Rõ ràng là viên thanh tra cảm thấy vô cùng bối rối, thậm chí có phần khó chịu trước sự biến mất của chiếc hộp đựng thuốc lá, và tôi đoán mình đã nhìn thấu nguyên nhân thực sự khiến ông ta lúng túng. Ông ta từng cười trừ trước vẻ nôn nóng đến mức gần như lú lẫn của ông Cazalette về món đồ đó, coi yêu cầu của cụ chỉ là chuyện vặt; để rồi giờ đây, ông ta bỗng phát hiện ra có kẻ đã dành sự quan tâm đặc biệt cho chiếc hộp thuốc và ranh mãnh nẫng mất nó ngay trước mũi mình – và ông ta đang tức giận chính sự bất cẩn cùng thiếu óc quan sát của bản thân. Tôi không ngần ngại trêu chọc ông ta đôi chút.
"Câu hỏi thứ hai của ông có lẽ rất dễ trả lời," tôi nói. "Món đồ đã bị lấy đi bởi vì ai đó tin rằng, giống như ông Cazalette rõ ràng đang tin hoặc từng tin, có thể có một manh mối nào đó ẩn giấu trong những nét khắc hoặc dấu vết ở mặt trong nắp hộp. Nhưng rốt cuộc ai là kẻ đã tin điều đó và xoay sở để giấu nhẹm chiếc hộp đi – lại là một chuyện hoàn toàn khác hẳn!"
Ông ta trầm ngâm suy nghĩ, rồi chốc lát sau liền gật đầu.
"Tôi có thể nhớ lại tất cả những ai đã ngồi quanh chiếc bàn bày biện những tang vật ấy," ông nhận xét với giọng chắc nịch. "Có hai hoặc ba viên chức như tôi. Có vị bác sĩ của chúng tôi và bác sĩ Lorrimore. Hai hoặc ba quý ông ở vùng này – toàn là thẩm phán; ai tôi cũng biết rõ. Và ở phía cuối bàn có vài phóng viên: tôi cũng biết họ đủ rõ chứ. Giờ thì, trong số đám người đó, ai lại đi làm cái việc ăn cắp – vì rốt cuộc bản chất nó là thế – chiếc hộp đựng thuốc lá này nhỉ? Một thứ hầu như chẳng hề được đả động đến – nếu có chăng – suốt cả buổi điều trắc!"
"Chà, tôi không biết nữa," tôi nhận xét. "Nhưng ông đang quên mất một điều, thanh tra ạ. Đó chính là – sự tò mò!"
Ông ta ngẩn người nhìn tôi – rõ ràng là ông ta không hiểu. Và tôi cũng thấy cô Raven ngơ ngác chẳng kém.
"Có một số người," tôi tiếp lời, "mang trong mình sự thôi thúc – có lẽ là một ham muốn bệnh hoạn – muốn thu thập và sở hữu những di vật, kỷ vật của tội ác và tội phạm. Tôi biết một tay có chiếc tủ kính chứa đầy những thứ như thế – vô cùng tự hào vì sở hữu một cây sáo từng thuộc về Charles Pease; một chiếc ví tìm thấy trên người Frank Muller; một chiếc roi ngựa được cho là của Dick Turpin, và đại loại thế. Làm sao ông biết được rằng một hay vài người trong số những kẻ ngồi quanh cái bàn mà ông vừa nhắc tới lại không mắc chứng cuồng tín kiểu đó và đã hốt quách chiếc hộp đựng thuốc lá như một món kỷ niệm về vụ án ở Ravensdene Court?"
"Tôi không biết," ông đáp. "Nhưng tôi thấy điều đó khó xảy ra: tôi ít nhiều đều biết rõ đám người ấy, và tôi nghĩ họ đều là những kẻ thừa tỉnh táo."
"Dù sao đi nữa, sự thật là món đồ đã mất tích," tôi nhận xét. "Và xin ông thứ lỗi cho khi tôi nói thẳng – ông đang cảm thấy bứt rứt vì sự biến mất của nó đấy."
