Cuộc Sống Tự Chôn Vùi

Cuộc Sống Tự Chôn Vùi

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 1

❊ ❊ ❊

Tôi nhớ cái cảm giác mình bị quấy rầy vì sự kinh hãi và đè nén bởi một cơn sóng của điềm gở, thứ đã lởn vởn trong đầu tôi và rồi một lần nữa trào lên thành những gợn sóng lăn tăn khi tôi đang tiến tới chiếc xe của mình, vào buổi chiều tối hôm đó. Mọi người gọi nó là sự linh cảm, một cảnh báo sớm từ con mắt thứ ba, con mắt có thể chứng kiến mọi vật từ những bước ngoặt của thời gian. Tôi chưa từng tin vào bất cứ điều gì tương tự, tuy nhiên tôi sẽ thú nhận rằng, đã có nhiều lần tôi nhớ lại ngày hôm đó và trăn trở: nếu số phận đã thực sự thì thầm vào tai tôi - nếu tôi biết trước rằng việc này có thể làm thay đổi rất nhiều thứ - liệu tôi có lựa chọn một hướng đi an toàn hơn không?

Liệu tôi có rẽ trái ngay tại nơi mà trước đó tôi đã rẽ phải? Hay chăng, tôi vẫn sẽ đi trên con đường đưa tôi tới Carl Iverson?

Đội bóng Minnesota Twins của tôi đã được lên lịch đấu với đội Cleverland Indians, trận đấu đã hâm nóng bầu không khí của một buổi tối tháng 9, nhằm trao cúp vô địch cho đội thắng cuộc trong vòng chung kết. Không bao lâu nữa, những ánh đèn sân vận động Target Field sẽ sáng rực một góc trời thành phố Minneapolis[1], ánh lên những hào quang của sự hãnh diện, nhưng, tôi đã không thể tới đó để chứng kiến khoảnh khắc tuyệt vời ấy; chỉ vì không đủ điều kiện chi trả cho khoản học phí đại học của mình, nên thay vào đó, tôi đã làm công việc tại cửa ra vào của quán bar Molly và thi thoảng liếc trộm trận đấu được truyền hình trực tiếp trên chiếc tivi treo bên trên quầy bar trong khi liên tục kiểm tra giấy phép lái xe của khách hàng và khống chế những gã say rượu - đây không phải là con đường sự nghiệp mà tôi lựa chọn, tuy nhiên ít nhất nó có thể chi trả cho khoản tiền thuê nhà của tôi.

Thật kỳ lạ, giáo viên hướng dẫn cấp III của tôi không bao giờ nhắc đến từ “đại học” trong bất kỳ một cuộc gặp gỡ nào giữa chúng tôi. Có lẽ bà ấy đã “ngửi” thấy mùi của sự sợ hãi trong nỗi tuyệt vọng, thứ bốc ra từ bộ quần áo cũ mèm mà tôi vẫn khoác lên người.

Hoặc có lẽ bà ấy đã nghe được rằng tôi bắt đầu làm việc cho một quán bar bình dân có tên Piedmont, vào ngày ngay sau khi tôi vừa tròn 18 tuổi. Hoặc - đây là điều tôi muốn đặt cược - rằng có lẽ bà ấy đã biết mẹ tôi là ai và mường tượng ra rằng không ai có thể làm thay đổi được hai chữ điều tiếng. Tuy nhiên, cho dù như thế nào, tôi vẫn không đổ lỗi cho cô giáo hướng dẫn của mình vì việc bà ấy không nhìn nhận tôi như một sinh viên đại học. Sự thật là, tôi cảm thấy thoải mái khi đứng trong quầy bar hơn là việc đứng trên những bậc đá cẩm thạch của giảng đường đại học, nơi cho tôi có cảm tưởng như mình đang xỏ nhầm vào một chiếc giày trái.

Ngày hôm đó, tôi nhảy vào xe - chiếc Honda Accord đã gỉ sét - khởi động, vào số, hướng thẳng tới phía nam từ khuôn viên trường, và hòa mình vào dòng xe đang trong giờ cao điểm trên tuyến đường I-35, trong khi nghe bài hát của danh ca Alica Keys được phát qua chiếc loa có xuất xứ từ Nhật Bản. Khi vừa tới Crosstown, vươn người qua hàng ghế phía sau và mò mẫm trong chiếc ba lô của mình, cuối cùng, tôi đã tìm ra mẩu giấy ghi địa chỉ nhà của những người già. “Đừng gọi nó là nhà cho người già”, tôi tự lẩm bẩm. “Đó là một khu làng dành cho những người đã nghỉ hưu hay một viện dưỡng lão hay một nơi nào đó đại loại như thế”.

