Thời gian như thoi đưa, nhật nguyệt tựa tên bay, trong chớp mắt đã lại qua bảy năm.
Mặt trời treo giữa đỉnh đầu, biển cát mênh mông vô tận, không khí giữa trời đất cuồn cuộn sóng nhiệt, hệt như những luồng lửa vô hình. Cơn gió lúc mạnh lúc yếu, cuốn theo từng làn cát mịn tạt vào mặt một người đàn ông tóc nâu. Người đó dắt lạc đà, bước từng bước sâu bước nông trên cát, chợt dừng chân phóng tầm mắt nhìn biển cát chập chùng, trong lòng thầm than thở. Phía sau hắn, một thiếu niên tóc vàng mặt trắng cũng dừng lại theo, mở túi da ừng ực uống rượu.
Người đàn ông tóc nâu không nén nổi ngoảnh lại quát: "Lubea, uống ít thôi! Chúng ta bị kẹt rồi! Có biết không? Bị kẹt rồi đấy!" Thiếu niên quẹt miệng, lẩm bẩm: "Uống nốt ngụm này, không uống nữa là được chứ gì?" Nói rồi tiện tay ném túi rượu lên lưng lạc đà, nào ngờ để không vững, "pạch" một tiếng rơi tõm xuống đất. Rượu đỏ trong túi chảy tràn ra, chớp mắt đã thấm đúp vào cát. Thiếu niên vội vớ lấy nhưng làm sao kịp. Người đàn ông tóc nâu mắt tóe lửa, gầm lên: "Thằng nhãi chết dệt!" Xông đến giật lấy túi da, bên trong chỉ còn lại chưa đầy một nửa. Mặt Lubea cắt không còn một giọt máu, xoay người bỏ chạy. Người đàn ông tóc nâu chửi rủa một tiếng, rút ra thanh đoản đao cong, sải bước đuổi theo, miệng gào: "Mày chạy đi, chạy đi, đồ thỏ đế, cho mày chạy này." Cát mềm lún sâu, hai người bước một bước chìm một bước, di chuyển cực kỳ khó khăn. Lubea chợt sảy chân ngã sõng xoài. Người đàn ông tóc nâu chộp lấy hắn, lưỡi dao sáng quắc gác ngay lên chiếc cổ trắng trẻo. Lubea vùng vẫy: "Buông tôi ra, buông tôi ra..."
Người đàn ông tóc nâu dùng chuôi dao thúc mạnh vào mông hắn một cái, nhổ nước bọt: "Mổ thịt mày cho bớt một cái miệng tranh nước." Lubea đau đến nhăn nhó, nhưng thấy giọng điệu hắn tuy dữ tợn mà lửa giận trong mắt đã nhạt đi, biết hắn đã nguôi giận, bèn cười hi hờn: "Giết tôi rồi thì chẳng còn ai trò chuyện cho ông bớt chán đâu. Bị dao chém chết thì nhanh gọn, sống mà chết rũ vì buồn chán mới khổ." Người đàn ông tóc nâu hừ một tiếng, tra dao vào vỏ, bực bội nói: "Đồ hấp hối, còn phạm lỗi nữa thì ta một dao..." Hắn xua tay làm bộ dọa dẫm. Lubea thè lưỡi cười: "Ông mới không nỡ chặt đầu tôi."
Người đàn ông tóc nâu cười lạnh: "Không chặt đầu mày thì không thể hoạn cái thằng ranh con nhà mày sao?" Mặt Lubea đỏ gấy tai, nhổ một bãi. Người đàn ông tóc nâu liếc hắn một cái, nói: "Mày muốn để Sofia làm góa phụ à? Hay là để ta cưới cô ta giùm mày..." Vừa nói hắn vừa đảo mắt nhìn xuống hạ bộ Lubea. Lubea bị nhìn đến gáy nổi gai ốc, gào lên: "Thằng cha khốn nạn! Câm miệng!" Người đàn ông tóc nâu "oa oa" cười quái dị hai tiếng, chợt "ố" lên một tiếng, chỉ tay ra xa: "Lubea, mày nhìn kìa." Lubea vẫn còn giận dỗi, hậm hực: "Nhìn cái quỷ gì." Nhìn trộm theo hướng tay chỉ, lại thấy giữa làn cát chảy cuồn cuộn, một chấm đen lúc ẩn lúc hiện, lao đến như bay. Lubea ngạc nhiên: "Đó là..." Lời chưa dứt, người đàn ông tóc nâu đã ấn đầu hắn nằm rạp xuống, nhẹ nhàng rút dao, thì thầm: "Là cướp sa mạc!" Chỉ thấy bóng đen lao nhanh như chớp, càng lúc càng lớn, hình dáng một người đàn ông dần hiện rõ. Tim Lubea vọt lên tận cổ họng, giọng khàn đi: "Chỉ... chỉ có một người đến, sợ cái gì?" Người đàn ông tóc nâu tức giận: "Bớt tào lao, rút dao ra." Lubea nín thở, núp sau lưng lạc đà, trố mắt nhìn người đang lao tới.
Người đó càng lúc càng gần, hóa ra là một gã đàn ông mặc áo xám khoác áo gile lông cáo bạc, khom lưng cúi đầu, chân đạp lên một thứ dụng cụ kỳ lạ giống như xe trượt tuyết nhưng rộng hơn nhiều. Ở giữa có đòn bẩy nối liền, bên ngoài bọc sắt, hai bên có hai ống sắt nhỏ dài. Người đó dùng hai tay nắm lấy kéo về phía sau, lớp vỏ sắt liền quay "cốt két", kéo chiếc xe sắt chồm về phía trước hơn một trượng. Cả hai chưa từng thấy quái vật như vậy bao giờ, tim đập liên hồi, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi.
Gã gạt ống sắt liên tục, lúc nâng lúc hạ, tà áo mái tóc tung bay,uyển như lướt đi trên cát chảy. Không lâu sau đã đến trước mặt lạc đà, vươn thẳng người đứng dậy. Lubea nhìn kỹ, thấy gã lông mày dài, mắt phượng, ánh mắt sắc sảo anh hào, hai bên má râu rậm như mực, ẩn hiện dưới râu là một vết sẹo dài. Lubea vốn tưởng người đến phải hung thần ác sát, nào ngờ lại có diện mạo thế này, ngơ ngác mất một lúc. Chợt cảm thấy gió lạnh bên mình, thanh đoản đao cong của người đàn ông tóc nâu đã chém xé gió hướng thẳng vào mặt gã. Người áo xám hình như không ngờ sau lạc đà có người núp, khẽ "ố" một tiếng, hơi nghiêng người. Người đàn ông tóc nâu chém hụt một dao, vội vàng xoay dao chém ngang. Người đó chẳng thèm để ý, sải bước tiến lên. Người đàn ông tóc nâu lại chém hụt lần nữa, vội quay đầu lại thì thấy người áo xám đã nhặt túi da mà Lubea làm mất lên, ngửi ngửi rồi ừng ực uống nốt chỗ rượu thừa bên trong.
Người đàn ông tóc nâu kinh hãi, vung dao lao tới, nào ngờ một thanh đoản đao cong khác từ bên cạnh lao ra, "ken" một tiếng đỡ lấy lưỡi dao. Người đàn ông tóc nâu giận dữ gầm lên: "Lubea, mày lại ngốc rồi đấy à?" Mặt Lubea đỏ lên, lắc đầu: "Tôi thấy người này không giống." Người đàn ông tóc nâu hỏi: "Không giống cái gì?" Lubea đáp: "Không giống cướp sa mạc." Người đàn ông tóc nâu giận dữ: "Mày biết cái cặc gì." Lubea ấp úng: "Tôi thấy không giống thật mà." Hai người đang tranh chấp, người áo xám lại chỉ lo uống rượu. Người đàn ông tóc nâu cũng thấy hoài nghi, lưỡi dao tự giác hạ xuống.
Người áo xám uống như rồng cuốn cá nuốt, sạch bách hũ rượu, ném túi da sang một bên, ha ha cười lớn: "Ba ngày không có rượu uống rồi, thật là đã đời! Còn nữa không?" Người đàn ông tóc nâu đáp: "Hết rồi." Người áo xám đảo mắt nhìn hắn, cười nói: "Nghe giọng, các ngươi đến từ Genova à?" Lúc đầu gã nói tiếng Hồi Hồi, lúc này đột nhiên chuyển sang tiếng Latin. Người đàn ông tóc nâu ngẩn người, thốt lên: "Đúng vậy, chúng tôi là thương nhân Genova, sang Trung Quốc làm ăn, trên đường gặp cướp, bạn đồng hành đều bị thất lạc cả rồi. Được rồi, ở đây không có rượu, ngươi mau đi đi." Lubea chợt xen vào: "Taboro ông nói dối, chúng ta còn ba túi rượu nữa, đủ uống hai ngày..." Taboro không ngờ hắn lại ngu ngốc vạch trần lời nói dối của mình, tức đến nghẹn lời, chỉ muốn tung nắm đấm nện cho hắn một trận. Phải biết rằng, thời buổi này bị mắc kẹt giữa đại mạc, giọt nước quý hơn vàng, vì chút nước giọt rượu mà hại mạng người cũng chẳng có gì là lạ. Người áo xám xuất hiện kỳ quái, nếu có dã tâm thì nguy to. Taboro vừa chửi rủa vừa nắm chặt chuôi dao, mắt liếc sang thăm dò động tĩnh của gã.
Gã đàn ông áo xám mỉm cười: "Gã này bủn rủn thật, nếu ta lấy nước đổi rượu, ngươi có đồng ý không?" Taboro thấy y phục gã phẳng phiu, trên xe trượt trống rỗng không có chỗ giấu nước, bèn cười lạnh: "Giữa cái sa mạc này lấy đâu ra nước? Ngươi gạt ai chứ?" Người áo xám nói: "Thánh đồ Moses chẳng phải cũng tìm thấy nước giữa biển cát Sinai sao? Thượng đế sao lại bỏ rơi tôi tớ của Ngài?" Taboro nghe vậy đơ người, hỏi: "Ngươi cũng tin Chúa sao?" Trong lòng tự dưng nảy sinh cảm giác gần gũi với gã.
Người áo xám không ừ hữ, nhìn mặt trời rồi lại nhìn bóng dưới chân, bấm ngón tính toán, chợt cúi người xuống, hai tay thoăn thoắt đào một cái hố sâu. Sau đó thò tay vào ngực áo lấy ra một bó hương, vê hai ngón tay trỏ và giữa, ánh đỏ lóe lên, làn khói nhẹ nghi ngút bay lên. Người áo xám cắm bó hương vào hố, cởi chiếc áo gile lông cáo bạc che kín miệng hố, không để khói thoát ra.
