Tác giả sơ lược về bản thân và gia đình. Những cơ duyên đầu tiên đưa đẩy ông bước vào nghiệp du lịch. Ông gặp tai nạn đắm tàu, phải bơi lội giữ mạng và may mắn lên được bờ tại đất nước Lilliput; bị bắt làm tù binh và được khiêng sâu vào nội địa.
Cha tôi có một điền trang nhỏ ở Nottinghamshire; tôi là con thứ ba trong số năm anh em trai. Năm mười bốn tuổi, ông gửi tôi theo học tại Emanuel College ở Cambridge, nơi tôi cư ngụ trong ba năm và cặm cụi đèn sách. Tuy nhiên, chi phí trang trải cho tôi—dù mức trợ cấp vô cùng khiêm tốn—vẫn quá sức đối với gia cảnh nghèo túng, nên tôi được cho làm học việc với ông James Bates, một y sĩ nổi tiếng tại London, và gắn bó với ông trong bốn năm. Thỉnh thoảng cha tôi gửi cho ít tiền, tôi bèn dùng chúng để học hàng hải và các ngành toán học khác hữu ích cho những ai có ý định chuôn du đây đó, vì tôi vẫn luôn tin rằng có lúc số phận sẽ đưa đẩy mình làm điều đó. Khi rời khỏi chỗ ông Bates, tôi trở về quê thăm cha: nhờ sự giúp đỡ của ông, của người bác tên John cùng một số họ hàng khác, tôi gom góp được bốn mươi bảng Anh và lời hứa cấp ba mươi bảng mỗi năm để ăn học ở Leyden. Tại đó, tôi theo học ngành y trong hai năm bảy tháng, vì biết rằng nghề này sẽ rất hữu ích trong những chuyến hải trình dài ngày.
Chẳng bao lâu sau khi từ Leyden trở về, tôi được người thầy kính mến của mình là ông Bates giới thiệu làm y sĩ trên chiếc tàu Swallow, dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng Abraham Pannel; tôi đã đồng hành cùng họ trong ba năm rưỡi, thực hiện một hoặc hai chuyến đi đến vùng Levant cùng một số nơi khác. Khi trở về, tôi quyết định định cư tại London; việc này được ông Bates hết lời khuyến khích, và chính ông cũng giới thiệu cho tôi nhiều bệnh nhân. Tôi thuê một phần ngôi nhà nhỏ ở khu Old Jewry; theo lời khuyên nên ổn định gia thất, tôi kết hôn với cô Mary Burton, con gái thứ hai của ông Edmund Burton, một chủ tiệm vải ở phố Newgate, và nhận được của hồi môn bốn trăm bảng.
Nhưng chỉ hai năm sau, người thầy đáng kính Bates của tôi qua đời, và vì có ít bạn bè, công việc làm ăn bắt đầu sa sút; bởi lương tâm không cho phép tôi bắt chước những hành vi y đức tồi tệ của quá nhiều đồng nghiệp trong nghề. Do đó, sau khi bàn bạc với vợ cùng một số người quen, tôi quyết định quay lại với biển cả. Tôi lần lượt làm y sĩ trên hai con tàu, thực hiện nhiều chuyến hải trình kéo dài sáu năm đến Đông và Tây Ấn, nhờ đó gia tài cũng được gom góp thêm đôi chút. Những giờ rảnh rỗi, tôi dành để đọc các tác giả xuất sắc nhất, cả cổ điển lẫn hiện đại, vì tôi luôn trang bị cho mình một số lượng lớn sách vở; và khi đặt chân lên bờ, tôi quan sát phong tục, tính cách của người dân bản địa cũng như học tiếng nói của họ—nhờ trí nhớ tốt nên tôi tiếp thu vô cùng nhanh chóng.
