Dinh Thự Ravensdene Court

Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
Solomon Fish

❊ ❊ ❊

Chỉ cần nhìn lướt qua vị khách của Scarterfield là tôi đủ biết anh ta là một người từng bươn chải ngoài khơi xa. Từ mái tóc lẫn bộ râu điểm bạc cho đến đôi bàn tay to lớn, vạm vỡ cùng vóc dáng vuông vức, tất cả ở anh ta đều phảng phất hương vị của biển khơi và gió lộng; anh ta trông giống như kiểu người suốt đời ngắm nhìn đại dương bao la và chiến đấu với những cuồng nộ của thiên nhiên. Lúc ấy, ẩn trong đôi mắt xanh sắc sảo của anh ta là vẻ hoài nghi — rõ ràng anh ta đang tự hỏi, với sự đa nghi vốn có của một tâm hồn chất phác, không biết Scarterfield đang mưu tính chuyện gì.

– Anh tìm tôi đấy chứ? – viên thám tử lên tiếng.

Người đàn ông liếc nhìn từ người này sang người khác giữa chúng tôi, đoạn hất ngón tay cái về phía khoảng không gian ngoài cánh cửa mở rộng sau tấm lưng lực lưỡng.

– Bà Ormthwaite, – hắn vừa nói vừa hơi cúi người về phía Scarterfield. – Bà ấy bảo rằng có một vị quý ông đang trọ ở căn nhà này và đang dò la, bác thấy đấy, về Netherfield Baxter, kẻ từng sống ở quanh vùng này. Thế là tôi đến đây.

Scarterfield liền huých khuỷu tay vào người tôi. Không nói một lời, hắn quay người đi về phía cửa phòng hút thuốc, ra hiệu cho vị khách đi theo. Tất cả chúng tôi bước vào góc phòng nơi vào chiều hôm trước, Scarterfield đã kể cho tôi nghe về những cuộc điều tra và phát hiện của hắn ở Blyth. Hiển nhiên là giờ đây tôi sắp được nghe thêm nhiều điều nữa. Thế nhưng, Scarterfield không đòi hỏi thêm bất kỳ thông tin nào cho đến khi đã khoản đãi người bạn đồng hành của chúng tôi một ly rum cùng một điếu xì-gà, và câu hỏi đầu tiên của hắn mang tính chất cá nhân.

– Thế tên anh là gì? – hắn gặng hỏi.

– Fish, – vị khách đáp ngay lập tức. – Solomon. Ai mà chẳng biết.

– Chắc hẳn là người Blyth rồi, – Scarterfield gợi ý.

– Sinh ra và lớn lên ở đây, thưa ngài, – Fish nói. – Và sống ở đây mãi — trừ những lúc tôi đi vắng, mà ngẫm lại thì thời gian ấy cũng kha khá. Nhưng dù là bắc hay nam, đông hay tây, hễ đặt chân lên đất liền là tôi lại tìm về chốn cũ. Ý tôi là — khi ở đất nước này.

– Thế thì anh hẳn phải biết Netherfield Baxter chứ? – Scarterfield hỏi.

Fish xua xua điếu xì-gà.

– Từ khi còn là đứa trẻ sơ sinh — thời niên thiếu — cho đến lúc trưởng thành, – hắn quả quyết. – Hồi nhỏ tôi từng đẽo cho cậu ta không biết bao nhiêu chiếc thuyền đồ chơi, lớn lên chút nữa thì dạy cậu ta câu cá, rồi cùng đi khơi trên chiếc thuyền buồm nhỏ của cậu ấy thời niên thiếu. Biết chứ? Chẳng khác nào tôi biết chính mẹ ruột mình vậy!

– Ra vậy, – Scarterfield gật đầu ra chiều thấu hiểu. – Chắc chắn rồi! Dĩ nhiên là anh biết rất rõ về Baxter.

Hắn dừng lại một lát, rồi chồm người qua chiếc bàn mà ba chúng tôi đang ngồi quanh.

– Thế lần cuối cùng anh gặp cậu ta là khi nào? – hắn hỏi.

Trái với dự đoán của tôi, Fish bật cười. Đó là một tiếng cười kỳ lạ. Trong tiếng cười ấy phảng phất sự hoài nghi, nét bối rối và một vẻ mơ hồ; nó cho thấy anh ta đang vô cùng khó hiểu.

