The Spectator, Các Tập 1, 2 Và 3

Lượt đọc: 33 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Original Advertisement

❊ ❊ ❊

Số 88 Thứ Hai, ngày 11 tháng 6 năm 1711 Steele

Quid Domini facient, audent cum talia Fures?

Virg.

Ngày 30 tháng 5 năm 1711.

Thưa Ngài Spectator,

Tôi vô cùng trân trọng những nỗ lực của ngài nhằm đưa ra ánh sáng trước thế giới những điều vốn có thể thoát khỏi tầm quan sát của mọi người nhưng lại mang lại thiết thực lớn lao cho cuộc sống. Tôi nghĩ ngài đã rất thành công trong nhiều chủ đề và có vẻ như ngài đã trải qua rất nhiều hoàn cảnh sống khác nhau. Tuy nhiên, khi quan sát nhân thế trong vai trò một quan sát viên, ngài không nên bỏ qua những tầng lớp thấp trong xã hội, cũng như không nên chỉ tập trung vào những người cao sang. Có một điều cụ thể mà tôi lấy làm lạ là ngài chưa hề đả động tới, đó chính là sự suy đồi chung về đạo đức của tầng lớp đầy tớ tại Anh Quốc. Tôi là một người từng đi đây đi đó và mục kích nhiều quốc gia, nhưng bảy năm qua tôi đã định cư lâu dài tại Luân Đôn hoặc trong bán kính hai mươi dặm quanh đó: Trong khoảng thời gian này, tôi đã kết giao rộng rãi với những người tử tế nhất, và hầu như chưa từng thấy ai có được sự may mắn với đám gia nhân của mình. Điều này khiến những người nước ngoài và tất cả những ai từng viếng thăm các xứ sở khác phải hết sức kinh ngạc; nhất là khi chúng ta không thể không nhận thấy rằng, không nơi nào trên thế giới mà lũ đầy tớ lại có được nhiều đặc quyền và lợi ích như ở Anh: Không nơi nào chúng lại được ăn uống thịnh soạn, lương cao, hay được tự do quá trớn như vậy. Không có nơi nào chúng ít phải lao động hơn, thế mà lại là nơi chúng ít giữ phép tắc nhất, hoang phí nhất, cẩu thả nhất, và hay thay đổi chủ nhân hơn cả. Chính điều này, theo tôi phần lớn là nguyên nhân gây ra những vụ cướp bóc và tổn thất thường xuyên mà chúng ta phải gánh chịu trên các nẻo đường lớn cũng như ngay trong chính ngôi nhà của mình. Quả thực, điều thôi thúc tôi viết những dòng này ngay lúc này là vì một tên chăn ngựa bất cẩn của tôi đã làm hỏng con ngựa câu đẹp nhất đời chỉ bằng cách cưỡi nó liên tục mười dặm đường, và tôi xin đảm bảo với ngài rằng, nếu tôi lập một cuốn sổ ghi chép tất cả những con ngựa mà tôi từng biết bị ngược đãi như vậy bởi sự cẩu thả của gia nhân, thì con số ấy đủ để lập thành cả một trung đoàn. Tôi ước gì ngài có thể đưa ra những nhận xét để chúng ta biết cách đối phó với những kẻ vô lại này, hoặc để chúng ta, những người làm chủ, có thể đề ra các biện pháp cải tổ chúng. Xin ngài hãy ban cho chúng tôi một bài luận khái quát về tầng lớp gia nhân, và khi ấy ngài sẽ làm cho tôi...

Xin ngài đừng quên nhắc đến riêng bọn chăn ngựa.

Kính thư của ngài,

Philo-Britannicus

Quý ông chân chất này, người rất tha thiết mong tôi viết một bài châm biếm về bọn chăn ngựa, có thừa lý do để phẫn nộ; và tôi chẳng biết có thói hư tật xấu nào lại làm tổn hại đến toàn nhân loại sâu sắc như cái thói cư xử tồi tệ của bọn gia nhân.

Lời phàn nàn trong bức thư này hoàn toàn xoay quanh đám gia nhân nam; và tôi chẳng thể quy kết sự lỏng lẻo kỷ cương đang ngự trị trong hàng ngũ bọn chúng cho điều gì khác ngoài một nguyên nhân mà hàng trăm người đi trước tôi đã từng chỉ ra: Thói quen trả tiền ăn thay vì cấp cơm (Board-Wages). Ví dụ đơn giản về thứ kinh tế học sai lầm này cũng đủ để làm hư hỏng toàn bộ giới gia nhân trong nước, khiến chúng dường như chỉ làm việc có chừng mực trong một khoảng thời gian nào đó mà thôi. Chúng thường la cà ở những nơi tụ tập để lập bè kết phái, hoặc nếu có phục vụ tại các quán rượu, chúng sẽ ăn thừa lại sau khi chủ đã dùng xong và giữ lại tiền lương cho những mục đích khác. Chính từ đây mà ra chuyện chúng chỉ kém hơn các ông chủ của chúng một bậc; và thường có xu hướng bắt chước phong thái của chủ. Và thế là trong lớp áo hầu, ta thấy xuất hiện đủ loại công tử bột, kẻ chưng diện, kẻ phô trương với mức độ hoàn hảo không thua kém gì những kẻ vốn có xe ngựa riêng. Một thói quen phổ biến của đám hầu cận nhà quyền quý khi họ vui chơi thả cửa, nghĩa là khi khuất mắt chủ nhân, là bắt chước một cách khôi hài tên tuổi và tước hiệu của những người có bộ đồng phục mà họ đang mặc. Nhờ thế mà những tính cách và sự phân biệt giai cấp trở nên quen thuộc với họ đến mức, ngoài các nguyên nhân khác, người ta còn phải quy cho điều này về sự xấc láo nhất định của đám gia nhân nhà ta, khi chúng phớt lờ bất kỳ một quý ông nào dù có quen biết rõ đến đâu, trừ phi đó là chỗ bạn bè của chủ chúng.

Sự vô danh và tính ít nói cho phép tôi, mà không sợ điều tiếng gì, có thể dùng bữa, nếu tôi thích, tại một quán ăn bình dân, dù đó là nơi tồi tàn nhất hay là nhà hàng sang trọng nhất.

Tình cờ ghé vào một quán ăn gần Thượng viện hôm nọ, tôi nghe thấy cô hầu bàn chạy xuống và báo với bà chủ quán ở quầy rằng, ngài Giám mục thề sẽ tusng cổ cô ta qua cửa sổ nếu không mang lên loại bia nhẹ ngon hơn, và ngài Công tước muốn một vại bia đôi loại Purle. Sự kinh ngạc của tôi càng tăng lên khi nghe những giọng nói lớn và thô ráp cất lên đáp trả nhau về các vấn đề thời sự công cộng, bằng chính tên của những vị quý tộc lừng lẫy nhất trong nước; cho đến khi thình lình có người chạy xộc vào và loan tin Viện đang bãi triều. Tất cả mọi người cùng hùa nhau chạy xuống, rồi tản đi! Quán rượu lập tức ngập tràn tiếng la ó và ghi nợ một vại cho Hầu tước xứ này, dầu và giấm cho Bá tước nọ, ba vạc cho vị quý tộc mới của tôi để chúc mừng tước hiệu, cứ thế v.v.. Thật là một điều quá tai tiếng khi phải nhắc đến những đám đông gia nhân cùng sự xấc láo của chúng ở gần các tòa án, và những bậc thềm dẫn đến Hội đồng Tối cao, nơi diễn ra cảnh chế nhạo phổ biến mọi trật tự, thứ tiếng hò hét náo loạn và sự hỗn hỗn vô kỷ cương đến mức người ta tưởng chừng cả đất nước này đang sống trong một trò đùa, và chẳng hề có cái gọi là phép tắc hay ranh giới phân biệt nào giữa chúng ta.

Nơi tụ tập tiếp theo, nơi thế giới tôi tớ được thả lỏng, là lối vào Công viên Hyde, trong lúc giới quý tộc đang dạo chơi ở vòng đua ngựa. Nơi đây mọi người đưa những tên tiểu đồng của mình ra phô trương, và chính tại đây, mọi điều họ bàn ở bàn ăn và hành động trong nhà đều được truyền đi khắp thị trấn. Có những người thông minh trong mọi tầng lớp xã hội; và khi hòa mình vào đám đông này trong các cuộc vui của họ, tôi từng nghe những ả đĩ thỏa cũng như những cô nàng đoan trang bị trêu chọc, và sự xấc láo lẫn kiêu ngạo bị phơi bày (nếu châm chước cho việc họ thiếu giáo dục) với sự hài hước và óc phán đoán tốt chẳng kém gì ở những hội hè lịch sự nhất.

Có một quan sát chung rằng tất cả những kẻ ăn nhờ ở đậu đều ít nhiều ngấm cái phong thái và cách cư xử của người mà họ phục vụ: Bạn sẽ thường xuyên bắt gặp những kẻ si tình và những tay chuyên săn tình ái trong số đám tiểu đồng, chẳng khác nào ở câu lạc bộ White's hay trong các lô ngồi bên cánh gà nhà hát. Tôi nhớ vài năm trước đã từng chứng kiến một trường hợp như thế. Một tên gia đinh của một viên Đại úy Cận vệ thường xuyên, mỗi khi vắng chủ, lại đi chu du tình ái và hẹn hò bằng chính quần áo của chủ mình. Gã có một vóc dáng khá đẹp, và có rất nhiều phụ nữ chỉ nhìn bề ngoài của một quý ông mà chẳng suy nghĩ sâu xa hơn; bên cạnh đó, gã cũng gần như uyên bác chẳng kém gì vị đại tá chủ nhân: Nói tóm lại, với những vốn liếng ấy, gã có thể viết những bức thư tình (billets-doux) thành thạo và duy trì một cuộc trò chuyện về các chủ đề thông thường khéo đến mức gã có rất nhiều "công việc làm ăn" tốt trong tay, theo cách gọi của họ. Có một hôm, khi đang bước xuống bậc cầu thang quán rượu trong bộ áo cận vệ đẹp đẽ của chủ và đi cùng một người phụ nữ đeo mặt nạ ăn mặc sang trọng, gã chạm trán viên đại tá đang bước lên cùng những vị khách khác; nhưng với vẻ mặt tỉnh queo đầy tự tin, gã liền buông tay người phụ nữ ra, bước lại gần và nói:

Thưa ngài, tôi biết ngài quá tôn trọng bản thân nên sẽ không quất roi tôi trong bộ y phục đáng kính này: Nhưng ngài thấy đấy, ở đây có một bóng hồng liên quan, và tôi hy vọng vì lý do đó mà ngài cũng sẽ gác lại cơn giận cho đến khi tôi giải thích mọi chuyện với ngài vào lúc khác.

