Những Chuyến Du Hành Của Gulliver Tới Một Số Quốc Gia Kỳ Lạ Trên Thế Giới

Lượt đọc: 1025 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Nhà Vua Và Hoàng Hậu Đi Tuần Thú Các Vùng Biên Giới. Tác Giả Đi Theo Hầu. Kể Lại Rất Tỉ Mỉ Cách Thức Anh Ta Rời Khỏi Đất Nước. Anh Ta Trở Về Anh Quốc.

❊ ❊ ❊

Tôi luôn nung nấu một niềm tin mãnh liệt rằng có lúc mình sẽ lấy lại được tự do, dẫu cho hoàn toàn chẳng thể đoán trước bằng cách nào, hay lên được bất kỳ kế hoạch nào dù là nhỏ nhoi hy vọng thành công. Con tàu chở tôi khi ấy từng là chiếc đầu tiên được ghi nhận bị dạt vào tầm nhìn của bờ biển đó, và nhà vua đã hạ lệnh ngặt nghèo rằng nếu có thêm bất kỳ chiếc nào xuất hiện, nó phải bị kéo lên bờ, và toàn bộ thủy thủ đoàn cùng hành khách sẽ bị nhốt trong một chiếc xe tù chở đến Lorbrulgrud. Ngài rất có ý định kiếm cho tôi một người đàn bà cùng kích thước để tôi có thể duy trì nòi giống; nhưng tôi nghĩ thà chết còn hơn chịu đựng sự nhục nhã để lại một dòng dõi bị giam cầm trong lồng như những chú chim hoàng yến kiểng, và có lẽ, theo thời gian, bị đem bán khắp vương quốc cho giới quý tộc như những món đồ kỳ lạ. Quả thực, tôi được đối đãi vô cùng tử tế: tôi là sủng thần của một vị vua và hoàng hậu vĩ đại, là niềm vui của cả triều đình; nhưng điều đó lại diễn ra trên một nền tảng tổn hại đến phẩm giá con người. Tôi chưa từng quên những ruột thịt gia đình mà mình đã bỏ lại phía sau. Tôi khao khát được sống giữa những con người mà tôi có thể trò chuyện bình đẳng, được đi dạo trên đường phố và đồng cỏ mà không phải nơm nớp lo sợ bị dẫm bẹp dí như một con ếch hay một chú chó con. Thế nhưng, sự giải thoát của tôi lại đến sớm hơn tôi tưởng, và theo một cách không mấy bình thường; toàn bộ câu chuyện cùng các tình tiết liên quan, tôi xin trung thực thuật lại dưới đây.

Lúc này tôi đã ở đất nước ấy được hai năm; và vào khoảng đầu năm thứ ba, Glumdalclitch cùng tôi tháp tùng nhà vua và hoàng hậu trong chuyến tuần thú miền duyên hải phía nam vương quốc. Tôi được khiêng đi, như thường lệ, trong chiếc hộp du lịch của mình — thứ mà như tôi đã mô tả, vốn là một căn phòng nhỏ rất tiện nghi rộng mười hai thước. Tôi đã dặn người ta lắp một chiếc võng bằng những sợi dây lụa treo vào bốn góc ở trần nhà để giảm bớt những cú xóc khi một người hầu khiêng tôi trước lưng ngựa theo yêu cầu; và tôi thường ngủ trong võng khi chúng tôi đang trên đường. Trên nóc phòng, không nằm trực tiếp ở chính giữa võng, tôi bảo người thợ mộc khoét một lỗ vuông mỗi cạnh một thước để lấy không khí khi trời nóng lúc tôi ngủ; cái lỗ này tôi có thể tùy ý đóng lại bằng một tấm ván trượt qua trượt lại trong một đường rãnh.