– Ồ, một lần á? – hắn đáp. – Chính là thế đấy, thưa ngài. Và tôi xin hỏi ngài — cùng với vị quý ông đây, mà tôi đoán là bạn của ngài và rất đáng tin cậy — tôi xin hỏi, liệu một người có thể tin tưởng chính đôi mắt và đôi tai của mình được không? Nào, nói xem nào, thưa ngài?

– Tôi vẫn luôn tin tưởng chúng, Fish, – Scarterfield đáp.

– Tôi cũng thế, thưa ngài, cho đến tận dạo gần đây, – Fish đáp lời. – Nhưng giờ thì tôi chẳng còn dám chắc chắn về điều đó nữa rồi! Bởi vì, theo như mắt tôi thấy, và theo như tai tôi nghe, thì tôi đã nhìn thấy Netherfield Baxter, và tôi đã nghe thấy tiếng của Netherfield Baxter, cách đây chưa đầy ba tuần lễ!

Hắn đập mạnh bàn tay to lớn xuống mặt bàn một cái thật kêu khi thốt lên những từ cuối cùng; âm thanh ấy vừa dứt thì bao trùm lấy căn phòng là một sự im lặng chết chóc, trong đó Scarterfield và tôi nhanh chóng trao đổi ánh nhìn cho nhau. Fish cầm chiếc ly thủy tinh lên, nốc cạn phần nước bên trong rồi đặt mạnh xuống bàn cái rụp.

– Thật như lời Chúa! – hắn thốt lên.

– Rằng anh đã thực sự nhìn thấy cậu ta ư? – Scarterfield hỏi.

– Thật như lời Chúa, thưa ngài, nếu như mắt với tai này còn tin được thì tôi đã tận mắt thấy và tận tai nghe thấy cậu ta rồi! – Fish quả quyết. – Chỉ có điều, – hắn tiếp lời sau một khoảng lặng, trong đó hắn trừng trừng nhìn chăm chú, hết nhìn tôi rồi lại sang Scarterfield. – Chỉ có điều — hắn lại nói rằng hắn không phải là hắn! Anh hiểu chứ? Tự chối bỏ cả chính mình!

– Ý anh là kẻ mà anh đinh ninh là Baxter đã bảo rằng anh nhầm người, và hắn không phải là Baxter, – Scarterfield gợi ý. – Ý anh là vậy phỏng?

– Ngài nói rõ ý lắm, thưa ngài, – Fish đồng tình. – Sự tình đúng là như vậy đấy. Nhưng nếu kẻ mà tôi nhắc tới không phải là Netherfield Baxter, thì thị lực của tôi chẳng bằng điếu xì-gà này, và thính lực của tôi cũng chẳng hơn gì chiếc ly kia! Thật đấy!

– Nhưng tôi cho rằng trước đó anh chưa từng có lý do gì để nghi ngờ cả hai giác quan ấy cả, – Scarterfield nói. – Và bây giờ anh cũng chẳng muốn nghi ngờ chúng. Thôi được rồi, chúng ta quay lại công việc chính đi. Anh thực sự tin rằng, Fish, là mình đã gặp Netherfield Baxter vào khoảng ba tuần trước chứ? Chừng ấy thời gian, đúng không nào? Đừng bận tâm đến những gì gã đó nói — anh vẫn đinh ninh hắn chính là Baxter. Nào, việc đó diễn ra ở đâu?

– Hull! – Fish đáp. – Vào đúng ngày thứ Sáu cách đây ba tuần.

– Trong hoàn cảnh nào? – Scarterfield hỏi. – Hãy kể chúng tôi nghe xem nào.

– Câu chuyện cũng chẳng dài dòng gì cho cam, – Fish nhận xét. – Và xét thấy, theo lời góa phụ Ormthwaite, các ngài đang dò la về Baxter, thì tôi chẳng ngại kể lại, bởi vì tôi đã vô cùng bối rối kể từ dạo nhìn thấy gã này. Số là, tôi cập cảng Hull sau chuyến hải trình cuối cùng — đi vùng biển phương Đông rồi quay về trên một con tàu buôn thuộc quyền sở hữu của các chủ tàu ở Hull. Và trước khi trở về Blyth này, tôi la cà ở cái cảng đó mất một hoặc hai ngày với một người bạn đồng ngũ cũ mà tôi tình cờ gặp ở đó. Thế rồi vào một buổi sáng — như tôi đã nói, đúng vào thứ Sáu cách đây ba tuần — tôi và người bạn của tôi, tên là Jim Shanks, người ở Hartlepool, và anh ta có thể làm chứng, như người ta vẫn hay nói, cho những gì tôi kể — chúng tôi ghé vào một quán xá cổ kính nào đó ở Hull, nằm trong một con hẻm nhỏ cắt ngang Phố High — chắc các ngài rành Hull lắm nhỉ?

