Những Chuyến Du Hành Của Gulliver Tới Một Số Quốc Gia Kỳ Lạ Trên Thế Giới

Lượt đọc: 1025 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Tác giả được triệu về triều. Hoàng hậu mua lại ông từ tay người chủ là lão nông, rồi dâng lên nhà vua. Ông tranh biện với các học giả lớn của hoàng thượng. Triều đình cấp cho tác giả một căn hộ. Ông rất được hoàng hậu sủng ái. Ông đứng lên bảo vệ danh dự cho đất nước mình. Những cuộc cãi cọ của ông với chú lùn của hoàng hậu.

Những nhọc nhằn liên miên ngày qua ngày chẳng mấy chốc đã làm sức khỏe tôi suy sụp nghiêm trọng: chủ tôi càng kiếm được nhiều tiền từ tôi bao nhiêu, ông ta lại càng trở nên tham lam bấy nhiêu. Tôi hoàn toàn mất cảm giác thèm ăn và gần như chỉ còn da bọc xương. Lão nông để ý thấy điều đó, và đinh ninh rằng tôi sắp chết đến nơi, bèn quyết tâm vắt kiệt giá trị từ tôi chừng nào hay chừng ấy. Trong lúc lão đang mải tính toán và toan tính như vậy, một viên thị thần từ triều đình tới, truyền lệnh cho chủ tôi phải đưa tôi vào cung ngay lập tức để làm trò giải trí cho hoàng hậu và các cung tần. Một vài vị trong số các bà đã đến xem tôi từ trước, và kể lại những chuyện kỳ lạ về nhan sắc, phong thái cùng sự khôn ngoan của tôi. Hoàng hạ cùng những người hầu cận vô cùng thích thú trước cung cách của tôi. Tôi sụp xuống quỳ gối, khẩn khoản xin vinh dự được hôn bàn chân đế vương của người; nhưng vị công nương nhân hậu ấy lại chìa ngón út ra về phía tôi sau khi tôi được đặt lên bàn, và tôi liền dùng cả hai tay ôm lấy, cung kính áp chót ngón tay ấy lên môi mình. Người hỏi tôi vài câu chung chung về quê hương và những chuyến hành trình, và tôi đã đáp lại một cách rành mạch nhất, bằng ít từ nhất có thể. Người hỏi: “Liệu ta có bằng lòng sống ở chốn hoàng cung hay không?” Tôi cúi rạp người sát mặt bàn, khiêm nhường đáp rằng “tôi vốn là nô lệ của chủ tôi; nhưng nếu được tự quyết định số phận, tôi sẽ lấy làm tự hào được dâng hiến cả cuộc đời để phục vụ hoàng hậu.” Sau đó, người hỏi chủ tôi: “Liệu ông có sẵn lòng bán hắn với một cái giá hời không?” Lão vốn đinh ninh rằng tôi sống chẳng nổi một tháng nữa, nên vô cùng sẵn lòng tống khứ tôi đi, bèn thét giá một ngàn đồng tiền vàng. Số tiền ấy được chuẩn bị ngay lập tức, mỗi đồng to bằng khoảng tám trăm đồng moidores; nhưng nếu tính theo tỷ lệ quy đổi mọi thứ giữa xứ sở ấy với châu Âu, và giá trị cao của vàng ở đó, thì số tiền này còn chưa bằng một ngàn đồng guinea ở nước Anh.

Tôi bấy giờ thưa với hoàng hậu rằng: “Vì giờ đây tôi đã là kẻ bề tôi và thần dân vô cùng khiêm nhường của hoàng hậu, tôi xin mạo muội cầu xin một ân huệ, đó là xin cho Glumdalclitch — người vẫn luôn chăm sóc tôi bằng tất cả sự ân cần, chu đáo và rất thành thạo việc đó — được phép vào hầu trong cung, tiếp tục làm vú nuôi và người chỉ bảo cho tôi.”

