Cuộc Sống Tự Chôn Vùi

Lượt đọc: 163 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 8

❊ ❊ ❊

Tôi đã từng nhìn thấy mẹ thức dậy vào mỗi buổi sáng với những tàn tích của bữa tiệc rượu vào đêm hôm trước vẫn còn vương vấn trên tóc. Tôi đã chứng kiến có lần mẹ vấp ngã ngay trong căn hộ, với đôi mắt trợn ngược, một tay xách giày, một tay cầm chiếc quần lót; nhưng tôi chưa bao giờ trông bà thảm hại như lúc bà lê chân vào tòa án thành phố Mower, người mặc bộ quần áo tù nhân màu vàng, tay trong trạng thái bị còng và cùm quanh mắt cá chân. Ba ngày không trang điểm và tắm táp đã “vạch trần” làn da thô ráp của mẹ. Mái tóc vàng với chân tóc màu đen trông nặng nề với những vảy gàu và bết lại vì dầu. Vai bà thõng về phía trước như thể chiếc còng trên cổ tay quá nặng đã kéo bà xuống. Tôi đưa Jeremy về căn hộ của mẹ trước khi lái xe thẳng tới tòa án để chờ đợi sự xuất hiện của bà.

Mẹ tôi bước vào với ba người cùng khoác áo tù màu cam khác. Khi nhìn thấy tôi, bà vẫy tay với tôi ra hiệu rằng tôi nên bước đến gần vành móng ngựa, bà ở một bên, đứng cạnh chiếc bàn của luật sư và chiếc ghế mềm mại cùng bộ, còn tôi tiến vào phía ghế gỗ trống dành cho người tham dự phiên tòa. Một nhân viên hành pháp ngăn tôi lại khi tôi cố gắng tiến tới chỗ bà, một dấu hiệu cho thấy tôi không được phép tiến lại quá gần, phòng khi tôi có ý đồ trao vũ khí hay giúp những tù nhân chạy trốn.

“Con cần phải cứu mẹ ra khỏi đây,” mẹ tôi thì thầm với ngữ điệu cuồng nộ. Đến gần tôi mới nhận ra sự căng thẳng vì bị giam hãm đang treo lơ lửng trong những bọng mắt hình chiếc túi lưỡi liềm đầy mệt mỏi dưới đôi mắt đỏ ngầu của bà. Trông mẹ tôi như thể bà đã không ngủ trong nhiều ngày.

“Mẹ đang nói số tiền ấy là bao nhiêu?” Tôi hỏi. “Người cai tù nói rằng mẹ sẽ phải trả 3000 đô để bảo lãnh, không thì mẹ vẫn phải ngồi tù.”

“ 3000?” Tôi hốt hoảng. “Con cần số tiền đó để chi trả học phí.”

“Mẹ không thể ngồi tù, Joey.” Mẹ tôi bắt đầu khóc. “Nơi đó toàn những người điên khùng. Họ thức suốt đêm chỉ để la hét. Mẹ không thể ngủ được. Mẹ sẽ phát điên mất. Đừng để mẹ phải trở lại nơi đó. Làm ơn đi mà, Joey.”

Tôi mở miệng ra để nói, nhưng không thể nói được lời nào. Tôi cảm thấy bà thật đáng thương - ý tôi là bà cũng là mẹ tôi, người phụ nữ đã đưa tôi đến với cuộc đời này. Nhưng nếu tôi đưa bà 3000 đô, thì đến giữa kỳ học tới, tôi sẽ hết sạch tiền. Suy nghĩ của tôi về việc ở lại trường đã gặp phải ánh mắt tuyệt vọng nhất của mẹ. Tôi không thể nói được một lời nào. Dù tôi có nói bất cứ điều gì đi chăng nữa, nó cũng trở nên sai trái. Tôi đã được giải cứu khỏi tình trạng khó xử của mình khi hai người phụ nữ bước vào phòng xử án qua cánh cửa ngay phía sau ghế thẩm phán, và ngay lập tức, nhân viên hành pháp ở tòa án yêu cầu mọi người phải đứng dậy. Tôi hít một hơi thật sâu, lấy làm biết ơn vì sự gián đoạn này. Thẩm phán bước vào, ra hiệu lệnh cho mọi người ngồi xuống, và nhân viên tòa án áp giải mẹ tôi ngồi vào một chỗ trong ban bổi thẩm cùng với những người tù áo cam khác.

Khi nhân viên văn thư gọi những người cô ta đang nhắc đến trên những chiếc ghế dài kia là “tù nhân”, tôi lắng nghe cuộc hội thoại qua lại giữa thẩm phán và luật sư bào chữa, một nữ luật sư công bào chữa cho tất cả bốn bị cáo. Điều này gợi nhớ cho tôi về một buổi tang lễ của người Công giáo mà tôi đã tham dự khi một trong những huấn luyện viên thời trung học của tôi qua đời. Các bài kinh cầu nguyện được những linh mục và giáo dân đọc nhiều lần đến nỗi việc đọc vẹt này có vẻ như chẳng có ý nghĩa gì với những người đứng ngoài như chúng tôi.