Chuyến hải trình cuối cùng trong số này không mấy may mắn, khiến tôi đâm ra chán ngấy cảnh biển khơi và dự định ở lại trên bờ cùng vợ con. Tôi chuyển từ khu Old Jewry sang phố Fetter Lane, rồi từ đó đến Wapping, với hy vọng kiếm chút việc làm từ đám thủy thủ; thế nhưng mọi chuyện chẳng mang lại kết quả gì. Sau ba năm mòn mỏi chờ đợi thời vận đổi thay, tôi nhận được một lời đề nghị hấp dẫn từ Thuyền trưởng William Prichard, chủ tàu Antelope—người đang chuẩn bị thực hiện một chuyến hải trình đến Nam Hải. Chúng tôi nhổ neo rời khỏi Bristol vào ngày 4 tháng 5 năm 1699, và chuyến đi của chúng tôi thoạt đầu vô cùng suôn sẻ.
Vì một vài lý do, thiết tưởng không tiện làm phiền độc giả bằng những chi tiết về cuộc phiêu lưu của chúng tôi trên những vùng biển đó; chỉ xin tóm lược rằng, trong hành trình từ đó đi Đông Ấn, một cơn bão dữ dội đã thổi dạt chúng tôi về phía tây bắc đảo Van Diemen. Qua quan sát, chúng tôi nhận thấy mình đang ở vĩ độ 30 độ 2 phút nam. Mười hai thủy viên đã chết vì lao động quá sức và ăn uống kham khổ; số còn lại ở trong tình trạng vô cùng kiệt sức. Vào ngày 5 tháng 11, vốn là thời điểm bắt đầu mùa hè ở những vùng đó, trời rất mù mịt, đám thủy thủ chợt nhìn thấy một mạn đá ngầm cách tàu chưa đầy nửa chiều dài dây cáp; nhưng gió thổi quá mạnh khiến chúng tôi bị cuốn thẳng vào đó và tàu lập tức vỡ tan. Sáu người trên tàu, trong đó có tôi, đã thả xuồng cứu sinh xuống biển và xoay sở thoát ra khỏi con tàu lẫn mặn đá ngầm. Theo tôi tính toán, chúng tôi chèo được khoảng ba hải lý cho đến khi không thể gắng sức thêm nữa, bởi ai nấy đều đã rã rời sau khi vật lộn trên tàu. Do đó, chúng tôi phó mặc thân mình cho sự định đoạt của sóng dữ, và chỉ khoảng nửa giờ sau, chiếc xuồng bị lật úp bởi một cơn gió lốc bất chợt thổi từ hướng bắc. Số phận của những người bạn cùng đi trên xuồng ra sao, cũng như những kẻ thoát thân trên bãi đá hay bị bỏ lại trên tàu, tôi không thể biết rõ; nhưng tôi suy đoán tất cả đều đã bỏ mạng. Phần tôi, tôi cứ bơi theo dòng nước đưa đẩy và bị gió lẫn thủy triều thúc giục đẩy về phía trước. Tôi nhiều lần buông thõng chân xuống nhưng không chạm đáy; thế nhưng khi tôi đã kiệt sức, chẳng thể vùng vẫy thêm được nữa, tôi chợt thấy chân mình đã chạm đến vùng nước nông, và lúc bấy giờ cơn bão cũng đã dịu đi nhiều. Độ thoải của bờ biển thoai thoải đến mức tôi phải đi bộ gần một dặm mới lên tới đất liền, mà tôi áng chừng lúc đó là khoảng tám giờ tối. Tôi tiếp tục bước thêm gần nửa dặm nữa nhưng chẳng phát hiện thấy bóng dáng ngôi nhà hay con người nào; hoặc chí ít là do tình trạng quá kiệt quệ nên tôi đã không để ý tới chúng. Tôi vô cùng mệt mỏi, cộng thêm cái mệt, cái oi bức của thời tiết và khoảng nửa pint rượu mạnh đã uống lúc rời tàu, khiến tôi cảm thấy vô cùng buồn ngủ. Tôi ngả mình xuống thảm cỏ ngắn và mềm mại, ngủ một giấc say sưa hơn bất cứ giấc ngủ nào tôi từng trải qua trong đời, và theo tôi tính toán