Tôi lái xe qua những con phố ngoằn ngoèo của vùng ngoại ô Richfield, cuối cùng tìm ra tấm biển chỉ đường ở lối vào dẫn tới viện dưỡng lão Hillview, đó là đích đến của tôi. Cái tên nghe có vẻ như một trò lừa bịp khi tận mắt chứng kiến, nơi đây hoàn toàn không có một ngọn đồi nào, và cũng chẳng có một chút đặc điểm gì thuyết phục về sự vĩ đại để có thể gọi nó bằng một cái tên hào nhoáng “Hillview[2]”. Quang cảnh phía trước là một đại lộ với bốn làn xe tấp nập, mặt sau tòa nhà đối diện với lưng của một tòa chung cư cũ ọp ẹp. Tuy nhiên, một cái tên xấu lại có thể là điều đáng tự hào nhất của Hillview với những dãy tường gạch rêu phong, phủ lên những bụi cây lởm chởm mọc lung tung, những khuôn cửa, màu sắc của những lõi đồng gỉ sét bọc lấy tất cả những khung cửa sổ kính trượt đã mục ruỗng. Nền móng nơi tòa nhà ngự trị, giống như một hàng phòng ngự bóng đá, trông cũng không kém phần “gớm ghiếc”.

Khi vừa bước chân vào khu vực hành lang, một luồng không khí dơ bẩn bốc lên thứ mùi cay nồng của nước sát trùng hòa lẫn với nước tiểu xộc thẳng vào mũi, khiến tôi phải chảy nước mắt. Một người phụ nữ già đội bộ tóc giả xộc xệch, đang ngồi trên chiếc xe lăn, nhìn chòng chọc về phía tôi như thể đang mong đợi một vị hôn phu đã không thấy mặt từ lâu xuất hiện từ bãi đỗ xe và mang bà ấy đi. Bà ấy mỉm cười khi tôi đi ngang qua, nhưng nụ cười ấy không dành cho tôi. Tôi không hề tồn tại trong thế giới của bà ấy, không hơn gì những hồn ma đang tồn tại trong ký ức của bà.

Tôi dừng lại một chút trước khi tiến tới bàn lễ tân, cân nhắc lại lần cuối cùng những suy nghĩ đang thì thầm vào tai tôi, những suy nghĩ hờn dỗi đang nói với tôi rằng hãy hủy lớp tiếng Anh trước khi quá muộn và thay vào đó là một lớp học lịch sử hay địa lý.

Một tháng trước, tôi rời khỏi nhà mình ở Austin, Minnesota, lẻn đi như một đứa trẻ chạy trốn khỏi gia đình để gia nhập một gánh xiếc. Không một lời tranh cãi với mẹ, không để cho bà có bất kỳ một cơ hội nào cố gắng thay đổi quyết định của tôi. Tôi chỉ đơn giản là gói ghém đồ đạc vào một chiếc túi, nói với đứa em trai rằng tôi sẽ rời đi, và để lại một mẩu giấy cho mẹ. Ngay khi tôi làm thủ tục đăng ký với văn phòng tuyển sinh trong trường đại học, tất cả các lớp học tiếng Anh được cho là có chất lượng đã không còn chỗ trống, vì vậy tôi đã đăng ký vào lớp viết tiểu sử, lớp học này buộc tôi phải có cuộc phỏng vấn với một người hoàn toàn xa lạ. Từ sâu thẳm đáy lòng mình, tôi hiểu rõ rằng những giọt mồ hôi nhớp nháp nhỏ giọt hai bên thái dương khi tôi đang lảng vảng ở khu hành lang, đến từ mớ bài tập về nhà - đó là bài tiểu luận. Tôi phải bắt tay vào thực hiện nó trước khi quá muộn. Tôi biết trước rằng, rồi sẽ có lúc tôi bị mắc kẹt với bài tiểu luận này.