– Tôi chưa từng đặt chân tới đó, – Scarterfield đáp.

– Còn tôi thì rồi, – tôi lên tiếng. – Tôi biết rất rõ — nhất là khu Phố High.

– Thế thì ngài thừa biết, thưa ngài, là xung quanh khu Phố High ấy vẫn còn rất nhiều chốn cổ kính kỳ lạ xưa cũ y hệt như bản chất của nó vậy, – Fish tiếp lời. – Tôi và bạn tôi, Shanks, biết một quán, nơi chúng tôi vẫn thường lui tới trong những năm tháng trước kia — quán ngỗng và Cần Cẩu, một chốn ấm cúng bậc nhất mà ngài có thể tìm thấy ở bất kỳ thị trấn cảng nào trên đất nước này. Có lẽ ngài biết chứ?

– Tôi đã nhìn thấy nó từ bên ngoài, Fish, – tôi đáp. – Một mặt tiền cổ kính tuyệt đẹp — xây bằng gỗ nửa khung.

– Đúng thế đấy, thưa ngài — và bên trong còn dễ chịu bao nhiêu thì bên ngoài lại độc đáo bấy nhiêu, – hắn nói. – Chà, tôi và bạn tôi bước vào đó để làm ly nước buổi sáng, rồi tiến vào một căn phòng nơi các ngài có thể gặp gỡ vài vị khách thú vị vào tầm giờ đó trong ngày. Trên cửa căn phòng đó có một tấm biển, thưa các ngài, đề chữ “Chỉ Dành Cho Các Thuyền Trưởng,” nhưng đó là một thứ đồ cổ để lâu năm và chẳng cần phải bận tâm làm gì — tôi và Shanks đâu phải là thuyền trưởng, dẫu bề ngoài trông chúng tôi cứ như thế trong bộ đồ đi biển, và chúng tôi vẫn luôn dùng căn phòng ấy mỗi khi đặt chân đến Hull. Chà, giờ thì chúng tôi gọi đồ uống cùng xì-gà, rồi ngồi xuống một góc yên tĩnh để tận hưởng và quan sát những vị khách ghé qua. Thật lòng với các ngài là có đủ loại khách khứa kỳ quặc lui tới chốn đó, và người ta có thể nghe được vô số câu chuyện kỳ lạ về cuộc sống đi biển. Dẫu sao đi nữa, chẳng có gì đặc biệt đập vào mắt tôi buổi sáng hôm đó cho đến khi trời gần đến giờ ăn trưa, và tôi với Shanks đang tính toán chuyện lên đường về nhà trọ — nơi chúng tôi đã đặt trước một bữa trưa thịnh soạn để kỷ niệm ngày hội ngộ vui vẻ — thì bỗng gã mà tôi đang nhắc tới bước vào. Và nếu gã đó không phải là Netherfield Baxter, người mà tôi đã quen biết từ hồi cậu ta còn cao bằng sáu xu tiền đồng, thì tôi xin cam đoan là mắt với tai của một con người chẳng thể tin được nữa!

– Này Fish! – Scarterfield lên tiếng, nãy giờ vẫn chăm chú lắng nghe. – Tốt nhất là anh hãy miêu tả lại gã này cho chúng tôi nghe đi. Hãy kể càng chi tiết càng tốt xem hắn trông thế nào — ý tôi là, tất nhiên rồi, gã mà anh đã thấy ở quán Ngỗng và Cần Cẩu.

Vị khách của chúng tôi dường như đang tập trung lại tâm trí. Hắn nhấp thêm ngụm nước và rít thêm vài hơi xì-gà.