Thẩm phán hỏi: “Có phải tên bị cáo là…? Có phải bị cáo đang sống tại…? Liệu bị cáo có hiểu quyền công dân của mình không? Luật sư, liệu khách hàng của bà có hiểu được các chi phí cần phải trả?”

“Vâng, thưa ngài, và chúng tôi không có bất kỳ một khiếu nại nào khác.”

“Bị cáo mong muốn mình sẽ tiếp tục sống ra sao?” “Thưa ngài, chúng tôi dựa vào điều luật số 8 - bộ luật tố tụng hình sự, nêu rõ rằng khách hàng của tôi sẽ được trả tự do dựa trên số tiền bảo lãnh cá nhân.”

Các thẩm phán sau đó sẽ thiết lập hình thức tại ngoại, cho mỗi tù nhân hai sự lựa chọn, giữa việc nộp một số tiền bảo lãnh cao hơn không đi kèm với bất kỳ một điều kiện nào hoặc trả số tiền thấp hơn - hoặc không trả - miễn là họ đồng ý tuân theo một số điều kiện nhất định được quyết định bởi thẩm phán.

Khi đến lượt mẹ tôi, họ lại quay lại một lượt những câu hỏi và đáp tương tự như vậy, với phí bảo lãnh là 3000 đô, nhưng sau đó, thẩm phán tiếp tục đưa ra sự lựa chọn thứ hai. “Bà Nelson, bà có thể trả 3000 đô, hoặc có thể được trả tự do dựa trên cam kết cá nhân của bà và có mặt tại tất cả các phiên điều trần trong thời gian tới với các điều kiện sau: giữ liên lạc với luật sư của mình, vẫn tuân thủ pháp luật, không tàng trữ rượu hoặc uống rượu, và đeo vòng tay theo dõi nồng độ cồn. Bất cứ hành vi sử dụng rượu nào cũng sẽ đưa bà trở lại tù. Bà có hiểu những điều kiện này không?”

“Vâng, thưa ông,” mẹ tôi nói, nhìn vô cùng thảm hại trong vai trò là một linh hồn đáng thương.

“Phiên tòa kết thúc,” thẩm phán tuyên bố.

Mẹ tôi lê bước trở lại với dãy ghế cùng những người tù áo cam khác, tất cả bọn họ giờ đã đứng hết dậy và bắt đầu di chuyển trong kiểu đi thời trang của đoàn tù binh tiến tới cánh cửa, nơi sẽ dẫn họ quay trở lại vị trí phía sau những song sắt. Khi bước qua chỗ tôi, mẹ nhìn thẳng vào tôi với một ánh mắt có thể sánh ngang với sự ghen tị của Medusa[1] . “Hãy đến nhà tù và bão lãnh cho mẹ ra,” mẹ tôi thầm thì.

“Nhưng mẹ, thẩm phán vừa nói rằng…”

“Đừng có tranh luận với mẹ,” tiếng bà rít lên khi rời khỏi phòng xử án.

“Và… bà đã quay trở lại,” tôi lẩm bẩm trong hơi thở. Tôi bước ra khỏi tòa án, tạm dừng lại trên vỉa hè để suy nghĩ nên đi theo hướng nào, rẽ trái rồi hướng đến trại giam với mẹ, hay đi thẳng tới chỗ để xe của tôi. Thẩm phán nói rằng mẹ tôi có thể được thả; tôi đã nghe thấy ông ấy nói thế. Tất cả những gì mà bà phải làm là không uống rượu. Một cảm giác tồi tệ len lỏi qua những mạch máu trong cơ thể tôi, giống như nọc độc từ một vết rắn cắn. Tôi vật lộn với quyết định của mình, và cuối cùng rẽ trái, phản bội lại ý định muốn bỏ chạy của mình.

Bước chân vào nhà giam, tôi trình giấy phép lái xe cho một người phụ nữ đứng sau kính chống đạn, người đã hướng dẫn tôi tới một căn phòng nhỏ, nơi có một khung cửa sổ bằng kính ngăn cách tôi và căn phòng phía trong, từ nơi đó, họ sẽ đưa mẹ tôi đến. Một vài phút sau, các nhân viên cảnh sát dẫn mẹ tôi đến, không còn bị còng tay và cùm chân. Bà ngồi trên một chiếc ghế phía bên kia cửa kính, nhấc chiếc điện thoại màu đen treo trên tường lên. Tôi cũng làm tương tự, nhăn nhó khi áp điện thoại vào tai, tưởng tượng ra vô số người bất hạnh đã hít thở vào chiếc điện thoại đó trước tôi. Một cảm giác thật nhơ nháp.