thì kéo dài khoảng chín tiếng; bởi khi tỉnh dậy, trời đã hửng sáng. Tôi chồm dậy nhưng tài nào nhúc nhích nổi: hóa ra do nằm ngửa, tôi phát hiện hai tay và hai chân mình đã bị trói chặt xuống đất sang hai bên, còn mái tóc dài và dày cũng y chang vậy bị buộc sát xuống mặt đất. Tôi đồng thời cảm thấy có vài sợi dây mảnh vắt ngang qua thân mình, từ nách cho tới đùi. Tôi chỉ có thể ngước mắt nhìn lên; mặt trời bắt đầu oi ả và ánh sáng chói chang làm đau cả mắt. Tôi nghe thấy những thứ âm thanh hỗn độn quanh mình; nhưng với tư thế nằm này, chẳng thể thấy gì ngoài vòm trời. Chẳng mấy chốc, tôi cảm thấy có một sinh vật sống đang chuyển động trên cẳng chân trái của mình, nó nhẹ nhàng bò trườn qua ngực tôi và tiến gần sát tới cằm; khi tôi hết sức hạ tầm mắt nhìn xuống, tôi nhận ra đó là một sinh vật hình người cao chưa đầy sáu inch, tay cầm cung tên và lưng đeo ống đựng tên. Cùng lúc ấy, tôi cảm nhận ít nhất khoảng bốn mươi sinh vật tương tự (theo tôi phỏng đoán) đang nối gót theo sau kẻ đi đầu. Tôi kinh ngạc tột độ và gầm lên một tiếng thật lớn khiến tất cả bọn chúng hoảng hốt tháo chạy; và như tôi được kể lại sau đó, một số kẻ đã bị thương do ngã nhào khi nhảy từ người tôi xuống đất. Tuy nhiên, chúng nhanh chóng quay trở lại, và một tên trong số đó—kẻ liều lĩnh tiến lại gần để nhìn rõ mặt tôi—đã giơ hai tay lẫn đôi mắt lên vẻ đầy thán phục, rồi cất giọng lảnh lót nhưng rành mạch: Hekinah degul; những kẻ khác lặp lại y nguyên câu đó mấy lần liền, dẫu lúc bấy giờ tôi chẳng hiểu chúng đang nói gì. Suốt khoảng thời gian ấy, độc giả có thể hình dung tôi đã phải chịu đựng sự khó chịu đến nhường nào. Cuối cùng, sau khi giãy giụa để thoát thân, tôi may mắn bứt đứt được các sợi dây và giật tung những chiếc cọc neo giữ cánh tay trái xuống đất; bởi khi đưa tay lên mặt, tôi đã khám phá ra cách thức chúng dùng để trói buộc mình, đồng thời với một cú giật mạnh gây đau đớn thấu xương, tôi làm lỏng được đôi chút phần tóc bị buộc chặt ở bên trái, nhờ đó vừa đủ khả năng quay đầu sang hai bên chừng hai inch. Thế nhưng đám sinh vật ấy lại tháo chạy lần thứ hai trước khi tôi kịp tóm lấy chúng; tiếp đó là một tiếng hò reo vang dội với giọng điệu vô cùng lảnh lót, và khi tiếng hò vừa dứt, tôi nghe thấy một tên thét lớn Tolgo phonac; ngay khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận hơn một trăm mũi tên bắn xối xả vào bàn tay trái của mình, nhói buốt chẳng khác nào vô số cây kim châm; chưa hết, chúng còn phóng thêm một loạt tên vút lên bầu trời hệt như cách người châu Âu bắn đạn pháo, mà tôi đoán là nhiều mũi đã rơi trúng người mình (dù tôi chẳng cảm nhận được gì) và một vài mũi rơi vào mặt, khiến tôi phải lập tức dùng tay trái che lại. Khi trận mưa tên ấy dứt hẳn, tôi bắt đầu rên rỉ vì đau đớn và xót xa; rồi khi tôi lại vùng vẫy toan thoát thân, chúng liền trúng thêm một loạt đạn thứ hai dữ dội hơn lần trước, thậm chí vài tên còn dùng giáo đâm