"Đúng vậy!" ông thành thật thừa nhận. "Và tôi sẽ nói cho anh biết tại sao. Ấy là vì không có sự chú ý đặc biệt nào dành cho nó tại cuộc điều trắc. Theo như tôi nhớ thì nó hầu như không được nhắc tới – nếu có, thì nó chỉ được xem là một chi tiết nhỏ nhoi, không đáng kể giữa những thứ quan trọng hơn: tiền bạc, đồng hồ kèm dây, v.v. Thế mà – có kẻ – có kẻ ở đó! – lại đánh giá nó quan trọng đến mức phải thẫm luôn đi. Do đó, nó lại chính là – thứ mà tôi từng nghĩ là không có gì quan trọng – một vấn đề mấu chốt. Lẽ ra tôi phải cẩn trọng hơn với nó, kể từ khoảnh khắc ông Cazalette lần đầu thu hút sự chú ý của tôi vào những vết khắc bên trong nắp hộp."
"Ông chắc chắn chứ rằng nó đã nằm trên bàn trong buổi điều trắc không?" tôi gợi ý.
"Tôi chắc chắn chứ," ông đáp lại với vẻ đầy quả quyết, "vì tôi nhớ rõ chính tay mình đã bày biện các đồ vật khác nhau. Khi cuộc điều trắc kết thúc, tôi đã dặn cái gã mà anh vừa trông thấy ấy thu gom tất cả lại và niêm phong gói đồ khi gã mang nó về đây. Không – chiếc hộp thuốc lá đó đã bị nhặt lấy – đã bị trộm – khỏi cái bàn đó."
"Vậy thì vụ này còn uẩn khúc lớn hơn những gì phơi bày trước mắt," tôi nói.
"Hiển nhiên là thế," ông đáp. Ông liếc nhìn cô Raven rồi lại nhìn tôi đầy vẻ hoài nghi. "Tôi đoán là vị quý ông lớn tuổi – ông Cazalette – là người đáng tin cậy chứ? Ý tôi là – anh không nghĩ rằng cụ đã phát hiện ra điều gì nhờ vào tài nhiếp ảnh của mình, rồi đang giấu nhẹm đi đấy chứ?"
"Cô Raven và tôi," tôi đáp, "chẳng biết mảy may gì về ông Cazalette ngoài việc cụ là một bậc thầy nổi tiếng về tiền xu và huy chương, một con người vô cùng kỳ lạ ở cái tuổi ấy, và là khách của ông Raven. Còn về việc cụ có giấu giếm kết quả cuộc khảo cứu của mình hay không, tôi dám cá là chẳng ai có thể làm trò đó giỏi hơn cụ đâu!"
"Ừ, tôi cũng đoán thế," viên thanh tra lầm bầm. "Dù sao tôi cũng ước gì cụ chịu nói cho chúng ta biết, nếu cụ đã khám phá ra điều gì. Nhưng chắc là cụ sẽ cứ thong thả theo ý mình thôi nhỉ?"
"Chính xác," tôi nói. "Những người như ông Cazalette luôn là vậy. Thời gian được nhìn nhận bởi những kẻ mang tính cách đặc biệt như cụ theo một cách hơi khác so với cách chúng ta, những kẻ trẻ tuổi hơn, nhìn nhận nó – đã đi qua một đoạn đường dài trên đường đời, họ từ chối bị thúc ép. Chà – tôi cho là ông sẽ tiến hành vài cuộc điều tra về chiếc hộp đó chứ? Nhân tiện, nếu đó không phải là bí mật nghề nghiệp, ông đã nghe ngóng được thêm gì về vụ việc ở Saltash chưa?"
"Họ chẳng tìm ra thêm được một tí gì," ông đáp, vừa lắc đầu. "Vụ đó cũng bí ẩn chẳng kém vụ này!"
"Theo góc nhìn của ông, ông nghĩ thế nào về cả hai vụ việc?" tôi hỏi, cốt để làm vui lòng cô Raven hơn là thỏa mãn sự tò mò của chính mình – tôi biết cô đang rất tò mò về vụ án kép này. "Ông đã rút ra được kết luận nào chưa?"