Khi đến nơi chừng như là điểm cuối của chuyến hành trình, nhà vua thấy thuận tiện nên đã nghỉ ngơi vài ngày tại một cung điện của ngài gần Flanflasnic, một thành phố cách bờ biển chừng mười tám dặm Anh. Glumdalclitch và tôi đều rất mệt mỏi: tôi bị nhiễm lạnh nhẹ, nhưng tội nghiệp cô bé thì ốm nặng đến mức phải nằm liệt giường. Tôi khao khát được nhìn thấy đại dương, nơi chắc chắn phải là khung cảnh duy nhất cho cuộc đào thoát của tôi, nếu điều đó thực sự xảy ra. Tôi giả vờ bệnh nặng hơn thực tế và xin phép được ra ngắm không khí trong lành của biển cùng một tiểu đồng mà tôi vô cùng quý mến, người đôi khi đã được tin tưởng giao phó trông nom tôi. Tôi sẽ không bao giờ quên sự miễn cưỡng của Glumdalclitch khi đồng ý, hay những lời dặn dò nghiêm khắc của cô bé đối với cậu tiểu đồng phải hết sức cẩn thận với tôi, đồng thời cô bật khóc nức nở như thể có linh tính trước những chuyện sắp xảy ra. Cậu bé đưa tôi ra ngoài trong chiếc hộp, cách cung cấp chừng nửa giờ đi bộ, hướng về phía những tảng đá bên bờ biển. Tôi bảo cậu đặt tôi xuống, rồi hé một cánh cửa sổ, đưa ánh mắt đượm buồn nhìn đăm đăm ra biển. Thấy trong người không được khỏe lắm, tôi bảo tiểu đồng rằng tôi muốn chợp mắt một lát trong võng, hy vọng việc đó sẽ làm tôi khá hơn. Tôi trèo vào, và cậu bé sập cửa sổ lại thật kín để tránh gió lạnh. Chẳng mấy chốc tôi đã chìm vào giấc ngủ, và tất cả những gì tôi có thể đoán được là trong lúc tôi ngủ, cậu tiểu đồng nghĩ rằng chẳng có mối nguy hiểm nào rình rập nên đã đi dọc theo các mớ đá để tìm trứng chim, vì trước đó tôi từng thấy cậu ta từ cửa sổ nhà mình ngó nghiêng quanh quẩn và nhặt lấy một hai quả trong các kẽ đá. Dù thế nào đi nữa, tôi bỗng giật mình tỉnh giấc bởi một cái giật mạnh vào chiếc vòng được gắn ở đỉnh hộp nhằm mục đích tiện khiêng vác. Tôi cảm thấy chiếc hộp của mình bị nhấc bổng lên không trung, rồi lao đi với tốc độ phi thường. Cú xóc đầu tiên suýt chút nữa hất văng tôi khỏi võng, nhưng sau đó chuyển động trở nên khá êm ái. Tôi cất tiếng gọi lớn hết cỡ có ích gì đâu. Tôi nhìn ra các cửa sổ và chẳng thấy gì ngoài những đám mây và bầu trời. Tôi nghe thấy một tiếng động ngay trên đầu mình, tựa như tiếng vỗ cánh, và rồi bắt đầu nhận ra hoàn cảnh thê thảm của bản thân; rằng có con đại bàng nào đó đã cắp chiếc vòng hộp của tôi bằng chiếc mỏ của nó, với ý định thả rơi xuống một tảng đá giống như cách người ta làm với con rùa trong mai, rồi mổ thủng thân thể tôi và ăn thịt: bởi sự tinh khôn và thính giác của loài chim này cho phép chúng phát hiện con mồi từ một khoảng cách rất xa, dẫu con mồi có được che giấu kỹ đến đâu đi nữa thì cũng chẳng thể qua mắt được lớp ván dày hai phân của tôi.

Chỉ một lát sau, tôi nhận thấy tiếng động và tiếng vỗ cánh tăng lên vô cùng nhanh chóng, và chiếc hộp của tôi bị tung lên quật xuống giống như cái biển hiệu giữa ngày gió bão. Tôi nghe thấy vài tiếng đập thình thịch nhắm vào con đại bàng (vì tôi chắc chắn đó phải là thứ đang cắp chiếc vòng hộp trong mỏ), và rồi, đột ngột vô cùng, tôi cảm thấy mình rơi thẳng đứng xuống dưới suốt hơn một phút, với tốc độ kinh hồn đến mức tôi suýt ngạt thở. Cú rơi của tôi bị chặn đứng bởi một tiếng bịp khủng khiếp, vang dội vào tai tôi còn lớn hơn cả thác Niagara; sau đó tôi chìm hoàn toàn trong bóng tối thêm một phút nữa, rồi chiếc hộp bắt đầu nổi lên cao đến mức tôi có thể thấy ánh sáng lọt qua phía trên các ô cửa sổ. Lúc này tôi mới nhận ra mình đã rơi xuống biển. Chiếc hộp của tôi, do trọng lượng cơ thể, những vật dụng bên trong, cùng các bản lề sắt bản lớn được gắn kiên cố ở bốn góc trên dưới, nên nổi trên mặt nước chừng năm thước. Lúc đó tôi đoán, và giờ đây vẫn cho rằng con đại bàng bay đi với chiếc hộp của tôi đã bị hai hoặc ba con khác đuổi theo, buộc phải thả tôi rơi xuống trong lúc nó phải chống trả lại những con khác đang nhăm nhe chia sẻ chiến lợi phẩm. Các bản sắt gắn ở đáy hộp (vốn là những phần chắc chắn nhất) đã giữ cho thăng bằng khi rơi xuống và ngăn không cho nó vỡ tan trên mặt nước. Từng mối nối đều được xẻ rãnh khít khao; cửa ra vào không dùng bản lề mà trượt lên xuống như khung cửa sổ, nhờ đó căn phòng nhỏ của tôi kín mít đến mức nước lọt vào rất ít. Tôi vô cùng vất vả mới trèo ra khỏi võng, sau khi đánh liều kéo tấm ván trượt trên nóc nhà mà tôi đã nhắc đến trước đó — vốn được thiết kế riêng để lấy không khí, thứ mà nếu thiếu đi chắc tôi đã ngạt thở từ lâu.

