Đối với Trú tạng đại thần Phủ Thái mà nói, việc Đạt Lai Lạt Ma thân chính khiến ông cảm thấy rắc rối hơn rất nhiều. Đối với Nhiếp chính vương Địch Mục, dù là đe dọa khủng bố, hay thuyết phục dụ dỗ, ông cảm thấy đều là đối mặt với một người, mặc dù đằng sau người này là toàn bộ chính quyền địa phương Tây Tượng. Đạt Lai Lạt Ma thì khác, ngài tượng trưng cho một tập đoàn tăng lữ, tập đoàn này thâm sâu khó lường đến mức người ngoài hoàn toàn không biết ai mới là người quyết định cuối cùng.
Trên bề ngoài, uy quyền của bản thân Đạt Lai Lạt Ma là tối cao vô thượng, nhưng ngài rốt cuộc vẫn là một thanh niên hoàn toàn chưa có kinh nghiệm chính trị, vừa mới bước qua tuổi thiếu niên, ngài cần sự mưu hoạch của các mưu sĩ và sự định đoạt của các bậc tiền bối. Rốt cuộc là ai đã định đoạt việc ngài đột ngột thân chính? Lại là ai đã định đoạt quyết tâm kiên quyết kháng cự sự xâm lược của người Anh sau khi ngài thân chính?
Phủ Thái kiên quyết không tin rằng việc giáng thần hỏi quẻ của Nãi Cùng đại hộ pháp có thể quyết định tất cả, cũng không tin Đà Mỹ hoặc Phật gia cùng Đốn Châu cát lẫn và đại hội đại biểu ba đại tự cùng quần chúng do họ phát động có thể thay đổi cục chính trị Tây Tạng. Ông cảm thấy bên trong cung Potala với những bức tường cao thành dày, những vị kinh sư và thân tùy của Đạt Lai Lạt Ma hoàn toàn không lộ mặt kia, mới thực sự là những người có sức ảnh hưởng và có quyền lực.
Phủ Thái theo lệ tham dự đại điển thân chính của Đạt Lai Lạt Ma ở cả hai nơi là chùa Đại Chiêu và cung Potala, tại đại điển ngoài những lời chúc mừng ra thì không còn lời nào khác. Sau đó, ông hoàn toàn không còn cơ hội để gặp lại vị lãnh tụ chính giáo mới nhậm chức này nữa. Mà ông lại buộc phải gặp, ông phải đem những đạo lý đình chiến bãi chiến, dùng văn tranh lý luận để ngăn cản mà ông từng nói trước mặt Địch Mục hoạt Phật, nói lại với vị Thần vương không biết trời cao đất dày trong mắt ông một lần.
Nhưng ông đi hai lần, cả hai lần đều bị đuổi về. Đạt Lai Lạt Ma luôn cáo bệnh không xuất hiện, vị tăng lữ truyền lời nói ra vẻ rất nghiêm trọng: "Chóng mặt hoa mắt, khô miệng sinh mụn, đau nhức khắp người, tính tình nóng nảy." Phủ Thái nói: "Triều đình có thánh chỉ, chẳng lẽ không thể nghe theo thánh chỉ sao?" Câu trả lời là: "Bệnh khỏi rồi hãy nghe."
Thế nhưng bệnh của Đạt Lai Lạt Ma mãi vẫn không khỏi. Phủ Thái không còn cách nào khác, đành phải thảo ra hai bức điện văn, một bức gửi cho triều đình, một bức gửi cho Garlan thượng tá. Phủ Thái khác với Văn Thạc, ông đến Tây Tạng có mang theo một thông dịch viên tiếng Tây phương và một đài điện báo đối ngoại, có thể trực tiếp thông điện với Garlan thượng tá.
Bức điện Phủ Thái gửi cho triều đình là để tố cáo, nói rằng Đạt Lai Lạt Ma thâm cư giản xuất, rất khó tiếp xúc, việc uyển chuyển truyền đạt thánh huấn hào hùng đều không được tuân theo. Nhìn vào lời nói hành động của các đại thần Tây Tạng, sự trái ngược rất nhiều, cho dù Trương Nghi Tô Tần sống lại, cũng không thể thuyết phục được Đạt Lai Lạt Ma cùng người Tạng. Ông muốn trực tiếp tiếp giáp với người Anh, nhưng người Tạng không chịu cung cấp ngựa và phu xe. Xem ra cách duy nhất hiện giờ là mặc cho người Tạng gây hấn chặn đánh, để người Anh dạy cho họ một bài học nhớ đời. Đợi đến khi nhìn thấy kết quả thảm bại, người Tạng mới thu liễm bản tính của mình.
Còn bức điện Phủ Thái gửi cho Garlan thượng tá lại mang vẻ mặt nịnh nọt bán đứng, nói rằng quý đại thần dẫn binh đến Tây Tạng, hành quân đã lâu, những điều mưu tính sắp đặt đều dụng tâm lương khổ, nhưng lại không đạt được thành công lớn. Nguyên nhân là vì người man rợ xảo trá, không nằm trong tình lý, tuy được bản đại thần hết sức vãn hồi, nhưng việc giáo hóa khó khăn tựa như việc tiến binh của quý đại thần vậy. Hiện nay, quý đại thần bất ngờ tiến sâu vào trong, tính tình ngạo mạn của người Tạng nhất định sẽ càng thêm trầm trọng, sau này ký kết thông ước truyền giáo e rằng sẽ càng thêm gai góc. Lại mong quý đại thần trong lúc tiến quân nhanh chóng hãy rải lòng nhân mà bớt đi việc sát lục, tránh để lại thù hận căm phúng, hãy nghĩ đến kế sách lâu dài rồi mới tính tiếp.
Sau hai bức điện văn, Phủ Thái cảm thấy với tư cách là Trú tạng đại thần, ông đã làm tròn trách nhiệm của mình, không hề trái với ý chỉ triều đình, cũng không đắc tội với người ngoại giáo phương Tây. Còn thái độ của người Tây Tạng thì thực ra không có gì quan trọng, cùng lắm là chết nhiều người hơn, phàn nàn oán giận nhiều hơn, chẳng lẽ họ còn dám mưu phản hay sao?
Điều khiến Phủ Thái tiếc nuối nhất là việc ông muốn phò trợ một vị lãnh tụ chính giáo vừa vâng lệnh Trú tạng đại thần vừa khiến người Anh hài lòng tại Tây Tạng đã tan thành mây khói. Việc Đạt Lai Lạt Ma đột ngột thân chính không chỉ khiến triều đình không thể chiếu phong Ban Đan hoạt Phật làm "Nô Môn Hãn" theo ý nguyện của người Anh và thay thế Địch Mục hoạt Phật đảm nhiệm chức Nhiếp chính vương Tây Tạng, mà còn đẩy Ban Đan hoạt Phật vào một vực sâu nguy hiểm đến tính mạng.
Ban Đan hoạt Phật tuy là người nghe được tin tức Đạt Lai Lạt Ma sắp thân chính sớm nhất, nhưng lại không lập tức rời khỏi Công Đức Lâm để trở về chùa Bạch Cư Giang Tử. Ông muốn tham dự đại điển thân chính của Đạt Lai Lạt Ma xong rồi mới đi. Ngày cử hành đại điển, ông xuất phát từ Công Đức Lâm từ sáng sớm, ngồi kiệu hướng về cung Potala, khi đi qua một khu rừng thì đột nhiên nghe thấy một tiếng móng ngựa vang dội, tiếp theo là một tiếng kêu vang, "cộp" một tiếng, thân thể ông chấn động, chiếc kiệu cũng theo đó mà dao động một chút. Chỉ nghe thấy vị lạt ma khiêng kiệu đặt kiệu xuống, hoảng hốt la lớn: "Giết người rồi, giết người rồi."
Tiếng móng ngựa trong nháy mắt đã đi xa. Ban Đan hoạt Phật xốc rèm kiệu bước ra, nhìn thấy một mũi tên phát vung cắm trên xà kiệu, trên lông vũ buộc một dải lụa trắng. Ông xé dải lụa trắng xuống nhìn, bên trên có một vệt mực, một vệt máu, và một vệt chất thải. Ông biết vệt mực tượng trưng cho thù hận của quyền thế, vệt máu tượng trưng cho thù hận của chém giết, chất thải tượng trưng cho thù hận của tương lai, nhưng lại không biết tại sao mối thù hận như vậy lại nhắm vào ông. Là ai, ai mà có thù hận mãnh liệt với ông như vậy? Kỳ thực không hỏi cũng tự rõ, toàn thân ông lạnh ngắt, nội tâm run rẩy lạnh lẽo, hồi lâu mới định thần lại được.
Mũi tên phát nhằm vào ta mà đến, tuấn mã bỏ ta mà đi. Đã mang họa vào thân thì đi đến đâu cũng không trốn thoát được. Ban Đan hoạt Phật không hề quay về Công Đức Lâm theo lời cảnh báo của mũi tên phát, mà tiếp tục đi về phía cung Potala, thản nhiên bình tĩnh tham dự cho đến hết đại điển thân chính của Đạt Lai Lạt Ma.
Nhưng ông không bao giờ quay về Công Đức Lâm nữa, cũng không quay về chùa Bạch Cư Giang Tử nữa. Không lâu sau khi ông rời khỏi cung Potala, ông đã mất tích, ông và toàn bộ gia nhân tùy tùng đều mất tích. Không ai biết ông đã đi đâu, mọi người chỉ có thể đoán già đoán non: Ông là đại sư tu trì thời luân kham dư Kim Cương đại pháp, ai có thể ngăn cản hành tung của ông chứ? Trừ phi dùng một phương pháp cực kỳ khủng bố để khống chế ông, khiến cho sự tự do trở thành bờ bên kia mà pháp lực của ông mãi mãi không vươn tới được.
Chẳng bao lâu sau, tin tức Ban Đan hoạt Phật bị khóa thân lưu đày đã lan truyền ra ngoài.
Ngay lúc Trú tạng đại thần Phủ Thái muốn gặp Đạt Lai Lạt Ma mà không gặp được, vừa bẩm báo triều đình, vừa phát điện báo cho người Anh, thì Xích Liệt hoạt Phật, tự chủ của chùa Tuyết Lãng, đã bước vào Lhasa. Ông đi khắp nơi nghe ngóng tin tức về cựu Trú tạng đại thần Văn Thạc, thu hút sự chú ý của rất nhiều người, chẳng mấy chốc có người đã báo cáo hành tung của ông cho cung Potala. Cung Potala phái mấy vị lạt ma chặn Xích Liệt hoạt Phật lại, hỏi ông tìm Văn Thạc có chuyện gì?
Xích Liệt hoạt Phật nói: "Tôi chịu sự ủy thác của Ngụy Băng Hào đến gặp Văn Thạc, có một bức thư muốn tận tay giao cho ông ấy."
Mấy vị lạt ma nói: "Đạt Lai Lạt Ma không muốn ngươi gặp Văn Thạc."
Xích Liệt hoạt Phật nói: "Vậy thì xin các vị bẩm báo với Đạt Lai Lạt Ma, chính Ngụy Băng Hào đã bảo vệ chùa Tuyết Lãng. Tôi mà không giao bức thư di ngôn của cậu ta cho Văn Thạc thì tôi không thể quay về được. Quay về thì ăn nói thế nào với Ngụy Băng Hào đây? Tây Giáp lạt ma đã nói rồi, Ngụy Băng Hào là hóa thân thời chiến của đại hộ pháp Đán Ba Trạch Lâm. Cậu ấy mà nổi giận bỏ chúng ta mà đi, chùa Tuyết Lãng sẽ phải chịu tai họa binh đao loạn lạc." Sau đó, ông miêu tả chi tiết sự tích Ngụy Băng Hào tự mình buộc thuốc nổ, xông vào trận địch, thổi bay mấy chục con ma quỷ phương Tây. Mấy vị lạt ma cung Potala nghe xong ngây người trợn mắt.
Cung Potala bao gồm cả Đạt Lai Lạt Ma không hề có thiện cảm với cựu Trú tạng đại thần Văn Thạc, bởi vì trong thông tin họ có được, quan hệ giữa Văn Thạc và cựu Nhiếp chính vương Địch Mục hoạt Phật không hề bình thường, cộng thêm việc Văn Thạc ký kết điểm chỉ với người Anh bán đứng Tây Tạng là sự thật không thể xóa nhòa, thế nên họ đã giam giữ và bỏ tù Văn Thạc, không muốn để ông ta cứ thế nhẹ nhàng rời đi như vậy. Phàm là người ở cung Potala, hễ nhắc đến Văn Thạc là sẽ nói: Một kẻ giúp đỡ ma quỷ phương Tây, thân mật với Địch Mục, cái Tây Tạng cần không phải là ngón tay đứt của hắn, mà là cái đầu đứt của hắn.
Nhưng bây giờ họ không nói vậy nữa, bởi vì Đạt Lai Lạt Ma đột nhiên cấm họ nói như vậy. Không những thế, Đạt Lai Lạt Ma còn chỉ thị rõ ràng cho Cáp Sát, thả Văn Thạc ra, phái xe ngựa ula, cấp cho bạc trắng, tiễn ông ta về kinh.
Các lạt ma của cung Potala hộ tùng Xích Liệt hoạt Phật đến trước căn nhà nhỏ sâu trong thôn Tuyết Thôn để gặp Văn Thạc vừa mới được thả ra. Văn Thạc nhìn bức thư của Ngụy Băng Hào do Xích Liệt hoạt Phật mang đến, hướng về phía chùa Tuyết Lãng, nằm rạp lên bức tường lợn quanh căn nhà nhỏ khóc lớn oang oang: "Con ơi, con cứ thế mà chết rồi sao?"
Lúc này mọi người mới hiểu tại sao Đạt Lai Lạt Ma lại thay đổi thái độ. Ngụy Băng Hào chính là con trai ruột của Văn Thạc. Văn Thạc dường như đã sớm biết, trong cuộc chiến tranh do người Anh phát động này, ông ta chỉ có thể dùng tính mạng của con trai mình để cứu vãn chính mình.
Văn Thạc đã được tự do, nhưng ông ta không đi. Các cô gái thôn Tuyết Thôn không muốn ông ta đi, bản thân ông ta cũng cảm thấy đã không còn cần thiết phải quay về kinh thành để chờ triều đình tra xét nữa. Ông ta dọn vào ở trong nhà của cô gái thôn Tuyết Thôn, biến thành một người Mãn định cư ở Lhasa. Mọi người đều coi ông ta là chồng của cô gái thôn Tuyết Thôn. Bản thân ông ta cũng không phản bác, chỉ dùng những lời người Tây Tạng không hiểu mà nói: "Chỉ có thể coi là vợ lẽ, vợ lẽ mà thôi."
Mặc dù có lời đồn Đạt Lai Lạt Ma đang mang bệnh trong người, nhưng cục diện chính giáo của Lhasa lại trong sự biến đổi lớn mà ngày càng chứng minh sự tồn tại cứng rắn của vị Thần vương này. Thần vương với phong cách nhanh nhẹn dứt khoát đã châm ngòi cho đợt sóng gió chính trị đầu tiên sau khi thân chính, Tây Tạng đã mở ra tấm màn che cung Potala chủ đạo mọi thứ.
Đầu tiên là một cuộc thăm dò ý kiến quan chức, phàm là quan chức từ thất phẩm trở lên làm việc trong Cáp Sát, đều phải viết rõ thái độ của mình trên một tờ giấy: Tán thành kháng Anh diệt địch hay chủ trương nghị hòa đầu hàng. Đạt Lai Lạt Ma vừa mới thân chính, chưa từng công khai biểu đạt quan điểm ở bất cứ đâu về sự kiện tinh binh Thập Tự quân Anh xâm lược Tây Tạng hiện tại, mọi người không nắm rõ nội tình, cho nên nghĩ thế nào thì viết thế nào. Nhưng không ngờ, đây lại là một biện pháp để Đạt Lai Lạt Ma xây dựng uy quyền và biểu đạt quyết tâm. Tất cả các quan chức chủ trương nghị hòa đầu hàng, bất kể tăng hay tục, lập tức bị cách chức, bao gồm một vị kham bố cấp bậc tam phẩm và bốn vị quan chức cấp cao cấp bậc tứ phẩm. Những chỗ trống do cách chức tạo ra nhanh chóng được lấp đầy, những người được bổ nhiệm mới đều là những quan chức có thái độ kháng Anh diệt địch quyết liệt nhất.
Đây rõ ràng là bước đi quan trọng để Đạt Lai Lạt Ma thực hiện thiết huyết và nâng cao hiệu suất trong chính quyền của mình. Những việc tiếp theo có vẻ dễ giải quyết hơn nhiều, chính quyền Cáp Sát và tất cả các cơ quan nhân sự của cung Potala đều bắt đầu xoay quanh việc chống lại kẻ thù ngoại giáo phương Tây, bảo vệ Tây Tạng Phật giáo mà vận hành. Quan trọng nhất vẫn là điều động toàn bộ binh lực hiện có của Tây Tạng và dốc sức chiêu mộ dân binh, tăng binh chạy về Giang Tử. Do Đốn Châu cát lẫn có trọng trách khác, Đạt Lai Lạt Ma đã lựa chọn phái quan chức thế tục tứ phẩm Khúc Triết Đan Nỗ đảm nhận chức tổng quản dân binh, toàn quyền phụ trách việc điều động và chiêu mộ binh lính và dân binh Tây Tạng, đồng thời chỉ định hoạt Phật Đang Châu của Mặc Ba Trát Thương phò tá hoạt Phật Đà Mỹ chiêu mộ và chỉ huy toàn thể tăng binh.
Nhưng quyền lực và thiết huyết dường như vẫn không thể đảm bảo Đạt Lai Lạt Ma sau khi thân chính có thể làm chủ Tây Tạng và tất cả mọi người theo mong muốn của chính ngài và cung Potala. Cùng với việc nhân sự bổ nhiệm xảy ra thường xuyên, bầu không khí ở Lhasa đột nhiên trở nên kỳ dị, gió yêu quái nổi lên bốn phương, đâu đâu cũng là những tin đồn bất lợi cho Đạt Lai Lạt Ma.
Nãi Cùng đại hộ pháp giáng thần truyền dụ: Chú đen cực kỳ độc ác đã xuất hiện, đang bay về phía cung Potala. Chú đen không trừ, thì không thể để Đạt Lai Lạt Ma thi triển hoài bão kháng Anh, đánh lui ác ma ngoại giáo.
Dạ xoa đầu dê chiếm cứ Lhasa hiển linh, khiến cho một bức tường cổ trăm tuổi trên phố Barkhor sụp đổ dưới ánh nắng buổi trưa, từ trong bụi mù tung bay, người ta phát hiện ra những bùa chú độc ác nhắm vào Đạt Lai Lạt Ma cũng được tung bay lên.