Sau một thoáng ngập ngừng, viên đại tá giãn nét mặt, với vẻ thân mật liền thì thầm riêng với tên đầy tớ:

Đồ khốn, hãy dẫn người phụ nữ đi cùng để làm ơn tha tội cho mày;

rồi ngài cất giọng lớn:

Lính việc của mày đi, Will, nếu không ta chẳng bao giờ tha thứ cho mày đâu.

Gã đầy tớ quay lại chỗ tình nhân, và với giọng oang oang kèm theo một lời thề, bảo rằng đó là người đàn ông chân thật nhất thế gian, rồi đưa cô ta lên một chiếc xe ngựa thuê.

Nhưng những thói vô kỷ luật do gia nhân gây ra tại những nơi kể trên, cũng như tại các nhà hát, mà nguyên nhân chính thường xuất phát từ các ông chủ, vốn quá đa dạng để không cần phải đề cập lại vào một dịp khác.

R.

Chú thích 1: của chữ return to footnote mark

Chú thích 2: White's, được thành lập như một tiệm sô-cô-la vào năm 1698, nổi tiếng là nơi lịch sự dành cho việc cờ bạc, và từng là tụ điểm của những tay bịp bợm cùng các nhà quý tộc chơi bời trước khi trở thành một Câu lạc bộ.

return

Mục lục

Số 89 Thứ Ba, ngày 12 tháng 6 năm 1711 Addison

... Petite hinc juvenesque senesque

Finem animo certum, miserisque viatica canis.

Cras hoc fiet. Idem cras fiet. Quid? quasi magnum

Nempe diem donas? sed cum lux altera venit,

Jam cras hesternum consumpsimus; ecce aliud cras

Egerit hos annos, et semper paulum erit ultra.

Nam quamvis prope te, quamvis temone sub uno

Vertentem sese frustra sectabere canthum.

Per.

Vì các độc giả viết thư bàn về chủ đề tình yêu của tôi rất đông đảo, tôi có ý định, nếu có thể, sẽ phân loại họ vào các nhóm khác nhau và thưa chuyện với từng nhóm vào những thời điểm khác nhau. Nhánh đầu tiên mà tôi sẽ dành trọn các bài viết này để phục vụ chính là những người vướng vào phụ nữ có tính lề mẫn, những kẻ muốn kéo dài thời gian tán tỉnh đến mức vô độ mà không tài nào dứt khoát nhận lời hay từ chối những người tình của họ. Tôi đang giữ rất nhiều bức thư phàn nàn về kiểu phụ nữ này. Trong một bức thư, một người đàn ông đường đường là bậc huynh trưởng trong giới pháp lý (Brother of the Coif) kể lại rằng ông bắt đầu theo đuổi ý trung nhân từ thời Vua Charles II năm thứ hai mươi chín (Vicesimo nono Caroli secundi), trước khi ông đặt chân đến trường Temple được một năm; rằng ông tiếp tục theo đuổi suốt nhiều năm sau khi được kết nạp vào đoàn luật sư; rằng hiện tại ông đã là một Thừa biện trạng sư (Sergeant at Law); và mặc dù ông hằng hy vọng mọi chuyện đã được giải quyết từ lâu, giai nhân ấy vẫn cứ tiếp tục... do dự (demurs). Tôi vô cùng thích thú với cách dùng từ của vị quý ông này đến mức tôi sẽ đặt cho phái nữ theo trường phái này cái tên là Những Nàng Do Dự (Demurrers). Qua một bức thư khác từ một người tự nhận là Thirsis, tôi được biết người tình của anh ta đã do dự suốt hơn bảy năm trời. Nhưng trong số tất cả những nguyên đơn khốn khổ của tôi thuộc loại này, tôi thương cảm nhất cho chàng Philander tội nghiệp, một người mang mối tình chung thủy và có gia sản dồi dào, kẻ giãi bày rằng nàng Silvia rụt rè và thiếu quyết đoán cứ do dự mãi cho đến khi quá tuổi sinh nở. Strephon qua bức thư lại hiện lên là một kẻ si tình vô cùng nóng nảy, và đã phải lòng không thể cứu vãn một ả do dự vì lòng vụ lợi. Anh ta phẫn uất kể lại rằng mụ ta đã moi sạch tuổi trẻ của mình; rằng mụ cứ nhử anh ta cho đến năm năm mươi lăm tuổi, và rằng anh ta thực sự tin mụ sẽ đá mình lúc tuổi già nếu mụ tìm thấy mối lợi ở kẻ khác. Tôi xin khép lại câu chuyện này bằng một bức thư từ anh bạn chân chất Sam Hopewell, một gã đàn ông rất vui tính, hình như cuối cùng đã cưới được một Nàng Do Dự: Tôi chỉ xin nói trước rằng Sam, một tay uống rượu cừ khôi, đã trở thành trò tiêu khiển cho bạn bè từ năm Một nghìn Sáu trăm Tám mươi mốt nhờ vào mối tình của hắn.

Thưa Ngài,

"Ngài thừa biết tình cảm của tôi dành cho cô Martha, và cái cách cô ấy đày ải tôi khổ sở thế nào: Cô ấy nhận lời tôi khi mới đôi mươi, và cứ lẩn tránh tôi suốt hơn ba mươi năm trời. Tôi yêu cô ấy cho đến khi cô ấy già khọm như một con mèo lông xám, và cuối cùng, sau bao khó nhọc, tôi cũng đã trở thành chủ nhân của cái thân xác ấy, dẫu nó đã tàn phế ở hiện tại. Tuy nhiên, trong mắt tôi, cô ấy vẫn là một người đàn bà lớn tuổi vô cùng quyến rũ. Chúng tôi thường thở dài tiếc nuối vì sao không cưới nhau sớm hơn, nhưng cô ấy chẳng thể trách ai ngoài chính mình: Ngài biết rõ rằng cô ấy sẽ chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi chừng nào trong miệng còn một cái răng. Tôi đã khắc thời điểm tình yêu của mình (Anno Amoris Trigesimo primo) lên chiếc nhẫn cưới thay cho một câu thơ đề tặng. Tôi trông đợi ngài gửi cho tôi một bức thư chúc mừng, hoặc nếu ngài thích, hãy làm một bài thơ mừng tân hôn (epithalamium) cho dịp này."

Chân thành của cô Martha và của ngài,

Sam Hopewell

Nhằm tống khứ một thói xấu khỏi thế gian, thứ không chỉ gây ra bao phiền toái cho cá nhân mà còn tác động xấu đến toàn xã hội, tôi sẽ cố gắng chứng minh sự ngớ ngẩn của thói do dự (Demurrage) qua hai hay ba bài học mà tôi thiết tha khuyên các nữ độc giả của mình nên ngẫm nghĩ.

Trước hết, tôi muốn họ suy ngẫm thật kỹ về sự ngắn ngủi của thời gian. Cuộc đời không đủ dài để một ả lẳng lơ giở ra tất cả những chiêu trò của mình. Một người đàn bà rụt rè sẽ rơi xuống mồ trước khi kịp suy tính xong. Giả sử tuổi thọ của con người dài như thời trước trận Đại hồng thủy, một quý cô có thể hy sinh nửa thế kỷ cho một sự đắn đo, và mất hai ba thời đại để do dự. Nếu có sẵn chín trăm năm trong tay, nàng có thể trì hoãn đến tận ngày người Do Thái cải đạo (Conversion of the Jews) rồi mới nghĩ đến chuyện mềm lòng. Nhưng than ôi! Nàng phải nhanh chóng diễn tròn vai của mình, khi nhận ra rằng chẳng mấy chốc nàng sẽ phải rời khỏi sân khấu và nhường chỗ cho kẻ khác.

Thứ hai, tôi muốn các nữ độc giả của mình cân nhắc rằng, khoảng thời gian của cuộc đời vốn ngắn ngủi, thì thời gian của sắc đẹp lại càng ngắn hơn bội phần. Làn da đẹp nhất cũng sẽ nhăn nheo chỉ sau vài năm, và phai nhạt sắc thắm nhanh đến mức chúng ta hầu như không có thời gian để chiêm ngưỡng. Tôi có thể tô điểm cho chủ đề này bằng hoa hồng, cầu vồng cùng vài ý tưởng khéo léo khác, những thứ mà có lẽ tôi sẽ để dành cho một dịp khác.

Có một cân nhắc thứ ba mà tôi cũng muốn giới thiệu đến các Nàng Do Dự, đó là mối nguy hiểm lớn lao của việc sa vào lưới tình khi đã xấp xỉ sáu mươi, nếu họ không giải quyết xong những mối nghi ngờ và đắn đo trước thời điểm đó. Có một thứ mùa xuân muộn màng nào đó đôi khi thấm vào dòng máu của một người đàn bà lớn tuổi và biến bà ta thành một sinh vật kỳ dị. Do đó, tôi muốn các nàng do dự phải suy tính xem mình trông sẽ nực cười thế nào, nếu chẳng may vượt qua mọi khó khăn và đi đến quyết định cuối cùng vào cái quãng đời trớ trêu ấy.

Tuy nhiên, những gì tôi nói ở trên không có nghĩa là muốn làm thui chột sự khiêm tốn tự nhiên của phái yếu, thứ khiến cho việc lùi bước trước những tiếp cận ban đầu của người tình trở nên hợp thời trang và duyên dáng: Tất cả những gì tôi muốn hướng tới là khuyên nhủ họ, khi được thôi thúc bởi lý trí và tình cảm, hãy chỉ do dự theo đúng thủ tục và chừng mực mà phép lịch sự đòi hỏi. Một người phụ nữ đức hạnh nên từ chối lời cầu hôn đầu tiên, giống như một người đạo đức từ chối chức giám mục; nhưng tôi không khuyên bên nào được phép tiếp tục khước từ những gì họ thầm mong ước. Trong vấn đề này, tôi xin đề xuất tấm gương của nàng Eve cho tất cả các ái nữ của bà, như Milton đã khắc họa trong đoạn thơ sau, đoạn mà tôi không kìm được lòng nên phải chép lại toàn bộ, dẫu chỉ có mười hai dòng cuối là phục vụ cho mục đích hiện tại của tôi.

Chiếc xương sườn ông đã tạo và nặn bằng đôi tay;

Dưới đôi tay tạo tác ấy một sinh vật lớn lên,

Hình dáng giống người, nhưng khác phái; đẹp đẽ xiết bao!

Đến nỗi điều từng tưởng là đẹp trong cả thế giới, giờ đây

Trở nên tầm thường, hoặc được gom lại, chứa đựng trọn vẹn trong nàng

Và trong ánh mắt nàng; từ khoảnh khắc ấy đã truyền vào

Sự ngọt ngào chưa từng thấy vào tim tôi;

Và lan tỏa vào vạn vật từ dáng điệu của nàng

Tinh thần của tình yêu và niềm hoan lạc đắm say.

