầm tay với, đây chính là nơi lão Ngũ cất giấu bí mật. Chính trong cái hốc nhỏ này, giấu tám quả hồng đã ngâm mềm.

Đó là một đêm không có ngôn từ. Trong đống rơm, khi ánh mắt của hắn và cô chạm vào nhau, bên ngoài đống rơm trăng thanh gió mát, còn bên trong đống rơm lại tối đen như mực, nóng rực rỡ... Không còn lời nào nữa, đến một chữ cũng không có. Cả hai chốc lát đều mất hết phương hướng, chỉ cảm thấy mồ hôi tuôn rơi như mưa, trên người như có vô vàn con giun nước đang nguầy nguậy bò qua. Cái miệng ấy, đôi tay ấy, cái lưỡi ấy, bận rộn đến mức rối tinh rối mù! Mọi bộ phận trên cơ thể đồng loạt reo hò, giống như một đội bóng hỗn loạn trận địa, quân, sư, lữ, đoàn đều mò nhầm hướng, chỉ biết trào dâng, xông pha, nhấp nhô, nhảy múa một cách vô trật tự trong bóng tối! Trong sự ẩm ướt của mồ hôi, hương thơm thanh khiết của cỏ rơm quyện lẫn với mùi hương tanh nồng của tuổi trẻ, đã khuấy trộn cái ổ nhỏ bé ấy thành một nồi cơm thịt! Sự hạnh phúc ấy hòa lẫn trong mùi tanh nồng, hòa lẫn trong một mảng hành động bồng bột mơ hồ, hòa lẫn trong một chút hoảng sợ bất an đầy liều lĩnh. Sự hạnh phúc ấy mới ẩm ướt làm sao, mới... mới "ướt át" làm sao, cứ chạm vào là lại "ướt át", thứ "ướt át" làm bằng nước! Phát điên lên mất, vào những khoảnh khắc thế này, con người rất dễ phát điên, người ta nói phát điên là phát điên ngay! Một khi con người đã trốn đi, thì hai người chính là một cối xay, một chiếc cối xay hoàn chỉnh, một nam một nữ có thể xay ra cả thế giới... Mặc kệ trời Nam đất Bắc, mặc kệ thần thánh ma quỷ, mặc kệ đậu trắng đậu đen đậu vàng đậu xanh hay đậu Quốc Đậu, chết quách đi cho rồi, có chết cũng đáng!

...Lách tách, đột nhiên có một tia sáng chiếu vào!

Ánh sáng ấy hắt vào từ cửa lối đi, rõ ràng là có ai đó đã dời bó cỏ chặn ở miệng đống rơm ra. Trong chớp mắt, Gia Xương đờ người ra. Cái lạnh từ trong tim bỗng chốc dâng trào, thoắt cái đã lan đến tận ngọn tóc, tóc hắn dựng ngược cả lên, mồ hôi trên người rút sạch, người ta dọa sợ đến mức cứng đờ như một khúc gỗ... Chỉ nghe thấy bên ngoài có tiếng ai đó đang gọi, đó là giọng của Đồng Chùy: "Ra đây đi, treo mày nửa ngày rồi!"

Lúc này, hắn mới nhìn thấy những quả hồng ngâm giấu trong hốc nhỏ, đó là tám quả hồng đã ngâm mềm! Trong bóng tối, những quả hồng đỏ rực, giống như một cụm ma trơi hút hồn!

Tất cả đã quá muộn rồi. Khi Phùng Gia Xương bước ra từ đống rơm, đến ánh trăng cũng trở thành kẻ thù của hắn. Đó là một đêm thu đượm sương giá, bãi phơi lạnh ngắt, ánh trăng lạnh ngắt, lòng người cũng lạnh ngắt. Dưới ánh trăng, hắn đã chẳng còn nơi để trốn! Quốc Đậu khoác áo ngoài đứng sững ở đó, đứng sau lưng hắn ta, là mấy gã dân binh nòng cốt trong thôn!