Nhân viên lễ tân của Hillview là một phụ nữ có khuôn mặt vuông, gò má cao, tóc mỏng, và đôi mắt sâu, gợi lên hình ảnh một nữ cai ngục trong các trại cải tạo Liên Xô thời trước, bà ta nghiêng người qua quầy hỏi: “Tôi có thể giúp gì không?”

“Ồ, vâng”, tôi trả lời. “Ý tôi là, tôi hy vọng bà có thể giúp. Quản lý của bà có ở đây không?”

“Chúng tôi không cho phép xin xỏ ở đây”, bà ta trả lời, khuôn mặt đanh lại khi nhìn chòng chọc vào tôi. “Tiếp thị ư?” Tôi cố nặn ra một nụ cười đáp trả và giơ tay lên với một cử chỉ cầu khẩn. “Thưa bà”, tôi nói, “Tôi không thể bán lửa cho người nguyên thủy[3]”.

“Ồ, anh không phải là người sống ở đây, cũng không phải là khách thăm, và lại càng chắc chắn không phải là nhân viên ở đây. Vậy anh muốn gì?”

“Tôi tên là Joe Talbert. Tôi là sinh viên trường Minnesota”.

“Thì sao?”

Tôi liếc vào biển tên trước ngực bà ta. “Và… bà Janet… tôi muốn nói chuyện với quản lý của bà về một dự án mà tôi đang phải thực hiện.”

“Chúng tôi không có quản lý,” bà ta nheo mắt nói. “Chúng tôi chỉ có giám đốc, bà Lorngren”.

“Tôi xin lỗi”, tôi nói, cố gắng duy trì vẻ mặt điềm tĩnh của mình. “Tôi có thể nói chuyện với giám đốc của bà được không?”

“Bà Lorngren là người rất bận rộn, bà ấy không có thời gian cho anh đâu”.

“Sẽ chỉ mất một phút thôi”.

“Tại sao anh không trình bày dự án của anh với tôi, và tôi sẽ quyết định xem liệu nó có đáng để làm phiền tới bà Lorngren không?”.

“Đó là một bài tập lớn tôi đang làm cho trường”, tôi trả lời, “cho lớp tiếng Anh của tôi. Tôi phải phỏng vấn một người già - ý tôi là một người đã lớn tuổi và viết tiểu sử về họ. Bà biết đấy, đây là bài tiểu sử sẽ kể về sự đấu tranh, những “ngã ba đường” mà họ đã phải lựa chọn, những điều đã chứng tỏ họ là ai”.

“Anh là một nhà văn?” Janet nhìn tôi từ trên xuống dưới, như thể sự xuất hiện của tôi có là một câu trả lời hoàn hảo. Tôi đứng thẳng và dồn trọng lực vào năm đầu ngón chân, rướn thân hình cao 5 feet[4] 10 inch[5] của tôi lên. Tôi đã hai mươi mốt tuổi và thừa nhận rằng chiều cao của tôi đã ở mức tối đa, cám ơn cha - Joe Talbert, dù cho bất kể cha có đang ở cái nơi quái quỷ nào đi chăng nữa. Và sự thật là tôi trông có vẻ to con, nhưng tôi cũng không đến nỗi quá “xôi thịt” giống như tảng thịt mà mọi người hay nhìn thấy ở cửa vào của các quán bar, trên thực tế, tôi lại trở nên bé nhỏ hơn bao giờ hết.

“Không”, tôi nói. “Tôi không phải là một nhà văn, tôi chỉ là một sinh viên”.

“Và họ đang bắt anh phải viết toàn bộ một cuốn sách cho nhà trường?”

“Không, đó là một bài khóa luận”. Tôi trả lời với một nụ cười. “Một số chương phải được viết ra, ví dụ như phần mở đầu, phần kết thúc và bất kỳ mấu chốt chuyển biến quan trọng nào. Nhưng chủ yếu, bài viết này sẽ được viết dưới dạng một bài tóm tắt. Đây là một bài tập khá lớn.”

Janet nhăn chiếc mũi vừa tẹt vừa hếch của mình và lắc đầu. Sau đó, dường như đã bị thuyết phục rằng tôi không có gì để mồi chài và buôn bán ở nơi này, bà ta nhấc điện thoại và hạ thấp giọng xuống. Ngay sau đó, một người phụ nữ trong bộ vest màu xanh lá cây tiến tới khu hành lang bên ngoài quầy lễ tân và đứng vào vị trí bên cạnh Janet.