Nàng biến mất, và để lại tôi trong bóng tối! Tôi bừng tỉnh

Để tìm nàng, hoặc mãi mãi than khóc

Sự mất mát này, và từ bỏ mọi niềm vui khác;

Khi tuyệt vọng khôn cùng, kìa nàng ở ngay gần,

Y hệt như tôi thấy trong giấc mơ, được trang hoàng

Bằng tất cả những gì đất trời hay thiên đàng có thể ban tặng

Để làm nàng đáng yêu: Nàng bước tới,

Dẫn dắt bởi Đấng Tạo Hóa thiên thượng, dẫu không nhìn thấy

Và được hướng dẫn bởi tiếng Người, không phải là vô tri

Về sự thánh thiện hôn nhân và các nghi lễ vợ chồng:

Sự duyên dáng ngự trong từng bước chân, thiên đường trong ánh mắt,

Trong mọi cử động là sự uy nghi và tình yêu.

Tôi khôn xiết vui mừng, chẳng kìm được mà cất lời.

Bước ngoặt này đã bù đắp; Ngài đã thực trọn

Những lời Ngài hứa, Hỡi Đấng Tạo Hóa rộng lượng và nhân từ!

Đấng ban phát mọi điều đẹp đẽ! nhưng đẹp nhất trong tất cả

Các món quà của Ngài chính là đây, và Ngài chẳng hề ganh tị. Giờ tôi thấy

Xương của xương tôi, thịt của thịt tôi, chính là tôi....

Nàng nghe tôi nói thế, và dẫu được mang đến bởi ơn thiêng,

Nhưng sự ngây thơ và đức khiêm nhường trinh bạch,

Đức hạnh của nàng, và ý thức về giá trị bản thân,

Vốn muốn được tán tỉnh, chứ không dễ dàng bị chinh phục,

Không sỗ sàng, không áp đặt, mà rút mình lại

Lại càng đáng khao khát hơn; hay nói cách khác,

Chính tự nhiên, dẫu thuần khiết không vẩn chút tội lỗi,

Đã tác động trong nàng, khiến khi trông thấy tôi, nàng quay đi.

Tôi bước theo nàng: nàng biết thế nào là danh dự,

Và với vẻ uy nghi vâng lệnh, nàng chuẩn y

Những lời lý lẽ tôi biện bạch. Tới khuê phòng tân hôn

Tôi dắt nàng đi, má đỏ hây hây tựa ban mai...

Chú thích 1: of the return to footnote mark

Chú thích 2: fled; return

Chú thích 3: P. L. Bk. VIII. return

Mục lục

Số 90 Thứ Tư, ngày 13 tháng 6 năm 1711 Addison

... Magnus sine viribus Ignis

Incassum furit

Virg.

Theo quan điểm của tôi, không có suy ngẫm nào có hiệu quả hơn trong việc dập tắt những ham muốn vô độ trong tâm hồn con người bằng các quan niệm của Plato và các môn đồ của ông về chủ đề đó. Họ bảo rằng mọi đam mê mà tâm hồn vướng phải khi cư ngụ trong thể xác sẽ vẫn ở lại với nó khi bước vào cõi khác; và tâm hồn lúc ở trong xác hay khi rời khỏi xác cũng chẳng khác gì một người khi ở trong nhà hay khi ra ngoài trời thoáng đãng. Do đó, một khi những dục vọng đồi bại nói riêng đã bén rễ và lan rộng trong tâm hồn, chúng sẽ bám chặt lấy linh hồn một cách không thể tách rời, và ở lại mãi mãi trong đó sau khi thể xác đã bị vứt bỏ. Để củng cố học thuyết này, họ quan sát thấy rằng một thanh niên đồi bại cứ tiếp tục con đường trác táng sẽ dần dà trở thành một lão già dâm dật; và ngọn lửa đam mê vẫn tồn tại trong tâm trí ngay cả khi nó đã hoàn toàn lụi tàn trong thể xác; thậm chí, ham muốn ấy còn trở nên dữ dội hơn, và (như mọi thói quen khác) càng mạnh mẽ hơn theo tuổi tác, dẫu nó không còn khả năng thực hiện những mục đích của chính mình. Nếu, theo họ, tâm hồn dễ bị chao đảo bởi những đam mê này nhất vào lúc nó ít nhận được sự kích thích từ thể xác nhất, thì chúng ta hoàn toàn có thể đoán rằng nó vẫn sẽ giữ lại chúng khi đã hoàn toàn rũ bỏ thể xác. Bản thân tâm hồn đã bị hoại tử bởi chúng, vết hoại thư đã lan quá sâu không thể cứu chữa; ngọn lửa bùng cháy ấy sẽ hoành hành đến muôn đời.

Do đó, (những nhà theo triết phái Plato khẳng định) hình phạt của một kẻ ham muốn khoái lạc sau khi chết chính là thế này: Hắn bị dằn vặt bởi những ham muốn mà hắn vĩnh viễn không thể thỏa mãn, bị thôi thúc bởi một đam mê chẳng còn đối tượng hay cơ quan nào thích hợp để đáp ứng; hắn sống trong trạng thái thèm muốn và bất lực không thể cứu vãn, mãi mãi bốc cháy trong sự truy đuổi những thứ mà hắn vĩnh viễn tuyệt vọng vì không thể sở hữu. Chính vì lý do này (Plato nói) mà linh hồn của những người đã khuất thường xuất hiện tại các nghĩa trang, và vơ vẩn quanh những nơi chôn cất thể xác họ, như thể vẫn còn tơ tưởng đến những thú vui nhục dục cũ, và khao khát được nhập lại vào thể xác từng mang đến cho họ cơ hội thỏa mãn chúng.

Một số nhà thần học lỗi lạc nhất của chúng ta đã vận dụng quan niệm Platon này, xét về mặt sự tồn tại của các đam mê sau cái chết, với vẻ đẹp và sức mạnh lý luận vô cùng sâu sắc.

Quả thực, Plato đã đẩy suy nghĩ này đi rất xa khi gắn vào đó quan niệm của ông về những hồn ma xuất hiện nơi mồ mả. Dù rằng, thú thật, nếu ta tin rằng linh hồn những người nam nữ đã khuất vất vưởng khắp chốn trần gian này và giải trí bằng cách ngắm nhìn đồng loại, thì người ta không thể nghĩ ra một địa điểm trừng phạt nào thích hợp hơn cho một tâm hồn uế tạp ngoài điều mà Plato đã đề cập.

Người xưa dường như đã phác họa một trạng thái trừng phạt như thế qua hình tượng Tantalus, kẻ bị kết án chịu đựng cơn khát cháy bỏng đời đời, ngâm mình tới cằm trong làn nước cứ trốn chạy khỏi môi hắn mỗi khi hắn chực uống.

Virgil, người đã đúc kết toàn bộ hệ thống triết học Platon liên quan đến linh hồn con người thành những ngụ ngôn tuyệt đẹp trong Quyển thứ VI tác phẩm Aeneid, đã mô tả hình phạt của một kẻ ăn chơi trác táng sau cái chết, rất không khác với điều chúng ta đang bàn đến.

... Lucent genialibus altis

Aurea fulcra toris, epulæque ante ora paratæ

Regifico luxu: Furiarum maxima juxta

Accubat, et manibus prohibet contingere mensas;

Exurgitque facem attollens, atque intonat ore.

Họ nằm dài trên những chiếc giường dát vàng lộng lẫy,

Và những bữa tiệc tùng xa hoa được dọn ra với vẻ vương giả:

Nữ thần cai quản các Furies ngồi bên cạnh họ,

Và giật lấy những món ăn chưa kịp nếm khỏi miệng họ;

Nếu họ dám chạm vào, nàng liền ngẩng đầu với những con rắn rít lên,

Vung ngọn đuốc, và gầm thét bên tai họ.

Dryd.

Để làm giảm bớt phần nào sự khắc nghiệt trong bài luận này của tôi (bài viết mà nếu không khéo có thể làm tôi mất đi một số độc giả lịch sự), tôi xin dịch lại một câu chuyện từng được dẫn chứng trong một dịp khác bởi một trong những học giả uyên bác nhất thời đại chúng ta, đúng như tôi tìm thấy trong bản gốc.

Độc giả sẽ nhận thấy câu chuyện này hoàn toàn không xa lạ với chủ đề hiện tại của tôi, và tôi dám cá rằng mọi người sẽ coi nó như một hình ảnh sinh động miêu tả một con người đang oằn mình dưới sự tra tấn của một kiểu đọa đày Tantalus hay địa ngục Platon mà chúng ta đang bàn tới. Khi kể về một cuộc phiêu lưu tình ái xảy ra với ông ở vùng quê, Monsieur Pontignan đã tường thuật lại như sau:

