"Đây là Doris Adams, một cô bé vừa từ Anh sang cách đây chưa lâu. Các cháu phải đón tiếp con bé thật nồng hậu và cho nó thấy trẻ con ở Boston đáng yêu nhường nào. Hai cô bé này là Helen và Eudora Chapman, cháu gái nội của ta, còn những cháu khác là cháu họ và bạn bè. Helen, con hãy làm chủ nhà nhé."
Dorcas Payne bước lên trước. "Cậu ấy học cùng trường với tớ." Con bé đã kịp kể lể cho các bạn nghe hầu như mọi thứ nó biết về Doris. Việc ông Winthrop Adams là chú và là người giám hộ đã khiến Doris nâng lên một bậc đáng kể trong mắt Dorcas, bởi ngay cả vào thời đó, một người được coi là rất khá giả nếu có thể sống mà không cần làm kinh doanh thực sự.
"Cậu có muốn chơi ném vòng không?" Eudora hỏi.
"Tớ không biết chơi," Doris thú nhận.
"Bọn tớ đang chơi đây. Grace và Molly, hai cậu ra tận đầu phòng kia đi. Nào, cách chơi thế này nhé. Khi Betty tung vòng lên, cậu dùng gậy đỡ lấy, như thế này này."
Mọi chuyện có vẻ rất dễ dàng khi Eudora đỡ lấy chiếc vòng, tung ngược trở lại, rồi Betty lại ném tiếp.
"Bới đến lượt cậu đấy," đoạn cô bé nhét những chiếc gậy vào tay Doris. "Ồ, tay cậu mới nhỏ nhắn làm sao, lại trắng như tuyết nữa chứ!"
Doris đỏ mặt. Con bé ném chiếc vòng đi và nó chao đảo, nhưng Betty, một cô bé lanh lợi với đôi mắt đen láy, đã chồm lên một hai nhịp, hứng lấy vòng bằng đầu một chiếc gậy, rồi ném trả lại. Doris đứng nhìn mà tay chẳng buồn cử động.
"Nhặt lên và thử lại đi," Eudora nói. "Không phải cách đó đâu, nhưng lần này bọn tớ châm chước cho cậu đấy."
Khốn nỗi! Lần này Doris chạy theo và khua khoắng cây gậy trong không trung vô ích.
"Tớ thích xem các cậu chơi hơn," con bé nói. "Ai chơi cũng đẹp mắt cả."
"Thế thì cậu đứng đây mà xem."
Trò chơi thật lôi cuốn. Có ba nhóm đang chơi. Doris nhận ra rằng khi một cô bé để hụt vòng, cô bé đó sẽ nhường chỗ cho bạn khác. Mắt cô bé cứ phải đảo liên tục mới theo dõi kịp những chiếc vòng. Thỉnh thoảng lại có một cô bé được "đội vương miện" — nghĩa là chiếc vòng tròng trúng đầu — và tất cả cùng hò reo vang dội.
Rồi Helen bảo chơi thế đủ rồi, giờ họ sẽ chuyển sang trò "Tìm giày". Chiếc giày rất xinh xắn, làm bằng vải nhung hồng với chiếc gót kiều diễm và chiếc khóa sáng lấp lánh đính trên một chiếc nơ hồng nhỏ xíu. Doris thốt lên rằng "nó trông giống như chiếc giày của Lọ Lem vậy".
"Ồ, cậu biết chuyện Lọ Lem cơ à? Cậu biết nhiều truyện không?"
"Không nhiều lắm. Chỉ Cô bé quàng khăn đỏ, Người đẹp và Quái vật, và vài bài thơ thôi."
"Tớ ước gì cậu biết chuyện gì đó hoàn toàn mới. Ồ!"
Eudora đã quên khuấy việc chuyền chiếc giày. Các cô bé đang ngồi thành vòng tròn, thế là cô bé vui vẻ bật dậy và bắt đầu đi tìm. Tiếng khúc khích cười và tiếng kêu thích thú vang lên rôm rả, rồi có ai đó lên tiếng: "Ôi, dừng chơi đi và chơi đố chữ đi!"
Đó là trò tiêu khiển chưa bao giờ hết chán. Có những câu đố rất thông minh, nhưng cũng có những câu vô cùng hóc búa. Một cô bé hỏi rằng có bao nhiêu giỏ đất ở đồi Copp's Hill.
"Chà, có ai trả lời được đâu," Helen nói. "Cậu không thể đo lường theo cách đó được."
Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, và những cái nhìn cuối cùng trở nên bực bội.
"Chẳng có đáp án nào cả."
"Chịu thua chưa?"
"Rồi," tiếng các cô bé đồng thanh đáp.
"Thì là một — nếu cái giỏ đủ lớn."
"Làm gì có cái giỏ nào to đến thế. Cậu có thể hỏi có bao nhiêu giọt nước ngoài biển, rồi bảo chỉ có một vì chúng đều hòa vào nhau mất rồi."
Mấy cô bé vỗ tay rào rào cho câu trả lời đó, và trước khi ai kịp nghĩ ra câu đố khác, Miranda — cao gầy, da ngăm đen, oai vệ với chiếc khăn rằn sặc sỡ quấn quanh đầu — liền thông báo:
"Mấy tiểu thư mời ra phòng ăn tiệc Giáng sinh ạ."
Bà nội không biết làm sao để rời khỏi các vị khách khi ván bài loo hãy còn dang dở, nhưng vì đã hứa sẽ ngồi ở đầu bàn tiệc, thế là bà Chapman liền thay chỗ bà. Không ai cảm thấy bận tâm vì bữa tiệc không có bóng dáng cậu con trai nào: đứa con trai duy nhất trong nhà đã đi trượt băng cùng mấy cậu bạn khác rồi.
Đó quả là một bữa tiệc hoàng gia. Có bánh mì lát mỏng phết bơ, những chiếc bánh quy xinh xắn chẳng lớn hơn đồng xu cua-ny của thời đó là bao, thịt gà tây nguội, thịt giăm bông nguội, và dường như đủ các loại bánh ngọt được bày biện xung quanh chiếc bánh kem Giáng sinh phủ đường, trên đỉnh cắm một vòng hoa vàng kỳ lạ mà người ta phơi khô và giữ lại suốt mùa đông để trang trí.