– Chà, – hắn nói, – chuyện đó không phải sở trường của tôi, vì tôi đâu phải là người học rộng tài cao, nhưng tôi có thể phác họa đôi nét chung, bác thấy đấy, thưa ngài. Một gã cao gầy, ưa nhìn, nếu phụ nữ thì chắc sẽ gọi là đẹp trai, kiểu một gã phóng khoáng, ngài hiểu chứ. Ăn mặc rất lịch sự. Bộ đồ bằng vải sơ-mi xanh — chất liệu tốt, còn mới. Đội mũ rơm — có dải băng đen. Giày nâu — đánh si bóng loáng. Trông chẳng khác nào một tay công tử bột — hệt như Netherfield ngày trước, ngay cả khi hắn đã tiêu sạch tiền của. Đúng là một tay quý ông! Chúa phù hộ cho các ngài, tôi nhận ra hắn ngay, dù đã mấy năm rồi không gặp và dù hắn đã để râu!

– Để râu, hửm — – Scarterfield ngắt lời.

– Râu quai nón và để ria mép, – Fish xác nhận.

– Màu gì? – Scarterfield hỏi.

– Màu mà ngài có thể gọi là nâu vàng, – Fish đáp. – Bộ râu được tỉa — nhọn ở cằm. Trông rất hợp với hắn.

Scarterfield rút cuốn sổ tay ra và lấy ra một bức ảnh đã hơi phai màu — chụp một thanh niên khá bảnh bao, ưa nhìn, đang đứng cạnh một con chó săn cáo. Hắn đưa nó cho Fish.

– Đây có phải là Baxter không? – hắn hỏi.

– Phải! — y hệt như hồi hắn còn trẻ, – Fish nói. – Tôi thừa nhận điều đó — trước kia nó từng là một trong những bức ảnh trưng bày ở cửa sổ tiệm chụp ảnh dưới con phố ngay ngoài kia. Nhưng giờ đây, bác thấy đấy, hắn đã để râu. Ngoài điểm đó ra — thì vẫn y nguyên!

– Thế nào? – Scarterfield hỏi. – Chuyện gì đã xảy ra? Gã này bước vào. Hắn đi một mình à?

– Không, – Fish đáp. – Hắn đi cùng hai gã khác. Một gã tầm tuổi hắn, cũng bảnh bao và ăn mặc tương tự. Gã còn lại lớn tuổi hơn, tay áo xắn lên và đầu trần — có vẻ như hắn đã đưa Baxter và bạn hắn từ cửa hàng nào đó sang đây để thết đãi một ly. Dù sao đi nữa, hắn đúng là đã gọi đồ uống — rượu whisky pha soda — và cả ba đứngụ chụm lại nói chuyện với nhau. Và ngay khi nghe thấy giọng nói của Baxter, tôi chắc chắn đến chết đi được rằng đó chính là hắn — cậu ta vốn có chất giọng hơi cao, nói năng theo kiểu của những vị quý ông, ngài hiểu chứ, vì tất nhiên rồi, cậu ta vốn được nuôi dạy theo lối đó — được giáo dục cao cấp, ngài hiểu chứ?

– Ba người đó đang nói chuyện gì vậy? – Scarterfield hỏi.

– Theo như tôi có thể ngấm ngứm nghe được thì là về các phụ kiện tàu thủy, – Fish đáp. – Đại loại thế, nhưng tôi chẳng để tâm lắm đến chuyện họ nói; tôi mải mê quan sát Baxter, và càng lúc càng đinh ninh hơn từng phút, ngài thấy đấy, rằng đó chính là cậu ta. Và ngoại trừ việc mấy năm trôi qua cũng tạo ra chút khác biệt, cùng với việc hắn đã để râu, tôi chẳng thấy có sự thay đổi lớn nào ở hắn cả. Tuy nhiên, tôi nhận ra một điều.

– Ồ? – Scarterfield hỏi. – Chuyện gì thế?

– Một vết sẹo trên má trái của hắn, – Fish đáp. – Bắt đầu từ phía dưới bộ râu, vốn che kín hầu hết phần đó, và kéo ngược lên gò má. Chỉ lộ ra chừng một inch thôi, ngài hiểu chứ? “Đó là tác phẩm của dao găm đây!” tôi thầm nghĩ trong đầu. “Má của cậu nhóc đã bị rạch một nhát dao ở đâu đó và bằng cách nào đó rồi!” Lúc ấy tôi chợt nghĩ rằng hắn để râu là để che giấu nó.

