Tôi chưa từng bị bắn trước đó. Và với cái đêm mà tôi đã trải qua - bị bóp nghẹt đến bất tỉnh, bị xích vào những khối gạch xỉ và gần như bị đóng băng đến chết trong một chiếc cốp xe - những chuyện đó chưa bao giờ xảy ra với tôi, vậy mà mọi thứ có thể trở nên tồi tệ hơn. Tôi cúi thấp đầu và chạy vòng vèo, đâm đầu một cách mù quáng qua khu rừng. Viên đạn đầu tiên sém vào vỏ của một cây thông cách bên phải tôi khoảng mười mét, hai phát khác xuyên vào màn đêm lạnh trên đầu tôi. Tôi nhìn qua vai phải của mình để xem Douglas Lockwood đang đứng dưới ánh sáng lờ mờ của đèn chiếu hậu, cánh tay phải giơ cao, chĩa súng về hướng của tôi. Trước khi tôi có thể lo lắng về những viên đạn kia, mặt đất chợt trũng xuống dưới chân và tôi bị ngã vào một rãnh nước. Những cành cây khô và những bụi cây cấu xé da thịt đang tê tái vì lạnh của tôi. Tôi nhảy lên, tay nắm chặt vào một cành bạch dương để giữ thăng bằng và nghe như có một tiếng súng khác gửi tới một viên đạn ngay trên đầu mình.
Sau đó, sự im lặng bao trùm.
Đứng thẳng trên hai chân, tôi có thể quan sát qua góc xiên của rãnh nước. Xe tôi nằm cách xa khoảng năm mươi mét, ánh sáng từ đèn pha phía trước chiếu sáng một góc hình nón trên đường cao tốc. Lockwood chĩa súng về phía có âm thanh bị ngã của tôi, không chắc chắn rằng tôi đang đứng ở đâu. Ông ta chờ đợi một tiếng động khác, tiếng lá cây bị gãy hoặc tiếng sột soạt của lá rừng, để nhắm mục tiêu. Ông ta vẫn nghe ngóng, nhưng tôi thì vẫn đứng một chỗ, cơ thể đang run lên đầy dữ dội vì lạnh và vì tôi đã ngừng chạy. Lockwood nhìn về phía sau của chiếc xe, cúi xuống và kéo chiếc mỏ lết từ ống bô, ném nó vào bìa rừng.
Ông ta tiến tới phía cửa buồng lái. Với chiếc cờ lê đã được tháo ra khỏi ống xả, chiếc xe sẽ hoạt động trở lại. Ông ta có đèn pha với những thứ mà ông ta có thể rọi sáng cho cả vùng quê này. Tôi bò ra khỏi rãnh nước, chạy sâu vào rừng, né tránh những gì mà tôi có thể tránh và di chuyển lắt léo trên những lối đi mà tôi có thể và nhận được những vết cào và đòn roi bởi những cành cây tôi không thể nhìn thấy. Ngay khi ông ta quay được chiếc xe lại, tôi đã đi được khoảng một trăm mét sâu vào trong rừng. Hầu như bất kỳ một ánh sáng đèn pha nào cũng không thể lọt được qua những bụi cây dày đặc. Tôi trượt xuống một ngọn đồi nhỏ và ánh đèn pha biến mất phía chân trời.
Ông ta sẽ tìm kiếm trong khu rừng - ít nhất đó là những gì tôi sẽ làm nếu là ông ta. Ông ta sẽ không để cho tôi sống. Ông ta không thể cho phép tôi quay trở lại với nền văn minh và nói ra những điều mà tôi biết. Tôi tiếp tục di chuyển, sự đau nhói đang bắn từng phát vào ngón chân tôi trong mỗi bước đi, đôi mắt tôi định hình trong màn đêm đủ để tránh những cái cây bị đổ và những cành cây trên đường đi. Tôi dừng lại để thở, nghe ngóng những tiếng bước chân. Tôi không nghe thấy gì cả. Ông ta phải ở đâu đó ngoài kia. Khi tôi căng thẳng nghe ngóng, tôi chợt thấy chóng mặt, suy nghĩ của tôi trở nên rời rạc và dày đặc. Có cái gì đó không ổn. Tôi cố gắng vơ lấy một cành cây non, nhưng tay tôi không chịu tuân lệnh. Và tôi ngã xuống.