Họ đánh đố bà nội bằng hai câu đố vừa rồi, nhưng bà cho rằng câu đố về biển hay hơn cả. Và bà bảo chẳng ai đời lại đi đo đồi Copp's Hill làm gì, nhưng dù sao họ vẫn có thể làm thế nếu muốn.
Người lớn uống trà và sô-côla trong phòng ăn, trông có vẻ vui vẻ chẳng kém gì lũ trẻ. Có thứ gì đó lan tỏa trong không khí hoặc trong ngôi nhà này, khiến ai nấy đều hân hoan. Doris thấy vô cùng thích thú. Má con bé bắt đầu ửng hồng màu hoa tầm xuân, và đôi mắt ánh lên vẻ rạng ngời như thể hạnh phúc đang chiếu rọi qua đó.
Sau đó, bà nội chơi đàn spinet và họ khiêu vũ vài điệu nhảy đơn giản nhưng xinh xắn, khép lại bằng khúc minuet. Khi đồng hồ điểm bảy giờ, có người đánh xe trượt tuyết đến đón bốn cô bé nhà ở gần nhau. Pompey, người hầu nhà Royalls, sẽ hộ tống những người còn lại, còn Betty March thì nhà ở ngay bên kia phố Winter. Khi trẻ con đi chơi xa, giờ giấc được tuân thủ khá nghiêm ngặt. Bảy giờ đúng là bảy giờ chứ không phải tám hay chín giờ.
Mỗi đứa trẻ nhận được một hộp giấy đựng kẹo xinh xắn thắt nơ sáng sủa. Giờ đây chúng ta gọi đó là kẹo bonbon. Tất cả đều bày tỏ lời cảm ơn và nhún gối chào khi ra đến cửa chính.
"Cháu chơi có vui không?" bà Royall hỏi khi nắm lấy tay Doris.
"Cháu thấy tuyệt vời vô cùng, trong từng khoảnh khắc luôn ạ," cô bé đáp.
"Dạ thưa bà, con bé chỉ đứng xem thôi đấy ạ," Eudora kêu lên. "Nào, giờ chúng ta hãy làm quen thật sự đi. Tụi mình vào phòng khách trò chuyện cho thoải mái nhé."
"Được thôi," bà nội đáp. "Ta vào xem mấy người lớn đang làm gì đây."
"Tớ rất mừng vì cậu không phải về sớm," Helen mở lời. "Sao cậu không ở cùng chú Adams mà lại ở phố Sudbury? Ở đó có bạn gái nào không?"
"Có một chị lớn lắm, mười sáu tuổi cơ. Chị ấy đi Hartford mất rồi. Đó là chị Betty Leverett. Tớ đến đó trước, vì... chà, chú Leverett đã ra tận tàu đón tớ khi thuyền cập cảng Boston."
"Ồ, chú ấy cũng là chú của cậu á! Cậu đến từ một thành phố Boston khác thật ư?"
"Ừ, cũng là Boston."
"Và giống nơi này chứ?"
"Ôi, không đâu."
"Cậu quen nhiều bạn gái lắm hả?"
"Không. Bọn tớ sống tít ngoài thị trấn cơ."
"Và ôi chao, cậu không sợ khi phải vượt đại dương á? Lỡ gặp cướp biển hay gì gì đó thì sao?"
"Tớ chẳng biết gì về cướp biển cả," Doris nói. "Nhưng lúc đầu tớ sợ lắm, khi chẳng nhìn thấy đất liền suốt nhiều ngày trời. Có hai bé gái đem theo một con búp bê. Bọn tớ chơi cùng nhau và dần quen với sóng nước. Nhưng khủng khiếp nhất là lúc có bão."
"Tớ chắc sợ chết khiếp mất. Bà tớ từng đến Anh rồi. Bọn tớ có mấy họ hàng bên đó, nhưng họ đều lớn cả rồi và đã lập gia đình. Cậu thích nơi nào hơn?"
"Tớ chẳng còn họ hàng thực sự nào ở bên đó sau khi bố mất. Ơ, tớ thích Boston này hơn."
Rồi họ chuyển sang chuyện trường lớp. Eudora và chị cô bé học cô Parker, và học viết chữ một tiếng vào buổi chiều. Eudora ước gì mình lớn như Isabel và Alice để được đi dự tiệc thực sự và mặc váy lụa. Bà nội bảo sẽ may cho cô bé một chiếc khi con bé tròn mười tuổi.
Sự tế nhị đã ngăn Doris thú nhận rằng mình đang sở hữu món trang phục ao ước ấy. Mấy đứa trẻ đều mặc những chiếc váy rất xinh. Váy của Eudora có màu xanh dịu mắt tuyệt đẹp, viền nhung đen và tay ngắn đính viền ren quanh mép. Nhưng Doris đã quên bẵng đi bộ cánh của chính mình, dẫu con bé chợt nhớ ra rằng chỉ có đúng một cô bé mặc váy xám, trông không được đẹp mắt cho lắm.
Cứ thế chúng ríu rít trò chuyện, và Eudora bảo mùa hè này nếu Doris sang chơi thì thể nào bọn chúng cũng có những khoảng thời gian tuyệt cú mèo cho xem. Họ có một cái xích đu lớn, họ sẽ sang khu Common và thỏa sức chơi đuổi bắt. Thời tiết ấm áp là thích hợp nhất, dù trượt tuyết và ném bóng tuyết cũng cực kỳ vui nếu tụi con trai không quá cục cằn. Ồ, cậu đã thấy mấy pháo đài và ngọn hải đăng lớn ngoài đồi Fort Hill chưa? Tuyệt cú mèo đúng không nào?
"Nhưng cậu biết đấy, Walter bảo rằng nếu mấy chiến lũy làm bằng đá chứ không phải bằng tuyết, thì quân nổi dậy chẳng đời nào chiếm nổi. Cậu biết đấy, hồi đó người ta gọi chúng ta là quân nổi dậy mà. Còn bây giờ chúng ta là một quốc gia rồi."
