Cuộc Sống Tự Chôn Vùi

Lượt đọc: 169 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 29

❊ ❊ ❊

Tôi tỉnh dậy sáng ngày hôm sau vì âm thanh của chiếc máy sấy tóc từ phòng tắm của Lila.

Tôi vẫn ở trên giường cô ấy, vẫn mặc chiếc quần kaki và áo sơ mi, và vẫn không chắc chắn về những chuyện xảy ra giữa chúng tôi. Tôi ngồi dậy, kiểm tra khóe miệng của mình vì nước dãi, bò ra khỏi giường và đi theo hương thơm của cà phê tươi đang vẫy gọi. Trước khi vào được đến phòng bếp, tôi dừng lại trước một khung ảnh để kiểm tra lại diện mạo mình trước tấm kính. Tóc tôi chĩa ra từ đỉnh đầu theo mọi hướng, giống như tôi vừa bị liếm láp bởi một con bê cái say xỉn. Tôi vẩy một chút nước từ vòi khu nhà bếp lên đầu để vuốt lại mớ tóc rối lung tung của tôi, vừa đúng lúc Lila bước ra khỏi phòng tắm.

“Em xin lỗi,” cô ấy nói. “Em đã đánh thức anh dậy à?” Cô ấy đã thay một chiếc áo quá khổ khác kết hợp với chiếc quần lụa pyjama màu hồng.

“Không vấn đề gì,” tôi nói. “Em ngủ ngon chứ?” “Vâng,” cô ấy nói. Cô ấy bước đến bên tôi, đặt một bàn tay lên má, nhón chân và hôn lên môi tôi, một nụ hôn mềm mại, chậm rãi và ấm áp, nhưng có chút gì đó đau đớn. Khi kết thúc, cô ấy lùi lại một vài bước, nhìn vào mắt tôi và nói, “Cám ơn anh.”

Trước khi tôi có thể thốt lên được bất kỳ một lời nào, cô ấy quay lại phía tủ bếp, mang lên hai tách cà phê. Cô ấy đưa cho tôi một chiếc và xoay xoay chiếc còn lại trên những ngón tay trong khi chúng tôi chờ đợi chiếc máy cà phê hoàn thành khả năng kỳ diệu của nó. Liệu cô ấy có thể nói rằng hương vị nụ hôn khi nãy vẫn còn đọng lại trên môi tôi, má tôi vẫn còn râm ran nơi những ngón tay cô ấy vừa chạm vào, và làn hương trên da cô ấy kéo tôi lại gần như một trọng lực khó cưỡng lại của trái đất? Cô ấy dường như không bị ảnh hưởng bởi những điều đó, những điều đang khiến tôi cảm thấy tê dại.

Chiếc máy cà phê kêu lên những tiếng báo hiệu sự “thành công”của mình, và tôi đổ đầy cà phê vào các cốc, lần lượt từ chiếc cốc của cô ấy rồi đến tôi. “Vậy, bữa sáng chúng ta sẽ ăn gì?” Tôi hỏi.

“À, bữa sáng,” cô ấy nói. “Chúng ta đang ở gần cửa hàng Chez Lila, họ đang có một thực đơn thật tuyệt vời cho bữa sáng. Món đặc biệt cho ngày hôm nay là Cheerios[1]. Hoặc em có thể yêu cầu đầu bếp phục vụ một món K đặc biệt.”

“Cái gì, không có món bánh pancake sao?” Tôi hỏi. “Và nếu anh muốn thêm sữa cho món Cheerios, anh sẽ phải chạy đến các cửa hàng và mua chúng.” “Em có quả trứng nào không?” Tôi hỏi.

“Em có vài quả, nhưng không có thịt xông khói hoặc xúc xích để ăn cùng.”

“Mang trứng sang nhà anh đi,” tôi nói. “Anh sẽ làm một vài chiếc bánh pancake.”

Lila vơ lấy vài quả trứng trong tủ lạnh và đi theo sang nhà tôi.

Trong khi tôi lấy chiếc bát trộn bột và các nguyên liệu ra khỏi tủ bếp, cô ấy đến bên bàn trà, nơi những tài liệu của Carl Iverson nằm chất đống trên bàn.

“Vậy, anh sẽ viết về ai tiếp theo?” Lila hỏi trong khi cô ấy lật qua lật lại chồng tài liệu, không nhìn vào bất cứ điều gì đặc biệt.

“Anh nghĩ chúng ta nên viết về gã đàn ông xấu xa,” tôi nói.

“Và đó là ai vậy?”

“Anh không biết nữa,” tôi nói trong khi đong bột vào bát trộn. “Khi anh nhìn vào những việc kinh hoàng đó, anh cảm thấy rất đau đớn.”