“Tôi là Giám đốc Lorngren”, người phụ nữ tự giới thiệu trong tư thế ngẩng cao đầu và kiên định như thể bà ta đang giữ thăng bằng một tách trà trên đỉnh đầu mình vậy. “Tôi có thể giúp gì được cho cậu?”

“Tôi hy vọng là như vậy”. Tôi hít một hơi thật sâu và trình bày lại một lần nữa.

Bà Lorngren cân nhắc lời đề nghị của tôi với một điều băn khoăn thể hiện rõ trên khuôn mặt rồi nói: “Vì sao cậu lại đến đây? Cậu không có cha mẹ hay ông bà sao, cậu có thể phỏng vấn họ?”

“Tôi không có ai thân thích ở đây cả”, tôi trả lời. Đó thực sự là một lời nói dối. Mẹ và em trai tôi sống ở phía nam thành phố Twin Cities cách đây hai giờ đồng hồ lái xe, nhưng thậm chí một chuyến thăm ngắn ngủi đến nơi mẹ tôi đang sống, đối với tôi, có thể so với một cuộc đi bộ đường dài vượt qua một dải đất mọc đầy kế[6]. Tôi chưa bao giờ gặp cha và có lẽ cũng không có gì để nói với ông ấy nếu như ông ấy có tồn tại trên trái đất này. Mặc dù tôi biết tên người đó. Mẹ tôi đã nảy ra ý nghĩ với một ý tưởng tuyệt vời là đặt tên tôi theo tên của ông ấy với hy vọng rằng điều này sẽ có thể có đôi chút tác dụng níu giữ trách nhiệm của cha tôi ở lại, có thể ông ấy sẽ kết hôn với mẹ và giúp đỡ bà và Joey Jr bé nhỏ. Nhưng nó thật sự chẳng có tác dụng gì. Mẹ tôi đã cố gắng làm điều tương tự khi em trai tôi, Jeremy, ra đời và cũng có kết cục tương tự. Tôi đã lớn lên cùng với việc phải giải thích với mọi người rằng tên mẹ tôi là Kathy Nelson, tên tôi là Joe Talbert và em trai tôi là Jeremy Naylor.

Đối với ông bà tôi, người duy nhất tôi từng gặp là cha của mẹ, ông ngoại Bill - người ông mà tôi hằng yêu quý. Ông là một người ít nói, người có thể thu hút sự chú ý chỉ bởi một cái gật đầu hay đơn giản chỉ là một ánh nhìn, một người đàn ông sở hữu cả sự lịch lãm và sự mạnh mẽ cần có, những tố chất không hề màu mè, được ông pha trộn với nhau một cách hài hòa phản ánh qua diện mạo của mình. Đã có những tháng năm tôi lục lọi những ký ức về ông trong bộ nhớ của mình, khi tôi cần lắm những lời khuyên hữu ích từ ông để có thể đương đầu với những con sóng thủy triều dấy lên trong cuộc đời mình. Tuy nhiên, cũng đã có những đêm khi tiếng mưa rơi lộp bộp trên khung kính cửa sổ, chúng thấm đẫm vào tiềm thức của chính tôi, đưa ông trở lại thăm tôi trong những giấc mơ - những giấc mơ luôn kết thúc với hình ảnh tôi ngồi bật dậy trên giường, mồ hôi vã ra như tắm, lạnh toát, và đôi tay tôi run rẩy như vừa chứng kiến lại cảnh ông rời bỏ tôi, đi vào cõi vĩnh hằng. “Anh hiểu rõ rằng nơi đây là viện dưỡng lão phải không?” Bà Lorngren hỏi.

“Vâng, đó là lý do vì sao tôi lại tới đây”, tôi nói.

“Bà có những người đã trải qua những quãng thời gian thật tuyệt vời.”