Hai người thấy cử chỉ gã kỳ quái thì vô cùng kinh ngạc. Taboro vốn đi nhiều hiểu rộng, lập tức sinh nghi: "Gã này hành tung quái đản, chẳng lẽ là dị giáo đồ từ đâu tới? Những hành động kỳ quái này là nghi thức trước khi gã hạ sát người sao?" Càng nghĩ càng kinh hãi, mồ hôi lạnh chảy ướt sống lưng. Hắn muốn rút dao nhưng thấy gã tự nhiên điềm tĩnh lại cảm thấy chân tay bủn rủn, không còn chút dũng khí nào như lúc nãy.
Đang lúc phân vân, đống cát đằng xa bốc lên từng làn khói trắng nhỏ. Người áo xám cười nói: "Có rồi." Nhặt túi da lên, bước vài bước đến chỗ bốc khói, hai tay như hai chiếc xẻng nhỏ đào bới trong cát. Chẳng mấy chốc gã đã đào ra một cái hố sâu, thò túi da vào như đang múc nước. Một lúc sau, gã bước lại trao túi da cho Lubea, nói: "Lắng một lúc là uống được."
Lubea cảm thấy túi da nặng trịch, khẽ lắc một cái, bên trong truyền ra tiếng nước chảy ọc ọc, vui mừng reo lên: "Là nước, là nước!" Taboro giật phắt túi da, kẹp sát mũi ngửi thử, quả nhiên hơi ẩm xộc vào mũi, không khỏi trợn tròn mắt, gầm ừ: "Kỳ lạ, ngươi... ngươi là pháp sư sao?" Người áo xám thản nhiên mỉm cười: "Đây không phải ma thuật, chỉ là một trò vặt của Trung Thổ mà thôi. Đằng kia vẫn còn nước, nếu ngươi không sợ ta lén bỏ độc thì cứ việc qua lấy!" Taboro bị gã đọc thấu tâm tư, mặt đỏ bừng lên. Lubea tuổi trẻ nông nổi, chẳng nói chẳng rằng giật lấy mấy túi da trống lao đến trước hố. Chỉ thấy trong hố có một vũng nước bùn pha cát liên tục thấm ra. Hắn múc một ít, đáy hố lại mọc ra nhiều hơn, lúc nào cũng ngang bằng với miệng hố, dùng hoài không cạn. Lubea múc đầy các túi da rồi hớn hở quay về. Taboro nhận lấy túi nước uống thử hai ngụm mới hoàn toàn tin tưởng, bèn tháo một túi rượu trên lưng lạc đà xuống đưa cho người áo xám, sảng khoái nói: "Người làm ăn nói lời giữ lời, chúng ta lấy nước đổi rượu." Người áo xám cười đáp: "Nói đúng lắm, người làm ăn thì phải có tác phong của người làm ăn." Gã nhận lấy túi rượu dắt vào cạp quần.
Lubea trong lòng thán phục, giơ ngón tay cái lên nói: "Tiên sinh, ông tìm được nước, thật lợi hại. Có điều, ông... ông có thể dẫn chúng tôi ra khỏi sa mạc không?" Người áo xám cười không đáp, chỉ ngồi xuống uống rượu. Lại một lúc sau, uống hết sạch túi rượu mới đứng dậy nói: "Ra ngoài không khó, nhưng người làm ăn thì phải ra dáng làm ăn." Taboro thấy gã tìm được nước đã thầm bái phục bản lĩnh của gã, nghe vậy mừng rỡ: "Nếu ông dẫn chúng tôi ra ngoài, tôi chia cho ông ba phần hàng hóa."
Người áo xám đáp: "Ta lấy hàng hóa của ngươi làm gì? Ngươi cho ta rượu uống, ta dẫn đường cho ngươi, qua lại sòng phẳng, vô cùng công bằng." Taboro không ngờ lại hời như vậy, sợ đối phương đổi ý, vội nói: "Một lời đã định, dẫn chúng tôi ra ngoài, ba túi rượu này cho ông hết."
Người áo xám không nói thêm lời nào, gác chiếc xe trượt bằng sắt lên lưng lạc đà, gỡ túi rượu ra vừa đi vừa uống. Hai người hô hào dắt lạc đà đuổi theo phía sau, chân bước chìm bước nổi khiến cát kêu lên "sột soạt". Người áo xám bước chân lại cực kỳ lớn, nhưng hạ chân lại êm ru không một tiếng động. Gã thỉnh thoảng lại bấm đốt ngón tay, ngước nhìn trời ngó xuống đất. Đi chừng nửa canh giờ, trời về chiều, từ oi nóng chuyển sang lạnh giá xương tủy. Cơn gió lạnh sắc như mũi tên khẽ rít lên từng hồi. Bầu trời đêm trong trẻo không một gợn mây, tựa như một tấm lưu ly màu đen khổng lồ. Mặt trăng treo ở hướng tây, tròn vằn vặn và sáng rực, chiếu xuống biển cát ửng lên sắc xanh nhạt, huyền ảo như mộng, khiến lòng người thư thái an yên.
Lubea dắt lạc đà, bước một bước chìm một bước, vất vả đuổi theo sau lưng người đàn ông kia. Thấy gã cầm hũ rượu, ba bước lại uống một ngụm, nhìn túi rượu sắp cạn, hắn liền bắt chuyện: "Tiên sinh, ông là nhà du hành đến từ phương Đông sao?" Người áo xám "ừm" một tiếng. Lubea cười nói: "Tửu lượng của ông tốt thật! Nhưng rượu này là của người Baghdad cất, không chính gốc đâu. Rượu đỏ ở quê hương tôi mới gọi là ngon." Người áo xám mỉm cười: "Genova ta cũng từng đến rồi, rượu ngon, thịt bò mềm cũng rất tươi. Có điều, thưởng thức rượu giữa đại mạc lại là hương vị không đâu sánh bằng!" Lubea vỗ trán, vỗ đùi đánh đét: "Đúng thế thật, lúc đói ăn bánh mì đen còn sung sướng hơn lúc no nê ăn thịt bò mềm. Ở sa mạc uống rượu đương nhiên cũng sướng hơn ngày thường nhiều." Hắn mải nói chuyện, dưới chân chợt vấp một cái, cắm đầu ngã dúi dụi vào cát. Ngước mắt nhìn lại thì ra là một bộ hài cốt trắng hếu, đầu lâu nhe răng trợn mắt, hốc mắt đen ngòm đang đối diện với hắn, trông thật rợn người. Thiếu niên cảm thấy sống lưng lạnh ngắt, vừa sợ hãi lại vừa tức giận, giơ chân đá văng bộ hài cốt ra xa, vỡ tan tành. Hắn trút được cơn giận, phủi tay nhổ bãi nước bọt: "Cho mày vấp tao này."
Người áo xám lạnh mắt nhìn, thầm nghĩ: "Rốt cuộc cũng chỉ là đứa trẻ, chưa biết nỗi khổ nhân gian. Nếu không gặp ta, e rằng tuổi đời còn nhỏ này đã phải làm bạn với bộ hài cốt này rồi. Người ta nói thiên hạ xô xao đều vì lợi lộc, nhưng mấy ai biết nỗi gian truân của nghề đi buôn, mấy ai biết giữa biển cát này đã chôn vùi biết bao hài cốt thương nhân?" Không khỏi nhớ lại vài chuyện cũ, vẻ mặt ảm đạm, chợt ngửa mặt lên trời than: "Thiếu niên bất tri sầu tư vị, vị phú tân từ cưỡng thuyết sầu. Dục thượng tầng lầu, dục thượng tầng lầu, nhi kim tận thức sầu tư vị, dục thuyết hoàn hưu. Từ của Giá Hiên rốt cuộc vẫn hay, nhưng người lại hủ lậu rồi, một trận say túy bù xuy chẳng phải sảng khoái hơn nhiều sao."
Lubea không hiểu ý, kỳ quặc hỏi: "Tiên sinh, ông nói gì thế?" Người áo xám thản nhiên: "Tào lao vài câu thôi. Đúng rồi, Lubea, ngươi tuổi còn nhỏ thế này, cớ sao lại bỏ xứ mà đi làm cái nghề buôn bán này?" Mặt Lubea đỏ lên, ngượng ngùng: "Tôi... tôi kiếm được tiền là có thể cưới Sofia rồi! Nhà cô ấy giàu lắm, tôi không xứng." Người áo xám nhíu mày: "Đường xá xa xôi muôn trùng, gian nan vất vả, nếu muốn kiếm tiền thì làm ăn ở quê nhà chẳng phải an toàn hơn sao?" Lubea nói: "Làm ăn ở nhà muốn kiếm tiền lớn đâu có dễ. Nếu mang được hàng hóa Trung Thổ về bán được giá cao mới đủ tiền cưới Sofia chứ." Người áo xám thầm nghĩ: "Đi đi về về tốn bao năm tháng, cô gái kia đang tuổi xuân thì, chưa chắc đã đợi được đến lúc ngươi trở về..." Trong lòng tưởng tượng như vậy nhưng miệng gã rốt cuộc không nỡ nói ra, thở dài một tiếng rồi lẳng lặng bước đi.
Đi suốt nửa đêm, trời dần hửng sáng. Nhìn ra xa, giữa lớp cát bỗng mọc lên vài khóm cỏ thưa thớt. Hai thương nhân thấy vậy biết rõ đã ra khỏi sa mạc, không khỏi vui mừng đến phát cuồng. Taboro quỳ sụp xuống đất ngửa mặt lên trời cười lớn, hai tay chắp trước ngực làm dấu thánh giá. Lubea thì mừng rỡ lộn mèo liên tục, gầm hú quái dị.