“Ồ, chúng ta đều biết Crystal đã bị sát hại vào một lúc nào đó giữa thời điểm cô ấy rời khỏi trường với Andrew Fisher và lúc lực lượng cứu hỏa đến nơi xảy ra hỏa hoạn. Và chúng ta đều biết rằng các bài viết trong cuốn nhật ký đó là về chiếc xe bị đánh cắp chứ không phải về việc Carl đã bắt gặp Crystal và Andy Fisher trong con hẻm. Vì vậy, dù là ai đã gửi thư tống tiền Crystal đi chăng nữa thì người này chắc hẳn phải biết về vụ va chạm của chiếc xe GTO.”

“Đó là một danh sách hạn chế.”

“Tất nhiên Andrew biết điều này,” cô ấy nói. “Đúng vậy, nhưng ông ta không hề nói với chúng ta là liệu ông ta có phải là người duy nhất trong cuốn nhật ký đó không. Bên cạnh đó, cuốn nhật ký còn gợi ý rằng có một ai đó khác đã biết được điều bí mật này.”

“Cha dượng Doug của cô ấy sở hữu bãi xe,” cô ấy nói, “Có lẽ ông ta đã không mua tất cả những chiếc xe bị đánh cắp.”

“Cũng có thể là Andrew đã khoe khoang điều này với ai đó, có lẽ anh ta đã để lộ chuyện ra rằng anh ta và Crystal là người đã đâm vào chiếc xe của cảnh sát. Ý anh là nếu chúng ta có là những người khoe khoang như vậy, thì chúng ta cũng sẽ không ngứa mồm mà kể điều đó cho bạn của mình. Anh ta rất có thể sẽ trở thành vua đưa chuyện ở trường.”

“Không, em cũng không nghĩ có sự trùng hợp như vậy.”

“Ừm, anh cũng thế,” tôi nói.

“Phải có một điều gì đó trong những dấu mốc này.” “Có chứ,” tôi nói.

“Có ư?” Cô ấy nhoài người về phía trước trên chiếc ghế dài.

“Chắc chắn. Chúng ta sẽ giải mã cuốn nhật ký đó.” “Thú vị đấy,” cô ấy nói.

Một tiếng gõ cửa cắt ngang cuộc trò chuyện của chúng tôi, tôi quay lại, vặn nhỏ lửa bếp. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là gã đàn ông tối qua ở quán bar muốn đến tính sổ với tôi, hoặc một trong những người bạn của hắn đang truy lùng tôi. Tôi lấy ra một chiếc đèn pin từ ngăn kéo nhà bếp, giữ chặt nó trong lòng tay phải của mình, rồi rón rén lại đằng sau cánh cửa, chừa ra khoảng mười lăm phân để thoát thân. Lila nhìn tôi như thể tôi đang bị mất trí. Tôi chưa hề nói với cô ấy về việc mình tấn công anh chàng ở quán bar ấy, và về hai người bạn của hắn đã rượt đuổi tôi.

Tôi mở cửa và nhìn thấy Jeremy đang đứng ngoài sảnh.

“Này, anh bạn…”, tôi đẩy rộng cửa và nhìn thấy mẹ tôi đang đứng kế bên. “Mẹ?”

“Chào con, Joey,” mẹ tôi nói, đẩy nhẹ Jeremy qua cánh cửa.

“Mẹ cần con trông nom Jeremy trong một vài ngày.” Bà nhẹ quay người như thể định rời đi, nhưng bất chợt dừng lại khi nhìn thấy Lila đang ngồi trên ghế, mặc bộ quần áo trông giống bộ pyjama đó.

“Mẹ! Mẹ không thể xuất hiện ở đây được…”

“Giờ thì ta đã hiểu,” bà ấy nói. “Ta đã thấy có chuyện gì diễn ra ở đây.” Lila đứng dậy để chào mẹ tôi. “Con đang lêu lổng với một cô bé xinh đẹp này ở đây ư, để mặc em trai và mẹ mình phải tự xoay xở ư?” Lila ủ rũ quay trở lại chiếc ghế. Tôi túm lấy mẹ, người đang ở vị trí nửa trong nửa ngoài căn hộ của tôi, buộc bà quay trở lại khu hành lang, đóng cánh cửa phía sau lưng chúng tôi lại.

“Mẹ đang nói với giọng gì vậy?”- Tôi bắt đầu. “Ta là mẹ của con.”

“Điều đó không có nghĩa là mẹ có quyền lăng mạ bạn con.”

“Bạn ư? Đó là cái cách mà họ gọi những cô ả này ngày nay ư?”

“Cô ấy sống ở cạnh căn hộ của con và… và con không nợ mẹ một sự giải thích nào ở đây hết.”