Biết bao lần lúc ấy tôi ước gì mình được ở bên cô bé Glumdalclitch thân yêu, người mà chỉ mới một giờ trước thôi đã chia cắt tôi xa xôi nhường ấy! Và tôi có thể nói một cách thành thực rằng, ngay giữa lúc hoạn nạn của bản thân, tôi vẫn không sao kìm được lòng mình trước nỗi thương xót dành cho người vú nuôi tội nghiệp, nỗi đau đớn mà cô sẽ phải gánh chịu vì mất tôi, sự bất bình của hoàng hậu và sự lụi tàn trong tương lai của cô ấy. Có lẽ hiếm có nhà thảm hiểm nào lại rơi vào hoàn cảnh khó khăn và khốn cùng hơn tôi vào thời điểm ngặt nghèo ấy, khi từng khoảnh khắc trôi qua tôi cứ ngỡ chiếc hộp của mình sẽ bị đập tan tành, hay ít nhất cũng bị lật úp bởi trận cuồng phong đầu tiên hoặc con sóng cao cuồn cuộn. Chỉ một vết nứt ở một ô kính duy nhất thôi cũng đủ mang lại cái chết tức tưởi; và chẳng có gì có thể bảo vệ được các khung cửa sổ nếu không nhờ vào những lớp lưới sắt đan chắc chắn được lắp ở bên ngoài nhằm phòng ngừa tai nạn khi di chuyển. Tôi thấy nước rỉ vào qua vài kẽ hở, dù những chỗ rò rỉ không đáng kể, và tôi đã cố gắng bịt chúng lại hết sức có thể. Tôi không có đủ sức để nhấc bổng phần mái căn phòng nhỏ của mình lên, nếu không thì chắc chắn tôi đã làm thế để ngồi lên trên nóc; nơi ít ra tôi còn có thể tự bảo vệ mình thêm vài giờ nữa thay vì bị giam hãm (nếu có thể gọi như thế) trong cái khoang tàu ngầm này. Hoặc giả như tôi có may mắn thoát khỏi những hiểm nguy ấy trong một hai ngày, thì tôi còn có thể trông đợi gì ngoài một cái chết thảm hại vì lạnh lẽo và đói khát? Tôi đã ở trong hoàn cảnh ấy suốt bốn tiếng đồng hồ, ngóng chờ và thực sự mong mỏi từng phút giây sẽ là khoảnh khắc cuối cùng của đời mình.

Tôi đã từng kể với độc giả rằng có hai chiếc đai sắt chắc chắn được gắn cố định vào bên không có cửa sổ của chiếc hộp, nơi người hầu thường xỏ một chiếc đai da vào để buộc quanh eo khi khiêng tôi đi trên lưng ngựa. Đang trong tâm trạng tuyệt vọng ấy, tôi nghe thấy, hoặc ít ra tưởng là mình nghe thấy, một thứ âm thanh cọ xát nào đó ở phía bên hông có gắn đai sắt; và chẳng bao lâu sau, tôi bắt đầu mường tượng ra cảnh chiếc hộp đang bị kéo hoặc lai dắt dọc theo mặt biển; bởi chốc chốc tôi lại cảm thấy một lực lôi đi, khiến những con sóng dâng cao sát mép cửa sổ và đẩy tôi chìm vào bóng tối mập mờ. Điều này nhen nhóm trong tôi chút hy vọng mong manh về sự cứu rỗi, dẫu tôi chẳng thể tài nào tưởng tượng nổi điều đó sẽ diễn ra bằng cách nào. Tôi đánh liều tháo ốc một chiếc ghế vốn luôn được bắt cố định xuống sàn; và sau khi chật vật bắt vít nó lại ngay phía dưới tấm ván trượt mà tôi vừa mở nấp lúc nãy, tôi trèo lên ghế, áp miệng sát hết mức có thể vào lỗ hổng, lớn tiếng kêu cứu bằng tất cả những thứ ngôn ngữ mà tôi biết. Sau đó, tôi buộc chiếc khăn tay của mình vào một chiếc gậy vẫn thường mang theo, thọc qua lỗ hổng và khua khoắn nhiều lần trên không trung, để nhỡ có con thuyền hay chiếc tàu nào ở gần, các thủy thủ có thể đoán được rằng có một sinh linh bất hạnh đang bị giam cầm trong chiếc hộp.