Hoàng hậu chấp thuận thỉnh cầu của tôi, và dễ dàng nhận được sự đồng ý từ lão nông, bởi lão lấy làm mừng rỡ vì con gái mình được cất nhắc vào chốn hoàng cung, còn bản thân cô bé tội nghiệp thì chẳng tài nào giấu nổi niềm vui sướng. Người chủ cũ của tôi cáo lui, cất lời từ biệt và bảo rằng ông ta đã để tôi lại nơi chúa sơn đầu tốt bụng; đáp lại, tôi chẳng nói nửa lời, chỉ khẽ cúi đầu chào.

Hoàng hậu nhận ra thái độ lạnh nhạt của tôi; và khi lão nông đã rời khỏi phòng, người liền hỏi lý do. Tôi cả gan thưa với hoàng hậu rằng: “Tôi chẳng mang ơn người chủ cũ nào khác ngoài việc lão đã không đập nát đầu một sinh vật vô tội, vô hại tình cờ tìm thấy trên đồng ruộng của mình; ơn huệ ấy đã được đền đáp gấp bội qua những khoản lợi nhuận lão thu được khi đem tôi đi biểu diễn khắp nửa vương quốc, và qua cái giá mà lão vừa bán tôi. Cuộc sống mà tôi phải trải qua sau đó vốn đã nhọc nhằn đủ để quật ngã một loài vật có sức mạnh gấp mười lần tôi. Sức khỏe của tôi suy kiệt nghiêm trọng bởi công việc sai vặt kiệt sức là phải làm trò vui cho đám dân đen suốt từng giờ trong ngày; và nếu chủ tôi không nghĩ rằng tính mạng tôi đang ngàn cân treo sợi tóc, thì hoàng hậu đã chẳng thể mua được một món hời đến thế. Nhưng giờ đây, khi tôi đã hoàn toàn gạt bỏ nỗi sợ bị đối xử tệ bạc dưới sự bảo bọc của một vị hoàng hậu vĩ đại và nhân từ — người là đóa hoa của tự nhiên, là đứa con cưng của thế giới, là niềm hạnh phúc của thần dân, là phượng hoàng của tạo hóa — tôi hy vọng những lo lắng của chủ cũ sẽ trở thành vô căn cứ; bởi tôi đã cảm thấy tinh thần mình hồi sinh nhờ ơn huệ được ở trước hiện thân vô cùng tôn quý của người.”

Đó là đại ý bài diễn văn của tôi, được thốt lên với vô số lỗi diễn đạt và đầy sự ấp úng. Đoạn cuối được cấu trúc hoàn toàn theo văn phong đặc trưng của xứ sở đó, dăm ba câu cú tôi đã học được từ Glumdalclitch trong lúc cô bé chở tôi vào cung.

Hoàng hậu bỏ qua cho những khiếm khuyết trong lời ăn tiếng nói của tôi, tuy nhiên, người vẫn không khỏi ngạc nhiên trước sự thông minh và hiểu biết sắc sảo ở một sinh vật bé nhỏ nhường ấy. Người tự tay bế tôi lên và đưa đến chỗ nhà vua, lúc bấy giờ đang lui về phòng riêng. Bệ hạ, một vị quân vương vô cùng điềm đạm với nét mặt nghiêm nghị, ban đầu do chưa nhìn rõ hình hài của tôi, bèn cất lời hỏi hoàng hậu một cách lạnh lùng rằng “từ bao giờ mà nàng lại đâm ra thích một con splacnuck thế?” — hóa ra người tưởng tôi là loài vật ấy, khi thấy tôi nằm sấp trên bàn tay phải của hoàng hậu. Nhưng vị công nương này, vốn là người vô cùng hóm hỉnh và hài hước, đã nhẹ nhàng đặt tôi đứng vững trên chiếc tủ đựng giấy tờ, rồi ra lệnh cho tôi tâu với bệ hạ về thân thế của mình. Tôi đã làm điều đó chỉ bằng vài từ ngắn ngủi; và Glumdalclitch — người vẫn chầu chực ở cửa phòng và không tài nào chịu được cảnh tôi rời khỏi tầm mắt — được phép bước vào, xác nhận lại toàn bộ sự việc kể từ khi tôi đặt chân đến nhà cha cô.