Da tôi nóng ran. Tôi đã được học về điều này ở trường. Đó là cái gì nhỉ? Đúng rồi. Con người chết vì bị giảm thân nhiệt sẽ cảm thấy nóng và cởi bỏ quần áo. Tôi sắp chết ư? Tôi cần phải di chuyển, tiếp tục di chuyển, để giữ máu lưu thông. Tôi cần phải đứng dậy. Tôi chống khuỷu tay xuống mặt đất, đứng dậy bằng đầu gối. Tôi có thể đã không còn cảm thấy chúng nữa. Tôi không còn cảm thấy mặt đất đóng băng dưới da mình. Tôi đang chết ư? Không. Tôi không cho phép.
Đôi chân tôi lảo đảo giống như một con ngựa non mới sinh, nhưng tôi vẫn đứng lên. Tôi đã chạy đường nào? Tôi cũng không thể nhớ nổi. Tất cả mọi phương hướng trông có vẻ đều lạ lẫm và đều có linh tính. Tôi bắt buộc phải di chuyển - hoặc là chết. Gió đang thổi phía sau lưng tôi, phải không nhỉ? Tôi chọn một hướng và bước đi - những cơn gió lạnh đẩy tôi tiến lên phía trước. Với tất cả những gì mà tôi biết, tôi có lẽ đang tiến về phía nhà của Lockwood. Điều đó không quan trọng. Cái chết gây ra bởi một viên đạn có lẽ là thích hợp hơn việc chết vì hạ thân nhiệt.
Tôi không thấy mặt đất thoải xuống nữa và tôi đã ngã xuống một con dốc, nảy lên như một chiếc bao tải chứa đầy khoai tây và hạ cánh ngay giữa một con đường nhỏ, hai vết lõm song song hằn lên mặt đường bởi hai lốp xe tải. Dấu hiệu của con đường khiến tôi tràn đầy quyết tâm. Tôi đứng dậy trên đôi chân của mình, bước đi ngẫu nhiên theo hướng mà tôi đứng đối diện, đầu gối tôi như đang rung lên và oằn xuống, sự đe dọa đang lấn dần trong mỗi bước đi. Khi tôi nghĩ cơ thể mình đã đạt đến giới hạn của nó, khi tôi chỉ bước được thêm một bước nữa trước khi tôi có thể làm thêm được một điều gì đó hơn là ngã xuống phía trước, tôi đã nhìn thấy một tia sáng lóe lên cách tôi vài mét ngay đằng trước. Tôi chớp mắt để nhìn rõ hơn, tin rằng bộ não lộn xộn của mình đã ném một lời quở trách để thức tỉnh bản thân. Nhưng vẫn là nó, ở đằng kia. Một mảnh trăng đã xuyên qua những đám mây, lướt tới trái đất, giống như một mũi tên được nhắm trúng đích, bắn tía lia ra khỏi cửa sổ kính bẩn thỉu của một túp lều đi săn: sự hứa hẹn của một nơi trú ẩn, có thể là một tấm chăn, hoặc - tốt đẹp hơn - là một cái bếp.
Tôi tìm thấy một nguồn sức mạnh mà không biết mình lấy được từ đâu, một nỗ lực cuối cùng của sự sống. Tôi kéo lê đôi chân trên con đường đó. Chiếc cabin có một cánh cửa làm bằng kim loại đã bị khóa, nhưng khung cửa sổ phía bên cạnh lại có thể dễ dàng mở khóa. Tôi tìm thấy một hòn đá, nhưng những ngón tay của tôi đã trở nên vô dụng, vì vậy tôi lượm lấy viên đá bằng cổ tay và cánh tay mình. Tôi đã ném đá và cơ thể mình chọi lại với lớp cửa kính, làm vỡ một góc của cửa sổ.
Tôi trượt cánh tay mình qua cái lỗ, thò vào trong nhà, cố gắng bám chặt tay vào tay nắm cửa, đủ để vặn nó. Bàn tay yếu ớt của tôi lắc lắc tay đấm cửa. Tôi đã gần như được cứu, tuy nhiên, nếu tôi không thể bước chân vào nhà, thì điều này cũng trở nên vô nghĩa. Sự chóng mặt lại tấn công tôi thêm lần nữa. Chân phải của tôi bị gãy, tôi phải đứng dựa vào căn lều, chân trái phải vật lộn để giữ thăng bằng. Tôi nghiêng đầu mình trở lại và áp trán vào cửa sổ, cố gắng bẻ gãy những mảng kính thành những mảnh vỡ đang rơi thành từng đợt trên sàn. Tôi huých vào những mảnh thủy tinh còn lại ra khỏi khung cửa bằng cùi trỏ rồi lao người qua lỗ hổng đó và rơi xuống sàn nhà, những mảnh thủy tinh cứa và đâm vào bụng tôi khi tôi ngã xuống.
