Thượng Lưu Nhân Vật

Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Năm Năm Liền Trở Thành "Chiến Sĩ Ngũ Hảo"

❊ ❊ ❊

Cà tím, cà tím!

Nhà lão dượng lại xảy ra chuyện.

Vào lúc mặt trời xế bóng trưa, ba đứa con nhà lão dượng bị người ta dùng dây thừng trói giật cánh oi, xâu thành một chuỗi, giải đến trước cửa đồn công an công xã. Người là do thôn Thiết Lưu gần đó giải đến, lúc ấy đồn công an chưa làm việc, họ liền bị bắt phải ngồi xổm trước cửa. Chủ nhiệm trị an của Thiết Lưu đã vào gặp đồn trưởng từ trước, nói rằng tuy sự việc không lớn nhưng tính chất rất tồi tệ, nếu nói nặng lên thì chính là "tội phá hoại sản xuất". Đồn trưởng chỉ nói một câu: Trói.

Thế là trói.

Chuyện này vốn do lão Ngũ khơi mào. Lão Ngũ nhỏ tuổi nhất, nhưng lão Ngũ đã chuồn mất. Ba đứa còn lại cứ thế bị trói gô trước cửa đồn công an. Nguyên nhân rất cỏn con, trưa hôm đó, sau giờ tan học, lão Ngũ Nại Đản xúi giục: "Bên kia sông có một mảnh vườn." Lão Ba Cẩu Đản nói: "Tầm này rồi, trong vườn rau còn có cái gì?" Lão Ngũ nói: "Có cà tím!" Lão Ba nói: "Chỉ cà tím thôi á?" Lão Ngũ nói: "Sắp hết vụ rồi, chỉ có cà tím thôi. To lắm, ăn một quả là no căng." Lão Tư Qua Đản không muốn đi, lão Tư nói: "Cà tím thì có gì ngon chứ? Chát xít, y như bông gòn." Lão Ngũ liền nói: "Nhìn cái gan của mày kìa! Mày không đi thì thôi. Cà tím ở đó quả nọ nối quả kia, to lắm." Lão Nhị Thiết Đản từ nãy đến giờ không hó hé gì, nhưng trong bụng ai nấy đều đang kêu òng ọc. Lão Ba cũng chẳng thiết tha gì cà tím, liền cằn nhằn: "Bảo mày đi thám thính, mẹ kiếp, mày thám thính cái kiểu gì thế?" Lão Ngũ vô cùng ấm ức, nói: "Tại... tại người ta canh gác ngặt quá." Lúc này, lão Nhị lên tiếng: "Trong vườn có ai không?" Lão Ngũ hớn hở đáp: "Một lão già, bị điếc. Giữa trưa có lúc lão quay về nhà một lát." Lão Ba vẫn lầm bầm: "Mày thám thính cái nỗi gì? Hì hục nửa ngày, hóa ra chỉ có cà tím." Cứ lầm bầm như thế, cuối cùng bọn chúng vẫn đi. Qua khúc uốn của con sông, nằm rạp trên đê quan sát một lúc, thấy không có ai, liền lẻn vào khu vườn của thôn Thiết Lưu. Quả nhiên có cà tím, và quả nhiên rất to... Thế là mỗi đứa hái hai quả. Vì đói nên chúng cắn ngấu nghiến, chẳng mòn ngó ngàng gì đến động tĩnh xung quanh. Lúc ấy, lão Ngũ vừa hay chạy ra dưới mương để tiểu tiện, nghe thấy tiếng hô hoán liền kéo vách quần lên chạy mất hút... Ba đứa còn lại miệng đầy cà tím, cứ thế bị tóm gọn.

Đến lúc này rồi, bọn chúng mới vỡ lẽ, đám cà tím đó không phải loại bình thường, mà là giống cà tím được chủ nhà để dành riêng làm hạt giống cho vụ năm sau! Hạt giống cà tím của cả một thôn mà bị lũ chó chết chúng nó gặm sạch, bảo sao ăn vào lại đặc biệt "xốp", đặc biệt "chát" thế! Thế là, mỗi đứa ăn mấy bạt tai bằng giày vải, rồi bị áp giải thẳng đến công xã.

Lão Ngũ đã chạy thoát, nhưng cậu ta không chạy đi xa mà lẩn trốn loanh quanh để thám thính tình hình. Khi tận mắt chứng kiến ba người anh của mình bị trói gạt đi gửi lên công xã, cậu ta mới hoảng hốt. Thế là cắm cổ chạy thục mạng về nhà tìm người cứu. Nhưng tìm ai bây giờ? Cha không có nhà, cha đã gánh một ít phế liệu đồng sắt vụn ra thị trấn đổi nồi từ đời thuở nào, cũng chẳng biết khi nào mới về. Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ còn cách đi tìm Lưu Hán Hương.

Cũng thật khéo, Lưu Hán Hương lúc ở nhà. Sau khi tốt nghiệp cấp ba, Lưu Hán Hương không được đi học tiếp nữa nên trong lòng vô cùng bức bối. Lẽ ra cô có thể đến thị trấn làm việc, nhưng cô không đi mà tạm thời trốn ở nhà. Khi lão Ngũ tìm đến Lưu Hán Hương, cậu ta "oà" lên khóc nức nở. Thấy lão Ngũ cởi trần, mặt mày dính đầy tro đen mồ hôi nhễ nhại, dòng nước mắt rửa trôi bụi bẩn trên mặt loang lổ như chó đốm, cô vội nói: "Đản nhi, đừng khóc, đừng khóc nữa. Đã xảy ra chuyện gì? Rốt cuộc là chuyện gì thế?"

Lão Ngũ sợ tái mặt, nước mắt nước mũi tòng tòng, chỉ biết khóc...

Lưu Hán Hương ngồi xổm xuống trước mặt cậu ta, lau mặt cho cậu rồi dịu dàng an ủi: "Đản nhi, đừng sợ, rốt cuộc xảy ra chuyện gì rồi? Nói cho chị nghe xem nào."

Lão Ngũ cúi gằm đầu, cái miệng mếu máo, lí nhí đáp: "...Phạm pháp rồi."

Lưu Hán Hương giật mình, vội hỏi: "Ai phạm pháp? Phạm pháp gì cơ?"

Lão Ngũ nói: "Anh em... ba người bọn họ, đều phạm pháp cả rồi, bị người ta trói gông ra công xã rồi."

Lưu Hán Hương lại càng kinh hãi hơn, gặng hỏi: "Sao lại thế? Nói rõ cho tôi nghe xem nào, vì sao chứ?"

Giọng lão Ngũ càng lúc càng nhỏ, lí nhí như tiếng muỗi kêu: "Trộm... trộm cà tím nhà người ta..."

Lưu Hán Hương nói: "Nói lại lần nữa xem nào, trộm cái gì?"

Lão Ngũ đáp: "Cà tím."

Lưu Hán Hương truy vấn: "Chỉ trộm cà tím thôi á?"

Lão Ngũ đáp: "Mỗi cà tím thôi."

Lúc này, Lưu Hán Hương mới thở phào nhẹ nhõm. Cô xoa đầu lão Ngũ, ân hận nói: "Thằng bé này, làm chị giát cả mình! Kể chị nghe xem nào, sao tự dưng lại nghĩ ra chuyện đi trộm cà tím thế?"

Lão Ngũ đáp: "Đói."

Lưu Hán Hương hỏi: "Em, trưa nay đã ăn cơm chưa?"

Lão Ngũ lắc đầu.

Lưu Hán Hương khẽ nhíu mày, trách móc: "Sao lại không nấu cơm?"

Lão Ngũ đáp: "Nồi bị thủng rồi ạ."

Lưu Hán Hương hỏi: "Nồi thủng? Sao nồi lại thủng được?"

Lão Ngũ liền kể tội: "Lão Nhị với lão Ba đánh nhau, hòn gạch bay vào trong..."

Lưu Hán Hương thở dài một tiếng,ập à ập úng hỏi: "Thế... cha em đâu?"

Lão Ngũ đáp: "Vào thành đổi nồi rồi ạ."

Lưu Hán Hương lại thở dài, xoa đầu cậu bé hỏi: "Nói chị nghe, thường xuyên không có cơm ăn à?"

Cái miệng lão Ngũ lại mếu xệch đi, tiếp tục khóc.

Lưu Hán Hương liền bảo: "Đừng sợ, không sao đâu, ổn cả rồi đây. Chị đến công xã ngay đây, dẫn bọn chúng về..." Nói đoạn, Lưu Hán Hương vào nhà lấy cho lão Ngũ một cái bánh ngô ăn lót dạ trước, rồi xoay người đi tìm cha ở trong thôn. Cô biết, quan hệ từ trước đến nay giữa cha cô và đồn trưởng đồn công an vẫn rất tốt.

Tại trụ sở đại đội, Lưu Hán Hương đem chuyện này kể lại cho cha nghe, đoạn nói: "...Chỉ trộm mấy quả cà tím thôi mà, cũng chẳng có gì to tát cả, cha đến đó nói một tiếng, bảo họ thả người về đi." Quốc Đậu liếc nhìn con gái một cái, đối với cô con gái này, ông xưa nay vẫn luôn trăm bề vâng lời, nhưng chuyện này thì ông không muốn nhúng tay vào, ông căm ghét cái ổ "đồ chó hoang" đó! Ông bảo: "Chuyện này tao mặc kệ, ai bảo chúng nó đi trộm cà tím nhà người ta làm gì." Lưu Hán Hương tức giận nói: "Cha là bí thư cơ mà, cha không quản thì ai quản? Mấy đứa nhỏ đều bị trói cả rồi, cha nhẫn tâm đứng nhìn mà mặc kệ được sao?" Quốc Đậu nổi giận, quát: "Nói chuyện với cha kiểu gì thế hả? Theo tao thấy, bị trói không oan chút nào, ai bảo bọn chúng đi trộm đồ nhà người ta!" Lưu Hán Hương đứng ngây ra đó, sốt ruột đến mức nước mắt chực trào, cô nài nỉ: "Cha, con cầu xin cha đấy, cha đi đi." Lúc này, thái độ Quốc Đậu có phần dịu lại, nhưng ông vẫn không muốn đi, miệng lẩm bẩm: "Mày quản làm gì cho mệt. Không phải chỉ mấy quả cà tím thôi sao? Cùng lắm là bị trói một trận, mắng nhiếc vài câu, mặt trời lặn là người ta thả về ngay ấy mà." Lưu Hán Hương trân trân nhìn cha, hỏi: "Cha không đi phỏng?!" Lưu Quốc Đậu hậm hực nói: "Đồ khốn nạn! Nói thật cho mày biết, cả cái nhà đấy chẳng có đứa nào ra hồn cả!..." Nhưng nói xong lại không chịu nổi ánh mắt của con gái, ông đành ngậm ngùi tiếp lời: "Mày không thấy tao đang bận tối tăm mặt mũi đây à? Tao đang bận bận là." Nước mắt trong tròng Lưu Hán Hương "lã chã" tuôn rơi, cô thở dài một tiếng, quả quyết nói: "Cha không đi thì con đi. Cha, con cầu xin cha lần này nữa, cha viết cho con một tờ giấy đi." Lưu Quốc Đậu liếc nhìn con gái, ông thừa biết tính tình con bé này, đúng là cái đồ chín con trâu kéo cũng không lại! Thế là, ông vừa lầm bầm chửi rủa vừa cúi đầu lục lọi trong ngăn kéo, ì à ì ạch lôi ra một tờ giấy, liếm liếm vào đầu lưỡi, xé một mẩu giấy rộng chừng hai ngón tay, vội vàng viết nguệch ngoạc mấy dòng lên đó, đoạn tỏ vẻ vô cùng miễn cưỡng ném lại một câu: "Đưa cho lão Hồ."

Lưu Hán Hương cầm tờ giấy, tiện thể mượn thêm một chiếc xe đạp, đèo theo lão Ngũ phóng thẳng đến công xã. Dọc đường, lão Ngũ vòng tay ôm lấy eo Lưu Hán Hương, thì thầm: "Hán Hương tỷ, chị còn thân hơn cả mẹ sinh ra ấy chứ." Lưu Hán Hương nghe vậy thấy nhói ở lồng ngực, mắng yêu: "Thằng bé này, chỉ khéo nói nhảm."

Vừa bước vào sân công xã, đã thấy ba đứa Đản nhi đang bị treo lơ lửng dưới gốc cây, trên cổ còn đeo quả cà tím bị cắn dở. Lão Nhị thì hãy còn đỡ, mắt đỏ ngầu nhưng cuối cùng vẫn chưa khóc. Còn lão Ba, lão Tư thì đứa nào đứa nấy sợ cắt không còn giọt máu, nước mắt đầm đìa, liên tục quỳ lạy van xin: "Tha cho chúng con đi. Các bác các đại gia ơi, tha cho chúng con đi..." Lúc ấy, tấm biển ghi tội danh cũng đã được viết xong xuôi, dựng hờ dựa vào gốc cây, với dòng chữ "Tên phá hoại sản xuất", chỉ chực chờ treo lên cổ bắt bọn chúng đi diễu phố! Lưu Hán Hương hoảng hốt phanh gấp xe lại, ba chân bốn cẳng lao lên trước, chặn người của Thiết Lưu lại và nói: "Đợi tôi một lát!" Nói xong, cô sải bước xách gót tiến thẳng vào văn phòng đồn trưởng.

Đồn trưởng lão Hồ đang ngả ngớn tựa lưng vào chiếc ghế mây cũ rách. Hắn ta mặt vuông vức, râu ria xồm xoàm, người béo mập, mồ hôi nhễ nhại nên phanh phác ngực áo ra, ưỡn người ra một cách sảng khoái. Trưa nay vừa mới nốc ngụm rượu nhỏ nên lúc này vẫn còn đang chếnh choáng hơi men, hắn vừa pha một ấm trà đậm giải rượu, húp sùm sụp tận hưởng. Thấy Lưu Hán Hương bước vào, hắn vội vàng hạ hai chân khỏi mặt bàn, cười hề hề nói: "Ôi chao, đúng là phúc từ trên trời rơi xuống. Đại chất nữ, cơn gió nào đưa cháu đến đây thế này?! Ngồi đi, ngồi đi." Lưu Hán Hương đặt tờ giấy có chữ viết tay lên trước mặt đồn trưởng, nói: "Hồ thúc, chú cũng không thèm về nhà à? Cha cháu bảo cháu đến dẫn người về đây." Hồ đồn trưởng đặt cái ca uống nước to tướng xuống bàn, liếc qua tờ giấy một cái chứ không thèm cầm lên xem, cười cợt: "Bận lắm cháu ạ, đầu tắt mặt tối suốt ngày. Cháu đến là được rồi, còn cần cái mảnh giấy này làm gì nữa? Dẫn người? Dẫn ai cơ?" Lưu Hán Hương chỉ tay ra ngoài cửa: "Mấy đứa nhỏ ở thôn cháu..." Hồ đồn trưởng khựng lại một nhịp, nói: "Cháu đến muộn một bước mất rồi, người ta xử lý xong xuôi hết cả rồi còn đâu." Lưu Hán Hương nôn nóng hỏi: "Xử lý thế nào ạ?" Hồ đồn trưởng ra vẻ cực kỳ nghiêm trọng, đáp: "Chuyện này lớn nhỏ gì cũng có, nói nặng ra thì chính là phá hoại sản xuất, là phạm pháp đấy! Còn nói nhẹ ấy à, mấy đứa nhãi ranh ranh trộm hạt giống cà tím, tao cho trói gông lại, đem ra ngoài phố diễu một vòng là xong chuyện!" Lưu Hán Hương vội vã nài nỉ: "Hồ thúc, chú thả bọn nó ra đi, đừng bắt diễu phố nữa. Đều là trẻ con cả mà, đem ra diễu phố rồi sau này còn dám gặp ai nữa chứ?!" Hồ đồn trưởng chép chép miệng, có vẻ hơi khó xử, đáp: "Cái... cái này, sao không đến sớm hơn chút chứ? Xử lý xong hết cả rồi còn gì..." Lưu Hán Hương van xin: "Hồ thúc, lão Hồ thúc ơi, chú lên tiếng một câu đi, đừng bắt bọn chúng diễu phố nữa. Nhất định đấy nhé!..."

Đúng lúc này, chỉ nghe "rầm" một tiếng, có tiếng người hô lớn ngoài sân: "Đồn trưởng, tìm được chiêng rồi! Đi thôi chứ?"

Lưu Hán Hương trân trân nhìn đồn trưởng, nói: "Hồ thúc, không phải chỉ mấy quả cà tím thôi sao, cho dù là hạt giống cà tím đi nữa thì đáng là bao nhiêu tiền chứ? Nếu thiếu hạt giống cà tím, con đi tìm đền cho họ, thế đã được chưa hả?!" Hồ đồn trưởng do dự chần chừ một lát, quay đầu quát lớn ra cửa: "Vội cái gì chứ? Chờ một lát đã!" Ngay sau đó, hắn ngẩn ngơ ngắm nhìn Lưu Hán Hương. Một thiếu nữ trạc tuổi này, nét tươi trẻ quả thực khiến người ta say đắm. Hơn nữa, Lưu Hán Hương cứ liên tục nài nỉ: "Hồ thúc, chú thả người ra đi mà?..." Hồ đồn trưởng lại chép chép miệng, thò tay móc trong túi ra một điếu thuốc châm lửa hút, chớp chớp mắt rồi lại nhắm nghiền lại, cuối cùng đành thở dài: "Cha cháu đã viết giấy rồi, đại chất nữ cháu lại tự thân chạy đến nữa. Người, tao thả." Lưu Hán Hương lập tức đáp: "Cảm ơn Hồ thúc!" Nhưng Hồ đồn trưởng lại tiếp lời: "Có chuyện này, cha cháu đã nói với cháu chưa?" Lưu Hán Hương ngẩn ra hỏi: "Chuyện gì ạ?" Hồ đồn trưởng đáp: "Úc thúc của cháu làm mai cho cháu một đám, là Cổ sự vụ viên trên huyện đấy, thấy thế nào?" Mặt Lưu Hán Hương đỏ bừng lên, đỏ thấu tận chân tơ kẽ tóc, cô khựng lại một lúc rồi đáp: "Cháu vẫn chưa muốn tính chuyện này bây giờ, để thưa hãy hay ạ." Lão Hồ cười bảo: "Đại chất nữ à, người ta đúng là một người tốt hiếm có đấy! Tốt đến mức trăm phần trăm luôn ấy chứ! Biết đâu ngày nào đó lại được cất nhắc lên làm phó cục trưởng cũng nên." Lưu Hán Hương cười gượng đáp: "Chú xem, cháu có bảo chú ấy là người xấu đâu..." Lão Hồ liền nói: "Thế thì tốt, cháu về nhà bàn bạc kỹ càng với gia đình đi, bàn xong thì cho chú một câu trả lời chắc chắn nhé, chú còn đang chờ uống chén rượu mừng này đấy." Lưu Hán Hương đỏ mặt cười trừ, không nói thêm gì nữa. Đang lúc phải cúi đầu nhờ vả người ta, cô còn có thể nói gì được chứ?

Cuối cùng, Hồ đồn trưởng lững thững bước ra khỏi phòng, nói với người của Thiết Lưu: "Thả người đi." Chủ nhiệm trị an của Thiết Lưu là một kẻ vóc dáng cao lớn, mũi cà chua, hắn đang hớn hở cầm chiếc chiêng trên tay bỗng ngẩn tò te. Hắn trân trân nhìn đồn trưởng, lắp bắp: "Lão Hồ, mẹ kiếp, không phải bàn tính dau rồi cơ mà?" Lão Hồ quát: "Cà tím cái con mẹ gì! Tao bảo thả là thả! Mẹ kiếp, nói đi nói lại chẳng phải chỉ mấy quả cà tím thôi sao? Trói cũng trói rồi, gông cũng gông rồi, mày còn muốn thế nào nữa?!" Chủ nhiệm trị an Thiết Lưu không phục, liếc xéo ra sau lưng đồn trưởng, cự nãi: "...Đó không phải cà tím thường, đó là hạt giống cà tím, là hạt giống đấy! Chính mỏ ông cũng bảo đây là hành vi phá hoại cơ mà!" Đồn trưởng quát lớn một tiếng: "Nhìn cái gì mà nhìn? Đó là đại chất nữ của tao! Tao nói không tính chắc? Thả người mau!..." Lúc này, Lưu Hán Hương vội vàng tiếp lời: "Em đúng là người đứng ra gánh vác đây. Các anh cần hạt giống cà tím, em đền cho các anh là được chứ gì. Cần bao nhiêu, em đền bấy nhiêu, bảo đảm không làm lỡ việc gieo trồng năm tới của các anh." Chủ nhiệm trị an Thiết Lưu "ồ" lên liên tiếp mấy tiếng, từ đó không dám h hoe câu nào nữa.