vào mạn sườn tôi; nhưng thật may mắn là tôi đang mặc chiếc áo giáp da bò mà chúng tài nào đâm thủng nổi. Tôi ngẫm thấy phương kế khôn ngoan nhất lúc này là cứ nằm im bất động, và dự tính của tôi là cứ giữ nguyên tư thế ấy cho đến đêm, khi tay trái đã được giải phóng thì tôi có thể dễ dàng tự cởi trói cho mình; còn về phần cư dân nơi đây, tôi có lý do để tin rằng mình hoàn toàn đủ sức đương đầu với đạo quân hùng mạnh nhất mà họ có thể huy động, nếu tất cả bọn chúng đều có vóc dáng giống hệt kẻ mà tôi vừa diện kiến. Thế nhưng số phận lại xoay chuyển theo một ngã rẽ khác. Khi nhận thấy tôi đã nằm im thin thít, đám đông liền ngừng bắn tên; nhưng qua những tiếng động lọt vào tai, tôi thừa biết quân số của chúng đang ngày một kéo đến đông hơn; và cách chỗ tôi chừng bốn thước, ngay đối diện tai phải, tôi nghe thấy tiếng cọc cạch đục đẽo suốt hơn một tiếng đồng hồ hệt như có người đang lao động; khi quay đầu về hướng đó hết mức có thể trong giới hạn của những chiếc cọc và sợi dây, tôi nhìn thấy một cái giàn dựng cao cách mặt đất chừng một thước rưỡi, đủ sức chứa bốn người, kèm theo hai hoặc ba chiếc thang để trèo lên: từ trên đó, một kẻ có vẻ như là nhân vật quyền quý đã đọc một bài diễn văn dài dằng dặc mà tôi chẳng hiểu nổi lấy một âm tiết. Đáng lẽ tôi phải nhắc đến chi tiết này, rằng trước khi nhân vật chủ chốt ấy cất lời, hắn đã gào lên ba lần: Langro dehul san (những từ này cùng câu nói trước đó về sau đã được lặp lại và giải thích cho tôi nghe); ngay lập tức, khoảng năm mươi cư dân tiến lại cắt đứt những sợi dây trói bên phần đầu trái của tôi, cho phép tôi có thể quay đầu sang phải để quan sát dung mạo lẫn cử điệu của kẻ sắp sửa diễn thuyết. Hắn trông chừng độ trung niên và cao lớn hơn bất kỳ ai trong số ba kẻ tùy tùng tháp tùng bên cạnh, trong đó có một tên tiểu đồng giữ vạt áo cho hắn và có vẻ dài hơn ngón giữa của tôi một chút; hai tên còn lại đứng hai bên để đỡ lấy hắn. Hắn diễn tả trọn vẹn phong thái của một nhà hùng biện, và tôi có thể nhận ra vô số điểm nhấn đe dọa, đan xen với những đoạn hứa hẹn, bày tỏ lòng trắc ẩn cùng sự tử tế. Tôi đáp lời bằng vài từ ngắn gọn nhưng với thái độ phục tùng nhất có thể, giơ cao bàn tay trái lẫn đôi mắt hướng lên bầu trời như thể đang gọi thái dương làm chứng; và vì đang cơn đói cào ruột gan, chẳng nuốt nổi miếng mọt nào trong suốt mấy tiếng đồng hồ trước khi rời tàu, tôi cảm thấy những đòi hỏi của tự nhiên quá đỗi khẩn thiết đến mức không thể kìm ném việc thể hiện sự nôn nóng của mình (có lẽ hơi phạm vào những quy tắc chuẩn mực nghiêm ngặt) bằng cách liên tục đưa ngón tay lên miệng nhằm ra hiệu rằng tôi đang cần đồ ăn. Viên hurgo (đó là cách họ gọi một vị đại thần, như tôi được biết sau này) hiểu rất rõ ý tôi. Ông ta bước xuống khỏi giàn giáo và ra lệnh dựng nhiều chiếc thang tựa vào người tôi, trên đó hơn một trăm cư dân đã trèo lên và tiến về phía miệng tôi, tay vác đầy những chiếc