"Tôi đã ngẫm nghĩ rất nhiều về nó," ông đáp. "Tôi thấy rằng hai anh em nhà Salter và Noah Quick là những kẻ có cái gọi là quá khứ, và dường như có một bí ẩn kỳ lạ nào đó ẩn giấu trong đó – có lẽ liên quan đến tiền bạc. Tôi nghĩ rằng trong những ngày cuối đời, họ đã bị săn đuổi, bị bám đuôi, hay gọi là gì tùy anh, bởi một vài đồng cũ của họ, những kẻ đã sát hại họ với kỳ vọng vớ được thứ gì đó – giấy tờ hay đại loại thế. Và điều tôi muốn biết chính là – tại sao Salter Quick lại lặn lội đến đây, đến cái góc đặc biệt này của miền Bắc?"
"Anh ta nói là – để tìm mồ mả tổ tiên bên ngoại, dòng họ Netherfield," tôi đáp.
"Ừ, chà!" viên thanh tra nhận xét, gần như với vẻ đắc thắng. "Tôi biết anh ta đã nói thế – nhưng tôi đã cho tiến hành những cuộc điều tra cẩn trọng nhất. Chẳng có cái tên nào như thế ở bất kỳ nghĩa trang nào trong vùng này cả. Chẳng có cái tên họ nào như vậy trong bất kỳ sổ bộ giáo xứ nào từ vịnh Alnmouth cho đến bãi cát Fenham – mà đó là một khoảng không gian khá rộng lớn đấy! Tôi đã bắt tay vào cuộc điều tra đó ngay khi anh kể cho tôi nghe về cuộc gặp đầu tiên của anh với Salter Quick, và mọi linh mục quản nhiệm lẫn thư ký giáo xứ trong vùng – thậm chí ở xa hơn nữa – đều đã vào cuộc. Cái tên Netherfield hoàn toàn không hề tồn tại – dù là trong quá khứ hay hiện tại."
"Thế mà," cô Raven đột ngột chen vào, "không chỉ một mình Salter Quick đi tìm mồ mả của dòng họ Netherfield! Vẫn còn một kẻ khác nữa."
Viên thanh tra dành cho cô một cái nhìn đầy tán thưởng.
"Chi tiết bí ẩn nhất của toàn bộ vụ án!" ông thốt lên. "Cô nói đúng, cô Raven! Vẫn có một kẻ khác nữa – cũng hỏi về những thông tin y hệt. Hắn ta là ai? Hắn đang ở đâu? Giá mà tôi tóm cổ được hắn——"
"Ông nghĩ rằng mình sẽ tóm được kẻ sát hại Salter Quick ư?" tôi sắc bén hỏi lại.
Trước sự ngạc nhiên của tôi, ông cũng nhìn tôi sắc bén không kém và lắc đầu.
“Tôi không hề chắc chắn về điều đó đâu, anh Middlebrook,” ông điềm tĩnh đáp. “Hoàn toàn không chắc! Nhưng tôi nghĩ mình có thể khai thác được từ hắn một số thông tin mà tôi rất muốn có được.”
Cô Raven và tôi đứng dậy cáo từ; viên thanh tra tiễn chúng tôi ra tận cửa đồn cảnh sát. Và khi chúng tôi đang cảm ơn sự lịch thiệp của ông, một người đàn ông đi dọc con phố bước tới, dừng lại ngay gần chỗ chúng tôi, tò mò nhìn tòa nhà mà chúng tôi vừa bước ra và nhìn cả bộ dạng nửa cảnh phục của người đồng hành cùng chúng tôi. Cuối cùng, khi chúng tôi chuẩn bị quay bước đi, hắn đưa tay chạm vành mũ.
“Xin lỗi các vị,” hắn nói; “đây có phải là văn phòng cảnh sát không ạ?”