Lưu Hán Hương bước lên trước, lần lượt cởi trói cho đám Đản nhi. Nhìn lại cổ tay nhỏ xíu của bọn chúng, chỗ nào cũng hằn lên những vết siết bằng dây thừng tím ngắt! Cởi trói xong, cô hạ giọng dặn dò: "Đi thôi, đi mau lên." Đợi khi đám Đản nhi cúi gằm mặt lủi thủi đi ra ngoài, Lưu Hán Hương lúc này mới quay người lại, cúi đầu cảm ơn đồn trưởng thêm lần nữa. Hồ đồn trưởng cười ha hả: "Về nhà bảo cha mày đánh cho chúng nó một trận nên thân vào! Đồ chó chết, chỉ toàn làm chuyện ruồi bu!" Tiếp đó, hắn lại dặn với theo: "Đại chất nữ, chuyện tao vừa nói, cháu nhớ kỹ đấy nhé?!"

Bọn trẻ có lẽ đã bị dọa cho sợ đến mất vía, vừa bước ra khỏi cổng công xã, đứa nào đứa nấy cắm cổ chạy như thỏ đế... Lưu Hán Hương phải rồ ga đuổi theo suốt nửa con phố mới bắt kịp chúng. Cô quát lớn: "Tất cả đứng lại cho tôi!" Đám Đản nhi lúc này mới chịu dừng chân, đứa nào đứa nấy thở hồng hộc, mặt cắt không còn giọt máu. Lưu Hán Hương bẻ lái xe, bảo: "Đi theo tôi." Thế là chúng răm rắp vâng lời đi theo sau cô. Vừa đi, Lưu Hán Hương vừa dịu dàng khuyên nhủ: "Nghe đây, sau này tuyệt đối không được làm thế nữa, xấu hổ lắm biết chưa!..." Đuối lý nên đám trẻ đều ngoan ngoãn vâng dạ lắng nghe. Quẹo qua một góc phố, đến trước một quán ăn nhỏ ven đường, cô chống chân xe, nói: "Đến rồi, vào đây nào." Nói đoạn, cô thò tay móc túi lấy tiền, gọi cho bốn đứa Đản nhi mỗi đứa một bát canh cay và một xửng bánh bao lá sen, rồi lần lượt bưng ra đặt lên chiếc bàn gỗ sát ven đường, đoạn cất lời: "Ăn đi."

Bọn nhỏ thoạt đầu chỉ đứng ngây ra đó, trong mắt thèm thuồng nhưng trong lòng vẫn còn nơm nớp sợ hãi, chẳng đứa nào dám ngồi xuống ghế. Cuối cùng, vẫn là lão Ngũ háu ăn nhanh chân xí chỗ ngồi xuống trước, lúc bấy giờ bọn chúng mới lần lượt ngồi theo. Lúc đầu còn hơi ngượng ngùng lúng túng, nhưng khi đã cầm được đũa trên tay, chúng liền cắm cúi húp sùm sụp, ăn ngấu nghiến như hổ đói! Lưu Hán Hương nhìn bọn chúng, sợ các cậu nhóc ngại ngùng nên lên tiếng: "Các em cứ từ từ ăn nhé, chị đi trước đây."

Nào ngờ, Lưu Hán Hương vừa định quay bước đi, lão Ngũ đã ngoảnh phắt lại, tha thiết gọi với theo: "Chị ơi, Hán Hương tỷ! Chị... chị đừng đi..."

Lưu Hán Hương quay đầu lại, ngạc nhiên hỏi: "Sao thế? Tiền chị trả rồi mà. Ăn đi, các em cứ thong thả mà ăn."

Lão Ngũ đặt đũa xuống, lon ton chạy sà tới như một tên trộm nhỏ tuổi, đôi mắt long lanh ngước lên nhìn cô van nài: "Chị ơi, chị có thể... ở lại muộn một chút... lỡ lát nữa lại chạm mặt người Thiết Lưu..."

Lưu Hán Hương lúc này mới vỡ lẽ, cô phì cười: "Họ dám chắc không?! Cứ yên tâm mà ăn đi. Chị không đi đâu, chị đứng đây canh chừng cho."

Hoàng hôn buông xuống, ánh tà dương xiên xiên chiếu rọi xuống con phố nhỏ của trấn, nhuộm lên một màu cam rực rỡ. Phía chân trời, ráng chiều phía tây từng mảng từng mảng đẩy dần vầng thái dương đỏ rực đang lặn khuất. Lưu Hán Hương lặng lẽ đứng đó, toàn thân ngập tràn trong ánh hào quang vàng óng ánh. Đám trẻ vừa ăn vừa ngước nhìn cô, ngắm nhìn một hồi mà nước mắt tự lúc nào đã chực trào rơi, mặn đắng hòa lẫn vào từng ngụm canh cay nuốt nghẹn ngào... Phải rồi, vào khoảnh khắc này, trong mắt đám trẻ, cô tựa như một bức tranh, một bức tranh tuyệt mỹ mang đậm tình mẫu tử!

Lưu Hán Hương dường như cũng đang miên man suy nghĩ điều gì, khóe môi khẽ vương một nụ cười mờ nhạt. Ánh mắt cô đăm đăm, ngẩn ngơ, tâm trí bay bổng giữa tầng ráng chiều hoàng hôn, phiêu diêu trôi dạt đến tận chốn xa xôi nào...

Tuyên ngôn của người phụ nữ

Đó là một buổi sáng "gà mái gáy".

Con gà mái nhà Quý Điền bị "ấp bóng", suốt ngày cứ "cục cục cục" kêu la oai oái. "Ấp bóng" là tiếng địa phương, ý chỉ gà mái không đẻ trứng nữa, sinh ra chứng bệnh tâm lý, mở miệng ra là học theo tiếng gà trống, lại cứ nằng nặc đòi làm ổ, chắc đó là câu chuyện tình yêu của loài gà. Nhưng người nhà Quý Điền nào quan tâm mấy chuyện đó, họ chỉ hận nó không chịu đẻ trứng nên cầm gậy đuổi đánh khắp sân. Đến khi tóm được cánh gà, vừa đánh mắng: "Đồ đĩ thõa, tao cho mày cái thói đĩ thõa này!" vừa xách nó ra mé sông, ném tõm xuống nước để ngâm! Nghe đồn, đem ném xuống nước ngâm cho một trận thì con gà sẽ "từ bỏ thói hư tật xấu". Thế là sáng hôm đó, dọc mé sông đâu đâu cũng vẳng lên tiếng kêu "cục cục cục cục" đầy thảm thiết!

Chính vào một buổi sáng như thế, Lưu Hán Hương vắt chiếc tay nải nhỏ trên vai, bước qua con đường làng dài dằng dặc, một bước tiến thẳng vào cái khoảng sân tồi tàn ấy. Lúc bấy giờ, con đường làng vô cùng vắng vẻ, thưa thớt người qua lại. Dưới bóng cây hòe, chỉ có một lão phụ nữ đang cặm cụi đẩy cối xay. Ả đàn bà già này là vợ kế của Trưởng Minh thọt, vốn là kẻ nhiều chuyện lém lỉnh, có biệt danh là "Loa phát thanh". Mụ ta khom cái chân cong vòng, thân hình chúi về phía trước, lê bước vòng tròn quanh cối xay. Vừa đẩy cối tới trước, bỗng nhiên trước mắt lóe lên một cái! Trong lòng mụ ta thầm nghĩ, đó chẳng phải là con bé Hán Hương đấy ư? Sao nó lại... mà sao cơ chứ, mụ ta nhất thời cũng không tài nào diễn tả nổi, chỉ thấy có gì đó vô cùng bất thường. Sau này, mụ ta vỗ đùi đen đét kể với người ta rằng, nó đã cắt phăng mái tóc dài rồi, cắt trụi cả bím tóc đi rồi còn đâu!

Khi Lưu Hán Hương bước vào sân, đám "Đản nhi" nhà lão dượng đang mỗi đứa ôm một cái bát tô sành húp cháo loãng sùm sụp. Đột ngột thay, âm thanh húp cháo "rột rột" ấy chợt khựng lại, từng đôi mắt tròn xoe ngơ ngác ngước lên khỏi vành bát, trân trân nhìn cô chằm chằm. Chỉ có mỗi lão Ngũ là lanh lợi hơn cả, cái đồ chó chết này vừa đẩy mạnh bát cơm ra, mừng rỡ ré lên: "Hán Hương tỷ!"

Lưu Hán Hương đứng giữa sân, mặt thoạt đầu đỏ bừng lên, đỏ rực một cách triệt để từ trong ra ngoài. Kế đó, cô ngẩng đầu lên, nhìn đám Đản nhi, ngưng lại một nhịp rồi hít sâu một hơi, cất giọng trầm thấp nhưng vô cùng rõ ràng để đính chính: "— Gọi là thím."

Mắt đám trẻ bỗng chốc sáng rực lên, niềm vui bất ngờ ập đến như bầy chim vỡ tổ, tung bay khắp bốn phía! Từng chiếc bát tô sành rơi leng keng xuống đất, đôi tay ngỡ ngàng chẳng biết đặt vào đâu cho phải chỗ, chúng cứ ngây người ra mà cười ngớ ngẩn. Vẫn là lão Ngũ Nại Đản nhanh miệng cất lời trước: "Thím, thím ơi!"

Khi ánh mắt Lưu Hán Hương quét qua, lão Ba Cẩu Đản liếm liếm môi, lí nhí: "Thím."

Lão Tư Qua Đản tự dưng đỏ mặt tía tai trước, ngượng ngùng cất giọng nhỏ xíu: "Thím."

Lão Nhị Thiết Đản cúi gằm mặt xuống tận ngực, ậm ừ phát ra một tiếng...

Lúc này, Lưu Hán Hương khẽ xua tay, gọi: "Nại Đản, lại đây nào."

Lão Ngũ mừng rỡ cuống cuồng chạy tót đến trước mặt Lưu Hán Hương. Cô trìu mến xoa đầu cậu bé, đoạn ngồi xổm xuống, tháo chiếc tay nải mang theo bên người ra, lần lượt lôi từng đôi từng đôi giày từ trong ra ngoài. Tổng cộng cô lấy ra năm đôi giày vải mặt đen đế trắng. Cô xỏ đôi nhỏ nhất vào chân Nại Đản, hỏi: "Đệ, có vừa chân không?" Nại Đản lè lưỡi, đáp: "Vừa in ạ." Tiếp đó, cô lần lượt gọi tên từng đứa một, xỏ từng đôi giày lên chân bọn chúng... Cho đến cuối cùng, cô cầm đôi giày còn lại bước đến trước mặt lão dượng, nhẹ nhàng đặt đôi giày xuống mặt đất ngay trước mũi chân ông, điềm tĩnh thưa: "Cha, một cái nhà không thể không có đàn bà. Con coi như đã về đây rồi."

Lão dượng ngồi xổm ở đó, đôi tay vẫn ngốc nghếch ômư khư cái bát tô sành, không thốt nổi một lời. Qua một lát, ông ngẩng đầu lên, không ngờ trên khuôn mặt giăng đầy nước mắt! Những giọt nước mắt tuổi già thấm đẫm trong từng nếp nhăn chằng chịt, dòng này nối dòng khác tuôn trào... Ông nghẹn ngào cất tiếng: "Con ơi, đúng là... thiệt thòi cho con quá rồi."

Lưu Hán Hương điềm đạm đáp: "Đây là con tự nguyện mà."

Bất thình lình, khoảng sân như bừng sáng hẳn lên. Đàn ông trong nhà cũng có sinh khí trở lại. Trong ngôi nhà tồi tàn này, tựa như có một dải hào quang rọi chiếu xuống, chim chóc nhảy nhót, lớp cỏ khô trên mái nhà lách tách hồi sinh, đống củi mục ngổn ngang tựa như bãi rác phút chốc đã được xếp gọn gàng ngăn nắp, khung cửa ra vào tưởng chừng đã phai màu theo năm tháng bỗng chốc nhuốm vẻ tươi tắn, ngay cả chiếc liềm cũ vứt lăn lóc bên bệ cửa sổ cũng phảng phất chút sức sống mới, phía trên lề cửa, tấm biển "Gia đình quân nhân quang vinh" bỗng chốc trở nên vô cùng nổi bật. Cái sân này đã lâu không quét dọn nên vẫn còn chút bẩn thỉu, nhưng ẩn chứa trong sự bấy bẩn ấy là một luồng khí ấm áp nồng nàn. Phải rồi, phụ nữ đứng giữa sân một cái, vạn vật đều như được hồi sinh.

Buổi sáng, Lưu Hán Hương dẫn đám Đản nhi dọn dẹp sân nhà, thu vén buồng phòng. Cô đội một chiếc khăn tay ca rô vải xanh mà phụ nữ nhà quê hay dùng, uy nghi như một vị thống soái tất bật ngược xuôi trong ngoài, chỉ huy đám Đản nhi quét sạch từng ngóc ngách bám đầy bụi bặm lâu năm... Lúc này, đám trẻ đứa nào đứa nấy líu ríu như bầy sẻ non, niềm vui sướng hân hoan có thể tưởng tượng được! Lão Ngũ hỏi: "Thím ơi, trên xà nhà có quét luôn không ạ?" Lưu Hán Hương đáp: "Quét." Lão Tư hỏi: "Thím ơi, cái bàn gỗ có phải di chuyển không ạ?" Lưu Hán Hương đáp: "Có. Khiêng sang bên hướng tây trước đã." Lão Ba hỏi: "Thím ơi, chiếc giường này bị gãy một chân rồi. Do lão Ngũ nhảy nhót làm gãy đấy..." Lão Ngũ cãi: "Nói nhảm! Do tao nhảy gãy hồi nào?" Lưu Hán Hương bảo: "Không sao cả, xoay ngược đầu lại, kê sát vào trong tường, lát nữa lấy viên gạch kê lên là được." Lão Nhị Thiết Đản khỏe sức nhất, cũng là đứa làm nhiều việc nhất, nhưng hầu hết thời gian cậu chẳng nói năng gì, chỉ chăm chăm nhìn sắc mặt Lưu Hán Hương, ánh mắt cô quét đến đâu là đôi tay cậu vươn đến đó...

Nhà lão dượng có bốn gian nhà tranh và một gian bếp. Trong bốn gian nhà tranh ấy, có ba gian thông liền với nhau; còn gian phòng ngăn riêng biệt vốn là nơi cất trữ củi lửa và lương thực vào mùa đông, giờ đây được Lưu Hán Hương dọn sạch sẽ. Một nửa gian phòng dùng để chứa củi khô lương thực (lương thực gọi là thế nhưng chẳng còn lại bao nhiêu, chỉ vỏn vẹn nửa hũ bột ngô, nửa hũ bột khoai lang khô và một đống khoai lang), nửa gian còn lại trở thành phòng ngủ của cô. Tạm thời chưa có giường, cô liền trải rải rác ít rơm rạ dưới đất, lót thêm chiếc chiếu để làm chiếc giường dã chiến. Khi mọi thứ đã được sắp xếp dau hòm đâu vào đấy, trời cũng đã ngả về trưa. Lúc này, Lưu Hán Hương trước tiên nấu một nồi nước nóng thật lớn, bắt đám Đản nhi lần lượt rửa tay rửa mặt, rửa xong còn phải giơ từng đôi bàn tay ra cho cô kiểm tra một lượt, đứa nào chưa sạch sẽ sẽ bị cô khẽ gõ vào tay bắt đi rửa lại từ đầu. Khuôn mặt đứa nào đứa nấy được rửa ráy sạch sẽ đỏ hây hây, đã lâu lắm rồi chúng mới có dịp sạch sẽ thế này!

Từ lúc Lưu Hán Hương bước chân vào cửa, lão dượng bỗng biến thành một chiếc cối xay không trục. Con người như ngây dại vì quá đỗi vui mừng, ông cứ lúp xúp đi theo sau cô trong ngoài không rời nửa bước, lăng xăng quẩn quanh đến mức chẳng nên trò chiến tích gì, chỗ nào cũng muốn nhúng tay vào nhưng hễ nhúng tay vào là lại vướng chân vướng tay người khác. Còn đám trẻ thì sao? Cứ như thể quân đội thời cũ vừa tìm được vị thủ lĩnh mới tôn sùng, mũi hừ hừ phì phò, hoàn toàn không thèm coi ông ra gì... Cứ thế ông cứ đi vòng quanh mãi, thấy bản thân quả thực chẳng tích sự gì, bèn vui vẻ lủi thủi đi ra ngoài đường làng.

Nắng đẹp trời. Lão dượng lững thững đi dạo trên đường làng với tâm trạng chếnh choáng lâng lâng, trong lòng rất muốn nói với ai đó điều gì, nhưng khóe mắt bị nước mắt vui mừng làm cho nhòe nhoẹt, nhìn vật gì cũng mập mờ không rõ. Thấy một con chó đang nằm rạp dưới chân tường, ông lom khom cúi người bước lại gần, cất giọng: "Đông Thăng đấy à, có phải Đông Thăng đó không?" Con chó hừ lên một tiếng, ông lẩm bẩm: "Mẹ kiếp, sao lại thành con lừa đại dương thế này?" Tiếp đó, ông lại khom lưng thấp xuống chút nữa, hỏi: "Là Quảng Tài phải không?"

Đúng lúc này, chỉ nghe phía sau có tiếng người vọng tới: "Lão dượng, mắt mũi ông mù đến thế là cùng, đó là con chó nhà Quảng Tài cơ mà!"

Lão dượng cười hề hề, nói: "Mắt mũi kém quá rồi, mắt mũi kém quá rồi." Vừa nói, ông vừa xoay người lại theo hướng phát ra âm thanh, í ới: "Nhà bán đậu phụ ơi, đừng đi vội, tôi mua thiếu hai cân đậu phụ!"

Người bán đậu phụ đáp: "Lão dượng, mặt trời mọc đằng Tây đấy phỏng?!"

Lão dượng khẳng định: "Chuyện nghiêm túc đấy, đây là chuyện nghiêm túc hẳn hoi. Tôi mua thiếu hai cân đậu phụ của nhà cậu."

Người bán đậu phụ gánh đôi quang gánh trên vai, vừa đi vừa nói: "Lão dượng, hôm nay ông rộng miệng thế cơ à? Ông có rộng miệng thế nào đi nữa thì tôi cũng chẳng còn đậu phụ mà bán đâu, vừa xay xong một cối, mang bán hết sang thôn Đổng rồi. Thôn Đổng có 'việc vui'."

Lão dượng lẩm bẩm trong miệng: "Cái con người này, chẳng thèm hỏi xem chuyện gì đã phán một câu rồi chuồn thẳng." Lão nhân ngồi xổm dưới ánh nắng ấm áp một lúc, ánh nắng rọi lên người khiến thân thể sinh ra lười nhác. Nhưng người qua đường lại vô cùng thưa thớt, họa hoằn lắm mới có một hai người vội vội vàng vàng sải bước, chẳng ai muốn dừng lại đôi co dăm ba câu với ông. Cuối cùng, có một người đi xe đạp đèo hàng chạy ngang qua, ông liền hô lớn: "Này, này, lão Mã. Có phải kính của xx không ấy nhở? Này, đừng đi vội, nghe tôi nói đã..." Nhưng đợi đến khi ông đứng phắt dậy, người nọ đã đạp xe vút qua từ lúc nào, hóa ra lại là một người khách lạ ở phương xa tới.