Doris tự hỏi chiến lũy là cái gì nhỉ, nhưng con bé để dành câu hỏi đó khi gặp chú Win. Con bé thoáng thở dài nghĩ mình đúng là một cô bé ngốc nghếch.
"Tớ nghĩ việc tự lập thành một quốc gia và tự cai quản người dân của mình thật tuyệt vời biết bao. Vua nước Anh nửa điên nửa tỉnh rồi đấy cậu biết không. Cậu không phiền chứ, khi bọn tớ nhắc đến người Anh ấy? Bọn tớ không có ý vơ đũa cả nắm tất cả mọi người, hay bạn bè của chúng ta và... và tất cả mọi người..." đoạn con bé đâm ra lúng túng vì mấy khái niệm rạch ròi.
"Ý bọn tớ là chính phủ," Helen chen vào. "Hiển nhiên là những kẻ ở cách đây hàng ngàn dặm chẳng thể nào hiểu nổi điều gì là tốt nhất cho chúng ta. Chẳng phải nực cười lắm sao nếu có ai đó ở tận Virginia lại dám ra lệnh cho bà tớ phải làm thế này thế nỏ? Bà tớ biết nhiều lắm đấy. Và bà là một trong những cụ bà đẹp lão nhất ở Boston đấy. Ồ, nghe kìa!"
Một thứ âm thanh kỳ bí phát ra từ phía nhà bếp. Chắc chắn có ai đó đang lên dây đàn vĩ cầm ở đâu đây rồi.
"Mấy người lớn chuẩn bị khiêu vũ kìa, đó là bác Joe da đen, người hầu của ông Winslow."
Ông Winslow và một tiểu thư trẻ cũng vừa đến nơi. Họ bày tỏ vô vàn lời xin lỗi vì đến muộn.
Mọi người trong phòng ăn rời khỏi bàn tiệc và bước ra sảnh. Cary Adams đã có một khoảng thời gian vô cùng vui vẻ đối với một chàng thanh niên. Isabel rót sô-côla, ngồi bên tay phải cô là một sinh viên năm cuối đại học Harvard. Alice rót trà, cạnh cô là Cary, người luôn tay nhiệt tình chuyền trà mời mọi người. Cậu rất quý Alice. Một cặp vợ chồng trẻ ngồi ở phía bên kia, và giờ đây sự xuất hiện của những vị khách mới cùng tiếng vĩ cầm khiến người ta phải hoài nghi.
"Doris thân yêu của ta," chú con bé kêu lên. Nãy giờ chú đang thảo luận về các nhà thơ Hy Lạp với vị giáo sư Harvard nên đã quên bẵng đi mất. "Con có mệt không? Đã đến giờ một người trẻ tuổi như con và một ông già như ta phải về nhà rồi đấy."
Trông chú chẳng già chút nào. Má chú hây hây đỏ — chắc do cuộc tranh luận hào hứng vừa rồi cùng chén trà ấm đã sưởi ấm con người chú.
"Ôi, chú cứ để Doris ở lại xem họ khiêu vũ một điệu thôi cũng được ạ," Eudora nài nỉ. "Bọn cháu ngồi đây trò chuyện nãy giờ mà có mệt mỏi chút nào đâu."
Người chơi vĩ cầm và các vũ công tiến vào căn phòng mà ban nãy lũ trẻ vui đùa. Đó là Winslow, anh họ của Jane Morse. Thật kỳ lạ làm sao khi con bé được gặp anh và nghe tiếng đàn của bác Joe da đen, người kéo vĩ cầm cừ khôi chẳng kém gì nghệ sĩ mù. Lũ trẻ nhún nhảy theo nhịp điệu của đôi chân.
Điệu minuet thật tao nhã làm sao. Tiếp đến là điệu cotillion với vô số màn cúi chào lịch thiệp. Sau đó, ông Adams tuyên bố họ phải về nhà, và bà Royall tiến lại trò chuyện với Doris bằng vẻ duyên dáng khôn tả, rồi bảo Susan, cô hầu gái người da màu mảnh khảnh, trùm khăn kín đầu và tai cho con bé. Bất chấp lời can ngăn của ông Adams, chiếc xe trượt tuyết của Pompey đã đánh vòng tới cửa.
"Ta hy vọng cháu đã có một buổi tối thật vui," bà Royall nói khi nhét hộp quà Giáng sinh vào tay cô bé.
"Cháu vui sướng ngập tràn luôn ạ," cô bé đáp với đôi mắt rạng ngời. "Cháu chẳng thể chứa thêm niềm vui nào nữa trừ khi mình lớn vụt lên," con bé cười lớn nói thêm.
Họ bắt con bé hứa lần sau phải sang chơi nữa, và lũ trẻ ôm hôn tạm biệt. Ngay sau đó, họ được đưa vùn vụt về đến tận cửa nhà chỉ trong nháy mắt.
"Bây giờ con phải chạy đi ngủ ngay đấy. Dì Elizabeth mà biết con thức khuya thế này thì hồn vía lên mây mất thôi."
Cô Recompense thì... suýt chút nữa. Cô đang ngồi gà gật bên lò sưởi.
Họ cùng nhau đi lên lầu. Cô liếc nhìn Doris, và bất chợt cô bé ôm chầm lấy vòng eo cô.
"Ôi, cô Recompense thân yêu ơi, cháu mừng lắm vì chiếc dải nơ đẹp tuyệt trần này. Hầu hết váy của các bạn đều đẹp hơn của cháu. Vài chiếc còn có viền bèo nhún ở chân váy và ống tay nữa. Nhưng bữa tiệc vui quá nên cháu quên bén mất chuyện đó rồi. Ôi cô Recompense, có bao giờ cô hạnh phúc đến mức trào dâng và chỉ muốn cất tiếng hát vì quá đỗi vui mừng chưa? Cháu nghĩ loài chim chắc cũng cảm thấy như vậy đấy."