– Rất có thể, – Scarterfield đồng tình. – Chà, thế rồi chuyện gì xảy ra? Anh đã nói chuyện với gã này chứ?

– Tôi đứng chờ và quan sát, – Fish tiếp lời. – Tôi là kẻ được huấn luyện để biết cách sử dụng đôi mắt của mình. Giờ thì tôi nhận ra hai hay ba điểm nhỏ ở gã này hoàn toàn trùng khớp với những gì tôi nhớ về Baxter. Có một thói quen hất cằm lên — nó đây rồi! Một thói quen khác là nghịch chuỗi dây đồng hồ khi nói chuyện — nó cũng ở đó! Và thói quen đập đùi bằng chiếc gậy đi bộ — điều đó cũng xuất hiện luôn! “Jim!” tôi bảo bạn tôi, “nếu đây không phải là kẻ tao từng quen biết, tao xin làm người Hà Lan gốc!” Mà ngài biết đấy, tôi đâu phải người Hà Lan. Thế là, khi cả ba đặt ly xuống và quay người hướng ra cửa, tôi liền chồm dậy tiến về phía gã đó, đưa tay ra với vẻ thân thiện. Và rồi, tất nhiên rồi, sự ngạc nhiên bắt đầu xuất hiện!

– Chắc là hắn không nhận ra anh chứ phỏng? – Scarterfield gợi ý.

– Tôi xin kể cho các ngài nghe chuyện gì đã xảy ra, – Fish đáp.

“Chào buổi sáng, anh Baxter!” tôi lên tiếng. “Đã lâu lắm rồi tôi mới lại có vinh dự được gặp lại ngài đấy!” — và như tôi đã nói, tôi chìa tay ra đầy nhiệt tình. Hắn quay lại ném cho tôi một cái nhìn sắc lạnh, dò xét — không phải kiểu bị bất ngờ đâu nhé, mà là kiểu săm soi. “Anh nhầm người rồi, bạn ạ,” hắn nói với giọng điềm đạm nhưng nhã nhặn. “Anh đang nhận lầm tôi với ai khác đấy.” “Cái gì!” tôi thốt lên, điếng cả người. “Chẳng lẽ ngài không phải là ngài Netherfield Baxter, người mà tôi từng quen biết ở Blyth, mãi tận miền Bắc xa xôi đó sao?” “Tôi chắc chắn không phải là người đó rồi,” hắn đáp, điềm tĩnh đến mức lạnh lùng như Bắc Cực. “Vậy thì tôi xin lỗi ngài, thưa ngài,” tôi nói, “và tất cả những gì tôi có thể nói là chưa bao giờ trong đời tôi thấy hai vị quý ông nào lại giống nhau đến thế, mong ngài không phiền lòng.” “Không có gì đâu!” hắn đáp, niềm nở hết sức có thể. “Người ta vẫn bảo ai cũng có một hình bóng thứ hai mà.” Nói đoạn hắn gật đầu lịch sự với tôi, rồi cùng bọn bạn bước ra ngoài, còn tôi thì quay lại chỗ Shanks. “Jim!” tôi bảo. “Từ nay đừng để tôi tin vào mắt và tai mình nữa nhé, Jim!” tôi nói. “Tôi tàn tạ mất rồi, Jim ạ! — mọi chuyện là thế đấy. Cứ tưởng là nhìn thấy mọi thứ trong khi chẳng thấy gì.” “Dẹp hết mấy chuyện đó đi!” Jim nói, vốn là một gã thực tế. “Cậu chỉ nhầm lẫn thôi mà,” hắn bảo. “Tôi từng rơi vào hoàn cảnh đó hơn một lần rồi; hễ ở đâu có một người, thể nào ở đâu đó cũng có một kẻ giống y hệt như hai hạt đậu; đi về nhà ăn trưa thôi,” hắn nói. Thế là chúng tôi kéo nhau về nhà trọ, và thoạt đầu tôi cứ đinh ninh rằng mình đã nhầm lẫn thật. Nhưng sau đó, và cho đến tận bây giờ — chà, tôi không nghĩ thế nữa. Gã đàn ông đó chính là Netherfield Baxter!