“Đúng, đó hoàn toàn là sự thật,” bà ta nói trong khi dựa người vào quầy lễ tân ngăn cách giữa chúng tôi. Từ khoảng cách gần, tôi có thể nhìn thấy những nếp nhăn trên khóe mắt và nơi khóe miệng bà ta, giống như một đáy hồ đã cạn khô. Và tôi còn có thể cảm nhận được giọng nói pha chút âm điệu Scotland trong những lời nói của bà ta. Bà ta tiếp tục với một tông giọng trầm. “Mọi người sống ở đây là do họ không có đủ khả năng tự chăm sóc bản thân. Hầu hết những người trong số họ đang mắc phải căn bệnh Alzheimer, mất trí nhớ hay một số bệnh về thần kinh khác. Họ không thể nhớ nổi tên con của họ, hay ít nhiều các chi tiết về cuộc đời họ đã trải qua”.

Tôi đã không nghĩ về điều đó. Tôi có thể nhận ra rằng kế hoạch của mình đang có nguy cơ thất bại. Làm thế nào mà tôi có thể viết được tiểu sử của một vị anh hùng thời chiến nếu ông ta không thể nhớ nổi những việc mình đã làm?

“Bà không có bất cứ người nào ở đây không mắc phải căn bệnh mất trí nhớ sao?”, tôi hỏi với giọng nghe có vẻ đáng thương hơn tôi tưởng.

“Chúng ta có thể để anh ta nói chuyện với Carl”, Janet xen vào.

Bà Janet Lorngren ném một cái nhìn giận dữ, một cái nhìn mà bạn thường muốn “trao tặng” nó cho một người bạn thân vừa mới hất văng toàn bộ lời nói dối hoàn hảo của bạn.

“Carl ư?” Tôi hỏi.

Bà Lorngren khoanh tay và bước lùi khỏi quầy lễ tân.

Tôi hỏi dồn: “Carl là ai vậy?”.

Janet nhìn bà Lorngren như đang xin một chỉ thị. Lorngren cuối cùng cũng gật đầu, đến lượt Janet tựa mình lên quầy. “Tên ông ta là Carl Iverson. Ông ta bị kết án là kẻ sát nhân”, bà ta thầm thì như một nữ sinh trung học đang giấu giếm kể một câu chuyện không đúng lúc. “Vụ Cải Huấn gửi ông ta về đây từ ba tháng trước. Họ tha bổng cho ông ta từ Stillwater vì ông ấy đang chết dần chết mòn vì căn bệnh ung thư”.

Bà Lorngren gắt gỏng, ”Rõ ràng ung thư tuyến tụy là một cái kết hoàn hảo thay cho án tử hình”.

“Ông ta là kẻ giết người ư?” Tôi hỏi.

Janet nhìn quanh để chắc chắn rằng mình không bị nghe lén.

“Ba mươi năm trước, ông ta đã cưỡng bức rồi sát hại một thiếu nữ mười bốn tuổi”, bà ta thì thầm. “Tôi đã đọc được tất cả những điều này trong hồ sơ của ông ta. Sau khi giết người, ông ta cố gắng phi tang bằng việc đốt xác nạn nhân trong nhà kho”.

Một kẻ mang tội hiếp dâm và giết người. Trước đó, tôi đang có ý định tới Hillview để tìm kiếm một vị anh hùng, giờ thay vào đó, tôi lại gặp được một nhân vật phản diện. Ông ta chắc chắn sẽ có một câu chuyện để kể, nhưng liệu đó có phải là câu chuyện mà tôi muốn viết không? Trong khi bạn bè trong lớp tôi sẽ lần lượt đưa ra những câu chuyện thần tiên về một cụ bà phải vật lộn sinh con trên sàn đất bẩn, hay một cụ ông đã gặp John Gillinger[7] ngoài hành lang của một khách sạn, thì tôi lại viết về một người đàn ông mang tội hiếp dâm và giết một cô gái rồi sau đó đốt xác phi tang trong một nhà kho. Ý tưởng về việc sẽ phỏng vấn một kẻ giết người không hề có trong ý định của tôi khi đến đây, nhưng càng nghĩ về nó, tôi lại càng muốn được thử sức. Tôi đã trì hoãn dự án này quá lâu rồi. Tháng 9 đã sắp kết thúc, và tôi phải hoàn thành xong bản thảo cuộc phỏng vấn này trong một vài tuần tới. Bạn bè cùng lớp đã thúc những con ngựa phi nước đại ra khỏi vạch xuất phát, còn con ngựa nhỏ của tôi thì vẫn nhởn nhơ trong chuồng nhai cỏ khô. Carl Iverson sẽ là nhân vật chính trong bài viết của tôi - nếu ông ta đồng ý.