Kế đó, ông lại còng lưng cắm cổ đi dạo bám theo từng bước chân lững thững, lại quay trở lại trước cửa cửa hàng bách hóa tổng hợp. Buổi chợ trưa đã tan từ lâu, nhưng cửa hàng lúc nào cũng có người lai vãng. Khi bước vào trong, sống lưng ông cố ưỡn thẳng lên một chút, trước tiên dùng tay áo thấm nhẹ khóe mắt, đoạn cất giọng: "Đông Lai, cho tôi thiếu một dây pháo!" Đông Lai chớp chớp mắt, ngẩn ngơ nghi hoặc một hồi lâu mới thốt lên: "Lão dượng, ông phát sốt đấy phỏng?" Đúng lúc ấy, hai lão già đang dỏng tai hóng chuyện với Đông Lai trước quầy bỗng phì cười một tiếng "tũn". Lão dượng chẳng hề để tâm, tiếp tục nài nỉ: "Thằng bé này, ăn nói linh tinh." Đông Lai dùng giọng điệu mỉa mai châm chọc: "Không phát sốt á? Hừ, tôi còn tưởng ông bị bệnh tâm thần rồi chứ. Không phải tết nhất lễ lạt gì, ông đốt pháo làm cái quái gì thế hả?!" Lão dượng nghiêm túc đáp: "Chuyện nghiêm túc, đây là chuyện nghiêm túc đấy. Cậu lấy cho tôi một dây pháo mau!" Lẽ ra Đông Lai phải hỏi cho ra ngọn nguồn mới phải, tại sao tự dưng lại đòi mua "pháo"? Nhưng Đông Lai nhất quyết không hỏi. Cậu ta hậm hực: "Muốn lấy pháo hoa dây chứ gì?" Lão dượng lập tức gật đầu: "Đúng rồi, lấy cho một dây pháo hoa!" Đông Lai khinh bỉ bĩu môi: "Pháo thì có đấy, mang tiền theo chưa?" Lão dượng đáp: "Tôi mua thiếu trước một dây, qua vụ thu hoạch rồi tính sổ sau." Đông Lai từ chối phăng: "Thế thì không được, tôi không bán thiếu." Lão dượng ưỡn thẳng ngực, cãi: "Đông Lai, người ta mua thiếu được, sao tôi lại không được mua thiếu? Tôi còn dám quịt một dây pháo của cậu chắc?!" Đông Lai đáp trả: "Người ta là người ta, ông là ông. Đồ khác thì có thể thiếu, còn 'pháo' thì dứt khoát không thiếu." Lão dượng lại dùng tay áo thấm thấm khóe mắt, giục giã: "Lấy đi, mau lấy ra đây. Đừng có lôi thôi lằng nhằng với dượng nữa." Đông Lai vô cớ nổi giận đùng đùng: "Ai lôi thôi với ông chứ?! Nếu ai cũng như ông, cái tiệm bách hóa này sớm đã sạt nghiệp từ lâu rồi!" Lão dượng ngẩn ngơ trân trân nhìn cậu ta, hỏi: "Không cho thiếu thật à?" Cậu ta đáp gọn lỏn: "Không thiếu!"

Đột ngột thay, thân người Đông Lai nhoài hẳn ra khỏi quầy hàng, nụ cười nở hoa rạng rỡ đan xen từng đường nét, miệng cười nịnh nọt: "Ôi chao, Hán Hương đến đấy ư? Hán Hương hiếm khi ghé qua tiệm nhỏ của tôi lắm nha!"

Lưu Hán Hương đứng lững thững ở cửa, điềm đạm hỏi: "Pháo hoa bao nhiêu tiền một dây?"

Đông Lai ngẩn người một nhịp, hỏi: "Cháu, cũng muốn mua pháo hoa á?" Đoạn nhanh nhảu tiếp lời: "Có chứ, có chứ!"

Lưu Hán Hương hỏi: "Bao nhiêu tiền một dây?"

Đông Lai xoay người với lấy hai dây pháo treo trên quầy, giới thiệu: "Có loại năm trăm quả, có loại một nghìn quả, cháu lấy loại nào? Theo ý anh, cứ lấy loại một nghìn quả cho máu đi?"

Lưu Hán Hương nhắc lại: "Cháu đang hỏi là bao nhiêu tiền một dây cơ mà?"

Đông Lai nịnh nọt đon đả: "Hỏi tiền nong gì chứ! Không nói tiền nong gì sất. Cháu hiếm khi ghé qua, cứ cầm lấy mà dùng."

Lưu Hán Hương quả quyết: "Bao nhiêu tiền thì ra bao nhiêu tiền, thế này là thế nào chứ? Không nói rõ tiền nong thì cháu không mua nữa."

Khuôn mặt Đông Lai vẫn đang "cười" nhưng có vẻ ngượng ngùng đổi vị, đành cười trừ tạ lỗi: "Cháu xem, đã bảo miễn phí rồi mà còn khách sáo. Thôi không nói nữa nhé? Lại tính sau." Nhưng khi liếc nhìn sắc mặt Lưu Hán Hương, tim hắn bỗng thắt lại, ấm ức phân bua: "Hay là, cứ ghi sổ trước đã nhé? Ghi sổ là được chứ gì. Một đồng tám, giá gốc nhập vào là một đồng tám..."

Lưu Hán Hương không nói thêm câu nào nữa, cô thò tay vào túi áo móc ra một chiếc ví vải thêu hoa tự khâu, rút từ trong đó ra một tờ bạc mệnh giá năm đồng đặt lên quầy tính tiền, đoạn cất lời: "Cân thêm một cân muối." Nói đoạn, cô tiện tay nhấc lấy dây pháo một nghìn quả, đưa tận tay lão dượng, dịu dàng bảo: "Cha, cha về trước đi."

Lão dượng cầm dây pháo trên tay, mắt nhòe đi vì lệ, đôi tay run lẩy bẩy chẳng nói nổi câu nào, lủi thủi xoay người bước thẳng ra ngoài.

Tiếng gọi "Cha" ấy vừa cất lên đã khiến tất cả mọi người trong tiệm chết sững tại chỗ! Đông Lai há hốc mồm, hai lão già trong tiệm cũng há hốc mồm kinh ngạc, nhìn từ xa trông giống như ba ngôi miếu nhỏ bị bỏ hoang! Ánh mắt bọn họ bỗng chốc đờ đẫn như hai hòn bi thủy tinh chết trân, cứ thế trừng trừng trân trân nhìn thẳng về phía trước. Suốt một hồi lâu, cả cửa hàng bách hóa chìm trong sự im lặng chết chóc!

Lưu Hán Hương lặp lại lần nữa: "Cân cho cháu một cân muối."

Đông Lai mất một lúc lâu mới hoàn hồn tỉnh lại, miệng lẩm bẩm không rõ: "Muối, ừ muối." Vừa lẩm bẩm, hắn vừa di chuyển chậm chạp như một con rối bị cứng đờ, cầm lấy chiếc đĩa cân bước đến quầy đựng muối để múc. Lúc múc muối, thần sắc hắn vô cùng ngẩn ngơ thất thần, chiếc đĩa cân cắm phập vào thùng muối, phát ra một âm thanh "sột sột" nặng nề vang lên, tựa như từng hạt muối đang xát mặn vào tận tâm can!

Không ai thốt lên lời nào nữa, hoàn toàn không một ai nói thêm câu nào. Tiệm bách hóa chìm vào câm lặng...

Buổi trưa, khi dây "pháo hoa" vang lên đùng đoàng nổ giòn giã trước cửa nhà lão dượng, cả một ngôi làng như chết lặng!

Dây pháo đó do lão Ngũ Nại Đản đứng ra châm ngòi. Cậu nhóc đứng trên tường rào, vênh mặt hất hàm dùng cây sào tre treo dây pháo giơ cao lên trời, hô lớn: "Thím ơi, thím ơi! Em châm ngòi rồi nhé, em châm thật đấy!" Tiếng gọi "thím" ấy vô cùng lanh lảnh đanh thép, tiếng gọi "thím" ấy cũng phô trương hết mức, rõ ràng là cố tình hô cho cả làng nghe, nghe mỉa mai làm sao ấy chứ! Khi tiếng pháo vang rền nổ tung, lũ trẻ con reo hò ầm ĩ túa ra ngoài, thoạt đầu ngẩn ngơ đứng ngắm nghía "ê a" giữa làn khói đạn mịt mờ... Kế đó, bọn chúng xô đẩy chen lấn nhau, lom khom nhặt nhạnh từng mảnh pháo vương vãi bị nổ văng khắp mặt đất.

Thế nhưng, chẳng được bao lâu, tiếng chửi bới của đám đàn bà trong thôn đã vang lên rần rần! Những lời nguyền rủa cay độc nối tiếp nhau vang lên không dứt, hệt như bãi phân lừa lăn lóc khắp đường phố, hay tiếng chiêng rách bị đập vỡ, từng đợt từng trận vang dội lan tỏa khắp bầu trời làng quê: "Con khốn chết tiệt kia, bay đi đâu rồi hả?!" "Đồ dâm phụ, tao giết mày! Đang lúc quái nào rồi mà còn chưa chịu biến về nhà hả!" "Con Linh, con Linh đâu! Định cướp khăn tang à hả?!" "Thằng Nhị Hỏa! Chui vào cái lồn của mẹ mày hả? Cả ngày không thèm bén mảng về nhà lấy một bước à?!" "Hải, thằng Hải, mày mà không cấy mặt về đây tao lột da trúng mày đấy!"... Mụ "Loa phát thanh" đang đẩy cối xay liền vứt phăng đòn gạt cối xuống, tót đi "buôn chuyện" khắp nơi từ lâu. Phải rồi, chẳng mấy chốc, toàn bộ người trong thôn ai nấy đều tường tận sự tình. Lưu Hán Hương, con người vốn được ví như "bức tranh" đẹp nhất Thượng Lương, đường đường chính chính là "Quý phi nương nương" của Thượng Lương cơ mà! Thế mà, cứ thế này, thế này... hả? Tối tăm mặt mày thật rồi, đúng là tức đến hộc máu mà!!

Đám đàn bà cuối cùng cũng lũ lượt kéo nhau ra đường, mụ "Loa phát thanh" đã đi rêu rao loan tin khắp cả thôn ngõ xóm. Trong lòng đám đàn bà ngứa ngáy như có hàng vạn con sâu đang bò râm ran, bứt rứt không chịu nổi, thế là từng mụ rủ nhau bước ra đường làng, kẻ từ tây sang đông, người từ đông qua tây, có mụ bồng con, có mụ gánh nước, có mụ cầm nia... Khi đi ngang qua trước cửa nhà lão dượng, dáng người ai nấy lảo đảo, đôi mắt thập thò dò xét, như muốn "thăm dò" cho ra manh mối nào đó. Thoạt đầu, vẫn có người chưa dám tin là thật. Nhưng có kẻ đã tận mắt nhìn thấy Lưu Hán Hương rồi, đích thị là Hán Hương chứ còn ai vào đây nữa! Chớp mắt một cái, thứ họ nhìn thấy chỉ là tấm lưng của Lưu Hán Hương, cô đang giăng một sợi dây thừng dài ngoài sân, phơi mền gối cho đám "Đản nhi"... Đi tiếp về phía trước, tiến thẳng về hướng đông, đi mãi đi hoài chính là nhà của bí thư Lưu Quốc Đậu. Khi nhìn thấy chiếc cổng lớn bề thế ấy, bước chân bọn họ bỗng chùng xuống chậm chạp hơn hẳn, không dám áp sát quá gần, chỉ dám lững thững đi ngang qua tận bên kia đường, liếc trộm một cái, lại liếc thêm cái nữa, chỉ thấy cánh cửa đôi nhà bí thư đóng kín mít từ lúc nào!

Hết nhìn đông lại ngó tây, trong lòng người ta không khỏi dấy lên sự hoài nghi khó tả: Quốc Đậu, ông ta dẫu sao cũng là bí thư cơ mà! Đó là một kẻ cường hãn, cứng đầu cứng cổ, liệu ông ta có "thừa nhận" không cơ chứ? Cứ nhẫn nhịn chịu đựng một cách vô điều kiện thế sao?!

Đợi đến khi đám đàn bà nghếch cổ ngó nghiêng đến lần thứ hai thứ ba, đột ngột thay, Lưu Hán Hương bước thẳng từ trong sân ra. Cô đứng ngay trước cửa sân, đối diện với cả con đường làng, đối diện với từng mụ đàn bà đang viện đủ mọi lý do để đến thám thính xung quanh, trên gương mặt vẫn điềm tĩnh như không, sự điềm tĩnh ấy phảng phất chút uy nghiêm, chút ngạo nghễ, lại mang theo cả ý nghĩa "tuyên ngôn" nằm ngoài dự đoán của tất cả mọi người. Cô thắt chiếc tạp dề trước bụng, đứng sừng sững ở đó, tựa như muốn nói: Nhìn đi, nhìn cho kỹ vào, đây chính là ta, Lưu Hán Hương!

Đám đàn bà bỗng chốc sinh ra ngượng ngùng khó tả. Giữa đường làng, bọn họ cười trừ gượng gạo, chào hỏi: "Hán Hương đấy à... cho... cho chị mượn cái nia với."

Lưu Hán Hương mỉm cười, đáp: "Nia á?"

Mụ đàn bà nọ chỉ tay vòng vo, lắp bắp không thành lời: "Nhà thằng Chùy ấy, sang nhà thằng Chùy lấy cái nia."

Lại có mụ đàn bà khác bước đến, vẫn là bổn cũ soạn lại: "Hán Hương ơi... cái thùng, thùng gánh nước."

Lưu Hán Hương mỉm cười: "Lại trả thùng à?"

Mụ ta bèn bấu víu giải thích: "Nhà con Cá ấy, cái thùng bị thủng lỗ chỗ, cứ rò rỉ róc rách suốt..."

Lại có mụ dắt theo con nhỏ đi qua, xuýt xoa: "Hán Hương này, mày coi này, nó chẳng chịu nghe lời gì cả, tè dầm ướt sũng cả quần..."

Lưu Hán Hương liền bảo: "Đang tính ra sông giặt đấy phỏng?"

Mụ ta vội vã đáp: "Ừ, ra sông đây. Ngồi chơi nhé."

Đám đàn bà lần lượt lướt qua, nhưng trong "lòng" lại thầm cột chặt một con lừa đực, thi nhau bĩu môi chê bai. Vừa quét qua góc phố, bọn họ liền túm tụm lại thành từng đám, ríu rít bàn tán xôn xao: "Ôi trời ơi, tìm đâu chẳng được loại đàn ông tử tế? Kiểu gì chẳng tìm được người vừa ý? Tiếc thay lại đâm đầu vào cái gia đình bần cùng ấy cơ chứ!" "Cứ ngỡ là mệnh ngọc ngà châu báu, tương lai sung sướng bậc nào, ai mà ngờ lại đâm đầu ngã nhào xuống hố phân!" "Trúng tà rồi, tám mươi phần trăm là bị ngải tụi nó bỏ bùa mê thuốc lú rồi! Cứ chờ mà xem, chẳng qua ba ngày nữa, thể nào con nhỏ đó cũng cắm cổ chạy thối thây về nhà ngoại cho mà xem!" "Chứ sao nữa, Hán Hương là thể loại người gì cơ chứ? Đó là cành vàng lá ngọc, từ bé đã ngậm thìa vàng lớn lên trong hũ mật, chưa từng chịu đựng một chút uất ức nào. Trước đây nó sống sung sướng nhường nào, thế mà giờ lại đâm đầu vào cái cảnh này..." "Con rnh này thật khiến người ta nhìn thấu không nổi mà! Sao lại dại dột thế cơ chứ? Con nhà Quốc Đậu mà chịu buông tha cho nó chắc?!" "Chạy thì thế nào cũng có ngày chạy thôi, tao mà đoán sai, cứ móc hai con ngươi của tao ra làm bàng quang tiểu tiện cho chúng mày đạp chơi!" "Cái nhà gì không cơ chứ, cả một ổ đàn ông độc thân, một ổ chí rận! Thế mà nó lại đâm đầu vào chấm điểm trúng đích được cơ chứ?!"

Chẳng bao lâu sau, đám đàn bà cuối cùng cũng dò la được thái độ của vị bí thư thôn. Trong một lần họp cán bộ thôn, khi có người vô tình nhắc đến tên Hán Hương, bí thư Lưu Quốc Đậu mặt đen như đít nồi, nghiến răng nghiến lợi, từng chữ từng chữ rít qua kẽ răng: "Đừng có nhắc đến con nhỏ đó trước mặt tao! Nó không phải con gái tao. Tao không có đứa con gái nào hỗn xược như thế! Từ nay về sau, tao chính thức đoạn tuyệt quan hệ cha con với nó!"

Phải rồi, ở Thượng Lương, ở cái vùng quê bán kính trăm dặm quanh đây, Lưu Hán Hương đã phá vỡ mọi tiền lệ: Không của hồi môn, không sính lễ ăn hỏi, không có sự đồng hành của người nhà mẹ đẻ, thậm chí còn chẳng có sự thừa nhận chính thức từ người đàn ông của mình (người đàn ông còn đang bận tòng quân trong quân ngũ), cô cứ thế đơn thương độc mã dọn đến nhà chồng ở trọn vẹn như thế đấy!

Rốt cuộc là vì thứ gì cơ chứ?

Mặt chữ và tâm chữ

Chẳng qua cũng chỉ vì một chữ đó mà thôi.

Lưu Hán Hương chính vì u mê cái chữ ấy mà sập bẫy.

Người quê vẫn hay bảo, đó là cái chữ khiến lòng người nơm nớp bất an, cái chữ đã bị che khuất tấm "khăn voan". Dùng tiếng lóng nhà quê mà ví von, thì nó giống như việc "mua mèo trong bao tải", lại gọi là "mua hàng qua lớp vỏ bọc". Ở nông thôn, "mua mèo trong bao tải" chính là hành vi lừa bịp gạt gẫm, còn "mua hàng qua lớp vỏ bọc" lại có phần mông lung huyền hoặc hơn, thứ duy nhất có thể dựa vào chính là uy tín và tinh thần, ẩn giấu sâu thẳm bên trong chính là một chữ "si". Nếu không "si", con người ta ắt sẽ phải đắn đo suy tính thiệt hơn. Phải rồi, ngàn năm vạn năm nay, một khi "tâm" đã bị giăng mắc vào cái chữ ấy, tất yếu sẽ rơi vào cảnh lơ lửng giữa trời không vướng víu đất... Thế nên, người ta mới bảo, cô ta đã đọc sách đến mức u mê "mụ mẫm" cả đầu óc rồi, cái chữ ấy quả thực có sức tàn phá con người ta vô cùng khủng khiếp.

Lưu Hán Hương hoàn toàn quyết tâm đến cùng. Chính vì chữ ấy, cô phớt lờ mọi lời khuyên can ngăn trở của bất kỳ ai.

Trong ngôi làng này, Lưu Hán Hương là người duy nhất chưa từng phải chịu bất kỳ uất ức khổ sở nào. Khi cô sinh ra, Quốc Đậu đã ngồi vững chiếc ghế bí thư. Là con gái rượu của bí thư, lớn lên trong một môi trường tương đối ưu việt, tâm tính của cô vốn dĩ rất kiêu ngạo, cộng thêm việc cô đã đọc qua mười năm đèn sách, chính những trang sách ấy đã nhào nặn cô thành một thiếu nữ dám nghĩ dám làm, dám liều lĩnh dấn thân.