giỏ đựng thức ăn vốn được chuẩn bị sẵn và gửi đến theo chiếu chỉ của nhà vua ngay khi ngài nhận được tin báo đầu tiên về sự xuất hiện của tôi. Tôi nhận ra có thịt của nhiều loài động vật khác nhau, nhưng tài nào phân biệt nổi qua vị giác. Nào là những phần bả vai, đùi và sườn có hình thù giống hệt thịt cừu, được chế biến rất ngon lành nhưng kích thước lại nhỏ hơn cả cánh chim sơn ca. Tôi ngốn liền hai ba miếng cho một gặm và nốc ba ổ bánh mì một lúc, to cỡ những viên đạn súng hỏa mai. Bọn chúng tiếp tế cho tôi nhanh hết mức có thể, liên tục bày tỏ muôn vàn dấu hiệu kinh ngạc lẫn sững sờ trước vóc dáng kềnh càng và sức ăn của tôi. Tôi bèn ra hiệu tiếp rằng mình đang khát nước. Nhận ra qua cách ăn uống rằng một lượng nhỏ chẳng tài nào thấm tháp gì với tôi, và vốn là một dân tộc cực kỳ thông minh, bọn chúng khéo léo dùng dây thừng cẩu một trong những chiếc thùng chứa rượu lớn nhất của họ, rồi lăn nó lại gần bàn tay tôi và đánh văng nắp thùng ra; tôi cạn sạch nó chỉ trong một hơi, điều mà tôi hoàn toàn có thể làm được vì chiếc thùng chứa chưa nổi nửa pint, và vị của nó tựa như loại rượu vang nhẹ ở Burgundy nhưng thơm ngon hơn nhiều. Bọn chúng mang ra chiếc thùng thứ hai và tôi cũng uống sạch theo cách tương tự, đoạn ra hiệu xin thêm; khổ nỗi chúng chẳng còn gì để cho nữa. Khi đã hoàn thành những kỳ tích ấy, bọn chúng reo hò sung sướng và nhảy múa trên ngực tôi, liên tục lặp lại mấy câu y như hồi đầu: Hekinah degul. Bọn chúng ra hiệu bảo tôi hãy quăng hai cái vỏ thùng xuống dưới, nhưng trước tiên phải cảnh báo đám đông phía dưới tảng ra bằng cách thét lớn: Borach mevolah; và khi trông thấy những chiếc thùng lơ lửng trên không trung, một tiếng hô vang dậy đồng thanh cất lên: Hekinah degul. Thú thật, đã nhiều lần khi bọn chúng đang nhởn nhơ bước qua bước lại trên người tôi, tôi chỉ muốn chộp lấy bốn mươi hoặc năm mươi tên đầu tiên trong tầm với rồi đập mạnh xuống đất. Thế nhưng ký ức về những gì tôi vừa gánh chịu—mà rất có thể chưa phải là đòn hiểm độc nhất chúng có thể giáng xuống—cùng với lời hứa danh dự mà tôi đã tự ngầm cam kết qua thái độ phục tùng ấy, đã nhanh chóng xua tan những ý nghĩ ngỗ ngược đó. Hơn nữa, giờ đây tôi tự thấy mình bị ràng buộc bởi những luật lệ về lòng hiếu khách đối với một dân tộc đã đối xử với mình bằng tất cả sự tốn kém và xa hoa nhường ấy. Dẫu vậy, trong thâm tâm tôi vẫn không khỏi kinh ngạc trước sự gan dạ của những sinh vật tí hon này, khi chúng dám cả gan trèo lên và đi lại trên thân thể tôi trong lúc một bàn tay vẫn được tự do, mà chẳng mảy may run rẩy trước một sinh vật khổng lồ gớm ghiếc đến thế trong mắt chúng. Chẳng bao lâu sau, khi nhận thấy tôi không còn đòi hỏi gì thêm về chuyện ăn uống, một nhân vật có chức vị cao cấp đại diện cho hoàng đế bệ hạ liền xuất hiện trước mặt tôi. Sau khi trèo lên phần eo của cẳng chân phải, ngài đại sứ tiến thẳng về phía mặt tôi cùng khoảng một tá tùy tùng; tay