Giọng điệu của người đàn ông ấy phảng phất một vẻ khiến tôi nghĩ rằng hắn đến đây với một mục đích cụ thể nào đó, và tôi nhìn hắn chăm chú hơn. Hắn là một kẻ hơi thấp, vạm vỡ, khuôn mặt trông như loài chó săn, ánh mắt và đôi môi bộc lộ vẻ thẳng thắn; chẳng có chút nhan sắc nào, bởi hắn sở hữu một mái tóc đỏ hoe bù xù cùng bộ râu lún phún mọc ba bốn ngày chưa cạo trên má và cằm; thế nhưng vẻ bộc trực hiện rõ cùng ánh nhìn kiên định phần nào tô vẽ hắn thành một người lương thiện. Trang phục của hắn thô ráp; vương vãi trên đó vài cọng rơm, cỏ khô và mộc vụn, như thể hắn rất rành rỗi với đời sống nhà nông; tay phải hắn cầm một cây gậy bằng gỗ tần bì chắc nịch.
“Anh nói đúng đấy, bạn tôi ạ,” viên thanh tra đáp. “Chính là nó! Anh muốn gì nào?”
Người đàn ông ngước nhìn lên bậc thềm, nhìn người cung cấp thông tin với một ánh mắt đượm vẻ hài hước rõ rệt. Dường như có điều gì đó trong tình huống này khiến hắn cảm thấy thú vị.
“Các người sẽ không biết tôi đâu,” hắn đáp. “Tên tôi là Beeman – James Beeman. Tôi đến từ vùng gần York. Tôi chính là gã đã được một trong các nhân chứng nhắc đến tại cuộc điều trắc về kẻ kỳ lạ bị sát hại ở quanh vùng này. Lẽ ra tôi đã ghé qua gặp các ông về chuyện đó từ trước rồi, ngặt nỗi tôi vừa mới quay trở lại vùng này; tôi mãi tận trên đồi Cheviot trển cơ.”
“Ồ?” viên thanh tra thốt lên. “Và – người ta đã nhắc đến anh như thế nào?”
James Beeman nhe hàm răng trắng đều trong một nụ cười toe toét dường như kéo dài đến tận mang tai trên khuôn mặt thuần phác của hắn.
“Tôi chính là cái gã bị đồn là đi hỏi han về mồ mả của gia đình Netherfield,” hắn đáp. “Các ông biết đấy – bên vệ đường vào một đêm nọ, hỏi một gã mà tôi tình cờ gặp ngoài Lesbury ấy mà. Tôi là kẻ đó đấy!”
Viên thanh tra quay sang cô Raven và tôi với một cái nhìn hàm chứa nhiều điều hơn những gì ông có thể diễn tả bằng lời.
“Trùng hợp làm sao chứ!” ông thì thầm. “Đây chính là kẻ mà chúng ta vừa mới nhắc tới. Hãy quay lại văn phòng của tôi và nghe xem hắn có gì để kể nào. Theo tôi,” ông tiếp tục, ra hiệu cho vị khách gọi. “Tôi rất cảm ơn vì anh đã ghé đến. Nào,” ông tiếp tục khi cả bốn chúng tôi đã bước vào căn phòng của mình. “Anh có thể kể cho tôi nghe về chuyện đó không? Anh biết gì về ngôi mộ của dòng họ Netherfield?”
Beeman cười lớn, lắc lắc cái đầu tròn vo. Giờ đây khi chiếc mũ cũ đã được cởi ra, sắc đỏ rực như lửa trên đỉnh đầu hắn trông gần như đáng sợ bởi độ thuần khiết đến chói lọi của nó.