Đại Bạch Đào xót ruột xót gan vì đứa con gái, Đại Bạch Đào đã khóc ròng rỉ suốt hai ngày ba đêm liền. Đại Bạch Đào khuyên nhủ: Con gái ơi, con còn quá trẻ, vẫn chưa thấu hiểu hết sự đời nơi trần thế này đâu. Cuộc sống vốn dĩ là cuộc sống, đường đời còn dài lắm, không giống như những gì con tưởng tượng trong đầu đâu. Đợi thêm hai năm nữa không được sao? Con không thể kiên nhẫn đợi thêm một thời gian, quan sát thêm chút nữa hay sao? Đợi khi nó được thăng chức phong quan trong quân đội, rồi con hẵng dọn sang đó, như thế chẳng phải tốt biết bao nhiêu sao. Lưu Hán Hương đáp: Không được. Hiện tại cô phải dọn sang ngay lập tức. Người đã là của anh ấy, trái tim cũng đã trao trọn cho anh ấy rồi, nhìn cái cảnh nhà anh ấy khốn đốn thế kia, cô buộc phải dọn sang ngay lúc này. Đại Bạch Đào nói: Đó là cái gia đình gì chứ, liệu con có kham nổi cái sự khổ sở ấy không? Lưu Hán Hương đáp: Nổ khổ là do con người chịu đựng, người nhà anh ấy chịu được, cớ sao tôi lại không chịu nổi chứ? Đại Bạch Đào bảo: Con gái ơi, trăm chuyện khác mẹ đều chiều theo ý con, riêng chuyện này, con hãy suy nghĩ lại cho thật kỹ đi. Từ nhỏ đến lớn con chưa từng phải chịu đựng một chút uất ức nào, nhà người ta có tới năm cái gậy độc thân, bước chân vào cửa là phải cung phụng hầu hạ người ta hết thảy, con làm vậy là vì cái gì cơ chứ?! Cô kiên quyết: Con tự nguyện. Con hoàn toàn tâm nguyện một lòng. Lúc bấy giờ, bí thư Lưu Quốc Đậu mới lên tiếng. Ông hỏi: Mày đã suy nghĩ kỹ càng chưa? Cô đáp: Con nghĩ kỹ rồi. Ông hỏi: Nhất quyết phải sang bên đó bằng được à? Cô đáp: Vâng. Quốc Đậu tuyên bố: Bước chân ra khỏi cái cửa này, mày không còn là con gái của tao nữa. Cô trầm mặc giây lát, đáp: Không phải thì thôi chứ sao. Lưu Quốc Đậu khựng lại, nói: Mày nghĩ lại đi. Mày có ba con đường để lựa chọn: Con đường thứ nhất, cán bộ trên huyện, trên xã, hễ là thanh niên trẻ tuổi, mày thích đứa nào cứ việc chọn đứa đấy, bất kể chọn trúng ai, tao cũng gật đầu đồng ý. Con đường thứ hai, dượng của mày đã ngỏ lời, tìm cho mày một công việc trên thành phố, mày cứ làm việc ở đó vài năm, chuyển luôn hộ khẩu lên trên ấy, sau này mày muốn xoay xở thế nào cũng tùy ý mày. Con đường thứ ba, nếu mày đã nhắm trúng cái thằng chó chết đó rồi, tao cũng chiều theo ý mày, đợi khi nó được thăng chức sĩ quan, leo lên đến cấp tiểu đoàn, mày đi theo quân ngũ với nó, tao mắt không thấy tim không phiền... Lưu Hán Hương dõng dạc đáp: Đường là do con người đi. Đằng nào cũng là hố sâu thì con nhảy, là sông sâu thì con lội. Cả cuộc đời này, con chỉ nhắm trúng một mình anh ấy thôi! Lưu Quốc Đậu nghiến răng nghiến lợi gằn từng tiếng: Tao nhắc lại lần cuối, bước chân ra khỏi cái cửa này, mày không phải là con gái tao nữa, từ nay cha con ta chính thức đoạn tuyệt quan hệ!

Hán Hương thầm nhầm trong lòng: Đoạn thì đoạn.

Bông hoa đẹp nhất Thượng Lương – "Quốc Đậu" nhà họ Lưu, cứ thế bị cắm phắt một cách uổng phí lên đống "phân bò" ấy rồi!

Ở nhà chồng, chuỗi ngày làm dâu của Lưu Hán Hương bắt đầu từ công việc ngồi lúp xúp trong gian bếp để nặn "bánh ngô". Là một học sinh cấp ba, ở chốn thôn quê chính là "trí thức", mười năm đèn sách đọc sách thánh hiền, rốt cuộc cũng chỉ để đọc thành cái chữ đó, chính cái chữ ấy đã biến cô thành một người phụ nữ suốt ngày ngồi lom khom trước lò bánh.

Hồi ấy, ở vùng quê đồng bằng, có một loại lương thực thô được chế biến thành món ăn, gọi là "bánh ngô đen". Loại "bánh ngô đen" này được làm từ bột khoai lang khô pha chút ít bột ngô, nhào nặn rồi ép trên chiếc chảo gang nóng rực. Thứ bột trộn lẫn hai loại này, trước tiên phải cho nước vào chậu nhào thành từng khối bột nhão, sau đó từng nhúm từng nhúm đặt lên lòng bàn tay, nặn dẹt thành hình chiếc bánh, lật úp tay dán lên chiếc chảo đang nóng đỏ để nướng, nướng một lát lại lật mặt, cứ lật đi lật lại cho đến khi bánh chín đều. Nặn bánh ngô đòi hỏi phải có kỹ thuật, chảo phải thật nóng, tay phải thật nhanh, hễ lơ đễnh rời mắt một giây là chiếc bánh sẽ bốc khói đen thui ngay lập tức! Buổi sáng hôm Lưu Hán Hương học nặn bánh ngô, cô đã dậy từ rất sớm để nhóm lửa, ngồi xổm ở đó nặn suốt cả một buổi sáng. Đến khi nặn gần hết nửa chậu bột, cô chợt nhận ra số bánh mình nặn ra đã "sạch bách không còn lấy một miếng"! Thậm chí miếng bánh cuối cùng đã bị tên nhanh tay lẹ mắt lão Ngũ cướp mất, cắn phởn một miếng hình vầng trăng khuyết...

Trong nhà từ lâu đã chẳng còn hạt gạo trắng nào để ăn, một bầy năm gậy già trẻ, chục cái miệng ăn đang chờ chực!

Lưu Hán Hương ngồi xổm trước chiếc chảo khói lửa mịt mờ, đôi tay ướt sũng, đầu ngón tay thậm chí còn bị phồng rộp lên hai nốt bỏng nước! Còn khuôn mặt thì nhem nhuốc những vệt tro đen đúa, cô ngẩn ngơ ngước nhìn đám "cái miệng" đang háu đói này...

Đúng lúc này, lão Ngũ cầm chiếc bánh bị cắn khuyết hình trăng lưỡi liềm ra khỏi miệng, cười gượng gạo: "Thím ơi, thím ăn không?"

Lưu Hán Hương mỉm cười lặng lẽ, đáp: "Em ăn đi. Cứ ăn đi."

Nào ngờ, chỉ chốc lát sau, tiếng động ầm ĩ vang lên trong sân, cảnh hỗn chiến lại bắt đầu.

Ngoài sân, thoạt đầu Cẩu Đản trợn mắt lườm Nại Đản một cái, Nại Đản liền cự nãi: "Nhìn cái gì mà nhìn? Tao có xin kẹo của thím tao đâu." Cẩu Đản trợn trừng mắt quát: "Thằng nhãi ranh mắt lác, hai con mắt đảo láo liên, sao mày không thèm thuồng cho hộc máu mà chết quách đi cho rồi?!" Vừa gắt, hắn vừa lao tới đá cho Nại Đản một cú đau điếng! Nại Đản lộn mấy vòng trên đất, ngã chúi mũi "chó ăn cứt" xuống nền đất... Nào ngờ, lúc này lão Nhị Thiết Đản cũng nổi giận lôi đình, cậu ta vung tay giáng thẳng cho Cẩu Đản một bạt tai nảy đom đóm mắt! Hậm hực quát mắng: "Mày không thèm thuồng chắc?! Mở cái mồm to như cái miếu miếu, nướng cái nào mày nuốt trọn cái đấy..." Cú tát trời giáng của Thiết Đản vừa giáng xuống, mũi Cẩu Đản lập tức máu tuôn xối xả. Cậu ta giơ tay quệt ngang mặt, nhìn thấy toàn máu là máu, liền xoay phắt người lại lao vào ôm chặt lấy Thiết Đản đánh nhau hỗn chiến một trận ra trò! Lúc này, Nại Đản từ dưới đất lồm cồm bò dậy, giậm chân gào khóc tru tréo: "Tao mới ăn có tám cái, con... con cẩu tha kia ăn tận mười hai cái lận cơ mà?! Tên khốn nạn đó ăn tận mười hai cái cơ mà?!..." Vừa gào khóc, cậu ta vừa lao xầm tới, cúi đầu húc thẳng một phát vào thắt lưng Cẩu Đản! Bên này, Cẩu Đản đang cắm đầu đánh nhau chí chóe với Thiết Đản, bất ngờ bị Nại Đản húc mạnh một cú từ phía sau khiến cơn thịnh nộ bùng phát, cậu ta hét lớn: "Dao đâu, lấy dao mau! Qua Đản, dao đâu, tao liều mạng với nó!" Qua Đản vốn nhát gan, ban đầu chỉ dám rụt cổ đứng nép sang một bên. Nghe tiếng Cẩu Đản gọi tên mình (ngày thường Cẩu Đản chơi thân với cậu ta nhất), Qua Đản liền lò mò tiến tới, tay kéo người này, níu người kia, trong lúc hoảng loạn chẳng biết bị ai đá cho một cước vô duyên vô cớ... Thế là, cả nhà lăn lộn đánh nhau dưới sân, chẳng mấy chốc đã hỗn chiến thành một nồi cháo heo!

Nghe ngoài sân náo loạn một trận âm thanh hỗn tạp! Lưu Hán Hương vội vã cởi chiếc tạp dề ra, hớt hải bước từ trong bếp ra ngoài. Cô ngây người chết sững, nét mặt ngập tràn kinh ngạc! Ngoài sân, chậu nước rửa mặt đã bị đá lật ngỗng lăn lóc; đàn gà hoảng sợ bay túa lên cành cây; một chiếc giày văng tận lên bờ tường chuồng lợn; đám Đản nhi vừa khóc lóc, vừa gào thét, vừa chửi rủa, lăn lộn bò trườn dưới đất, đứa kéo người này, đứa túi người kia, đứa nào đứa nấy lấm lem bùn đất nhếch nhác như heo nái, xoắn xuýt vào nhau thành một bọc giẻ rách!... Lưu Hán Hương đứng ngẩn người ở đó, nhất thời chẳng biết phải thốt lên câu gì cho phải. Đoạn, cô cất giọng khe khẽ, thở dài đầy ngao ngán, tự lẩm bẩm như nói với chính mình: "...Không sợ người ta chê cười hay sao chứ?"

Chỉ vỏn vẹn một câu nói ấy, duy nhất một câu nói ấy, tất cả đám Đản nhi lập tức dừng phắt tay lại. Đứa nằm kẻ ngồi, đứa nghiêng ngả... đứa nào đứa nấy thở hồng hộc như cóc nhái, mặt mày vẫn hậm hực tức tối, thở phì phò từng hơi nặng nhọc.

Lưu Hán Hương đứng giữa sân, vừa giận vừa thương đám trẻ. Cô nhìn bộ dạng rách rưới thê thảm của đám Đản nhi, thở dài thườn thượt, thầm nghĩ trong lòng: "...Là tại chị, tất cả đều tại chị cả. Là chị đã không nấu cơm chu đáo. Đang độ tuổi ăn tuổi lớn, để các em phải chịu thiệt thòi rồi. Nếu các em vẫn còn cục tức trong lòng, cứ lao vào đánh chị đây này."

Đám trẻ lập tức xìu xưởng như bánh bao ngâm nước. Biết mình đuối lý, đứa nào đứa nấy cúi gằm mặt như lúa trĩu bông, chẳng dám hé răng nửa lời. Thiết Đản lủi thủi ngượng ngùng bò dậy từ dưới đất, cúi gằm mặt định lủi thủi chuồn đi... Bỗng nhiên, lão dượng từ dưới hiên nhà lao vút ra! Suốt quãng thời gian đám trẻ đánh nhau, ông cứ cúi gằm mặt ngồi xổm ở đó không hé răng lấy nửa lời. Lúc này chẳng hiểu sao lại dồn đâu ra lắm sức mạnh thế, trong tay lăm lăm cầm một chiếc liềm cũ gỉ sét, phắt một cái lao ra chắn ngang cửa sân, quát lãng: "Đồ chó chết, chúng mày muốn phản thiên chắc? Đứa nào dám động đậy xem, tao chém đứt chân đứa đó! Mau quỳ xuống nhận lỗi với thím chúng mày mau!"

Lập tức, đám Đản nhi câm như hến, suốt một hồi lâu chẳng ai dám buông một câu. Vẫn là lão Ngũ, vì nhỏ tuổi nhất nên da mặt cũng dày hơn hẳn. Cậu ta lên tiếng trước, giọng mếu máo: "Thím ơi, em sai rồi. Em, em... sau này không dám ăn nhiều thế nữa."

Lão Tư liếm liếm môi, ngượng ngùng thú nhận: "Thím ơi, bận rộn đến giờ này mà thím vẫn chưa được ăn cơm."

Thấy lão Tư nói vậy, Cẩu Đản cũng hùa theo: "Thím ơi, em sai rồi. Bọn em sai rồi ạ."

Thiết Đản không thèm hé răng, cậu ta cúi gằm mặt, cứ thế lầm lì đứng chết trân ở ngay cửa sân...

Lưu Hán Hương nghe vậy, trong lòng chợt chua xót, nói: "Là ta sai rồi. Đang tuổi ăn tuổi lớn, ăn vẫn phải ăn cho no. Đừng bận tâm nữa, ta sẽ nghĩ cách. Thôi đi, đều đi học đi thôi."

Lời của Lưu Hán Hương tựa như lệnh đại xá, đám nhỏ bò dậy từ dưới đất, từng đứa một lủi thủi chuồn ra ngoài.

Lưu Hán Hương vẫn đứng đó, trong lòng lại rối như tơ vò. Đáng lẽ ra, đến nhà chồng, cô vốn đã chuẩn bị tư tưởng từ trước. Cô cảm thấy, chỉ cần có một chữ đó làm nền tảng, cô không sợ chịu khổ. Thế nhưng cô không ngờ rằng, đột nhiên lại mơ màng hồ đồ trở thành "chủ" một nhà rồi! Củi gạo dầu muối của một gia đình này, ăn mặc chi tiêu của một gia đình này, đều phải do cô suy tính. Thoáng chốc, cứ như cả bầu trời đè nặng lên đỉnh đầu cô, nặng nề làm sao!

Lão cô phụ ôm cái liềm cũ trong ngực, khoanh tay đứng đó, thở dài một hơi thật dài, lẩm bẩm nói: "Thím à, để cháu chịu ủy khuất rồi."

Lưu Hán Hương liền nói: "Cha, con không sao, cha đi bận việc đi."

Thế là, Lưu Hán Hương quay người trở về nhà bếp, lại âm thầm nhào một chậu lớn bột khoai lang khô, một mình tiếp tục đập bánh. Lửa lò nướng khi thì nguội ngắt, khi thì lại quá nóng, thêm củi vào lại quên lặt bánh, đặt bánh lên lại quên thêm củi, tay mà để gần lò nướng thêm chút nữa, một tiếng "xèo" đã bỏng tay rồi, luôn làm cô luống cuống tay chân, thường thì chớp mắt không để ý, đã bốc khói đen lên rồi! Cứ đập bánh như thế, cô không nhịn được mà rơi nước mắt, đầy mặt nước mắt, tí tách, tí tách rơi xuống lò nướng. Cô cứ vừa khóc vừa đập, vừa đập vừa khóc... Trong lòng vừa ấm ức, lại vừa mắng bản thân không ngớt, rằng sao mày ngốc thế, chẳng lẽ ngay cả một bữa cơm mày cũng nấu không xong sao?

Nào ngờ, đến sát giờ ăn cơm chiều, lão Ngũ mồ hôi nhễ nhại chạy về. Thằng bé này, nước mũi chảy đến miệng, mặt đầy vẻ vui mừng, vậy mà lại dùng giọng điệu báo công nói: "Chị, có đồ ăn ngon rồi!" Lưu Hán Hương ban đầu nghe không hiểu, liền cười nói: "Thằng bé này, thính mũi thật đấy!" Lúc này, chỉ thấy lão Ngũ lấy chiếc áo vải giấu trong ngực ra bày lên, như làm phép vậy, cười hì hì nói: "Chị xem!"

——Chỉ thấy trong ngực bọc cộm lên sáu củ khoai lang nướng nóng hổi!

Lưu Hán Hương nhìn, sắc mặt từ từ trầm xuống, vẫn nhẹ nhàng hỏi: "Em út, ở đâu ra thế?" Mấy đứa nhỏ cũng đều dồn mắt lại: "Ăn trộm nhà người ta phải không?!" Lão Ngũ vội nói: "Không phải. ——Đầu ngón út đội vành nồi!" Đây là một câu thề độc ở vùng quê, cũng là lời hứa. Thế nhưng đám nhỏ vẫn không tin, lại dồn dập hỏi: "Nói, lấy ở đâu ra?!" Lão Ngũ nói: "Đổi đấy, em dùng kẹo 'Thượng Hải' đổi đấy." Thiết Đàn quát lên: "Nói nhảm, mày lấy đâu ra kẹo 'Thượng Hải' hả?! Có tin tao đấm mày không!" Lão Ngũ nói: "Thật mà, thật mà. Em mà gạt các anh—đầu ngón út đội vành nồi!" Lưu Hán Hương xoa đầu nó, nói: "Em út, nói thật cho chị nghe, khoai lang nướng ở đâu ra?" Lão Ngũ chớp chớp mắt, đếm ngón tay nói: "Chị xem này, em ban đầu dùng năm vỏ kẹo, vỏ kẹo kiếng, loại 'Thượng Hải', đổi với Tiểu Phúc lấy mười hai viên bi đấy. Lại dùng mười hai viên bi đổi với Đồng Chùy lấy một hộp 'Hạt Đức Môn' đấy. Cha của Đồng Chùy là người bán thịt, nhà nó có đầy thuốc lá. Bao thuốc này, em mang cho lão Từ ở lò gạch, lão Từ nghiện thuốc nặng, thèm thuốc. Chỗ lão ấy có một đống khoai lang, thế là đổi với lão Từ đốt lò thành khoai lang nướng..." Nói xong, mọi người đều ngẩn ngơ nhìn nó. Không ai ngờ được, một đứa trẻ bé xíu, cứ xoay vòng thế này, mà đổi được củ khoai lang nướng nóng hổi về. Lưu Hán Hương thở dài, nói: "Em út, sau này đừng thế nữa, ngoan ngoãn đi học đi." Lão Ngũ liền nói: "Chị, em nghe lời chị."

Tối hôm đó, Lưu Hán Hương mang toàn bộ chồng bánh bột khoai lang mà cô đập nãy giờ bày ra hết, đặt lên vành nồi, nói với đám nhỏ: "Ăn đi, cứ ăn cho căng bụng vào, đừng để bị đói."

Bữa cơm tối này, đám nhỏ ngược lại ăn rất có củ quy củ, từng đứa một điềm đạm, anh cầm rồi em mới đi cầm, không còn tranh với chả giành nữa. Ăn cơm xong, từng đứa lại lặng lẽ chuồn ra ngoài. Lão Tư Qua Đàntâm tư cẩn thận hơn, thấy Lưu Hán Hương vẫn chưa ăn, liền lặng lẽ bước vào nhà bếp nói: "Chị ơi, chị vẫn chưa ăn kìa."

Lưu Hán Hương nhìn nó một cái, trong lòng chua xót, cảm kích nói: "Em ngoan, chị ăn rồi."

Chỉ một chữ "ngoan" ấy, khiến khuôn mặt của lão Tư bỗng chốc đỏ bừng lên, đỏ lựng. Thằng bé này, nó quay đầu chạy biến.