cầm quốc thư mang ấn tín hoàng gia áp sát vào mắt tôi, ngài diễn thuyết chừng mười phút mà chẳng hề lộ chút giận dữ nào, thay vào đó là một vẻ quyết đoán kiên định, thường xuyên đưa tay chỉ về phía trước—mà sau này tôi mới vỡ lẽ ra đó chính là hướng thủ đô, cách đó chừng nửa dặm; nơi mà triều đình và nhà vua đã đồng thuận đưa tôi đến. Tôi cất tiếng đáp lại bằng vài lời ngắn ngủi nhưng vô ích, đoạn dùng bàn tay đang được tự do ra hiệu—đưa nó chạm vào bàn tay kia (nhưng khéo léo huơ qua trên đầu ngài đại sứ để tránh làm tổn thương ngài hoặc đoàn tùy tùng) rồi đặt lên đầu và thân mình nhằm biểu thị rằng tôi đang khẩn khoản xin được trả tự do. Hóa ra ngài hiểu rất rõ ý tôi, liền lắc đầu bày tỏ ý không đồng tình, đồng thời giơ tay làm điệu bộ ra hiệu rằng tôi bắt buộc phải bị áp giải như một tên tù binh. Tuy nhiên, ngài cũng làm những điệu bộ khác để cho tôi hiểu rằng tôi sẽ được cung cấp đủ thức ăn nước uống và đối xử vô cùng tử tế. Ngay lúc đó, tôi lại nảy sinh ý định tìm cách bứt đứt xiềng xích; thế nhưng khi cảm nhận lại cái buốt nhát của những mũi tên trên mặt và bàn tay vốn đã phồng rộp cả lên, với vô số đầu mũi lao vẫn còn cắm sâu trong da thịt, đồng thời nhận thấy quân số kẻ thù ngày một sinh sôi, tôi đành ra hiệu cho chúng biết rằng muốn xử trí ra sao với tôi tùy ý. Ngay lập tức, viên hurgo cùng đoàn tùy tùng cáo lui với thái độ vô cùng lịch thiệp và nét mặt hớn hở. Chẳng bao lâu sau, tôi nghe thấy một tiếng hô vang dậy toàn quân, kèm theo những câu khẩu hiệu Peplom selan được lặp đi lặp lại nhiều lần; và tôi cảm nhận vô số người ở sườn bên trái đang nới lỏng những sợi dây đến mức tôi có thể xoay người sang bên phải để trút bỏ bầu tâm sự; và tôi đã trút sạch một cách vô cùng sảng khoái, khiến đám đông được một phen kinh hồn bạt vía; những kẻ vốn đoán trước được hành động của tôi qua cử động liền nhanh chóng dạt sang hai bên trái phải để né tránh dòng thác trút xuống với thứ âm thanh và lực lượng dữ dội nhường ấy. Nhưng trước đó, chúng đã bôi lên mặt và đôi bàn tay tôi một loại thuốc mỡ có mùi thơm vô cùng dễ chịu, chỉ trong vài phút đã đánh bay toàn bộ cảm giác buốt rát do mũi tên gây ra. Những hoàn cảnh ấy, cộng thêm sự hồi sức nhờ vào thức ăn thức uống mang tính bổ dưỡng cao, đã khiến tôi chìm sâu vào giấc ngủ. Tôi ngủ chừng tám tiếng, như sau này được người ta quả quyết; và cũng chẳng có gì lạ, bởi theo lệnh của hoàng đế, các y sĩ đã lén hòa một loại thuốc ngủ vào trong những thùng rượu. Hóa ra, ngay khoảnh khắc đầu tiên tôi được phát hiện nằm ngủ trên bãi đất trống sau khi dạt vào bờ, nhà vua đã mau chóng nhận được tin báo thông qua một sứ giả phi ngựa; và triều đình đã nghị án quyết định rằng tôi phải bị trói buộc theo cách thức mà tôi vừa kể lại (việc này được tiến hành trong đêm khi tôi đang say ngủ); rằng phải cung cấp cho tôi thật nhiều thức ăn thức uống, đồng thời chuẩn bị sẵn một cỗ máy để chở tôi về kinh thành.