“Tôi nghĩ tôi muốn phỏng vấn ông Iverson”, tôi nói.

“Ông ta là một con quỷ”, bà Lorngren nói. “Tôi sẽ không để cho ông ta cảm thấy được hài lòng. Tôi biết đây không phải là một điều những người theo đạo Thiên Chúa nên nói, nhưng sẽ là tốt nhất nếu ông ta chỉ ở yên trong phòng và chết trong câm lặng.”

Bà Lorngren chùn lại trước những lời nói của chính mình, những từ ngữ mà một con người có thể nghĩ ra, nhưng không bao giờ được nói ra, đặc biệt là, trước mặt một người lạ.

“Xem kìa,” tôi nói, “nếu tôi có thể viết câu chuyện này, có lẽ… tôi cũng không biết nữa… tôi có thể có được sự thừa nhận của ông ta trước những sai lầm của mình”. Sau tất cả, tôi lại biến thành một nhân viên kinh doanh, tôi trộm nghĩ. “Thêm vào đó, ông ta cũng có quyền được cho người vào thăm, phải không?”

Bà Lorngren trông có vẻ bị dồn đến chân tường. Bà ta không còn sự lựa chọn nào khác. Carl không phải là một tù nhân khi ở Hillview, ông ta cũng là một cư dân ở đây với quyền lợi được gặp những người đến thăm như bất cứ ai ở đây. Bà ta buông cánh tay đang khoanh trước ngực, một lần nữa đặt bàn tay mình lên chiếc quầy ngăn cách giữa chúng tôi. “Tôi sẽ phải hỏi ý kiến của ông ta liệu rằng ông ta có muốn gặp cậu hay không”, bà ta nói. “Trong vài tháng ít ỏi sống ở đây, ông ta chỉ có duy nhất một người đến thăm”.

“Tôi có thể tự nói chuyện này với Carl được không?” Tôi hỏi. “Có thể tôi sẽ…”

“Ông Iverson.” Bà Lorngren chỉnh lại, có lẽ với hy vọng muốn chiếm lại ưu thế của mình.

“À vâng, tất nhiên rồi”. Tôi nhún vai nói một lời xin lỗi. “Tôi có thể giải thích với ông Iverson về nội dung của dự án tôi đang làm, và có thể …”

Tiếng chuông phát ra từ chiếc điện thoại di động ngắt lời tôi. “Tôi xin lỗi”, tôi nói. “Tôi tưởng tôi đã tắt nó đi rồi”. Tai tôi chuyển sang màu đỏ khi tôi rút điện thoại ra khỏi túi và nhìn thấy số của mẹ.

“Xin lỗi”, tôi nói, rồi quay lưng lại với Janet và bà Lorngren, ý muốn thực hiện một cuộc nói chuyện riêng tư.

“Mẹ, con không nói chuyện với mẹ bây giờ, con…” “Joey, con phải đến đón mẹ”, mẹ tôi rít lên trong điện thoại, cùng với tiếng say xỉn trong giọng nói của bà là những tiếng bà thốt ra trở nên ríu rít lại với nhau, thật khó hiểu.

“Mẹ, con phải…”

“Chúng đang tra cái còng chết tiệt vào tay mẹ”. “Cái gì cơ? Ai?...”

“Chúng đang bắt giữ mẹ, Joey… Chúng… Những thằng khốn. Tao sẽ kiện chúng mày. Tao sẽ có được một lão luật sư chết tiệt”. Bà ấy hét những lời đó vào một ai đó đang ở gần. “Con có đang nghe mẹ không… đồ chết tiệt! Số phù hiệu của mày đâu? Tao sẽ làm mày phải mất việc”.

“Mẹ, mẹ đang ở đâu?” Tôi nói to và chậm rãi, cố gắng để thu hút sự chú ý của mẹ.

“Chúng đang còng tay mẹ, Joey.”

“Có nhân viên cảnh sát nào ở đó không mẹ?” Tôi hỏi. “Con có thể nói chuyện với ông ta được không?”