Không, cô Recompense chưa bao giờ hạnh phúc đến nhường ấy. Niềm vui lớn lao, niềm vui hồn nhiên của tuổi thơ đã trôi tuột khỏi cuộc đời cô. Cô được dạy dỗ rằng cứ mỗi ngày khốn khổ bạn dành ra để than khóc cho tội lỗi của mình, thì một ngày trên thiên đường sẽ càng thêm phước hạnh, và hạnh phúc chốn trần gian chỉ là cạm bẫy của Kẻ Ác nhằm dẫn dụ con người lầm đường lạc lối. Cô từng ra đồng tự than thân trách phận và tự hỏi tại sao loài chim có thể cất tiếng hót khi chúng sắp phải chết sớm đến thế, và tại sao bất cứ ai lại có thể mỉm cười khi họ sẽ phải trả lời cho mọi tội lỗi vào Ngày Phán Xét.
"Dù sao thì mọi người cũng rất dễ mến, dù lúc đầu cháu thấy hơi ngượng ngùng. Và cháu chẳng tài nào chơi nổi trò ném vòng cả. Trò đó đẹp mắt lắm, và cháu ước gì mình biết chơi. Giờ nếu cô cởi dải nơ này ra và cất đi giúp cháu nhé, cháu cảm ơn cô hàng trăm lần ạ."
Mấy đứa trẻ mà cô từng biết thể nào cũng sẽ nài nỉ giữ lại chiếc dải nơ ấy. Sự thẳng thắn của Doris đã chạm đến trái tim cô. Chắc hẳn ý ông Adams là muốn con bé giữ lấy nó — cô sẽ hỏi lại ông cho chắc.
Và rồi cô bé hạnh phúc đi ngủ, trong khi ngay cả trong bóng tối, căn phòng dường như vẫn tràn ngập những hình ảnh tuyệt mỹ và những âm thanh say đắm lòng người.
Cary phải đi vắng vào sáng hôm sau. Chú Win bảo không thể để Doris đi được và sai Cato sang nhắn với bà Leverett. Một thanh niên ghé qua để nhận vài bài học, và Doris tiếp tục đắm chìm trong số phận của gia đình ông Mục sư một lúc lâu, cho đến khi cảm thấy mình cần phải học hành chăm chỉ vì còn quá nhiều điều chưa biết.
Chú Win bắt gặp con bé đang cuộn tròn bên xó lò sưởi với một chồng sách.
"Lại chuyện gì thế này?" chú hỏi.
"Cháu nghĩ cháu thuộc hết bảng đánh vần rồi ạ. Nhưng cháu cứ bị nhầm mấy bảng cộng khi tự hỏi bản thân. Cháu ước gì không có con số chín nào cả."
Thế giới không thể xoay xở nếu thiếu đi con số chín đâu. Nó cực kỳ quan trọng đấy."
"Hầu hết những điều tốt đẹp đều gian nan," con bé thở dài ra vẻ triết lý.
Chú phì cười.
"Eudora cũng chẳng thích mấy bảng tính đó đâu."
"Để chú chỉ cho con một điều cực kỳ thú vị về số chín mà con chẳng thể làm được với bất kỳ con số nào khác nhé. Mười cộng mười bằng mấy nào?"
Dạ thưa, bằng hai mươi, rồi cộng thêm mười nữa là ba mươi, cứ thế tiếp tục. Dễ như trở bàn tay ấy ạ."
"Thế mười cộng chín?"
Doris ngẩn người ra một thoáng rồi bắt đầu nheo mày suy nghĩ đăm chiêu.
"Số chín chỉ kém số mười đúng một đơn vị. Nào, nếu con nhớ được điều đó——"
"Mười chín! Ơ hay, tuyệt thật đấy ạ."
"Thế mười sáu cộng chín?"
"Hai mươi lăm ạ," con bé đáp có phần ngập ngừng.
Chú gật đầu. "Rồi cộng thêm chín nữa."
"Ba mươi tư. Ôi, bọn mình vừa làm được một câu thơ kìa! Chú Winthrop ơi, viết thơ có khó lắm không ạ? Trông chúng đẹp làm sao ấy."
Chú cười mỉm nửa miệng: "Chú nghĩ là... hơi khó đấy."
Người ta vẫn chưa có đủ thảnh thơi để lãng mạn hóa mọi thứ bằng thơ ca. Nhưng qua bao năm tháng ấy, có những đứa trẻ ra đời mà những vần thơ của chúng sẽ tìm được chỗ đứng bên mọi mái ấm trước khi cô bé kịp nói lời chúc ngủ ngon cuối cùng với thế giới này. Cho đến nay, mới chỉ có một vài lời trâm biếm hay châm chọc sắc sảo được viết thành thơ, và các giáo sĩ cũng từng chắp bút cho những dịp cưới xin hay tang lễ. Mục sư John Cotton từng thả hồn trong những dòng thơ uyển chuyển, và ngay cả Thống đốc Bradford cũng đan xen giữa những bộn bề lo toan với những vần điệu du dương hơn. Anne Dudley, vợ của Thống đốc Bradstreet, dù bận rộn với tám đứa con nhưng vẫn tìm được thời gian cho việc học hành và sáng tác. Khoảng năm 1650, bà đã cho xuất bản một tập thơ tại London mang tựa đề "Nàng Thơ Thứ Mười. Gồm nhiều bài thơ được tổng hợp với đủ loại trí tuệ và học thức. Của một Nữ sĩ người Mỹ." Và ngay từ thời đó, bà đã phải thốt lên những dòng đầy phẫn uất:
Tôi ghê tởm biết bao những lưỡi miệng bới lông tìm vết,
Kẻ bảo rằng tay tôi hợp với chiếc kim khói lửa hơn;
Nào bút mực thi nhân, há tôi lăng mạ mà phỉ báng hết,
Bởi chúng trút điều khinh miệt ấy lên trí tuệ đàn bà son sắt:
Nếu việc tôi làm nên trò trống, chúng chẳng màng ngợi ca,
Lại bảo rằng ăn cắp, hoặc may ra gặp vận may mà thành.