Tôi bò bằng đầu gối và khuỷu tay trên sàn nhà, kiểm tra lại về sự khám phá mới mẻ của mình dưới ánh trăng nhợt nhạt: một chiếc chậu tắm, một chiếc bàn với bốn chiếc ghế, một chiếc ghế tựa và… một chiếc bếp củi.
Đúng là vớ bở! Những người thợ săn đã để lại một đống củi nhỏ gần chiếc lò, bên cạnh chúng là một tờ báo cũ và một vỏ hộp có kích thước bằng một lon soda chứa hai đầu diêm dài. Tôi kẹp một que diêm trên những đốt ngón tay xương xẩu và quẹt nó trên bề mặt của chiếc lò gang. Sự run rẩy đã khiến tôi điều khiển đầu que diêm vào bề mặt lò với một lực tương đối mạnh và điều đó đã khiến chiếc que gãy ra làm đôi, đầu của nó rơi vào bóng tối.
“Chết tiệt!” Tôi thốt ra từ đầu tiên ra khỏi mồm kể từ khi tôi bị đánh bởi chai rượu whisky. Những âm thanh đó va mạnh vào thành họng tôi khi lọt ra ngoài.
Tôi kẹp que diêm thứ hai vào bên tay trái, ép cổ tay của mình vào bụng để giữ chặt. Tôi chạm đầu của que diêm vào bề mặt kim loại của chiếc bếp lò, sau đó giật thật mạnh cơ thể mình, làm que diêm chạm vào bề mặt kim loại đủ mạnh để có thể thắp sáng mà không bẻ gãy nó. Tôi quay que diêm về một phía và nhìn ngọn lửa đang lớn dần lên. Tôi đốt một góc tờ báo, ngọn lửa liếm lấy mẩu giấy khô, leo nhanh về phía tay tôi, sức nóng từ ngọn lửa đã sưởi ấm cho tôi và tôi tận hưởng nó với sự đói khát của một kẻ ăn xin.
Khi ánh sáng từ mẩu báo bị đốt cháy vây kín căn phòng, tôi tìm thấy những mảnh vỏ thông nằm sát bên cạnh đống củi khô. Chất những mảnh vỏ cây lên tờ báo đang cháy, tôi nhìn chúng đang dần chuyển mình thành một đống lửa. Ngay sau đó, tôi đã có một đống lửa cháy bằng những thớ củi khô kia. Lửa từ những lớp vỏ cây dẫn lên những thanh củi, những thanh củi dẫn đến những thanh gỗ và chỉ sau chớp mắt, tôi đã thấy mình đang ngồi xổm trước một ngọn lửa mạnh mẽ, tôi xoay cơ thể mình lần lượt áp sát với ngọn lửa, đủ lâu để mỗi bên cơ thể đều được sưởi ấm, xoa dịu những cơn đau đang giày vò tôi trước khi xoay người đi.
Khi xem xét những thớ thịt trên cơ thể mình, khi làn da của tôi đã “tan đá”, khi những giác quan của tôi đã quay trở lại với cuộc sống, thì tất cả những vết thương trên cơ thể tôi đều đồng loạt gào thét. Những vết thương dài và sâu bao phủ toàn bộ cánh tay và bàn chân. Tôi lôi ra những mảnh vụn thủy tinh từ bụng mình. Một vết thương cực lớn trên vai tôi vẫn còn mắc lại một chiếc lá thông. Vùng da trên cổ tôi, nơi Lockwood đã dùng dây để cắt đứt hơi thở của tôi, đang sôi sục một sự nhắc nhở về việc tôi đã xém chết như thế nào. Tôi tháo chiếc giày bằng băng keo ra khỏi chân mình, máu đã trở về trên những mao mạch và kẽ hở của những ngón chân, tôi hơ chúng vào lửa. Tôi xoa các cơ bắp ở chân, ngực và quai hàm, nơi những cơn đau của sự co rút vẫn đâm vào tôi như những chiếc gai nhọn.