Mọi nỗ lực của tôi chẳng mang lại kết quả nào, nhưng tôi rõ ràng cảm thấy căn phòng nhỏ của mình đang bị di chuyển đi; và chỉ trong khoảng một tiếng đồng hồ hoặc hơn thế, phía bên hông hộp có gắn đai sắt và không có cửa sổ đã va phải một vật gì đó cứng nhắc. Tôi đoán chừng đó là một mỏm đá, và thấy mình bị tung lên lắc lư dữ dội hơn bao giờ hết. Tôi nghe rõ mồn một tiếng động trên nắp phòng, tựa như tiếng của sợi cáp neo tàu, cùng tiếng cọ xát của nó khi luồn qua chiếc vòng sắt. Ngay sau đó, tôi thấy mình bị cẩu lên từng nấc, cao hơn vị trí cũ ít nhất ba thước. Nhân cơ hội ấy, tôi lại thọc cây gậy và chiếc khăn tay lên, kêu gào cứu viện cho đến khi khản cả cổ. Đáp lại tiếng kêu của tôi là một tiếng hò reo vang dội được lặp lại ba lần, mang lại cho tôi niềm vui sướng tột độ mà chỉ những ai từng trải qua mới có thể thấu hiểu nổi. Giờ đây tôi nghe thấy tiếng bước chân thình thịch ngay trên đầu, và giọng nói của ai đó cất lên qua lỗ hổng bằng một âm vực vang dội bằng tiếng Anh: “Nếu có ai ở dưới đó, hãy lên tiếng đi.” Tôi đáp: “Tôi là một người Anh, vì vận hạn rủi ro mà sa vào hoạn nạn lớn nhất mà bất kỳ sinh vật nào từng trải qua, và cầu xin bằng tất cả những gì tha thiết nhất, hãy cứu tôi ra khỏi cái ngục tối này.” Giọng nói ấy đáp lại: “Tôi được an toàn rồi, vì chiếc hộp đã được buộc chặt vào tàu của họ; và người thợ mộc sẽ đến cưa ngay một lỗ trên nắp đủ rộng để kéo tôi ra.” Tôi trả lời: “Điều đó không cần thiết và sẽ tốn quá nhiều thời gian; chẳng cần làm gì hơn ngoài việc bảo một người trong thủy thủ đoàn thò ngón tay vào chiếc vòng, nhấc chiếc hộp khỏi mặt biển đưa lên tàu, rồi chuyển thẳng vào cabin của thuyền trưởng.” Nghe tôi nói năng luyên thuyên như vậy, vài người trong số họ tưởng tôi điên; số khác thì phì cười; bởi quả thực lúc bấy giờ tôi chưa hề nghĩ ra rằng mình đã trở lại giữa những kẻ có tầm vóc và sức mạnh giống như mình. Người thợ mộc bước tới, chỉ trong vài phút đã cưa một lối đi rộng chừng bốn thước vuông, rồi thả xuống một chiếc thang nhỏ để tôi leo lên, và từ đó tôi được đưa lên tàu trong một trạng thái kiệt sức vô cùng.

Các thủy thủ đều hết sức kinh ngạc và dồn dập hỏi tôi hàng ngàn câu hỏi, nhưng tôi chẳng có chút tâm trạng nào để đáp lời. Tôi cũng bàng hoàng không kém khi trông thấy quá nhiều những kẻ tí hon — vì tôi đinh ninh họ là như vậy, sau khi đôi mắt đã quá quen thuộc với những sinh vật khổng lồ ở nơi tôi vừa rời đi. Thế nhưng viên thuyền trưởng, ông Thomas Wilcocks — một người Shropshire đàng hoàng và đáng mến, nhận thấy tôi sắp ngất xỉu, bèn đưa tôi vào phòng riêng của ông, cho uống một chút rượu thuốc để hồi sức và bảo tôi nằm lên giường của ông, đồng thời khuyên tôi nên nghỉ ngơi đôi chút vì tôi đang rất cần điều đó. Trước khi chìm vào giấc ngủ, tôi cho ông biết rằng mình có một số vật dụng giá trị trong hộp, quá tốt để có thể để mất: một chiếc võng tuyệt đẹp, một chiếc giường dã chiến xinh xắn, hai cái ghế, một cái bàn và một chiếc tủ nhỏ; rằng căn phòng của tôi được bọc lót kín xung quanh, đúng hơn là chần bông, bằng lụa và vải cotton; nếu ông cho phép một người trong thủy thủ đoàn khiêng phòng tôi vào cabin của ông, tôi sẽ mở ra ngay trước mặt để khoe những món đồ đó. Nghe tôi thốt ra những lời vô lý ấy, viên thuyền trưởng kết luận rằng tôi đang mê sảng; tuy nhiên (có lẽ để dỗ dành tôi) ông hứa sẽ làm theo ý tôi, rồi bước lên boong, sai vài người lính xuống căn phòng nhỏ của tôi, từ đó (như tôi được biết sau này) họ đã lục lọi lấy hết mọi món đồ và bứt tung lớp vải chần; nhưng vì những chiếc ghế, tủ và giường đều bị bắt vít xuống sàn nên chúng đã bị hư hại nặng nề bởi sự vụng về của các thủy thủ, những kẻ đã cạy chúng lên bằng vũ lực. Sau đó, họ đập vỡ vài tấm ván để dùng cho việc trên tàu, và khi đã lấy đi tất cả những gì họ muốn, họ để cho cái vỏ tàu chìm nghỉm xuống biển, vì lúc ấy đáy và mạn tàu đã chi chít vết thủng nên chìm thẳng xuống ngay lập tức. Và quả thực, tôi cũng thấy mừng vì mình không phải là nhân chứng cho sự tàn phá mà họ gây ra, bởi tôi chắc chắn điều đó sẽ chạm đến cõi lòng tôi một cách sâu sắc, khơi gợi lại những ký ức mà tôi thà quên đi còn hơn.