Ngoài ra còn có bà Murray và Mercy Otis Warren, những người sở hữu tư duy trí tuệ vô cùng sắc sảo; và những bức thư của phu nhân Adams cũng từng khiến thế giới một trăm năm sau phải trầm trồ ngưỡng mộ và kính trọng.
Trên chiếc bàn phòng khách ở một số gia đình, người ta thường bắt gặp một tập thơ mỏng mang màu sắc lãng mịch. Một dạo nọ, phu nhân Wheatley mua được một cô bé tại chợ nô lệ, phần lớn là vì lòng thương hại. Cô bé học đọc rất nhanh, lại khiêm nhường và chu đáo đến mức khi trưởng thành, cô được các tín đồ trong giáo đoàn của Tiến sĩ Sewall tại nhà thờ Old South vô cùng kính trọng. Cô cùng con trai chủ nhân sang châu Âu du lịch trước khi chiến tranh nổ ra, và gây được nhiều thiện cảm với người dân London đến nỗi thơ của cô được xuất bản và cô nhận được vô số sự quan tâm săn đón. Sau đó, thơ của cô được tái bản tại Boston và đón nhận những lời ca ngợi nồng nhiệt bởi tình cảm cao đẹp cùng những vần điệu mượt mà. Nhờ vậy, Phillis Wheatley vinh dự trở thành một trong những nữ thi sĩ đầu tiên tại Boston.
Và ngay cả bây giờ, những chàng thanh niên vẫn ca ngợi sức quyến rũ của người tình qua những vần thơ. Những gã công tử hào hoa tự tay viết những bức thư tình ngày lễ Valentine. Những sinh viên đại học chật vật với thơ tiếng Latinh, thỉnh thoảng lại vươn tới đỉnh Thessaly nơi nguồn cảm hứng tuôn trào. Nhưng nhìn chung, những tâm hồn tôn sùng Nàng Thơ thường tìm kiếm sự an ủi nơi Chaucer, Shakespeare và Milton trong lúc chờ đợi những thế hệ mai sau tự khẳng định tên tuổi.
Doris thở dài trước giọng điệu có phần hoài nghi của chú. Nhưng âm nhạc còn đọng lại trong tâm trí con bé nhiều hơn là thơ ca.
"Con có thể qua đọc một chút tiếng Latinh, rồi chúng ta sẽ trò chuyện bằng tiếng Pháp nhé. Tạm gác phần khô khan ấy lại đã. Còn những bài toán căn bậc hai và căn bậc ba sắp tới..."
"Cháu e là mình chẳng thể lớn nổi mất. Cháu sẽ héo hon quắt queo đi thôi. Không có dạng căn tròn trĩnh nào sao chú?"
"Có chứ, nằm ở mấy loại rau củ ấy."
Cả hai chú cháu cùng phì cười.
Con bé làm bài tiếng Latinh khá tốt. Sau đó, nó đánh vần vài từ khá hóc búa, và khi đang say sưa với bài tiếng Pháp thì thông báo bữa tối vang lên. Hai chú cháu vẫn tiếp tục trò chuyện, khiến cô Recompense được một phen buồn cười vì chẳng tài nào hiểu nổi mấy lời đó có ý nghĩa hợp lý gì không.
Bấy giờ ông Winthrop bảo rằng họ rất xứng đáng được thưởng một chút, và nếu con bé không sợ bị gió thổi bay thì hai chú cháu sẽ ra ngoài đi dạo bằng xe trượt tuyết. Họ lấy chiếc xe trượt nhỏ và chú là người đánh xe, họ rẽ xuống phía đuôi quả lê, để rồi nếu Boston không vững vàng kiên cố trong những năm tháng đầu tiên ấy thì có lẽ trong một cơn gió lớn nào đó, nó đã bị bẻ quặt đi và biến thành một hòn đảo mất rồi.
Cảnh sắc ngày nay trông chẳng còn giống mấy so với thuở ban đầu Doris đặt chân tới. Sông Charles đã thu hẹp lại, vùng vịnh Back Bay đã được san lấp. Thành phố vươn mình ra mọi ngả để trở thành một đô thị kỳ diệu. Khu Common cũng đã đổi thay, trở nên tươi đẹp hơn cả những gì người ta từng tưởng tượng thuở đó, nhưng hàng ngàn ký ức xưa cũ vẫn lưu luyến bám víu nơi này.
Họ rời xa những con phố. Đi xe trượt tuyết là trò tiêu khiển mùa đông tuyệt vời nhất hồi ấy, nhưng bạn chỉ có thể tận hưởng vào những ngày rét đậm, bởi không khí mặn mòi khắp chốn sẽ làm tuyết tan chảy ngay vào ngày ấm trời đầu tiên. Chẳng có khói bụi công nghiệp nào làm vấy bẩn, tuyết cứ trải dài thành những tấm thảm trắng tinh khôi bất tận. Người ta đang trượt băng trên vịnh Back Bay, ngồi trên những chiếc ghế trượt có thanh trượt trong khi các quý cô được quấn kín trong áo lông thú, cùng vô số loại xe trượt khác.
Họ vòng lên phía bên kia để ngắm nhìn những bến cảng, những con tàu neo đậu vô tri và những hòn đảo đội mũ tuyết trắng xóa giữa vịnh. Lúc này gió lộng đến mức suýt thổi bay cả người.
Hôm sau trời âm u và lạnh buốt. Ông Winthrop phải đi dự tiệc cùng mấy nhân vật tên tuổi. Cô Recompense luôn chải tóc và thắt bím đuôi sam cho ông. Giới trẻ ngày nay không còn để kiểu tóc đó nữa, nhưng một số người lớn tuổi cho rằng việc từ bỏ nó chẳng khác nào đang cố ra vẻ trẻ trung. Ông khoác lên mình chiếc quần lửng bằng nhung đen, đi tất lụa và giày thấp đính khóa bạc, mặc chiếc áo lê-ghi thêu hoa, cổ áo cao cứng và chiếc áo khoác bằng vải nỉ cao cấp nhập từ Pháp. Cổ áo sơ mi có hai lớp bèo nhún được xếp nếp tinh xảo. Cô Recompense đã làm chúng bằng một con dao dọc giấy.