Người áo xám nhìn hai người vui mừng xong xuôi mới nói: "Từ đây đi về hướng đông bắc sẽ là nơi mông tịnh thủy thảo, người gia súc chắc chắn đông đúc, đi lại không khó. Tụ tán vô thường, chúng ta chia tay tại đây." Đang định quay người rời đi thì Taboro đã sải bước vọt tới, gào lên: "Tiên sinh, ông đã cứu mạng chúng tôi, bảo chúng tôi lấy gì báo đáp?" Đấu gối phải khuỵu xuống định hành lễ. Người áo xám phất rộng tay áo, Taboro chỉ cảm thấy một bàn tay khổng lồ vô hình đỡ lấy mình, thế nào cũng không thể quỳ xuống được. Nếu không phải người áo xám liên tục thi triển kỳ tích khiến người ta quen mắt thì hắn đã kinh ngạc gào lên rồi. Dù vậy, Taboro vẫn cảm thấy bất an: "Người này biết ma thuật thật đấy, rốt cuộc gã là tôi tớ của Thượng đế hay là ác quỷ dị giáo?" Đang lúc thấp phỏng lo âu thì nghe người áo xám mỉm cười nói: "Đã nói rồi, ngươi cho rượu, ta dẫn đường, qua lại sòng phẳng, rất mực công bằng. Người làm ăn thì phải có dáng vẻ của người làm ăn, chúng ta hai bên không ai nợ ai, cần gì phải khách khí?" Taboro tự biết ba túi rượu đỏ chẳng qua là ân huệ nhỏ mọn, ra khỏi sa mạc mới là chuyện sống còn, so sánh hai bên làm sao có chuyện công bằng? Nhưng thấy đối phương phóng khoáng không gò bó nên cũng không tiện làm trò hủ lậu, cảm ơn một hồi rồi đứng thẳng dậy.
Lubea tính tình trẻ con, tuy chỉ ở cùng người áo xám một đêm nhưng thấy khí độ gã hòa nhã, trong lòng nảy sinh niềm thân cận lớn. Nghĩ đến chuyện sắp chia tay, mắt nhói đau, cúi đầu không nói. Người áo xám nhận ra, thầm nghĩ: "Đứa trẻ này trọng tình trọng nghĩa, quả là người cùng hội cùng thuyền với ta." Mỉm cười vỗ vỗ lên vai hắn, đang định xoay người rời đi thì chợt nghe từ xa truyền lại một tiếng sói hú. Liếc mắt nhìn qua, chỉ thấy trên ngọn đồi xa xa hiện ra một con sói vàng, in bóng lên vầng trăng khuyết thảm hại, đôi mắt quái dị lộ ra vẻ hung tợn vô cùng. Lubea ngẩn người, đột nhiên lùi lại hai bước, phát ra một tiếng dội ngược.
Người áo xám nhíu mày, nghĩ bụng: "Đứa trẻ này nhút nhát quá..." Chợt thấy Taboro cũng mặt cắt không còn một giọt máu, há hốc miệng, mắt trợn tròn xoe trố mắt nhìn con sói vàng, thân hình đứng đơ như đá. Người áo xám kinh ngạc, nhặt một viên đá nhỏ định bắn ra thì thấy con sói vàng xoay người, vèo một cái chạy mất dạng. Taboro mềm nhũn người ngồi bệt xuống đất, răng đập vào nhau bập bập: "Đến rồi... ác quỷ đến rồi..." Lubea cũng bò rạp dưới đất, toàn thân run rẩy.
Người áo xám kỳ quặc hỏi: "Ác quỷ gì cơ?" Taboro chán nản đáp: "Chính là con quỷ đã giết chết bạn đồng hành của chúng tôi. Lúc xuất phát từ thành Chermichen, chúng tôi có hơn ba trăm người, nào ngờ giữa đường gặp phải sói..." Người áo xám nhíu mày: "Sói?" Taboro thê lương nói: "Đêm đó, bốn phương tám hướng đều là tiếng sói hú, chẳng biết có bao nhiêu con nữa, chỉ thấy ác sói từng đàn từng đàn lao lên, người, ngựa, lạc đà, thấy cái gì ăn cái đó! Tôi dẫn Lubea trốn vào sa mạc mới cắt đuôi được chúng, nhưng chú túc của Lubea thì sống chết ra sao..." Hắn nuốt một ngụm nước bọt, vất vả nói: "Không ngờ, chúng vẫn tới." Lubea bật nhảy dựng lên, nghiến răng: "Liều mạng với chúng nó!"
Người áo xám trầm ngâm: "Dù vậy, vừa rồi cũng chỉ có một con sói vàng, làm gì mà sợ đến thế?" Taboro liên tục nói: "Khó nói lắm, khó nói lắm, tuy chỉ một con nhưng chưa biết chừng lại là trinh sát của đàn sói." Người áo xám nói: "Sói chứ có phải người đâu mà nhiều mưu mô thế?" Taboro nhướng mày, vẻ mặt bí hiểm, đè thấp giọng: "Ngươi không biết đâu, nghe nói thủ lĩnh của đàn sói đó là một con người." Người áo xám kỳ quặc: "Có chuyện này sao? Người và sói khác biệt, sao có thể ở chung?" Taboro nói: "Nghe nói gã đó bán rẻ linh hồn cho ác quỷ, có được bản lĩnh điều khiển đàn sói, chuyên đi cướp phá thương khách, tàn sát sinh linh." Người áo xám lắc đầu: "Truyền thuyết chưa chắc đã đáng tin, thảo nguyên bao la, cáo sói chuột đồng đầy đất. Nơi này xuất hiện một con sói vàng chẳng có gì lạ. Ừm, đã vậy thì chúng ta đi chung một đoạn, hỗ trợ lẫn nhau." Hai người được gã dẫn ra khỏi sa mạc nên trong lòng vô cùng nể phục: "Người này lai lịch tuy kỳ quái nhưng bản lĩnh rất lớn, có gã đi cùng chắc có thể thoát khỏi nguy cơ."
Ba người đi được một đoạn, cỏ tươi dần rậm rạp. Đến giữa trưa, chợt thấy phía trước xuất hiện một tốp người ngựa. Taboro nhìn rõ, chợt mừng rỡ rạng rỡ, gào to: "Fred, Fred!" Lubea cũng đầy vẻ kinh hỷ, vẫy tay: "Chú, chú!" Bên kia một gã cưỡi ngựa phóng như bay tới, râu gã đỏ như lửa, lưng rộng vai dầy, sinh ra vô cùng cao lớn, trên trán có ba vết móng cào tươi đỏ nhức mắt. Gã nhảy xuống ngựa, đôi tay xù xì ôm chầm lấy Lubea, nước mắt chảy dài trên mặt, gào lên: "Chú tưởng các cháu chết rồi chứ, tưởng chết rồi chứ..." Hai chú cháu sau kiếp nạn gặp lại ôm nhau khóc nức nở. Taboro nhìn vậy không khỏi bùi ngùi.
Hai người khóc một hồi rồi kể lại sự tình, Fred nói: "Tôi là được lão già Amo dẫn trốn ra ngoài, có điều hàng hóa phần lớn đều mất sạch rồi." Nói xong vô cùng chán nản. Taboro mất lòng an ủi: "Hàng hóa mất thì không sao, người chết mới không sống lại được." Fred gật đầu cho là đúng. Lúc này toàn bộ tốp người ngựa đã tiến lại gần, Fred chỉ vào một ông lão nói: "Đây là lão già Amo, người Đột Quyết, nếu không có ông ấy thì chúng tôi đều không sống nổi rồi." Taboro nhìn sang, chỉ thấy ông lão đó quấn khăn rằn trên đầu, hồng hào khỏe mạnh, râu trắng như tuyết, vóc dáng nhỏ bé nhưng tinh thần cực kỳ quắc thước. Nhìn lại bên cạnh chỉ còn vẻn vẹn mười người, nhớ lại lúc mới xuất phát, bạn đồng hành hàng trăm, lạc đà ngựa hàng ngàn, so sánh lại thật xót xa.
Đau lòng một hồi, Taboro lấy lại tinh thần, tiến cử người áo xám với đối phương. Mọi người nghe nói người áo xám đào được nước giữa sa mạc đều thấy kinh ngạc. Amo nhìn người áo xám một lúc, chợt xen vào: "Sơn trạch thông khí, sa trung thủ thủy, là bí pháp của đạo sĩ người Hán, ngươi làm sao mà biết được?" Câu này lão nói bằng tiếng Hán, giọng nói vô cùng vang dội. Ánh mắt người áo xám lóe lên vẻ ngạc nhiên, cười đáp: "May mắn thôi, may mắn thôi, không phải chỗ nào cũng đào ra nước được." Amo thấy gã né tránh thực tế, trả lời không đúng câu hỏi thì lộ vẻ không vui, lại hỏi: "Vậy xin hỏi đại danh?" Người áo xám mỉm cười: "Tên tuổi hèn mỏng, không đáng nhắc tới." Amo ngắm nghía gã một hồi rồi không hỏi thêm nữa.
Mọi người trò chuyện một lúc, phát hiện ra tuy ai nấy đều mất hàng hóa nhưng những châu báu quan trọng thì đều mang theo trên người nên không bị mất. Lập tức bàn bạc đến Trung Thổ sẽ hợp sức bán đi, xoay sở vài năm, đợi đến khi tích góp đủ vốn ngạch sẽ mua lượng lớn hàng hóa chở về phương Tây. Fred nghe nói vậy thì hớn hở ra mặt, vỗ mạnh vào vai Taboro: "Chú em, chú nói đúng đấy, hàng hóa mất không sao cả, thương nhân có bản lĩnh có thể biến một đồng tiền vàng thành một triệu đồng."
Mọi người cười lớn, bầu không khí lại trở nên sôi nổi. Taboro cười nói: "Tôi có một người anh họ tên là Marco Polo, anh ấy làm ăn ở Trung Thổ, quen biết rất nhiều quan to thương gia người Đạt Đát. Chúng ta đến nương nhờ anh ấy nhất định không sai đâu." Mọi người reo hò ầm ĩ. Amo lại hừ lạnh một tiếng: "Các ngươi vui mừng quá sớm rồi đấy, nơi đây vẫn là địa bàn của Thiên Lang Tử. Giữ được cái mạng mới nói đến chuyện làm ăn."
Lời này hệt như dội một xô nước đá lên đầu, các thương nhân đang hừng hực khí thế bỗng lạnh ngắt cả người, ngơ ngác nhìn nhau, không ai nói được lời nào. Người áo xám chợt hỏi: "Thế Thiên Lang Tử rốt cuộc là cái gì?" Amo đăm chiêu không đáp, nhảy lên lưng lạc đà đi trước, những người khác im lặng nối đuôi theo sau. Taboro nghiêng đầu nói nhỏ với người áo xám: "Thiên Lang Tử chính là gã điều khiển sói, đối với cái tên này, mọi người đều có chút kiêng kỵ." Người áo xám khẽ gật đầu, thầm nghĩ: "'Thiên Lang Tử' là danh hiệu người Hán, lẽ nào tên hung thần này đến từ Trung Thổ?" Suy đi tính lại vẫn không nhớ ra nhân vật này là ai.