Quyết định này có lẽ trông có vẻ vô cùng táo bạo và đầy hiểm nguy, và tôi dám cá rằng chẳng vị quân chủ nào ở châu Âu dám bắt chước trong một hoàn cảnh tương tự. Thế nhưng, theo thiển ý của tôi, đó lại là một sách lược cực kỳ khôn ngoan và cũng vô cùng hào phóng: bởi giả sử những con người này ra tay hạ sát tôi bằng giáo mẻ và cung tên trong lúc tôi đang say giấc, chắc chắn tôi sẽ bừng tỉnh ngay từ cảm giác đau đớn đầu tiên, và cơn thịnh nộ cùng sức mạnh bùng phát khi ấy hoàn toàn đủ sức giúp tôi bứt đứt những sợi dây trói buộc; để rồi một khi đã thoát thân, trong khi họ chẳng tài nào chống đỡ nổi, thì đừng mong tìm thấy chút lòng thương xót nào từ tôi.
Dân tộc này vốn là những nhà toán học xuất sắc và đã đạt đến đỉnh cao trong ngành cơ khí, nhờ vào sự bảo trợ và khuyến khích của vị hoàng đế—một bậc minh quân nổi tiếng chí công bảo trợ cho học thuật. Vị quân vương này sở hữu vài cỗ máy được lắp cố định trên bánh xe dùng để vận chuyển cây cối cùng những vật nặng khác. Ông thường cho đóng những chiến thuyền lớn nhất của mình, trong đó có chiếc dài tới chín thước, ngay giữa những cánh rừng nơi gỗ được khai thác, rồi dùng chính những cỗ máy này để chở chúng băng qua ba bốn trăm thước đất ra đến biển. Năm trăm thợ mộc và kỹ sư lập tức được điều động để chuẩn bị cỗ máy lớn nhất mà họ có. Đó là một khung gỗ được nâng cao cách mặt đất ba inch, dài khoảng bảy thước và rộng bốn thước, di chuyển trên hai mươi hai chiếc bánh xe. Tiếng hò reo mà tôi nghe thấy chính là thời điểm cỗ máy này xuất hiện, hóa ra nó đã khởi hành chỉ vỏn vẹn bốn tiếng sau khi tôi đặt chân lên bờ. Nó được kéo đến đặt song song với thân người tôi đang nằm. Thế nhưng thử thách nan giải nhất chính là làm sao nâng và đặt tôi lên chiếc xe chở hàng này. Tám mươi chiếc cột, mỗi chiếc cao một thước, đã được dựng lên vì mục đích ấy, cùng với những sợi dây thừng vô cùng chắc chắn to bằng chỉ khâu được móc vào vô số dải băng mà các công nhân đã quấn quanh cổ, tay, thân mình và đôi chân tôi. Chín trăm tráng đinh khỏe mạnh nhất được huy động để kéo những sợi dây này thông qua hệ thống ròng rọc được buộc chặt trên các cột; và cứ thế, chưa đầy ba tiếng đồng hồ, tôi đã được nhấc bổng lên, cẩu thẳng vào cỗ máy rồi trói chặt lại. Tất cả những điều này đều do người ta kể lại cho tôi nghe; bởi trong suốt quá trình thực hiện, tôi vẫn chìm sâu trong giấc ngủ ngon lành nhờ tác dụng của liều thuốc mê được hòa vào thức uống. Mười lăm trăm con chiến mã to lớn nhất của hoàng đế, mỗi con cao chừng bốn inch rưỡi, đã được điều động để kéo tôi về phía kinh thành, mà như tôi đã đề cập, cách đó chừng nửa dặm đường.