“Được thôi,” bà nhún vai. “Con cứ làm bất cứ điều gì mà con muốn, nhưng mẹ cần con chăm sóc cho Jeremy.”

“Mẹ không thể chỉ xuất hiện ở đây và để thằng bé lại như thế này được. Thằng bé không phải là một đôi giày cũ mà mẹ muốn vứt ở đâu thì vứt.”

“Đó là những gì con nhận được vì không nhận điện thoại của mẹ,” bà nói, và quay lưng đi.

“Mẹ sẽ đi đâu?”

“Chúng ta đang đến Treasure Island Casino,” bà nói.

“Chúng ta ư?”

Bà do dự. “Larry và ta.” Bà tiến thẳng xuống cầu thang trước khi tôi có thể tống khứ bà ra khỏi nơi mình ở. “Ta sẽ quay trở về vào chủ nhật,” bà hét qua vai mình. Tôi hít một hơi thật sâu để bình tĩnh lại và quay về căn hộ của mình với một nụ cười giả tạo - vì lợi ích của Jeremy.

Tôi đã làm xong bánh cho cả ba người, và chúng tôi cùng nhau thưởng thức chúng trong phòng khách. Lila pha trò với Jeremy, gọi tôi là Jeeves the Butler[2] khi tôi phục vụ bữa điểm tâm cho họ. Mặc dù ý nghĩ về việc mẹ tôi đã vứt bỏ Jeremy cho tôi mà không hề báo trước khiến tôi phát điên lên, nhưng tôi không thể phủ nhận được niềm vui khi có Jeremy ở đây, đang ngồi với Lila và tôi, đặc biệt là sau cảm giác tội lỗi vì vở kịch ngày hôm qua. Tôi thường trợn ngược mắt khi mọi người nói với tôi rằng họ đang nhớ nhà. Ý nghĩ về việc nhớ nhung căn hộ ẩm ướt của mẹ cũng khó hiểu như việc đưa một chiếc đinh qua mắt cá chân tôi chỉ vì một trò đùa. Nhưng vào sáng hôm đó, khi tôi quan sát Jeremy cười đùa với Lila, gọi tôi là Jeeves, ăn những chiếc bánh tôi vừa làm, tôi lại nhận ra một lỗ hổng lớn trong lòng mình về một nỗi nhớ nhà, không phải nhớ căn hộ mà mẹ và Jeremy đang ở, mà là nhớ người em trai của tôi.

Sau bữa sáng, Lila trở về căn hộ của mình lấy máy tính xách tay và làm một số bài tập về nhà. Tôi không có bất kỳ chiếc đĩa DVD nào cả, hay bất kỳ một bàn cờ nào, vì vậy Jeremy và tôi cùng chơi trò Go Fish với một thẻ bài tự chế, cùng ngồi trên ghế, và sử dụng chiếc đệm giữa chúng tôi làm bàn.

Có lúc, Lila gõ bàn phím máy tính nhanh và điêu luyện như một nghệ sĩ piano đang trình diễn trong buổi hòa nhạc. Jeremy ngừng lại và quan sát cô ấy, có vẻ như thằng bé đang bị mê hoặc bởi những tiếng lách cách phát ra từ tổ hợp phím. Sau một vài phút, Lila ngừng gõ phím và ngước lên nhìn Jeremy.

“Có lẽ em nghĩ chị là một người đánh máy rất cừ, Lila”, thằng bé nói.

Lila mỉm cười với Jeremy. “Cám ơn em. Thật là một lời khen ngọt ngào. Em có biết đánh máy không?” “Có lẽ em đã học một lớp học đánh máy với thầy Warner,” Jeremy nói.

“Em thích đánh máy chứ?” Cô ấy hỏi.

“Em thấy thầy Warner rất thú vị.” Jeremy cười, một nụ cười rạng rỡ. “Có lẽ thầy Warner đã giúp em đánh máy được “The quick brown fox jumps over the lazy dog[3]”. Jeremy cười nắc nẻ và Lila cũng vậy, điều đó cũng khiến tôi bật cười.

“Đúng vậy,” Lila nói. “Đó là tất cả những gì em phải gõ. The quick brown fox jumps over the lazy dog.” Jeremy thậm chí còn cười lớn hơn khi Lila nói ra điều này.

Lila quay trở lại công việc của mình trên máy tính, Jeremy quay trở lại với cuộc chơi của chúng tôi, và hỏi lại đúng tên một thẻ bài y chang nhau hết lần này đến lần khác cho đến khi tôi rút được nó ra từ xấp bài trên tay. Và thằng bé sẽ làm tương tự như vậy với lá bài tiếp theo.