“Không biết gì ráo,” hắn nói. “Chẳng biết gì sất! Tôi sẽ kể cho các ông nghe toàn bộ sự thật – ấy là lý do tôi đến đây, khi nghe tin các ông đang thắc mắc tôi là ai và đã biến đi đằng nào. Tôi lên đây – vâng, đúng là vào ngày sáu tháng Ba – để lo liệu vài đàn cừu cho chủ tôi, ông Dimbleby, và tôi trọ lại đêm đầu tiên ở một quán trà kiêm nhà trọ tại Alnwick trển. Nhưng ngặt nỗi, mấy quán trà trọ kiểu đó thì chỉ tiện để ngủ và ăn sáng thôi, chứ chẳng thích hợp cho việc gì khác, thế nên sau khi dùng trà ở đó xong, tôi liền đi dọc phố tìm một quán rượu đàng hoàng, nơi tôi có thể nhấm nháp tẩu thuốc và làm một hai ly. Và trong lúc tôi ở đó, có một kẻ bước vào mà qua miêu tả trên báo chí thì đích thị là cái gã xấu số đã bị sát hại này. Tôi chẳng nói chuyện câu nào với hắn, nhưng lát sau, tôi nghe hắn trò chuyện với chủ quán. Và sau một hồi đôi co về chuyện câu cá quanh vùng này, tôi nghe hắn hỏi chủ quán – vốn là một tay sát cá cừ khôi và rành rành mọi ngõ ngách ở vùng quê – xem ông ta có biết bất kỳ địa điểm nào, nghĩa trang nào có dòng họ Netherfield được chôn cất không? Hắn ta cứ nhắc đi nhắc lại về bọn họ đến mức cái tên đó hằn sâu vào tâm trí tôi. Hôm sau, tôi có việc bận ngoài Alnwick, ghé qua vài trang trại, và tối hôm đó tôi tiến sâu hơn về phía bắc để trọ lại Embleton. Thế rồi, khi tôi đang rảo bước về hướng đó, lúc trời đã sẩm tối, tôi tình cờ gặp một kẻ gần Lesbury, đi chung một đọan đường với hắn, và nhân tiện thấy hắn là người bản xứ, tôi bèn hỏi xem hắn có biết chút gì về mấy ngôi mộ của dòng họ Netherfield không. Và chắc chắn đó chính là cái gã đã khai với các ông rằng hắn từng gặp một kẻ như thế. Đúng thế đấy! – tôi chính là kẻ đó đây.”
“Vậy ra anh chỉ tò mò nên mới hỏi câu hỏi đó thôi sao?” viên thanh tra gợi ý.
“Ừ – chẳng qua vì tôi vừa nghe gã lạ mặt kia gặng hỏi,” Beeman đồng tình. “Tôi chỉ thắc mắc không biết đó có phải là dòng tộc danh gia vọng tộc nào không thôi.”
“Anh chưa từng gặp lại người mà anh bảo đã thấy ở Alnwick sao?” viên thanh tra hỏi. “Và cũng không có cuộc trò chuyện trực tiếp nào với chính hắn ư?”
“Chưa từng gặp lại gã đó, cũng chẳng nói chuyện câu nào với hắn,” Beeman đáp. “Hắn nốc một hai ly rum rồi đi mất. Nhưng tôi đoán hắn chính là kẻ đã bị sát hại.”
“Và anh đã đi đâu, kể từ khoảng thời gian anh vừa kể cho chúng tôi nghe?” viên thanh tra hỏi.
“Đi thẳng một mạch ngang qua vùng này,” Beeman sẵn sàng đáp. “Tôi đi ngang qua Chillingham và Wooler, rồi tiến về phía trước tới vài trang trại ở vùng Cheviot, và quay về theo ngõ Alnham với Whittingham để đến Alnwick. Và rồi tôi nghe ngóng được toàn bộ sự việc này, thế nên tôi nghĩ tốt hơn là nên đến và kể cho các ông nghe những gì ít ỏi mà tôi biết.”
“Tôi rất biết ơn anh, anh Beeman,” viên thanh tra nói. “Dù sao thì anh cũng đã làm sáng tỏ được đôi điều. Anh còn định ở lại vùng này lâu nữa không?”
“Tôi sẽ ở đây – ít ra là ở Alnwick trển, tại quán trọ – thêm hai ba ngày nữa, trong lúc tôi gom lại số cừu mà tôi đã tậu cho chủ mình ở trang trại này qua trang trại khác,” Beeman đáp. “Rồi tôi sẽ đi. Nhưng nếu các ông cần tìm tôi, tại phiên tòa Assizes hay bất cứ việc gì đại loại thế, địa chỉ của tôi là James Beeman, quản lý của ông Thomas Dimbleby, điền trang Cross-houses, York.”