Mọi người tiếp tục đi tiếp, liên tục gặp phải những bạn đồng hành trốn thoát khỏi miệng sói. Đến chiều tà, đoàn thương nhân đã tăng lên hơn năm mươi người. Mặt trời lặn bóng, mọi người quây quần thành một vòng, đốt ngọn lửa lớn. Nói đến tai nạn vừa qua, ai nấy đều thê lương. Không ít người mất đi người thân bè bạn, nghe xong lòng đau như cắt, cất tiếng khóc lớn.
Đột nhiên, từ xa truyền đến một tiếng sói hú kéo dài, thê lương quái dị, ánh trăng dường như cũng tối sầm lại. Tiếng khóc trên bãi lập tức ngừng bặt, lặng ngắt như tờ. Taboro đứng dậy giơ tay che trán cực lực nhìn ra xa, chỉ thấy một bóng đen dạng chó lướt qua rồi biến mất ở đằng xa. Nhìn lại mọi người, ai nấy mặt mày xám ngoét không còn một giọt máu, chỉ có người áo xám như không nghe thấy gì, nằm khểnh trên đất uống rượu. Đang lúc kinh hãi thì chợt nghe Fred thì thầm bên tai: "Taboro, chúng ta không trốn thoát được đâu, nó vẫn bám theo đấy! Chúng ta... một người... than ôi, một người cũng không trốn thoát được đâu." Taboro quay đầu lại, chỉ thấy bộ râu xù xì của Fred rung lên bần bật, đôi mắt đong đầy tuyệt vọng. Fred nuốt ực một ngụm nước bọt, nói: "Taboro, nếu tôi chết mà chú còn sống thì xin chú hãy chăm sóc Lubea, nó còn nhỏ, người lại không được lanh lẹ..." Taboro gật đầu: "Tôi chết rồi thì chú cũng chuyển lời giùm tôi cho anh họ." Hai người bốn mắt nhìn nhau, hai bàn tay to lớn siết chặt lấy nhau, chỉ thấy lòng bàn tay đối phương ướt đẫm mồ hôi.
Mắt người áo xám lóe sáng, chợt hỏi: "Thiên Lang Tử này lai lịch thế nào?" Mọi người nghe thấy cái tên này thì căng da mặt, lộ vẻ sợ hãi. Amo ho nhẹ một tiếng, cầm thanh củi khều vài cái cho đống lửa sáng thêm chút nữa, chậm rãi nói: "Lai lịch này khó nói lắm, có người nói nó là sói, có người nói nó là người, lại có người nói nó là nửa người nửa sói." Người áo xám nói: "Nhiều lời đồn đại như vậy, e rằng con quái vật này đã hoành hành từ lâu rồi."
Trong ánh lửa, sắc mặt Amo lúc xanh lúc trắng, thản nhiên nói: "Cũng không tính là quá lâu. Thời kỳ nhà Mông Cổ hưng thịnh nhất, con đường này rất đỗi thái bình, đội một mâm vàng đi cả năm cũng chẳng sao. Mười mấy năm trước, Hoàng Kim Gia Tộc xảy ra nội loạn, chư vương không hài lòng việc Đại Nguyên hoàng đế Hốt Tất Liên dùng vũ lực tranh đoạt hãn vị nên đã đánh nhau. Chiến tranh liên miên làm cho thảo nguyên hoang vu ngàn dặm, xương trắng chất đống, vô số gia đình tan cửa nát nhà, người chết đói thì chết đói, kẻ không chết đói thì làm mã tặc." Người áo xám im lặng một lúc rồi hỏi: "Thiên Lang Tử xuất hiện từ lúc đó sao?" Amo đáp: "Đúng vậy, vì chiến sự liên miên nên giặc cướp nổi lên như ong. Nói cho cùng, Thiên Lang Tử cũng là một trong số giặc cướp đó, có điều gã độc lai độc khứ, hành sự cực kỳ hung tàn mà thôi. Những mã tặc khác, ví như Thiên Sơn Thập Nhị Cầm, cũng rất lợi hại."
Một thương nhân xen vào: "Lão già Amo, đi tiếp về phía trước là gần đến Thiên Sơn rồi, dù có tránh được Thiên Lang Tử thì làm sao đối phó với mười hai con ác điểu đó chứ?" Mọi người nhíu chặt lông mày, ai nấy đều lo âu. Amo xua tay: "Nói lời này muộn rồi, Thiên Lang Tử ở phía sau, đường quay về không đi được nữa đâu. Đi về hướng Thiên Sơn vẫn còn mấy phần sống. Thiên Sơn Thập Nhị Cầm tuy tàn độc, nhưng nói về tàn nhẫn hiếu sát thì e là chưa bằng Thiên Lang Tử." Mọi người nghe câu này xong liền sinh cảm giác tiến lui lưỡng nan, từng gã gục đầu im lặng.
Người áo xám không hiểu: "Tính sói tàn nhẫn, sao có thể ở chung với người?" Amo nhướng lông mày xám trắng, vuốt râu nói: "Ta có nghe nói qua một chút, khụ, đây cũng là nghe đồn thôi, không thể coi là thật được. Nghe nói Thiên Lang Tử đó vốn là một hài nhi loài người, cha mẹ chết vì chiến loạn, đúng lúc một con sói mẹ bị mất con nhặt được gã, liền coi gã như con mà nuôi dưỡng. Sau này một đạo sĩ người Hán đi qua, một phút rủ lòng thương đã cứu gã ra khỏi đàn sói, mang về làng dạy dỗ bản lĩnh. Mấy năm trôi qua, đứa trẻ đó hình như cũng quên mất những chuyện trong đàn sói, theo đạo sĩ luyện được một thân bản lĩnh, xé sống hùm báo, đuổi kịp vượn lười, trở thành thợ săn số một số hai trong vùng. Ôi, cũng là nghiệt duyên, ai ngờ năm mươi tám tuổi, Thiên Lang Tử này xuân tâm manh động, vô tình yêu một thiếu nữ xinh đẹp cùng làng..." Nói đến đây, chân mày Amo hơi u ám, khẽ ho vài tiếng. Tuy lão không nói nhưng mọi người cũng mập mờ đoán được chuyện xảy ra sau đó, lặng lẽ nhìn Amo. Bãi đất vô cùng yên tĩnh, chỉ có tiếng củi cháy nổ "lách tách". Đột nhiên, một tiếng sói hú cực kỳ nhẹ và nhỏ cất lên từ đằng xa, thăm thẳm không dứt. Mọi người chỉ cảm thấy gáy lạnh gáy gai, đều dịch lại gần đống lửa thêm một chút.
Amo ngẩng đầu nhìn vầng trăng khuyết trên trời, thở dài một tiếng, u u nói: "Tiếc thay, hùm báo hung dữ nhưng lại không biết hái hoa hồng buổi sớm. Thiên Lang Tử tuy có thể bắt sống gấu đen nhưng lại không bắt được trái tim thiếu nữ. Gã yêu thiếu nữ đó, thường xuyên tặng con mồi cho cô, nhưng thiếu nữ đó lại yêu một công tử nhà giàu. Nhưng tồi tệ hơn là cha mẹ cô gái vì tham bản lĩnh của Thiên Lang Tử nên chưa từng từ chối con mồi gã mang đến. Thế nên Thiên Lang Tử cứ bị bịt mắt, chỉ tưởng thiếu nữ có ý với mình, mừng rỡ không xiết, nào ngờ chuyện khác. Cho đến đêm hôm đó, gã đi săn về chợt phát hiện thiếu nữ đó và nhân tình đang gian dâm trong hẻm núi. Thiên Lang Tử tức giận đến cực điểm, tại chỗ muốn giết chết hai người. Vào thời khắc mấu chốt, sư phụ gã lại tìm đến. Lão đạo sĩ thấy vậy ra tay ngăn cản. Thiên Lang Tử đánh không lại sư phụ, tức giận bỏ trốn vào núi sâu. Thiếu nữ và nhân tình bị bắt gặp, ngày hôm sau liền ăn hỏi, một tháng sau thành thân. Người nam vốn là vọng tộc trong vùng, đêm tân hôn, người dân trong vòng trăm dặm đều đến chúc mừng, ca múa tưng bừng, đuốc sáng rực trời. Ngay lúc mọi người đang chếnh choáng vui sướng thì trong núi sâu chợt truyền đến tiếng sói hú, lúc đầu chỉ có một hai tiếng, từ thấp lên cao, không lâu sau đã biến thành một trận đại loạn. Hê, chẳng biết có bao nhiêu sói rừng nữa, nghe vô cùng đáng sợ..."
Nói đến đây, các thương nhân nhớ lại cảnh tượng bị cướp đêm đó, ai nấy đều rùng mình. Amo ngừng lại một chút rồi nói tiếp: "Mọi người còn đang lấy làm lạ thì đàn sói đã từ bốn phương tám hướng lao tới. Những người thợ săn say khướt chưa kịp giương cung đã bị cắn đứt cổ tay, đàn ông chưa kịp rút đoản đao đã bị xé rách họng. Cuối cùng, những người còn sống tụ lại một chỗ, liều mạng kháng cự. Lúc này, họ bỗng nhiên nhìn thấy Thiên Lang Tử đứng giữa đàn sói, ở trần xõa tóc, mắt đỏ ngầu, phát ra tiếng hú giống hệt như sói. Đàn sói nghe tiếng liền xông lên liều chết, người ta từng người từng người gục xuống, máu chảy thành sông thấm vào đất cát, bắn tóe lên tường. Sau đó, chú rể cô dâu đều bị bắt. Thiên Lang Tử nhục mạ cô dâu ngay trước mặt chú rể, sau đó, ác sói tranh nhau xông vào..." Amo nói đến đây sắc mặt u ám, giật lấy túi rượu ừng ực uống không ngừng. Trên bãi lặng ngắt như tờ một lúc lâu, Lubea không nén nổi hỏi: "Thế... thế còn chú rể?" Amo liếc hắn một cái, thản nhiên nói: "Nghe nói bị điên rồi, cũng kỳ lạ, Thiên Lang Tử lại không giết hắn." Lubea thở phào một hơi: "Còn tốt, bớt chết một người." Người áo xám lạnh lùng nói: "Sống không bằng chết, có gì tốt chứ?" Gã suy nghĩ một chút rồi lại nói: "Nói như vậy thì Thiên Lang Tử này không chỉ tàn nhẫn mà còn vô cùng thâm hiểm! Mối thù cướp vợ không đội trời chung, người này lại có thể nhẫn nhịn suốt một tháng trời để rình cơ hội ra tay, sự kiên nhẫn này đúng là hiếm ai bằng." Mọi người đều gật đầu. Lại nghe người áo xám mỉm cười: "Chỉ là dù thật hay giả thì câu chuyện này của lão tiên sinh nói nghe rất thú vị, khiến người ta có cảm giác như chính mắt nhìn thấy vậy." Một thương nhân tiếp lời: "Lão già Amo là cái hũ chuyện nổi tiếng đấy." Người áo xám cười đáp: "Thất kính, thất kính." Amo thản nhiên: "Nghe đồn thôi mà. Nơi này không nên ở lâu, chúng ta nếu có thể dốc sức dồn bước đến chân núi Thiên Sơn thì coi như đã thoát hiểm được một nửa rồi."