Bí thư Lưu Quốc Đậu hình như tức điên lên rồi, hắn ta không ngờ "cóc ghẻ lại dám ăn thịt thiên nga"! Những vết rỗ trên mặt hắn ta nổ tung từng cái một, giống như một miếng vỏ lựu bị lật ngược lại rồi nướng cháy, lại giống như một khối sắt đen bị đạn chim bắn hoa cả lên. Hắn ta đứng sững ở đó, nghiến răng ken két, hồi lâu sau, mới nuốt một ngụm nước bọt, rít qua kẽ răng hai cái tên: "—— Trói cổ nó lại!"

Đó là khoảnh khắc tàn nhẫn nhất, những gã dân binh nòng cốt ấy, những tên đầu bò đầu bướu tuổi đôi mươi ấy, những kẻ bình thường vẫn lén lút "thèm thuồng" Lưu Hán Hương không biết bao nhiêu lần ấy, từng tên một đều dồn hết sự căm hận lên người hắn. Bọn chúng cho rằng đây là "bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu", hắn đúng là cái thứ "cứt trâu" vô tích sự! Thế là, kẻ túm tóc, người ngáng chân, kẻ đánh lén đấm trúng tim đen, từng tên một ra tay vô cùng tàn nhẫn! Khi vặn tay, giống như bẻ bắp ngô ngoài đồng ruộng —— kêu rắc rắc! Chẳng mấy chốc, hắn đã bị trói thành một chiếc bánh ú thịt do người ta làm ra!

Lúc này, kẻ chỉ điểm Đồng Chùy, tên Đồng Chùy mập mạp như cái cối đá, nhe cái răng cửa hô ra, liên tiếp nhổ ba bãi nước bọt vào mặt hắn: "Phì! Phì! —— Phì!" Hắn ta nói: "Đồ chó đẻ, mày cũng gan thật đấy chứ? Mày cũng đáng lắm chắc?!"

Sau đó nữa, hắn bị treo lên cây du già ở mé bãi. Lúc này, hắn đã biến thành một cái "xích đu sống". Những tên "nòng cốt" ấy lần lượt thay phiên nhau "đu" lên để lắc lư hắn! Khoảnh khắc này, bọn chúng mới dũng cảm làm sao chứ! Từng tên xông lên như hổ đói sói dữ, túm tóc hắn, giẫm lên bụng hắn, bóp nát xương cốt hắn, hết lần này đến lần khác lao lên rồi đu văng ra ngoài, rồi lại xiêu xiêu vẹo vẹo "đu" trở lại... Hắn giống như một con quay xoay tít giữa không trung, hết lần này đến lần khác đâm sầm vào thân cây!

Thế nhưng, hắn không thấy đau đớn lắm, hắn đã tê dại đến mức chẳng còn cảm giác đau đớn nữa. Hắn chỉ cảm thấy nhục nhã, cảm thấy không còn mặt mũi nào để gặp ai, ở cái làng này, hắn còn mặt mũi nào để gặp ai nữa cơ chứ?!

Chốc lát sau, cha hắn đã bị người ta gọi tới. Lão cô phụ lướt vào bãi phơi như một chiếc lá rụng. Ông ta run lẩy bẩy đứng trước mặt Quốc Đậu, hoảng sợ nói: "Sao thế hả? Lạy ông trời, đây là thế nào thế này?!"

Lúc này, bí thư Quốc Đậu đã trở nên bình tĩnh lạ thường, hắn ta nói: "Lão cô phụ, đừng có mở miệng ra là nói mình đơn độc một mình nữa, ông đã khi dễ lên đầu lên cổ tôi rồi đấy..."

Lão cô phụ cầu xin: "Quốc Đậu à, đứa nhỏ còn non dại không hiểu chuyện, cậu rộng lượng tha cho nó một lần đi."

Quốc Đậu nói: "Đây là cưỡi lên đầu tôi mà ỉa! Đây là túm lấy lông mày tôi mà giật vòng tròn! Tôi dẫu có mù đi chăng nữa, thì cũng không thể không hỏi cho ra lẽ. Ông bảo phải làm sao đây?"

Lão cô phụ nói: "Quốc Đậu à, không nhìn mặt tăng cũng phải nể mặt Phật. Người chị cả của cậu mất sớm, mấy đứa nhỏ không nên người... Cậu, muốn đánh cứ đánh, muốn mắng cứ mắng..."