Tôi đã ngủ được vài tiếng, nhưng giấc ngủ liên tục bị quấy rầy bởi những giấc mơ về nơi tôi vừa rời đi và những hiểm nguy mà mình vừa thoát nạn. Tuy nhiên, khi tỉnh dậy, tôi thấy sức khỏe đã hồi phục đáng tin cậy. Lúc ấy đã khoảng tám giờ tối, và viên thuyền trưởng cho dọn bữa tối ngay vì nghĩ rằng tôi đã nhịn đói quá lâu. Ông tiếp đãi tôi vô cùng niềm nở, nhận thấy tôi không còn nhìn ngó ngẩn ngơ hay nói năng luyên thuyên nữa; và khi chỉ còn lại hai người, ông ngỏ ý muốn tôi kể lại đầu đuôi chuyến hành trình cũng như cơ duyên nào khiến tôi bị trôi dạt trên chiếc rương gỗ kỳ dị đó. Ông kể rằng “vào khoảng mười hai giờ trưa, khi đang dòm qua ống nhòm, ông phát hiện nó từ xa và cứ ngỡ là một cánh buồm muốn tiếp cận, vì không lệch hướng quá xa, với hy vọng mua ít bánh quy khi số dự trữ của mình đang dần cạn kiệt. Rằng khi đến gần hơn và nhận ra sự nhầm lẫn, ông đã cho hạ xuồng cứu sinh ra để thám thính; rằng các thủy thủ của ông quay về trong hoảng loạn, thề thốt rằng họ vừa trông thấy một ngôi nhà biết bơi. Rằng ông đã cười vào sự ngớ ngẩn của họ và tự mình ngồi xuồng đi xem, dặn các thủy thủ mang theo một sợi cáp chắc chắn. Rằng thời tiết lúc đó tĩnh lặng, ông đã chèo vòng quanh tôi vài lần, quan sát các cửa sổ và lớp lưới sắt bảo vệ chúng. Rằng ông phát hiện ra hai chiếc đai sắt ở một bên vách — nơi hoàn toàn bằng ván và không có lối thoát ánh sáng nào. Ông bèn ra lệnh cho thuộc cấp chèo đến phía đó, buộc chặt sợi cáp vào một trong hai chiếc đai sắt rồi kéo chiếc rương của tôi, theo cách gọi của họ, hướng về phía tàu. Khi đã đưa được nó lên, ông chỉ đạo buộc thêm một sợi cáp vào chiếc vòng gắn trên nắp, dùng ròng rọc để cẩu rương của tôi lên — thứ mà toàn bộ các thủy thủ không sao nhấc nổi quá hai hay ba thước.” Ông kể rằng “họ đã thấy cây gậy và chiếc khăn tay thọc ra từ lỗ hổng, và đi đến kết luận rằng chắc chắn có một kẻ khốn khổ nào đó bị nham hiểm giam cầm trong khoảng không gian ấy.” Tôi bèn hỏi “liệu ông hay các thủy thủ có nhìn thấy con chim khổng lồ nào trên bầu trời vào khoảng thời gian ông lần đầu phát hiện ra tôi không.” Đáp lại câu hỏi ấy, ông cho biết “khi bàn luận chuyện này với các thủy thủ trong lúc tôi đang ngủ, một người trong số họ nói rằng anh ta đã quan sát thấy ba con đại bàng bay về hướng bắc, nhưng không thấy có điểm gì khác thường về kích thước so với bình thường:” điều mà tôi cho rằng là do độ cao quá lớn của chúng; và ông ta chẳng thể đoán được lý do vì sao tôi lại hỏi điều đó. Tôi lại hỏi thuyền trưởng rằng “ông tính toán chúng ta hiện đang cách đất liền bao xa.” Ông đáp: “Theo cách tính toán chuẩn xác nhất của tôi, chúng ta cách ít nhất một trăm hải lý.” Tôi quả quyết với ông rằng “ông chắc chắn đã nhầm lẫn gần một nửa, bởi tôi chỉ vừa rời khỏi đất nước ấy chưa đầy hai tiếng trước khi rơi xuống biển.” Nghe vậy, ông lại bắt đầu nghĩ rằng đầu óc tôi có vấn đề, và ông nhẹ nhàng ám chỉ điều đó, khuyên tôi nên đi ngủ trong căn phòng mà ông đã chuẩn bị sẵn. Tôi trấn an ông rằng “tôi đã hoàn toàn sảng khoái nhờ sự tiếp đón nồng hậu và bầu bạn của ông, đồng thời minh mẫn chẳng kém bất cứ lúc nào trong đời.” Lúc bấy giờ ông mới trở nên nghiêm túc, ngỏ ý muốn hỏi thẳng tôi “liệu có phải trong tâm trí tôi đang mang nặng nỗi dằn vặt vì một tội ác tày trời nào đó, nên mới bị phán quyết theo lệnh của một vị vương công nào bằng cách đày ải trên chiếc rương đó — giống như những tội phạm lớn ở các quốc gia khác từng bị ép ra khơi trên những con tàu thủng không lương thực hay sao; bởi dẫu ông sẽ rất hối tiếc khi rước một kẻ tồi tệ như vậy lên tàu, nhưng ông vẫn xin lấy danh dự để cam kết đưa tôi cập bến an toàn tại cảng đầu tiên mà chúng tôi đặt chân tới.” Ông nói thêm rằng “những nghi ngờ của ông càng bị củng cố thêm bởi những lời lẽ ngớ ngẩn mà tôi từng tuôn ra trước đó với các thủy thủ rồi đến cả ông, liên quan đến căn phòng hay chiếc rương của tôi, cũng như vẻ bề ngoài và cách hành xử kỳ cục của tôi trong bữa tối.”