Nhà vua, mặc dù là một bậc uyên bác bậc nhất trong vương quốc và đã được giáo dục bài bản về triết học, đặc biệt là toán học; thế nhưng, khi ngắm nghía kỹ lưỡng vóc dáng tôi và thấy tôi đứng thẳng trước khi tôi cất lời, ngài đã đinh ninh rằng tôi có lẽ là một cỗ máy lên dây cót (loại đồ vật vốn đã đạt đến độ tinh xảo tuyệt mỹ ở đất nước đó) do một nghệ nhân tài ba nào đó tạo ra. Nhưng khi nghe thấy giọng nói của tôi và nhận ra những điều tôi trình bày đều rành mạch, hợp lý, ngài không thể giấu nổi sự kinh ngạc. Ngài hoàn toàn không thỏa mãn với lời kể của tôi về cách thức tôi lạc bước vào vương quốc này, mà cho rằng đó là một câu chuyện được bị đặt giữa Glumdalclitch và cha cô, người đã nhồi nhét cho tôi một loạt từ ngữ nhằm bán tôi được giá hơn. Xuất phát từ suy nghĩ ấy, ngài đặt thêm cho tôi vài câu hỏi nữa, và vẫn nhận được những câu trả lời vô cùng hợp lý: chẳng có gì bất ổn ngoại trừ giọng điệu ngoại lai, sự am hiểu còn non kém về ngôn ngữ, cùng dăm ba câu cửa miệng quê mùa mà tôi học được ở nhà lão nông, vốn chẳng phù hợp với phong cách tao nhã chốn hoàng đình.

Bệ hạ bèn cho gọi ba vị đại học giả đang đến phiên trực trong tuần, theo phong tục của xứ sở ấy. Những vị này, sau khi chăm chú soi xét vóc dáng tôi một hồi lâu với vẻ vô cùng tỉ mỉ, đã đưa ra những ý kiến khác nhau về tôi. Tất cả đều đồng thuận rằng tôi không thể được sinh ra theo những quy luật tự nhiên thông thường, bởi tôi vốn không được cấu tạo để có thể tự bảo toàn sự mạng bằng cách chạy nhanh, trèo cây, hay đào hang dưới đất. Qua hàm răng của tôi — thứ được họ quan sát vô cùng kỹ lưỡng — họ nhận định rằng tôi là một loài động vật ăn thịt; thế nhưng, vì hầu hết các loài thú bốn chân đều mạnh hơn tôi, trong khi chuột đồng và một số loài khác lại quá nhanh nhẹn, họ không tài nào tưởng tượng nổi làm thế nào tôi có thể tự sinh tồn, trừ khi tôi ăn ốc sên và các loài côn trùng khác — điều mà họ đã đưa ra nhiều luận điểm bác học để chứng minh là tôi hoàn toàn không thể làm nổi. Một trong những bậc hiền triết ấy cho rằng tôi có lẽ là một bào thai, hay một sản phẩm sinh non. Tuy nhiên, quan điểm này đã bị hai vị còn lại bác bỏ khi họ quan sát thấy các chi của tôi đã phát triển hoàn thiện và đầy đủ; rằng tôi đã sống được vài năm, điều hiển nhiên có thể nhận thấy qua bộ râu của tôi mà họ nhìn rõ từng chân lông lún phún qua chiếc kính lúp. Họ kiên quyết không thừa nhận tôi là người lùn, bởi sự bé nhỏ của tôi vượt xa mọi chuẩn mực so sánh; đối với chú lùn được hoàng hậu sủng ái, kẻ có thân hình nhỏ nhất từng được ghi nhận trong vương quốc ấy, cũng cao gần ba mươi thước. Sau một hồi tranh luận sôi nổi, họ đã đi đến kết luận đồng lòng rằng tôi chẳng qua chỉ là relplum scalcath, dịch sát nghĩa là lusus naturæ [trò đùa của tạo hóa] — một phán quyết hoàn toàn phù hợp với nền triết học cận đại ở châu Âu, nơi các giáo sư, vì khinh miễn thói lảng tránh xưa cũ về những nguyên nhân huyền bí mà qua đó các tín đồ của Aristotle vẫn luôn cố gắng che đậy sự dốt nát của mình, đã phát minh ra lời giải đáp kỳ diệu này cho mọi vấn đề rắc rối, góp phần thúc đẩy tri thức nhân loại tiến bộ không ngừng.