"Khi tôi ở vùng quê vào mùa hè năm ngoái, tôi thường xuyên bầu bạn với hai người phụ nữ vô cùng quyến rũ, những người hội tụ đủ sự thông minh và sắc đẹp mà người ta có thể mong chờ ở những nữ bằng hữu, kèm theo chút tính cách lẳng lơ thỉnh thoảng lại mang đến cho tôi vô vàn sự dằn vặt dễ chịu. Theo cách của mình, tôi đem lòng yêu cả hai người, và có những cơ hội thường xuyên để thổ lộ nỗi lòng với từng người khi họ ở riêng, khiến tôi có lý do để hy vọng nhận được những ân huệ đặc biệt từ mỗi nàng. Một buổi tối, khi tôi đang đi lại trong phòng với chiếc áo ngủ khoác hờ trên người, cả hai nàng bước vào phòng tôi và bảo rằng họ có một trò đùa rất thú vị muốn chơi găm một quý ông đang ở cùng nhà, với điều kiện tôi phải chịu tham gia một tay. Nói rồi họ kể cho tôi nghe một câu chuyện nghe có vẻ xuôi tai đến mức tôi bật cười trước mưu kế của họ và đồng ý làm bất cứ điều gì họ yêu cầu: Họ lập tức bắt đầu quấn chặt lấy tôi bằng chiếc áo ngủ và những dải vải lanh dài, cuộn quanh người tôi cho đến khi tôi bị bọc trong hơn một trăm thước vải quấn xác: Hai tay tôi bị ép sát vào sườn và hai chân bị ép chặt vào nhau bởi rất nhiều lớp vải chồng lên nhau, khiến tôi trông giống hệt như một xác ướp Ai Cập. Khi tôi đứng thẳng đuột như một cây cột trong hình dáng cổ kính ấy, một trong hai vị phu nhân liền bật cười phá lên, rồi nói: Nào, Pontignan, chúng tôi định thực hiện lời hứa mà chúng tôi thấy anh đã ép mỗi người chúng tôi phải thốt ra đây. Anh thường xuyên cầu xin những ân huệ của chúng tôi, và tôi dám chắc anh là một kẻ bề tôi có giáo dục tốt nên sẽ không từ chối việc lên giường với hai người phụ nữ đang tha thiết cầu xin anh đâu. Sau một tràng cười thả cửa, tôi nài nỉ họ tháo gỡ cho tôi và muốn làm gì với tôi cũng được. Không, không, họ nói, chúng tôi thấy anh thế này là đẹp chán; rồi ra lệnh khiêng tôi đến phòng của một trong hai người, và đặt lên giường trong nguyên bộ dạng bọc vải đó. Căn phòng được thắp sáng rực rỡ khắp nơi; và tôi được đặt một cách vô cùng đoan trang giữa hai lớp khăn trải giường, với phần đầu (thực ra là bộ phận duy nhất tôi có thể cử động) gối lên một chiếc gối rất cao. Vừa làm xong điều đó, hai người bạn gái của tôi liền trèo lên giường nằm cạnh tôi trong những bộ trang phục ngủ đẹp nhất của họ. Bạn có thể dễ dàng đoán được tình cảnh của một người đàn ông nhìn thấy đôi bồng đào xinh đẹp nhất thế giới cởi trần và lên giường nằm cùng mình, mà tay chân hoàn toàn không thể nhúc nhích. Tôi nài nỉ họ thả tôi ra và vùng vẫy hết sức có thể để thoát thân, tôi giãy giụa mạnh đến mức vào khoảng nửa đêm, cả hai nàng đều nhảy tót khỏi giường, la làng lên rằng họ tiêu đời rồi. Nhưng khi thấy tôi vẫn nằm yên an toàn, họ lại trở về vị trí cũ và tiếp tục trêu chọc tôi. Nhận thấy mọi lời cầu xin và nỗ lực của mình đều vô ích, tôi đành tự trấn an hết mức có thể và bảo họ rằng, nếu họ không cởi trói cho tôi, tôi sẽ lăn ra ngủ giữa hai người, và nhờ thế sẽ bêu riếu họ đến muôn đời: Nhưng than ôi! Điều đó là bất khả thi; giả sử tôi có muốn ngủ đi nữa, họ cũng sẽ ngăn cản tôi bằng đủ thứ cử chỉ vuốt ve nựng nịu đầy ác ý mà họ trút lên người tôi. Dù tôi có cuồng nhiệt phái nữ đến mức nào đi nữa, tôi cũng chẳng thèm trải qua một đêm như thế lần thứ hai dù có được làm chúa tể của cả phái đẹp đi chăng nữa. Chắc chắn độc giả sẽ tò mò muốn biết chuyện gì đã xảy ra với tôi vào sáng hôm sau: Thật ra thì những bạn cùng giường đã rời bỏ tôi khoảng một tiếng trước bình minh, và dặn rằng nếu tôi ngoan ngoãn nằm yên, họ sẽ sai người đến cởi trói cho tôi ngay khi đến giờ thức dậy; quả nhiên, khoảng chín giờ sáng, một bà lão đến cởi vải cho tôi. Tôi chịu đựng tất cả những điều này một cách vô cùng kiên nhẫn, với quyết tâm sẽ trả thù đám bạo chúa của mình và chẳng nể nang gì một khi đã được tự do; nhưng khi tôi hỏi bà lão xem hai vị phu nhân đâu rồi, bà bảo rằng bà tin lúc ấy họ đã đặt chân tới Paris, bởi vì họ đã chuồn đi trên chiếc xe sáu ngựa từ trước năm giờ sáng."

L.

Chú thích 1: Plato's doctrine of the soul and of its destiny is to be found at the close of his Republic; also near the close of the Phædon, in a passage of the Philebus, and in another of the Gorgias. In § 131 of the Phædon is the passage here especially referred to; which was the basis also of lines 461-475 of Milton's Comus. The last of our own Platonists was Henry More, one of whose books Addison quoted four essays back (in No. 86), and who died only four and twenty years before these essays were written, after a long contest in prose and verse, against besotting or obnubilating the soul with 'the foul steam of earthly life.' return to footnote mark

ChúG chú 2: which return

Chú thích 3: Paraphrased from the Academe Galante (Ed. 1708, p. 160). return

Chú thích 4: couple return

Mục lục

Số 91 Thứ Tư, ngày 14 tháng 6 năm 1711 Steele

In furias ignemque ruunt, Amor omnibus Idem.

Virg.

Dù chủ đề tôi sắp bàn tới đáng lý ra phải là nền tảng cho một vở kịch nhiều hơn, tôi không thể kìm được việc đưa vào đây những tình tiết đã làm tôi vô cùng thích thú trong lời kể của một thiếu nữ về chuyện tình của một gia đình nọ trong thành phố, xin được giấu tên; hoặc đúng hơn, để tên tuổi của câu chuyện được vang dội và sang trọng hơn, thay vì gọi là ông bà này bà nọ, tôi sẽ dùng những cái tên giả định. Không cần dài dòng thêm nữa, xin thưa rằng trong khu vực tự trị của Thành phố Westminster sinh sống quý bà Honoria, một góa phụ độ tuổi bốn mươi, có thể chất tráng kiện, tính tình vui vẻ và vóc dáng thanh lịch. Bà ăn mặc có phần quá trẻ trung so với tuổi, thích làm nũng bằng giọng điệu trẻ con, đôi khi ra điều hờn dỗi đáng yêu bằng cách nghiêng đầu, và thỉnh thoảng lại hạ mi mắt nhìn chiếc quạt giấy: Cả trí tưởng tượng lẫn sức khỏe sẽ chẳng bao giờ cho phép bà nhận ra mình đã qua tuổi đôi mươi; nếu như giữa những nét mềm mại đáng yêu và vẻ kiều diễm thu hút ấy, bà không có một cô con gái cao rảnh chỉ còn nửa tháng nữa là tròn mười lăm tuổi, người cứ vô duyên bước vào phòng và cao vượt hẳn lên thành một thiếu nữ khiến người mẹ luôn cảm thấy bị lấn át bởi sự hiện diện của con bé, và mọi vẻ quyến rũ của Honoria đều lụi tàn ngay khi Flavia bước chân vào. Flavia cũng muốn được như những gì mình chưa đạt được, hệt như mẹ cô là Honoria; nhưng tất cả những người ngắm nhìn họ đều có thiện cảm với sự bộc lộ của một người đang trên đà trưởng thành hơn là thứ đã từng được tận hưởng và đã qua đi vĩnh viễn. Do đó, Flavia được phép nhìn về phía trước, còn Honoria thì không được phép nhìn lại phía sau.

Flavia hoàn toàn không phụ thuộc vào mẹ về mặt tài sản, vì lý do đó họ sống gần như bình đẳng trong các cuộc trò chuyện; và vì Honoria đã cho Flavia hiểu rằng gọi mẹ suốt ngày là hành vi thiếu giáo dục, Flavia cũng vô cùng hài lòng khi không bao giờ bị gọi là con. Chính vì thế mà hai mẹ con thường là đối thủ của nhau ở bất cứ nơi nào họ xuất hiện; và hai từ "mẹ" và "con" chẳng bao giờ thốt ra giữa họ nếu không phải vì cay đắng.

Có một đêm nọ tại nhà hát, khi thấy Honoria thu hút ánh mắt của nhiều người dưới hàng ghế khán giả, Flavia liền gọi một người phụ nữ ngồi cạnh và bảo bà xin mẹ mượn hộ chiếc hộp đựng thuốc hít trong một thoáng. Một lần khác, khi một người tình của Honoria đang quỳ gối khẩn khoản xin được hôn tay bà, Flavia xộc thẳng vào phòng, quỳ xuống bên cạnh gã và xin ơn phước. Hàng loạt hành vi trái nghịch bổn phận này đã tạo ra giữa họ một sự lạnh nhạt đến mức khi ở trong đám đông, họ thường trò chuyện theo kiểu chì chiết lẫn nhau chứ không hề nói trực tiếp với nhau.

Honoria luôn miệng phàn nàn về sự kiêu ngạo nhất định ở những cô gái trẻ thời nay, những kẻ tự cho phép mình quyền lấn lướt tất cả, cứ như thể họ là những kẻ sở hữu sự kính trọng của nhân loại, còn những ai hơn họ một tuổi trên đời đều bị ghẻ lạnh hoặc đã qua đời.

Bị khiêu khích như vậy, Flavia liền châm chọc rằng có những kẻ chẳng chịu buông bỏ điều gì, và không biết cách từ bỏ những thứ họ thừa biết mình không thể nắm giữ nổi; rằng có những người không cho phép tuổi trẻ được bồng bột, không phải vì bản thân họ đã qua thời bồng bột đó, mà vì họ thích tiếp tục chìm đắm trong đó. Những tuyệt sắc giai nhân này kình chống nhau trong mọi hoàn cảnh, không phải lúc nào họ cũng chung người tình, mà mỗi người đều duy trì sự hão huyền để khoe với người kia về sức hút của người tình mình.

Dick Crastin và Tom Tulip, bên cạnh nhiều người khác, gần đây đã trở thành những kẻ theo đuổi trong gia đình này: Dick nhắm đến Honoria, còn Tom nhắm đến Flavia.

Dick là gót chân Achilles duy nhất còn sót lại của thời đại trước trong giới công tử bột, còn Tom hầu như là kẻ duy nhất duy trì trật tự nam nhân ấy trong thời đại này.

Ước gì tôi có thể thuật lại những tình tiết vụn vặt trong cuộc trò chuyện của bốn kẻ si tình ấy với đúng cái tinh thần mà thiếu nữ đã kể cho tôi nghe tại một buổi thăm viếng mà tôi vinh dự có mặt; nhưng có vẻ như Dick Crastin, kẻ ngưỡng mộ Honoria, và Tom Tulip, kẻ theo đuổi Flavia, đã được hai quý bà cố tình cho phép cùng xuất hiện, để mỗi người có thể chứng minh cho người kia thấy rằng người tình của mình vượt trội hơn về những phẩm chất của thứ sinh vật mà phần ngốc nghếch của phụ nữ gọi là một quý ông lịch lãm. Vì thời đại này có gu thẩm mỹ thô tục hơn rất nhiều trong việc tán tỉnh cũng như trong mọi thứ khác so với thời trước, những quý ông này là minh chứng cho điều đó qua cách tiếp cận khác nhau của họ.