Thế nhưng, ngày tháng còn dài, ngày tháng vẫn phải trôi qua từng ngày. Lưu Hán Hương quả thực có chút lo lắng. Cô nghĩ, cứ kéo dài thế này mãi cũng không phải là cách nhỉ? Cứ như thế, về nhà chồng chưa bao lâu, cô nhanh chóng gầy sọp đi. Sự gầy gò ấy có thể nhìn thấy bằng mắt thường, sắc hồng hào trên mặt lúc trước vốn dĩ căng mọng sáng bóng; lúc này, thoạt tiên đã nhạt đi rất nhiều, trắng vẫn là trắng, chỉ là có vẻ hốc hác hơn, chỉ làm nổi bật đôi mắt to. Những ngày tháng không có dầu mỡ rất nhạt nhẽo, cứ ba bữa cháo khoai canh khoai thế, tráng tới tráng lui, tráng cho ruột gan mỏng manh đi. Lưu Hán Hương lúc bước chân vào cửa vốn vẫn mang theo một ít "tiền riêng", nhưng lại không chịu nổi cảnh ngày ngày dán vào bù đắp, chẳng bao lâu đã tiêu gần hết. Mỗi khi cô bước chân ra ngoài, liền có người nói: "Hán Hương, em gầy đi rồi." Cô liền cười nói: "Gầy á? Không gầy đâu." Thế nhưng trong lòng cô nghĩ, cứ tiếp tục thế này, suy cho cùng không phải là cách. Cô dẫu sao cũng phải chống đỡ nổi một cái nhà mới được. Dù thế nào đi nữa, cô nhất định phải chống đỡ cái nhà này. Cô đã đến đây, thì không có lý do gì quay về nữa. Cô muốn cho người ta thấy, Lưu Hán Hương cô hoàn toàn có thể chống đỡ nổi một cái nhà!

Vào mùa gieo lúa mì, có một hôm, Lưu Hán Hương đến tiểu học trong thôn. Cô tìm hiệu trưởng, hiệu trưởng họ Mã, vốn là người trong thành phố, từng là phần tử hữu khuynh, cũng từng là thầy giáo của cô, vì bị cận thị, nên mọi người gọi là "Kính thuốc xx". Cô nói: "Thầy Mã, em có thể đến trường dạy thay không?" Hiệu trưởng Mã thò qua cặp kính gọng buộc dây lại gần nhìn, nói: "Hán Hương? Là Hán Hương à. Em muốn làm giáo viên dân lập à?" Lưu Hán Hương nói: "Một tháng chẳng phải có mười hai đồng sao?" Hiệu trưởng Mã nói: "Đúng thế, đúng là thế." Lưu Hán Hương nói: "Em có thể đến không?" Hiệu trưởng Mã do dự một lát, nói: "Đến thì có thể đến, khối lớp lớn đang thiếu người đấy. Chỉ có điều, phải để cha em lên tiếng đã." Lưu Hán Hương hỏi: "Không nói không được sao?" Hiệu trưởng Mã ngẩn người một lúc, nói: "Da mặt thầy mỏng lắm. Vẫn là để bí thư lên tiếng đi." Lưu Hán Hương không nói gì thêm, cô đứng dậy, lặng lẽ bước ra ngoài. Hiệu trưởng Mã đuổi theo từ trong phòng, gọi với theo: "Hán Hương, đừng bướng quá. Để cha em nói một câu, ông ấy dù sao cũng là cha em mà."

Bước ra khỏi cổng trường, lòng Lưu Hán Hương trĩu nặng. Cô nghĩ, mình không thể cầu xin ông ta, dù có nói rách trời đi chăng nữa, cô cũng không thèm đến cửa cầu xin ông ta! Ông ta đã không nhận đứa con gái này là cô, cớ gì cô phải cầu xin ông ta?! Thế nhưng đi mãi đi mãi, chủ ý của cô lại thay đổi. Cô cảm thấy mình không thể bướng bỉnh thế này nữa, cô không còn là một mình nữa, cô phải chống đỡ một gia đình cơ mà. Hơn nữa, trong thôn vốn chẳng có mấy học sinh cấp ba, tại sao cô lại không thể làm giáo viên dân lập chứ? Đây là yêu cầu chính đáng. Thế là, nghĩ lại, cô không kìm được mà nuốt nước mắt mỉm cười. Cứ như thế, cô quay gót về nhà chồng, dùng chiếc khăn tay ô vuông màu xanh gói ba quả trứng gà (đó là trứng gà mới đẻ), hiên ngang đi đến trụ sở đại đội.

Bước vào trụ sở đại đội, Lưu Hán Hương đặt bọc trứng gà mang theo lên bàn, cố ý nói: "Bí thư, tôi mang quà đến biếu anh đây." Câu gọi "bí thư" này khiến Lưu Quốc Đậu ngẩn người ra, ông ngẩng đầu lên, ngơ ngác nhìn cô, đó chính là cô con gái ruột thịt của ông mà! Một lát sau, ông đột ngột quay phắt đi, một câu cũng không nói, hết ngụm này đến ngụm khác hút thuốc. Lưu Hán Hương nói: "Sao thế, anh chê quà mỏng à?" Lưu Quốc Đậu hừ lạnh một tiếng, vẫn là cái gì cũng không nói. Lưu Hán Hương nói: "Hiệu trưởng Mã nói rồi, theo điều kiện, tôi có thể làm giáo viên dân lập, chỉ chờ một câu nói của anh thôi." Lưu Quốc Đậu đột nhiên nói: "Tôi biết thể nào cô cũng tìm đến tôi mà. Cô đừng tìm tôi, cô không phải con gái tôi!" Lưu Hán Hương nói: "Tôi không đến làm con gái anh, tôi đến để làm giáo viên dân lập." Lưu Quốc Đậu tức giận nói: "Cô, nên tìm ai thì tìm người đấy đi!" Lúc này, trong phòng bỗng chốc trở nên yên lặng. Một lúc sau, Lưu Hán Hương nhẹ nhàng lẩm bẩm nói: "Anh là bí thư, anh không muốn thì thôi vậy." Nói xong, cô quay người bước ra ngoài. Lưu Quốc Đậu ngẩng đầu lên, căm hận nhìn con gái, hàm răng nghiến đi nghiến lại, nói: "Cô, cô! ...Xách cái bọc trứng gà của cô đi!" Bước chân Lưu Hán Hương khựng lại một chút, nhưng không dừng lại, vẫn tiếp tục bước ra ngoài. Lúc này, lòng Lưu Quốc Đậu chợt thắt lại, con gái gầy đi rồi, con gái gầy đi nhiều quá! Dù sao đó cũng là con gái ruột thịt của mình cơ mà... Nghĩ thế, ông vội vàng duỗi chân tìm giày, nhất thời số xúc, tìm không thấy, liền úp mặt lên bàn gọi lớn rằng: "Cô, cô cô cô... xách trứng gà đi, cô không phải con gái tôi!"

Khi đêm đã muộn, Lưu Hán Hương đến khu rừng cây hòe đó. Nơi đó từng là nơi cô và anh cùng nhau đúc nên chữ ấy. Chữ đã đúc xong rồi, trong rất nhiều khoảng thời gian, cô chỉ nhìn thấy mặt trước của chữ, bây giờ, cô cuối cùng cũng nhìn thấy mặt sau của chữ... Đêm tĩnh lặng, gió lạnh như dao, từng cơn cứa vào mặt người. Trên mặt đất, những chiếc lá cây ngả vàng kêu lạo xạo, mỗi một bước đi đều vô cùng rợn người! Trên bầu trời, muôn ngàn vì sao lấp lánh. Đằng xa, cũng chỉ có đằng xa, ánh trời mới sáng. Nơi ánh trời phát sáng ấy, có phải là nơi anh đang ở không? Lúc này, anh đang làm gì nhỉ? Nhớ anh... cô thầm nói trong lòng, anh khóc đi. Lúc này không có ai, anh khóc lên một chút sẽ thấy khá hơn. Cô đứng đó, lặng lẽ rơi nước mắt một lúc, rồi tự nhủ với bản thân, bây giờ mày chẳng có gì cả, mày chỉ có chữ đó mà thôi, mày đã đọc được mặt sau của chữ rồi... Mày có sợ không? Lát sau, cô lắc đầu trong lòng, vẫn tự nhủ với chính mình, có chữ đó là đủ rồi. Mày còn muốn gì nữa?

Đột nhiên, trong rừng có tiếng động sột soạt. Âm thanh ấy làm cô giật mình thon thót! Cô quay đầu lại, thất thanh hỏi: "Ai?!"

Từ từ, trong rừng tối đen, tối đen, bóng người liền hiện ra. Là bốn đứa nhỏ. Bốn đứa nhỏ, mỗi đứa trên tay cầm một khúc gậy, giống như một bức tường vậy, đứng thẳng tắp ở đó. Lòng Lưu Hán Hương ấm lên, sải bước tiến lên trước, xoa đầu lão Ngũ, nói: "Về thôi, chúng mình về."

Về đến nhà, chỉ thấy lão cô phụ giống như con lừa vậy, đang vòng quanh một người trong sân mà quay vòng vòng. Ông ngửa mặt lên nửa chừng, đi một vòng quanh người đó rồi nói: "Người tốt thật đấy. Kính thuốc xx, anh đúng là một người đại thiện nhân!" Hiệu trưởng Mã lại nói: "Hán Hương đâu? Sao Hán Hương vẫn chưa về?" Lão cô phụ nói: "Sắp rồi, sắp về rồi đấy. Đại thiện nhân đấy! Lão Mã. Lũ trẻ đều nhờ ơn của anh cả đấy, đọc từng ấy chữ, chồng lên nhau, còn dày hơn cả bánh áp chảo..." Đang nói dở, ông chợt quay phắt đầu lại, vỗ đùi nói: "Về rồi, về rồi, anh xem, chẳng phải về rồi đấy thôi." Lúc này, hiệu trưởng Mã chỉnh lại gọng kính, ưỡn ngực thẳng người, nói: "Hán Hương à, tôi đợi cô đã lâu lắm rồi." Lưu Hán Hương nói: "Thầy Mã, sao thầy lại đến đây?" Hiệu trưởng Mã nói: "Tôi đến để báo tin vui cho cô đây." Lưu Hán Hương mừng rỡ, nói: "Tin gì thế? Có tin gì vậy?" Hiệu trưởng Mã liền nói: "Tôi nói mỏi cả mồm rồi! Thôn cuối cùng cũng chịu hé miệng rồi. Đây này, bí thư đã lên tiếng rồi, ngày mai cô đến lớp đi." Lúc này, Lưu Hán Hương trầm mặc một lát, đột nhiên nói: "Em không đi nữa." Hiệu trưởng Mã ngẩn người nói: "Hán Hương à, một tháng mười hai đồng đấy. Làm đủ ba năm, một khi được chuyển chính thức, chính là ba mươi tám đồng rồi!" Lưu Hán Hương nói: "Em biết chứ. Nhưng em không đi nữa." Lúc này, lão phần tử hữu khuynh hiệu trưởng Mã nói: "Hán Hương à, nghe tôi một câu đi, cô cúi đầu xuống một chút đi. Đó là cha cô mà!"

Thế nhưng, Lưu Hán Hương lại kiên quyết nói: "Em không đi."

Bàn tay thì đắng cay, cõi lòng thì ngọt ngào

Lưu Hán Hương đã thay đổi.

Thay đổi đến mức người ta suýt không nhận ra nữa.

Mọi người bảo, tay của cô mà lại là cái tay bắt chí ư? Thế mà có người tận mắt nhìn thấy, lúc giặt quần áo bên sông (tự nhiên là quần áo của "đám nhỏ"), cô đang bắt chí! Bên sông, lúc cô vò quần áo, vò hồi lâu, lại đối diện với ánh nắng bắt đầu bắt chí, hai chiếc móng tay bấm vào nhau, bấm lách tách từng cái, kêu "cộp cộp", lại còn cười nữa chứ, cô ấy vậy mà lại cười cơ chứ?! Móng tay ấy, bấm một cái, "con rận" liền cười toát mác. Ôi trời ơi, đúng là đóa hoa trên xà nhà mà! Những năm trước, trông sạch sẽ như mớ rau xanh, đôi bàn tay ấy, thon thả như cành hành, mỗi lần bước ra ngoài, lúc nào cũng đeo cặp sách, ra điều tiểu thư đài các, đến mảy may mùi đất bùn cũng chẳng muốn dính vào, sao bây giờ lại lăn ra bắt chí thế kia?!

Hơn nữa, chẳng biết vì sao, con người này bỗng trở nên điềm đạm hơn hẳn. Ngày trước, cô ấy vốn rất kiêu kỳ, gặp ai cũng ít khi nói chuyện, cho dù có nói thì cũng câu được câu chăng, ra chiều lạnh nhạt, bất hợp tác. Thế nhưng, kể từ khi bước chân vào cửa nhà lão cô phụ, con người bỗng nhiên hòa nhã hơn rất nhiều, hễ gặp ai là lại cười tủm tỉm, cũng nói chuyện thường ngày, chuyện củi gạo dầu muối, lại còn hay dùng giọng điệu thỉnh giáo nữa chứ. Ví dụ như độ nóng lạnh của cái lò nướng, độ dày mỏng của chiếc bánh, lúc hấp bánh bao nên dùng men ngọt hay men cái, đều vẫn mang ra hỏi, lại còn biết ơn người ta, hở ra là cảm ơn, rất biết "ngọt ngào trả ơn". "Ngọt ngào trả ơn" tự nhiên là tiếng địa phương vùng quê, đó là thứ ngôn ngữ sinh hoạt được ngâm thấm qua năm tháng dài đằng đẵng trong cuộc sống, là một thứ ngộ ra về nhân sinh khi gồng mình bước đi dưới ánh mặt trời, là một sự thấu hiểu mang theo hơi ấm. Mọi người bảo, ây da, sao cô ấy lại biết cách "ngọt ngào trả ơn" người khác thế cơ chứ?

Hơn nữa, ánh mắt ấy, lại rất mông lung. Khi nhìn cái gì đó, ươn ướt, mang theo một thứ sự vuốt ve tựa như mũi kim không sao tả xiết. Một chiếc cối đá xù xì, có gì mà nhìn chứ? Kỳ lạ thay, cô ấy có thể nhìn chằm chằm một lúc lâu, ánh mắt tha thiết biết bao, lại còn dùng tay chạm nhẹ một cái, tựa như muốn sờ cho ra cái hơi ấm từ trong cái sự lạnh lẽo ấy? Chẳng biết đang nghĩ gì, cứ thế đưa tay ra sờ một cái, cái mặt cối lồi lõm gập ghềnh ấy, lẽ nào sẽ nở hoa hay sao? Chim sẻ cô ấy cũng ngắm, một chú chim sẻ đang nhảy nhót trên cành cây, ánh mắt cứ đuổi theo mãi, chim chẳng bay đi xa là mấy, cô ấy cứ đứng nhìn, nhìn xong lại còn cười, chẳng hiểu sao lại cười nữa, nụ cười ấy cũng mông lung vô định, ngây thơ như đứa trẻ, ngơ ngơ ngác ngác. Cả hạt mưa nữa, những giọt mưa bên hiên nhà. Khi trời mưa, cứ đứng thừ ra ở hiên nhà, ngắm nhìn những giọt mưa ấy. Những giọt mưa vô cùng trong sáng, đọng lại từng chùm từng chùm căng mọng trên những cọng rơm lúa mì, chốc chốc lại ngắn lại, một cách đẫy đà ngắn tũn lại, rồi lủng lẳng rơi xuống, nện lên những phiến đá lát trước cửa thành từng cái vũng nước nhỏ xíu. Có gì đẹp đẽ để ngắm đâu cơ chứ? Thế mà cứ ngắm, ngắm một cách vô cùng chú tâm, tựa như đang ngắm một bức tranh vậy. Cây lựu trong sân, cành lá uốn khúc như rồng cuộn, dẫu chẳng nở hoa, cô ấy cũng ngắm, ngắm những chiếc chồi non, những chiếc chồi non hé ra từng đường kẽ nhỏ, áp sát lại gần để ngắm, ngắm xong, khóe môi liền ánh lên một vài nét cười thi vị, dịu dàng vô biên. Khi hoàng hôn buông xuống, cô ấy cũng thường đứng trên con đường lớn đầu làng, ngắm nhìn mây ráng chiều ở chân trời phía tây. Những đám mây ấy rực rỡ sắc hồng, cuộn lên từng lớp từng lớp, trôi thành hình con sư tử, hình con bò, hình con ngựa, hình con lợn, hoặc là từng bậc từng bậc đỏ như hồng hải, trôi đi như những chiếc thang mây... Lúc này, con người ta liền trở nên mông lung đến tột độ, giống như linh hồn bị thứ gì đó cuốn đi mất vậy. Thỉnh thoảng nhé, đang đi đi, bỗng nhiên, lại quay phắt người lại, cứ như có ai đang bám theo sau vậy, cứ như có một bóng người vẫn luôn bám theo cô ấy suốt! Quay người lại, bản thân liền phì cười trước, nụ cười ấy, như lan tỏa ra từ trong vô thức, chẳng vì lý do gì cả, thật chẳng bình thường chút nào. Thường thường, trong cơn mơ hồ, rồi lại mỉm cười, đầy vẻ vương vấn, giống như có thứ gì đó đang nhập hồn vậy.

Chỉ duy nhất có một thứ lạnh lùng, đó là lúc đối mặt với đàn ông. Cho dù là người đàn ông nào đi chăng nữa, bất kể là thầy giáo đeo kính ở trường hay là người bạn học cũ quàng khăn quàng cổ, bất kể là cán bộ công xã hay nhân vật tai to mặt lớn nào trong huyện, hễ cứ chủ động sáp lại gần bắt chuyện với cô, thì nét mặt ấy liền vô cùng hững hờ. Mi mắt khép hờ, đôi mày nhíu lại từng nhịp, không thèm nhìn người ta, trong ánh mắt ấy hoàn toàn không có sự hiện diện của đối phương. Tựa như đã sớm đề phòng từ trước, vừa cảnh giác, lại vừa giữ khoảng cách. Nếu ai mà có tâm tư gì đó, cứ nhìn cô ấy thế này một cái, thì bạn sẽ phải lùi lại một bước ngay lập tức. Đúng vậy, sự kiêu ngạo thì không còn nữa, thái độ cũng rất nhã nhặn, nhạt nhòa, điềm tĩnh, thế nhưng vẫn khiến lòng bạn lạnh buốt, đằng sau sự nhã nhặn ấy ẩn chứa một thứ khí thế sắc bén cự tuyệt người ngoài, dường như chẳng nói gì cả, nhưng lại nói hết tất cả rồi. Tên Đồng Chùy hiện đang làm việc ở cửa hàng cung tiêu trên huyện béo trắng ngần ấy, tính ra cũng coi như nửa người thành phố, rất ra dáng ra phái. Hắn ta thường mặc một bộ đồng phục mới tinh phẳng liu, giày da kêu cọt kẹt, cưỡi một chiếc xe đạp nhãn hiệu "Chim Bồ Câu" mới tinh, "rè rè" phanh lại bên cạnh cô, sáp lại gần nói: "Hán Hương, vào thành phố không? Trong thành phố có phim mới chiếu đấy, đi xem không?" Lưu Hán Hương lúc ấy sẽ quay đầu lại nói: "Nại Đản, có muốn đi xem phim không?" Nại Đản nói: "Muốn chứ, muốn lắm chứ!" Lưu Hán Hương liền nói với Đồng Chùy: "Được thôi, Nại Đản nhà tôi thích xem phim nhất đấy, anh dẫn nó đi đi." Đồng Chùy ngẩn người một lúc, ngốc cmn người ra một lúc, cũng đành ngượng ngùng nói: "Ồ, ồ. Thế thế thế, để hôm khác vậy."

Con người một khi đã thay đổi, liền trở nên gần gũi với cuộc sống, tựa như hòa quyện vào trong năm tháng vậy. Chỉ thấy cô ấy thổi bùng lên một cơn lốc trong thôn, một cơn lốc của phụ nữ. Cô ấy rõ ràng là người từng đọc sách qua mớn, sao lại có thể cam chịu hạ mình như thế chứ? Vào mùa đông, cô ấy cũng giống như đàn ông, xuống ngạn sông cắt sậy, dùng một chiếc khăn quàng cổ rách bọc đầu, dẫn theo bốn đứa nhỏ, xắn quần lên, lội xuống sông. Nước sông rất lạnh, có những hôm đóng băng, mang theo một lớp dăm băng mỏng, đôi chân bị lá sậy và dăm băng cứa ra từng đường rướm máu, vậy mà cũng chẳng thấy đau, cứ thế cúi rạp người xuống, từng liềm từng liềm tiến về phía trước... Cắt xong, lại từng xe từng xe kéo về nhà, từng bó từng bó chất thành đống trong sân, chất cả cái sân nhà thành một ngọn núi sậy! Khi có gió thổi qua, bầu trời phía trên sân cuồn cuộn bay bay những bông lau tựa tuyết rơi, những bông lau ấy nương theo sự biến ảo của sắc trời, lúc thì đỏ rực như cánh vũ, lúc thì trắng ngà như hạt gạo, lúc thì vàng óng như nghệ, lúc thì xám ngắt như ngói, bồng bềnh bồng bềnh, thứ hương thơm đắng dịu mà mộc mạc ấy lấp đầy cuộc sống.