Có cao tăng dựa vào chú ngữ phản chú mạnh mẽ, đã đào được những con bọ cạp lớn mang bùa chú trên lưng từ dưới chân Hồng Sơn - nơi tọa lạc của cung Potala, bên trong chùa Samye ở cảnh nội Tạng Nang, dưới hành lang trước điện Bất Động Kim Cương của chùa Tiểu Chiêu, bên cạnh cây liễu của Lạp La Thố, trong các hang đá của núi Dược Vương, trong khu vườn Norbulingka.
Kim Ba hộ pháp thần có thần thông quảng đại và là người chính trực, được người ta mời đến chuồng ngựa của nhà người này, trước tiên giáng thần, sau đó đào trùng độc ra, mổ bụng ngay tại chỗ, lấy ra bùa chú và tóc. Ông giải thích nội dung kinh văn trên bùa chú là thanh kiếm đen đâm vào Thần vương, giải thích tóc chính là Thần vương Đạt Lai Lạt Ma. Hỏi ông ai đã đặt bùa chú. Ông lắc đầu không nói, quay người đi về phía bảo tháp gạch đang đốt khói tang, thiêu hủy bùa chú đi.
Đan Cát Lâm thu nạp rất nhiều kẻ tàn dị như sáu ngón, sứt môi, chột mắt, cụt tai, mất mũi, cổ bướu làm gia nhân, trốn trong địa cung bí cảnh nơi Địch Mục hoạt Phật bế quan tịnh tu, ngày đêm bỏ độc tụng chú. Những người này đều là hóa thân của yêu ma quỷ quái, là thủ đoạn mà Địch Mục hoạt Phật dùng để hãm hại Đạt Lai Lạt Ma.
Có người chặn quản gia Bạch Nhiệt của Đan Cát Lâm trên phố Lhasa, chất vấn rằng: "Tại sao lại hãm hại Đạt Lai Lạt Ma? Khuyên Địch Mục hoạt Phật đừng có phẫn nộ bất mãn vì mất đi địa vị Nhiếp chính vương và việc chống lại sự xâm phạm của người Anh."
Quản gia Bạch Nhiệt nói: "Đạt Lai Lạt Ma đã trưởng thành, ngài ấy đã nắm giữ đại quyền chính giáo, ai dám hãm hại ngài ấy?"
Người nọ phản bác: "Còn không thừa nhận, kinh văn nguyền rủa Đạt Lai Lạt Ma chết sớm đã biến thành bọ cạp có cánh, bay đầy khắp Lhasa rồi."
Điều càng khiến người ta bất an hơn là, liên tục có cao tăng đi đến cung Potala để thăm hỏi Đạt Lai Lạt Ma. Đạt Lai Lạt Ma hoàn toàn không tiếp kiến, chỉ phái lạt ma thị giả nói rằng: Bảo vật Phật của chúng ta bị bệnh rồi, chóng mặt đến mức không đứng dậy nổi, đầy miệng mụn nhọt, khắp người đau nhức, ăn ngủ không yên. Lạt ma Tạng y kê đơn không có tác dụng, đại kinh sư niệm "Kinh Bình An" cũng không có tác dụng. Đạt Lai Lạt Ma nói: "Những năm này, ta thường xuyên nằm mơ thấy điềm báo, có người muốn ác ý hãm hại ta, khiến cho tính tình ta nóng nảy, không thể tham gia vào đại nghiệp chính giáo và kháng cự ngoại giáo Anh quốc. Kẻ mưu đồ hại ta không trừ thì bệnh của ta không khỏi, cách cái chết chắc cũng không xa nữa."
Ồ, Đạt Lai Lạt Ma. Vào thời khắc nguy nan ma quỷ ngoại giáo xâm lược này, ngài không thể chết được.
Bây giờ, mọi người đều tập trung mục tiêu vào một vấn đề: Ai đã đặt bùa chú, niệm kinh chú? Ai muốn hãm hại Đạt Lai Lạt Ma? Mặc dù rất nhiều người cảm thấy đây hẳn là việc làm của Địch Mục hoạt Phật và Đan Cát Lâm, nhưng tất cả chỉ là phỏng đoán, không có một chút bằng chứng ra trò nào, cho dù có bày con bọ cạp lớn mang bùa chú và bùa chú, tóc lấy từ bụng trùng độc lên bàn, thì cũng không thể nói đó chắc chắn là do Địch Mục hoạt Phật sai khiến lạt ma Đan Cát Lâm làm. Còn về những kẻ tàn dị như sáu ngón, sứt môi, chột mắt, cụt tai, mất mũi, cổ bướu được Đan Cát Lâm thu nạp, thì có thì có thật, nhưng điều đó có thể được giải thích là từ bi hướng thiện, làm thế nào để chứng minh họ là yêu ma quỷ quái trốn trong địa cung bí cảnh thả chú độc?
Trong những tin đồn điên cuồng, Lhasa vẫn bình lặng như mọi khi.
Dường như mọi người đều đang chờ đợi, chờ đợi một cơ hội suy diễn ra kết quả.
Ai mà ngờ được, cơ hội này lại do Trú tạng đại thần Phủ Thái tạo ra. Phủ Thái không gặp được Đạt Lai Lạt Ma, không thể thực hiện ý chỉ cầu hòa đầu hàng người Anh của triều đình, lại cảm thấy những vị kinh sư và thân tùy chưa từng lộ mặt bên cạnh Đạt Lai Lạt Ma mới thực sự là những người có sức ảnh hưởng và quyền lực, liền muốn uy khúc tiếp cận, dùng sự gia phong của triều đình làm mồi nhử mua chuộc một hai người bọn họ, cũng coi như có thể ảnh hưởng đến Đạt Lai Lạt Ma trong tương lai. Nhưng Phủ Thái mới đến, không nắm bắt được mối quan hệ thân sơ gần xa, nghĩ rằng người duy nhất hiện tại có thể đối thoại với mình chỉ có cựu Nhiếp chính vương Địch Mục hoạt Phật, liền muốn đi thăm dò xem sao. Phủ Thái đã đi, đi là có chuyện.
Từ ngày này trở đi, tất cả tầng lớp thượng tầng tăng tục ở Lhasa đều biết rằng, Địch Mục hoạt Phật sau khi từ bỏ chức vụ Nhiếp chính vương, chịu sự lạnh nhạt mà không cam lòng, muốn mượn lực lượng của Trú tạng đại thần để quay lại nắm quyền Nhiếp chính. Dùng bùa chú nguyền rủa Đạt Lai Lạt Ma chết là bước đầu tiên, bây giờ bước đầu tiên đã có hiệu quả rõ rệt, liền bắt đầu bước thứ hai, đó là bàn bạc khẩn cấp với Trú tạng đại thần Phủ Thái về việc Đông Sơn tái khởi. Nói thật, một số người trong số họ thực ra không hề phản cảm Địch Mục hoạt Phật, nhưng lại vô cùng cảnh giác với sự kết hợp giữa Phủ Thái và Địch Mục, dù sao thì không ai trong số họ muốn nghị hòa đầu hàng, đặc biệt là khi Đạt Lai Lạt Ma đã chứng minh ngài là một lãnh tụ chính giáo kiên quyết kháng cự người Anh, nỗi lo lắng rằng ma quỷ ngoại giáo phương Tây sẽ ăn mất Phật giáo Tây Tạng đang dần biến thành niềm tin kháng cự, sự chán ghét của họ đối với kẻ chủ hòa Phủ Thái sẽ không hề giảm đi chút nào. Vì không muốn đầu hàng nên chán ghét Phủ Thái, lại vì Phủ Thái mà chán ghét Địch Mục. Địch Mục hoạt Phật sau một lần vô duyên vô cớ bị viếng thăm, bỗng chốc rơi vào trung tâm của sự thù địch.
Người hành động đầu tiên chính là tu viện Drepung. Họ nhân tiện lợi thế ở gần chùa Nãi Cùng, khẩnỉnh Nãi Cùng hộ pháp bói toán hỏi thần xem cát hung của Đạt Lai Lạt Ma ra sao. Quẻ bói hiển thị rằng: Có kẻ đang nguyền rủa ngài, làm tổn hại thân thể ngài. Thần hỏi Đạt Lai Lạt Ma: "Ngươi có thể chịu đựng được không?" Có lạt ma vội vã chạy đến cung Potala, truyền lại câu hỏi của thần cho Đạt Lai Lạt Ma. Đạt Lai Lạt Ma nói: "Ta không thể chịu đựng được, nhưng phải thận trọng đối phó với kẻ nguyền rủa ta."
Thị giả kham bố của Đạt Lai Lạt Ma lấy cớ thận trọng, mời Nãi Cùng hộ pháp đến cung Potala, thỉnh cầu một lần nữa cầu xin giáng thần dụ. Nãi Cùng hộ pháp sau một hồi nghi thức giáng thần điên cuồng đến cực điểm, mồ hôi đầm đìa mượn lời thần mà nói rằng: "Gần đây thế đạo không tốt, những kẻ xấu không làm việc đàng hoàng thỉnh thoảng lại xuất hiện, nguyền rủa Đạt Lai Lạt Ma, đang làm tổn hại thân tâm ngài."
Thị giả kham bố dồn dập hỏi: "Ai là kẻ xấu, ai đang nguyền rủa?"
Nãi Cùng hộ pháp lắc đầu, ngậm miệng không nói.
Hôm sau, Cáp Sát và đại biểu ba đại tự để xác thực hơn sự tồn tại của thần dụ, thỉnh cầu Nãi Cùng hộ pháp giáng thần lần thứ ba, vấn đề chính là: Bùa chú độc ác rốt cuộc là do ai làm? Lần này Nãi Cùng hộ pháp không che giấu, trong trạng thái mê mẩn cực độ, dùng khẩu khí của thần mà nói rằng: "Có một người đã tặng cho Đôn Già hoạt Phật của phái Nyingma một đôi bốt màu cao cấp, các người tra xem ai tặng là biết ngay. Lại có một kẻ tên là La Bố Thứ Nhân cũng biết. La Bố Thứ Nhân cấu kết với một mục sư ngoại giáo tên là Das. Mục sư này là đệ tử của Ban Đan hoạt Phật, Ban Đan hoạt Phật phản bội Phật giáo mà truyền thụ cho hắn thời luân kham dư Kim Cương đại pháp. Hắn có một bức tranh, trên tranh có đường đi, nước đen thú trắng đã đi tới."
Mục sư Das vẫn luôn ẩn nấp ở Giang Tử. Cái gọi là ẩn nấp, chính là không muốn để tinh binh Thập Tự quân biết, cũng không muốn để người Tây Tạng nhận ra mình. Hắn mặc lại tấm áo cà sa rách rưới, chống gậy, tóc tai bù xù, mặt mày dơ bẩn, giả làm tăng lữ vân du, đi về phía chùa Bạch Cư, muốn xem tôn sư Ban Đan hoạt Phật thế nào. Ban Đan hoạt Phật không có ở đó, mọi người trong chùa đều nói, ông ta vì vâng lệnh Trú tạng đại thần Phủ Thái và muốn thay thế Địch Mục hoạt Phật đảm nhiệm chức Nhiếp chính vương, nên đã bị Đạt Lai Lạt Ma vừa thân chính lưu đày đến một nơi rất xa rất xa rồi. Mục sư Das vô cùng kinh ngạc, tôn sư Ban Đan sao lại có suy nghĩ như vậy?
Hắn không tin, giả vờ đi khất thực, lang thang trước cửa chùa Bạch Cư rất lâu. Âm thanh lâu ngày không xuất hiện kia lại một lần nữa vang lên, vẫn lảnh lót tôn quý mà lại thoáng qua nhanh chóng: "Das mau đến đây, đợi anh, đợi anh." Hắn nghiêng tai muốn bắt lấy âm thanh ấy, âm thanh trơn tuột xẹt qua rồi biến mất. Hắn hít một ngụm khí lạnh: Dường như là sự triệu gọi của tôn sư Ban Đan hoạt Phật, âm thanh thần bí phát ra từ không trung gió thổi này.
Mục sư Das quay về hang động ẩn thân, trải "Bức tranh cát hung thiện ác" ra tỉ mỉ quan sát, không nhìn thấy những ký hiệu và đường nét ngoằn ngoèo trên đó có liên quan gì đến sự triệu gọi của tôn sư. Cái nhìn rõ ràng lại là quay về thung lũng Trát Chang, sau đó vòng qua Giang Tử, từ đó xiên chéo qua đèo Karo La. Không phải chỉ một mình hắn, mà là mang theo rất nhiều người. Tại sao bây giờ mới nhìn rõ? Tại sao đến đây mới biết cần phải quay về? Không không, không phải lúc trước hắn không nhìn rõ, là bản đồ đã thay đổi, bản đồ dùng sự cám dỗ của việc tu luyện đại pháp để dụ dỗ hắn đến Giang Tử, lại dùng lý do tương tự để dụ dỗ hắn rời khỏi Giang Tử. Tại sao? Chẳng lẽ chỉ để cho hắn biết hoàn cảnh hiện tại của tôn sư Ban Đan hoạt Phật sao? Nếu là như vậy, hắn nên lập tức rời đi. Nhưng hắn không rời đi, hắn biết, sự cám dỗ mãnh liệt hơn không phải là sự chỉ dẫn của bản đồ, mà là trái tim hắn, trong tim hắn luôn mang theo lời thề đó: "Tôi nhất định sẽ quay về, không quay về thì Kim Cương đại pháp của tôi tu luyện không thành, tu luyện thành rồi cũng sẽ như nước đi vào bụng rồi lại đi ra." Thời khắc đó hắn ấn một miếng vàng vào lòng bàn tay cô gái Bồ Si, lại nói rằng: "Das mà thất hứa, vàng sẽ phai màu." Cô gái Bồ Si khóc nói: "Das lạt ma anh nghe cho kỹ đây, anh mà không quay về em sẽ nuốt cục vàng này."
Bây giờ hắn đã quay về, sau khi hay tin tôn sư Ban Đan bị lưu đày, thì chỉ còn lại một mục đích duy nhất, đó chính là tu luyện thời luân kham dư Kim Cương đại pháp — hoàn thành quy trình tu luyện thánh địa Giang Tử bằng sự hấp dẫn lẫn nhau của tình yêu. Cô gái Bồ Si anh đến đây. Hắn đi về phía trang viên Phả A Lặc, không muốn để phu nhân Phả A Lặc nhìn thấy, liền lang thang giữa những ngôi nhà trong thôn ngay bên ngoài cổng lớn trang viên. Có người nhận ra hắn, lén lút chạy đi, báo cáo cho phu nhân Phả A Lặc.
Ma quỷ ngoại giáo sắp đến, khói lửa chiến tranh sắp thiêu đốt Giang Tử, dưới sự xúi giục của Ngã Nhĩ cát lẫn, phu nhân Phả A Lặc chuẩn bị rời khỏi Giang Tử, đi đến Lhasa tị nạn. Ban đầu bà không muốn, muốn ở đây đợi con trai Xước Bạt quay về. Nhưng Ngã Nhĩ cát lẫn nói, nếu đợi đến khi Xước Bạt quay về thì ma quỷ ngoại giáo cũng đến rồi, lúc đó muốn đi chắc chắn không kịp nữa, bà không thể vì con trai mà tổn thất toàn bộ tài sản của trang viên Phả A Lặc được. Hơn nữa con trai đến rồi cũng không thể ở lâu trong Giang Tử, nó cũng phải đi Lhasa tị nạn, chi bằng chúng ta đi trước, sắp xếp ổn thỏa mọi thứ, đợi nó ở Lhasa. Phu nhân Phả A Lặc cảm thấy lời này có lý, liền bắt đầu thu dọn hành lý. Khắp nơi trong trang viên đều đang bận rộn, vàng bạc châu báu, trân châu mã não cùng tất cả những thứ có giá trị đều được tập trung đóng bao, la mã lực lượng khỏe mạnh đều đã được dồn từ trên núi xuống, buộc trong sân trang viên. Gia nhân có người muốn đi theo, có người muốn ở lại trông coi. Phu nhân Phả A Lặc trực tiếp chỉ huy, ngay cả tất cả thảm lông cừu cũng phải mang đi. Còn có từng bao từng bao bột tsampa mịn, bơ, sữa khô, đường đỏ, trà lá, muối ăn. Đồ đạc chạm trổ tinh xảo, những chiếc rương quần áo, tủ, giường, bàn trang điểm thì không thể mang đi được, phu nhân Phả A Lặc đau lòng chạm chỗ này sờ chỗ kia.
Phu nhân Phả A Lặc nói: "Vị tăng lữ vân du đến từ Ấn Độ này, ông ta đến để nương nhờ Ban Đan hoạt Phật phải không? Ban Đan hoạt Phật đã đi rất xa rồi." Bà không bận tâm đến Das, bảo gia nhân mang chút đồ ăn đưa cho hắn.
Ngã Nhĩ cát lẫn rất cảnh giác với việc đột nhiên xuất hiện một người Ấn Độ vào lúc này, bước ra cổng lớn trang viên, đi qua nhìn một cái, lập tức nhận ra, hét lớn một tiếng: "Bắt lại."
Nhưng bắt lại rồi lại thả ra. Với tư cách là tổng quản tiền tuyến đã mãn nhiệm, Ngã Nhĩ cát lẫn thừa hiểu vị mục sư của tinh binh Thập Tự quân này vừa không thể bắt, lại vừa không thể đến gần, bắt thì sợ làm tăng cái cớ cho sự tấn công của người Anh, bất lợi cho Tây Tạng; đến gần lại rước lấy điều kiêng kỵ, nói hắn cấu kết với kẻ thù của Phật giáo. Phải biết rằng người nắm giữ đại quyền chính giáo Tây Tạng hiện tại không phải là Địch Mục hoạt Phật nữa rồi, đối với Đạt Lai Lạt Ma sau khi thân chính ông ta không nắm rõ nội tình.
Một bắt một thả một phen náo loạn, tất cả mọi người trong trang viên đều biết, bao gồm cả cô gái Bồ Si. Cô tự trang điểm cho mình thật xinh đẹp, định đi gặp Das, nhưng lại bị Ngã Nhĩ cát lẫn và phu nhân Phả A Lặc cùng người chị Yến Trân chặn lại trong phòng ngủ.
"Em không được đi, một tên ác ma, em gặp sẽ rước họa vào thân."
Cô gái Bồ Si làm sao nghe lời họ, chỉ vào bụng mình lớn tiếng kêu lên: "Ở đây, ở đây của em, có con của anh ấy. Con đi tìm bố, không đúng sao?"
Không có lý lẽ nào để nói, họ sai người khóa cô gái Bồ Si lại.