– Anh cảm thấy chắc chắn về điều đó chứ? – Scarterfield gợi ý.

– Phải, chắc chắn chứ, thưa ngài! – Fish quả quyết. – Tôi đã có thời gian để ngẫm nghĩ lại mọi chuyện, và xâu chuỗi tất cả, và giờ thì tôi chắc chắn đó chính là hắn — chỉ có điều hắn không muốn để lộ thân phận mà thôi. Nào, ngặt nỗi nếu tôi tình cờ gặp hắn lúc hắn đi một mình thì sao nhỉ?

– Anh cũng sẽ nhận được câu trả lời y hệt thôi, – viên thám tử đáp cộc lốc. – Hắn không muốn bị nhận diện. Tất nhiên là anh không còn gặp lại hắn ở Hull nữa chứ —

– Có chứ, tôi có gặp lại chứ, – Fish đáp. – Tôi lại thấy hắn vào tối hôm đó. Và — ít ra là về một kẻ trong số đó, giao du với những thành phần khá kỳ quặc.

– Chuyện đó ra sao? – Scarterfield hỏi.

– Chà, – Fish đáp, – tôi và Jim Shanks, chúng tôi về nhà ăn trưa — hai con gà quay, kèm theo một phần thịt thăn bò nướng tuyệt hảo. Sau đó chúng tôi có một giấc ngủ trưa vô cùng thoải mái cho đến hết buổi chiều, rồi sau khi rửa mặt mũi và làm một tách trà, chúng tôi bước ra ngoài dạo phố một chút để giải trí buổi tối, bác thấy đấy. Chẳng đi đến nơi nào cụ thể cả, mà chỉ lang thang ngắm nghía vậy thôi, như bản tính của những người đi biển khi lên bờ và muốn duỗi chân duỗi cẳng. Và thế là vào một lúc tối muộn, chúng tôi ghé vào phòng hút thuốc của quán Cross Keys ở Quảng trường Market — có lẽ người bạn này của các ngài, tính ra cũng từng ở Hull, sẽ biết chỗ đó!

– Tôi biết, Fish, – tôi lên tiếng.

– Thế thì ngài thừa biết là ngài cứ bước qua một cái vòm cổng, rẽ phải là tới nơi, – hắn nói. – Chà, Shanks và tôi, chúng tôi bước vào với vẻ ngẫu nhiên, chẳng mong đợi điều gì khác thường cả. Nhưng vừa mới ngồi xuống căn phòng hút thuốc đó và đảo mắt quan sát thì tôi đã nhìn thấy ngay gã đàn ông mà tôi từng gặp ở quán Ngỗng và Cần Cẩu, kẻ mà tôi đinh ninh là Baxter. Hắn ở đó, ngồi trong một góc phòng, cùng với gã ăn mặc bảnh bao kia, trước mặt họ là những ly nước và miệng ngậm xì-gà. Và bên cạnh họ còn có một thứ khác mà tôi hoàn toàn không tài nào ngờ tới lại có thể xuất hiện ở chốn đó.

– Thứ gì? – Scarterfield hỏi.

– Thứ mà tôi đã thấy đến phát ngấy hết lần này đến lần khác ở nhiều nơi trên thế giới này, và chẳng mặn mà gì cho cam khi phải nhìn thấy lại, – Fish đáp với vẻ mặt cau có. – Một tên Tàu!

– Một — kẻ nào cơ? – viên thám tử gặng hỏi. – Một — tên Tàu á?

– Ý hắn là một người Trung Quốc, – tôi lên tiếng. – Đúng thế phải không, Fish?

– Đúng vậy đấy, thưa ngài, – Fish đồng tình. – Một tên Tàu da vàng, mắt một mí, ngón tay dài ngoẵng, với khuôn mặt trông như pho tượng và giọng nói ngọt ngào như lụa — mà, – hắn nói thêm, mặt càng cau có hơn, – là thứ độc dược mà tôi dù thế nào cũng không thể chịu nổi, nhất là sau khi đã chứng kiến quá nhiều rồi.

Tôi nhìn Scarterfield. Nãy giờ hắn vẫn chăm chú lắng nghe suốt câu chuyện của vị khách, nhưng tôi nhận thấy sự chú ý của hắn đã tăng gấp bội kể từ mấy câu nói cuối cùng.