Doris trầm trồ thốt lên: "Trông chú y như một bức tranh vậy, chú Winthrop ạ! Trang phục dự tiệc đúng là khiến người ta đẹp hẳn lên. Chắc là người ta không nên đẹp suốt ngày thế này đâu nhỉ."
"Thế thì chúng ta sẽ đâm ra kiêu ngạo mất," chú mỉm cười đáp, dẫu trong lòng vô cùng tận hưởng lời khen chân thành ấy.
"Có lẽ nếu lúc nào cũng quen với vẻ ngoài đó thì trông nó sẽ chẳng còn đẹp nữa. Nó sẽ trở nên quen thuộc như mọi ngày, và chú sẽ chẳng mờ mắt vì nó đâu."
Quả đúng là như vậy. Chú thầm nghĩ chắc gì bà Royall đã bận tâm đến trang phục của mình nhiều bằng những con người khắt khe luôn miệng nhắc đến hai tiếng lương tâm.
"Tạm biệt con nhé. Chắc lúc chú về là con chìm vào giấc ngủ rồi đấy."
"Ơ, chú đi muộn thế cơ ạ?" Con bé trèo lên một chiếc ghế đẩu, rướn người gửi tặng chú một nụ hôn tạm biệt kẻo ngày mai mới gặp lại, cẩn thận đến mức chẳng chạm vào lớp bèo nhún hoàn hảo của chú.
Trời dần sẩm tối, cô Recompense cứ ra ra vào vào và bản thân cô cũng chẳng vội vã thắp nến chút nào. Doris ngồi chìm trong dòng suy nghĩ hỗn độn. Có tiếng bước chân lên thềm nhà, tiếng dậm chân có vẻ quá ồn ào so với Cato — dù cho cậu có quay về sớm đến thế — rồi tiếng gõ cửa vang lên trước khi cánh cửa bật mở.
"Ôi, chú Leverett!" con bé chồm dậy.
"Chà chà, cô bé trốn nhà đi chơi đây ư! Ta ngạc nhiên lắm khi mẹ cháu bảo cháu ở lại chơi cả tuần cơ đấy. Ta nhớ cô công chúa nhỏ của ta lắm chứ. Ở nhà buồn tênh thiếu vắng cháu với Betty, nói thật với cháu đấy — buồn như khu rừng mùa đông vậy; và vì không sang thăm chị ấy được, ta đành tạt qua đây thăm cháu vậy. Đường vòng là con đường về nhà chắc chắn nhất mà ta từng nghe nói," ánh mắt chú lấp lánh ý cười. "Chú Win đâu rồi? Sao lại ngồi thui thủi trong bóng tối thế này?"
"Chú Win đi dự tiệc sang trọng ở chỗ Tòa thị chính hay chỗ nào đó rồi ạ. Chú ăn vận lộng lẫy lắm."
Ta dám cá là thế. Ngày thường trông chú ấy cũng đâu đến nỗi nào. Thế cháu chơi có vui không?"
"Vui tuyệt cú mèo luôn chú Leverett ạ. Sáng Giáng sinh cháu được đi nhà thờ. Rồi có một phu nhân mời cả hai chú cháu đến dự tiệc — vâng, là tiệc hẳn hoi nhé. Người lớn ngồi riêng một khu, còn lũ trẻ — có mười cô bé — chúng cháu được ăn một bữa tiệc thị soạn, chơi trò chơi, đố chữ, rồi chuyện trò..."
"Buổi tiệc linh đình ấy diễn ra ở đâu thế?"
"Ở nhà bà Royall ạ. Bà vừa tử tế, ngọt ngào lại vừa xinh đẹp nữa."
"Chà, ta chịu thua đấy! Lọt ngay vào tầng lớp thượng lưu cơ à! Không biết mẹ cháu sẽ nói sao nếu nghe về bữa tiệc này đây. Tiếc quá nhỉ, sao cháu không mặc chiếc váy xinh xắn ấy cơ chứ!"
"Lúc đầu cháu cũng ao ước lắm, nhưng tiệc vui quá nên chẳng còn quan trọng nữa. Rồi sau đó có thêm khách đến, cả bác Winslow và bác Joe da đen — người từng đàn ở bữa tiệc nhà Betty ấy, họ đã khiêu vũ nữa. Cary cũng đi nữa. Anh ấy ở lại sau khi chú cháu mình về."
"Lớn chuyện phết nhỉ. Ta mừng vì cháu được vui vẻ. Nhưng ta sẽ còn mừng gấp đôi khi đón cháu về nhà đấy. Giờ thì ta phải tót về đây."
Cô Recompense bước vào thắp nến. Chẳng mấy chốc là đến giờ ăn tối rồi và chú phải cởi áo khoác ở lại ăn cùng.
"Ta tạt ngang qua đây thôi, chẳng ai biết ta đang ở đâu cả. Vợ ta chắc đang chờ cơm ở nhà. Không, ta phải tất tả về thôi, cảm ơn lòng hiếu khách của hai người nhé. Ta chỉ muốn ghé thăm Doris thôi. Chẳng hiểu sao nhà ta đã quen có con bé ở bên đến nỗi vắng nó là thấy trống trải hẳn, nhất là khi Betty lại đang đi vắng. Tờ thư từ Hartford vẫn chưa gửi tới, nhưng ta chắc con bé vẫn bình an vô sự ở trển."
"Xe bưu điện thỉnh thoảng hay bị chậm trễ ấy mà. Doris vẫn khỏe mạnh và ngoan ngoãn. Con bé với chú nó đang có những giờ phút học tập vô cùng hào hứng."
"Thế thì tốt quá. Nhà tôi cứ lo lắng mãi về chuyện học hành của con bé. Giờ ta phải đi đây. Chúc ngủ ngon nhé. Thứ Bảy nhớ về nhà đấy."
"Cháu chào chú ạ," giọng nói dị dàng vang lên.