Tiểu thư quý tộc tùy hứng, cô gái Bồ Si bị ngọn lửa tình yêu thiêu đốt đến mê muội tâm trí, ngoài bản thân cô ra, không ai có thể khóa được sự tự do của cô. Cô ném tất cả đệm nỉ chăn bông từ cửa sổ lầu ba xuống, sau đó quấn hai lớp áo da nhảy lên những tấm đệm đó, trèo dậy, vắt giò lên cổ chạy mất.
Cô chạy đến nơi hẹn hò giữa cô và Das năm xưa, cái hang động che mưa chắn gió bên bờ đông sông Nhữ Sơ. Trong hang động, trên vách đá hoa cương lạnh lẽo cứng rắn, vẫn còn vết tích mà anh trai của Bồ Si là Xước Bạt từng dùng mười con dao ngắn liều mạng đâm đục. Bây giờ Xước Bạt không còn ở đây nữa, sẽ không ai tìm được nơi này đâu.
Cô gái Bồ Si nói: "Em không bao giờ muốn xa anh nữa."
Mục sư Das nói: "Anh cũng vậy, anh muốn dẫn em đi, đi hết tất cả con đường." Hắn không nói đó là con đường gì, là con đường tu luyện Kim Cương đại pháp được chỉ ra trên "Bức tranh cát hung thiện ác", hay là con đường sinh mệnh.
Tây Giáp lạt ma tỉnh lại giữa đường. Khi tỉnh dậy cậu đang cưỡi ngựa, được A Đạt Ni Mã ôm chặt trong ngực. Cậu không biết tại sao mình lại ngất đi, rõ ràng không trúng đạn mà suýt chết, cũng không biết tại sao lại tỉnh lại, tỉnh lại thì hoàn toàn bình thường. Những chuyện thế này, chỉ có thần Phật mới biết, cậu liền không đi nghiên cứu kỹ nữa. Cậu và A Đạt Ni Mã tách ra cưỡi riêng một con ngựa, đi về phía trước, chốc chốc lại nhìn trước nhìn sau trái phải đám tăng binh xung quanh.
"Chúng ta đã bỏ lại chùa Nãi Ninh rồi." Tây Giáp lạt ma cảm thán nói.
"Đúng vậy, bỏ lại rồi. Không đúng sao, đại lạt ma?" A Đạt Ni Mã bất an hỏi.
"Đương nhiên là đúng, vốn dĩ tôi đã định kiên thủ đến một thời điểm nhất định thì sẽ bỏ." Tây Giáp nói xong, không khỏi sửng sốt: "Đây là ai vậy? Cô gái Tang Trúc?"
Cô gái Tang Trúc cúi đầu không nhìn Tây Giáp. Con ngựa của cô đi sát sạt con ngựa của Tây Giáp.
Tây Giáp vươn tay vỗ một cái vào áo da của Tang Trúc, cảm giác hình như vẫn có chút không chân thực, lại cúi người vỗ một phát vào mông con ngựa Tang Trúc đang cưỡi. Con ngựa nhảy cẫng lên, chạy về phía trước mấy bước. Lúc này Tây Giáp mới hiểu thực tế chính là như vậy: Cô gái Tang Trúc đã chết nay lại sống sót quay về rồi.
"Thực sự quay về rồi sao?" Tây Giáp nhất thời vô cùng kích động, cũng chẳng màng xung quanh có người hay không nữa, "Tang Trúc à, em đi đâu vậy? Chẳng lẽ là địa ngục? Dạo một vòng địa ngục rồi quay về á? Em không nỡ rời xa anh phải không? Sớm biết em quay về thì anh đã không đau lòng rồi." Sự kích động khiến cậu quên mất việc che giấu, quên mất việc cô từng sỉ nhục cậu, đe dọa thân phận lạt ma của cậu, dường như vốn dĩ đó chính là mong đợi của cậu, là một phần đời sống tình cảm của cậu; dường như cậu chưa từng né tránh cô, từ trước đến nay vẫn luôn như vậy: Trong lòng yêu thương, bề ngoài cũng yêu thương. "Thế này thì tốt quá tốt quá, trong lòng tôi sáng sủa rạng rỡ hẳn lên, đánh ma quỷ ngoại giáo lại có thêm một phần sức mạnh. Cô gái Tang Trúc đang nhìn tôi kìa, tôi sao lại không có sức mạnh chứ? Pháp lực của Phật Vô Lượng Quang gia trì cho tôi rồi, kinh chú của Bạch Độ Mẫu gia trì cho tôi rồi, trong lòng tôi quấn quýt một dải khăn Hada mềm mại dịu dàng, tôi muốn dâng nó cho cô gái tuyệt vời nhất toàn Tây Tạng sau khi chiến thắng."
Cô gái Tang Trúc nhìn Tây Giáp, không ngừng dùng tay áo khoác da lau nước mắt. Đây là lần đầu tiên cô nghe thấy Tây Giáp lạt ma bày tỏ như vậy, cảm giác giống như trong bóng tối thắp lên một ngọn đèn bơ, trong cái lạnh thổi tới một ngọn gió ấm áp. Thế nhưng đã muộn rồi, Tây Giáp, em không còn là người của anh nữa rồi. Cô thầm thở dài trong lòng, thân thể lạt ma của anh sạch sẽ tựa như bầu trời xanh, thân thể Tang Trúc của em bẩn thỉu tựa như bùn lầy. Hoa sen trong bùn lầy một khi đã tàn tạ, thì cũng chỉ là bùn lầy mà thôi.
"Tây Giáp, em đã quay về, em quay về là để đánh ma quỷ ngoại giáo."
"Ma quỷ ngoại giáo không cần em đánh, có anh đây, Tang Trúc, anh đánh cho em."
"Tây Giáp, em cũng muốn đánh, em không chết chính là muốn đánh ma quỷ ngoại giáo, em muốn báo thù."
"Được thôi được thôi, đánh ma quỷ ngoại giáo, em ở bên cạnh anh, đi đâu cũng đừng đi, cứ đi theo anh mà đánh ma quỷ ngoại giáo."
"Em không thể ở bên cạnh anh, em phải đi rồi, Tây Giáp, anh phải sống cho thật tốt, anh không được chết, cho dù tất cả mọi người chết thì anh cũng không được chết."
"Được, anh nghe theo em, không chết nữa, vĩnh viễn không chết nữa, giống như Thích Ca Mâu Ni, sống càng lúc càng vĩ đại, sống càng lúc càng trẻ trung."
Cô gái Tang Trúc dùng roi quất ngựa. Con ngựa cất bước chạy nhanh.
"Tang Trúc, Tang Trúc..." Tây Giáp gọi.
Dường như sợ Tây Giáp đuổi theo, cô gái Tang Trúc quất ngựa chạy vụt đi.
Tây Giáp lạt ma không đuổi theo, trong lòng vô cùng điềm tĩnh: Phía trước không có ma quỷ ngoại giáo, cô ấy đi đến đâu cũng đều an toàn. Quan trọng hơn là, chỉ cần cô ấy sống trên mảnh đất Tây Tạng, cô ấy chính là của cậu — trái tim và lá phổi của cậu.
Còn cô gái Tang Trúc đang phi ngựa chạy phía trước lại không kìm được khóc lớn đau đớn. Gió thổi tiếng khóc bay lên tận trời cao, Tây Giáp lạt ma không nghe thấy.
A Đạt Ni Mã hình như lờ mờ nghe thấy mấy tiếng, nói rằng: "Đại lạt ma, cô gái của ngài có chuyện đau lòng rồi."
Tây Giáp nhìn chú chim ưng bay vút qua không trung nói: "Dạo này ai mà chẳng đau lòng, ma quỷ ngoại giáo đến rồi, người Tây Tạng chết rồi, vùng đất của Phật Bồ Tát không còn trong sạch nữa. Đến Giang Tử chúng ta đánh cho ra trò, không thể để con gái Tây Tạng đau lòng rơi nước mắt nữa."
Đoàn người Tây Giáp lạt ma đi chưa được bao xa, liền nhìn thấy chùa Bạch Cư và pháo đài Tông Sơn. Lúc này là buổi trưa.
Ánh nắng chói chang giữa trưa ở Giang Tử khiến Tây Giáp lạt ma phóng tầm mắt nhìn rất xa, trên đồng bằng đâu đâu cũng là bóng người. Cậu phái người bên cạnh phân tán đi nghe ngóng, chẳng mấy chốc liền biết được, tuy sự cản trở thành công ở hẻm núi Trát Chang không đạt được mục đích tranh thủ thời gian tập hợp binh lực, nhưng sự chặn đánh ở chùa Nãi Ninh lại khiến Giang Tử xuất hiện những thay đổi bất ngờ trước khi tinh binh Thập Tự quân đến: Dưới sự đôn đốc của tăng binh tổng quản Đà Mỹ hoạt Phật, hai đại bản đoàn tăng binh một nghìn sáu trăm người đã đến chân Tông Sơn trước. Tiếp theo dân binh cũng đến, cũng là hai đại bản đoàn, họ được tổng quản dân binh mới nhậm chức Khúc Triết Đan Nỗ chiêu mộ khẩn cấp từ hai nơi Khúc Thủy, Cống Gà.
Còn có binh lính Tây Tạng, dân binh và tăng binh do Nô Mã đại bản, Âu Châu đại bản, Sở Thần đại bản dẫn đến từ chùa Nãi Ninh, họ đã tiến trú vào chùa Tử Kim và chùa Bạch Cư.
Ngoài ra, các thành viên vệ đội tổng quản được Tây Giáp lạt ma phái về quê nhà của mình để chiêu mộ dân binh, có một số đã quay lại, những người này cộng lại cũng có một đại bản đoàn. Đội trưởng Mặt Rỗ là người chiêu mộ được nhiều người nhất. Cậu ta không theo lệnh của Tây Giáp lạt ma đến Lhasa tìm Đạt Lai Lạt Ma, Đà Mỹ hoạt Phật, Đốn Châu cát lẫn, chính quyền Cáp Sát, những người này đối với cậu ta mà nói hoặc là mặt trời trên trời hoặc là Long vương dưới nước, đâu phải chỗ cậu ta với tới được. Cậu ta về quê nhà Lãng Khát Tử, giương cao ngọn cờ của Đạt Lai Lạt Ma và tổng quản tiền tuyến Tây Giáp lạt ma đi khắp nơi kích động lôi kéo người, vậy mà thực sự lôi kéo được hơn ba trăm tráng đinh người Tạng.
Đội trưởng Mặt Rỗ gặp Tây Giáp lạt ma không dám bước lên trước, vẫn là Tây Giáp đi đến trước mặt cậu ta. Cậu ta hổ thẹn cúi đầu nói: "Tổng quản đại nhân, tôi không đi Lhasa."
Tây Giáp nói: "Đi Lhasa làm gì? Dân binh ở Lhasa không đến lượt anh chiêu mộ." Cậu sớm đã quên mất mệnh lệnh mình giao cho đội trưởng Mặt Rỗ rồi. Lại nói tiếp, "Những người do vệ đội tổng quản chiêu mộ giao hết cho anh đấy, anh đừng làm đội trưởng Mặt Rỗ nữa, anh làm đại bản đi. Định bản, giáp bản, nhữ bản gì đó anh tự nhìn xem mà bổ nhiệm, nguyên tắc là ai chiêu mộ được nhiều người thì người đó làm quan lớn."
Cứ như vậy, Tây Giáp lạt ma trong lúc vô tình đã thay đổi vệ đội tổng quản. Vệ đội tổng quản hiện tại là A Đạt Ni Mã đi theo cậu và đám tăng binh rút lui từ chùa Nãi Ninh xuống. Tây Giáp là lạt ma, vệ đội của cậu cơ bản đều là lạt ma, hình như cũng là chuyện vô cùng hợp lý. Có phải Tây Giáp không tín nhiệm vệ đội cũ nên có ý điều đi hay không, ai mà biết được chứ?
Tây Giáp lạt ma dẫn theo vệ đội tổng quản, leo lên pháo đài Tông Sơn.
Phóng tầm mắt nhìn từ Tông Sơn, đồng bằng Giang Tử thu trọn vào tầm mắt. Hai bên bờ sông Nhữ Sơ, ruộng lúa mạch xanh mướt bạt ngàn đang bước vào giai đoạn cuối của thời kỳ sinh trưởng, ngày thu hoạch không còn xa nữa, cánh đồng đang hân hoan trong rực rỡ. Những bông lúa nửa xanh nửa vàng tụ tập lại, nhìn xa liền biến thành một mảnh vàng nhạt, giống như lúc mới sinh ra vào mùa xuân. Sinh mạng của con người và thực vật luôn hiển thị một lần vẻ đẹp quay về bản chất khi đã già cỗi. Lúa mạch từ trước đến nay chưa từng rũ xuống, cho dù khô vàng chết đi thì vẫn đứng thẳng hướng lên trời. Mặc dù không nhìn thấy những chiếc awn sắc nhọn trên mỗi bông lúa, nhưng sự trải dài của vô số chiếc awn đã khoác lên mặt đất một lớp lông nhung của loài dê vàng.
Tây Giáp lạt ma cũng là lần đầu tiên thưởng thức cánh đồng lúa mạch bao la hùng vĩ đến thế vào mùa này, trợn trừng mắt nửa ngày không nói nên lời.
A Đạt Ni Mã nói: "Đại lạt ma, ngài nói Phật tổ có thiên vị không? An bài một cánh đồng lúa mạch tốt thế này ở Giang Tử, đều là lãnh địa của trang viên Phả A Lặc và trang viên Nhật Nang, ở đây làm một con chó còn được ăn ngon hơn người bên chúng ta."
Tây Giáp lạt ma nói: "Vậy được thôi, anh cứ biến thành một con chó ở đây đi, tôi bảo con chó đó sang trang viên của anh làm người." Nói xong liền hô lên với một con chó hoang giữa lưng chừng núi: "Mau lại đây, mày mau lại đây cho tao."
Con chó hoang giữa lưng chừng núi nghe thấy tiếng gọi, vậy mà lại đi ngược lên trên.
A Đạt Ni Mã nhìn thấy, sợ hãi quịch một tiếng quỳ sụp xuống: "Đại lạt ma, ngài tuyệt đối đừng thế này, tôi chỉ nói đùa vậy thôi." Cậu hoàn toàn tin tưởng Tây Giáp lạt ma thực sự có pháp lực biến cậu thành chó, biến chó thành cậu.
Tây Giáp nghiêm túc nói: "Tôi muốn biến tất cả ma quỷ ngoại giáo thành chó, rồi bảo chúng cút về nước Anh. A Đạt Ni Mã, anh mau đứng lên cho tôi, anh bây giờ là đội trưởng vệ đội của tôi, không thể tùy tiện quỳ gối dập đầu với người ta nữa, tất nhiên là trừ tôi ra, còn có Đạt Lai Lạt Ma, cùng thượng sư Địch Mục hoạt Phật và Đà Mỹ hoạt Phật của tôi. Đối với những người khác, anh phải đối xử như cá lớn nuốt cá bé vậy. Anh là cá lớn, đối với tất cả cá bé không nghe lời anh đều phải nuốt chửng hết. Đây là chiến trường, tôi đại diện cho Đạt Lai Lạt Ma, chúng ta phải chịu trách nhiệm cho Phật giáo và Tây Tạng. Đi đi, oai phong lẫm liệt đi truyền đạt mệnh lệnh của tôi, đại bản của các đại bản đoàn lập tức đến pháo đài Tông Sơn mở họp, tôi thắp ba nén hương, ba nén hương cháy hết mà không đến, lập tức cách chức. Phải rồi, đừng quên Tông bn của Giang Tử Tông."
A Đạt Ni Mã do dự một chút, đứng dậy định đi.
Tây Giáp hét lên: "Quay lại, anh là đội trưởng vệ đội tổng quản, truyền đạt mệnh lệnh của tôi không thể đi một mình được, ít nhất phải dẫn theo mười người, cưỡi những con ngựa tốt nhất. Nói chuyện với bọn họ đừng có khách sáo, bằng không sẽ chẳng có ai phục anh cả. Anh học theo tôi xem, nói thế nào."
A Đạt Ni Mã nói: "Xin mời các đại nhân đến pháo đài mở họp."
Tây Giáp nói: "Không được, không phải đại lạt ma, là Tây Giáp lạt ma đại nhân, cũng không phải Tây Giáp lạt ma đại nhân, là tổng quản tiền tuyến Tây Giáp lạt ma đại nhân, nói đơn giản một chút là Tây Giáp tổng quản đại nhân."
A Đạt Ni Mã nói: "Không phải đại lạt ma, là Tây Giáp lạt ma đại nhân, cũng không phải Tây Giáp lạt ma đại nhân, là tổng quản tiền tuyến Tây Giáp lạt ma đại nhân, nói đơn giản một chút là Tây Giáp tổng quản đại nhân, xin mời các đại nhân..."
Tây Giáp nói: "Không phải mời, là mệnh lệnh, cũng không phải các đại nhân, là các người. Nói lại lần nữa."
A Đạt Ni Mã nói: "Không phải đại lạt ma, là Tây Giáp lạt ma đại nhân, cũng không phải Tây Giáp lạt ma đại nhân, là tổng quản tiền tuyến Tây Giáp lạt ma đại nhân, nói đơn giản một chút là Tây Giáp tổng quản đại nhân, xin mời các đại nhân, không phải mời, là mệnh lệnh, cũng không phải các đại nhân, là các người, đi pháo đài mở họp."
Tây Giáp chớp chớp mắt nói: "Đây là tôi dạy anh sao? Anh nói thế này đến tôi nghe còn không hiểu nữa. Anh cũng là đại bản cơ mà, đến nói năng còn không rõ ràng."
A Đạt Ni Mã nói: "Tây Giáp tổng quản đại nhân, nói thật đại bản tôi đây là mạo danh thay thế. Đại bản ban đầu A Đạt Ni Mã vì một người phụ nữ mà bị người ta đánh chết rồi. Tôi liền bỏ ra một trăm lạng bạc trắng Tây Tạng mua văn bản bổ nhiệm đại bản, đằng nào tôi cũng tên là A Đạt Ni Mã. Trên văn bản có con dấu của Cáp Sát, ai dám không phục, cộng thêm việc tôi có thể cung cấp ăn uống, đám lạt ma binh lính đó liền đi theo tôi thôi. Nhưng ngoài việc canh giữ đất đai trang viên nhà mình ra, tôi chẳng biết cái gì khác."
Tây Giáp không có hứng thú với việc "mạo danh thay thế", dường như đó là chuyện bình thường hơn cả bình thường. Cậu nói: "Đừng nói là anh không biết, anh biết, anh biết giết ma quỷ ngoại giáo. Anh nói với bọn họ thế này, Tây Giáp tổng quản đại nhân lệnh cho các người đến pháo đài mở họp, không được chậm trễ, chỉ đợi thời gian ba nén hương, quá giờ cách chức." Đợi A Đạt Ni Mã nhắc lại một lượt, lại nói tiếp, "Phải nói lớn tiếng, nghiêm khắc, giống như cách diều hâu nói chuyện với chuột vậy."