“Con đã nộp tiền bảo lãnh chưa?”

“Mẹ không cần phải trả tiền bảo lãnh, mẹ có thể tự ra ngoài. Thẩm phán đã nói như vậy.”

“Ông ấy nói mẹ có thể được trả tự do nếu đeo máy kiểm soát cồn. Mẹ sẽ không đeo cái máy chết tiệt đó lên người đâu.”

“Nhưng mẹ sẽ được trả tự do mà không cần mất một đồng nào cả, mẹ chỉ cần không uống rượu là được.” “Mẹ sẽ không đeo cái máy chết tiệt đó lên người đâu!” Bà quả quyết. “Con có đủ tiền mà. Con có thể giúp mẹ một lần trong đời được không? Mẹ không thể ở đây thêm một giây phút nào nữa.”

“Mẹ, con hầu như không có đủ tiền để học hết học kỳ này. Con không thể…”

“Mẹ sẽ trả lại cho con, thề có Chúa.” Giờ đây, chúng tôi lại dính líu đến kinh cầu nguyện của chính chúng tôi. Khi vừa tròn mười sáu tuổi, công việc đầu tiên của tôi là đổ xăng tại một gara trong thị trấn. Khi tôi dùng số tiền lương đầu tiên của mình vào việc mua quần áo và một chiếc ván trượt, mẹ đã nổi cơn tam bành đáng sợ đến nỗi những người hàng xóm ở tầng trên đã phải gọi cảnh sát và chủ nhà trọ đến. Sau khi mẹ đã bình tĩnh lại, bà bắt tôi phải mở một tài khoản tiết kiệm, và một đứa trẻ vị thành niên mới mười sáu tuổi không thể mở tài khoản mà không có cha hoặc mẹ mình giám hộ, vì vậy họ đã đặt tên bà ấy làm chủ tài khoản. Hai năm sau, mẹ tôi đã “mượn” số tiền trong tài khoản đó bất cứ khi nào bà không đủ tiền để trả tiền thuê nhà hay ô tô của bà cần mang đi sửa - luôn luôn là như vậy với lời hứa sáo rỗng rằng bà sẽ trả lại tôi, nhưng chưa bao giờ là như vậy.

Cái ngày tôi bước sang tuổi mười tám, tôi đã mở tài khoản của riêng mình với tên của chính tôi. Không thể trực tiếp động đến tiền của tôi, mẹ đã thay đổi chiến thuật, chuyển từ hành vi lấy trộm sang tống tiền, bởi vì, sau tất cả, việc sống trong căn nhà của mẹ, ăn thức ăn mẹ mua, đã trao cho bà cái quyền bòn rút tài khoản của tôi hàng trăm đô.

Vì vậy tôi bắt đầu trích một chút tiền riêng vào đầu mỗi tuần, giấu chúng trong một chiếc hộp trong một nơi bí mật dưới tầng gác mái - đó là hộp cà phê của tôi - số tiền mà tôi dành dụm để học đại học.

Mẹ luôn luôn nghi ngờ rằng tôi đang giấu tiền, nhưng bà không bao giờ có thể chứng minh được điều đó, và bà không bao giờ tìm thấy nó. Tâm trí mẹ luôn nghĩ rằng số tiền ít ỏi mà tôi giấu đi đã lớn lên gấp mười lần số tiền thực tế mà tôi giấu dưới căn gác mái. Thêm vào đó, các khoản vay sinh viên và số tiền trợ cấp rẻ mạt mà tôi nhận được trong tâm trí bà đã lớn thành một gia tài nho nhỏ.

“Sao chúng ta không lựa chọn cách bảo lãnh thế chấp?” Tôi hỏi. “Và rồi mẹ không phải trả khoản tiền 3000 đô kia nữa.”

“Con tưởng mẹ không nghĩ tới điều đó sao? Con nghĩ mẹ ngốc sao? Mẹ không có tài sản thế chấp. Họ sẽ không nói chuyện với mẹ nếu không có nó.”

Những lời nói của bà sắc lẹm mà hiển nhiên tôi biết rõ, tính nết bủn xỉn của bà lộ ra rõ ràng như lớp chân tóc màu đen đội lên trên đỉnh đầu bà. Tôi quyết định quay lại với sự kiên quyết của mình. “Con không thể bảo lãnh cho mẹ. Con không thể. Nếu con đưa 3000 đô cho mẹ, học kỳ tới con sẽ không có tiền nộp học phí. Chẳng có cách nào khác mẹ ạ.”