Dẫu sao cũng từng đi học, cũng biết tính toán sổ sách nhỏ, từng khoản từng khoản, rạch ròi rõ ràng. Hồi đó đang gặp lúc "chuẩn bị chiến tranh, chuẩn bị phòng hoạn" gì đó, có người ở thành phố xuống thu mua chiếu sậy: chiếu trượng (một chiếu dài một trượng, rộng năm thước) đan một chiếc một đồng tư; chiếu khoanh (chiếu nhỏ dài năm thước, rộng ba thước) đan một chiếc sáu hào. Lưu Hán Hương vốn không biết đan chiếu, vào một buổi tối thắp đèn dầu, cô đã tháo một chiếc chiếu trải giường ra, nhờ người phụ nữ nhà họ Hòe hàng xóm hướng dẫn một chút, thế là chỉ một đêm đã học được... Thế rồi bắt đầu từ sáng hôm đó, cô tước sậy, chẻ nan, cán nan, trở thành một người phụ nữ đan chiếu sậy thực thụ... Ban đầu, vẫn có người cười nhạo cô, đường đường là một cô nương khuê nữ, mà cũng giống như đám đàn bà lỡ thì, đứng trên chiếc cối đá giữa đường làng mà cán nan, hai đôi chân như đứng không vững, chòng chành chuyển động trên cối đá, có lúc "á á" một tiếng liền ngã xuống, ngã xuống rồi cô ấy vẫn cười! Người xem cũng cười theo, giống như xem khỉ diễn vậy, bảo rằng: "Ối chà, Hán Hương cũng biết đạp cối đá cơ à?" Thế nhưng dần dần, chẳng còn ai cười nữa, chẳng ai dám cười nữa. Kể từ toàn bộ quy trình từ tước sậy, chẻ nan, cán nan, cho đến đan chiếu ấy, chiếc chiếu đầu tiên của cô (đương nhiên là chiếu trượng rồi) mất bảy ngày, chiếc chiếu thứ hai mất bốn ngày, chiếc chiếu thứ ba chỉ tốn vỏn vẹn hai ngày một đêm (đây là tốc độ nhanh nhất của những người phụ nữ trong thôn), chiếc chiếu thứ tư chỉ tốn đúng một ngày một đêm! Lúc này, đôi bàn tay ấy đã chẳng còn ra hình thù đôi tay nữa, đôi bàn tay máu me đầm đìa, chỗ nào cũng quấn những dải vải rách; cái lưng ấy chẳng biết làm bằng dây cung hay sao, lúc cúi xuống, liền dán chặt vào mặt chiếu suốt mấy canh giờ... Về sau thì quen việc, thuận buồm xuôi gió rồi. Đôi bàn tay ấy, nhanh nhẹn tựa như những con cá bơi lội trong nước, những nan sậy dài dưới đôi bàn tay cô biến thành những con sóng cuồn cuộn trào dâng, nhịp này tiếp nhịp kia, xào xạc xào xạc, liền "dâng sóng" lên một mảng lớn, các bà các chị bảo rằng, đúng là đẹp mắt thật đấy. Lúc bấy giờ, cô ấy vậy mà mỗi ngày đán xong một chiếc chiếu, trời đất ơi, thế mà vẫn không lỡ việc nấu cơm, cho lợn ăn! Thế là, cô liền một mạch mua bốn chú lợn con từ chợ về, những lúc duỗi thẳng cái lưng mỏi nhừ, liền "lô lô lô" đi cho lợn ăn rồi. Rất nhiều người phụ nữ đan chiếu đều kêu gào đau lưng lắm, đau tay lắm, mệt mỏi lắm. Còn ở chỗ cô, chưa từng phát ra một tiếng rên rỉ nào. Lúc lao động, niềm vui ấy cứ trào dâng từ khóe mày khóe mắt, ngập tràn vẻ thi vị. Lúc đan chiếu, cái sào đo chiếu được đặt ngay bên cạnh người, chốc chốc lại đo kích thước của chiếu, vì sợ sai lệch; chốc chốc lại dùng cái sào ấy để lùa gà, lúc đuổi thì mạnh tay, nhưng lúc ra tay lại vô cùng nhẹ nhàng, miệng cứ "út... út...", đuổi thì đuổi đấy, nhưng lại rất thân thiết với bầy gà, dịu dàng vô cùng. Thỉnh thoảng, đang đan, cô lại nhỏ giọng ngân nga hát thứ gì đó, lúc nào cũng lặp đi lặp lại hai câu, giống như từng tia ngọt ngào trào ra từ cổ họng: "Chúng ta cùng giơ cao mái chèo, con thuyền nhỏ rẽ sóng nước; chúng ta cùng giơ cao mái chèo, con thuyền nhỏ rẽ sóng nước..." Đôi tay chưa từng dừng lại, đôi tay vẫn luôn chuyển động, những nan sậy đan xen dọc ngang nhảy múa dưới đôi bàn tay, từng tấm từng tấm được dệt ra. Trong những đêm đông dài đẵng đẵng ấy, mỗi khi đám nhỏ dụi đôi mắt ngái ngủ chạy từ phòng ngoài ra tiểu tiện, luôn nhìn thấy trên vách tường in hằn cái bóng người giống như một con mèo nằm co ro, đó chính là Lưu Hán Hương: đồng hành với ngọn đèn dầu nhỏ xíu, trên mặt đất nhà chính, cô vẫn cúi rạp người ở đó đan chiếu. Tiếng gió gào thét ngoài cửa vào những ngày đại hàn rét buốt, lạnh biết bao nhiêu! Canh một, canh hai, canh ba...

Cẩu Đàn nói, chị ơi, ngủ đi thôi.

Cô bảo, ngủ đây.

Qua Đàn nói, chị ơi, ngủ đi thôi. Chị ngủ đi.

Cô ngẩng đầu lên nói, ngủ ngay đây.

Lộc cộc lộc cộc, Thiết Đàn khoác áo từ bên ngoài chạy về, run lẩy bẩy đứng ở đó, đứng rất lâu, cũng không nói năng gì...

Lưu Hán Hương ngẩng đầu lên, liền bảo, mau đi ngủ đi, đừng để bị cóng. Sắp xong rồi.

Nại Đản ở trần, khoác chiếc áo bông, ngồi xổm trước mặt Lưu Hán Hương, rùng mình vì buốt tiểu một cái rồi bảo, chị ơi, chị ơi, canh bốn rồi, sắp đến canh bốn rồi kìa!

Lưu Hán Hương liền bảo, xong rồi xong rồi, chỉ còn lại mỗi cái góc nữa thôi.

Chỉ vỏn vẹn một mùa đông, đôi bàn tay thon thả như cành ngọc của Lưu Hán Hương đã bị cước rét đến mức không ra hình thù gì nữa. Đôi bàn tay ấy thoạt đầu thì sưng phồng lên, sưng từng đốt từng đốt, sau đó là lở loét, trên mu bàn tay chỗ nào cũng mọc lên những nốt cước, cộng thêm việc bị gai của nan sậy cứa vào, đâm vào hết lần này đến lần khác, đôi bàn tay ấy nha, lúc giơ ra lần nữa, đã sưng phồng thành hai con cóc nước béo tròn rồi! Có một lần, trên đường làng, Đại Bạch Đào tình cờ đối mặt với Lưu Hán Hương đang vác một bó chiếu mới trên vai. Vừa nhìn thấy con gái là bà rưng rưng nước mắt, nước mắt tuôn rơi lã chã, bảo rằng Hán Hương ơi, sao con lại ra nông nỗi này chứ?! Lưu Hán Hương lại mỉm cười, con có sao đâu ạ. Mẹ ơi, con vẫn khỏe mà. Đại Bạch Đào mắng rằng khỏe cái con khỉ gì! Mày đang tự đày đọa bản thân đấy chứ. Lưu Hán Hương nói, thật mà, con không sao, vẫn tốt lắm. Đại Bạch Đào bảo, nhìn lại đôi bàn tay của mày xem? Sưng thành cái dạng gì rồi hả? Đứa con gái ngốc của mẹ ơi, mày không nhìn xem, thế mà còn gọi là tay nữa chắc?! Lưu Hán Hương nói, cái này cũng có gì đâu ạ. Thím Ba bảo, ngâm nước hoa tiêu là khỏi ấy mà. Đại Bạch Đào thở dài một hơi thật dài, vừa khóc vừa bước đi.

Cứ thế, cứ thế, thoắt cái đã đến giáp Tết rồi. Đến ngày hai mươi sáu Tết, đợi đến khi tiền đợt bán chiếu thứ hai được thanh toán, Lưu Hán Hương mượn một chiếc xe đạp rồi đi thẳng ra huyện lỵ. Mãi cho đến khi trời tối sầm lại, cô mới từ trong thành phố vội vã đạp xe về. Trên xe chở nặng một bao bột mì, bốn tấm vải xanh lá cây, một tấm vải đen; trên tay lái xe còn lủng lẳng treo một chiếc giỏ, trong giỏ đựng một miếng thịt lợn lớn, mấy bộ câu đối và hai dây pháo ba nghìn quả... Đây là sắm sửa đồ Tết cho gia đình. Đám nhỏ nhao nhao chạy ra đón, người đỡ kẻ cầm, miệng reo lên: "Chị ơi, chị về rồi đấy à!" Lưu Hán Hương xuýt xoa xoa hai bàn tay đang cứng đờ vì lạnh, mang theo cả bầu không khí giá buốt trên người, lấy từ trong chiếc túi đeo bên mình ra năm chiếc bánh nướng kẹp thịt, nói: "Ăn đi, mang phần cho cha trước đã, mỗi người một chiếc." Đương nhiên, còn có kẹo nữa, là loại kẹo bi tròn, loại không có vỏ bọc giấy kẹo ấy, loại rẻ tiền, liền đưa cho Nại Đản. Dù sao nó cũng nhỏ tuổi nhất mà.

Hôm sau, Lưu Hán Hương vội vã bước qua con đường làng, khi cô đi đến trước cửa nhà bí thư, bỗng không kìm được mà chần chừ một chút, ngập ngừng đắn đo, có chút bước chân không nổi. Đúng lúc đó, cánh cửa "kẽo kẹt" một tiếng mở ra, Đại Bạch Đào từ trong nhà bước ra. Đại Bạch Đào nhìn thấy con gái, nước mắt bỗng chốc trào ra, nghẹn ngào nói: "Con bé này, con còn biết đường về nhà cơ à? Về nhà đi thôi." Lưu Hán Hương đứng ở đó, ngập ngừng nói: "Mẹ... con muốn mượn máy khâu nhà mình dùng một chút." Đại Bạch Đào òa khóc, bà lau đi giọt nước mắt nói: "Con gái ơi, con nói cái quái gì thế hả?! Về nhà mà làm, mang vào đây mà làm." Lưu Hán Hương đỏ hoe sống mũi, lắc đầu, nói: "Mẹ ơi, nếu mẹ cho mượn, con sẽ bảo người đến khiêng về, dùng xong lại mang trả mẹ. Còn nếu không cho mượn, con... đi mượn nhà Quốc Thắng vậy, nhà Quốc Thắng cũng có một cỗ." Đại Bạch Đào thở dài, nói: "Con bé này, con cứ phải tuyệt tình không thèm bước chân vào cái cửa này sao?... Khiêng đi, khiêng đi."

Thế là, Lưu Hán Hương trở về nhà chồng, nói với đám nhỏ: "Đi thôi, đứa nào đi cũng được. Đến nhà bí thư, khiêng chiếc máy khâu về đây chúng ta dùng." Nhưng đám nhỏ nghe xong, nhìn nhau ngơ ngác, đứa nào đứa nấy chần chừ, trong lòng ít nhiều đều có chút sợ hãi. Lưu Hán Hương liền bảo: "Đừng sợ, cứ mạnh dạn mà đi khiêng. Chị đã nói ổn thỏa hết rồi. Nhớ kỹ nhé, bước vào cửa mà có ai sắc mặt khó coi với các em, thì cứ đặt xuống rồi đi thẳng! Nhà ta không thèm dùng đồ của họ." Lời đã nói đến mức này rồi, đám nhỏ mới dám can đảm đi. Khi đám nhỏ bước vào cửa, bí thư Quốc Đậu mặt mày sa sầm đen sì, thế nhưng ông chẳng nói một lời nào. Đại Bạch Đào ngược lại vô cùng niềm nở nói: "Khiêng đi, để ở trong nhà kia kìa." Thế nhưng, bà vẫn không nhịn được mà chửi một câu: "Cái lão khốn nạn nhà cha mày, chẳng biết tích đức từ kiếp nào nữa!"

Cứ thế, ba ngày ba đêm, Lưu Hán Hương tự mình cắt, tự mình may, tiếng máy khâu "cạch cạch cạch cạch..." ấy cứ vang lên suốt cả đêm! Cố gắng cật lực hòng đuổi kịp tiến độ, cuối cùng cũng đến đêm Ba Mươi Tết. Đêm ba mươi Tết, là đêm thức trắng đón giao thừa, đến thời điểm nửa đêm, tuyết thụy rơi lả tả, những tràng pháo bên ngoài nổ vang rền, nổ từng loạt từng loạt. Nại Đản liền bảo: "Chị ơi, nhà người ta đốt pháo hết rồi, nhà mình cũng đốt một dây nhé?" Lưu Hán Hương vẫn đang ngồi bên máy khâu. "Cạch cạch cạch..." vì đang bận rộn hoàn thành nốt công việc, cô ngẩng đầu lên nói: "Đốt một dây đi." Thế là, mấy đứa nhỏ liền chạy ra ngoài cửa, hào hứng đốt một dây pháo, đó là loại pháo ba nghìn quả, thời gian nổ thật là lâu làm sao! Đốt pháo xong, liền nghe thấy Lưu Hán Hương gọi với vào trong nhà: "Vào đây, tất cả vào nhà đi." Đợi đám nhỏ chạy ù vào nhà, Lưu Hán Hương vừa vặn cắn đứt sợi chỉ thừa cuối cùng... Cô thở phào một hơi, ngẩng đầu lên nói: "Lại đây, mỗi người một bộ, mặc vào thử xem nào."

Bộ làm cho lão cô phụ là màu đen, vải chéo đen, kiểu dáng đồng phục. Cha đã ngủ rồi, liền đặt nó ở đầu giường cho ông. Bốn đứa nhỏ, toàn bộ đều là màu xanh quân đội, mô phỏng theo kiểu dáng quân phục, vẫn là loại "quan phục" có bốn túi. Đám nhỏ từng đứa một mặc vào thử, đều nói vừa người, nhưng Lưu Hán Hương nhìn qua từng đứa một, lại cảm thấy bộ mà Thiết Đàn mặc có hơi ngắn một chút, liền nói: "Thiết Đàn, bộ này của em hơi chật rồi, cởi ra đi, để chị sửa lại cho." Thiết Đàn vốn là đứa ít nói, lần này lại lên tiếng: "Được mà chị, em thấy được đấy chứ." Lưu Hán Hương liền sầm mặt lại nói: "Cởi ra. Ra ngoài để người ta nhìn thấy, mất mặt chị lắm đấy!" Thế là, Thiết Đàn không dám cãi nửa lời, ngoan ngoãn cởi ra...

Sáng mùng Một Tết, khi đám nhỏ thức dậy, liền nhìn thấy bên gối mỗi đứa đều đặt bộ quần áo mới của riêng mình. Đến khi từng đứa mặc vào, lão Ngũ bỗng "ố" lên một tiếng, thọc tay vào túi, vậy mà lại có cả "lì xì" nữa! Thế là mỗi đứa lấy ra xem, tiền mới tinh, loại một hào một tờ, mỗi người mười tờ. Bước vào nhà bếp, thấy sủi cảo đã luộc chín rồi, sủi cảo nhân thịt, từng bát từng bát được múc sẵn để đó... Trên cái bệ bếp đặt sủi cảo, còn đè một mảnh giấy nhỏ, trên mảnh giấy viết: Em ngủ đây, đừng gọi em dậy.

Lúc này, lão cô phụ vậy mà cũng đã thay bộ đồng phục mới, tóc đã được cạo gọt gọn gàng, bỗng chốc trông tinh anh hơn hẳn. Ông đang ngồi xổm bên bếp lò châm lửa, vừa tiếp củi vào lò, vừa hạ thấp giọng nói: "Thím nó ba ngày không chợp mắt rồi. Ăn cơm xong, cút hết ra ngoài chơi cho tao. Đứa nào dám hò hét một tiếng, tao chặt cụt chân đồ khốn nạn chúng mày!"

Đám nhỏ rất nghe lời. Ăn cơm xong, liền chạy ra đường lớn, đứa nào đứa nấy mặc quần áo mới tinh phẳng liu, xếp hàng đi thành một hàng, giống như một tiểu đội màu xanh quân đội vậy. Cũng là lần đầu tiên trong đời, trong túi đứa nào cũng có một đồng tiền! Thế là, liền lôi những tờ tiền mới tinh ấy từ trong túi ra, mua những dây pháo nhỏ ở tiệm tạp hóa, vừa đi vừa đốt dọc đường... Sướng làm sao! Có người nhìn thấy, bảo rằng: "Ối chà, nhìn cái bọn hách dịch kìa, đứa nào cũng quần áo mới cả cơ à?!" Lão Ngũ liền đắc ýnhấc cao giọng nói: "Chị dâu tao, chị dâu tao may đấy! Cạch cạch cạch cạch, may suốt cả một đêm đấy!"

Đến mùng Hai, theo phong tục ở vùng đồng bằng, là ngày đi thăm họ hàng. "Họ hàng" này là có ngụ ý cả, chủ yếu là chỉ nhà mẹ đẻ của người phụ nữ. Sáng sớm, lão cô phụ đã chuẩn bị sẵn hai hộp bánh ngọt. Hộp bánh ấy mới mua, cứ đặt lình lình ở trên bàn. Lúc này, Lưu Hán Hương đã ngủ đẫy giấc suốt một ngày một đêm, đầu vẫn còn hơi choáng váng, nặng trĩu, nhưng cô vẫn cố gượng dậy. Lão cô phụ liền thận trọng cẩn dặn cô rằng: "Thím nó à, về đi, về thăm nhà đi." Lưu Hán Hương liếc mắt nhìn hộp bánh trên bàn, nhạt nhẽo bảo: "Không về." Lão cô phụ nói: "Thím nó, đây là lễ nghĩa đấy. Nhà mình nghèo thì nghèo thật, nhưng lễ nghĩa không được thiếu đâu." Lưu Hán Hương trầm mặc một lúc, vẫn cố chấp nói: "Vẫn là không đi thì hơn. Người ta cũng chẳng thiếu dăm ba miếng này." Lão cô phụ há hốc miệng, nhìn cô một cái, rồi bảo: "Thế này đi, thím nó, nếu cô thật sự không muốn đi, thì để đám nhỏ đi vậy nhé?" Lúc này, lão Ngũ xung phong nhận việc nói: "Con đi, con đi cho!" Cuối cùng, Lưu Hán Hương chần chừ một chút, nói: "Cha đã lên tiếng rồi, đi cũng được. Nại Đản, nếu người ta không nhận, em cứ xách về cho chị." Nhưng lão cô phụ vẫn dùng giọng điệu thương lượng nói: "Thím nó, theo tôi thấy, hay là, đi hết đi? Đám nhỏ đều đi cả đi. Dù sao nói... cái này, cũng coi như là lẽ phải. Sang chúc Tết cho cái người, người... bí thư kia một tiếng." Thấy Lưu Hán Hương không nói gì thêm, coi như là ngầm đồng ý rồi. Lão cô phụ liền dặn dò: "Đi đi. Nhớ lấy, tuyệt đối không được nhận đồ của người ta đấy." Lúc đi, Lưu Hán Hương lại một lần nữa dặn dò: "Nhớ kỹ, nếu người ta không nhận, thì xách hết về cho chị!"