A Đạt Ni Mã nói: "Cái này tôi biết, dữ dằn quác quác kêu."
Đúng như Tây Giáp lạt ma dự đoán, trong số các sĩ quan đến tiền tuyến Giang Tử quả nhiên có kẻ rất lơ là cậu. Những người đến kịp trước khi ba nén hương cháy hết ngoài Nô Mã đại bản và Âu Châu đại bản đóng giữ chùa Tử Kim, Sở Thần đại bản đóng giữ chùa Bạch Cư, đội trưởng Mặt Rỗ hiểu rõ Tây Giáp lạt ma ra, thì chỉ có hai vị tăng binh đại bản Quần Đại Giác và Hạ Lỗ được Đà Mỹ hoạt Phật dặn dò nghiêm ngặt là phải tuân theo Tây Giáp lạt ma. Hai đại bản đoàn dân binh có số lượng đông nhất còn lại thì mãi đến sau bốn nén hương mới cùng nhau đến, có vẻ như họ đã bàn bạc từ trước cố ý muốn cho Tây Giáp lạt ma một vố phủ đầu. Tây Giáp lạt ma vô cùng tức giận, vốn dĩ cậu không phải là người hay tức giận, nhưng bây giờ cậu bắt buộc phải tức giận, nếu không tức giận thì làm sao thể hiện được địa vị cao ngất, uy nghiêm lẫm liệt của cậu chứ? Cậu nói: "Hai người các anh đến muộn nhất, nhưng bây giờ tôi muốn các anh báo danh đầu tiên."
Hai đại bản của hai đại bản đoàn dân binh đều là quý tộc thế tập sở hữu những trang viên lớn, coi Tây Giáp lạt ma vô danh tiểu tốt ra gì đâu, bất tuân bất kính báo danh, một người tên là Tố Nam, một người tên là Hi Nhiêu.
Tây Giáp nói: "Chùa Tử Kim cách pháo đài Tông Sơn xa nhất, làm phiền Tố Nam đại bản và Hi Nhiêu đại bản cưỡi ngựa chạy một chuyến, chạy đi ba nén hương, chạy về ba nén hương, tổng cộng là sáu nén hương. Về trước sáu nén hương, tôi nhường vị trí tổng quản tiền tuyến cho các anh, sáu nén hương cháy hết mà vẫn không thấy bóng dáng các anh, vậy tôi vẫn là tổng quản tiền tuyến. Mọi người nghe đây, các vị Phật gia của Tây Tạng nghe đây, quỷ thần pháo đài Tông Sơn nghe đây, Tây Giáp lạt ma tôi nói là giữ lời."
Tố Nam đại bản và Hi Nhiêu đại bản thầm nghĩ: Không phải chỉ chạy một chuyến thôi sao, thử xem thế nào. Biết đâu, nếu vận may tốt, vị trí tổng quản tiền tuyến này... Vận may không tốt cũng không sao, đại bản vẫn là đại bản. Bọn họ đồng ý.
Tây Giáp lạt ma tự tay chắp nến hương tạng Nê Mộc trước pho tượng Phật trong đại điện.
"Nếu trước sáu nén hương về đến nơi, rốt cuộc là anh làm hay tôi làm?"
"Anh làm phó tổng quản, tôi làm chính tổng quản."
Hai vị đại bản vừa nói cười vừa đi, lúc quay về thì hương đã cháy hết tám nén.
Tây Giáp nói với hai vị đại bản dân binh mồ hôi đầm đìa: "Xem ra từ chùa Tử Kim chạy đến pháo đài Tông Sơn, ít nhất cũng phải bốn nén hương. Thế nhưng có người, chưa đầy ba nén hương đã có thể đến nơi." Cậu đi qua kéo Nô Mã đại bản và Âu Châu đại bản đang ngồi dưới đất đứng dậy, "Chính là hai người họ, đã làm được việc vốn dĩ không thể làm được. Các anh có biết tại sao không? Bởi vì họ cùng sống cùng chết với tôi, trong lòng họ có tôi. Tôi giống như Phật trong lòng họ, nghe lệnh của tôi, cánh tay của họ đã biến thành đôi cánh. Tôi bây giờ cần những thuộc hạ có cánh tay biến thành đôi cánh, chỉ có những thuộc hạ như vậy, mới có thể đánh bật con chim của Chúa xuống sông Nhữ Sơ bằng một cánh."
Tố Nam đại bản và Hi Nhiêu đại bản nhìn nhau, không hiểu Tây Giáp lạt ma có ý gì.
Tây Giáp lại nói: "Tôi đã nói rồi, sáu nén hương cháy hết mà các anh không về, tôi vẫn là tổng quản tiền tuyến. Bây giờ tôi hỏi các anh, có thừa nhận tôi là tổng quản tiền tuyến hay không?"
Tố Nam đại bản và Hi Nhiêu đại bản đều nói: "Thừa nhận, thừa nhận, sao lại không thừa nhận chứ."
Tây Giáp nói: "Đã thừa nhận vậy thì tôi phải thực thi quyền lực của mình. Tây Giáp tổng quản đại nhân tôi đã nói câu 'ba nén hương cháy hết mà không đến lập tức cách chức' chưa?"
Tố Nam đại bản và Hi Nhiêu đại bản vẫn ra vẻ bất cần đời nói: "Cái này, có nghe nói."
Tây Giáp nói: "Nghe nói là tốt rồi, các anh bây giờ đã bị cách chức rồi. Người của các anh giao cho Nô Mã đại bản và Âu Châu đại bản đã mọc cánh chỉ huy, đội quân của họ vừa vặn sắp đánh sạch rồi."
Nô Mã đại bản và Âu Châu đại bản nhìn nhau. Âu Châu nói: "Ồ nha, chân của chúng ta biến thành cánh rồi."
Tố Nam đại bản và Hi Nhiêu đại bản cười cười, không tin là mình đã thực sự bị cách chức: "Chúng tôi là do dân binh tổng quản Khúc Triết Đan Nỗ chiêu mộ đến, anh đi mà nói với Khúc Triết đại nhân ấy."
Tây Giáp nói: "Bây giờ là đánh trận, đây là chiến trường, dưới Đạt Lai Lạt Ma chính là tôi. Khúc Triết đại nhân cái gì chứ, đến lượt ông ta quyết định chắc. Đội trưởng Mặt Rỗ, bảo thủ hạ của anh lột quần áo quý tộc của hai kẻ này ra, cho bọn họ mặc y phục ăn mày, đi theo anh đi đánh ma quỷ ngoại giáo, mỗi người đánh chết mười tên ma quỷ ngoại giáo thì được khôi phục chức vụ nguyên bản, không đủ con số này thì đừng hòng ngóc đầu lên được, đánh chết chín con rưỡi ma quỷ ngoại giáo, thì vẫn cứ là ăn mày."
Tố Nam đại bản và Hi Nhiêu đại bản còn muốn nói gì đó, đội trưởng Mặt Rỗ sớm đã chuẩn bị sẵn liền gọi người đi vào, nhanh chóng thay quần áo cho bọn họ. Khi bọn họ nhìn thấy khắp người mình toàn là đồ rách rưới bẩn thỉu của ăn mày, thì không thể nói được câu nào cứng rắn nữa.
Tây Giáp quay đầu không thèm để ý đến bọn họ nữa, nói với Giang Tử Tông bản Nham Thác: "Anh đến rồi sao, sao tôi không thấy anh nhỉ? Là đến trước ba nén hương, hay là đến sau ba nén hương?"
Tông bản Nham Thác vội vàng nói: "Trước, trước ạ."
Tây Giáp chỉ vào đống súng đạn và lương thực chất đầy đại điện và điện phụ nói: "Sắp sửa ma quỷ ngoại giáo đến nơi rồi, sao những thứ này vẫn còn ở đây? Anh mau triệu tập tất cả đàn ông của Giang Tử Tông lại, chia hết cho bọn họ."
Tông bản Nham Thác nói: "Tổng quản đại nhân, những thứ này là kho dự trữ của chính quyền Giang Tử Tông, không thể chia đi được. Hơn nữa những vũ khí này chia cho ai chứ? Tôi cũng không có nhiều người thế này."
Tây Giáp nói: "Người không đủ thì anh đến trang viên Nhật Nang và trang viên Phả A Lặc truyền đạt mệnh lệnh của tôi: Trang viên Nhật Nang xuất binh năm trăm, trang viên Phả A Lặc xuất binh năm trăm. Bọn họ mà không xuất binh, ma quỷ ngoại giáo đến chúng ta liền nói, hai trang viên này hoan nghênh các anh đấy, các anh muốn chiếm muốn cướp thế nào tùy ý, ba thế lực lớn tăng binh, dân binh, binh lính Tây Tạng của chúng ta hoàn toàn không quản nữa."
Tông bản Nham Thác nói: "Vậy cũng không thể chia được, năm trăm này, năm trăm nọ, người đến toàn là tiện dân. Chúng ta là một cấp chính quyền của Tây Tạng, không thể đem lương thực vũ khí trong kho của chính quyền phát đi được. Theo quy định, bất kỳ thứ gì di chuyển ra khỏi kho, đều phải trình báo Cáp Sát phê chuẩn. Cho dù được phê chuẩn thì cũng chỉ có thể phát cho quý tộc, không thể phát cho tiện dân."
Tây Giáp nói: "Lâu la quý tộc ở đâu ra lắm thế? Chẳng lẽ bảo vệ Tây Tạng chỉ có thể dựa vào mấy tên quý tộc có trang viên thôi sao? Từ núi Nhật Bác Nạp bắt đầu, người của chúng ta chết nhiều như vậy, có mấy ai là quý tộc? Bất kể kẻ nào đến, chỉ cần có thể đánh trận có thể ăn cơm, đều phát cho bọn họ, chính là ăn mày cũng phát."
Tông bản Nham Thác không nói được là được hay không được, cúi đầu tránh ánh mắt của Tây Giáp lạt ma, mặt nặng mày nhẹ đi qua, phịch một tiếng ngồi lên chiếc túi đan bằng lông bò đựng đầy lương thực.
Tây Giáp vô cùng bất mãn với thái độ của Tông bản, quát lớn: "Đứng lên, đứng lên, lương thực là để cho người ta ngồi lên đấy à? Anh ngồi người ta ngồi, đợi đến khi ăn vào miệng, thì đều thành mùi phân thối cả đấy."
Tông bản Nham Thác đối mặt với sự quát mắng này có chút không xuống đài được, lắc đầu nguây nguẩy không chịu đứng dậy.
Tây Giáp quát lệnh A Đạt Ni Mã: "Đánh cho tôi."
A Đạt Ni Mã có vẻ không dám tự tay ra đòn, lại quay người quát lệnh lạt ma của vệ đội tổng quản: "Đánh cho tôi."
Tây Giáp lập tức nói: "Anh tự tay làm, đánh cho tôi."
A Đạt Ni Mã đành phải tháo roi ngựa ở eo xuống, bước qua, quất cho một trận.
Tông bản Nham Thác nằm rạp trên túi lương thực nước mắt đầm đìa nói: "Tôi làm Tông bản hai mươi năm rồi, Đạt Lai Lạt Ma và Nhiếp chính vương chưa từng đánh tôi."
Tây Giáp nói: "Hôm nay là ngày gì rồi? Ma quỷ ngoại giáo sắp đến rồi đấy. Nếu Đạt Lai Lạt Ma và vương tử Nhiếp chính ở đây, đánh chết mười chín cái mạng của anh, anh còn phải mang ơn đội nghĩa ấy chứ. Mau quỳ xuống cầu xin tha thứ đi, bằng không tôi đánh anh suýt chết đấy."
Tông bản Nham Thác nhìn chiếc roi ngựa mà A Đạt Ni Mã lại giơ lên, vội vàng quỳ xuống, dập đầu một cái với Tây Giáp lạt ma.
Cứ như vậy, Tây Giáp lạt ma dùng biện pháp bãi nhiệm Tôn Nam đại bản và Hi Rao đại bản, quất roi Tông bản Nham Thố, quan chức hành chính cao nhất của Giang Tử, để thiết lập uy quyền nói một không hai của một hạ cấp lạt ma trên chiến trường. Sau đó, ông mới triệu tập hội nghị quân sự trước thềm trận chiến tại pháo đài Tông Sơn. Hội nghị được tiến hành trong tư thế đứng, tất cả mọi người đều đứng, bởi vì thời gian không dài. Hội nghị tất nhiên không phải để thảo luận nghiên cứu, mà do Tây Giáp lạt ma sắp xếp trận địa, trình bày chiến lược chiến thuật của mình. Mọi người nghe xong đều vô cùng kinh ngạc: Sao vừa bắt đầu đã muốn từ bỏ pháo đài Tông Sơn? Đây rõ ràng là nơi buộc phải phòng thủ cơ mà.
Tây Giáp nhấn mạnh: "Tự động từ bỏ pháo đài Tông Sơn là chìa khóa để chúng ta giành chiến thắng. Các người đừng có trợn trừng mắt nhìn ta, quy củ do Thích Ca Mâu Ni định ra là gì, quên hết rồi à?" Ông lần lượt đảo mắt nhìn những kẻ trước mặt, cứ như thể quy củ do tự tay ông bịa ra thì người ta phải biết trước từ đời thuở nào vậy. "Quên rồi thì ta nói cho các người biết: Gặp cao thì đi thấp, gặp thấp thì đi cao; Tông Sơn không thể lên, lên rồi thì phải xuống."
Hai tăng binh đại bản mới đến là Quần Đại Giác và Hạ Lỗ nhìn nhau, không mấy đồng tình mà lắc đầu. Quần Đại Giác đại bản cũng bắt chước Tây Giáp lạt ma bịa đặt: "Ta nhớ quy củ Thích Ca Mâu Ni định ra là: Chiếm cứ cao độ nhìn xuống, ma ngoại cút về nhà."
Tây Giáp nói: "Sai rồi, chỉ có quy củ do ta nói ra mới là quy củ của Thích Ca Mâu Ni."
Quần Đại Giác đại bản và Hạ Lỗ đại bản không phục, còn muốn phản bác. Nô Mã đại bản, Âu Châu đại bản, Sở Thần đại bản cùng với Ma Ông đại bản đều dùng giọng điệu vô cùng thành kính bày tỏ: Tổng quản đại nhân Tây Giáp nói thế nào, chúng ta đánh thế ấy. Quần Đại Giác và Hạ Lỗ nhìn bọn họ, đành phải ngậm miệng.
Tây Giáp nói: "Trong pháo đài vẫn phải có người, không có lấy một người thì ma ngoại sẽ nghi ngờ chúng ta mai phục. Tông bản Nham Thố dẫn người canh giữ ở đây, ma ngoại vừa tấn công, các người bắn vài phát rồi rút lui từ sau núi xuống."
Tông bản Nham Thố vừa mới bị ăn đòn, phải quỳ gối mang gương mặt đầy đau đớn và hổ thẹn, miễn cưỡng khom lưng cúi đầu bày tỏ đã tuân lệnh.
Tây Giáp lại nói: "Chùa Bạch Cư rất gần pháo đài Tông Sơn, chúng ta tạm thời không phái binh, để lại một ít lạt ma canh giữ là được, ma ngoại đến thì vỗ tay nhiệt liệt chào đón. Chỉ có một nơi, chúng ta bắt buộc phải kiên quyết giữ vững từ đầu đến cuối, đó chính là chùa Tử Kim. Chùa Tử Kim một khi thất thủ, chẳng khác nào mở đường cho ma ngoại tiến đánh Nhật Khách Tắc. Ma ngoại mà chiếm được Nhật Khách Tắc, toàn bộ Hậu Tạng sẽ thuộc về bọn chúng. Cho dù chúng ta có chặn đứng ma ngoại không cho chúng đến Lạp Tát, nhưng mất đi Nhật Khách Tắc thì cũng coi như mất đi một nửa Tây Tây Tạng, giống hệt như mất đi Lạp Tát vậy. Nô Mã đại bản và Âu Châu đại bản nghe cho kỹ đây. Hai người sống hay chết ta không quan tâm, ta chỉ quan tâm chùa Tử Kim từ đầu đến cuối phải là của chúng ta."
Nô Mã đại bản và Âu Châu đại bản vâng lời đáp lại, lúc này mới hiểu ra việc Tây Giáp lạt ma giao phó quân lính của Tôn Nam và Hi Rao cho họ không phải vì cánh tay của họ đã hóa thành chim chưng, mà là muốn họ dẫn dắt đại quân xông pha chiến đấu nơi tuyến đầu ở chùa Tử Kim, dẫu sao thì họ cũng là hai vị chỉ huy chiến trường trải qua thử thách chiến tranh không sợ cái chết.
Âu Châu đại bản nói: "Tổng quản đại nhân Tây Giáp, ta chính là chùa Tử Kim, chùa Tử Kim chính là ta, ta không chết thì chùa Tử Kim không thể chết. Ngài cứ bỏ tim vào trong bụng đi. Di Lặc trên trời, Quả Mẫu dưới đất, đều sẽ phù hộ cho ta."
Tây Giáp nói: "Di Lặc phù hộ ngươi thì ta tin, Quả Mẫu phù hộ ngươi kiểu gì? Tên đàn ông vô tích sự, rời xa vợ ra thì ngươi còn làm được tích sự gì nữa?"
Âu Châu đại bản biết mình nói hớ, vội vàng lè lưỡi.
Đại tá Garlan thừa biết rằng, mặc dù tinh binh Thập Tự chiếm được chùa Nãi Ninh đồng nghĩa với việc đã đặt chân lên mặt đất Giang Tử, nhưng chỉ khi nhìn thấy pháo đài Giang Tử, mới tính là thực sự đến được Giang Tông. Bây giờ hắn đã nhìn thấy rồi, ở giữa vùng đồng bằng, Tông Sơn sừng sững như một ngọn kim tự tháp bất quy tắc, dĩ nhiên là kim tự tháp lớn nhất trong vũ trụ. Phần trên của kim tự tháp chính là pháo đài nổi tiếng với vẻ cổ kính hùng vĩ. Thân tường xám xịt kiên cố được trang trí bằng viền đỏ, chiếm trọn cả đỉnh núi. Các kiến trúc nằm rải rác chồng chất lên nhau, liên kết lẫn nhau, chống đỡ lấy vẻ cao ngạo vươn thẳng tận trời xanh. Tận cùng trên đỉnh là tháp mũi tên, có thể cảm nhận được những ánh mắt căm hờn và nòng súng đang lóe lên trong các lỗ châu mai.