Người áo xám nói: "Thiên Lang Tử võ công đã cao lại có tài điều khiển muôn thú, nếu gã muốn dồn vào đường cùng thì trốn đi đâu chẳng như nhau?" Một thương nhân vẫy vẫy tay nói: "Vị này không biết đấy thôi, nghe nói Thiên Lang Tử từng chịu thiệt thòi lớn dưới tay Thiên Sơn Thập Nhị Cầm, từ đó không dám tiến lại gần Thiên Sơn nữa." Người áo xám nổi hứng thú, hỏi: "Có chuyện kỳ lạ này sao?" Thương nhân đó thở dài: "Truyền thuyết này lưu truyền rất rộng, nhưng sự hoang đường kỳ quái của nó lại khiến người ta không dám tin hoàn toàn." Người áo xám cười: "Hoang đường kỳ quái mới có ý nghĩa, huynh đài cứ nói đừng ngại."
Thương nhân đó lại cười không nổi, uống ngụm rượu rồi thở dài: "Nghear nói mười mấy năm trước, khi Thiên Lang Tử hoành hành ở Thiên Sơn đã nảy sinh xung đột với Thiên Sơn Thập Nhị Cầm. Hai bên mấy lần giao phong đều có thương vong. Sau đó vào một đêm nọ, Thiên Lang Tử tập hợp mấy ngàn con ác sói thừa đêm tập kích sào huyệt của Thập Nhị Cầm là Thiên Sơn Dao Trì. Nào ngờ lần này lại là cái bẫy do Đại thủ lĩnh của Thập Nhị Cầm giăng ra. Một mình một ngựa, ông ấy đã dụ cả Thiên Lang Tử lẫn đàn sói vào hẻm núi. Ngọn hẻm núi đó vốn rất kỳ lạ, hai bên vách đá treo sông băng, hiểm trở khác thường. Đại thủ lĩnh đứng ngựa trên đỉnh núi, đợi đàn sói vào núi liền châm ngòi thuốc nổ chôn dưới sông băng, làm sạt lở sông băng. Lúc đó tuyết lở mấy chục dặm, như thể trời long đất lở, hàng vạn con ác sói đều bị chôn sống dưới đáy hẻm núi. Thiên Lang Tử chỉ thoát được cái mạng, bị Thiên Sơn Thập Nhị Cầm truy sát mấy trăm dặm, nhiều năm nay đều bặt vô âm tín. Than ôi, mọi người cứ tưởng gã đã phơi xác ngoài đồng hoang rồi, không ngờ hôm nay lại xuất hiện trở lại, xem ra ông trời không có mắt, lại không chịu thu nhận cái gã nghiệt dã này." Nói xong vô cùng chán nản.
Người áo xám không khỏi vỗ tay cười lớn: "Mưu kế tuyết táng quần lang này khí phách cực lớn, không phải đại anh hùng đại hào kiệt thì không thể làm nổi. Nếu có nhân duyên, thực sự muốn bái kiến vị Đại thủ lĩnh này một lần." Mọi người phần lớn đến từ phương Tây, lần đầu tiên nghe thấy truyền thuyết này, tưởng tượng trận chiến kinh thiên động địa đó, hình dung đến anh phong hiệp khí, tư thế phi ngựa của vị Đại thủ lĩnh đó, cũng không khỏi thèm thuồng ngưỡng mộ. Lubea nói: "Tiên sinh nói rất đúng, nếu có thể gặp vị Đại thủ lĩnh đó một lần thì người ta có chết cũng mãn nguyện." Taboro xì một tiếng, nói: "Mày gào cái gì, vị anh hùng đỉnh thiên lập địa như vậy, dựa vào chút phúc phần của mày mà cũng đòi gặp sao?" Lubea lườm hắn một cái: "Không nói với ông nữa." Rồi quay sang thương nhân kia tha thiết hỏi: "Ông đã gặp Đại thủ lĩnh chưa?"
Thương nhân đó lấy tay cứa qua cổ một cái, cười khổ: "Nói đùa gì thế? Tôi gặp ông ấy thì cái đầu này còn trên cổ sao? Thập Nhị Cầm đều là mã tặc tàn ác không việc gì không làm, người Mông Cổ mấy lần vây quét cũng không làm gì nổi!" Mọi người trong lòng đều lạnh ngắt. Lubea chán nản: "Tôi lại cứ tưởng họ đối đầu với Thiên Lang Tử thì nhất định là những vị hảo hán lợi hại chứ." Fred đấm một đấm xuống đất, hừ giọng: "Cái này gọi là 'chó cắn chó, đầy một miệng lông', đều không phải người tốt." Amo gật đầu: "Đúng vậy, nghe nói Thập Nhị Cầm kết cừu với Thiên Lang Tử cũng là vì chia chác không đều, tranh giành địa bàn." Mọi người nghĩ đến phía sau có ác sói, phía trước có hung đồ, trong phút chốc nỗi buồn lại dâng lên, ai nấy đều than ngắn thở dài.
Thu dọn hành lý xong, mọi người đang định dắt lạc đà lên đường thì chợt nghe một chuỗi tiếng chuông reo vang như gió qua màng trúc. Mọi người còn đang ngơ ngác thì thấy một người một ngựa thong thả đi tới. Con ngựa đó xương xẩu to lớn cân đối, toàn thân đỏ như lửa, bờm dài kỳ lạ, có yên ngựa nhưng không có dây cương. Trên lưng ngựa có một người phụ nữ ngồi đó, áo đỏ bọc thân, vóc dáng vừa vặn, trên mặt có một tấm khăn che mặt nhẹ, chắc là để ngăn gió cát. Trong ánh lửa bập bùng, có thể thấy sau lưng ngựa ngang qua một chiếc hộp dài năm thước, rộng nửa thước, bằng gỗ ô đen mạ vàng, trông rất trang trọng.
Con ngựa đó chạy cực nhanh, một luồng gió đã đến trước mặt mọi người, chợt vó trước dừng lại, sừng sững như núi. Mọi người thầm cất tiếng khen: "Ngựa tốt quá!" Người phụ nữ đó ánh mắt trong trẻo như nước, quét qua mọi người, đột nhiên cất tiếng nói lớn: "Muốn qua Thiên Sơn sao?" Cô dùng tiếng Đột Quyết, vừa giòn giã vừa dồn dập, không mất đi sự sảng khoái của đứa con gái đại mạc. Mọi người ngẩn ra, Lubea nhanh miệng gào lên: "Đúng vậy." Người phụ nữ áo đỏ nói: "Phía trước có đàn sói, muốn giữ lấy mạng thì quay trở lại đi!"
Lòng người chấn động dữ dội: "Chẳng trách đàn sói không đuổi theo, hóa ra là mai phục ở phía trước?" Không tự chủ được mồ hôi lạnh chảy ròng ròng. Amo cố làm ra vẻ bình tĩnh, cúi người nói: "Đa tạ cô nương mách bảo." Người phụ nữ áo đỏ lại không đáp lễ, quay đầu ngựa định đi. Nào ngờ con ngựa đỏ không tiến lên mà phì một tiếng khịt mũi, tự giác đi về phía đám đông. Người phụ nữ áo đỏ ngạc nhiên: "Ahulun, mày lại không nghe lời rồi..." Trong lúc nói chuyện, ánh mắt cô đột ngột rơi trên người người áo xám, thân hình kiều diễm chấn động, "á" lên một tiếng kinh ngạc.
Con ngựa đỏ tiến lại gần người áo xám, vươn dài cổ ngửi ngửi vai gã. Người áo xám vuốt ve bờm con ngựa đỏ, cười khổ: "Bạn cũ, đã lâu không gặp." Con ngựa đỏ "hý" một tiếng, mũi dụi dụi vào mặt gã. Người áo xám ngước mắt nhìn người phụ nữ áo đỏ, giọng khàn đi: "Phong Lân, muội vẫn khỏe chứ?" Người phụ nữ áo đỏ thân hình lại chấn động lần nữa, trên khăn che mặt thêm vài vệt ẩm ướt, chợt tức giận gào lên: "Không khỏe, một chút cũng không khỏe, nửa điểm cũng chưa từng khỏe..." Cô kéo khăn che mặt ra, trên đôi má kiều diễm nước mắt dàn đụa, giọng run rẩy: "Mười năm nay, nửa điểm cũng chưa từng khỏe..." Đột nhiên thân hình cô lắc lư một cái, ngã nhào từ trên lưng ngựa xuống.
Gã đàn ông áo xám này chính là Lương Tiêu. Hắn du ngoạn phương Tây trở về, không ngờ lại gặp lại Phong Lân ở đây. Phong Lân đột ngột gặp lại hắn, vừa giận vừa mừng, muôn vàn cảm xúc dâng trào, một hơi thở không thông,lại nhắm mắt ngất đi. Lương Tiêu vội vọt tới ôm lấy cô, từ sau lưng cô truyền vào một luồng chân khí. Phong Lân trong mơ hồ ho vài tiếng, chỉ cảm thấy trên lưng có dòng nước ấm lưu chuyển, toàn thân tê dại. Mở mắt nhìn ra thì thấy Lương Tiêu đầy vẻ quan tâm, lửa giận trong lòng lập tức tan biến, lại cảm thấy thẹn thùng, vội vàng nhắm mắt lại, khẽ nói: "Ai mướn huynh xen vào chuyện của người khác chứ, sao còn chưa buông tay?"