Sau kết luận mang tính quyết định ấy, tôi khẩn khoản xin được nói dăm ba câu. Tôi hướng về phía nhà vua và quả quyết với bệ hạ rằng: “Tôi đến từ một đất nước có tới vài triệu người thuộc cả hai giới và có vóc dáng tương đương tôi; nơi mà muôn thú, cây cối và nhà cửa đều tương xứng về mặt kích thước; và do đó, tôi hoàn toàn có khả năng tự vệ và tìm kiếm sinh kế giống như bất kỳ thần dân nào của bệ hạ ở chốn này; điều mà tôi coi là câu trả lời thỏa đáng nhất cho các luận điểm của những vị học giả kia.” Đáp lại, họ chỉ mỉm cười đầy khinh miệt, bảo rằng “lão nông đã dạy bài học cho tôi quá ư kỹ lưỡng.” Nhà vua, với sự minh mẫn vượt trội, liền cho lui các vị học giả và sai người đi triệu lão nông — kẻ may mắn là vẫn chưa rời khỏi kinh thành. Sau khi tiến hành tra hỏi riêng lão, rồi cho đối chất giữa lão với tôi cùng cô bé, bệ hạ bắt đầu ngả sang suy nghĩ rằng những gì chúng tôi tâu có lẽ là sự thật. Ngài yêu cầu hoàng hậu ra lệnh chăm sóc tôi thật chu đáo, đồng thời bày tỏ quan điểm rằng Glumdalclitch vẫn nên tiếp tục giữ trọng trách chăm sóc tôi, bởi ngài nhận thấy chúng tôi dành cho nhau tình cảm sâu sắc. Một căn hộ tiện nghi được chuẩn bị cho cô bé trong cung; cô được cắt cử một nữ quản gia để kèm cặp việc học hành, một hầu gái để lo chuyện ăn mặc, cùng hai người hầu khác chuyên làm các công việc vặt; thế nhưng, nhiệm vụ chăm sóc tôi thì hoàn toàn do một tay cô đảm nhiệm. Hoàng hậu ra lệnh cho người thợ mộc riêng của hoàng gia tự tay thiết kế một chiếc hộp có thể dùng làm phòng ngủ cho tôi, dựa trên mẫu mã mà tôi và Glumdalclitch cùng thống nhất. Người thợ này là một nghệ nhân vô cùng khéo léo, và theo đúng chỉ dẫn của tôi, chỉ trong vòng ba tuần, ông đã hoàn thành cho tôi một căn phòng bằng gỗ rộng mười sáu thước, cao mười hai thước, có cửa sổ lùa, một cửa ra vào và hai phòng nhỏ, trông chẳng khác nào phòng ngủ ở London. Tấm ván làm trần nhà được thiết kế để có thể nâng lên hạ xuống nhờ hai bản lề, nhằm đưa chiếc giường đã được trang hoàng sẵn bởi thợ bọc nệm của hoàng hậu vào trong; Glumdalclitch mang chiếc giường này ra phơi nắng mỗi ngày, tự tay dọn dẹp, và đến tối lại hạ xuống, khóa chặt phần mái phía trên đầu tôi. Một người thợ thủ công khéo tay, nổi tiếng với những món đồ nhỏ xinh tinh xảo, đã nhận làm cho tôi hai chiếc ghế tựa cùng khung ghế bằng một chất liệu trông chẳng khác nào ngà voi, kèm theo hai chiếc bàn và một tủ nhỏ để đựng đồ đạc. Căn phòng được bọc lót vải chần bông ở mọi phía, kể cả sàn và trần nhà, nhằm ngăn ngừa mọi tai nạn do sự bất cẩn của những kẻ khiêng tôi, đồng thời làm giảm bớt sức giật mỗi khi tôi ngồi xe ngựa. Tôi yêu cầu lắp một chiếc ổ khóa cho cửa phòng để ngăn chuột nhắt và chuột cống đột nhập. Người thợ rèn, sau nhiều lần thử nghiệm, đã chế tạo ra chiếc ổ khóa nhỏ nhất từng xuất hiện ở xứ sở đó — dẫu tôi từng thấy chiếc khóa to hơn thế ở cổng nhà của một quý tộc bên Anh. Tôi tìm cách giữ chìa khóa trong túi áo riêng vì sợ Glumdalclitch sơ ý làm mất. Hoàng hậu cũng sai người tìm những tấm lụa mỏng nhất để may quần áo cho tôi; vải dày chẳng khác gì một tấm chăn của người Anh, mặc vào vô cùng vướng víu cho đến khi tôi quen dần. Trang phục ấy phỏng theo y phục của vương quốc, một nửa mang phong cách Ba Tư, nửa kia mang phong cách Trung Hoa, trông rất trang nghiêm và nhã nhặn.