Đại tá Garlan đứng thẳng trên lưng ngựa, chăm chú ngắm nhìn rất lâu, dường như đã đếm qua từng hòn đá xây nên pháo đài. Hắn rút ra kết luận trong lòng: Đây là một dân tộc sùng bái bầu trời, chắc chắn cho rằng càng gần trời thì càng gần thần linh, điều này giống hệt với chúng ta. Nhưng điều quan trọng là phải làm cho người Tây Tạng hiểu rằng, kẻ chiếm lĩnh bầu trời chỉ có thể là Thượng Đế, còn Phật của họ chỉ có thể ở dưới địa ngục. Một dân tộc phát triển quyết không thể coi thần địa ngục là tín ngưỡng tối cao tôn kính nhất. Phải rồi, Thượng Đế đã đến, Phật nên lăn từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Có lẽ trong những cuộc chiến tranh cổ đại, pháo đài Tông Sơn ở trên cao lại kiên cố đã đem lại chiến thắng về mặt phòng thủ quân sự cho chủ nhân của nó, nhưng hôm nay, khi họ đối mặt với tinh binh Thập Tự nước Anh của chúng ta, sự thật sẽ dạy cho họ một bài học: Bầu trời là thứ có thể thay thế, nếu các người còn muốn kiên định tín ngưỡng vào bầu trời, vậy thì nên tin theo Thượng Đế. Bằng không, nơi các người chiếm giữ càng cao thì càng xui xẻo. Sự tồn tại của pháo đài cho thấy, đây không phải là lần đầu tiên chúng ta áp đặt chiến tranh lên Tây Tạng, nhưng lại là lần chiếm đóng toàn diện đầu tiên — chúng ta không chỉ muốn chiếm lĩnh mặt đất, mà còn muốn chiếm lĩnh cả bầu trời; không chỉ muốn người Tây Tạng phục tùng chúng ta, mà còn muốn Phật của họ phải phục tùng Thượng Đế. Khoảnh khắc này, suy nghĩ duy nhất trong đầu đại tá Garlan chính là: Chiếm lấy pháo đài Tông Sơn.
Ánh mắt đại tá Garlan dịch chuyển từ pháo đài trong mây xuống dưới, phát hiện dưới chân Tông Sơn có một số ngôi nhà, phần lớn là kiến trúc hai tầng bằng đá. Những kiến trúc này nếu bị người Tây Tạng dùng làm công sự phòng thủ thì chỉ dựa vào bộ binh sẽ rất khó xông qua. Hắn cười lạnh một tiếng: Pháo, đại pháo mà Thượng Đế ban tặng cho chúng ta, dường như chính là để đánh gục Tây Tạng. Ở Tây Tạng, bất kể gặp phải sự kháng cự nào đi chăng nữa, cuối cùng đều có thể dùng đại pháo để giành chiến thắng. Hai bên Tông Sơn là đồng bằng trải dài bất tận, cây cối râm mát, lúa mạch trải khắp, xa xa gần gần có một vài ngôi làng. Ngọn núi trông có vẻ hơi xa, nhưng vẫn có thể nhìn rõ những đàn bò đàn cừu thưa thớt trên sườn dốc dưới chân núi. Thế nhưng hắn chẳng nhìn thấy bóng người nào, một bóng người cũng không thấy.
Điều này rất bất thường, người đâu rồi? Từng ngôi làng sao mà tĩnh mịch đến thế.
Lạt ma Cát Tát cưỡi ngựa đứng cạnh đại tá biết hắn đang nghĩ gì, liền lập tức nói: "Chạy hết rồi, cứ nghe tin chúng ta đến là chạy sạch rồi. Ngài nhìn làng kìa, ống khói nhà nào nhà nấy đều không bốc khói."
Đại tá Garlan hỏi: "Bọn họ có thể chạy đi đâu chứ?"
Cát Tát nói: "Từ Giang Tử đi về phía tây là Nhật Khách Tắc, đi về phía đông là Lãng Khắc Tử, đều là những nơi tốt lành."
Đại tá Garlan nói: "Chạy thì tốt quá, làng mạc sẽ là của chúng ta." Lập tức ra lệnh cho đại tá Kachi dẫn quân Sinh Ba quét sạch ngôi làng ở gần bọn họ nhất.
Kachi lập tức xuất phát, còn chưa đến sát nơi, đã giương súng bắn đùng đoàng ra uy vào cửa ra vào và cửa sổ của những ngôi nhà trong làng.
Cát Tát nói tiếp: "Ở Giang Tử, có hai nơi tuyệt đối sẽ không thể không có người. Một là chùa Tử Kim, đó là cứ điểm thông đến Nhật Khách Tắc; hai là chùa Bạch Cư, đó là huyết mạch thông đến Lạp Tát."
Đại tá Garlan nói: "Còn có một nơi chắc chắn có người, đó chính là pháo đài Tông Sơn."
Cát Tát không đồng tình nói: "Pháo đài Tông Sơn tuy ở trên cao nhìn xuống, nhưng chúng ta không phải định cư lâu dài ở Giang Tử, không có sự cần thiết phải chiếm giữ nó. Hơn nữa Tông Sơn hiểm trở, đường đi hẹp, chiếm xong mà một khi bị tấn công thì không thể nhanh chóng rút chạy."
Đại tá Garlan nói: "Xem ra ngươi là một tên người Tây Tạng thích bỏ chạy." Nói đoạn cầm kính viễn vọng từ trước ngực lên, nhắm thẳng về phía pháo đài Tông Sơn ngắm nghía hồi lâu, lớn tiếng nói: "Quả nhiên có người, toàn là những kẻ đeo súng trên lưng."
Cát Tát không bận tâm đến lời châm chọc của đối phương, tiếp tục hiến kế: "Nếu đại tá nhất định phải chiếm pháo đài Tông Sơn, vậy thì càng nên nghe ta nói. Thời cổ đại, ở đây từng có chiến tranh giữa người Tây Tạng với nhau, để hạ gục pháo đài Tông Sơn, phe tấn công trước tiên đã chiếm lấy trang viên Phả A Lặc, núi Cương Châu và Giang Lạc Lâm Khả." Hắn chỉ cho đại tá Garlan xem: "Nơi cây cối rậm rạp đằng kia chính là lâm uyển quý tộc Giang Lạc Lâm Khả của Giang Tử, vị trí nằm vừa vặn xiên đối diện với pháo đài. Phía sườn pháo đài, ngọn núi trông giống như một con trâu rừng kia chính là núi Cương Châu. Trang viên Phả A Lặc chính là ngôi nhà cao vô cùng nổi bật nằm giữa cụm làng mạc kia, vừa khéo nằm ở mặt chính diện của pháo đài."
Đại tá Garlan nói: "Ngươi vẫn chưa nói hết, cuối cùng bên tấn công có hạ được pháo đài Tông Sơn hay không?"
Cát Tát nói: "Tất nhiên rồi, hắn cuối cùng đã trở thành kẻ thống trị thực sự của Giang Tử."
Đại tá Garlan nói: "Tiếc cho vị cổ nhân này, hắn cũng chỉ có ý định nhắm vào Giang Tử mà thôi, chẳng lẽ hắn không cho rằng nếu cứ thủ thế ở pháo đài là mục đích của chiến tranh, chẳng lẽ ở Lạp Tát không có những pháo đài lừng lẫy hơn sao?"
Cát Tát nói: "Thưa đại tá, ngài đang nói đến cung Potala. Cung Potala chỉ thuộc về Đạt Lai Lạt ma, nếu một người không hiểu điều này, hắn sẽ không thể thiết lập quyền thống trị của mình ở bất kỳ nơi nào trên đất Tây Tạng."
Đại tá Garlan rõ ràng không thèm tranh luận về vấn đề này. Hắn nhìn thời tiết quang đãng ít mây vào buổi chiều, gọi trung úy Dung Hạc lại gần: "Trung úy, nói suy nghĩ của cậu nghe xem."
Trung úy Dung Hạc nói: "Tôi biết Giang Tử là vùng đồng bằng, nhưng không ngờ lại là một vùng đồng bằng rộng lớn đến thế. Tây Tạng là vùng đất nhiều núi non, sao ở đây lại bằng phẳng thế này? Khắp nơi đều là đường, đi đâu cũng được, ý tôi là người Tây Tạng ấy. Còn đường của chúng ta chỉ có một, đó là con đường hướng đến Lạp Tát. Mục sư Das đã bỏ trốn, không có bản đồ của ông ta, chúng ta chỉ có thể đi theo tuyến đường do người Tây Tạng vạch ra."
Đại tá Garlan nói: "Trung úy, cậu rất thông minh, đây chính là điều tôi muốn bàn bạc với cậu. Mục sư Das đã trốn mất, chúng ta vẫn còn mục sư Ma Ông. Mục sư Ma Ông có lẽ có thể thay thế mục sư Das chứ?"
Trung úy Dung Hạc nói: "Tôi không nghi ngờ năng lực của mục sư Ma Ông, nhưng đại tá có thể thuyết phục được ông ta không?"
Đại tá Garlan nói: "Gáy của chúng ta vĩnh viễn không thể thuyết phục được đôi mắt của chúng ta, bởi vì đối mặt với thế giới này, chúng luôn hướng về hai phía ngược nhau để phóng tầm mắt. Tôi đại diện cho con mắt của Thượng Đế, nhìn thấy sự cần thiết của chiến tranh; mục sư Ma Ông đại diện cho phần gáy của Thượng Đế, nhìn thấy sự hòa bình sau chiến tranh. Tôi chuẩn bị để ông ấy rời khỏi chúng ta, đi về phía Lạp Tát theo con đường ông ấy đã chọn. Còn nhiệm vụ của cậu là đi theo ông ấy, nhưng đừng đến gần. Nếu cần thiết, cậu vẫn sẽ giống như mấy lần trước, bất ngờ xuất hiện ở phía trước chúng ta, phía sau người Tây Tạng."
Trung úy Dung Hạc nói: "Đã hiểu, điều mục sư Das cố ý muốn làm, mục sư Ma Ông vô tình cũng có thể làm được."
Đại tá Garlan nói: "Vậy thì đi đi, tuyệt đối đừng để mục sư Ma Ông biết ý đồ của cậu."
Mục sư Ma Ông sau khi giữ tròn lời hứa canh gác trận địa thay cho Tây Giáp lạt ma suốt một đêm ở con đường phía bắc hạp cốc Tạp Xương, liền cùng với tinh binh Thập Tự bước đi, tiến về chùa Nãi Ninh, rồi lại đến Giang Tông. Không phải ông ta sẵn lòng đi cùng đội quân có thể bảo đảm an toàn cho mình, mà là con đường chỉ có một, ngay cả "Bản đồ Cát hung Thiện ác" cũng nói như vậy. Nhưng bây giờ thì khác rồi, địa hình trước mặt và tấm bản đồ trong tay đều đang nói cho ông ta biết: Con đường mà một mục sư đáng lẽ nên đi nhất chính là tách khỏi tinh binh Thập Tự, đơn độc cất bước. Trước khi đi, ông ta muốn cáo từ đại tá Garlan, nhưng giữa hàng ngũ dài dằng dặc, ông ta chẳng thấy đại tá Garlan ở đâu cả. Hơn nữa, việc cáo từ chắc chắn sẽ rước lấy sự ngăn cản, tội gì phải tự chuốc lấy phiền phức chứ? Ông ta cưỡi ngựa rời khỏi hàng ngũ, biết rằng sẽ có người khác đến ngăn cản, nên cũng đành mặc kệ. Dẫu sao thì bọn họ cũng là tín đồ của Thượng Đế, không thể dùng vũ lực hạn chế hành động của một vị mục sư có địa vị cao cả được.
Quả nhiên có người đuổi theo chặn ông ta lại, đó chính là trung úy Dung Hạc và những binh lính người Anh của hắn.
"Đợi đã thưa mục sư, ngài muốn đi đâu vậy?" Viên trung úy ôn hòa mỉm cười.
Mục sư Ma Ông nói: "Ta đang hỏi Thượng Đế của ta, đâu là con đường ta nên đi. Thượng Đế nói, con đường của ngươi ở phía trước ngươi, không ở phía trước tất cả mọi người. Những kẻ mang dao súng trên mình, ngươi nên tránh xa."
"Nhưng rất nguy hiểm, vùng hoang dã rộng lớn chứa đầy những nguy hiểm vô hình. Sự căm hờn của người Tây Tạng đối với ngoại giáo cũng giống như sự căm hờn của các vì sao đối với mặt trời, vĩnh viễn không muốn nhìn mặt nhau." Trung úy Dung Hạc vẫn mỉm cười.
Mục sư Ma Ông nói: "Thượng Đế nhất định có khả năng, khiến cho lúc bầu trời xuất hiện mặt trời, đồng thời cũng nhìn thấy đầy trời tinh tú. Xin hãy để ta đi, lý tưởng của một mục sư không thể thực hiện được dưới sự bảo vệ của súng đạn." Nói đoạn giục ngựa bỏ đi.
Trung úy Dung Hạc đuổi theo hỏi: "Xin hỏi mục sư, có tin tức gì về Sagun không?"
Mục sư Ma Ông sửng sốt: "Sao lại hỏi chuyện này? Cậu cũng có hứng thú với Sagun cơ à?"
Trung úy Dung Hạc cười nói: "Ai mà không biết Sagun chứ, đứa trẻ xa xôi của ba đảo Anh lợn, tinh anh của hội đồng trưởng lão, ông ta là ông nội của ngài mà."
Mục sư Ma Ông nói: "Vậy bây giờ ta nhờ cậu, bất cứ đi đến đâu, đừng quên ngóng tin tức về ông nội Sagun của ta."
Trung úy Dung Hạc nói: "Được chứ, được chứ." Sau đó liền cất giọng hát:
Người Do Thái trốn khỏi Babylon,
Khoác áo tím tụng ca Chúa Cứu Thế.
Đến đây, đến đây,
Ta đón ngươi trên vùng đất người Tạng.
Xin hãy lưu tâm đến trái tim ta,
Trái tim Sagun của Jehovah.
Nếu hôm nay ngươi tìm thấy ta,
Ta sẽ giao Tây Tạng lại cho ngươi,
Đứa trẻ xa xôi của ba đảo Anh lợn,
Tinh anh của hội đồng trưởng lão.
Mục sư Ma Ông tò mò hỏi: "Cậu cũng biết hát á, học được từ bao giờ thế?"
Trung úy Dung Hạc nói: "Tất cả những người trong hội đồng trưởng lão đều biết hát, bố tôi là thành viên cốt cán của hội đồng trưởng lão, lúc tôi năm tuổi đã dạy cho tôi rồi."
Mục sư Ma Ông cũng cất tiếng hát theo, vừa hát vừa đi khuất.
Trung úy Dung Hạc gọi với theo: "Mục sư xin đợi chút, tôi đi báo cáo đại tá Garlan đây."
Mục sư Ma Ông nghe vậy liền quất ngựa chạy vội đi. Đi theo ông ta ngoài hai mươi binh lính vệ đội ra, còn có tín đồ người Tây Tạng Hạ Mã Nhữ bản cùng thuộc hạ của hắn.
Trung úy Dung Hạc nhìn bóng lưng họ khuất dần đi với tốc độ nhanh chóng, dẫn người thong thả đuổi theo sau.
Đại tá Garlan buộc phải thừa nhận lời hiến kế của lạt ma Cát Tát là đúng, muốn tấn công pháo đài Tông Sơn, trước tiên bắt buộc phải chiếm lấy trang viên Phả A Lặc, núi Cương Châu, Giang Lạc Lâm Khả. Hắn phân chia binh lực, ra lệnh cho bọn chúng hỏa tốc chiếm lấy ba nơi này. Sau đó nói với mấy sĩ quan đang vây quanh mình: "Trận đầu chúng ta bắt buộc phải thắng, bắt buộc phải chiếm lấy pháo đài Tông Sơn, bởi vì Thượng Đế bắt chúng ta cắm thánh giá vào nơi ở của thần linh. Pháo đài chính là biểu tượng của Giang Tử, giống như Jerusalem là biểu tượng của Chúa. Các người không được phép lơ là, hoặc là xông lên chiếm lấy, hoặc là chết ở giữa sườn núi. Trong vòng hai tiếng đồng hồ, tôi nhất định phải đứng trước cửa pháo đài, dẫm đạp toàn bộ Giang Tử dưới chân."
Cuộc tấn công sắp bắt đầu rồi. Đại tá Garlan trước tiên ra lệnh cho pháo binh dựng lên mười khẩu đại pháo mười pao và mười khẩu pháo dã chiến miền núi, lại phái các tiểu đội nhỏ, mang tính thăm dò lùng sục hướng về những ngôi nhà dưới chân Tông Sơn. Thông tin phản hồi khiến hắn vô cùng vui mừng: Không có ai, chạy hết rồi, chỉ còn lại chó giữ nhà và gia súc gia cầm không mang đi được. Xem ra người Tây Tạng không có đủ binh lực để phân tán từ trong pháo đài ra, hoặc là bọn họ không hy vọng quê hương của mình vì kháng cự mà trở thành mục tiêu pháo kích.
Đội lùng sục bắn chết mấy con chó sủa oang oang hướng về phía bọn họ, trèo lên mái nhà của kiến trúc hai tầng bằng đá, dựng súng máy từ đó ngắm thẳng vào pháo đài.
Đại tá Garlan ra lệnh cho pháo binh nã vài phát pháo về phía pháo đài, coi như để trấn áp, sau đó dẫn đầu đội quân tiên phong bao gồm người Anh, người Sinh Ba, người Gurkha xông lên trên.
Tinh binh Thập Tự xung phong còn chưa vào tầm bắn, người Tây Tạng đã bắt đầu phản công, dường như đã không thể đợi nổi nữa, mỗi một cây súng hỏa mai đều nhanh chóng phát ra tiếng gầm giận dữ đầu tiên. Tiếp theo đó là sự tĩnh lặng. Đại tá Garlan phỏng đoán bọn họ đã nhồi xong thuốc súng, đang châm ngòi súng liền ra lệnh cho quân đội dừng lại, ẩn nấp. Thế nhưng bọn họ không đợi được phát bắn thứ hai, quan sát kỹ phần đỉnh pháo đài, dường như bóng người vừa nãy còn thò đầu ngó ngoáy đã biến đi đâu mất.
Đại tá Garlan hô lớn một tiếng: "Lên."