Khoảng bốn tiếng sau khi chúng tôi khởi hành, tôi giật mình tỉnh giấc bởi một sự cố vô cùng nực cười; đó là trong lúc cỗ xe phải dừng lại chốc lát để chỉnh sửa lại vài chỗ bị hỏng hóc, hai hoặc ba tên lính trẻ bản địa do tò mò muốn xem trông tôi ra sao lúc ngủ đã trèo lên cỗ máy, rón rén tiến đến sát mặt tôi, và một tên trong số đó—vốn là sĩ quan cận vệ—đã lén thọc đầu nhọn của chiếc kích giáo ngập sâu vào lỗ mũi trái của tôi. Cú chọc làm ngứa mũi chẳng khác nào cọng rơm khiến tôi hắt xì hơi dữ dội; lập tức bọn chúng chuồn mất tăm không một bóng người hay biết, và phải ba tuần sau tôi mới nguyên nhân vì sao mình lại bừng tỉnh đột ngột đến thế. Chúng tôi thực hiện một cuộc hành quân dài trong phần thời gian còn lại của ngày hôm đó, và nghỉ đêm với năm trăm lính cận vệ túc trực hai bên sườn, một nửa cầm đuốc, nửa kia mang cung tên sẵn sàng khai hỏa bất cứ lúc nào nếu tôi có ý định nhúc nhích. Sáng hôm sau khi mặt trời mọc, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình và tiến đến cách cổng thành chừng hai trăm thước vào khoảng ngọ. Hoàng đế cùng toàn thể triều đình đã kéo ra nghênh đón; thế nhưng các đại thần quyết không để bệ hạ mạo hiểm thân ngọc cành vàng bằng cách trèo lên người tôi.
Ngay tại địa điểm cỗ xe dừng lại có tọa lạc một ngôi đền cổ kính, được ca tụng là lớn nhất trong toàn vương quốc; nơi mà vài năm trước từng bị ô uế bởi một vụ án mạng trái luân thường đạo lý, nên theo sự cuồng tín của người dân nơi đây, nó bị coi là chốn ô uế và do đó đã bị trưng dụng làm nơi sinh hoạt chung, toàn bộ đồ đạc trang hoàng đều bị dọn sạch. Chính trong công trình kiến trúc này, người ta đã định đoạt sẽ làm chỗ trú ngụ cho tôi. Cổng chính hướng về phía bắc cao chừng bốn thước và rộng ngót nghét hai thước, qua đó tôi có thể dễ dàng lách người chui vào. Hai bên cổng là hai ô cửa sổ nhỏ, cách mặt đất không quá sáu inch: qua ô cửa bên trái, người thợ rèn của nhà vua đã luồn vào chín mươi mốt đoạn xích—trông tựa như những chiếc dây xích đồng hồ đeo tay của các quý bà ở châu Âu và có kích thước xấp xỉ như vậy—được khóa chặt vào chân trái của tôi bằng ba mươi sáu chiếc ổ khóa. Đối diện ngôi đền này, ở bên kia con đường lớn cách đó chừng hai mươi thước, có một ngọn tháp canh cao ít nhất năm thước. Tại đây, hoàng đế đã ngự giá cùng nhiều vị đại thần trong triều để có cơ hội quan sát tôi, theo như tôi được kể lại bởi tôi chẳng thể nhìn thấy họ. Người ta ước tính có hơn một mươi vạn cư dân đã đổ xô ra khỏi thị trấn vì mục đích tương tự; và bất chấp sự ngăn cản của đội ngũ cận vệ, tôi tin rằng có không dưới một vạn người đã từng đợt trèo lên người tôi nhờ sự trợ giúp của những chiếc thang. Thế nhưng một đạo dụ đã nhanh chóng được ban hành để cấm tuyệt hành vi đó với hình phạt cao nhất là tử hình. Khi những người thợ nhận ra tôi tài nào bứt xiềng xích để thoát thân nổi, họ bèn cắt đứt toàn bộ những sợi dây trói buộc; nhờ đó tôi vùng đứng dậy với tâm trạng u sầu nhất từ trước đến nay trong đời. Thế nhưng tiếng la hét kinh hoàng cùng sự ngỡ ngàng của đám đông khi chứng kiến tôi đứng lên rồi đi lại thì chẳng bút mực nào tả xiết. Những đoạn xích níu giữ chân trái dài chừng hai thước, không chỉ tạo cho tôi sự tự do bước qua bước lại theo hình bán nguyệt, mà vì được neo cố định cách cửa đền chưa đầy bốn inch, chúng còn cho phép tôi chui người vào trong và nằm duỗi thẳng cẳng bên trong ngôi đền.