Hoàng hậu đâm ra quấn quýt tôi đến mức không thể dùng bữa nếu thiếu tôi. Một chiếc bàn nhỏ được đặt ngay trên chiếc bàn ăn chính của hoàng hậu, nằm sát khuỷu tay trái của người, kèm theo một chiếc ghế ngồi cho tôi. Glumdalclitch đứng trên một chiếc ghế đẩu đặt dưới sàn nhà gần bàn của tôi để hỗ trợ và chăm sóc tôi. Tôi có hẳn một bộ đồ ăn bằng bạc gồm bát đĩa và các vật dụng cần thiết khác; tính theo tỷ lệ với đồ của hoàng hậu, chúng chẳng lớn hơn mấy so với những món đồ chơi trẻ em mà tôi từng thấy trong các cửa hàng đồ chơi ở London để trang trí cho nhàúp-bê; cô nuôi trẻ nhỏ bé của tôi cất giữ những thứ này trong một chiếc hộp bằng bạc đút túi áo, và đưa cho tôi dùng trong các bữa ăn khi tôi cần, rồi tự tay lau chùi sạch sẽ. Không một ai được phép dùng bữa cùng hoàng hậu ngoại trừ hai nàng công chúa hoàng gia, người chị mười sáu tuổi, còn cô em khi ấy mới mười tuổi một tháng. Hoàng hậu thường gắp một miếng thịt đặt lên đĩa của tôi, từ đó tôi tự cắt thức ăn cho mình, và niềm vui của người là được ngắm tôi ăn uống như đang thu nhỏ lại; bởi hoàng hậu (vốn dĩ có dạ dày rất yếu) thường nuốt trọn trong một miếng lượng thức ăn đủ cho chừng một tá nông dân Anh ăn trong một bữa — cảnh tượng ấy đối với tôi trong suốt một thời gian dài thực sự vô cùng ghê rợn. Người có thể nhai ngấu nghiến cánh của một con chim sơn ca, nuốt cả xương lẫn thịt, dẫu chiếc cánh ấy to gấp chín lần cánh của một con gà tây trưởng thành; và tọng vào miệng một miếng bánh mì to bằng ổ bánh mì giá mười hai xu. Người uống cạn một hơi từ chiếc cốc vàng chứa đầy hơn một thùng rượu lớn. Những con dao của người dài gấp đôi chiếc lưỡi hái, được lắp thẳng vào cán. Thìa, dĩa và các dụng cụ khác đều tuân theo đúng tỷ lệ ấy. Tôi còn nhớ khi Glumdalclitch tò mò bồng tôi đi xem một số bàn ăn trong cung, nơi mười hay tá con dao và dĩa khổng lồ ấy được nhấc lên cùng một lúc, tôi nghĩ rằng chưa bao giờ trong đời mình lại phải chứng kiến một cảnh tượng kinh hoàng đến thế.