Tulip luôn đưa ra những ẩn dụ về sự tráng kiện trong cơ thể, sức mạnh gân guốc của vóc dáng; trong khi đó Crastin lại tỏ ra là kẻ cẩn trọng quan sát từng chuyển biến trong tâm trí người tình. Tulip tự tạo cho mình vẻ bất kham của một kẻ cướp đoạt không ngơi nghỉ, còn Crastin thực hành phong thái của một người tình khéo léo. Thơ ca là thứ tài sản bất khả phân ly của mọi kẻ đang yêu; và trong khi những người thông minh tự viết thơ trong những dịp ấy, phần còn lại của thế giới lặp lại thơ của người khác. Những bề tôi của các quý cô này thường bắt chước cách trò chuyện của họ, và ám chỉ lẫn nhau hơn là trao đổi trực tiếp khi họ gặp mặt.

Hôm nọ, Tulip chộp lấy tay người tình và ngâm nga trích từ Nghệ thuật Yêu của Ovid:

Chính anh có thể trải qua đêm dài trong những trận chiến dịu dàng,

Rồi sáng hôm sau vẫn vùng dậy đầy tráng kiện cho cuộc chiến,

Tươi mới như ban ngày, và nhanh nhẹn như ánh sáng.

Nghe vậy, Crastin với vẻ cung kính liền phẩy chiếc quạt của Honoria và ngâm:

Sedley sở hữu thứ nghệ thuật dịu dàng đầy sức hút đó,

Có thể truyền tải bằng sự quyến rũ không cưỡng lại được

Những ham muốn phóng túng nhất vào trái tim trinh bạch nhất:

Gây ra cuộc xung đột ấy, nhen nhóm ngọn lửa ấy,

Giữa đức hạnh đang lụi tàn và dục vọng,

Cho đến khi người thiếu nữ khốn khổ bị khuất phục tan chảy

Trong những giấc mơ suốt đêm, trong những tiếng thở dài và giọt nước mắt suốt ngày.1

Khi Crastin thốt lên những câu thơ ấy bằng một sự dịu dàng vừa bộc lộ niềm đam mê vừa thể hiện lòng kính trọng, Honoria liền liếc nhìn Flavia đầy đắc thắng, như thể đang hân hoan trước sự thanh lịch trong cách tán tỉnh của Crastin, đồng thời trách móc sự thô kệch trong cách của Tulip.

Tulip hiểu được lời trách móc ấy, và để đáp trả, hắn bắt đầu ca ngợi sự khôn ngoan của những quý ông lớn tuổi si tình, những kẻ luôn tìm cách lái trí tưởng tượng của người tình rời xa nhất có thể khỏi những gì chính họ đã lãng quên từ lâu, và kết thúc bài diễn thuyết bằng một lời khen ngợi đầy ranh mãnh về học thuyết Tình yêu Platon; đồng thời, hắn đảo cặp mắt đầy vẻ giễu cợt nhìn đôi chân gầy guộc, gò má hóp và thân hình teo tóp của Crastin. Vị quý ông lớn tuổi lập tức vùng vằng bỏ khỏi phòng với vẻ khó chịu, và câu chuyện chuyển sang chủ đề những mối tình sai trái, tình yêu muộn màng và tuổi trẻ không đúng lúc.

Tulip ca hát, nhảy múa, uốn éo trước gương, dắt người tình đi nửa bước minuet, rồi ngân nga bài "Celia xinh đẹp, giữa độ tuổi trăng tròn mười lăm"; đúng lúc đó thì có người hầu mang đến cho hắn một bức thư có nội dung như sau:

Thưa ngài,

"Tôi hiểu rất rõ ý ngài khi nhắc đến tình yêu Platon. Tôi rất sẵn lòng gặp ngay ngài tại Công viên Hyde, hoặc đằng sau Tòa nhà Montague, hay cùng ngài đến Barn-Elms2, hoặc bất kỳ địa điểm thời trang nào thích hợp cho một quý ông ngã xuống mà ngài muốn chỉ định, với tư cách là,

Thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài,

Richard Crastin."

Sắc mặt của Tulip biến đổi khi đọc bức thư này; vì thế người tình của hắn liền giật lấy để đọc nội dung. Trong lúc nàng đang đọc thì Tulip chuồn thẳng, và giờ đây, khi đã đồng tâm hiệp lực trước một hoạ nạn chung, hai người phụ nữ cùng nhau than khóc cho sự nguy hiểm của người tình họ. Họ lập tức cởi bỏ trang phục để ra ngoài và bắt xe ngựa nhằm ngăn chặn thảm họa; thế nhưng, sau khi làm náo động khắp các ngóc ngách trong thành phố, người ta tìm thấy Crastin đang đứng chờ trong đôi giày mỏng tại Công viên Hyde, nơi mà Tulip chẳng bao giờ bén mảng đến mà đã trốn thẳng về miền quê.

Flavia xé tóc bứt tai vì sự hèn nhát nhục nhã của người tình, nguyền rủa và khinh bỉ kẻ từng làm tim nàng mê đắm, rồi quay sang đem lòng yêu Crastin: Đó là phần đầu tiên trong câu chuyện về Người mẹ cạnh tranh (The Rival Mother).

R.

Chú thích 1: Rochester's Imitations of Horace, Sat. I. 10. return to footnote mark

Chú thích 2: A famous duelling place under elm trees, in a meadow half surrounded by the Thames. return

Mục lục

Số 92 Thứ Sáu, ngày 15 tháng 6 năm 1711 Addison

... Convivæ prope dissentire videntur,

Poscentes vario multum diversa palato;

Quid dem? Quid non dem?

Hor.

Khi xem lại những bọc thư mới được gửi đến cho tôi gần đây, tôi tìm thấy bức thư sau1.

Thưa Ngài Spectator,

"Bài viết của ngài là một phần trong bộ trà cụ của tôi; và người hầu của tôi nắm rõ tính tình tôi đến mức khi tôi gọi đòi bữa sáng vào sáng nay (lúc đã quá giờ thường lệ), cô ấy đáp rằng tờ Spectator vẫn chưa tới; nhưng ấm đun nước đã sôi và cô ấy mong đợi nó từng phút. Đã phần nào bày tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ của tôi dành cho ngài như thế, tôi phải nhắc ngài về danh mục sách mà ngài từng hứa sẽ giới thiệu cho phái đẹp chúng tôi; bởi vì tôi đã hoãn việc sắm sửa các tác giả vào tủ sách của mình cho đến khi nhận được lời khuyên của ngài về vấn đề này, với tư cách là môn đồ hằng ngày và là người đầy tớ khiêm nhường của ngài,

Leonora."

Để đáp lời nữ môn đồ khả ái mà tôi vô cùng tự hào này, tôi xin thông báo cho cô ấy cùng toàn thể độc giả rằng, kể từ khi tôi kêu gọi sự giúp đỡ để lập danh mục thư viện cho phái nữ, tôi đã nhận được rất nhiều bức thư bàn về vấn đề đó, và tôi sẽ tóm tắt lại một số trong số đó.

Ở nhóm đầu tiên, tôi xin lưu ý đến những bức thư gửi đến từ các nhà sách nổi tiếng, mỗi nơi đều ca ngợi với vẻ tôn kính những tác giả do chính họ ấn phẩm, và do đó họ nhắm đến lợi ích của bản thân nhiều hơn là lợi ích của phụ nữ. Một người bảo rằng ông ta nghĩ việc phụ nữ có những khái niệm đúng đắn về Công lý và Luật pháp là hoàn toàn cần thiết, và vì thế họ không thể đọc cuốn sách nào tốt hơn cuốn Luật pháp Đồng quê của Dalton (Dalton's Country Justice): Người thứ hai cho rằng họ không thể thiếu cuốn Cẩm nang Kỵ mã toàn thư (The Compleat Jockey). Người thứ ba, quan sát thấy sự tò mò và thèm muốn khám phá những bí mật vốn được ông ta cho là bản tính của phái đẹp, cho rằng xu hướng nữ tính này nếu được định hướng đúng đắn có thể mang lại lợi ích lớn cho họ, do đó giới thiệu với tôi tác phẩm Sách Khải Huyền qua ngòi bút của ông Mede (Mr. Mede upon the Revelations). Người thứ tư khẳng định chắc nịch như một chân lý không thể chối cãi rằng một quý cô không thể xem là hoàn hảo nếu chưa đọc Các hiệp ước và đàm phán bí mật của Thống chế D'Estrades (The Secret Treaties and Negotiations of Marshal D'Estrades). Ông Jacob Tonson Trẻ (Mr. Jacob Tonson Jun.) thì cho rằng Từ điển của Bayle (Bayle's Dictionary) sẽ rất có ích cho phụ nữ nhằm giúp họ trở thành những học giả uyên bác toàn diện. Một người khác mà tôi đã quên tên, cho rằng việc mọi người phụ nữ mang thai nên đọc cuốn Lịch sử Phép rửa Trẻ sơ sinh của ông Wall (Mr. Wall's History of Infant Baptism) là vô cùng thích hợp: Trong khi một người khác lại nài nỉ tôi giới thiệu với mọi nữ độc giả cuốn Nhát búa kết liễu: Bản minh oan cho chế độ Gia trưởng (The finishing Stroke: Being a Vindication of the Patriarchal Scheme), v.v..

Ở nhóm thứ hai, tôi xin nhắc đến những cuốn sách được khuyến giới bởi các đức lang quân, nếu tôi có thể tin tưởng những người viết thư này. Dù họ là những ông chồng thực sự hay chỉ giả danh thì tôi không rõ, nhưng những cuốn sách họ giới thiệu gồm có:

Một bài chú giải về Lịch sử nàng Susanna (A Paraphrase on the History of Susanna). Các quy tắc giữ gìn Mùa chay (Rules to keep Lent). Ngăn chặn sự sụp đổ của người Cơ đốc (The Christian's Overthrow prevented). Lời can ngăn đến nhà hát (A Dissuasive from the Play-house). Công dụng của long não cùng hướng dẫn cách pha trà long não (The Virtues of Camphire, with Directions to make Camphire Tea). Niềm vui của đời sống thôn dã (The Pleasures of a Country Life). Sự cai trị của lưỡi (The Government of the Tongue). Một bức thư gửi từ phố Cheapside yêu cầu tôi khuyên các tân nương hãy tự trang bị cho mình kiến thức từ cuốn Sách số học của Wingate (Wingate's Arithmetick), và kết luận bằng lời tái bút mong rằng tôi đừng quên cuốn Sách công thức nấu ăn của Nữ bá tước xứ Kent (The Countess of Kent's Receipts).