Tôi nài nỉ ông kiên nhẫn lắng nghe câu chuyện của mình, và tôi đã thuật lại một cách trung thực từ lần cuối cùng rời khỏi nước Anh cho đến khoảnh khắc ông phát hiện ra tôi. Và hệt như sự thật luôn tự mở đường vào những tâm trí lý trí, vị quý ông đáng kính, chân chính, có chút ít học thức và sự minh triết tuyệt vời này đã lập tức bị thuyết phục bởi sự chân thành và tính xác thực của tôi. Nhưng để chứng thực thêm cho những gì mình đã nói, tôi khẩn nài ông ra lệnh mang chiếc tủ nhỏ của tôi ra — thứ mà tôi vẫn giữ chìa khóa trong túi; bởi trước đó ông đã kể cho tôi nghe cách các thủy thủ xử lý căn phòng của tôi. Tôi mở nó ra ngay trước mặt ông và bày ra bộ sưu tập nhỏ những món đồ kỳ lạ mà tôi đã thu thập được ở đất nước vừa cứu thoát tôi một cách kỳ lạ ấy. Đó là chiếc lược tôi tự chế từ những sợi râu vụn của nhà vua, và một chiếc khác cũng làm từ chất liệu tương tự nhưng được gắn vào phần móng tay cái của hoàng hậu để làm cán. Đó là một bộ sưu tập kim khâu và kim băng dài từ một thước đến nửa thước; bốn cái ngòi ong vò vẽ to như đinh đóng đồ mộc; vài sợi tóc chải rơi của hoàng hậu; một chiếc nhẫn vàng mà có lần ngài đã tặng tôi một cách vô cùng nhã nhặn, khi tháo nó ra từ ngón tay út rồi quàng qua đầu tôi như một chiếc vòng cổ. Tôi ngỏ ý xin vị thuyền trưởng vui lòng nhận chiếc nhẫn này để đáp lễ cho sự nhã ý của ông; nhưng ông tuyệt đối từ chối. Tôi cho ông xem một nốt chai chân mà tôi đã tự tay cắt ra từ ngón chân của một vị cung tần; nó to bằng một quả táo Kent, và đã chai cứng đến mức khi trở về Anh, tôi đã khoét rỗng nó thành một chiếc cốc và bọc bạc lại. Cuối cùng, tôi mời ông xem chiếc quần chẽn tôi đang mặc lúc đó, vốn được may bằng da chuột.