Bữa tối diễn ra trong bầu không khí vô cùng tĩnh lặng. Doris bắt đầu đọc to cho cô Recompense nghe cuốn "Câu chuyện về Rasselas, Hoàng tử xứ Abyssinia". Con bé không thích tác phẩm này bằng cuốn sách về ông Mục sư thân yêu của mình, nhưng chú Win bảo sách rất hay. Chú không chắc cuốn Mục sư có thực sự phù hợp với một đứa trẻ như Doris hay không. Thế là con bé cứ đọc say sưa một hồi rồi ngáp ngắn ngáp dài.
"Tối qua con thức khuya lắm đấy, giờ phải đi ngủ thôi," người phụ nữ lớn tuổi nhắc nhở.
Doris ngoan ngoãn vâng lời. Con bé buồn ngủ lắm rồi, nhưng chẳng hiểu sao vẫn chưa thể chợp mắt ngay được. Có một vấn đề vô cùng quan trọng cần phải suy tính đây. Cả ngày nay con bé cứ băn khoăn tự hỏi nếu chú Win ngỏ lời mời mình đến đây sống luôn thì sẽ tuyệt vời biết bao. Con bé rất quý chú. Nó thích những đầu sách, những món đồ tò mò kỳ lạ, những câu chuyện trò và những bài học ở đây. Chú Win thú vị hơn cô Webb nhiều, người luôn ném những câu hỏi vào mặt bạn khiến bạn giật nảy cả mình nếu lơ đễnh không chú ý. Còn có những niềm vui khác mà con bé chẳng thể tự giải thích nổi. Cả những trang sách, cả sự thảnh thơi ngồi ngắm nghía và suy ngẫm nữa. Bởi dì Elizabeth chu đáo từng dặn dò — "Con đã treo áo choàng lên chưa, Doris? Con đã chắc chắn thuộc bài đánh vần chưa? Ta tự hỏi không biết bao giờ con mới thạo nổi mấy bảng tính đó đây! Lớn tướng thế này rồi mà không biết cách đan tất chân à? Đừng có ngồi thẫn thờ nhìn đống lửa mà mơ mộng nữa Doris; tập trung vào sách vở đi kìa. Thằng bé Jimmie đã vượt xa con mấy bậc ở khoản này rồi đấy."
Còn ở đây, con bé có thể thoải mái ngồi ngắm lửa và mơ mộng. Dĩ nhiên là nó không phải đi học rồi. Cô Recompense đâu có lúc nào cũng kè kè bắt bẻ điều gì. Từ khi sống cùng ông Winthrop Adams, cô đã học được sự nhã nhặn nhất định. Quả thực, cô chẳng có gì phải bận lòng — không có những đứa trẻ cần phải mài giũa cho thành tài, không có người chồng nào mà cô phải bận tâm lo lắng cho công việc kinh doanh của ông ấy. Cô có một khoản tiền nhỏ kha khá và vẫn đang tích cóp thêm từng ngày, tuổi tác lại còn cách xa chốn già nua. Doris không thể hiểu hết những khác biệt về cả địa vị lẫn đòi hỏi trong cuộc sống, nhưng con bé tận hưởng bầu không khí thư thái ấy. Hơn thế nữa, nơi đây phảng phất nét xa hoa nhất định, một sự tự do thoát khỏi những gông cùm giày vò của lương tâm — thứ luôn được huấn luyện để phải túc trực cảnh giác kẻo bản thân "sa ngã vào cám dỗ".
"Chú muốn gặp cô công chúa nhỏ của mình. Chú nhớ con bé biết bao khi vắng bóng nó."
Con bé như mường tượng thấy nét mặt khao khát của chú Leverett và nghe văng vẳng giọng nói tha thiết của chú trong bóng tối. Chú đã ra tận mạn tàu chào đón nó lần đầu tiên và đưa nó về nhà. Vâng, nó vốn là cô công chúa nhỏ của chú mà. Người giám hộ sinh ra là để quản lý tiền bạc của bạn; chứ dĩ nhiên đâu bắt buộc phải sống chung với họ. Hơn nữa, chú Leverett cũng là một người bận rộn với công việc kinh doanh; và chú yêu thương nó. Nó biết điều đó mà chẳng cần phải giải thích gì thêm. Nó cũng vô cùng chắc chắn rằng chú Win yêu thương mình, nhưng bến đỗ thực sự của nó phải là phố Sudbury.
Chiều thứ Sáu, con bé đang cuộn tròn bên đống lửa đọc sách, trông giống hệt một chú mèo con to xác nếu bạn chỉ nhìn chiếc váy xám của nó. Chú Win thỉnh thoảng lại liếc nhìn con bé. Chú không hề thấy phiền khi có nó quanh quẩn bên mình — thực ra là chẳng phiền chút nào, không giống như Cary, kẻ chuyên làm đổ vách sách, dịch chuyển ghế phát ra tiếng động ầm ĩ và lúc nào cũng làm hệ thần kinh người ta căng như dây đàn, đúng kiểu một gã trai tơ khỏe mạnh đang lớn nhanh đến mức chẳng biết phải xoay xở thế nào với đôi chân đôi tay dài ngoằn ngoèo của mình.
Doris y như một chú chuột nhắt vậy. Con bé chẳng bao giờ làm nhàu nát trang sách khi lật chúng, chẳng bao giờ nhét sách ngược đầu vào tủ, cũng chẳng bao giờ táy máy nghịch giấy tờ hay bất cứ thứ gì nằm trên bàn mỗi khi đứng cạnh đó. Chú từng có ấn tượng rằng mọi đứa trẻ đều táy máy, tò mò và hay hỏi những câu hỏi oái oăm: đó là những kỷ niệm đọng lại trong trí nhớ chú về Cary trong những năm tháng đau thương đầu đời khi chú chẳng thể rời mắt khỏi thằng bé dù chỉ một phút.