Cuộc xung phong diễn ra rất nhanh chóng, việc chiếm đóng cũng vô cùng suôn sẻ. Không chết một mạng nào, quân Sinh Ba của đại tá Kachi đã cắm cây thánh giá lên đỉnh pháo đài. Đại tá Garlan thầm nghĩ trong sự may mắn rằng hóa ra quân phòng thủ pháo đài Tông Sơn không nhiều lắm, vừa thấy đánh không lại liền đều chuồn thẳng từ con đường nhỏ phía sau núi từ sớm. Vẫn còn một khả năng nữa, đó chính là chủ động từ bỏ để pháo đài tránh khỏi bị pháo kích. Hắn đi vòng quanh khắp nơi trong pháo đài, nhìn những súng đạn và lương thực vì chạy trốn hoảng hốt mà không kịp mang đi, ra lệnh cho thuộc hạ: "Kiểm tra xem, rốt cuộc có những gì."
Đại tá Kachi báo cáo rằng đã kiểm tra xong, người Tây Tạng đại khái đã bỏ lại hơn bốn trăm khẩu súng, hơn hai nghìn pao thuốc súng, dây ngòi nổ dài hơn một trăm cây số, còn có sáu mươi vạn pao bột mì, gần một trăm tấn lúa mạch, lúa mì và đậu Hà Lan, ba vạn pao thịt bò khô và thịt cừu khô.
Đại tá Garlan nói: "Tôi nói có sai đâu, Thượng Đế bảo chúng ta cắm thánh giá vào nơi ở của thần linh. Đây là món quà Thượng Đế ban ơn."
Chập tối, đại tá Garlan leo lên tháp mũi tên trên đỉnh pháo đài, ngắm nhìn ráng chiều rực rỡ bên chân trời và sự trù phú của vùng đồng bằng Giang Tử, cảm thấy tâm trạng vô cùng tuyệt vời, khẩu vị cũng mở lớn. Hắn nhai ngấu nghiến miếng thịt bò khô vừa mới luộc chín do người Tây Tạng bỏ lại, hỏi lạt ma Cát Tát vẫn luôn đi theo bầu bạn bên cạnh: "Có phải hơi suôn sẻ vượt ngoài dự tính không?"
Cát Tát nói: "Vâng, thưa Thượng Đế."
Đại tá Garlan kinh ngạc hỏi: "Ngươi gọi tôi là gì?"
Cát Tát nịnh nọt nói: "Tôi gọi ngài là Thượng Đế, không được sao? Đối với Tây Tạng mà nói, ngài không phải là đại tá, ngài chính là Thượng Đế."
Đại tá Garlan kiêu ngạo nói: "Ta biết ngươi gọi ta như vậy là vì tự viện Sama, yên tâm đi, ta sẽ giúp ngươi, giống như ngươi giúp ta vậy. Nói nghe xem, tiếp theo chúng ta nên làm thế nào?"
Cát Tát nói: "Đại tá, không, thưa Thượng Đế, tôi đã nói rồi."
Đại tá Garlan cũng không sửa lại, mặc kệ đối phương gọi lung tung. Hắn ném một khúc xương qua lỗ châu mai của tháp mũi tên xuống dưới rồi nói: "Chiếm lấy chùa Tử Kim, đó là cứ điểm thông đến Nhật Khách Tắc; chiếm lấy chùa Bạch Cư, đó là huyết mạch thông đến Lạp Tát?"
Cát Tát nói: "Hơn nữa phải thần tốc, tốt nhất là ngay bây giờ, khoảnh khắc này, hoặc là buổi tối."
Đại tá Garlan quan sát địa hình trên đồng bằng rồi nói: "Sáng mai không được sao?" Lại hỏi dồn một câu: "Sao lại gấp gáp thế?"
Cát Tát nói: "Bầu trời Giang Tử đang thay đổi, không giống như lúc chúng ta mới tới nữa rồi. Ngài nhìn đám mây lửa ở chân trời kìa, chớp mắt đã biến hóa ra bao nhiêu hình dáng thế kia, đó là sự co giật, là Tây Tạng đang nổi giận. Tôi là một người Tây Tạng trung thành với ngài, không muốn đoán xem điềm gác bất tường của bầu trời báo hiệu số mệnh của ai."
Đại tá Garlan nói: "Ngươi nghĩ như vậy, là Phật bảo ngươi, hay là Thượng Đế bảo ngươi?"
Cát Tát nói: "Phật với Thượng Đế."
Đại tá Garlan nói: "Tôi đâu có bảo ngươi cái gì."
Cát Tát lắc đầu, bướng bỉnh nói: "Ngài đã bảo rồi, tôi không hiểu lầm đâu."
Đại tá Garlan nói: "Xem ra ngươi đã đoán được tôi muốn làm gì rồi. Đúng là một tên lạt ma thông minh. Lạt ma ở Tây Tạng ai cũng thông minh như ngươi à? Xin ngươi nhắc lại lần nữa, tự viện Sama của ngươi nằm ở vị trí nào?"
Cát Tát nói: "Không xa chùa Tử Kim ngày trước, trong vòng tay của ngọn núi Sama trông giống như con sư tử đang nằm, chính là tự viện Sama thù thắng vô bỉ. Trong toàn bộ Tây Tạng, nơi đó là nơi có nhiều người hành hương nhất chỉ sau Đại Chiêu tự ở Lạp Tát. Bởi vì Đại Chiêu tự tôn thờ bức tượng đồng thân tuổi mười hai của Phật Đà, còn tự viện Sama tôn thờ đỉnh đầu của Phật Đà."
Đại tá Garlan nói: "Cho nên ngươi yêu cầu ta lập tức chiếm lấy chùa Tử Kim, đả thông con đường đi đến núi Sama?"
Lạt ma Cát Tát không lên tiếng, coi như là ngầm thừa nhận.
Đại tá Garlan lại hỏi: "Nơi tín ngưỡng thần thánh như vậy, lạt ma sinh sống chắc là rất đông đúng không?"
Cát Tát nói: "Hồi tôi làm trụ trì thì có gần một nghìn người. Tự viện Sama sau khi quy thuộc về chùa Đan Vượng như một vật thế trừ nợ, nơi đó đã trở thành thiên hạ của lạt ma chùa Đan Vượng, ít nhất cũng phải có năm trăm người."
Đại tá Garlan bước xuống khỏi tháp mũi tên, ra lệnh cho một viên trung úy người Gurkha: "Lập tức xuất phát, chiếm lấy chùa Tử Kim."
Viên trung úy người Gurkha ngơ ngác hỏi: "Chùa Tử Kim ở đâu ạ?"
Đại tá Garlan gọi trung úy Quả Quả lại: "Cậu dẫn người của cậu, đi cùng với trung úy đi. Tầm quan trọng của chùa Tử Kim cậu rõ hơn tôi, nhất định phải chiếm cho bằng được." Nhìn sắc trời rồi nói thêm câu nữa: "Bất kể trời tối hay trời sáng."
Lạt ma Cát Tát muốn đi cùng bọn họ, đại tá Garlan liền gọi hắn lại: "Lúc này ngươi nên ở lại bên cạnh ta. Không cần vội, đợi chúng ta chiếm được chùa Tử Kim, ta sẽ cùng ngươi đi thăm tự viện Sama của ngươi."
Đại tá Garlan để lại đại tá Kachi cùng quân Sinh Ba cố thủ pháo đài, còn mình và lạt ma Cát Tát đi xuống Tông Sơn, dẫn dắt số tinh binh Thập Tự còn lại, hướng về chùa Bạch Cư ở không xa để bao vây vu hồi.
Với sự dễ như trở bàn tay của pháo đài Tông Sơn, việc không gặp phải bất kỳ sự kháng cự nào ở chùa Bạch Cư cũng không có gì là lạ. Dường như có một thứ trực giác nào đó, đại tá Garlan thậm chí còn chưa rút súng lục ra. Điều khiến hắn trở tay không kịp, ngược lại chính là bầu không khí quá đỗi yên bình. Hơn hai trăm tăng nhân nối đuôi nhau đi ra từ cửa chùa, giống như đã được huấn luyện từ trước, nhanh chóng và có trật tự chia thành hai hàng đứng hai bên vệ đường. Từng người bọn họ hai tay nâng khăn Hada, khom lưng làm bộ dáng cung nghinh quý khách. Một vị lão tăng mặc áo choàng màu vàng, cũng nâng khăn Hada bước về phía đại tá Garlan, nụ cười trên khuôn mặt khiến người ta cảm thấy mọi thứ đều không có thực. Đại tá cảm thấy có điều kỳ lạ, một tia bất an lướt qua trong lòng.
Lão tăng nói: "Tôi là Địch Di Khám Bố đời thứ tư của chùa Bạch Cư, thỉnh cầu quân đội quý quốc tôn trọng tín ngưỡng của người Tạng chúng tôi, ngàn vạn lần đừng bước vào trong tự viện."
Nghe ông ta nói vậy, hành động dâng khăn Hada, cười nịnh nọt liền trở nên hợp tình hợp lý, trông không giống như có âm mưu gì. Đại tá Garlan nhận lấy khăn Hada, nhưng lại không chấp nhận thỉnh cầu, chào quân đội rằng: "Vào đi, lục soát cho tôi."
Tinh binh Thập Tự lùng sục khắp tất cả các đại điện của chùa Bạch Cư, không phát hiện ra một khẩu súng nào, một tên tăng nhân vũ trang nào. Đại tá Garlan trầm ngâm không nói: Chẳng lẽ người Tây Tạng đã từ bỏ kháng cự? Đạt Lai Lạt ma sau khi thân chính không có khả năng tổ chức một cuộc chiến tranh thực sự nên đành phải mở rộng cửa thành ư? Tây Giáp lạt ma luôn đối đầu với hắn đang ở đâu nhỉ? Hắn nhìn những bức bích họa rực rỡ trong đại điện của chùa, những pho tượng Phật giận dữ khác nhau cùng với những ngọn đèn bơ yak mờ ảo bí mật lấp lánh, lắng nghe tiếng kinh âm vang tiếng trống vọng lại, lúc này mới phát hiện chùa Bạch Cư giống như một chiếc hồ lô, bên trong có cái bụng rất to rất lớn, nhưng cái cổ ra vào lại nhỏ đến mức không thể nhỏ hơn.
Yên bình đến mức hơi kỳ lạ, có vẻ như bọn họ không phải đến để chiếm đóng, mà là đến để thắp hương thì đúng hơn.
Đại tá Garlan bỗng nhiên rùng mình một cái, thầm nghĩ dù đã chiếm được chùa Bạch Cư, cũng không thể đóng quân ở đây. Hắn sải bước đi ra ngoài.
Ra khỏi chùa Bạch Cư, trời đã tối đen như mực. Đại tá Garlan ra lệnh cho hơn ba trăm tên tinh binh Thập Tự đồn trú bên ngoài chùa Bạch Cư, còn mình thì dẫn theo một số người, đi đến Giang Lạc Lâm Khả nơi pháo binh đóng quân.
Bây giờ, tinh binh Thập Tự nước Anh đến vùng đồng bằng Giang Tử đã chia thành sáu ngả, một ngả chiếm pháo đài Tông Sơn, một ngả đi chùa Tử Kim, một ngả đồn trú ngoài chùa Bạch Cư, một ngả chiếm trang viên Phả A Lặc, một ngả chiếm núi Cương Châu, một ngả chiếm đóng ở Giang Lạc Lâm Khả. Giang Lạc Lâm Khả với tư cách là một lâm uyển quý tộc có kiến trúc tốt, tiện nghi sinh sống thuận tiện và cây cối rậm rạp, cộng thêm việc nằm ngay chính giữa sáu nơi đồn trú, liền trở thành bộ tư lệnh của tinh binh Thập Tự. Đại tá Garlan quả không hổ là người xuất chúng trong số các sĩ quan quân đội Anh, tư thế này giống như bố cục của cờ vây, cơ bản đã kiểm soát toàn bộ vùng đồng bằng Giang Tử, quyền chủ động tấn công đã bị hắn nắm chặt trong tay. Nhưng hắn không thể tấn công ngay lập tức, bắt buộc phải chỉnh đốn ở đây ít nhất một tuần. Quân đội của hắn trải qua chặng đường dài đằng đẵng, liên tiếp giao tranh, đã vô cùng mệt mỏi rồi.
Đến Giang Lạc Lâm Khả xong, đại tá Garlan lập tức phát một bức điện tín cho đại thần trú Tạng Phủ Thái:
Quân đội chúng tôi đã chiếm được Giang Tử, mong các hạ đến đây bàn bạc trực tiếp, đồng thời thông báo cho người Tạng, giới hạn trong bảy ngày đến Giang Tử đàm phán chính thức.
Đây cũng là kế hoãn binh. Hai canh giờ sau, đại tá Garlan đã nhận được điện hồi âm: Đại thần đến Giang Tử, ắt sẽ tiến vào Lạp Tát, bàn bạc cũng vô ích. Huống chi thân thể hèn mọn của ta không được khỏe, không tiện đi xa. Quý quốc hy vọng tự do thông thương, truyền giáo, Thiên Chúa giáo đến Tây Tạng bình an vô sự, đây là đạo lý lâu dài vội vàng không được. Chi bằng việc khoe khoang binh gươm binh sĩ ở bên ngoài mà lâu ngày không có thành công, sao bằng nhẫn nhịn sự khuất nhục nhất thời, diễn biến hòa bình mà sự việc có thể thuận buồm xuôi gió, dòng suối nhỏ hòa vào biển lớn, giúp đỡ giang sơn, đi hay dừng, đại thần hãy tự suy tính.
Phủ Thái không nói sau khi thông báo cho người Tạng thì thế nào, đại khái là không thông báo rồi. Còn về phần bản thân ông ta, những gì nên nói đều đã nói hết, vậy nên sẽ không đi đàm phán đâu, các người muốn đến thì cứ đến đi.
Đại tá Garlan đang ngẩn người nhìn bức điện tín, ngẫm nghĩ không biết tại sao người tên Phủ Thái này lại mang thái độ bàng quan không liên quan đến mình, bỗng nhiên nghe thấy một tiếng súng vang lên, truyền đến từ đằng xa, xé toạc bầu trời đêm tĩnh mịch của Giang Tử. Hắn vội vàng ra cửa xem xét, biết là phát ra từ hướng chùa Tử Kim. Tiếng súng ngày một dày đặc hơn. Người Tây Tạng hầu như từ bỏ tất cả các trận địa không nên từ bỏ, thế nhưng lại không từ bỏ chùa Tử Kim, dường như cứ điểm thông đến Nhật Khách Tắc này trong tâm trí đối phương còn quan trọng hơn bất kỳ nơi nào khác. Hắn vừa nghĩ ngợi, sự bất an trong lòng càng trở nên mãnh liệt. Nơi này quá yên bình, yên bình đến mức có chút bất thường.
Tiếng súng dày đặc vẫn tiếp tục vang lên, rõ ràng là cuộc chiến rất ác liệt. Nhưng đại tá Garlan không có ý định phái bất kỳ đội quân viện binh nào. Trong cái nhìn của hắn, chiến tranh chính là dùng ưu thế súng đạn để giành lấy quyền tự chủ về tín ngưỡng, sự chiếm đóng thắng lợi mà không cần đánh sẽ khiến hắn cảm thấy giang sơn trong tay biến thành những đám mây nhẹ bẫng, từ đó đánh mất đi cảm giác kiên định và vững chãi. Hơn nữa, binh lực của trung úy Gurkha và trung úy Quả Quả là đã đủ rồi, nếu ngay cả một ngôi chùa Tử Kim mà cũng không hạ nổi, thì còn có thể trông mong bọn họ mở rộng chiến quả, tiến đánh Lạp Tát sao? Hắn quay về phòng, tự nhủ: Ngủ thôi, ngày mai sáng giật mình tỉnh dậy, đỉnh chùa Tử Kim chính là những đám mây cát tường của Thượng Đế rồi.
Tông bản Nham Thố sau khi rút lui từ pháo đài Tông Sơn xuống, theo hẹn dẫn dắt đội quân đến bãi đất trũng lớn nổi tiếng với sản lượng lúa mạch cao bên bờ sông Niên Sở. Tây Giáp lạt ma vừa nhìn thấy hắn thì trước mừng sau giận, mừng vì Tông bản Nham Thố vậy mà lại chiêu mộ được nhiều người như vậy từ trang viên Nhật Nang và trang viên Phả A Lặc, giận vì những người này hầu như đều đi tay không, chẳng có súng cũng chẳng có lương thực, vừa đến đây là chạy ra bên lề ruộng xoa bóp bông lúa mạch để ăn lót dạ, màn đêm mờ ảo không che khuất được vẻ tham lam đói khát của bọn họ. Tây Giáp lạt ma vội vàng gặng hỏi, lúc nới biết súng đạn và lương thực trong pháo đài Tông Sơn đều đã rơi vào tay tinh binh Thập Tự.
Ông không kìm được mà gầm lên: "Nhiều người đến thế này, nhiều đến vượt quá cả suy nghĩ trong đầu. Thế nhưng bọn họ hai bàn tay trắng, chẳng có gì cả. Ngươi đường đường là một vị Tông bản đại nhân của Tây Tạng, thà để ma ngoại cướp mất vũ khí lương thực trong kho, cũng nhất quyết không chịu phát cho quân đội của mình. Đây là tại sao? Ta bảo ngươi phát cho mọi người, sao ngươi không phát?"
Tông bản Nham Thố nói: "Thưa tổng quản đại nhân, tôi đã nói là không thể phát, phát cho lũ tiện dân, lũ tiện dân sẽ làm phản, giới quý tộc sẽ không vui, Tọa Khách và Đạt Lai Lạt ma đều sẽ không vui, trách nhiệm truy trách đầu tôi, tôi gánh không nổi đâu."
Tây Giáp lạt ma tức giận đến mức gãi tai gãi gò không nói nên lời, nén giận hồi lâu mới thốt lên được một câu: "Bây giờ chính là muốn lũ tiện dân làm phản, làm phản quân ma ngoại, có gì mà không tốt chứ? Quê củ do Thích Ca Mâu Ni định ra quên sạch rồi à? Chỉ cần biết bắn súng, sang hèn đều như nhau. Ngươi không phát cho tiện dân Tây Tạng, lại đi phát cho ma ngoại của Thượng Đế, để ma ngoại ăn lương thực của chúng ta, cầm súng của chúng ta đánh chúng ta, ngươi là Tông bản của Tây Tạng hay là tổng quản hậu cần của ma ngoại hả?"
Tông bản Nham Thố bướng bỉnh cãi lại: "Sắc lệnh do Đạt Lai Lạt ma ban bố từ hai trăm năm trước, chỉ nói tiện dân không được cầm súng, chứ có nói ma ngoại không được cầm súng đâu."