Tôi chẳng thể nhét cho ông món quà nào ngoài chiếc răng của một gã hầu phòng, thứ mà tôi quan sát thấy ông tò mò ngắm nghía và nhận ra ông rất thích nó. Ông đón nhận với vô vàn lời cảm ơn, vượt xa mức mà một món quà vặt vãnh như thế đáng được nhận. Nó bị một gã bác sĩ phẫu thuật vụng về nhổ nhầm cho một trong những người hầu của Glumdalclitch — kẻ đang bị đau nhức răng, nhưng chiếc răng thì chắc khỏe chẳng thua gì bất kỳ chiếc nào trên đầu hắn. Tôi đã đem nó đi làm sạch rồi cất vào tủ. Nó dài chừng một thước và đường kính khoảng bốn phân.

Viên thuyền trưởng vô cùng hài lòng với câu chuyện mộc mạc mà tôi vừa kể, và bày tỏ rằng “ông hy vọng khi trở về Anh, tôi sẽ ban ân huệ cho thế giới bằng cách ghi chép nó thành văn bản và công bố rộng rãi.” Câu trả lời của tôi là “chúng ta đã quá thừa thãi những cuốn sách du hành; giờ đây chẳng có gì có thể gây ấn tượng nếu nó không phải là thứ kỳ dị; trong đó tôi nghi ngờ một số tác giả ít quan tâm đến sự thật hơn là sự vanh danh, lợi ích cá nhân hay sự giải trí của những độc giả thiếu hiểu biết; rằng câu chuyện của tôi chẳng thể chứa đựng điều gì ngoài những sự kiện thông thường, thiếu vắng đi những miêu tả hoa mỹ về các loài thực vật kỳ lạ, cây cối, chim chóc cùng các loài động vật khác; hay về những phong tục dã man và thói thờ cúng thần linh của những kẻ hoang dã mà phần lớn các nhà văn thường lạm dụng. Dẫu sao, tôi vẫn cảm ơn sự đánh giá tốt đẹp của ông và hứa sẽ suy nghĩ về vấn đề này.”

Ông nói rằng “ông vô cùng ngạc nhiên về một điều, đó là việc nghe tôi nói quá lớn tiếng,” và hỏi tôi “liệu nhà vua hoặc hoàng hậu nước đó có bị lãng tai không?” Tôi đáp rằng “đó là thói quen mà tôi đã quen thuộc suốt hơn hai năm qua, và tôi cũng ngạc nhiên không kém trước giọng nói của ông cùng các thủy thủ, những người mà với tôi chỉ đang thì thầm, thế mà tôi vẫn nghe rõ mùng một. Thế nhưng, khi tôi nói chuyện ở đất nước kia, thì chẳng khác nào một kẻ đứng dưới đường nói vọng lên người đang ló đầu từ đỉnh tháp chuông, trừ những lúc tôi được đặt trên bàn hay được ai đó cầm trên tay.” Tôi nói với ông rằng “tôi cũng nhận thấy một điều khác, đó là khi mới bước lên tàu và thấy các thủy thủ đứng vây quanh, tôi cứ tưởng họ là những sinh vật nhỏ bé, đáng khinh bỉ nhất mà tôi từng thấy trong đời.” Quả thực, khi còn ở vương quốc của vị quân vương nọ, tôi chưa bao giờ dám nhìn vào gương sau khi đôi mắt đã quá quen thuộc với những sinh vật khổng lồ như thế, bởi sự so sánh ấy mang lại cho tôi một ý niệm quá rẻ mạt về bản thân. Viên thuyền trưởng bảo rằng “trong lúc dùng bữa tối, ông quan sát thấy tôi nhìn mọi thứ với vẻ kinh ngạc và thường dường như không thể kìm nén tiếng cười — điều mà ông không hiểu nên gán cho sự rối loạn nào đó trong đầu óc tôi.” Tôi đáp rằng “điều đó hoàn toàn chính xác; và tôi tự hỏi làm sao mình có thể kìm chế được khi nhìn thấy những chiếc đĩa có kích thước bằng đồng xu ba xu bằng bạc, một chiếc giò heo chưa đầy một miếng cắn, một chiếc cốc không to bằng nửa cái vỏ hạt dẻ;” cứ thế tôi tiếp tục miêu tả phần còn lại về đồ đạc gia dụng và thực phẩm của ông theo đúng phong cách ấy. Bởi dẫu hoàng hậu từng ban cho tôi một chút vật dụng chuẩn bị cho mọi thứ cần thiết trong thời gian tôi ở triều đình, nhưng tâm trí tôi hoàn toàn bị chiếm ngự bởi những gì diễn ra xung quanh, và tôi phớt lờ sự tí hon của chính mình giống như cách người ta lờ đi khuyết điểm của bản thân. Viên thuyền trưởng hiểu rõ sự châm biếm của tôi, vui vẻ đáp lời bằng câu tục ngữ cổ của người Anh rằng “ông hồ nghi con mắt to hơn cái bụng của tôi, vì ông chẳng thấy cái dạ dày tôi tốt nhẻo là mấy dẫu tôi đã nhịn đói suốt cả ngày;” và tiếp tục mạch cười đùa, ông thề thốt “ông sẵn sàng dâng hiến một trăm bảng Anh để được tận mắt chứng kiến căn phòng của tôi nằm trong mỏ đại bàng, rồi sau đó rơi từ độ cao khủng khiếp ấy xuống biển; chắc chắn đó sẽ là một khung cảnh kinh ngạc nhất, xứng đáng để lưu truyền bản miêu tả cho muôn đời sau;” và sự so sánh với Phaeton hiển hiện rành rành đến mức ông không kìm được mà đem ra ví von, dù tôi chẳng mấy mặn mà gì với ý tưởng đó.