Mẹ tôi lờ đi câu hỏi của tôi và bị cuốn vào một suy nghĩ khó hiểu khác. “Nếu con yêu mẹ, con đã đến đón em. Mẹ là một người mẹ tồi tệ. Chúng đang còng tay mẹ… nhấc cái mông chết tiệt của con lên… con chưa bao giờ yêu mẹ cả. Mẹ đã không… mẹ đã không… ta nên cắt cổ tay mình. Không ai yêu ta cả. Ta đã gần về đến nhà… ta sẽ kiện các người”.

“Được rồi, mẹ,” tôi nói. “Con sẽ đến đón mẹ, nhưng con cần nói chuyện với cảnh sát”.

“Ý con là ngài Prick[8] này?”

“Vâng mẹ. Ngài Prick. Con cần nói chuyện với Ngài Prick. Chỉ cần đưa điện thoại cho ông ấy một lát thôi, sau đó con sẽ đến đón mẹ.”

“Được rồi,” bà nói. “Này, Prick. Joey muốn nói chuyện với ông.”

“Thưa bà Nelson,” viên cảnh sát lên tiếng, “đây là lúc bà cần phải liên lạc với một luật sư, không phải con trai bà.”

“Này, ông Prick, tôi đã nói là Joey muốn nói chuyện với ông.”

Viên sĩ quan thở dài. “Bà hãy nói với anh ta rằng bà cần nói chuyện với luật sư. Bà cần tận dụng lúc này để tìm cho mình một vị luật sư”.

“Prick không muốn nói chuyện với con.” Mẹ tôi ợ lên một tiếng vào điện thoại.

“Mẹ, mẹ hãy nói với ông ấy làm ơn đi.” “Joey, con sẽ…”

“Chết tiệt! Mẹ,” tôi hét lên, “nói với ông ấy rằng hãy làm ơn đi.”

Sau một giây im lặng, “được rồi!”. Mẹ tôi xoay chiếc điện thoại về phía viên cảnh sát, vì vậy tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng bà nói. “Joey nói làm ơn.”

Sau một lúc ngập ngừng, viên cảnh sát cuối cùng cũng chấp nhận cầm lấy chiếc điện thoại.

“Xin chào.”

Tôi nói nhỏ và rất nhanh. “Thưa ngài cảnh sát, tôi xin lỗi về toàn bộ sự việc này, nhưng tôi có một cậu em trai, nó bị mắc chứng tự kỷ. Nó sống với mẹ tôi. Tôi cần được biết liệu mẹ tôi có được thả trong ngày hôm nay không, bởi vì nếu không thì tôi sẽ phải về chăm sóc em trai mình.”

“Ồ, đây là lệnh. Mẹ cậu bị bắt vì DUI[9]”.

Tôi có thể nghe thấy những lời nguyền rủa và khóc lóc của mẹ đang lê la trên nền đất. “Tôi phải đưa bà ấy đến Trung tâm thi hành luật thành phố Mower để kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở. Bà ấy cứ khăng khăng rằng bà ấy có quyền được gọi luật sư trước khi kiểm tra, vì vậy tôi nghĩ bà ấy đang câu giờ để gọi cho luật sư, chứ không phải là gọi anh đến để bảo lãnh cho bà ấy.” “À, tôi hiểu rồi,” tôi nói. “Tôi chỉ cần biết là liệu bà ấy có được thả ra vào đêm nay không?”.

“Điều đó là không thể.” Viên cảnh sát kiểm soát lời nói của mình bằng một cách khiến mẹ tôi không thể nghe thấy những gì đang chờ đợi mẹ tôi ở phía trước, và tôi là kẻ “đồng lõa” trong việc này.

“Bà ấy sẽ phải đi giải rượu phải không?” “Phải.”

“Trong bao nhiêu ngày?” “Khoảng hai đến ba ngày”.

“Và sau đó bà ấy sẽ được thả chứ?” Tôi hỏi. “Không.”

Tôi suy nghĩ trong giây lát. “Sau trung tâm giải độc là trại giam ư?”

“Đúng vậy, cho đến khi bà ấy ra hầu tòa lần đầu tiên”. Mẹ tôi nghe được từ “tòa” và lại bắt đầu la hét. Trong trạng thái say xỉn và kiệt sức của mình, lời nói của bà có phần đong đưa và chao đảo giống như một chiếc cầu được kết bằng dây thừng. “Mẹ kiếp, Joey… đến đây ngay. Con không yêu ta… đồ vô ơn… Ta là mẹ con. Joey, bọn chúng… chúng… đến đây ngay. Thả ta ra.”