Lương Tiêu nghe lời buông tay, nhưng sợ cô chưa hồi phục nên vẫn dắt tay cô, định thần nhìn kỹ thì thấy mười năm không gặp, thiếu nữ năm xưa đã trưởng thành, lông mày ánh mắt chưa nói đã đong đầy tình cảm, càng thêm phần quyến rũ. Chỉ thấy làn môi đỏ thắm của cô khẽ rung lên, tuy muốn nói nhưng rốt cuộc vẫn nghẹn ngào, đột nhiên gục đầu vào vai Lương Tiêu, "o o" khóc lớn. Lương Tiêu trong lòng áy náy, lặng lẽ để cô tựa vào.
Các thương nhân thấy hai người bạn cũ gặp lại nhau nên cũng không tiện quấy rỗ. Phong Lân khóc một hồi lâu, tủi thân giảm bớt mới ngẩng đầu nói: "Tây Côn Lôn, huynh có biết không? Muội đã tìm huynh suốt sáu năm trời. Không lúc nào muội không sợ hãi, sợ sẽ không bao giờ gặp lại huynh nữa." Lương Tiêu kỳ quặc: "Muội tìm ta sáu năm? Có chuyện gì gấp sao?" Phong Lân lại rơi lệ, nói: "A ba trước khi chết bảo muội tìm huynh." Lương Tiêu chấn động, thốt lên: "Thiết Triết tiên sinh qua đời rồi sao? Lẽ nào người Mông Cổ đã đánh vào Kiếm Cốc?"
Phong Lân lắc đầu, nói: "Không liên quan đến người Mông Cổ. Ngày hôm đó huynh không từ mà biệt, mọi người đều rất buồn. Ngày hôm sau, ông nội đột nhiên gọi a ba, hai người ở trong Kiếm Tháp đúc kiếm. Đúc một mạch suốt ba năm. Nhưng chẳng biết tại sao, thanh Thiên Phạt Kiếm đó đúc suốt ba năm mà vẫn khó thành hình. Có một ngày, ông nội nói với a ba, Thiên Phạt Kiếm sát khí quá nặng, làm trái ý trời đất quỷ thần, phải lấy người tế kiếm mới thành hình được." Lương Tiêu biến sắc: "Lấy người tế kiếm? Sao lại làm thế được?" Phong Lân thảm thắc cười một tiếng, nói: "Đúng vậy, a ba cũng nói thế, lại bảo thật sự phải như vậy thì tốt nhất là ra ngoài cốc bắt kẻ ác tế kiếm. Nhưng ông nội bảo làm thế chỉ thêm sát hại, khí dữ càng nặng, Thiên Phạt Kiếm dù có thành hình cũng là thứ vũ khí đại hung, trở thành họa hại cho thiên hạ. Ông nói xong... nói xong..." Phong Lân đột nhiên bĩu môi, sà vào lòng Lương Tiêu khóc nức nở: "Ông nội liền nhảy tót một cái, nhảy vào trong lò đúc kiếm rồi..." Mọi người nghe vậy đều biến sắc.
Lương Tiêu trong lòng dâng lên sóng gió ngút trời, một lúc lâu sau, đợi Phong Lân khóc đủ rồi mới hỏi: "Thế còn a ba muội?" Phong Lân sụt sùi: "Ông nội lấy thân tuẫn kiếm, Thiên Phạt Kiếm cuối cùng cũng thành hình. A ba nối tiếp nguyện vọng của ông nội, tiếp tục đúc kiếm. Ông điên cuồng đến mức không ăn không ngủ, ngày đêm rèn đập phôi kiếm, rèn suốt ba tháng, gầy guộc không ra hình người. Muội không đành lòng nên ở lại Kiếm Tháp đi cùng ông." Cô nói đến đây im lặng một hồi rồi mới tiếp: "Đêm đó, muội mang cơm cho ông, mệt quá nên ở gian phòng bên cạnh thiếp đi một lúc, chợt nghe bên ngoài gió sấm giao hòa, điện quang đầy trời như thể đều tụ lại về Kiếm Tháp." Phong Lân nói đến đây, chẳng biết tại sao chợt lệ rơi như mưa, nghẹn ngào không thành tiếng.
Lương Tiêu thầm nghĩ: "Trời sinh sấm sét, lẽ nào là thần kiếm xuất thế gây động thiên nộ." Vỗ vỗ vai cô để an ủi, lại nghe Phong Lân gượng nín khóc, giọng run rẩy: "Lúc đó muội ngơ ngác chẳng hiểu gì, chỉ thấy kỳ lạ tại sao chỉ có sấm mà không có mưa. Đúng lúc này, chợt nghe trong phòng đúc kiếm vang lên một tiếng nổ lớn, ngay cả tiếng sấm trời cũng bị lấn áp. Muội chạy vào nhìn... lại thấy a ba gục dưới đất, trong lòng ôm một thanh kiếm, những bãi máu lớn phun trên thân kiếm... Tây Côn Lôn, kiếm... kiếm đúc thành rồi, nhưng a ba cũng không xong nữa, ngày hôm sau thì trút hơi thở cuối cùng... Trước khi chết dặn dò muội phải mang Thiên Phạt Kiếm đưa cho huynh, để huynh bảo vệ thần kiếm của Tinh Tuyệt tộc." Cô nói xong, xoay người bưng chiếc hộp gỗ ô đen đưa cho Lương Tiêu. Sắc mặt Lương Tiêu ngưng trọng, mở nắp hộp ra thì thấy trong hộp là một thanh kiếm dài vỏ đen, có cán không có chắn tay, lưỡi dài bốn thước, thoáng nhìn qua không khác gì bảo kiếm thông thường. Lương Tiêu tiện tay rút kiếm nhưng cảm thấy rất rít, khẽ vung sức, trong vỏ truyền ra tiếng động kỳ quái, nghe rợn người. Lương Tiêu nhíu mày, thanh kiếm "sột" một tiếng tuốt ra khỏi vỏ. Nhìn lại không khỏi giật mình, thì ra trên thân kiếm gỉ đỏ lốm đốm,lại là một thanh kiếm gỉ.
Các thương nhân đứng bên cạnh nhìn thấy đều tỏ vẻ thất vọng: "Mạng sống của hai người đúc ra một thanh kiếm gỉ, quá chừng không đáng giá chút nào?" Phong Lân nhận ra suy nghĩ của họ, đôi mắt đẹp đầy vẻ giận dữ, lườm từng người một.
Lương Tiêu xem xong, suy nghĩ một chút rồi đóng nắp hộp lại, để trở lại trên lưng ngựa. Phong Lân vội vã: "Huynh không chịu nhận sao? Có phải chê nó gỉ rồi không..." Đôi mắt đỏ lên như sắp khóc. Lương Tiêu lắc đầu: "Thần kiếm do gia tặc tấu đúc sao có thể là vật cừu tầm, chỉ là đức hạnh đức mỏng của ta không gánh nổi hai chữ 'Thiên Phạt' này. Muội cứ giữ lấy, gặp người thích hợp thì trao lại cho họ." Phong Lân nghe vậy cực kỳ chướng tai, tức giận: "Nói cái gì thế? Tây Côn Lôn huynh làm sao vậy? Thiên Phạt Kiếm bị gỉ, huynh cũng bị gỉ theo rồi sao?" Lương Tiêu thở dài: "Muội nói đúng đấy, đều gỉ cả rồi!" Phong Lân nghiến răng bạc, nhướng mày: "Được thôi, huynh không cần thì người Tinh Tuyệt cũng không thèm van xin huynh, muội... muội đi đây." Lương Tiêu nhìn vết nhăn mỏng như sợi chỉ nơi khóe mắt cô, không còn vẻ mịn màng như xưa, thầm nghĩ cô trong sáu năm qua bôn ba, chẳng biết đã chịu bao nhiêu phong sương tàn phá, lòng chợt mềm lại, cản cô lại: "Được rồi, đừng con nít nữa, chúng ta phải xuất phát rồi, muội lên ngựa đi chung đi."
Phong Lân vẫn chưa nguôi giận, dậm chân: "Muội mới không phải con nít, Hỏa Lưu Tinh là do huynh bắt, muội không cưỡi." Giận dỗi quay mặt đi chỗ khác. Lương Tiêu hết cách, nhảy lên lưng ngựa, kéo cô lại: "Vậy thì cùng cưỡi đi!" Phong Lân khẽ giằng co một chút, nhưng rốt cuộc không cưỡng lại được tình cảm sâu đậm trong lòng, đành ngoan ngoãn lên ngựa, tựa vào lòng Lương Tiêu. Sáu năm qua, cô đắng cay tìm kiếm gã đàn ông phụ bạc này, nhưng mây núi mịt mờ, biển người bao la, làm sao mà tìm được. Phong Lân sau lưng chẳng biết đã giọt bao nhiêu giọt nước mắt, giờ đây cuối cùng cũng tìm thấy, đại nguyện đã thành, tảng đá lớn trong lòng rơi xuống, chỉ cảm thấy trời đất tăm tối này cũng trở nên sống động. Đi được một đoạn, không khỏi mệt mỏi thiếp đi.
Thiếp đi một lúc, chợt bị tiếng vó ngựa làm giật mình tỉnh giấc. Phong Lân dụi mắt nhìn qua, chỉ thấy đằng xa có một toán người ngựa lao tới. Còn chưa phi lại gần đã có người gào to: "Các ngươi gặp phải đàn sói sao?" Amo đáp: "Gặp rồi!" Người ngựa đối diện tản ra thành hình bán nguyệt, chặn đứng lại. Các thương nhân còn đang cuống quít thì chợt thấy ba người ba ngựa song hành phi tới, hóa ra là ba gã thanh niên, ai nấy đều anh tuấn phi thường, trong gấm vóc trắng lộ ra một đoạn chuôi dao màu đen.
Trong đó một gã áo đen cất tiếng vang dội: "Đàn sói ở đâu?" Các thương nhân trong lòng chưa phân định được nên không ai lên tiếng. Sắc mặt gã đó phủ một lớp băng lạnh, đang định phát tác thì gã áo đỏ bên trái nói: "Quạ Đen, ta thấy họ đều là thương khách bình thường, nếu gây khó dễ thì Đại thủ lĩnh nhất định không vui đâu." Gã áo đen không vui: "Chu Tước, ta chẳng qua là thăm dò đôi điều thôi. Đàn sói thần xuất quỷ cốc như vậy, chỉ e con quái vật đó thật sự quay lại rồi. Đại thủ lĩnh cũng đã dặn chúng ta cẩn thận hành sự, thăm dò nhiều phía." Gã áo đỏ Chu Tước nói: "Thăm dò thì thăm dò, ngươi đừng có nổi nóng rồi ra tay thô bạo là được." Quạ Đen tức giận: "Coi ta là ngươi đấy à?" Một gã áo xanh khác từ đầu đến cuối vẻ mặt vẫn kiêu ngạo, lúc này ngắt lời: "Ta thấy chẳng có gì phải hỏi. Chúng ta phải mau chóng tìm kiếm, nếu tranh trước người khác thu dọn con quái vật đó thì Đại thủ lĩnh nhất định sẽ hoan hỷ."