Quốc Đậu lắc đầu, nói: "Hống hách quá đáng! Tôi nuốt không trôi cục tức này... Ở cái làng này, không một ai dám đối xử với tôi như thế. Lão cô phụ, trong mắt tôi không dung nổi một hạt cát."

Lão cô phụ ấp úng nói: "Thế cậu bảo... phải làm sao?"

Ngay lập tức, trên mặt Quốc Đậu phủ lên một tầng khí đen! Lần khí đen ấy cuồn cuộn bao trùm lấy khuôn mặt hắn ta, lấp đầy từng chiếc vết rỗ trên mặt. Hồi lâu sau, hắn ta nói: "Tôi cũng không cần gì khác, phế đôi chân của nó —— bảo nó hiên ngang bước ra, thì phải lết thết bò về!"

Lúc này, bãi phơi chìm vào tĩnh lặng. Không ai mở miệng, không ai nói một lời nào. Người cha đứng đó như cái sàng trấu sảy vỏ lúa, chẳng mấy chốc, đôi chân ông quỵ xuống, quỳ rạp ngay trước mặt Quốc Đậu. Ông quỳ ở đó, nói: "Quốc Đậu à, hãy phế tôi đi, là tôi dạy con không tới nơi tới chốn. Đường đời của thằng bé còn dài, xin hãy chừa lại cho nó đôi chân, nó còn phải đi đường nữa."

Quốc Đậu hừ lạnh một tiếng rõ to, đó là một tiếng hừ đầy vẻ khinh miệt khôn cùng. Chính nhờ tiếng "hừ" ấy, mới khiến cho đám "nòng cốt" từng tên một vô cùng phấn khích, rục rịch chực chờ, có kẻ lên tiếng nói: "Cái rìu đâu? Đi lấy rìu mau!"

Khí lạnh ban đêm lan tỏa khắp bãi lúa, cái không khí ban đêm cứ luẩn quẩn ấy ngày một nặng nề hơn. Phùng Gia Xương bị treo trên cây bắt đầu run lẩy bẩy, trái tim hắn đã lạnh giá đến cùng cực, cái sự run rẩy không sao kiểm soát nổi ấy kéo theo cả một chiếc lá rụng "lả tả" rơi xuống!

Cũng chính vào lúc này, Đại Bạch Đào xuất hiện. Cô ta lặng lẽ bước ra từ phía sau đống rơm, nói: "Anh lại đây."

Giọng nói này dĩ nhiên là thứ mà Quốc Đậu vô cùng quen thuộc. Khi những người khác vẫn còn đang ngẩn ngơ, Quốc Đậu đã quay đầu lại, có chút thiếu kiên nhẫn nói: "Làm gì thế?!"

"Anh lại đây." Đại Bạch Đào càng thêm phần thiếu kiên nhẫn, nói xong, cô ta quay người đi thẳng ra phía sau đống rơm.

Quốc Đậu chần chừ một thoáng, cuối cùng, hắn ta chậm chạp, lê lết như chiếc xe kéo, từng bước từng bước đi về phía đống rơm...

Không ai biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì phía sau đống rơm ấy. Lưu Hán Hương cũng mãi không bước ra. Rất lâu, rất lâu sau đó, khi Quốc Đậu một lần nữa loạng choạng bước ra, cái dáng người vạm vỡ của hắn ta vậy mà lại còng xuống, bước chân cũng có phần xiêu vẹo, hắn ta đứng trên bãi phơi xám xịt, ho khan một tiếng đầy vội vã, nói: "Thả nó xuống."

Nửa đêm về sáng, trên bãi phơi chỉ còn lại hai cha con bọn họ. Lúc này, màn đêm được dệt càng thêm dày đặc, đặc quánh đến mức đứng đối diện cũng không nhìn rõ mặt người. Người cha vẫn duy trì tư thế quỳ gối, người cha đã quỳ lâu lắm rồi, cuối cùng, ông đứng dậy, nói một câu. Lời của người cha giống như từ trên trời truyền xuống vậy, người cha nói: "Gia Xương, con đi đi. Càng đi xa càng tốt."

Thế nhưng, hắn biết rõ, hắn dĩ nhiên biết rõ, chính là Lưu Hán Hương đã cứu hắn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lý Bội Phủ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.