Thế là, bốn đứa nhỏ, do lão Ngũ xách theo hai hộp bánh ngọt đó, đi thẳng đến nhà bí thư. Đến trước cửa nhà bí thư, chẳng hiểu sao, đám nhỏ lại có chút chột dạ, đứa này đẩy đứa kia đẩy, không ai chịu bước vào đầu tiên. Cuối cùng, vẫn là lão Ngũ bị đẩy lên phía trước, lão Ngũ nhỏ giọng nói: "Đây là nhà chị dâu chúng ta đấy, đây chính là nhà chị dâu chúng ta cơ mà. Sợ cái gì chứ?" Nói đoạn, liền bị đám nhỏ đẩy xộc vào trong cửa. Vừa bước vào sân, lão Ngũ đã giơ cao hộp bánh trong tay lên, lớn tiếng nói: "Bạch, Bạch, Bạch thím ơi, tụi, tụi tụi con... đến chúc Tết đây ạ!" Đại Bạch Đào nghe tiếng bước ra, nhìn thấy, thoạt đầu ngẩn người ra một chút, sau đó mỉm cười nói: "Ây da, cái thằng bé này, cái đám trẻ này, hoa cả mắt, đều lớn phổng phao thành những chàng trai cả rồi... Vào nhà đi, mau vào nhà đi." Lập tức, bốn đứa nhỏ ngượng ngùng bước vào nhà chính. Trong nhà chính, chỉ thấy bí thư Lưu Quốc Đậu mặt mày lạnh tanh ngồi trên ghế, liếc mắt lên một cái, vẫn là một câu cũng không nói. Đại Bạch Đào bưng ra một chiếc đĩa đựng đầy kẹo bánh, nói: "Ăn kẹo đi, ăn kẹo đi." Lão Ngũ thèm thuồng lắm chứ bộ, nhưng nó nhìn sắc mặt của bí thư, cũng không dám nhận, cứ thế đặt thẳng hộp bánh xuống, nhắm chặt mắt, cúi gầm đầu, ấp úng nói: "Cha con, còn cả, tụi... tụi chị dâu con bảo... tụi con đến chúc Tết ạ." Dù đã nói ra lời, nhưng thấy sắc mặt bí thư vẫn đen như đít nồi. Đám nhỏ thấy tình hình không ổn liền huých tay ra hiệu cho lão Ngũ, lão Ngũ lắp bắp nói: "Thế, thế, thế... đi đây, tụi con đi đây." Thế nhưng, đúng vào lúc này, bí thư lại sầm mặt nói: "Xách hộp bánh đi về!" Giờ phút này, bốn đứa nhỏ đều ngẩn ngơ chết trân tại chỗ, không ai nói câu nào, giống như bị đóng đinh vào đất vậy. Một lát sau, chỉ thấy lão Ngũ từ từ vươn tay ra, chắc là định cầm lấy hộp bánh kia, chị dâu đã dặn dò rồi, nếu người ta không nhận, thì cứ xách về... Lúc này, Đại Bạch Đào bỗng nổi giận đùng đùng, Đại Bạch Đào quát lên: "Ai bảo xách về hả? Dựa vào cái gì mà bắt người ta xách về? Đây là con gái tao mang biếu tao cơ mà. Mày không cần thì tao cần, đặt xuống đây, tao giữ lấy!" Nói đoạn, bà trừng mắt lườm bí thư một cái rách cả mắt, quay người lại, vừa nghẹn ngào nhòe nước mắt vừa cười nói: "Quà này tao nhận rồi, chúng mày về đi." Thế nhưng, bà vừa dứt lời, lại tiếp tục nói: "Đợi đã..." Vừa nói, bà vừa thò tay vào túi lấy tiền ra, toàn là tờ hai đồng, bà đếm ra bốn tờ, mỗi đứa phát cho một tờ, bảo rằng: "Cầm lấy đi, Tết nhất lớn thế này, ai chẳng có lì xì." Bốn đứa nhỏ, vậy mà không một đứa nào dám chìa tay ra nhận. Lão Ngũ nói: "Không cần đâu, không cần đâu, tụi con không cần đâu." Đại Bạch Đào bảo: "Dám không hả? Đây là tao cho thay con gái tao đấy, đứa nào dám không lấy, tao bắt xách hộp bánh quay về luôn cho tao!"

Bước ra khỏi cửa, bốn đứa nhỏ cười lớn ha hả, đứa nào đứa nấy lôi tiền ra so kè xem tiền của đứa nào mới hơn. Thiết Đàn ra lệnh: "Mang về hết, nộp hết cho chị dâu!" Thế là dáng đi cũng hiên ngang hẳn lên, bọn chúng thật sự đã thành "họ hàng" với nhà bí thư rồi!

Mùng Bốn, "Reng keng keng keng..." ngoài cổng sân bỗng vang lên một hồi chuông xe đạp dồn dập! Đó là người của bưu điện đến rồi. Thế là, cả nhà đều hộc tốc chạy ra xem. Chỉ nghe nhân viên bưu điện họ Tần hô lớn một tiếng: "Phùng Hoán Chương, có thư!" Lão cô phụ thoạt đầu ngẩn người mất một lúc, mãi sau mới chợt nhớ ra đây là tên cúng cơm của mình, liền đáp: "Ồ, ồ... phải đấy, chính là tôi đây." Lúc này, lão Ngũ nhanh như cắt, chạy lao lên chộp lấy bức thư, nhìn qua, hân hoan reo lên: "Triện 'tam giác'! Thư của bộ đội, chắc chắn là của anh cả rồi." Lão cô phụ lập tức nói: "Đưa cho chị dâu con!" Thế là lão Ngũ đưa bức thư cho Lưu Hán Hương đang đứng ở cửa, mặt Lưu Hán Hương hơi ửng đỏ lên một chút, đón lấy bức thư, xé ra xem, bên trong đựng một tấm giấy khen "Chiến sĩ ngũ hảo"... Lưu Hán Hương đưa tấm giấy khen đó ra, nói: "Cha ơi, là giấy khen của Gia Chức, Gia Chức được bình bầu là 'Chiến sĩ ngũ hảo' rồi." Lão cô phụ không nhận, lão cô phụ bảo: "Ồ, cứ để đó đi, con cứ cất đi." Lưu Hán Hương liền nói: "Đây là giấy khen cơ mà, vẫn nên dán lên phòng chính đi." Lão cô phụ lại kiên quyết bảo: "Nại Đản, đi, mang vào phòng của chị dâu con ấy!"

Thế là, trong căn phòng nhỏ mà Lưu Hán Hương ở, đã có thêm một tấm giấy khen đề tên "Phùng Gia Chức". Về đêm, khi chỉ còn lại một mình, bên ánh đèn dầu nhỏ hắt hiu, Lưu Hán Hương nâng niu tấm giấy khen đó ngắm nghía tỉ mỉ, xem đi xem lại hết lần này đến lần khác, cái tên ấy, phiên hiệu của đơn vị ấy, là những thứ đã được cô dùng đôi tay vuốt ve qua vô số lần, nó giống y như khuôn mặt của người tình trong mộng vậy! Có đôi khi, cô còn nhét tấm giấy khen ấy vào trong lồng ngực, cứ ôm trọn nó như thế mà ngủ suốt cả đêm, đợi đến khi tỉnh giấc, lại lấy ra ngắm tiếp; có đôi khi, cô áp đôi môi mình lên đó, len lén hôn lên cái tên ấy... Đột nhiên có một ngày, cô phát hiện ra, ở mặt sau của tấm giấy khen ấy, lại có chữ kìa! Đó là ba chữ được viết bằng bút máy:

——Đợi em nhé.

Khi nhìn thấy ba chữ này, cô "á" lên một tiếng, rồi vội vàng lấy tay bịp chặt miệng lại... Khoảnh khắc này đây, cô hạnh phúc biết nhường nào! Trong mắt Lưu Hán Hương, có được ba chữ này rồi, cô chẳng sợ bất cứ thứ gì nữa. Đó không đơn thuần chỉ là ba chữ, đó là cả một cõi lòng, là một mối tình thẳm sâu thiết tha, đó... đó chính là toàn bộ thế giới của cô!

Chị ơi, chị ơi!

Trải qua một mùa đông mùa xuân...

Lại trải qua một mùa đông mùa xuân nữa, chớp mắt đã đến mùa hè.

Sự tôn trọng dành cho một con người, là cần phải có thời gian vun bồi. Vào mùa hè năm ấy, cách nhìn của người dân trong thôn đối với Lưu Hán Hương đã có sự chuyển biến mang tính gốc rễ. Mọi người đều bảo, cô ấy đã "nhập gia tùy tục" rồi. Ở chốn thôn quê, từ "nhập gia tùy tục" ấy không phải tùy tiện mà dùng được đâu. Cuộc sống giống như một cỗ xe ngựa gánh nặng, người nào có thể gánh vác nổi cái "cán xe" ấy, mới có thể rèn giũa ra được một thứ đại thường thái như thế; đó cũng là sự hòa nhã không cần phô trương vỏ bọc, chẳng thèm bày vẽ ra oai, chính là sự "nhập gia tùy tục" ấy. Đó thực sự là một lời khen ngợi thấu tận xương tủy, là một thứ lòng tin và sự tán dương mang đậm chất đời thường, cũng là sự tháo vát uyển chuyển gắn chặt với năm tháng mưu sinh. Quả thực là vậy, chẳng còn ai coi cô ấy là "tiểu thư tây học" nữa, chẳng còn ai xem cô ấy là cái "thứ hàng" trong nhà lão Quốc Đậu nữa. Trong mắt mọi người, cô ấy là một người con dâu cần cù, tháo vát, là một người phụ nữ biết vun vén, tề gia trị quốc. Cô ấy sắp sửa trở thành "vợ của Thiết Đàn" đến nơi rồi! Thật đấy, trong lòng mọi người, cô ấy coi như chính là "vợ của Thiết Đàn", hoặc là "chị dâu của bọn nó" rồi. Đó chính là sự thừa nhận và tôn trọng của những người dân quê. Thế nên, trong ánh mắt của mọi người, thứ thỉnh thoảng ánh lên sẽ không còn là sự khinh miệt và tiếc nuối nữa, mà là một tia ghen tị và ngưỡng mộ, là sự coi trọng xuất phát từ tận đáy lòng. Thường xuyên có những lúc, khi người ta đi ngang qua trước cửa nhà lão cô phụ, sẽ có người cảm thán mà rằng: "Nhìn cái sân nhà người ta kìa!"

Đúng thế, nếu nhìn phớt qua, cái sân vẫn là cái sân của ngày xưa, chỉ có điều là trông gọn gàng thoáng đãng hơn mà thôi. Nhưng nếu tỉ mỉ ghé thăm, bạn sẽ phát hiện ra, trong cái sân này ẩn chứa một thứ sinh khí được hóa sinh từ cảnh vật, ẩn chứa một thứ sức sống mơn mởn, bình yên và xanh tươi nảy nở dưới ánh mặt trời. Khắp nơi đều đượm vẻ thi vị, tựa như những năm tháng cũ đang ngày một đổi mới. Nào phải không đâu? Sân nhà đã được quét dọn sạch sẽ, lại còn được vẩy thêm chút nước, chẳng còn lấy một chỗ lồi lõm nào, nhìn cái mặt nền đất ấy xem, là một thứ độ ẩm mới mẻ vừa sáng bóng vừa mượt mà, sự sạch sẽ được chăm chút đến từng góc khuất ngóc ngách; củi đóm thì được chất gọn gàng một xó tường, từng cây từng cây xếp ngay ngắn vào với nhau; lúc lấy dùng cũng rất có quy luật, bắt đầu từ một góc nhỏ, từng bó từng bó, hoàn toàn không hề lộn xộn; cái chậu sành cho gà ăn cũng không còn vứt lăn lóc ở giữa sân như trước nữa, mà được đặt ở một góc nhỏ sát sạt chuồng lợn, một bát nước sạch, một chiếc chậu sành nhỏ, cũng đều sạch bóng không tì vết, ngày nào cũng phải cọ rửa, tuyệt nhiên không có vết nhơ; chỗ hở trên tường rào được vá lại bằng loại "đất trộn rơm", được gọt giũa rất phẳng phiu, tệp vào bức tường cũ một cách hoàn hảo; trên bức tường của ngôi nhà chính, được đóng mới thêm một hàng chốt gỗ, phía đông cửa treo cán cuốc, dây cương, liềm cũ, chĩa ba; phía tây cửa treo ớt khô, tỏi tết thành bím, rây thô và con dao thái lát khoai lang... Thứ nào ra thứ nấy, cái nào cũng gọn gàng ngăn nắp. Ở chính giữa sân, là một giàn mướp mới dựng lên, dây mướp cành lá tua tủa leo lan ra khắp chốn, che rợp cả một khoảng râm mát; dưới giàn mướp, có một chiếc bàn đá được ghép lại từ cối xay cũ, cũng được cọ rửa bằng nước sạch, vô cùng tinh tươm; dưới bàn, còn bày mấy chiếc ghế đẩu vuông nhỏ bằng gỗ. Phía sát bên tây, giăng một sợi dây phơi quần áo dài đằng đẵng, trên đó thường xuyên phơi những bộ quần áo vừa giặt xong, đung đưa dưới ánh nắng mặt trời, làn gió nhẹ thổi qua, khiến cho cuộc sống bỗng trở nên đậm đà thắm thiết, vừa quang đãng lại vừa đầm ấm. Bất kỳ ai nhìn thấy cũng đều hiểu rằng, nơi đây cất giấu một đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ.

Trong nhà bếp, những thứ Lưu Hán Hương không rành, hễ cần là hỏi, muốn là học. Cô cũng thường xuyên chạy sang nhà bà nội Thụy Nhi, thỉnh giáo kỹ thuật cán bánh áp chảo; sang nhà vợ Quảng Sống, xem cô ấy làm sủi cảo da luộc bằng bột tam hợp (bột đậu, bột cao lương, bột khoai lang); sang nhà Quý Điền, học cách làm mì cắt; người phụ nữ nhà thợ mộc biết làm bánh nhân rau, cô cũng sang ngó nghiêng học hỏi... Cứ như thế, bữa cơm nhà lão cô phụ, ngày một phong phú đổi thay qua từng ngày.

Vào mùa xuân, cô bảo đám nhỏ lên cây hái chút hoa hòe, hoặc là quả du non, trước tiên dùng nước rửa sạch, sau đó trộn với bột thô rồi cho lên xửng hấp chín, tiếp đó rưới thêm nước mắm tỏi pha từ nước muối, tỏi giã nhuyễn, bột ớt, bột đại hồi lên, đám nhỏ đứa nào cũng tấm tắc khen ngon.

Vào mùa hè, cô ra đồng hái chút rau tần ô, rau sam, rau tề thái các thứ, rửa sạch ngay ở mương nước, sau đó băm nhỏ, trộn cùng với miến vụn, nêm thêm chút gia vị, dùng bột mì mịn bọc lại từng lớp từng lớp, xoắn thành từng vòng "xửng" xếp chồng lên nhau trên vỉ hấp, rồi bắc lên bếp hấp chín, thế là làm thành món "mãng rau". Đám nhỏ thèm thuồng đến mức, vậy mà mỗi đứa ăn hết veo một "xửng"!

Bước vào mùa thu, ngô thu hoạch xong, đậu thu hoạch xong, thỉnh thoảng còn được phân phối một chút mè vừng, chút mè vừng ít ỏi ấy không đủ để ép dầu, thế là hoặc là rắc một ít mè lên trên những chiếc bánh ngô, làm thành món bánh nướng giòn rụm; hoặc là dùng chiếc cán bột nhỏ lăn qua lăn lại, làm thành muối mè vừng, lúc ăn mì thì rắc lên trên một ít, thơm nức mũi vô cùng! Đậu nát thì hoặc là ngâm làm giá đỗ, trộn lên để kẹp ăn; hoặc là làm tương đậu, tương đậu ăn kèm hành lá, cuộn lại mà ăn; hoặc là sang nhà làm đậu phụ, đổi lấy hai cân đậu phụ, mang về rán giòn lên bằng dầu, cho thêm cải thảo và bầu hồ lô vào, nấu thành một nồi canh thập cẩm to đùng, chan thật nhiều ớt vào, mỗi người múc đầy một bát to, ăn kèm với chiếc bánh ngô vàng ruộm, mồ hôi nhễ nhại, ngon tuyệt cú mèo! Hồi đó, trong thôn cả năm chẳng được chia cho một giọt dầu ăn nào, ruột gan trống hoác nhạt nhẽo biết bao! Cứ cách một quãng thời gian, Lưu Hán Hương lại ra trấn, nhờ người mua hai cân mỡ thăn lợn, mang về nhà thắng thành mỡ lợn đổ vào một chiếc chậu sành để dành, mỗi khi nấu nướng lại múc một thìa nhỏ bỏ vào nồi, hoa mỡ lập tức bắn tung tóe khắp nơi. Những lúc đám nhỏ quá thèm thuồng, cô lại làm món "bánh mỡ nước". Cái món "bánh mỡ nước" ấy chính là đem chiếc bánh áp chảo khô thừa của ngày hôm qua nhúng qua một lượt chậu nước cho mềm ra, sau đó đặt lên lò nướng, nhân lúc còn nóng hổi thì phết một lớp mỡ lợn lên, rắc chút muối tinh, rồi chập hai chiếc bánh lại với nhau, gấp đi gập lại mấy bận, nướng cho nóng giòn trên lò, rồi dùng dao cắt thành từng khúc từng khúc, chia cho đám nhỏ ăn. Lão Ngũ ăn xong "bánh mỡ nước" thường hay khoe với mọi người rằng: Ngửi xem này, đầy miệng toàn vị mỡ. Toàn mỡ là mỡ thôi đấy!

Hễ bước sang mùa đông, rau củ thưa dần, chủ yếu là khoai lang và củ cải. Khoai lang thì đem nướng, vùi tro, hấp, luộc, cách nào cũng đã ăn chán chê rồi; canh bột khoai lang cũng uống đến phát ngấy lên được, xì tẹt suốt ngày. Để giải quyết đống bột khoai lang này, Lưu Hán Hương liền nghĩ ra một cách, cô trước tiên đem bột khoai lang đó đi rang chín, nửa khét nửa thơm, chế nước sôi vào, thế là làm thành món bột rang thơm ngon nức mũi. Đáng lẽ ra, món này chẳng có gì lạ lẫm, ai cũng biết làm cả. Điều hiếm lạ ở chỗ, cô ấy đã cho thêm "đường hóa học" vào! Hồi đó, người biết đến "đường hóa học" hãy còn rất ít, cô ấy cho "đường hóa học" vào như thế, kỳ diệu thay, món ăn bỗng trở nên ngọt lịm ngọt lừ! Lão Ngũ vốn là cái "vòi phun nước", rất hay khoác lác. Mỗi khi lão Ngũ bưng bát bột rang ra, liền dùng đũa gắp một tí ti, bắt đám trẻ con trong thôn xếp thành hàng dài để nếm thử, khoe rằng: "Nếm thử đi, chị dâu tao làm đấy, còn ngọt hơn cả bánh ngọt ấy chứ, mau nếm thử đi!" Nếm thử rồi, đứa nào cũng thấy ngọt, ngọt lịm thật đấy. Thế là, lũ trẻ liền truyền tai nhau một câu vè, ngày ngày hò hét ngoài đường làng: Ngọt, ngọt, ngọt chết mẹ lừa không lấy tiền đâu!... Thế là, người trong thôn rần rần kéo nhau đến tận nhà, xin Lưu Hán Hương một nhúm "đường hóa học" nhỏ bằng hạt mè, để về làm món bột rang "ngọt chết mẹ lừa không lấy tiền" ấy!