Tôi có thể xem chính các quý cô là nhóm thứ ba trong số những người corresponde và cố vấn riêng này. Trong bức thư từ một vị nữ độc giả, tôi được khuyên nên đặt tác phẩm Pharamond lên đầu danh mục, và nếu thấy thích hợp, có thể dành vị trí thứ hai cho Cassandra. Coquetilla nài nỉ tôi đừng bao giờ nghĩ đến chuyện bắt phụ nữ quỳ gối với những cuốn cẩm nang cầu nguyện, hay làm cháy sém khuôn mặt họ bằng những cuốn sách nữ công gia chánh. Florella muốn biết liệu có cuốn sách nào đả kích bọn phụ nữ đoan trang giả tạo (prudes) hay không, và khẩn khoản xin tôi, nếu có, hãy xếp chúng vào thư viện của tôi.

Các vở kịch đủ mọi thể loại đều có những luật sư biện hộ riêng: Tác phẩm All for Love được nhắc đến trong hơn mười lăm bức thư; Sophonisba, hoặc Sự sụp đổ của Hannibal (Sophonisba, or Hannibal's Overthrow) xuất hiện trong một tá thư; The Innocent Adultery cũng được tán thưởng nhiệt liệt; Mithridates Vua xứ Pontus (Mithridates King of Pontus) có rất nhiều người ủng hộ; Alexander Đại đế (Alexander the Great) và Aurengzebe nhận được số phiếu ngang ngửa; nhưng Theodosius, hoặc Sức mạnh của Tình yêu (Theodosius, or The Force of Love) lại vượt lên trên tất cả các tác phẩm còn lại2.

Cuối cùng, tôi nên nhắc đến những cuốn sách được đề xuất bởi những bậc thức giả và những người tỏ ra là thẩm phán có năng lực trong vấn đề này; và nhân đây tôi cũng xin cảm ơn A.B., bất kể đó là ai đang ẩn danh đằng sau hai chữ cái đó, vì những lời khuyên của vị ấy về chủ đề này: Nhưng vì tôi nhận thấy công việc mình đã nhận lãnh vô cùng khó khăn, tôi xin hoãn việc thực hiện nó cho đến khi hiểu rõ hơn suy nghĩ của những người đương thời uyên bác, và có thời gian kiểm tra các cuốn sách khác nhau mà họ gợi ý; vì trong một vấn đề hệ trọng thế này, tôi quyết định sẽ tiến hành với sự cẩn trọng cao độ.

Trong lúc chờ đợi, vì tôi đã nhận phần chăm sóc đặc biệt đối với phái nữ, tôi sẽ xem việc tìm kiếm trong các tác giả cổ kim những đoạn văn có ích cho họ là nhiệm vụ của mình, đồng thời cố gắng điều chỉnh chúng sao cho phù hợp nhất với gu thẩm mỹ của các nàng; không mảy may nghi ngờ rằng phần tinh tế của phái đẹp sẽ dễ dàng tha thứ cho tôi, nếu thỉnh thoảng tôi có chế nhạo những sự hờ hững và thói ngớ ngẩn nhỏ nhặt xuất hiện trong hành vi của một số người, những thứ vốn thích hợp để chế giễu hơn là một lời khiển trách nghiêm túc. Phần lớn các cuốn sách được tính toán cho độc giả nam, và thường được viết với ánh mắt hướng về các bậc thức giả, khiến cho một công trình mang tính chất này càng trở nên cần thiết hơn; bên cạnh đó, tôi càng được khích lệ hơn nữa vì tự mãn nguyện khi thấy phái đẹp đang ngày càng hoàn thiện bản thân nhờ những bài luận của tôi. Các nữ độc giả của tôi giờ đây đã trở thành những học giả uyên thâm hơn cả đám công tử bột. Tôi có thể kể tên một vài người trong số họ, những người có thể trò chuyện trôi chảy hơn hẳn vài quý ông đang tạo dựng tên tuổi tại quán Will's; và vì tôi thường xuyên nhận được thư từ các quý bà thanh lịch cùng những chàng trai bảnh chọe, tôi không thể không nhận xét rằng nhóm trước vượt trội hơn nhóm sau không chỉ về ý nghĩa mà còn ở cả chính tả. Điều này chắc chắn sẽ mang lại hiệu ứng tốt đẹp đối với thế giới phụ nữ, và ngăn không cho họ bị mê hoặc bởi những kẻ rỗng tuếch từng được ca tụng trong giới nữ dẫu bị cười chê trong giới nam.

Tôi được tin đáng tin cậy rằng Tom Tattle đang mang tiếng là một kẻ xấc láo, rằng Will Trippet bắt đầu bị lật tẩy, và bản thân Frank Smoothly cũng chỉ còn cách danh hiệu một kẻ ngớ ngẩn đúng một tháng, nếu tôi tiếp tục duy trì bài viết này. Về phần mình, vì nhiệm vụ của tôi phần nào là vạch trần những kẻ dẫn dụ tâm trí yếu đuối bằng những luận điệu giả mạo về sự hóm hỉnh và phán đoán, sự hài hước và tính galant, tôi sẽ không ngớt cung cấp những ánh sáng tốt nhất có thể cho phái đẹp để tiếp tục hành trình khám phá này.

Chú thích 1: By Mrs. Perry, whose sister, Miss Shepheard, has letters in two later numbers, 140 and 163. These ladies were descended from Sir Fleetwood Shepheard. return to footnote mark

Chú thích 2: Michael Dalton's Country Justice was first published in 1618. Joseph Mede's Clavis Apocalyptica, published in 1627, and translated by Richard More in 1643, was as popular in the Pulpit as The Country Justice on the Bench. The negotiations of Count d'Estrades were from 1637 to 1662. The translation of Bayle's Dictionary had been published by Tonson in 1610. Dr. William Wall's History of Infant Baptism, published in 1705, was in its third edition. Aurungzebe was by Dryden. Mithridates and Theodosius were by Lee. return

Mục lục

Số 93 Thứ Bảy, ngày 16 tháng 6 năm 1711 Addison

... Spatio brevi

Spem longam reseces: dum loquimur, fugerit Invida

Ætas: carpe Diem, quam minimum credula postero.

Hor.

Tất cả chúng ta đều phàn nàn về sự ngắn ngủi của thời gian, Seneca1 đã nói thế, nhưng lại có trong tay nhiều thời gian hơn mức chúng ta biết phải làm gì với nó. Cuộc đời chúng ta, ông nói, trôi qua hoặc là trong việc chẳng làm gì cả, hoặc trong việc làm những chuyện chẳng đi đến đâu, hoặc trong việc làm những chuyện không nên làm: Chúng ta luôn miệng than thở ngày tháng ngắn ngủi, nhưng lại hành động cứ như thể chúng ta sẽ sống đời sống kiếp không bao giờ chấm dứt. Vị triết gia cao quý ấy đã miêu tả sự bất nhất của chúng ta với chính mình trong vấn đề này bằng tất cả những sắc thái biểu cảm và tư tưởng vốn mang nét đặc trưng trong các tác phẩm của ông.

Tôi thường quan sát thấy nhân loại hoàn toàn mâu thuẫn với chính mình trong một điểm có phần tương đồng với điều vừa rồi. Dù chúng ta tỏ ra đau xót trước sự ngắn ngủi của cuộc sống nói chung, chúng ta lại mong mỏi từng giai đoạn của nó chóng qua mau. Đứa trẻ vị thành niên mong đến tuổi trưởng thành, rồi lại mong trở thành một người bận rộn với công việc, rồi mong tạo dựng được cơ ngơi, rồi mong đạt đến những chức tước danh giá, rồi lại mong được nghỉ hưu. Cứ thế, mặc dù toàn bộ cuộc đời được mọi người thừa nhận là ngắn ngủi, từng phân đoạn riêng lẻ của nó lại tỏ ra dài dòng và tẻ nhạt. Chúng ta muốn kéo dài khoảng thời gian sống tổng thể, nhưng lại tha thiết muốn thu ngắn những phần hợp thành nó. Kẻ cho vay nặng lãi hẳn sẽ rất mãn nguyện nếu tất cả khoảng thời gian nằm giữa thời điểm hiện tại và ngày trả nợ kỳ tới được xóa sổ hoàn toàn. Giới chính trị gia sẽ bằng lòng đánh mất ba năm trong đời, miễn là có thể sắp xếp mọi việc theo đúng cục diện mà họ tưởng tượng chúng sẽ đứng sau một biến động thời gian như thế. Kẻ đang yêu sẽ vô cùng hạnh phúc nếu được gạch bỏ khỏi sự tồn tại của mình tất cả những khoảnh khắc phải trôi qua trước ngày hội ngộ hạnh phúc. Cứ thế, dẫu thời gian trôi đi nhanh chóng, ở hầu hết các chặng đường đời, chúng ta vẫn vô cùng vui sướng nếu nó trôi nhanh hơn thực tế. Rất nhiều giờ trong ngày đè nặng lên đôi tay chúng ta, thậm chí chúng ta còn cầu mong cho qua đi cả những năm tháng dài dằng dặc: Và chúng ta lữ hành xuyên qua thời gian giống như qua một vùng đất hoang vu trống trải, nơi chúng ta tha thiết muốn vội vã vượt qua để đặt chân đến những điểm định cư nhỏ bé hay những bến bờ nghỉ ngơi tưởng tượng rải rác khắp nơi dọc theo hành trình ấy.

Nếu chia cuộc đời của đa phần con người thành hai mươi phần, chúng ta sẽ thấy ít nhất mười chín phần trong số đó chỉ là những khoảng trống và hố sâu thuần túy, không được lấp đầy bởi niềm vui hay công việc. Tuy nhiên, tôi không gộp vào phép tính này cuộc đời của những người luôn chìm trong guồng quay bận rộn của công việc, mà chỉ nhắm đến những ai không phải lúc nào cũng vướng vào các hoạt động hành động; và tôi hy vọng mình sẽ làm được một việc ích lợi cho những đối tượng này, nếu tôi chỉ ra cho họ một số phương pháp nhất định để lấp đầy những khoảng trống trong cuộc đời. Các phương pháp tôi muốn đề xuất như sau.

Thứ nhất là việc thực hành đức hạnh, theo nghĩa rộng nhất của từ này. Kế hoạch cụ thể bao gồm các đức tính xã hội có thể mang lại việc làm cho những tâm hồn siêng năng nhất, và cung cấp cho một người nhiều công việc hơn cả vị trí năng nổ nhất trong đời sống. Khuyên nhủ kẻ vô minh, cứu giúp người nghèo khó, an ủi kẻ u sầu, đó là những bổn phận xuất hiện trên con đường chúng ta đi gần như mỗi ngày trong đời. Một người có rất nhiều cơ hội để làm dịu bớt sự gay gắt của một đảng phái; để đòi lại công lý cho danh dự của một người xứng đáng; để làm dịu kẻ đố kỵ, trấn an kẻ nóng giận, và uốn nắn kẻ mang định kiến; tất cả những điều đó đều là những công việc phù hợp với bản tính hợp lý, và mang lại niềm mãn nguyện lớn lao cho người có thể tận tâm dấn thân vào chúng với sự thận trọng.