Theo phong tục, vào mỗi thứ Tư (vốn là ngày Sa-bát của họ, như tôi đã đề cập), nhà vua và hoàng hậu cùng các hoàng tử công chúa sẽ dùng bữa chung tại ngự uyển của bệ hạ — nơi tôi giờ đây đã trở thành một sủng thần; và vào những dịp ấy, chiếc ghế nhỏ cùng bàn ăn của tôi lại được đặt bên tay trái của ngài, ngay trước một trong những lọ đựng muối. Bệ hạ lấy làm thích thú khi trò chuyện với tôi, tìm hiểu về phong tục, tôn giáo, luật pháp, thể chế chính trị và nền học thuật của châu Âu; và tôi đã tường thuật lại cho ngài một cách rành mạch nhất có thể. Sự minh mẫn và óc phán đoán chuẩn xác của ngài khiến ngài đưa ra những suy ngẫm cùng nhận xét vô cùng uyên bác về mọi điều tôi nói. Nhưng tôi phải thú nhận rằng, sau khi tôi trót huyên thuyên hơi quá đà về đất nước yêu dấu của mình, về thương mại và chiến tranh trên bộ lẫn trên biển, về những mối chia rẽ tôn giáo và phe phái chính trị trong nước; những thành kiến từ nền giáo dục của ngài đã trỗi dậy mạnh mẽ đến mức ngài không kìm được mà bèn nhấc bổng tôi lên bằng bàn tay phải, dùng tay kia khẽ vuốt ve tôi, và sau một tràng cười thả cửa, ngài liền cất tiếng hỏi: “Liệu ngươi là phe Whig hay phe Tory?” Sau đó, quay sang vị tể tướng đang chầu chực phía sau với một cây gậy trắng cao gần bằng cột buồm của chiến thuyền Royal Sovereign, ngài nhận xét rằng: “Sự vĩ đại của loài người mới nực cười làm sao, khi lại bị bắt chước bởi những sinh vật bé nhỏ nhằn như thế này: thế mà,” ngài nói tiếp, “ta dám cá là những sinh vật ấy cũng có tước hiệu cùng các bậc phân định danh dự; chúng cũng dựng lên những cái tổ và cái hang nhỏ xíu gọi là nhà cửa và thành phố; chúng cũng chưng diện xiêm y, xe ngựa; chúng cũng yêu đương, đánh ghen, tranh cãi, lừa lọc và phản bội!” Cứ thế, ngài tiếp tục bài diễn thuyết trong khi sắc mặt tôi cứ tái rồi đỏ nhiều bận vì phẫn nộ, khi phải nghe quê hương cao quý của mình — xứ sở của nghệ thuật và binh đao, nỗi khiếp sợ của nước Pháp, kẻ phân xử châu Âu, cái nôi của đức hạnh, lòng đạo đức, danh dự và sự thật, niềm kiêu hãnh và sự ghen tị của thế giới — bị đem ra giễu cợt một cách khinh miệt đến thế.

Nhưng vì tôi chẳng ở trong vị thế có thể tỏ thái độ oán hận, nên sau khi suy ngẫm chín chắn, tôi bắt đầu hoài nghi không biết bản thân có thực sự bị lăng mạ hay không. Bởi lẽ, sau nhiều tháng trời đã quen với diện mạo và những cuộc trò chuyện của con người nơi đây, đồng thời quan sát thấy mọi sự vật lọt vào mắt mình đều mang kích thước tương xứng, nỗi kinh hoàng ban đầu trước vóc dáng và ngoại hình của họ đã vơi đi phần nào; đến mức nếu lúc ấy tôi được tận mắt nhìn thấy một nhóm các lãnh chúa và quý bà người Anh trong xiêm y lộng lẫy ngày đại lễ, đang diễn đủ trò uốn éo, cúi chào và ba hoa theo đúng phong cách quý phái nhất, thì thú thật, tôi chắc chắn sẽ bị cám dỗ mạnh mẽ mà cười vào mặt họ chẳng kém gì cách nhà vua và các đại thần đã cười tôi. Hơn nữa, tôi thực sự chẳng thể kìm được tiếng cười khi hoàng hậu đặt tôi lên lòng bàn tay hướng về phía chiếc gương soi, phản chiếu toàn bộ vóc dáng của cả hai người trước mắt; và chẳng có cảnh tượng nào nực cười hơn sự so sánh ấy, khiến tôi thực sự bắt đầu tưởng tượng rằng bản thân đã teo tóp đi nhiều bậc so với kích thước thông thường.