Ngược lại, Doris mang đến cảm giác bình yên đến lạ với những nét tính cách cổ điển đáng yêu. Con bé không hề va vào ghế hay xê dịch chiếc đẩu để mấy cái chân phát ra tiếng "kẽo kẹt" chói tai, và có thể ngồi im phăng phắc cả tiếng đồng hồ chỉ với một cuốn sách trên tay. Dĩ nhiên, vì là con gái thì lẽ ra nó phải học may vá mới đúng.
Trời dần sẩm tối. Chú Winthrop bước đến khều lại đống lửa, chất thêm một khúc gỗ thông rồi kéo ghế ngồi sát lại.
"Cất sách đi thôi Doris. Con sẽ hỏng mắt mất."
Con bé gấp sách lại, tiến đến đứng cạnh chú. Chú vòng tay ôm lấy nó.
"Chú Win ơi, ngày xưa người ta từng phải đọc sách và may vá dưới ánh lửa bập bùng của củi và đuốc. Hồi đó chưa có nến đâu chú nhỉ."
"Mới cách đây không lâu người ta vẫn làm thế ở đây mà. Chú dám cá là ngoài đồng quê họ vẫn còn duy trì đấy. Họ đi ngủ sớm lắm."
"Điều khiến cháu thấy kỳ lạ là con người cứ liên tục phát hiện ra vạn vật. Chắc hẳn đã có lúc họ cực kỳ u muội. Không, chắc họ không đến nỗi u muội đâu nhỉ," con bé ngẫm nghĩ. "Vì thử nghĩ xem Adam đã đặt tên cho muôn thú như thế nào cơ chứ. Và cô Arabella bảo rằng ông Job biết tường tận về các vì sao và gọi chúng bằng tên riêng. Nhưng có lẽ ý cháu là những vật nhỏ bé như nến v.v... thế mà người ta đã chế ra đèn từ thuở xửa thuở xưa cơ mà."
"Con người dường như cứ tiến bộ rồi lại thụt lùi. Họ di cư và chẳng thể mang theo mọi thiết bị bên mình, thế là họ chế ra những dụng cụ đơn giản hơn để dùng tạm cho đến khi thảnh thơi và tích lũy được của cải. Con thấy đấy, họ đâu thể mang vác quá nhiều thứ từ Anh hay Hà Lan trên những con tàu bé nhỏ vào đầu thế kỷ mười sáu được. Thế nên họ đành phải bắt đầu từ con số không trong rất nhiều việc."
"Mọi thứ thật kỳ diệu làm sao khi thực sự tìm hiểu về nó," con bé khẽ thở dài.
Ánh lửa hắt lên người con bé lúc này, làm nổi rõ những nét băn khoăn trênKhuôn mặt thanh tú của đứa trẻ. Con bé rất thông minh, dù hơi chậm chạp trong khoản tính toán.
"Doris," — sau một hồi lâu im lặng — "con có muốn đến đây sống luôn không?"
"Ôi chú Win, đó sẽ là điều tuyệt vời nhất..."
"Chú nghĩ có lẽ con muốn thay đổi môi trường. Và còn một số vấn đề liên quan đến việc học hành của con nữa... ơ kìa, sao thế Doris?"
Con bé ngước mắt lên một thoáng rồi lại rũ mi xuống, và chú nhìn thấy hàng mi sẫm màu lấp lánh những giọt nước mắt. Con bé hít một hơi thật sâu run rẩy.
"Chú Win — cháu e là mình không thể." Giọng con bé cất lên chậm rãi. "Chú thấy đấy Betty đi vắng rồi, và chú Leverett nhớ cháu lắm. Hôm nọ chú bảo cháu là cô công chúa nhỏ của chú, và chú buồn lắm..."
"Chú cũng sẽ buồn khi con đi."
"Nhưng chú có biết bao nhiêu sách vở và mọi thứ quanh mình, lại có khách khứa qua lại nữa, và... cháu rất muốn ở lại. Ôi cháu quý chú nhiều lắm." Con bé vòng đôi tay mảnh khảnh quanh cổ chú và áp má vào má chú. "Đôi khi cháu có cảm giác chú giống hệt như những gì cháu còn nhớ về bố. Cháu chỉ được ở bên bố một chút ít thôi, chú biết đấy, sau khi cháu sang Anh. Nhưng dì Elizabeth bảo những điều gian nan mới luôn là điều đúng đắn. Dì ấy sẽ giữ thằng bé Jimmie lại nếu cháu ở đây, nhưng chú Leverett lại cần cháu. Cháu có thể cảm nhận được điều đó, nhưng chẳng biết giải thích thế nào. Từ trước đến nay chú ấy vẫn luôn đối xử với cháu quá đỗi tốt đẹp. Và ngày hôm đó trên tàu, chú ấy đã nói: 'Đây có phải cô công chúa nhỏ của ta không?', và cháu mừng biết bao khi lại được thuộc về một ai đó..."
Con bé khóc thút thít. Chú cảm nhận rõ những giọt nước mắt trên má mình. Sự kiên cường ngây thơ của con bé đã chạm đến sâu thẳm tâm hồn chú.
"Ừ, con gái ngoan," chú dịu dàng lên tiếng an ủi. "Có lẽ tốt hơn hết là chúng ta hãy chờ thêm một chút, cho đến khi Betty trở lại, hoặc vào mùa hè này. Con có thể sang đây vào tối thứ Sáu để nghỉ qua Chủ nhật, rồi ôn lại tiếng Latinh cùng chú, sửa cho chú ít tiếng Pháp, và chúng ta sẽ có những khoảng thời gian thật vui vẻ."
"Ôi, cháu cảm ơn chú, cảm ơn chú nhiều lắm ạ. Chú Win —nhá như cháu có thể hóa thành hai cô bé nhỉ..."
"Chú muốn giữ trọn vẹn cả con cơ. Chúng ta cứ để ngỏ điều này để suy nghĩ thêm nhé."
Rồi cô Recompense bảo bữa tối đã dọn sẵn, Doris liền đưa tay lau khô giọt nước mắt và mỉm cười. Nhưng cáiết tay siết nhẹ khi hai chú cháu bước đi đã thay lời thú nhận rằng con bé thuộc về nơi này.