Đột nhiên có một hôm, Lưu Hán Hương chợt nảy ra ý hay, liền dùng một cái ống giếng cạo phế thải, mang đến chỗ người dượng ở trạm máy nông nghiệp huyện hàn một cái nắp, sau đó đục những lỗ rò thật nhỏ lên đó, cố định trên một chiếc ghế dài, thử mấy lần thế là thành công làm ra một cỗ máy chuyên ép mì khoai lang sợi!

Mì khoai lang làm xong đem bỏ vào máy này, hai người đẩy cần gạt ép từng sợi từng sợi tuột xuống, ngoan ngoãn, mấy sợi "mì lừa đen" (người quê gọi thế) dai dai, dài dài liền tăm tắp chui ra khỏi lỗ rò ấy!

Mì đó, bỏ vào nồi luộc rồi vớt qua, dùng đũa gắp ra, trộn với hành, gừng, tỏi, muối, rưới chút mỡ heo hoặc canh cừu, ớt thật đậm đà, múc một bát to đùng như thế...

"Mẹ kiếp," các nam nhân nói, "cho một bát mì lừa đen, có lấy mạng đổi cũng không đổi!"

Thế là nhà này sang mượn, nhà nọ cũng đến mượn, cả làng xếp hàng đi mượn cỗ máy có thể ép "mì lừa đen" ấy.

Có lúc, mấy nhà còn tranh nhau...

Lưu Hán Hương bèn giao việc này cho dượng quản lý, phân công từng nhà lần lượt sử dụng.

Nhất thời, ông dượng trở nên "nổi bật", phủi đi phủi lại bộ đồng phục màu đen đang mặc trên người, vác chiếc ghế dài gắn máy ép mì, đi lưu động "biểu diễn" từng nhà một.

Năng lượng của người phụ nữ trong cuộc sống là không thể lường được.

Một khi cô đã quyết định làm gì, sẽ bùng lên niềm đam mê mà đàn ông không tài nào sánh kịp.

Lại nhìn mấy đứa trứng thối ấy xem, khi chúng từ trong nhà bước ra, không còn cảnh áo rách quần manh, nước mũi lòng thòng nữa.

Bất kể là ai, hễ bước ra là đều gọn gàng ngăn nắp.

Dù trên người thiếu một chiếc cúc áo, cũng đừng hòng được bước chân ra cửa.

Thằng lão Ngũ vốn là một đứa "chảy thây", tay áo lúc nào cũng dính mỡ nhầy nhụa, chi chít vết nước mũi đen sì.

Lúc này, Lưu Hán Hương liền làm riêng cho nó hai cái "ống tay áo", tròng vào cổ tay giống như người thành phố, cứ bẩn là thay ra giặt sạch.

Cái cặp sách đeo trên lưng, tuy làm bằng vải vụn, nhưng mỗi đứa một kiểu, có đứa thêu chữ "Trung"; có đứa thêu "Phục vụ nhân dân"; có đứa là "Biển rộng nhờ tay lái"; có đứa lại là "Ngu Công dời núi".

Hồi đó, ở vùng quê đây là một mốt thời thượng, không phải ai muốn làm gì thì làm, điều đó gần như là thứ "cao cấp" chỉ người thành phố mới xứng đáng có được!

Thế là, một gia đình như vậy, bỗng trở nên "có thể diện".

Ở nông thôn, cái sự "thể diện" ấy thực sự rất quan trọng, nó giống như một tấm bạt căng trên bầu trời cuộc sống, hay một chiếc ô che cái nắng độc ngày hè, nó ngày qua ngày lọc đi sự coi thường và khinh bỉ, che chắn cho những bãi nước bọt tưởng chừng có thể dìm chết người, kéo ra từng sợi ấm áp dễ chịu.

Con người ta đấy, chính là như vậy, mỗi khi ông dượng hoặc mấy đứa trứng thối bước ra khỏi sân, sẽ bất ngờ nhìn thấy một cái gật đầu, hoặc một lời "hỏi thăm" đầy thân thiện, tiếng "hừ" kia liền đổi thành "hử", hoặc câu "cái đồ chó chết này - chao ôi", chỉ một tiếng "chao ôi" ấy thôi, đã đổi giọng điệu, thay đổi cảm xúc rồi, nghe ấm lòng làm sao!

Như thế là có "mặt mũi" rồi, "mặt mũi" chính là "tinh thần" mà.

Tinh thần của người quê lan tỏa trong cuộc sống, sự khác biệt ấy từng chút một để người ta ngẫm nghĩ...

Đương nhiên, tất cả những điều này đều là vì Lưu Hán Hương.

Mùa hè này là mùa hè vui vẻ nhất trong cuộc đời Lưu Hán Hương.

Lưu Hán Hương chưa bao giờ cảm thấy viên mãn đến thế.

Khoảng thời gian ấy thực sự rất "đầy đặn", trôi qua cũng thật nhanh!

Ngày hè dài, từ sáng sớm, khi tiếng "uống chén trà" vang lên, Lưu Hán Hương đã dẫn lũ trứng thối ra đồng.

Lúc này trời vẫn chưa sáng hẳn, sao mai vẫn lấp lánh ở chân trời, cánh đồng lúa mì như biển mực, từng ô từng ô dao động trong gió nhẹ.

Đường ra đồng xa, đi hết triền này đến triền khác, lúa mì tuy đã chín, nhưng đầu thu vẫn đang lớn lên, đồng ruộng tựa như đã hóa lỏng, nhấp nhô sắc đen đậm nhạt, sắc đen ấy thật ngọt ngào, thứ vị ngọt ngào chát chát ngai ngái tuôn trào thành dòng, chính là cái vị ngọt trong thời kỳ mang thai.

Bốn người đàn ông nhỏ, mỗi đứa kẹp một chiếc liềm cũ, như đội vệ binh, đi theo sau Lưu Hán Hương.

Ngoài đồng tối mịt, thỉnh thoảng lại hô lên một tiếng, phía đông, phía tây, vậy mà cũng có người đáp lại!

Người hô: "— La mula!"

Người đáp: "Đã tròng ách rồi!"

Rồi cười "ha hả ha".

Có lúc, lũ trứng thối chạy trước chạy sau, ngã dúi ngã dụi, chốc chốc lại gọi: "Thím ơi, thím..."

Mỗi đứa gọi một cách cực kỳ thuận miệng, gọi đến là nồng nhiệt.

Lưu Hán Hương liền ngọt ngào đáp lời.

Thật tốt làm sao, thấy lũ trứng thối tôn trọng cô như vậy, lòng Lưu Hán Hương ngập tràn, niềm vui ấy là điều người thường không thể tưởng tượng nổi.

Ra đến ruộng, trước tiên gặt một khoảnh hình rẻ quạt, sau đó liền phân công công việc, đứa gặt, đứa bó, một mạch làm đến tận đầu ruộng...

Lúc này, sắc trời từ từ bừng sáng, bóng tối tan dần, biến thành từng dòng màu xám tro, chân trời dần lóe lên một đường chỉ đỏ, cánh đồng lúa mì vàng óng từng mảnh bừng sáng trước mắt, tiếng liềm "sột soạt", chiếc nón lá phấp phới như lá sen vàng, từng chiếc tròn vo bồng bềnh giữa sóng lúa mì!

Lúc này, lão Ngũ sẽ nói, thím ơi, nghỉ một lát nhé?

Thế là nghỉ một lát.

Lưu Hán Hương bèn lấy giỏ đựng bánh lát ra, mỗi người chia hai cuộn.

Hoặc là bánh cuộn dưa chuột, hoặc cuộn hành tươi chấm tương, hoặc cuộn lá xoan muối... Lại bưng vò đất uống liền mấy hớp nước, thế này được coi là lót dạ trước.

Tiếp theo, gặt đến gần trưa, Lưu Hán Hương sẽ về trước.

Bữa cơm trưa này rất quan trọng, vội vã về nhà, trước tiên rửa tay, sau đó nhào bột, nhồi bột, cán bột, cắt mì, rồi làm món chan trứng gà, thái dưa chuột làm món trộn, giã tỏi ớt...

Lũ trứng thối ăn khỏe, tự nhiên không thể làm ít được, hết nồi này đến nồi khác thả xuống, rồi dùng nước ấm xả cho nguội, bảo ông dượng dùng đòn gánh gánh ra đồng, gánh một chuyến chưa đủ, còn phải gánh thêm chuyến nữa, mỗi đứa ăn tận ba bát lớn!

Thời gian lúc ấy cứ nối tiếp nhau, ăn xong rửa dọn, đến buổi chiều, trời vừa chập choạng tối, lại đến giờ kéo lúa ra sân phơi, kéo xong, lại chất thành đống, trời đã tối mịt.

Đến tối, người mệt rã rời, xương cốt cứ như nhũn ra, toàn thân giống như rã rời ra cả, nhưng Lưu Hán Hương vẫn không thể nghỉ ngơi, cũng chẳng có lúc nào được nghỉ ngơi cả.

Lên đèn, Lưu Hán Hương liền khiêng chiếc máy khâu mượn từ nhà mẹ đẻ ra.

Chính vào mùa hè năm nay, Lưu Hán Hương lén lút nhận một số việc vá víu của người trong làng, đầu tiên là may áo lót cho người ta, hoặc làm áo vải, hoặc làm đồ hồi môn khi con gái lấy chồng, nhưng làm mãi thì người đến tìm ngày càng đông.

Đều là những việc cần dùng gấp của người trong làng, có giới hạn thời gian.

Lưu Hán Hương liền từng món một làm cho kịp, đôi chân đạp trên bàn đạp máy khâu "cạch cạch cạch..." đạp liên hồi.

Khi mệt quá, cô lại gục lên máy chợp mắt một lát, rồi lại tiếp tục may, bận rộn suốt đến tận nửa đêm.

Đương nhiên việc này có thu tiền (đó là tiền mua mắm muối dấm giấm, còn có tiền học phí của lũ trứng thối nữa).

Lưu Hán Hương thấy không tiện trực tiếp thu tiền, liền bảo lão Ngũ mang đi, lão Ngũ là đứa nói gì cũng được.

Việc này tuy hơi có vẻ mang màu sắc "tư bản", nhưng đều là đồ dùng cho người trong làng, là nhận làm lén lút từng nhà một, lại nể mặt bí thư, nên mọi người cũng nhắm một mắt mở một mắt cho qua.

Khoảng thời gian ấy "vá" lại vừa khít vừa chặt, chặt đến mức khiến người ta thở không ra hơi.

Mỗi ngày vừa mở cửa ra là lại có đủ thứ chuyện vụn vặt lòi ra.

Nhất định phải kể đến thằng lão Ngũ, đúng là một cái đồ chuyên phá phách!

Hôm nay, làm vỡ một tấm kính ở trường; ngày mai, lại dùng hỏng bút chì của nhà người ta; ngày hôm sau, thì khăn quàng đỏ bị người ta trộm mất, mà không đeo khăn quàng đỏ thì giáo viên không cho vào lớp!

Không thì lại tè vào bắp cải nhà người ta...

Đây đều là những chuyện nhỏ nhặt, và đều cần Lưu Hán Hương ra mặt mới dẹp yên được.

Thế là cứ "tạch tạch tạch" chuyến này, "tạch tạch tạch" chuyến khác, đến đền tiền cho người ta thì đền tiền; nên xin lỗi người ta thì cúi đầu xin lỗi...

Lại còn họ hàng, còn lễ nghĩa, không thể cứ thế mà cắt đứt được, phải qua lại thì vẫn phải qua lại, bánh ngọt nhất định phải đóng thành hai hộp!

Lưu Hán Hương nói, tôi đã đến đây rồi, thì không thể giống như trước kia được.

Cái gọi là "khách quý" nhà họ Phùng giờ đã trở thành lão Ngũ ham ăn, nó tỏ ra rất "tích cực", lần nào cũng tranh đi.

Nhưng Lưu Hán Hương lại cứ thấp thỏm lo lắng cho nó, lúc lên đường, mặc quần áo tử tế cho nó, cài cúc áo giùm, dặn dò đủ điều.

Có một lần, nó đi độ chừng một bữa cơm, thế mà lại nghênh ngang quay về, hai tay xách hai gói thịt lừa, nói, thím ơi, thím à, em cắt cho thím hai cân thịt lừa này!

Nhưng lời nó vừa dứt, đã có người đuổi đến tận nhà, nói nó lừa gạt người ta!

Ngay trước mặt Lưu Hán Hương, lão Ngũ cãi: Tôi không lừa anh! Anh nói xem, tôi lừa anh à?

Người đó tầm năm mươi tuổi, bị chột một mắt, người ta gọi là "lão Chột", là một kẻ bán thịt lừa.

Lão Chột một tay cầm dao thái thịt, một tay xách hai hộp bánh ngọt, nhảy cẫng lên quát lớn: Cái đồ chó chết này, nó đổi qua đổi lại hai hộp bánh ngọt, lấy bốn cân thịt lừa của tao, lại còn bắt tao gói thành hai gói, thế mà dám bảo không lừa tao?!

Lão Ngũ liền cãi lại: Đây là anh tự nguyện đấy chứ, nếu anh không tự nguyện, tôi đổi được cho anh chắc? Số bánh này là tôi mang đi thăm họ hàng đấy, anh cứ kỳ kèo đòi đổi, thì tôi đổi cho anh thôi, lại còn đổ vạ cho tôi...

Gã bán thịt lừa trợn trừng con mắt chột, há hốc mồm rồi khóc ré lên: Mẹ kiếp nhà nó chứ, để cho ai phân xử xem nào, hai hộp bánh ngọt mà đổi được bốn cân thịt lừa á? Tao, tao... tao đúng là bị cái đồ chó chết mày lừa cho một vố đau rồi!

Lão Ngũ ấp ú nói: Thì... thì... đúng là thế mà, lời này không sai chút nào, nhưng mà em... em chưa kịp phản ứng lại, sao mà nói qua nói lại thế nào, ái chà, hai hộp bánh ngọt lại thành ra đổi được bốn cân thịt lừa nhỉ?!...

Nghe đến đây, Lưu Hán Hương nhịn không được phì cười, cười lớn!

Một đứa trẻ nhỏ thế này, vậy mà lại trị được một người đàn ông hơn năm mươi tuổi.

Sau khi cười xong, cô bảo: Nghe lời, đem thịt lừa trả lại cho người ta, đi thăm họ hàng cho đàng hoàng vào.

Thế mà, chính cái tên lão Ngũ ham ăn này, vừa từ nhà họ hàng về, đột nhiên lăn ra sân lăn lộn, hết tiếng này đến tiếng khác kêu la: Đau quá thím ơi, em đau quá, đau chết mất thôi!

Lưu Hán Hương vội vã chạy đến, ôm chầm lấy nó vào lòng, liên mâu hỏi: "Út tiểu đệ, sao thế em, em bị làm sao vậy?"

Nó "ọe" một tiếng nôn thốc nôn tháo, nôn lên cả người Lưu Hán Hương, sực nức mùi thịt lừa!

Tiếp theo là nôn mửa tiêu chảy liên tục, cả người trông thấy rõ rụt rè héo rũ...

Lưu Hán Hương cũng chẳng màng gì nữa, vội vàng đưa nó đến trạm xá xã, bác sĩ trạm xá xã cũng không chẩn đoán ra nổi rốt cuộc là bệnh gì, bèn tiêm cho nó một mũi, giục đưa ngay lên huyện!

Thế là vội vã chạy lên huyện trong đêm, bệnh cuối cùng cũng được chẩn đoán ra, là viêm ruột thừa cấp tính.

Bệnh viện đòi tiền đặt cọc hai trăm tệ, không đưa tiền thì không cho vào phòng mổ.

Hồi đó hai trăm đồng không phải là số tiền nhỏ, Lưu Hán Hương trong lúc cấp bách chẳng biết làm sao, đành đem chiếc xe đạp mượn được cầm cố ở đó, bảo bác sĩ phẫu thuật cho nó trước, rồi chạy đôn chạy đáo đi mượn tiền bạn học...

Tiền đã mượn được, phẫu thuật cũng đã xong, Lưu Hán Hương lại túc trực ở bệnh viện chăm sóc nó suốt ba ngày ba đêm, đến khi bệnh của nó khỏi hẳn, câu đầu tiên nó nói là: "Thím ơi, em ngửi thấy có mùi thịt lừa."

Lưu Hán Hương nhịn không được lại phì cười, cười mà hai mắt đẫm lệ, nói: "Thằng út, suýt chút nữa là em mất mạng rồi đấy!"

Số tiền hai trăm tệ mượn để khám bệnh ấy, là Lưu Hán Hương đạp máy khâu suốt cả mùa hè mới từ từ trả hết...

Vào những đêm hè ấy, bốn đứa trứng thối lúc nào cũng mỗi đứa kéo một chiếc chiếu cũ, nằm thành một hàng dài ngoài sân (trước kia chúng không thế này. Trước kia chúng thích kéo chiếu ra sân phơi ngủ, ở sân phơi đông người, lại sáng sủa nữa), cứ nằm ở vị trí cách Lưu Hán Hương không xa.

Trong này tự nhiên có ý bảo vệ, lại có cả sự bịn rịn lưu luyến nữa.

Đó là một thứ tình cảm lưu luyến ngầm hiểu với nhau.

Cũng là sự canh chừng khắc cốt ghi tâm.

Trong gia đình này, chẳng biết từ lúc nào, người phụ nữ đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho đàn ông, trở thành linh hồn của đàn ông, trở thành điểm tựa duy nhất của các nam nhân.

Tiếng máy khâu "cạch cạch cạch..." giống như khúc ru ngủ, đồng hành cùng chúng chìm vào giấc ngủ.

Thường thì, đang ngủ say, mở mắt ra là lại nhìn thấy Lưu Hán Hương, nhìn thấy rồi trong lòng vô cùng an tâm.

Có lúc, lũ trứng thối còn lén lút rơi nước mắt, nhất là thằng út thứ tư, người ta vốn nhút nhát, đang ngủ say, mở mắt ra là lén nhìn cô, nhìn xong, nước mắt trào ra lã chã... Cũng chẳng biết đang nghĩ ngợi gì.

Nửa đêm, Lưu Hán Hương cũng sẽ đứng dậy đắp chăn đơn cho chúng, vén lại góc chăn giùm, sợ chúng bị nhiễm lạnh.

Lúc này, trong lòng cô dâng lên rất nhiều tình mẫu tử, rất nhiều sự che chở và quan tâm, ngọt ngào vô cùng!

Nhất là khi lũ trứng thối lẩm bẩm thì thầm điều gì đó trong giấc mơ, ngẩng đầu nhìn đầy trời sao rực rỡ, Lưu Hán Hương cảm thấy mình vô cùng hạnh phúc!

Đúng vậy, cô đều nghe thấy cả.

Ngay cả trong giấc mơ, lũ trứng thối vẫn gọi từng tiếng: "...Thím ơi, thím."

Cô biết rằng, chúng gọi cô gần như là gọi một người "mẹ", cô chính là "thím mẹ" của chúng mà!

Thêm nữa, điều khiến cô yên tâm nhất, chính là món đồ mà lão Tần ở bưu điện mang đến...

Chớp mắt đã năm năm, trong khoảng thời gian dài đằng đẵng năm năm ấy, cứ đến cuối mỗi năm, lão Tần đều mang đến cho cô một bức thư, trong phong thư ấy đựng một tờ giấy khen "Chiến sĩ ngũ hảo".

Ở mặt sau giấy khen, bao giờ cũng có ba chữ ấy:

— Chờ em về.

Ba chữ này, trong lòng Lưu Hán Hương, chính là "nhân duyên tiền định", chính là duyên phận do trời định, chính là lời ước hẹn đời đời kiếp kiếp... Thật tốt làm sao, Lưu Hán Hương thầm nghĩ trong lòng, điều này thật tốt biết bao!

Bạn thử nghĩ xem, hết năm này qua năm khác, mùa thu đến xuân đi, có ba chữ này chống đỡ vững vàng, lòng dạ ngập tràn, rực rỡ ánh hồng khắp bầu trời, thời gian thì tính là gì chứ?

Khoảng thời gian ấy trôi nhanh tựa như bay!

Thế nhưng, ai có thể ngờ được chứ?

Có những lúc, chuyện đời đâu phải cứ muốn là được đâu...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lý Bội Phủ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.