“Cám ơn,” tôi nói với viên cảnh sát. “Rất cám ơn ông vì đã giúp đỡ. Và chúc ông may mắn với mẹ tôi.”

“Tôi cũng chúc anh may mắn”, ông ta đáp lại.

Tôi kết thúc cuộc điện thoại và quay lại nhìn Janet và bà Lorngren đang nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ sơ sinh vừa mới học được rằng loài chó biết cắn. “Tôi xin lỗi về chuyện vừa rồi,” tôi nói. “Mẹ tôi… bà ấy… không được ổn cho lắm. Tôi chắc sẽ không thể gặp được Carl - à ông Iverson - hôm nay. Tôi phải về chăm sóc cho một người.”

Đôi mắt bà Lorngren có vẻ dịu lại, vẻ mặt lạnh lùng của bà ta khi nãy có lẽ đã bị hòa tan vào sự cảm thông. “Như thế sẽ tốt hơn,” bà ta nói. “ Tôi sẽ nói chuyện với ông Iverson về cậu. Hãy để lại tên và số điện thoại của cậu chỗ Janet và tôi sẽ cho cậu biết liệu ông ấy có muốn gặp cậu hay không.”

“Tôi thực sự rất cám ơn vì điều này,” tôi đáp lại và viết thông tin của mình lên một mẩu giấy. “Tôi có thể sẽ tắt điện thoại một lát, vì vậy nếu tôi không trả lời, xin hãy để lại tin nhắn và cho tôi biết ông Iverson đã nói gì.”

“Được, tôi sẽ làm như vậy”, bà Lorngren nói.

Đi qua khu nhà Hillview, tôi bước thật nhanh vào bãi đậu xe, nắm chặt vô lăng với tất cả sức lực của mình rồi lắc liên tục một cách thô bạo. “Chết tiệt!” Tôi hét lên. “Chết tiệt! Chết tiệt! Chết tiệt! Vì sao mẹ lại không để con được yên!” Những ngón tay tôi trở nên trắng bệch, tôi run lên như có một làn sóng dữ dội vụt qua người. Tôi hít một hơi thật sâu và chờ đợi cho cơn giận dữ nghẹn trong cổ họng mình lắng xuống, đợi cho đôi mắt tôi có thể nhìn rõ ràng hơn. Sau đó, một lần nữa tôi giữ được bình tĩnh, tôi gọi điện cho Molly để thông báo rằng tôi không thể làm việc tại quán bar ngày hôm nay. Cô ấy có vẻ không được vui cho lắm, nhưng vẫn đồng ý. Sau khi cúp máy, tôi ném điện thoại trên chiếc ghế phía sau và bắt đầu chuyến xe đường dài về phía nam để đón em trai mình.

❀ ❀ ❀

[1] 1* Minneapolis: thành phố lớn nhất ở tiểu bang Minnesota, Liên bang Mỹ, là thủ phủ của quận Hennepin. Thành phố nằm cả trên hai bờ của sông Mississippi.

[2] 2* Hillview: nhìn ra khu đồi.

[3] 3* Câu gốc trong ngạn ngữ Anh “Sell fire to a caveman”, có nghĩa là: khi một điều gì đó mới lạ (lửa) được bán cho những người không thực sự cần nó (“người nguyên thủy” sống trong hang đá) là một điều vô cùng mới lạ, nhưng người mua (người nguyên thủy) lại không biết nó là gì và phải làm gì với thứ đó. Nghĩa chung của câu ngạn ngữ này là “làm điều vô ích”.

[4] 4* Feet: Đơn vị đo chiều dài, 1 feet = 0,3048m

[5] 5* Inch: Đơn vị đo chiều dài, 1 inch = 0,0254m

[6] 6* Cây kế: một loài cây bụi thuộc họ cúc.

[7] 7* Là tên cướp nhà băng khét tiếng, được mệnh danh là "kẻ thù số 1 của xã hội Mỹ".

[8] 8* Mr Prick: Gã chết tiệt (tiếng lóng).

[9] 9* DUI: Tội lái xe trong tình trạng mất kiểm soát do say rượu.

Dịch thuật: Trịnh Thúy Ngân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.