Tây Giáp giận dữ tột cùng nói: "Ngươi còn mở miệng ra là Đạt Lai Lạt ma. Phật giáo đã diệt vong rồi, còn cần Đạt Lai Lạt ma làm cái gì? Ma ngoại đang khắc kinh ngoại đạo lên bụng ngươi kìa, ngươi lôi sắc lệnh từ hai trăm năm trước ra thì có ích gì chứ." Sau đó chạy xồng xộc qua, quát lớn vào đám tiện dân đang xoa bóp bông lúa mạch ăn lót dạ rằng: "Ta là tổng quản tiền tuyến, nghe lệnh của ta, ta không có lương thực phát cho các người, lương thực của các người đều ở trong phủ đệ của Tông bản, ở trang viên Nhật Nang và trang viên Phả A Lặc, các người cứ đi lấy đi cướp đi, kẻ nào dám ngăn cản các người, báo cho ta, ta bắn chết chúng nó." Lại nói: "Ta nói là ngày mai, sau này, tối nay các người không được cướp cái gì cả, chết đói cũng không được cướp, cứ ở đây nghe lệnh ta, ta bảo các người làm gì thì làm cái đó."
Mặc dù Tây Giáp lạt ma quy định tối nay không được cướp lương thực, nhưng những người dân đói khát tụ tập lại vẫn có hành động chớp nhoáng nhanh nhẹn. Đã có thể cướp, tại sao phải đợi đến ngày mai? Cái bụng nào chờ nổi chứ. Hai canh giờ sau, kho lương thực của phủ đệ Tông bản và trang viên Nhật Nang đã hứng chịu vụ cướp phá của hàng ngàn người đói khát.
Sự việc được báo cáo đến chỗ Tây Giáp lạt ma, Tây Giáp hỏi: "Cướp rồi à?"
"Cướp rồi."
Tây Giáp nói: "Nước đấy, nước của Tây Tạng chúng ta đấy, nó là thứ chảy xuôi. Lương thực cũng chính là nước, nước năm ngoái chảy sang năm nay, nước năm nay chảy sang năm sau, nước trong kho chảy vào miệng, nước trong miệng chảy vào bụng, nước trong bụng chảy đi đâu rồi? Ngươi bảo chảy thành cứt á? Ngươi nhìn cái tên lạt ma không biết tụng kinh như ngươi kìa, ngươi chỉ biết mỗi cứt thôi. Không đúng, nó chảy thành sức lực của người Tây Tạng rồi, sức lực này dùng để giết ma ngoại đấy chứ. Cướp thì cứ cướp, chỉ cần có thể tiêu diệt và đuổi sạch ma ngoại đi, cướp hôm nay với cướp ngày mai, chẳng lẽ còn khác nhau à?"
Nửa đêm, sau khi trận chiến ở chùa Tử Kim nổ ra, Tây Giáp lạt ma lập tức dẫn người xuất phát rời khỏi bãi đất trũng lớn.
Ngoại trừ quân đội do Nô Mã đại bản và Âu Châu đại bản canh giữ chùa Tử Kim ra, tất cả mọi người tụ tập trong vùng hoang dã, đều trong cái đêm tối không rõ hướng gió này, tham gia vào một trận chiến viển vông.
Tây Giáp lạt ma chia người thành ba phần, một phần do Sở Thần đại bản và Ma Ông đại bản dẫn dắt, bao vây chùa Bạch Cư; một phần do hai tăng binh đại bản mới đến là Quần Đại Giác và Hạ Lỗ dẫn dắt, bao vây núi Cương Châu; một phần do ông và Tông bản Nham Thố dẫn dắt, bao vây bộ tư lệnh của tinh binh Thập Tự ở Giang Lạc Lâm Khả.
Hành động vô cùng nhanh chóng, trên đồng bằng đâu đâu cũng là đường, không cản trở lẫn nhau, cộng thêm địa hình quen thuộc, rất nhanh đã áp sát doanh trại của kẻ địch. Mệnh lệnh của Tây Giáp lạt ma là không được nói chuyện, không được ho, không được phát ra tiếng bước chân. Nhưng phần lớn đều là tăng binh và dân binh chưa từng qua huấn luyện, hoàn toàn không thể làm được điều này. Khắp vùng hoang dã vang vọng tiếng ho còn to hơn để kìm nén tiếng ho, tiếng bước chân sột soạt giống như trời mưa sắp trút xuống. Chuyện nói chuyện cũng không thể quản nổi, thậm chí còn có cả tiếng cười phát sinh do sự hài hước vào lúc không nên hài hước. May là tiếng súng ở chùa Tử Kim cứ vang lên liên tục, tiếng chó sủa bị tiếng súng kích thích cũng không dứt, phần lớn đã che giấu tung tích của người Tây Tạng. Thức ra Tây Giáp lạt ma đã tính toán được điều đó rồi.
Vòng vây nhanh chóng hình thành. Cả ba vòng vây đều là một nửa hình tròn, Tây Giáp lạt ma có ý chừa lại cho đối thủ một cửa đột phá, mà cửa đột phá ấy lại đều hướng về phía trang viên Phả A Lặc.
Gần như đồng thời, những người Tây Tạng bao vây chùa Bạch Cư, núi Cương Châu, Giang Lạc Lâm Khả đã nổ súng giao tranh. Có đạn súng hỏa mai, có đá dùng roi ném đá, có tên vang của cung săn, còn có tiếng gầm tập thể đinh tai nhức óc, tất cả các cuộc tấn công đều không có mục tiêu cụ thể, thế nhưng lại đánh úp bất ngờ, uy lực mười phần. Nhưng hiệu quả nhất vẫn là dùng dao chém, kiếm giết, gậy đánh, đá ném. Người Tây Tạng quen thuộc với màn đêm Tây Tạng, đôi mắt giống như loài động vật chẳng bấy giờ quan tâm đến sự ngăn cách của bóng tối. Trong khu doanh trại của tinh binh Thập Tự, rất nhiều lính gác vừa giơ súng lên chẳng biết nhắm vào cái gì thì đã bị tập kích từ đằng sau. Doanh trại chớp mắt đã chẳng còn phân biệt được địch ta. Cận chiến chính là sở trường của người Tây Tạng, cộng thêm sự uy hiếp của vòng vây và sự đe dọa của màn đêm, tinh binh Thập Tự gánh chịu tổn thất nặng nề bất ngờ, có kẻ bị người Tây Tạng đánh chết đánh bị thương, cũng có kẻ bị chính đồng đội của mình đánh chết đánh bị thương. Lúc đầu tinh binh Thập Tự không dám nổ súng bừa bãi, bởi vì cách năm bước chân bọn họ không phân biệt nổi cái bóng đen đang chạy về phía mình là đồng đội hay kẻ địch, thường là còn chưa đưa ra phán đoán thì dao kiếm gậy gộc đã kề sát tới nơi rồi. Sau đó chính là hễ thấy có người đến gần là nổ súng, kết quả kẻ bị bắn chết lại thường là người của mình.
Toàn bộ tinh binh Thập Tự bị vây đánh bao gồm cả chỉ huy của bọn họ là đại tá Garlan, phản ứng bản năng không phải là chống cự tại chỗ, mà là đột phá vòng vây bỏ chạy. Tổn thất thảm khốc nhất đã xảy ra vào lúc phá vây. Trong cơn hoảng loạn, bọn họ không kịp mang theo đại pháo, tất cả đại pháo, thậm chí là mấy chục khẩu pháo dã chiến miền núi, đều bị vứt lại cho người Tây Tạng.
Cũng may chỉ là vây ba mặt, phần lớn tinh binh Thập Tự đều chạy trối chết hướng về trang viên Phả A Lặc từ những hướng khác nhau.
Đến trang viên Phả A Lặc, đại tá Garlan mới phát hiện ra, các đội quân bị vây đánh đều đã đột phá vòng vây chạy hết đến đây rồi.
Đại tá Garlan hỏi: "Sao lại đều đến đây hết thế này?"
Tất cả các câu trả lời đều là: Thưa đại tá, chỉ có thể đột phá vòng vây đến đây thôi.
Trong lòng đại tá Garlan chấn động mạnh: Tại sao tất cả các lỗ hổng của vòng vây đều hướng về trang viên Phả A Lặc? Tây Giáp lạt ma muốn làm gì? Tinh binh Thập Tự đồn trú chùa Bạch Cư, chiếm đóng núi Cương Châu, chiếm cứ Giang Lạc Lâm Khả đều đã đến đây rồi, cộng thêm lực lượng vốn đã chiếm đóng trang viên Phả A Lặc từ trước, trong sáu ngả tinh binh Thập Tự phân bố trên vùng đồng bằng Giang Tử, có tới bốn ngả đã bị vây hãm ở đây. Đại tá Garlan leo lên nơi cao nhất của trang viên Phả A Lặc, căng thẳng quan sát.
Vòng vây lớn hơn của người Tây Tạng đã được hình thành, lần này không còn là nửa vòng tròn nữa, bốn phương tám hướng đều bị vây kín như bưng. Vẫn là chiến pháp cũ: Đạn súng hỏa mai, đá roi ném đá, tên vang cung săn, ào ào trút xuống. Thỉnh thoảng lại có những tiểu đội người Tây Tạng xông qua, đánh chém một trận dữ dội rồi nhanh chóng rút lui.
Trang viên Phả A Lặc là một kiến trúc chồng chất kiểu nhà lồng nhà, lớn nhỏ trên dưới hơn một trăm gian nhà gỗ lớn đá thô, gần năm nghìn mét vuông. Xung quanh dày đặc những ngôi nhà nghèo nàn thấp bé đơn sơ, hầu như đều là kết cấu đất đá, mái lợp rơm lúa mì. Trên mái nhà trước nhà, đạiu chất đống rơm lúa mạch khô màu vàng có thể dùng làm nhiên liệu và thức ăn cho gia súc, trên tường trát phân bò khô, trong kho chứa nhiên liệu dưới hiên nhà, chất đống phân cừu khô. Dường như nhà cửa và thói quen sinh sống từ lâu đời của người Tây Tạng, đều đã chuẩn bị sẵn sàng cho sự kiện chiến tranh xảy ra tiếp theo.
Việc châm lửa là vô cùng dễ dàng. Tây Giáp lạt ma sai người làm một bọc thuốc súng, cắm ngòi nổ, châm lửa rồi ném qua, ngọn lửa liền bùng lên. Ngọn lửa ban đầu rất nhỏ, nếu tinh binh Thập Tự ý thức được sự nguy hiểm, chú ý dập lửa, rất có khả năng sẽ tránh được. Thế nhưng bọn họ làm sao mà bận tâm đến việc dập lửa chứ. Bọn họ trước tiên chạy về phía trang viên Phả A Lặc cao rộng kiên cố, vừa thấy trang viên không chứa nổi nhiều người như vậy liền tản ra trong vô số ngôi nhà túp lúp nghèo hèn. Lúc này đội ngũ đã hỗn loạn rồi, lính không tìm được quan, quan không nhìn thấy lính, người Anh và lính đánh thuê trộn lẫn vào nhau, người Gurkha, người Ấn Độ và người Tạng dưới chân núi trộn lẫn vào nhau, không quen biết ai với ai, ngươi va vào ta, ta chen lấn ngươi. Quan binh đều chẳng màng gì đến đánh trận, chỉ cốt bảo toàn tính mạng mà thôi.
Lửa vừa bùng lên, gió liền thổi tới, tinh binh Thập Tự ở đâu là gió thổi đến đó. Lách tách khắp nơi vang lên, vô số ngôi nhà chớp mắt đã biến thành nhiên liệu cho ngọn lửa hừng hực. Biển lửa vây quanh trang viên Phả A Lặc, chẳng mấy chốc đã thiêu rụi kiến trúc gỗ lớn đá thô cổ kính này.
Một vùng biển lửa mênh mông, cuồn cuộn dâng trào sóng lớn, dưới bầu trời đêm Tây Tạng, thiêu rụi tất cả các vì sao.
Đại tá Garlan gặp ai cũng hét lớn: "Dập lửa, dập lửa." Nhưng thuộc hạ của hắn lục soát khắp trang viên Phả A Lặc, phát hiện tất cả các lu nước vại nước đều không có lấy một giọt nước, có vẻ như trước khi bỏ chạy, chủ nhân đã chuẩn bị sẵn sàng không cho kẻ xâm phạm có cơ hội dập lửa rồi. Đại tá Garlan ngây người chết lặng, hắn biết là đã hết cách rồi, chỉ có thể chết trong biển lửa mà thôi. Cuộc chiến tranh về Tây Tạng này lại kết thúc ở Giang Tử, lại chính là sự thất bại thảm hại của tinh binh Thập Tự nước Anh. Thượng Đế ơi, ta liều mạng vì sự nghiệp của ngài ở Tây Tạng, ngài lại chẳng hề chiếu cố ta, để ta diệt vong trong một trận đại lửa dã man thế này.
Cái chết, cái chết ập đến muốn tránh cũng không được. Đại tá Garlan nhìn biển lửa đang cuồn cuộn ập tới, đứng trên mái nhà của trang viên Phả A Lặc, giống như chuẩn bị niết bàn, cứng đờ bất động.
Kẻ tuyệt vọng giống như hắn còn có lạt ma Cát Tát. Hắn đến vì tự viện Sama, mắt thấy sắp đạt được mục đích rồi, lại bị một trận đại lửa chặn mất con đường phía trước. Nhưng dù sao hắn cũng là người Tây Tạng, lúc này vẫn chưa cảm thấy chắc chắn phải chết. Hắn tiến đến bên cạnh đại tá Garlan, tóm chặt lấy tay đối phương, hét lớn một tiếng: "Theo tôi."
Giữa trang viên Phả A Lặc và một dải nhà nghèo nàn có một con mương dẫn nước, bên cạnh mương nước là bãi đất bằng đạp lúa mạch của trang viên Phả A Lặc, tận cùng bãi đất bằng là một đống Obo khổng lồ. Obo được xếp bằng đá thành một ngọn tháp tròn, trên đó cắm dày đặc cờ mũi tên, kinh phanh phần phật bay trong gió. Khi lạt ma Cát Tát dẫn đại tá Garlan đến đây, bãi đất bằng đã chen chúc chật ních tinh binh Thập Tự. Bọn họ vứt lúa mạch chất đống ở đó xuống mương nước, lại dùng nước còn sót lại trong mương để làm ướt người mình, coi như là tạm sống qua ngày. Lạt ma Cát Tát kéo đại tá Garlan chen qua đám đông, đi đến trước đống Obo. Obo tuy chưa bén lửa, nhưng chẳng ai dám trèo lên cả. Obo quá cao, trèo lên chính là cái bia sống.
Lạt ma Cát Tát nói: "Đại tá mau lên đi, tranh thủ lúc trên đó chưa bén lửa." Thấy đại tá Garlan còn đang do dự, chính hắn đã dẫm lên đá trèo lên tận đỉnh. Hắn ôm từng bó cờ mũi tên dễ bắt lửa nhổ lên, ném đi thật xa, rồi xé rách kinh phanh ấn xuống dưới những hòn đá, giục giã: "Đừng sợ ở nơi cao mục tiêu lớn, Obo là nơi ở của thần linh, người Tây Tạng không dám nổ súng vào nó đâu."
Đại tá Garlan ngẫm nghĩ, cũng phải, vội vàng trèo lên.
Bóng tối của màn đêm dần tan đi, ngọn lửa vẫn đang lan rộng, tuy nhiên đã chẳng còn liên quan gì đến tinh binh Thập Tự nữa rồi. Ngọn lửa thiêu rụi trang viên Phả A Lặc và những ngôi nhà túp lúp nghèo hèn không cam tâm tắt lịm, hung hăng lao về phía cánh đồng lúa mạch. Đây là cánh đồng lúa mạch rộng lớn nhất toàn Tây Tạng, ngay trước mặt những người Tây Tạng bao vây tinh binh Thập Tự, chúng kêu lách tách rồi bốc cháy ngùn ngụt. Rất nhiều người Tây Tạng định lao ra dập lửa, nhưng đã bị Tây Giáp lạt ma quát dừng lại. Ý của ông là: Không phải không được dập lửa, nhưng không thể vì dập lửa mà để tinh binh Thập Tự chạy thoát. Ông phải nhìn thấy kết quả của trận chiến này. Ông đang chờ đợi thời điểm trời sáng, mặt trời chiếu rọi mặt đất.
Khoảnh khắc này đến có chút chậm chạp, có lẽ ông trời không hề sẵn lòng vạch trần sự thật.
Dưới ánh mặt trời, trên mảnh đất cháy xém, bi kịch chiến tranh tàn khốc vượt quá sức tưởng tượng của con người. Người Tây Tạng ngây người chết lặng, bọn họ không ngờ rằng, thứ do chính tay mình châm lửa đốt lại là một trận đại lửa thế này: Không thể diễn tả nổi, không nỡ nhìn thẳng, cho dù bọn họ có căm hận đầy ngực, giận dữ ngút trời đối với tinh binh Thập Tự nước Anh đi chăng nữa, thì cũng không muốn ban ngày ban mặt chứng minh rằng chính mình đã tạo ra địa ngục pháo hoa như thế này. Bọn họ vừa nhìn thấy cái giá phải trả khi người Tây Tạng đánh bại tinh binh Thập Tự: Trang viên Phả A Lặc và vô số ngôi nhà túp lúp biến thành chốn hoang tàn cháy xém rồi được làn sóng khói vẽ nên tương lai — có biết bao nhiêu người sẽ phải màn trời chiếu đất; lại càng nhìn thấy cái giá phải trả khi tinh binh Thập Tự nước Anh mưu đồ chiếm đóng Tây Tạng: Tử vong vô số, xác cháy khắp nơi, có kẻ chết vì súng đạn, có kẻ chết vì đá cung tên, có kẻ chết vì dao kiếm gậy gộc, nhưng phần lớn chết trong biển lửa. Ngọn lửa ngút trời đã để lại vô số thi thể không thể đếm xuể cho tinh binh Thập Tự.
Tây Giáp lạt ma đảo mắt nhìn khắp chiến trường trong ánh nắng sớm trong lành, trên khuôn mặt là sự lạnh lùng chưa từng có và vẻ nghiêm nghị sắc bén bức người. Điều ông ép buộc không chỉ là kẻ địch, mà còn chính là bản thân mình: Đây đều là những kẻ do ta giết chết sao? Phật tổ ơi, sao ta lại giết nhiều người thế này?
Những người còn sống sót không nhiều lắm. Bọn họ kẻ thì chen chúc trên bãi đất bằng đạp lúa mạch bên cạnh mương nước, người thì nằm phủ phục trên đống Obo khổng lồ ở tận cùng bãi đất bằng, khiến người ta cảm giác Phật của Tây Tạng vào khoảnh khắc này đã dùng sự từ bi vô tận để bảo hộ kẻ thù của mình.
Tây Giáp lạt ma dẫn người vây lấy bãi đất bằng và Obo. Mà ở phía sau bọn họ, cánh đồng lúa mạch vẫn đang tiếp tục cháy.