Chu Tước không hài lòng: "Chim Trĩ, ngươi nói câu này e là quá tự đại rồi." Quạ Đen cười lạnh: "E là ngươi quá cẩn thận thì có. Bàn về võ công, con quái vật đó chưa chắc đã đánh lại chúng ta, huống hồ còn có hai mươi thần nỏ thủ hỗ trợ nữa." Mọi người nghe vậy nhìn sang, trên người các kỵ sĩ đều treo một chiếc nỏ cơ dài bốn thước, bao tên nặng trịch dắt bên hông ngựa. Amo chợt thúc ngựa vọt ra, khom người: "Cho hỏi ba vị đây có phải là Thiên Sơn Thập Nhị Cầm không?" Quạ Đen ngạo mạn: "Đúng vậy." Các thương nhân kinh hãi, vội vã nắm chặt chuôi dao. Amo bồi cười: "'Thiên Sơn Thập Nhị Cầm' ai nấy đều lấy tên chim làm danh hiệu, quả nhiên không sai." Lão ngừng một chút rồi lại nói: "Đoàn thương nhân chúng tôi gặp phải đàn sói, thương vong thảm trọng. Nay ác sói rình rập bốn phía, tiến lui đều không xong, cầu xin ba vị đại hiệp chỉ cho một đường sống." Chim Trĩ lạnh lùng: "Chúng ta còn phải truy lùng đàn sói, không có thời gian rảnh rỗi..." Chu Tước ngắt lời hắn: "Họ đã là thương khách bình thường thì lý ra nên hộ tống họ đến Luân Đài." Quạ Đen không vui: "Ngươi lại thích bao đồng rồi." Chu Tước lạnh giọng: "Ngươi quên lời Đại thủ lĩnh rồi sao?" Quạ Đen máu dồn lên mặt, tức giận: "Ta quên hồi nào? Muốn đưa thì đưa..." Lời chưa dứt, một tiếng sói hú đột ngột cất lên, kéo dài thê xé lòng, khiến lòng người khó chịu vô cùng. Ba người đó biến sắc, đồng thanh nói: "Thiên lang hếu nguyệt." Bèn quay đầu ngựa, hướng về phía tiếng sói hú mà lao tới. Chu Tước phi ra một đoạn lại dẫn theo bảy nỏ thủ quay lại, nói: "Phía trước nguy hiểm, ta đưa các ngươi đi một đoạn!" Các thương nhân lộ vẻ khó khăn, thầm nghĩ: "Ngươi đến đưa cũng chưa chắc đã an toàn, ai biết cái tên mã tặc này tính toán cái gì chứ?" Muốn từ chối nhưng lại không dám đường đột mở lời.
Lương Tiêu bỗng nói: "Mạn phép hỏi thế nào là Thiên Lang Khiếu Nguyệt?" Chu Tước liếc hắn một cái, thản nhiên nói: "Đó là tiếng hú độc nhất vô nhị của Thiên Lang Tử!" Mọi người nghe nói Thiên Lang Tử ở ngay gần đây, ai nấy mặt cắt không còn một giọt máu. Phong Lân thấy Chu Tước hờ hững lạnh nhạt, không khỏi sinh lòng tức giận, hắt hủi nói: "Thiên Sơn Thập Nhị Cầm cũng là đám mã tặc lừng lẫy tiếng tăm, không chuyện ác nào không làm. Sao tự dưng lại giả vờ tốt bụng, đi hộ tống thương khách thế này?" Chu Tước sầm mặt, quát: "Thiên Sơn Thập Nhị Cầm tuy là mã tặc, nhưng cũng có đạo lý riêng, một không tàn hại bách tính, hai không đụng đến thương khách bình thường. Người Mông Cổ không làm gì được chúng ta, liền tạt nước bẩn, bôi nhọ danh tiếng của chúng ta. Ai không muốn tại hạ hộ tống thì cứ tự nhiên." Lương Tiêu thấy hắn tranh luận đến đỏ mặt tía tai, trong lòng sinh nghi. Đám thương khách càng thêm hoang mang không biết làm sao, ngược lại A Mạc rất trấn tĩnh, giật dây cương xông đi, mọi người đành đành đi theo sau.
Phong Lân bất bình nói: "Tây Côn Lôn, tự tiện thì tự tiện, chúng ta đi thôi." Lương Tiêu nói: "Ta đã hứa chiếu cố họ, không thể nửa đường bỏ dở." Phong Lân bĩu môi về phía Chu Tước, nói: "Không phải có hắn hộ tống rồi sao?" Lương Tiêu nói: "Thiên Sơn Thập Nhị Cầm danh tiếng không tốt, khiến người ta không thể yên tâm." Phong Lân liếc hắn một cái: "Huynh đấy, chẳng sảng khoái chút nào." Thở dài một tiếng, thân hình hơi ngả ra sau, tựa vào lòng Lương Tiêu, dịu dàng nói: "Nhưng mà, không biết tại sao, em lại không nỡ rời xa huynh, thời gian càng lâu, càng nhớ huynh..."
Dù Lương Tiêu có thông minh gấp mười lần, lúc này cũng chẳng tìm nổi nửa câu để đối đáp, đành phải làm hũ nút im lặng, không thốt ra một tiếng. Đi được một đoạn, phía trước bỗng lại truyền đến một tiếng sói hú, kéo dài chói tai, khiến người nghe muốn nôn mửa, tiếng hú vừa dứt, liền nghe vô số tiếng sói hú cùng nhau ứng hòa, khí thế đáng sợ. Chu Tước biến sắc, quất ngựa lao ra. Lương Tiêu nói với Phong Lân: "Chúng ta cũng qua xem sao." Nhúc nhích ngựa lên trước, chân Hỏa Lưu Tinh cực nhanh, trong chớp mắt đã đuổi kịp bên cạnh Chu Tước, Chu Tước lộ vẻ kinh ngạc, thốt lên: "Ngựa tốt! Ta xuất một trăm lượng vàng mua nó." Phong Lân cười khẩy: "Ngươi nằm mơ à? Đừng nói một trăm lượng, một ngàn lượng, một vạn lượng cũng không bán!" Chu Tước sầm mặt, mắt vẫn chằm chằm nhìn Hỏa Lưu Tinh, Lương Tiêu thấy ánh mắt hắn tham lam, không khỏi hơi chau mày.
Đi tiếp hơn hai mươi dặm, phân sói trên mặt đất ngày càng nhiều, vết móng rõ mùng một. Sắc mặt Chu Tước càng thêm âm trầm, chợt nhiên, xa xa nhìn thấy trong đám cỏ cao phía trước có ánh đỏ nhấp nháy, Chu Tước định nhãn nhìn kỹ, chợt sắc mặt biến đổi thê thảm, phi ngựa xông lên. Phong Lân còn đang ngó ngàng, đã bị Lương Tiêu che mắt lại, thấp giọng nói: "Đừng nhìn, cứ ở trên ngựa." Nhảy xuống ngựa, lướt nhanh lên trước, nhìn kỹ lại thì thấy Chu Tước đang gục trên hai cái xác, trừng mắt nghiến răng, toàn thân run rẩy. Nhìn y phục trên xác chết, chính là Ô Nha và Thúy Điểu. Hai người cùng người lẫn ngựa thịt xương tan nát, đã bị xé rách không còn hình thù, xung quanh ngổn ngang ngũ lục cái xác sói, trong đó có một con trên lưng còn cắm nửa đoạn binh khí gãy.
Lương Tiêu nhìn quanh một lượt, xoay người lướt ra ngoài, thân pháp hắn phiêu hốt, nhảy vọt trên ngọn cỏ, liền mất hút. Chu Tước nhìn thấy, vô cùng kinh hãi, không giác đứng dậy, Phong Lân thấy Lương Tiêu đi rồi, kẹp chặt bụng ngựa đuổi theo, bỗng thấy trước mắt bóng đỏ lóe lên, Chu Tước đã chắn ngang trước ngựa. Phong Lân ghìm ngựa tức giận nói: "Ngươi làm gì đấy? Không sợ bị ngựa giẫm sao?" Hai mắt Chu Tước như chực nhỏ máu, quát lớn: "Đưa ngựa cho ta!" Bỗng nhiên nhảy vọt lên, giữa không trung hai chưởng lật lại, Phong Lân liền cảm thấy kình phong tạt vào mặt, ngạt thở ngạt mũi, vội gọi: "A Hốt Lun Nhĩ..." Hỏa Lưu Tinh nghe tiếng, vặn hông, vọt xéo ra ngoài, Chu Tước vồ hụt, vội xoay người thì thấy Hỏa Lưu Tinh đã như rồng lượn, chạy xa mười trượng.
Phong Lân chạy một đoạn, thấy không có ai đuổi theo mới dừng lại, thở phào một hơi nói: "Ngựa ngoan, lại nhờ có mi rồi." Nàng bôn ba bảy năm, có thể bình an vô sự, đại phần là nhờ chân Hỏa Lưu Tinh lợi hại. Lúc này nàng ngẩng đầu nhìn đi, chỉ thấy bốn bề trống trải, gió lạnh vi vút, thổi đám cỏ xào xạc, ngực nàng nghẹn lại, hô lớn: "Tây Côn Lôn, huynh ở đâu? Tây Côn Lôn, huynh..." Đến tiếng thứ hai, trong giọng đã nghẹn ngào tiếng khóc, nghĩ đến vừa mới gặp lại tên oan gia này, lại mất đi tung tích của hắn, không khỏi lòng đau như cắt, đầu óc trống rỗng, vô thức nước mắt đã rơi xuống, đang định khóc to thành tiếng, bỗng nghe xa xa truyền đến một tiếng hú dài, thẳng như sấm thét cuồn cuộn, kéo dài không dứt, hình như ẩn chứa phẫn nộ vô cùng, như sóng xô dạt dào đập tan đám cỏ cao, tung hoành bôn tẩu trên đại thảo nguyên.