“Vậy thì…”, bà dựa lưng vào chiếc ghế nhựa. “… con sẽ phải chăm sóc cho Jeremy khi mẹ đang ở đây, vì mẹ sẽ không đeo cái máy chết tiệt đó lên người đâu.”

Và đây: với quân bài cuối cùng trên tay, chứng tỏ rằng bà đang sở hữu một con át chủ bài, bà đã hoàn toàn đánh bại tôi. Tôi có thể thử thổi phồng rằng tôi sẽ để lại Jeremy ở Austin, nhưng sự lừa phỉnh đó thật quá non tay với mẹ, và mẹ tôi hoàn toàn nhận ra điều đó. Bà nhìn chòng chọc vào tôi với một sự chắc chắn rằng, tôi đã bị đánh trúng tim đen, đôi mắt bà trở nên bình tĩnh, còn mắt tôi co giật vì giận dữ. Làm thế nào tôi có thể tự tay chăm sóc cho Jeremy? Khi tôi rời bỏ thằng bé một mình trong một vài giờ, nó đã cần đến sự giúp đỡ của Lila. Tôi đã vào đại học để tránh xa tất cả những sự phiền toái này.

Giờ thì chính mẹ tôi đã kéo tôi trở lại, ép buộc tôi phải lựa chọn giữa việc học đại học và em trai mình. Tôi thực sự đột nhiên muốn vươn qua khung kính được gia cố kia mà bóp cổ bà.

“Mẹ không thể tin là con lại ích kỷ đến vậy,” bà nói. “Mẹ nói là mẹ sẽ trả lại cho con mà.”

Tôi lôi tập séc từ trong túi ra và bắt đầu viết trong khi cơn giận dữ đang dần trôi đi trong lòng. Tôi mỉm cười trong khi tưởng tượng ra việc mình sẽ điền đủ số tiền vào tấm séc rồi áp nó vào tấm kính đang chắn giữa hai chúng tôi và xé nó thành trăm mảnh. Nhưng sâu thẳm trong lòng mình, tôi biết một sự thật rằng: Tôi cần bà - không phải với tư cách là một người mẹ, mà như một tội nhân cần sự cứu rỗi của ma quỷ. Tôi cần một vật tế thần, một người nào đó để tôi có thể nói thẳng, “Ngươi mới chính là người phải chịu trách nhiệm cho việc này, không phải ta.” Tôi cần phải nuôi dưỡng ảo tưởng rằng tôi không phải là người trông nom cho em mình, mà đó là trọng trách của mẹ tôi.

Tôi cần một nơi có thể gửi gắm Jeremy, chăm sóc cho nó, một chiếc hộp mà tôi có thể đóng chặt lại và tự nói với bản thân rằng đó là nơi mà Jeremy thuộc về - mặc dù, tận sâu thẳm trong trái tim mình, tôi vẫn biết rằng đó là một lời nói dối. Tôi cần lý do mỏng manh này để giải tỏa cho lương tâm mình. Đó sẽ là cách duy nhất tôi có thể rời Austin.

Tôi xé tấm séc và đưa cho mẹ. Bà nở một nụ cười rỗng tuếch và nói. “Cám ơn, con yêu. Con quả là một thiên thần.”

❀ ❀ ❀

[1] 16* Trong thần thoại Hy Lạp, Medusa là một con quỷ trong ba chị em quỷ có tên chung là Gorgon gồm Stheno, Euryale và Medusa. Trong số ba chị em lũ quỷ này thì Medusa là con quỷ hung dữ nhất và cũng là con quỷ trẻ nhất, có thể đánh chết được, còn hai con kia bất tử. Trong phiên bản truyền thuyết cuối cùng viết về Medusa, viết bởi nhà thơ người La Mã Ovid, trước kia Medusa đã từng là một người phụ nữ xinh đẹp, có mái tóc bồng bềnh cực kì quyến rũ. Vì thế Medusa đã tự mãn cho rằng mình còn đẹp hơn nữ thần Athena. Sắc đẹp của Medusa đã thu hút Poseidon. Khi Poseidon theo đuổi, Medusa chạy đến đền thờ Athena và nghĩ rằng nữ thần sẽ bảo vệ cô, nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Poseidon đã cưỡng bức Medusa trong đền thờ của nữ thần (các phiên bản khác cho là Medusa tự nguyện, Poseidon và Medusa đã đến đền thờ Athena để ân ái, khiến Athena tức giận). Cô ta cầu xin Athena nhưng nữ thần không làm gì cả. Và để chắc chắn không có chuyện như vậy nữa, Athena biến nàng thành nữ quỷ với một cái nhìn có thể biến tất cả các sinh vật sống thành đá. Athena biến mái tóc tuyệt đẹp của Medusa thành rắn. (Nguồn: wikipedia.org).

Dịch thuật: Trịnh Thúy Ngân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.