Sau một vài phút, Lila ngừng đánh máy, đầu cô ấy nảy lên như vừa bị một con bọ cắn hoặc kiểu bị “nhập” bởi một năng lực siêu nhiên nào đó. “Nó có tất cả các chữ cái của bảng chữ cái trong đó,” cô ấy nói.

“Cái gì có cái gì cơ?” Tôi hỏi.

“The quick brown fox jumps over the lazy dog. Họ dùng câu đó trong lớp học đánh máy bởi vì nó có tất cả các chữ cái của bảng chữ cái trong câu nói đó.”

“Ừm…?” Tôi nói.

“Crystal Hagen bắt đầu sử dụng những mã số từ tháng 9 năm 1980… năm đầu tiên theo học tại trường trung học… khi cô ấy vừa mới học một lớp đánh máy với Andy Fisher.”

“Em không nghĩ là …” Tôi nói.

Lila lôi ra một tập giấy ghi chép và viết câu đó xuống, gạch đi những chữ cái xuất hiện lần thứ hai trong câu vừa rồi. Và đặt các con số dưới mỗi chữ cái.

Tôi tìm thấy cuốn nhật ký của Crystal và trao cho Lila trang đầu tiên có ghi dãy mã số tôi vừa giở ra, ngày 28 tháng 9. Lila bắt đầu ghép các con số với các chữ cái. D-J-F-O… tôi nhún vai; lại là một ngõ cụt, tôi nghĩ… U-N-D-M… tôi nhướn người lên một chút, và phát hiện ra ít nhất một từ hoàn chỉnh… Y-G-L-A-S-S-E-S.

“DJ tìm thấy kính của tôi!” Cô ấy reo lên, đẩy tập giấy về phía tôi. “Nó nói rằng DJ tìm thấy kính của tôi. Chúng ta đã làm được - Jeremy đã làm được. Jeremy, em đã giải được các mã số.” Cô ấy nhảy cẫng lên, và nắm lấy tay Jeremy, kéo thằng bé ra khỏi ghế. “Em đã giải được cái mã số, Jeremy!” Cô ấy nhảy tưng tưng, điều đó khiến cho Jeremy cũng nhảy lên xuống, cười hả hê, trong khi cũng chẳng biết tại sao mình lại hào hứng đến vậy.

“Ai là DJ?” Tôi hỏi. Lila dừng lại, và cả hai chúng tôi hướng tới chiếc hộp tài liệu cùng lúc, kéo ra những bản tường trình. Cô ấy nắm lấy bản tường trình về lời khai của Douglas Lockwood và tôi lấy lời khai của Danny. Ở đoạn đầu tiên mỗi lời khai của các nhân chứng, họ đều được hỏi họ tên đầy đủ, ngày tháng năm sinh, và cách đánh vần tên của họ. Tôi điên cuồng lật qua các trang giấy cho đến khi phát hiện bài kiểm tra trực tiếp của Danny.

“Daniel William Lockwood,” tôi đọc. Tôi đóng tập tài liệu trên tay lại và nhìn Lila. “Tên đệm của hắn là William. Không phải Danny,” tôi nói.

“Douglas Joseph Lockwood,” cô ấy nói, khuôn mặt rạng rỡ, gần như không thể giấu nổi sự phấn khích của mình. Chúng tôi nhìn nhau, cố gắng nắm bắt được tầm cỡ của sự quan trọng mà chúng tôi vừa đọc được. Cha dượng của Crystal Hagen có tên viết tắt là DJ, là người đã tìm thấy chiếc kính bị vỡ của Crystal Hagen.

Người tìm thấy chiếc kính của cô ấy đã ép buộc cô ấy phải có quan hệ tình dục với mình. Và người đã ép buộc cô ấy phải có quan hệ tình dục ấy chính là người đã ra tay sát hại cô bé. Đó là một cách suy diễn đơn giản. Chúng tôi đã tìm ra kẻ giết người theo suy luận của mình.

❀ ❀ ❀

[1] 33* Cheerios: bột ngũ cốc ăn sáng.

[2] 34* Một nhân vật hư cấu trong loạt truyện cười và tiểu thuyết của tiểu thuyết gia người Anh P. G. Wodehouse (1881–1975).

[3] 35* Tạm dịch: Con cáo nâu nhanh nhẹn nhảy qua con chó lười biếng, là một pangram của tiếng Anh. Pangram là một câu hoặc cụm từ có chứa tất cả chữ cái trong tiếng Anh. Nó thường được dùng để kiểm tra các font chữ khi đánh máy và trong một số cách sử dụng khác liên quan đến tất cả các chữ cái trong tiếng Anh. Nó vừa ngắn gọn vừa súc tích, nên được dùng rộng rãi và được nhiều người biết đến.

Dịch thuật: Trịnh Thúy Ngân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.