Ngay khi cơ thể đã hồi phục lại đủ để đứng dậy, tôi đến bên cửa sổ, với một que lửa trên tay, để nhìn và nghe ngóng sự xuất hiện của Douglas Lockwood. Gió, thứ đã đẩy sau lưng khi tôi băng qua rừng cây, giờ đây đã trở thành một cơn bão mạnh. Nó giật chiếc rèm cửa và huýt sáo trong khi đang vần vũ những cây thông bên ngoài. Nghe có vẻ đáng ngại, nhưng lại là một sự ban ơn của Chúa vì nó giúp tôi tránh xa khỏi kẻ đang săn lùng kia. Tôi thấy không có dấu hiệu của Lockwood. Tôi không nghe thấy tiếng bước chân. Ông ta mang theo một khẩu súng, nhưng ông ta không thể bắn những gì mà ông ta không tìm thấy. Tôi kẹp chiếc rèm vào khung cửa sổ, cố gắng để nó che phủ toàn bộ khung cửa, dù chỉ là một xen-ti-mét, để ngăn chặn ánh sáng từ đống lửa có thể lọt ra ngoài. Tôi nghe ngóng và chờ đợi. Tôi có thể để Lockwood lọt vào căn lều nếu hắn muốn giết tôi. Giờ thì tôi đã sẵn sàng đối mặt với hắn, hắn chắc hẳn đã nắm chắc một cuộc chiến trong tay.
Tôi ngồi cạnh cửa sổ trong ít nhất một giờ, căng thẳng lắng nghe tiếng bước chân hoặc sẽ nhìn thấy nòng súng thò vào từ chiếc rèm, nơi cửa sổ đã bị đập vỡ kính. Và sau một giờ, tôi bắt đầu tin rằng ông ta sẽ không tìm thấy tôi trong túp lều thợ săn đó. Trong khi tôi thò đầu ra ngoài để tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào của Lockwood, tôi đã trông thấy cơn bão tuyết mà các nhà dự báo đã đề cập đến. Những bông tuyết to như những cục bông lướt đi trong gió, chặn đứng tầm nhìn gần như bằng con số 0. Lockwood sẽ không bao giờ tìm tôi vào lúc này. Ông ta không điên đến nỗi sẵn sàng đi trong rừng ngay giữa cơn bão tuyết. Tôi đẩy đẩy một chiếc đệm ghế chèn lên chiếc khung cửa sổ để che chắn kĩ hơn lỗ hổng này và từ bỏ sự chầu chực của mình.
Tôi nhìn quanh căn lều nhỏ, đang được thắp sáng bởi một ngọn lửa tuyệt vời và nhận thấy đây là một căn phòng đơn với kích cỡ của một thùng xe - không phòng tắm, không điện, không điện thoại. Một bộ đồ bảo hộ của ngư dân được treo trên một chiếc móc gần với bồn rửa. Tôi đi qua những mảnh kính vỡ tới chỗ bộ đồ bảo hộ, cởi chiếc quần jean màu xanh của mình ra, thứ đang ướt nhẹp và đóng băng và mặc bộ đồ đó vào, rồi treo chiếc quần jean của mình lên phía trên ngọn lửa bằng một cái cán chổi. Tôi tìm thấy hai chiếc khăn to và một con dao găm trong một chiếc tủ. Tôi cởi chiếc áo sơ mi đang mặc trên người, treo nó cùng với chiếc quần jean và quấn khăn lên vai, mặc chúng như một chiếc khăn choàng. Tôi nhặt con dao lên, chạm những cạnh sắc nhọn của nó lên đầu ngón tay cái, giữ nó trong lòng bàn tay, đâm vào bóng tối, giết chết Lockwood hàng ngàn lần với ý nghĩ trong đầu. Tôi đã có quần áo, lò sưởi, một chiếc ghế tựa và một mái nhà. Tôi thấy mình như một ông hoàng. Tôi tin tưởng vào sự trốn thoát của mình. Tôi tin rằng mình sẽ an toàn thoát khỏi lão già điên khùng kia, người muốn nhổ những câu Kinh thánh vào mặt tôi ngay trước khi ông ta cố gắng để giết tôi. Tuy nhiên, khi tôi đang nằm trên chiếc ghế êm ái đó, tôi nắm chặt con dao găm trong một tay và một ngọn đuốc trên tay còn lại, chờ đợi cho một cuộc chiến khác.