Chẳng có gì khiến tôi bực bội và nhục nhã bằng chú lùn của hoàng hậu; vì sở hữu vóc dáng thấp lùn nhất từng có ở vương quốc ấy (tôi dám chắc gã chẳng cao nổi ba mươi thước), gã đâm ra kiêu ngạo đến mức cứ mỗi lần đi ngang qua phòng chờ của hoàng hậu — nơi tôi đang đứng trên chiếc bàn nào đó trò chuyện với các triều thần — là gã lại cố tình ra vẻ nghênh ngang, hách dịch, và chẳng bao giờ quên thốt ra dăm ba câu cay độc về sự bé nhỏ của tôi. Cách duy nhất để tôi trả đũa là gọi gã bằng "huynh đệ", thách gã vật lộn, cùng những câu đáp trả thường thấy của đám tiểu đồng chốn hoàng cung. Một ngày nọ, trong bữa ăn, gã tiểu yêu ác độc này bị châm chọc bởi điều gì đó tôi vừa nói, bèn rướn người lên thành ghế của hoàng hậu, túm ngang lưng tôi khi tôi đang ngồi xuống mà chẳng mảy may đề phòng, rồi thả tõm tôi vào một chiếc bát bạc đựng đầy kem lớn, sau đó chạy biến đi nhanh nhất có thể. Tôi chìm nghỉm ngụp lặn trong vũng kem, và nếu không biết bơi giỏi thì mọi chuyện đã tồi tệ lắm rồi; bởi lúc ấy Glumdalclitch vô tình đang ở tít đầu bên kia căn phòng, còn hoàng hậu thì hoảng hốt đến mức chẳng còn chút minh mẫn nào để cứu giúp tôi. May thay, cô nuôi trẻ nhỏ bé của tôi đã chạy đến giải cứu và lác tôi lên, sau khi tôi đã nuốt trọn hơn một lít kem. Tôi được đưa về giường nghỉ ngơi; tuy nhiên, chẳng tổn hại gì ngoài việc bộ quần áo bị hỏng hoàn toàn. Gã lùn bị trân đòn roi nhừ tử, và như một hình phạt bổ sung, buộc phải uống cạn sạch bát kem mà gã đã ném tôi vào; từ đó gã không bao giờ còn được sủng ái nữa, bởi chẳng lâu sau, hoàng hậu đã ban gã cho một vị phu nhân quyền quý, khiến tôi không bao giờ phải nhìn mặt gã nữa — một điều làm tôi vô cùng thỏa mãn, bởi tôi chẳng thể đoán trước được một kẻ tiểu nhân độc ác như thế có thể đẩy sự thù hằn đến mức nào.

Trước đó, gã từng chơi khăm tôi một vố cay đắng, khiến hoàng hậu vừa buồn cười vừa bực bội ra mặt, và suýt chút nữa đã sa thải gã ngay lập tức nếu tôi không rộng lượng đứng ra can thiệp. Hôm ấy hoàng hậu ăn món tủy xương, và sau khi đã vét sạch phần tủy bên trong, người đặt chiếc xương dựng đứng trở lại đĩa như cũ; gã lùn chớp lấy thời cơ khi Glumdalclitch đã đi vắng sang bàn phụ, liền trèo lên chiếc ghế đẩu mà cô vẫn đứng để chăm sóc tôi trong bữa ăn, nhúm lấy hai chân tôi rồi ép chặt lại, nhét thốc tôi vào trong ống tủy xương qua phần thắt lưng, khiến tôi kẹt cứng ở đó một hồi lâu và trông vô cùng nực cười. Tôi tin là phải gần một phút sau thì mọi người mới nhận ra tôi đã biến đi đâu, bởi tôi vốn coi thường việc la hét cầu cứu. Nhưng vì các bậc vương giả hiếm khi được ăn đồ nóng, nên chân tôi không bị bỏng, chỉ có tất và quần dài là chịu cảnh tơi tả. Theo lời thỉnh cầu của tôi, gã lùn chỉ phải chịu hình phạt là những roi đòn nhừ tử.