Khi con người thẳng thắn và bộc trực ấy rời đi, viên thanh tra nhìn cô Raven và tôi bằng ánh mắt ngầm chứa đựng rất nhiều điều.
“Điều đó giải quyết xong một vấn đề và dường như xác lập thêm một vấn đề khác,” ông nhận xét đầy ẩn ý. “Salter Quick không bị sát hại bởi kẻ đã đặt chân đến vùng này với cùng mục đích như hắn ta. Hắn bị sát hại bởi một kẻ đã – có mặt ở đây từ trước!”
“Và là kẻ đã chạm mặt hắn?” tôi gợi ý.
“Và là kẻ đã chạm mặt hắn,” viên thanh tra đồng tình. “Và giờ thì tôi càng nôn nóng muốn biết liệu có uẩn khúc gì trong cái thuyết về chiếc hộp đựng thuốc lá của ông Cazalette hay không. Hai người trẻ tuổi các bạn không thể nịnh nọt ông Cazalette để cụ tiết lộ chút ít sao? Chắc chắn cụ sẽ nể tình cô Raven chứ?”
“Có những lúc ông Cazalette rất dễ tiếp cận,” cô Raven đáp. “Nhưng cũng có những lúc khác mà tôi thà đi đặt câu hỏi với tượng Phân-nhân còn hơn.”
“Đợi đã!” tôi nói. “Tôi đinh ninh rằng ông Cazalette biết điều gì đó. Và giờ thì – các người đã biết nhiều hơn trước. Một bí ẩn đã trôi tuột đi mất.”
“Nó càng làm cho bí ẩn lớn nhất trở nên đen tối hơn,” viên thanh tra đáp. “Trong số tất cả những kẻ ở vùng này, biết nghi ngờ ai đây? Thế mà – có vẻ như Salter Quick đã gặp phải một kẻ nào đó ở đây, kẻ mà sự hiện diện của hắn lại phiền toái đến mức chẳng còn cách nào khác ngoài việc – ban cho cái chết nhanh gọn và chắc chắn! Tại sao? Chà – cái chết mới đảm bảo được sự im lặng.”
Cô Raven và tôi cáo từ lần thứ hai. Chúng tôi đi được một quãng xa khỏi đồn cảnh sát trước khi thốt lên một lời: tôi không biết cô đang nghĩ gì; phần tôi, tôi đang mải suy ngẫm về sự thay đổi trong quan điểm của mình do lời khai mộc mạc, thẳng thừng của gã người Yorkshire cộc cằn mang lại. Bởi cho đến lúc đó, tôi vẫn đinh ninh rằng kẻ từng chặn đường người bạn của chúng tôi ở Mariner's Joy, Jim Gelthwaite – gã thợ lùa gia súc, chính là kẻ đã sát hại Salter Quick. Suy nghĩ của tôi là kẻ đó, dù là ai đi nữa, đã tề tựu đâu đó cùng Quick, rằng họ quen biết nhau và có chung một mục đích, và rằng hắn đã dùng dao đâm chết Quick vì mục đích cá nhân của mình. Thế mà giờ đây ý tưởng đó đã tan thành mây khói, và theo những gì tôi thấy, cuộc săn lùng hung thủ đích thực vẫn còn chưa bắt đầu.
Bất chợt cô Raven lên tiếng.
“Chắc là không đời nào có chuyện hung thủ lại có mặt trong buổi điều trắc đó chứ nhỉ?” cô hỏi, nửa rụt rè như thể sợ tôi cười trừ trước gợi ý của cô.
“Hoàn toàn có thể chứ,” tôi nói. “Nơi đó chật ních người đến nghẹt thở đủ mọi thành phần. Nhưng tại sao chứ?”
“Tôi nghĩ biết đâu hắn đã xoay sở để lấy cắp chiếc hộp đựng thuốc lá đó, vì thừa biết rằng chừng nào nó còn nằm trong tay cảnh sát thì chừng đó vẫn còn tồn tại manh mối về danh tính của mình,” cô gợi ý.