Sau khi ghé qua Tôn Kinh trên đường trở về Anh, viên thuyền trưởng bị trôi dạt về hướng đông bắc đến vĩ độ 44 độ và kinh độ 143 độ. Nhưng hai ngày sau khi tôi bước lên tàu, chúng tôi gặp gió mậu dịch nên đã chèo hướng nam suốt một thời gian dài, lướt dọc theo bờ biển New Holland rồi giữ vững hải trình hướng tây-tây-nam, sau đó là nam-tây-nam cho đến khi vòng qua Mũi Hảo Vọng. Chuyến hải trình của chúng tôi vô cùng suôn sẻ, nhưng tôi sẽ không làm phiền độc giả bằng một cuốn nhật ký chi tiết về nó. Viên thuyền trưởng ghé vào một hai cảng, phái xuồng cứu sinh lên bờ để mua lương thực và nước ngọt; nhưng tôi chưa từng rời khỏi tàu cho đến khi chúng tôi đến vùng Downs, tức là vào ngày 3 tháng 6 năm 1706, khoảng chín tháng sau cuộc trốn chạy của tôi. Tôi ngỏ ý để lại tài sản của mình làm vật thế chấp để thanh toán tiền cước tàu; nhưng viên thuyền trưởng quả quyết từ chối nhận dù chỉ một xu. Chúng tôi lưu luyến từ biệt nhau, và tôi bắt ông phải hứa sẽ đến thăm tôi tại nhà riêng ở Redriff. Tôi thuê một con ngựa cùng người dẫn đường với giá năm shilling — số tiền tôi vay từ thuyền trưởng.

Trên đường về nhà, khi quan sát sự tí hon của những ngôi nhà, cây cối, gia súc và con người, tôi bắt đầu tưởng tượng rằng mình đang ở Lilliput. Tôi sợ hãi việc dẫm đạp lên bất kỳ người qua đường nào mình gặp và liên tục lớn tiếng bảo họ tránh đường, suýt chút nữa thì bị người ta cho vài cú gõ đầu vì tội xấc láo.

Khi về đến nhà riêng — nơi tôi phải vất vả hỏi thăm mới tìm được, một người hầu ra mở cửa, tôi liền khom lưng bước vào (giống như một con ngỗng chui qua cổng) vì sợ đụng đầu. Vợ tôi chạy ào ra ôm chầm lấy tôi, nhưng tôi cúi người xuống thấp hơn cả đầu gối cô ấy, vì đinh ninh rằng nếu không làm thế thì cô ấy chẳng đời nào với tới miệng tôi được. Con gái tôi quỳ xuống xin ơn phước từ cha, nhưng tôi chẳng thể nhìn thấy nó cho đến khi nó đứng dậy, bởi tôi đã quen đứng ngẩng cao đầu và mắt hướng lên cao quá sáu thước trong suốt ngần ấy thời gian; và rồi tôi dùng một tay nhấc bóc nó lên ngang eo. Tôi nhìn xuống những người hầu và một vài người bạn đang có mặt trong nhà cứ như thể họ chỉ là lũ tí hon còn tôi là một vị khổng lồ. Tôi bảo vợ mình rằng “cô ấy đã quá hà tiện, vì tôi thấy cô ấy đã để cho bản thân và con gái gầy gò ốm đói đến mức trơ xương.” Tóm lại, tôi cư xử một cách khó hiểu đến mức tất cả bọn họ đều đồng tình với ý định ban đầu của viên thuyền trưởng khi vừa gặp tôi, và kết luận rằng tôi đã mất trí. Tôi nhắc lại điều này như một minh chứng cho sức mạnh to lớn của thói quen và định kiến.

Chẳng bao lâu sau, tôi cùng gia đình và bạn bè đã tìm được tiếng nói chung; nhưng vợ tôi quả quyết “tôi sẽ chẳng bao giờ được phép đi biển thêm lần nào nữa;” dẫu cho định mệnh nghiệt ngã lại sắp đặt thế nào đó khiến cô ấy chẳng có cách nào ngăn cản tôi, như độc giả sẽ được biết trong phần tiếp theo. Đến đây, tôi xin khép lại phần thứ hai trong những chuyến hải trình đầy bất hạnh của mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.