Tôi thường xuyên bị hoàng hậu trêu chọc về bản tính nhút nhát của mình; người hay gặn hỏi xem liệu thần dân ở đất nước tôi có hèn nhát y như tôi hay không. Nguyên do là thế này: vương quốc ấy vào mùa hè có rất nhiều ruồi nhặng quấy rầy; và những con côn trùng đáng ghét ấy, mỗi con to bằng một con chim sơn ca ở Dunstable, cứ vo ve lượn lờ liên tục bên tai, khiến tôi chẳng có lấy một phút yên thân khi ngồi ăn. Thỉnh thoảng chúng đậu lên thức ăn của tôi, để lại những bãi phân hoặc trứng nhớp nhúa mà tôi có thể nhìn rõ mồn một, dù cư dân bản địa với đôi mắt to bản lại chẳng hề sắc bén như tôi trong việc quan sát các vật thể nhỏ bé. Đôi khi chúng sà lên mũi hay trán tôi, đốt cho tôi một vố đau thấu xương kèm theo mùi hôi hám khó chịu; và tôi có thể dễ dàng nhận ra chất nhờn mà các nhà tự nhiên học của chúng tôi vẫn bảo là thứ giúp những sinh vật ấy có thể bám chân bò ngược trên trần nhà. Tôi đã phảiật vật lắm mới chống cự nổi với lũ động vật đáng ghét này, và không tài nào kìm được sự giật mình mỗi khi chúng sà vào mặt. Thói quen thường ngày của gã lùn là tóm lấy một nhúm côn trùng này trong lòng bàn tay hệt như cách lũ học trò ở xứ ta hay làm, rồi bất ngờ thả ra ngay dưới mũi tôi cốt để dọa tôi sợ hãi và làm trò tiêu khiển cho hoàng hậu. Cách giải quyết của tôi là dùng dao chém đứt chúng thành từng khúc ngay khi chúng đang bay lượn giữa không trung — sự khéo léo này từng khiến mọi người vô cùng trầm trồ thán phục.

Tôi nhớ có một buổi sáng, khi Glumdalclitch đặt tôi vào trong một chiếc hộp dựng bên cửa sổ như thường lệ vào những ngày trời đẹp để hít thở khí trời (vì tôi không dám mạo hiểm treo hộp bằng đinh ngoài cửa sổ như cách người ta làm với lồng chim ở Anh), sau khi tôi đã mở tung một cánh cửa sổ lùa và ngồi vào bàn ăn một miếng bánh ngọt cho bữa sáng, hơn hai mươi con ong vò vẽ bị thu hút bởi mùi hương đã bay ào vào phòng, vo ve còn lớn hơn tiếng kêu của hàng chục chiếc kèn túi. Một vài con lao vào giật lấy miếng bánh của tôi và tha đi từng mảnh; số khác lượn lờ quanh đầu và mặt tôi, làm tôi ù tai nhức óc và nơm nớp lo sợ những cú chích của chúng. Dù vậy, tôi vẫn can đảm đứng dậy rút gươm ngắn và tấn công chúng giữa không trung. Tôi hạ gục bốn con, số còn lại tẩu thoát, và tôi liền đóng sập cửa sổ ngay lập tức. Những con côn trùng này to bằng gà gô; tôi gỡ lấy ngòi của chúng, đo được dài tới một inch rưỡi và sắc nhọn như kim. Tôi cẩn thận thu gom lại tất cả; và sau khi đem khoe chúng cùng một vài món đồ kỳ lạ khác ở nhiều nơi trên đất châu Âu, lúc trở về nước Anh, tôi đã tặng ba chiếc cho Viện Gresham và giữ lại chiếc thứ tư cho riêng mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.