Có một loại đức hạnh khác có thể tìm thấy việc làm cho những giờ phút tĩnh lặng khi chúng ta bị bỏ lại hoàn toàn một mình, không có bầu bạn và trò chuyện; ý tôi muốn nói đến sự tương tác và giao tiếp mà mọi sinh vật có lý trí phải duy trì với Đấng Tạo Hóa vĩ đại đã ban sự sống cho mình. Người sống dưới ý thức thường trực về sự hiện diện của thần linh sẽ duy trì một tâm trạng vui tươi vĩnh cửu, và tận hưởng trong từng khoảnh khắc niềm hạnh phúc khi nghĩ rằng mình đang bầu bạn với người bạn thân thiết và tuyệt vời nhất. Thời gian không bao giờ đè nặng lên vai ông ta: Ông ta không tài nào rơi vào cảnh đơn độc. Tư tưởng và đam mê của ông ta hoạt động mạnh mẽ nhất vào những giờ phút mà người khác đang lười biếng nhất: Ông ta vừa bước ra khỏi thế giới là trái tim đã bùng cháy lòng sùng kính, dâng trào hy vọng, và hân hoan trong ý thức về sự hiện diện đang bao bọc lấy mình khắp nơi; hoặc ngược lại, trút bỏ những sợ hãi, muộn mộng, lo lắng của mình trước Đấng nâng đỡ sự tồn tại của nó.

Ở đây tôi mới chỉ xem xét sự cần thiết của việc một người phải sống có đức hạnh, để anh ta có việc mà làm; nhưng nếu chúng ta suy xét sâu hơn rằng việc thực hành đức hạnh không chỉ là một trò tiêu khiển trong khoảng thời gian nó diễn ra, mà ảnh hưởng của nó còn vươn tới những phần tồn tại nằm bên kia nấm mồ, và toàn bộ cõi vĩnh hằng của chúng ta sẽ mang màu sắc xuất phát từ những giờ phút mà chúng ta dành cho đức hạnh hay tội lỗi nơi trần thế, thì lý luận ấy lại càng nhân lên gấp bội, thôi thúc chúng ta đưa vào thực tiễn phương pháp tiêu phí thời gian này.

Khi một người chỉ có một chút vốn liếng để đầu tư, và có cơ hội xoay vòng toàn bộ số vốn ấy mang lại lợi ích tốt đẹp, chúng ta sẽ nghĩ gì nếu anh ta để cho mười chín phần vốn liếng nằm chết một chỗ, và thậm chí có lẽ còn dùng cả phần thứ hai mươi vào việc tự hủy hoại hay bất lợi cho mình? Nhưng vì tâm trí không thể mãi mãi hừng hực nhiệt huyết, cũng không thể căng lên đến cực độ của đức hạnh, việc tìm kiếm những công việc thích hợp cho những lúc nó thả lỏng là điều vô cùng cần thiết.

Do đó, phương pháp tiếp theo mà tôi muốn đề xuất để lấp đầy thời gian của chúng ta, chính là những trò tiêu khiển hữu ích và vô hại. Thú thật, tôi nghĩ việc các sinh vật có lý trí lại hoàn toàn chìm đắm trong những trò giải trí thuần túy vô hại, chẳng có điểm gì khác ngoài việc chúng không gây tổn hại gì, là điều kém cỏi. Liệu bất kỳ loại cờ bạc nào có được dăm ba lời biện hộ như thế hay không, tôi sẽ không phán xét; nhưng tôi nghĩ thật kỳ lạ khi thấy những người có lý trí xuất chúng lại dành mười hai tiếng đồng hồ liền để xào và chia một bộ bài, với thứ giao tiếp chẳng có gì ngoài vài cụm từ chơi bài, và chẳng có ý tưởng nào khác ngoài những đốm đen hoặc đỏ được xếp cạnh nhau thành các hình thù khác nhau. Chẳng lẽ một người không phải phì cười khi nghe bất kỳ ai thuộc loài này phàn nàn rằng cuộc đời ngắn ngủi hay sao.

Sân khấu kịch có thể trở thành một nguồn vĩnh cửu mang lại những hình thức giải trí cao cả và hữu ích nhất, nếu nó được đặt dưới những quy chế thích hợp.

Nhưng tâm trí không bao giờ thả lỏng một cách dễ chịu cho bằng trong cuộc trò chuyện với một người bạn được tuyển lựa kỹ càng. Quả thực, không có phước lành nào trong cuộc sống có thể sánh được với sự tận hưởng một người bạn khôn ngoan và đức hạnh. Nó làm dịu và trút gánh nặng cho tâm trí, làm sáng tỏ và nâng cao sự hiểu biết, sinh sôi tư tưởng và tri thức, kích thích đức hạnh và quyết tâm tốt đẹp, xoa dịu và làm nguôi ngoai các đam mê, đồng thời tìm kiếm việc làm cho hầu hết những giờ phút rảnh rỗi của cuộc đời.

Bên cạnh sự thâm mật với một cá nhân cụ thể như thế, người ta nên nỗ lực hướng tới một cuộc trò chuyện rộng rãi hơn với những ai có khả năng giải trí và bồi đắp cho những người họ đàm đạo, đó là những phẩm chất hiếm khi đi rời nhau.

Có rất nhiều trò tiêu khiển hữu ích khác trong cuộc sống mà người ta nên cố gắng nhân lên, để trong mọi hoàn cảnh có thể nương tựa vào một thứ gì đó thay vì để cho tâm trí nằm ì bất động, hoặc thả trôi theo bất kỳ cảm xúc nào tình cờ dâng lên trong lòng.

Một người có gu thưởng thức âm nhạc, hội họa hay kiến trúc giống như kẻ có thêm một giác quan thứ hai khi so sánh với những ai không có chút khẩu vị nào đối với các loại nghệ thuật đó. Người trồng hoa, nhà làm vườn, người làm ruộng, khi những nghề ấy chỉ đóng vai trò là những tài lẻ của một người có gia thế, sẽ là những chốn nương náu tuyệt vời cho đời sống điền viên, đồng thời mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho những ai sở hữu chúng.

Nhưng trong tất cả các hình thức giải trí của cuộc đời, không có cách nào thích hợp hơn để khỏa lấp những khoảng trống của nó bằng việc đọc các tác giả hữu ích và mang tính giải trí. Tuy nhiên, tôi chỉ lướt qua điều này, bởi vì nó phần nào chồng chéo với phương pháp thứ ba mà tôi sẽ đề xuất trong một bài viết khác nhằm sử dụng những giờ phút chết chóc bất động của chúng ta, và tôi chỉ xin nhắc đến nó một cách tổng quát là sự mưu cầu tri thức.

Chú thích 1: Epist. 49, and in his De Brevitate Vita. return to footnote mark

Mục lục

Số 94 Thứ Hai, ngày 18 tháng 6 năm 1711 Addison

... Hoc est

Vivere bis, vita posse priore frui.

Mart.

Phương pháp cuối cùng mà tôi đã đề xuất trong bài viết hôm Thứ Bảy của mình, nhằm lấp đầy những khoảng trống trong cuộc đời vốn vô cùng tẻ nhạt và nặng nề đối với những kẻ ăn không ngồi rồi, chính là tự trang bị cho mình qua việc mưu cầu tri thức.

Tôi nhớ ông Boyle1 khi bàn về một loại khoáng chất nào đó đã nói rằng: Một người có thể tiêu phí cả cuộc đời trong việc nghiên cứu nó mà vẫn không tài nào chạm tới sự thấu hiểu toàn bộ các tính chất của nó. Sự thật là, không có một môn khoa học đơn lẻ nào, hay bất kỳ nhánh nào của nó, lại không thể cung cấp cho con người công ăn việc làm cho cả một đời người, dù cuộc đời ấy có dài hơn thực tế bao nhiêu đi chăng nữa.

Tôi sẽ không sa đà vào những chủ đề quen thuộc như sự hữu ích của tri thức, hay niềm vui và sự hoàn mỹ mà nó mang lại cho tâm trí, cũng như các phương pháp để đạt được nó, hay khuyến nghị bất kỳ một nhánh cụ thể nào, bởi vì tất cả những điều đó đã là đề tài của rất nhiều nhà văn khác; thay vào đó, tôi xin phép được thả mình vào một bài luận ít phổ biến hơn và do đó có lẽ sẽ mang tính giải trí cao hơn.

Tôi đã từng chỉ ra những phần thời gian vô ích trong cuộc đời trông dài dòng và tẻ nhạt ra sao, và ở đây tôi sẽ cố gắng chứng minh những khoảng thời gian được vận dụng vào việc học tập, đọc sách và mưu cầu tri thức tuy dài nhưng lại không hề tẻ nhạt, và qua đó khám phá ra một phương pháp kéo dài tuổi thọ của chúng ta, đồng thời biến mọi phần thời gian ấy trở thành lợi ích của bản thân.

Ông Lock nhận xét2 rằng:

"Chúng ta thu nhận ý niệm về thời gian hoặc khoảng thời gian bằng cách suy ngẫm về chuỗi các ý niệm kế tiếp nhau trong tâm trí: Chính vì lý do này, khi chúng ta ngủ say mà không mơ mộng gì, chúng ta hoàn toàn không có tri giác về thời gian hay độ dài của nó trong suốt giấc ngủ; và khoảnh khắc chúng ta ngừng suy nghĩ cho đến khoảnh khắc bắt đầu suy nghĩ trở lại dường như không hề có khoảng cách nào cả."

Tác giả nói thêm rằng:

"Và vì thế tôi không hoài nghi điều đó cũng sẽ xảy ra với một người thức tỉnh, nếu anh ta có thể giữ lại duy nhất một ý niệm trong tâm trí mà không có sự biến đổi hay kế tiếp của những ý niệm khác: Và chúng ta thấy rằng, một người dồn hết tâm trí vào một thứ đến mức ít để ý đến chuỗi các ý niệm lướt qua trong đầu trong lúc bận rộn suy ngẫm miệt mài ấy, đã bỏ sót mất một phần lớn khoảng thời gian đó trong sổ sách của mình, và cảm thấy thời gian đó ngắn hơn thực tế."

Chúng ta có thể đẩy suy nghĩ này đi xa hơn, và xem xét con người ở một phía thì rút ngắn thời gian của mình lại bằng cách không suy nghĩ gì hoặc chỉ nghĩ đến rất ít thứ; còn ở phía bên kia thì kéo dài thời gian ra bằng cách hướng tâm trí vào nhiều chủ đề, hoặc duy trì một chuỗi ý niệm nhanh chóng và liên tục.