“Ý kiến hay đấy!” tôi đáp. “Nhưng có đúng một điểm vướng mắc ở đây. Nếu hung thủ đã biết điều đó, nếu hắn cảm thấy như vậy, hắn đã vớ lấy cái hộp ngay khi lục soát quần áo của Quick rồi, và chắc chắn là hắn đã làm thế.”
“Phải rồi!” cô thừa nhận. “Lẽ ra tôi phải nghĩ đến điều đó. Nhưng có quá nhiều thứ phải bận tâm liên quan đến vụ án này – những sợi chỉ đan xen lẫn nhau.”
“Cô đã suy nghĩ rất nhiều về nó phải không?” tôi hỏi.
Cô không đáp lời trong chốc lát, và tôi lặng thờ chờ đợi.
“Tôi nghĩ chẳng mấy dễ chịu gì khi biết rằng ngay trước thềm nhà mình xảy ra một vụ án mạng vô cùng tàn bạo mà dẫu có biết bao điều đi nữa, hung thủ vẫn có thể đang lẩn khuất đâu đây,” cuối cùng cô nói. “Có một cảm giác bất an thật khó chịu bao trùm lên vụ việc này. Tôi biết bác Francis đang vô cùng phiền muộn vì nó.”
Tôi ngạc nhiên nhìn cô. Tôi chưa từng thấy dấu hiệu lo lắng rõ rệt nào ở ông Raven cả.
“Tôi không để ý thấy điều đó,” tôi nói.
“Có lẽ vậy,” cô đáp. “Nhưng tôi hiểu bác ấy rõ hơn. Bác ấy là một người cực kỳ hay lo xa. Anh có biết rằng kể từ khi chuyện này xảy ra, bác ấy đâm ra có thói quen đi vòng quanh nhà mỗi đêm, kiểm tra từng cánh cửa ra vào và cửa sổ không? – Và – bác ấy đã bắt đầu mang theo cả súng lục.”
Tuyên bố cuối cùng khiến tôi phải suy nghĩ. Tại sao ông Raven lại phải mong đợi – hay nếu không mong đợi, thì lại sợ hãi một cuộc tấn công nhằm vào bản thân mình nhỉ? Nhưng trước khi tôi kịp đưa ra bất kỳ bình luận nào về thông tin người bạn đồng hành vừa cung cấp, sự chú ý của tôi đã bị hướng sang chuyện khác. Suốt buổi chiều hôm đó, thời tiết đã manh nha chuyển biến xấu – có sấm sét vần vũ đâu đây. Và giờ đây, với tốc độ đáng sợ, một tia chớp xé toạc bầu không khí theo sau là một tiếng sét đinh tai nhức óc, và ngay lập tức trút xuống một trận mưa như trút nước. Tôi liếc nhìn bộ trang phục mỏng manh của cô Raven – dẫu hãy còn là đầu xuân, thời tiết đã oi bức suốt hơn một tuần nay, và cô đã diện những bộ đồ chắc chắn sẽ ướt sũng chỉ trong chớp mắt. Nhưng ngay lúc đó, chúng tôi đang ở sát một ngôi nhà gạch đỏ cổ kính, nằm cách mặt đường chỉ tầm một thước và bị ngăn cách bởi một dải vườn hoa nhỏ xíu. Nơi đó có một vòm cửa sâu thẳm, và không cần khách sáo, tôi đẩy phăng cánh cổng nhỏ phía trước, kéo cô Raven vào trú ẩn bên trong. Chúng tôi chưa đứng đó được dăm giây, lưng quay về phía cánh cửa (mà tôi chẳng hề nghe tiếng mở), thì một giọng nói ngọt ngào, êm dịu vang lên sát bên tai đang giật thột của tôi.
“Các vị không bước vào trong nhà để tránh bão sao?”
Quay phắt người lại, tôi ngẩn ngơ bắt gặp đôi mắt híp tịt cùng khuôn mặt già nua ngả màu da thuộc của một lão người Tàu đang mỉm cười.