Phong Lân nghe ra đó là tiếng hú của Lương Tiêu, trái tim đập thình thịch, phi ngựa ra hơn dặm, bỗng thấy xa xa rải rác nhiều tay chân đứt lìa, tên gãy nỏ vỡ, kẻ chết đều là thần nỏ thủ dưới tay Ô Nha, máu thịt đầm đìa, đã nhuộm đỏ một vùng cỏ lớn. Lương Tiêu đứng giữa đám cỏ cao, đón gió hú dài, làm bốn bề bao la vang vọng không dứt, Phong Lân còn chưa đến gần đã cảm thấy hoa mắt chóng mặt, vội vã ghìm ngựa. Đột nhiên, lại nghe phía đông bắc thong thả vút lên một tiếng sói hú, như dùi nhọn đâm xuyên màng nhĩ, chính là "Thiên Lang Khiếu Nguyệt". Nhất thời, hai tiếng hú không ai chịu nhường ai, một đằng như sóng trào lấp biển, một đằng như quái xà xuyên mây, lại cùng đọ sức giữa trời cao đất rộng. Đột nhiên, Lương Tiêu phóng người vọt ra, lao nhanh về phía tiếng sói hú.
Phong Lân bừng tỉnh đại ngộ: "Hóa ra Tây Côn Lôn phát ra tiếng hú là để khiêu chiến với Thiên Lang Tử?" Nghĩ đến Lương Tiêu sắp cùng đại hung nhân đó quyết một trận sống mái, không khỏi tinh thần phấn chấn, tiếp đó lại sinh ra vô vàn lo lắng. Chỉ trong chớp mắt, Lương Tiêu đã đi xa như hồng hộc, bóng người không còn, Phong Lân vội vã giục ngựa đuổi theo. Thiên Lang Tử hú đến nửa chừng, bỗng dưng dừng tiếng, Lương Tiêu chân hơi chậm lại, hai tai khẽ cử động để phân biệt phương hướng. Đột nhiên, lại nghe phía tây nam tiếng sói hú lại nổi lên, xông thẳng lên vòm trời, Lương Tiêu trong lòng kinh ngạc: "Quái vật này chân nhanh thật, trong chớp mắt đã đi xa mười dặm?" Hắn gặp phải kình địch trong đời, xốc lại tinh thần, lại bôn về phía tây, không ngờ phía tây hú chưa đầy nửa tuần hương lại ngừng, Lương Tiêu trong lòng lấy làm lạ, chân không ngừng lại, nào ngờ chưa đầy mười dặm, tiếng sói hú lại từ phía đông vang lên, Lương Tiêu kinh nghi bất định, chân lại đổi hướng, bôn về phía đông, nào ngờ tiếng sói hú dường như cố ý trêu chọc, lúc đông lúc tây, khi nam khi bắc, lúc chìm lúc nổi, dần dần đi xa hẳn. Lương Tiêu dừng bước, sừng sững đứng vững, mặc cho gió lớn từ phương tây thổi tới làm vạt áo tung bay xè xè.
Phong Lân phi ngựa đuổi tới, ngã lăn xuống, vội nói: "Tây Côn Lôn, huynh cưỡi Hỏa Lưu Tinh đuổi theo hắn!" Lương Tiêu lắc đầu nói: "Đuổi theo vô ích, khinh công người này trên ta, các công phu khác chắc chắn cũng rất lợi hại. Khuống hồ còn có đàn sói trợ chiến, lần này dù có đuổi kịp cũng khó nói nắm chắc phần thắng." Phong Lân hơi lặng người, nói: "Huynh sợ bản lĩnh em kém cỏi, làm vướng chân vướng tay sao?" Lương Tiêu bị nàng đoán trúng tâm tư, mỉm cười nhưng không đáp lời. Phong Lân lại hai má ửng hồng, đôi mắt đẹp lấp lánh, chợt cười nói: "Bất luận thế nào, trong lòng huynh biết nghĩ cho em, em đã vui rồi."
Lương Tiêu thở dài nói: "Được rồi, quay về thôi." Phong Lân bĩu môi nói: "Quay về làm gì, nhìn thấy đám mã tặc đó là tức khí." Nàng giận dữ kể lại chuyện Chu Tước cướp ngựa một lượt. Lương Tiêu trầm ngâm nói: "Hắn cướp ngựa không phải vì ý xấu, mà là muốn mượn sức chạy của Hỏa Lưu Tinh để đuổi theo Thiên Lang Tử." Phong Lân tức giận: "Huynh còn nói giúp hắn, vô cớ cướp ngựa người ta chính là kẻ xấu!" Lương Tiêu nói: "Tùy tiện đánh giá người tốt kẻ xấu là có chút phiến diện, một niệm sai lầm thường dẫn đến tai hại lớn..." Thấy ý giận giữa lông mày Phong Lân càng nồng, hắn vội đổi giọng: "Được được, muội nói sao thì là vậy." Phong Lân cúi đầu mỉm cười, bỗng nói: "Tây Côn Lôn, huynh hứa với em một chuyện có được không?" Lương Tiêu gật đầu, Phong Lân cắn cắn môi, chợt đôi mắt đẹp đỏ lên, nhẹ nhàng nói: "Em muốn huynh... em muốn huynh từ nay về sau không được bỏ rơi em, vừa rồi em sợ lắm, sợ huynh lại giống như lần trước, không từ mà biệt, khiến em không sao tìm thấy nữa..." Nàng trong lòng tủi thân, lời chưa nói xong, nước mắt đã lăn dài trên má ngọc.
Lương Tiêu vốn không muốn Phong Lân gặp nguy hiểm, vừa rồi một mình đuổi theo Thiên Lang Tử, không ngờ lại khiến nàng rơi vào hiểm cảnh, nhìn vẻ mặt u oán của nàng, không khỏi sinh lòng áy náy, nói: "Được rồi, ta hứa với muội là được chứ gì." Phong Lân nín khóc mỉm cười, nhảy lên ôm lấy cổ Lương Tiêu, nhào vào lòng hắn, vui mừng nói: "Em biết huynh sẽ đồng ý mà." Lương Tiêu lời vừa thốt ra đã hối hận. Bị nàng ôm lấy càng thấy không tự nhiên, bèn lấy cớ để nàng cưỡi ngựa cho đỡ mệt, đỡ nàng lên lưng ngựa, còn mình đi bộ theo sau.
Một người một ngựa song song phi nhanh trên đại thảo nguyên, Hỏa Lưu Tinh tung vó phía trước, Lương Tiêu bước đi nhàn nhã mà không hề tụt lại. Phong Lân nhận được lời hứa của Lương Tiêu thì vui mừng khôn xiết, vui vẻ nói cười. Lương Tiêu tâm trí để đi đâu, tùy miệng đối đáp qua quít. Hắn tự phụ khinh công tuyệt đỉnh, hôm nay lại thua Thiên Lang Tử, trong lòng có vài phần thất vọng, nghĩ lại lúc đầu nghe tiếng hú của hắn, kẻ này không quá lợi hại, không ngờ khinh công lại cao cường đến thế, ngẫm đến đây, tâm trí hắn bỗng động, "ô" lên một tiếng, Phong Lân kỳ lạ hỏi: "Sao thế?" Lương Tiêu gõ gõ trán, cười nói: "Ta nghĩ ra một chuyện kỳ lạ." Trong lúc nói chuyện, ngẩng mắt nhìn lên, sắc mặt hắn bỗng biến đổi, sải bước lao ra, chỉ thấy trong cỏ lại nằm một cái xác chết, áo đỏ bào trắng, chính là Chu Tước, may mà thi thể vẫn còn nguyên vẹn.
Lương Tiêu cúi người quan sát một hồi, mày đọng sương lạnh, đứng dậy. Phong Lân xoay người xuống ngựa, đi đến bên cạnh hắn, đang định nói chuyện, bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập, trong chớp mắt liền thấy từ phía nam phi tới hơn bốn mươi kỵ mã, đi đầu là một thiếu nữ xinh đẹp kiều diễm, xiêm áo bằng gấm trắng, thêu hoa lớn bảy màu, ánh sắc rực rỡ, xinh đẹp không thể tả xiết. Thải Y thiếu nữ đang lúc ngựa chiến phi nhanh bỗng nhảy xuống, một nhún một vọt đã đến trước mặt Lương Tiêu, nhìn thấy thi thể Chu Tước, sắc mặt biến đổi ngột ngạt, ngón tay kiều diễm chỉ thẳng như kiếm, đâm về phía lồng ngực Lương Tiêu. Lương Tiêu không ngờ nàng đột nhiên ra tay tập kích, nhướng mày, phiêu nhiên lùi lại hơn trượng. Kình chỉ của Thải Y thiếu nữ rơi xuống đất, đất bùn như bị gậy vô hình cắm trúng, từ từ lõm xuống, tạo thành một lỗ nhỏ, đen ngòm không biết nông sâu. Phong Lân thấy chỉ phong này kỳ quái như vậy, tức giận nói: "Ngươi làm gì mà đánh người?" Thải Phượng không thèm để ý, đôi mắt đẹp mở to, trừng trừng nhìn Lương Tiêu, sắc mặt trắng bệch như chết.
Một thiếu nữ áo xanh phi ngựa lao tới, cất tiếng gọi: "Thải Phượng tỷ tỷ, sao thế?" Thải Phượng giọng khản đặc nói: "Thanh Loan, muội... muội xem Chu Tước trước đi!" Thiếu nữ áo xanh nhảy xuống ngựa, sờ vào da thịt Chu Tước, sắc mặt đại biến, xé rách áo sau lưng hắn, chỉ thấy trên da thịt lại có ngũ cái dấu chỉ ấn màu xanh nhạt, không khỏi thất thanh kêu lên: "Thiên Lang Công!"
Thải Phượng nét mặt thảm thiết, nhìn chằm chằm Lương Tiêu, hận hận nói: "Ngươi đã giết Chu Tước?" Lương Tiêu còn chưa đáp lời, Phong Lân đã tranh nói: "Ngươi đừng có vu khống người tốt, lúc chúng ta tới, tên mã tặc thối tha đáng chết này đã chết lâu rồi!" Người Tinh Tuyệt thế hệ làm kẻ thù với mã tặc Đột Quyết, Phong Lân đối với đám mã tặc tự nhiên cũng vô cùng chán ghét, trong lúc thịnh nộ, lời lẽ rất không khách khí. Thải Phượng tức quá hóa cười, phất tay một cái, đám kỵ sĩ lần lượt xuống ngựa, nỏ cơ trong tay đều chĩa thẳng vào hai người.