– Một người Trung Quốc! – hắn hạ thấp giọng nói. – Đi cùng — với hắn!

– Như tôi đã nói, thưa ngài, một tên Tàu, và hắn ta lại đi cùng với gã đàn ông mà suy cho cùng, tôi chắc chắn đã và đang là Netherfield Baxter, – Fish nhắc lại. – Nhưng thưa các ngài, điểm kỳ quặc nằm ở chỗ này, hắn không phải là một tên Tàu tầm thường đâu nhé. Không phải loại mà ngài có thể bắt gặp hàng loạt ở khu Limehouse, hay ở Liverpool, hay ở Cardiff — hoàn toàn không phải thế. Chúa phù hộ cho ngài, gã này còn ăn mặc bảnh bao hơn cả hai tên kia nữa chứ! Bộ đồ tối màu may theo mốt thời thượng, chiếc ô cán vàng, tay đeo găng bằng da cừu non và đội chiếc mũ phớt bằng lụa — một tay công tử điệu đà chính hiệu! Thế nhưng — lại là một tên Tàu!

– Thế rồi sao? – Scarterfield hỏi sau một khoảng lặng, trong đó hắn có vẻ đang trầm ngâm suy nghĩ rất nhiều. – Có chuyện gì xảy ra không?

– Chẳng có gì xảy ra cả, thưa ngài — thì có chuyện gì có thể xảy ra cơ chứ? – Fish đáp. – Bọn chúng ngồi ở góc của chúng, còn tôi và Jim Shanks thì ở góc của chúng tôi. Chúng bận rộn trò chuyện với nhau — tất nhiên là chúng tôi chẳng nghe được gì. Và cuối cùng cả ba cùng đứng dậy bỏ đi.

– Gã mà anh cho là Baxter có nhìn về phía anh không? – Scarterfield hỏi.

– Hắn chẳng thèm biểu lộ chút thái độ nào luôn! – Fish quả quyết. – Hắn và tên kia đi ngang qua chúng tôi trên đường ra cửa, nhưng hắn phớt lờ hoàn toàn.

– Anh có gặp lại hắn ở đâu nữa không? – Scarterfield dò hỏi.

– Không, tôi không gặp lại nữa, – Fish đáp. – Tôi rời Hull vào sáng sớm hôm sau để đi thăm họ hàng ở South Shields. Chỉ mới về nhà được một hoặc hai ngày nay thôi, và tình cờ trò chuyện với góa phụ Ormthwaite sáng nay, tôi đã kể cho bà ấy nghe những gì tôi vừa kể với các ngài. Thế là bà ấy bảo rằng ngài đang dò hỏi về Baxter, thưa ngài — thế nên tôi mới lật đật đến đây gặp các ngài. Không biết các ngài đang muốn tìm kiếm gì ở vị quý ông của tôi thế nhỉ?

Scarterfield nói với Fish vài điều vừa đủ để làm thỏa mãn và trấn an anh ta; và chẳng bao lâu sau, người đàn ông đó ra về, trước khi đi không quên cho chúng tôi biết rằng anh ta sẽ ở nhà trong suốt một tháng tới. Khi anh ta vừa khuất dạng, Scarterfield quay sang tôi.

– Đấy! – hắn nói. – Anh nghĩ sao về chuyện đó, ông Middlebrook?

– Còn anh thì nghĩ sao? – tôi gợi ý.

– Tôi nghĩ rằng Netherfield Baxter vẫn còn sống, đang hoạt động và đang mưu tính điều gì đó, – hắn đáp. – Và tôi sẵn sàng đánh đổi rất nhiều thứ để biết kẻ người Trung Quốc đi cùng hắn là ai. Nhưng hiện tại đã có những cách để tìm ra rất nhiều manh mối sau khi tôi nghe được tất cả những điều này, ông Middlebrook! — Tôi sẽ đi Hull. Đi cùng tôi chứ?

Cho đến tận khoảnh khắc ấy, một ý nghĩ như vậy chưa từng xuất hiện trong đầu tôi. Thế nhưng ngay lúc đó, tôi đã hạ quyết tâm.

– Tôi đi! – tôi đáp. – Chúng ta sẽ theo vụ này đến cùng, Scarterfield. Lấy cho tôi cuốn lịch trình tàu chạy nào.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.