Số tinh binh Thập Tự còn sót lại ở đây từng người một trợn trừng mắt nhìn người Tây Tạng, trong những đôi ánh mắt hoảng sợ ấy, sự tuyệt vọng và cầu xin giống như tro tàn sau trận đại lửa, đang bốc lên làn khói xanh trong đám tro đen kịt.
Người Tây Tạng cầm chắc những khẩu súng đã nắp đạn sẵn, đã cắm ngòi nổ sẵn, chậm rãi tiến lại gần, chốc chốc lại nhìn về phía Tây Giáp lạt ma.
Tây Giáp lạt ma đi ở phía trước nhất, chỉ cần ông giơ tay hô lên một tiếng "Đánh", người Tây Tạng sẽ dùng tốc độ nhanh nhất châm ngòi nổ, ngắm chuẩn rồi bắn. Mặc dù bọn họ không nỡ nổ súng vào đống Obo, nhưng tinh binh Thập Tự trên bãi đất bằng thì hoàn toàn có thể mặc sức bắn hạ. Khiến cho lũ ma ngoại ngã lăn ra một đám trong chớp mắt, giống như trước đây bọn chúng hễ một tí là khiến người Tây Tạng ngã lăn ra một đám vậy.
Bên cạnh Tây Giáp lạt ma là A Đạt Ni Mã. Đã mấy lần, A Đạt Ni Mã thay mặt Tây Giáp lạt ma giơ tay lên. Nhưng người Tây Tạng nhận ra bàn tay của Tây Giáp lạt ma, đó là một bàn tay to lớn vô cùng, sự vẫy gọi của bàn tay ấy luôn mang theo một thứ uy nghiêm và tao nhã bẩm sinh, mang theo một thứ khí chất Phật Bồ Tát mà kẻ khác không thể bắt chước được. Không một ai nổ súng cả, bọn họ vẫn dán chặt mắt vào Tây Giáp lạt ma.
Tây Giáp lạt ma vẫn đang tiến lại gần, gần đến mức suýt chút nữa là có thể tóm gọn lấy đám tinh binh Thập Tự trên bãi đất bằng trong tay. Tinh binh Thập Tự xôn xao hẳn lên, những kẻ ở phía trước lùi lại phía sau, những kẻ ở phía sau chen lên phía trước.
Đột nhiên có tiếng hô lớn: "Buông vũ khí xuống."
Người Tây Tạng ngẩn người mất một lúc, mới nhận thức được đây là tiếng hô của Tây Giáp lạt ma, tuy không cam lòng nhưng vẫn tuân mệnh. Những khẩu súng hỏa mai đang chĩa thẳng lần lượt dựng đứng lên.
Tây Giáp lạt ma lại hô lớn một tiếng: "Ai bảo các người buông vũ khí xuống hả?"
Người Tây Tạng vội vàng chĩa súng thẳng trở lại.
Tây Giáp lạt ma lại hô: "Buông vũ khí xuống."
Lạt ma Cát Tát đứng trên đống Obo đã nghe hiểu, bèn phiên dịch lại cho đại tá Garlan.
Đại tá Garlan nghiến răng nghiến lợi làu bàu: "Đây là sự sỉ nhục của Thượng Đế." Sau đó ra lệnh cho quân đội của mình: "Buông vũ khí xuống."
Tinh binh Thập Tự lần lượt đặt súng trường xuống đất, hoặc ném thẳng xuống mương nước.
Tất cả mọi người đều nhìn Tây Giáp lạt ma, không biết tiếp theo ông muốn làm gì.
Thực ra chính Tây Giáp lạt ma cũng chẳng biết nữa, theo quy luật chiến trường và thói quen hành động chưa qua suy nghĩ của ông, đám tinh binh Thập Tự này đều phải bị giết sạch. Nhưng hiện tại ông đã có sự suy nghĩ: Vào lúc ma ngoại không thể giết chúng ta, tại sao chúng ta vẫn phải giết ma ngoại chứ? Giết nữa chính là thừa thãi, giết thì thừa thãi, mà chết cũng thừa thãi. Phật tổ ơi, ta không thể giết nữa, không thể giết nữa đâu, giết nữa ngài sẽ trách tội ta mất.
Tây Giáp lạt ma đột ngột hô lên một câu rõ to: "Về đi, đừng tới đây nữa."
Câu này có ý gì? Tạm thời, cả người Tây Tạng lẫn tinh binh Thập Tự đều không hiểu nổi.
Nhưng rất nhanh, đại tá Garlan đang cảm thấy tính mạng ngàn cân treo sợi tóc còn chưa đợi lạt ma Cát Tát phiên dịch đã đưa ra phản ứng chính xác, hắn đáp lại bằng tiếng Anh: "Tạm biệt, người Tây Tạng." Sau đó nhảy khỏi đống Obo, bước về phía trước.
Lạt ma Cát Tát bước theo hắn. Đám tàn dư tinh binh Thập Tự người nào người nấy mang thương tích bước theo hắn. Bọn họ bước về phía Tây Giáp lạt ma. Tây Giáp lạt ma đứng sừng sững như một khúc gỗ, đứng sừng sững, đột nhiên thở dài một tiếng, nhường đường cho qua.
“Xin hãy nhớ cho, là Phật tổ đã phóng thích các người đi.” Tây Giáp Lạt Ma cất giọng vang dội.
Những tàn quân Thập tự tinh binh dẫm lên vùng đất cháy đen của Tây Tạng, băng qua những thôn xóm ngập khói sương mù, hướng về phương nam — đó là con đường nguyên tuyền họ đã đến, cũng là lối đi duy nhất để rút lui khỏi Tây Tạng.
Rút lui cùng đại tá Garlan còn có lực lượng Thập tự tinh binh từng tấn công Tử Kim Tự. Họ đã bị cơn đại hỏa rợp trời đêm qua dọa cho hồn xiêu phách lạc, tuy nằm ngoài vòng vây của người Tây Tạng nhưng vì không nắm rõ tình hình nên không dám tới cứu viện. Giờ đây họ đã đến, mà đã đến thì chỉ có con đường đầu hàng. Phía sau là sự truy đuổi của Nô Mã đại bản và Âu Châu đại bản đang trấn giữ Tử Kim Tự, phía trước là sự mai phục chặn bắt của người Tây Tạng giăng kín khắp nơi, lựa chọn duy nhất của họ chỉ là buông vũ khí đầu hàng.
Nhưng Tây Giáp Lạt Ma không hề biết rằng, trong số Thập tự tinh binh đánh vào Tử Kim Tự, ngoài người Gurkha ra, còn có trung úy Quả Quả và thuộc hạ của hắn — những kẻ đã phản bội đầu hàng giặc. Lúc này, trung úy Quả Quả và bộ hạ của hắn đã biến mất; sau khi rút khỏi Tử Kim Tự, họ lặng lẽ tan biến tựa hồ bốc hơi khỏi thế gian.
《Thánh sử》 không hề đả động đến trung úy Quả Quả, chỉ kể rằng Tây Giáp Lạt Ma tựa như một tín đồ Phật giáo phóng sinh chim trong lồng, thú trong cũi, đã buông tha cho đại tá Garlan đang thảm bại chờ chết cùng đám Thập tự tinh binh Anh quốc.
Tây Giáp Lạt Ma đưa mắt tiễn biệt toán kẻ thù đang khuất dạng, chợt bừng tỉnh lại, bèn sai người gọi Tông bản Nham Tố đến và căn dặn: “Những tên ma quỷ ngoại quốc này đều là khách của Giang Tự tông, ngươi hãy dẫn dân binh Giang Tự tiễn bọn họ một đoạn, áp giải đám người may mắn sống sót này ra khỏi cửa ngõ Tây Tạng. Cửa ngõ Tây Tạng ở đâu, cứ hỏi Tù Nhân Ưng là khắc rõ, chính là nơi gọi là Nhật Bác Nạp Sơn. Tuyệt đối không được để lũ ma ngoại quốc dừng lại, lúc cần thiết có thể dùng súng đạn và thi thể để cảnh cáo chúng. Sói đuổi thỏ từng thấy chưa? Cứ đuổi mãi, đuổi cho đến khi không còn thấy bóng dáng con thỏ nữa mới thôi. Đừng quên quy tắc mà Thích Ca Mâu Ni đã định: Tiễn quỷ tiễn đến Nam Sơn, sơn thần một tay che trời.”
Tông bản Nham Tố ngẩn người ngây dại, thầm ngẫm nghĩ không biết mình nên đi hay không nên đi.
Tây Giáp Lạt Ma liền quát lớn: “Không muốn đi à? Lệnh của ta mà ai dám không tuân? Ngươi không đi, vậy thì ta sẽ tự mình đi. Ta giao Giang Tự cho ngươi, giao binh mã nhiều đến thế cho ngươi, ngươi có chỉ huy nổi không? Tsampa ở đâu? Thịt khô ở đâu? Chẳng lẽ ngươi định bắt tất cả bọn chúng ra đồng vò bông lúa thanh kiêm mà ăn chắc? Ồ ồ òa, dưới sự lãnh đạo của Tông bản đại nhân, sông Niêm Sở chảy toàn sữa tươi, cành cỏ mọc đầy thịt khô rồi kìa, mọi người mau đến uống đi, ăn đi.” Giọng điệu tràn ngập vẻ châm chọc và khinh miệt dành cho vị Giang Tự tông bản này.
Tông bản Nham Tố không đáp nửa lời, cúi gập người rồi bước đi.
Tây Giáp Lạt Ma lại dặn dò đội trưởng đội vệ đội tổng quản là A Đạt Ni Mã: “Truyền lệnh của ta, tăng binh đều ở lại đây để siêu độ vong linh nơi này. Dân binh đều đi dập lửa, chúng ta không thể để ruộng thanh kiêm của Tây Tạng bị thiêu trụi.”
A Đạt Ni Mã dẫn theo mười tăng binh của đội vệ đội, phóng ngựa hiên ngang đi truyền lệnh.
Tây Giáp Lạt Ma lại một lần nữa đưa mắt nhìn đài hoả táng chất đầy thây ma, ngửa mặt cất tiếng hô vang hướng lên bầu trời: “Phật tổ ơi, tất cả những kẻ này đều do một tay ta giết chết. Không dính dáng gì đến người Tây Tạng cả, toàn bộ lũ ma quỷ ngoại quốc đều do một mình ta giết sạch. Chiến lược chiến thuật đáng chết của ta đã cướp đi mạng sống của bao nhiêu Thập tự tinh binh nhường ấy. Phật tổ, ngài đã nghe rõ chưa? Tai họa địa ngục của ta ngày càng vô tận, mười kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, vạn kiếp, đều phải chịu hình phạt đóng băng thiêu đốt trong địa ngục rồi, Phật tổ ơi.”
Tiếng kêu vừa dứt, đã thấy Nhất Thiết Trí · Hư Không Vương Lãng Khác Gia Bố xuất hiện giữa đống thây ma, đang dùng sự thong thả điềm tĩnh của một cao tăng xuất thế để siêu độ cho hàng ngàn hàng vạn vong linh rời đi:
……Cái chết khiến các ngươi ngộ ra, các ngươi đã là con cháu của gia tộc giác ngộ rồi, xin hãy lắng nghe ta: Sinh mạng được hợp thành từ bốn yếu tố đất, nước, lửa, gió. Giờ đây, yếu tố đất đang tan biến, bộ xương cứng cáp đã không thể nâng đỡ thân thể các ngươi nữa, da thịt đang nguội lạnh, kinh mạch đã tắc nghẽn, đi đi, đi đi, các ngươi chỉ có thể lên đường mà thôi. Giờ đây, yếu tố nước đang tan biến, cảm giác vui sướng và đau khổ đã rời xa các ngươi, mọi tạp niệm đều hóa thành hư không, tim đã ngừng đập, thất khiếu khô kiệt, không còn máu mồ hôi cùng tất cả các loại dịch thể, các ngươi không nghe thấy bất kỳ âm thanh nào nữa, sương mù và luồng sáng đã tan rã, tan rã không thể vãn hồi. Giờ đây, yếu tố lửa đang tan biến, sự ấm áp của các ngươi đã thuộc về quá khứ, không còn mềm mại, chẳng còn uốn cong, cũng chẳng thể tiêu hóa thức ăn, ợ hơi nói chuyện, thở ra nuốt vào, hé miệng mím môi, mở mắt nhắm mắt, đều không còn nữa, lạnh dần đi, lạnh dần đi, đầu lạnh trước, tim và thân mình lạnh theo, ngũ tạng và đôi chân lạnh cuối cùng. Giờ đây, yếu tố gió đang tan biến, không còn ý chí tồn tại, cũng chẳng vướng bận trần thế, chỉ còn linh thức vẫn không chịu rời đi, tựa như ngọn lửa không đành lòng buông xuôi, lững lờ quanh chiếc bát đã cạn dầu. Nhấp nháy rồi nhấp nháy, sự nhấp nháy của một con ngựa, chính là tinh thần đang phi nhanh bay vút lên, tất cả đều tan hòa vào trong linh thức, đó là một dải quang thể, là bản chất của sự sinh mệnh, chúng sẽ phải lang thang không nơi nương tựa trong bốn mươi chín ngày, để tìm kiếm chốn về tương lai, có kẻ bước vào luân hồi, có kẻ đạt được giải thoát.
Trước khi cơ hội cuối cùng đến, xin hãy lắng nghe tiếng nói của ta, các ngươi là những kẻ nhìn thấu ngũ uẩn đều không, là những kẻ tâm không vướng bận, là những kẻ chân thật không hư ảo, là những kẻ rời khổ được vui. Xin hãy lắng nghe ta, những người con của gia tộc giác ngộ, từ nay trở đi, thứ duy nhất các ngươi có thể bố thí cho thế gian, chính là thể xác của mình, đây là việc thiện cuối cùng, xin hãy tỏa ra mùi hương của cái chết, để nghênh đón sự xuất hiện của bói ưng đi thôi. Những người con của gia tộc giác ngộ, ta giờ đây nhờ vào cái chết của các ngươi, với thái độ chúc phúc giải thoát và đánh thức lòng từ bi, để chứng đắc quả Phật viên mãn cho tất cả chúng sinh vô lượng vô biên tựa hư không. Nguyện ta là người bảo hộ của các ngươi, nguyện ta là chỗ dựa và người dẫn đường cho kẻ tha hương, nguyện ta là đại hải cho người lữ hành, là cây cầu cho kẻ qua sông, nguyện ta là dược liệu giải thoát cho tất cả chúng sinh, tất cả khổ đau, tất cả sự sống……
Buổi lễ siêu độ của Hư Không Vương cứ thế kéo dài mãi, chẳng biết bắt đầu từ lúc nào, cũng chẳng biết khi nào sẽ kết thúc. Giọng ngộ du dương, thần thái siêu nhiên, đằng sau gương mặt bình thản ấy là một cõi lòng trống trải và khoáng đạt.
Tây Giáp Lạt Ma nhìn thấy trên đồng hoang xuất hiện một đội người ngựa, dẫn đầu là một người mặc đạo bào màu đen. Họ đi từ phía đông tới, vừa đến gần bãi mai phục tàn tro đen kịt liền nhanh chóng xuống ngựa, cúi gậm đầu, từng người một khắc họa bóng dáng mình thành dấu chấm hỏi đầy kinh ngạc. Mục sư Ma Ông đã tới, đối mặt với ngã tư đài hỏa táng thây ma ngập tràn, hòa lẫn trong tiếng siêu độ của Hư Không Vương cùng hàng ngàn tăng lữ Phật giáo là tiếng cầu nguyện đầy bi thương của tín đồ Ki-tô giáo.
Chiếu theo sự chỉ dẫn của “Cát hung thiện ác đồ”, mục sư Ma Ông đã đi theo con đường tiện lợi nhất hướng về phía đông để đến Lãng Khác Tử, đó là con đường bắt buộc phải đi nếu muốn tới Lhasa. Nhưng trận đại hỏa đêm qua đã níu bước chân quả quyết muốn đi của ông ta lại. Ngọn lửa quá lớn, dù đã đi xa đến thế mà ông ta vẫn có thể nhìn thấy. Đã xảy ra đại sự rồi. Chiến tranh, chính là sự kiện lớn khiến tai họa giáng xuống đầu vô số người cùng lúc. Mục sư Ma Ông ngoảnh đầu nhìn lại, thấy trên bầu trời rực hồng trôi nổi lời triệu hồi của Chúa thượng, thế là ông ta vội vã quay đầu. Ông ta dẫn theo đội vệ đội cùng các tín đồ Tây Tạng của mình, băng qua bãi phế tích tro tàn, cầu nguyện cho từng thây ma gặp phải:
Xin tha thứ tội lỗi cho chúng con, cứu chúng con khỏi hiểm nguy. Bởi chúng con biết rằng, mọi vương quốc, quyền năng và vinh hiển đều thuộc về Ngài. Hỡi những người đã khuất, linh hồn các ngươi đang khóc than, xin hãy tiếp tục cầu nguyện với Cha trên trời giống như tôi vậy. Khi chúng con mang tội ác của mình đến Tây Tạng, Chúa đã trừng phạt chúng ta chiếu theo lời hứa ban đầu. Mọi khổ nạn đều là quả báo ác độc cho tội lỗi của chính con người. Chúng ta hãy nhẫn chịu đi, chúng ta hãy dùng cái chết để chuộc tội đi. Những con người đáng thương, các ngươi đã được cứu rỗi, ta thấy linh hồn đang chuộc tội sắp sửa lên đường, để đến thiên quốc báo cáo. Trên con đường thiên quốc dài đằng đẵng, ta cầu nguyện cho linh hồn các ngươi: Nguyện các ngươi yêu thương lẫn nhau, bởi Chúa chính là tình yêu, các ngươi được bao bọc trong tình yêu, tất cả mọi người đều được bao bọc trong tình yêu. Khi tình yêu giáng lâm, Chúa Giê-su chủ nhân của chúng ta cũng sẽ ngự trên mây giáng xuống từ thiên quốc. Mà các ngươi chính là những kẻ hầu cận của Chúa Giê-su, là sứ giả của tình yêu. Lên đường bình an nhé.
Amen.
Mục sư Ma Ông vừa cầu nguyện, vừa liên tục làm dấu thánh trước ngực, sự đau đớn và bi thương chiếm trọn cả gương mặt, tựa như Chúa Giê-su bị đóng đinh trên cây thánh giá đã trao lại biểu cảm của mình cho ông ta. Ông ta đang chịu tội, chịu tội thay cho tất cả mọi người, dường như nỗi đau của tất cả mọi người chính là nỗi đau của ông ta, cái chết của tất cả mọi người chính là cái chết của ông ta. Ông ta là một kẻ mang nỗi đau thấu trời xanh đứng dậy từ đống thây ma, nỗi đau của ông ta chẳng một ai hay biết.