Theo đó, Monsieur Mallebranche trong tác phẩm Nghiên cứu Sự thật3 (được xuất bản nhiều năm trước tác phẩm Khảo luận về Hiểu năng Con người của ông Lock) đã nói với chúng ta rằng: Hoàn toàn có thể có những sinh vật cảm thấy nửa giờ đồng hồ dài như một ngàn năm theo cách cảm nhận của chúng ta; hoặc coi khoảng thời gian mà chúng ta gọi là một phút dài bằng một giờ, một tuần, một tháng, hay cả một thời đại.

Quan niệm này của Monsieur Mallebranche có thể được giải thích phần nào từ những gì tôi đã trích dẫn từ ông Lock; bởi vì nếu khái niệm về thời gian của chúng ta được sinh ra từ việc suy ngẫm về chuỗi các ý niệm trong tâm trí, và chuỗi này có thể được gia tốc hoặc kìm hãm đến vô cùng, thì suy ra các sinh vật khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về cùng một khoảng thời gian, tùy thuộc vào việc các ý niệm của họ (mà chúng ta giả định là có độ phân giải như nhau ở mỗi bên) kế tiếp nhau với tốc độ nhanh hay chậm.

Có một đoạn văn nổi tiếng trong kinh Koran trông như thể Mahomet từng sở hữu quan niệm mà chúng ta đang bàn đến.

Truyện kể rằng4 thiên thần Gabriel đã đón Mahomet khỏi giường vào một buổi sáng để cho ông mục kích tất cả mọi thứ trong Bảy Tầng Trời, tại Thiên Đàng và dưới Địa Ngục, những nơi mà vị Tiên tri đã quan sát tường tận; và sau khi trải qua chín mươi ngàn cuộc đàm đạo với Thượng đế, ông được đưa trở lại giường mình. Tất cả những điều đó, theo kinh Koran, diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn đến mức khi trở về, Mahomet vẫn thấy giường mình còn ấm, và với lấy một cái bình đất (bị đánh rơi đúng khoảnh khắc thiên thần Gabriel cất cánh mang ông đi) trước khi nước trong bình kịp đổ ra hết.

Có một câu chuyện rất hay trong Truyện Thổ Nhĩ Kỳ liên quan đến tích truyện này của vị giáo chủ lừng danh nọ, và mang nét tương đồng với chủ đề chúng ta đang bàn. Một vị Sultan xứ Ai Cập, vốn là một kẻ ngoại đạo, thường hay cười nhạo tình tiết này trong cuộc đời Mahomet như một chuyện hoàn toàn bất khả thi và ngớ ngẩn: Nhưng một hôm, khi trò chuyện với một vị học giả lớn thông thái có tài phép lạ, vị học giả bảo rằng ông ta sẽ nhanh chóng thuyết phục nhà vua về tính xác thực của sự kiện trong lịch sử Mahomet, nếu nhà vua đồng ý làm theo những gì ông ta muốn. Thế là nhà vua được hướng dẫn đến đứng bên cạnh một cái vại nước khổng lồ, và ngài đã làm theo; khi nhà vua đứng cạnh cái vại giữa vòng vây các đại thần, vị thánh nhân bảo ngài hãy nhúng đầu xuống nước rồi nhấc lên ngay: Nhà vua bèn cắm đầu xuống nước, và đồng thời thấy mình đang đứng dưới chân một ngọn núi bên bờ biển. Nhà vua lập tức nổi giận đùng đùng với vị học giả vì trò phản trắc và phù thủy này; nhưng cuối cùng, biết rằng tức giận cũng vô ích, ngài đành tự nghĩ ra những cách thích hợp để kiếm sống tại vùng đất xa lạ này: Thế là ngài đến xin việc ở một nhóm người đang đốn củi trong khu rừng gần đó; những người này dẫn ngài đến một thị trấn cách rừng không xa, nơi sau một vài cuộc phiêu lưu, ngài cưới được một người vợ vô cùng xinh đẹp và giàu có. Ngài sống với người phụ nữ này lâu đến mức sinh được bảy người con trai và bảy người con gái với nàng. Sau đó, ngài rơi vào cảnh túng quẫn cùng cực, buộc phải ra đường làm phu khuân vác để kiếm sống. Một hôm, khi đang thui thủi đi dạo dọc bờ biển, bị giày vò bởi bao nỗi niềm u sầu về hoàn cảnh quá khứ lẫn hiện tại, điều đã khơi gợi ngài lòng sùng kính, ngài cởi bỏ quần áo với ý định tắm rửa trước khi cầu nguyện theo tục lệ của người Hồi giáo.

Ngay sau cú ngụp đầu tiên xuống biển, ngài vừa nhấc đầu lên khỏi mặt nước thì thấy mình đang đứng bên cạnh cái vại nước, xung quanh là các đại thần trong triều và vị thánh nhân đứng bên cạnh. Ngài lập tức trách mắng người thầy vì đã đày ải mình vào chuỗi phiêu lưu đó và lừa gạt ngài vào một trạng thái khốn khổ và nô lệ kéo dài đằng đẵng như vậy; nhưng ngài vô cùng kinh ngạc khi nghe nói rằng trạng thái mà ngài vừa kể chỉ là một giấc mơ và ảo tưởng; rằng ngài chưa hề rời khỏi nơi đang đứng; và rằng ngài chỉ nhúng đầu xuống nước rồi nhấc lên ngay lập tức.

Vị học giả Hồi giáo nhân cơ hội này để giáo huấn vị Sultan rằng không có gì là bất khả thi đối với Thượng đế; và rằng Ngài, Đấng mà một ngàn năm cũng chỉ như một ngày, có thể nếu muốn, khiến cho một ngày duy nhất, thậm chí một khoảnh khắc duy nhất, xuất hiện trước bất kỳ sinh vật nào của Ngài như một ngàn năm.

Tôi xin nhường lại việc so sánh những câu chuyện ngụ ngôn phương Đông này với quan niệm của hai vị triết gia lớn mà tôi đã trích dẫn trong bài viết này cho độc giả; và chỉ xin, như một phần ứng dụng, thỉnh cầu ngài suy ngẫm về cách chúng ta có thể kéo dài cuộc sống vượt qua những chiều kích tự nhiên của nó thông qua việc kiên trì ứng dụng bản thân vào việc mưu cầu tri thức.

Những giờ phút của một người khôn ngoan được kéo dài ra nhờ các ý niệm của ông ta, cũng như của kẻ ngốc được kéo dài ra nhờ những đam mê: Thời gian của người này dài dằng dặc vì hắn không biết làm gì với nó; thời gian của người kia cũng thế, bởi vì hắn điểm tô cho từng khoảnh khắc bằng những suy nghĩ hữu ích hoặc giải trí; hay nói cách khác, bởi vì người này luôn ước gì thời gian trôi mau trong khi người kia luôn tận hưởng nó.

Cảnh tượng về quá khứ trong tâm trí một người đã già đi trong tri thức và sự khôn ngoan khác biệt nhường nào so với kẻ già cỗi trong sự ngu dốt và ngớ ngẩn? Kẻ thứ hai giống như chủ nhân của một vùng đất cằn cỗi đập vào mắt hắn với những ngọn đồi trọc và đồng bằng trống hoác, chẳng sinh sôi ra thứ gì có lợi hay trang trí; kẻ thứ nhất lại chiêm ngưỡng một khung cảnh tươi đẹp và rộng lớn được chia thành những khu vườn tuyệt diệu, những thảm cỏ xanh mờ, những cánh đồng trĩu quả, và hầu như không thể đưa mắt nhìn vào một chấm nhỏ nào trên gia sản của mình mà không được phủ lên bởi một loài hoa cỏ xinh đẹp nào đó.

L.

Chú thích 1: Not of himself, but in The Usefulness of Natural Philosophy (Works, ed. 1772, vol. ii. p. 11), Boyle quotes from the old Alchemist, Basil Valentine, who said in his Currus Triumphalis Antimonii 'That the shortness of life makes it impossible for one man thoroughly to learn Antimony, in which every day something of new is discovered.' return to footnote mark

Chú thích 2: Essay on the Human Understanding, Bk II. ch. 14. return

Chú thích 3: Two English Translations of Malebranche's Search after Truth were published in 1694, one by T. Taylor of Magdalen College, Oxford. Malebranche sets out with the argument that man has no innate perception of Duration. return

Chú thích 4: The Night Journey of Mahomet gives its Title to the 17th Sura of the Koran, which assumes the believer's knowledge of the Visions of Gabriel seen at the outset of the prophet's career, when he was carried by night from Mecca to Jerusalem and thence through the seven heavens to the throne of God on the back of Borak, accompanied by Gabriel according to some traditions, and according to some in a vision. Details of the origin of this story will be found in Muir, ii. 219, Nöld, p. 102. Addison took it from the Turkish Tales. return

Mục lục

Số 95 Thứ Ba, ngày 19 tháng 6 năm 1711 Steele

Curæ Leves loquuntur, Ingentes Stupent.1

Sau khi đọc hai bức thư sau đây với nhiều niềm thích thú, tôi không thể không nghĩ rằng ý thức lành mạnh trong đó sẽ làm thị trấn hài lòng chẳng kém gì bất cứ điều gì tôi có thể nói về các chủ đề chúng đề cập hay bất kỳ chủ đề nào khác. Cả hai bức thư đều ẩn dụ ám chỉ những bài viết trước đây của tôi, và tôi không hoài nghi rằng bức thư đầu tiên, bàn về nỗi đau buồn nội tâm, sẽ được xem là tác phẩm của một người am hiểu sâu sắc về những khoản lợi tức hào phóng của sự đau khổ trong một tâm hồn nam tính vốn đứng cao hơn sự cứu rỗi của những giọt nước mắt. Một bài luận của chính tôi về chủ đề đó xin được hoãn lại cho đến một dịp khác.

Bức thư thứ hai đến từ một phụ nữ có tâm hồn vĩ đại chẳng kém gì trí tuệ của nàng. Có lẽ có điều gì đó ở phần đầu bức thư mà vì sự khiêm tốn tôi nên giấu đi; nhưng tôi dành quá nhiều sự kính trọng cho người gửi thư này đến mức tôi sẽ không thay đổi dù chỉ một chữ trong những gì nàng viết, dẫu tôi phải e dè đánh đổi bằng sự nực cười.

Thưa Ngài Spectator,

"Tôi rất hài lòng với bài luận của ngài về Nỗi đau buồn chung, và sẽ biết ơn nếu ngài đào sâu hơn vào vấn đề này, đồng thời ban cho chúng tôi những suy nghĩ của ngài về ý thức chung mà những người bình thường dành cho các biểu hiện của sự đau buồn, những kẻ áp đặt các quy tắc và thời trang cho nỗi đau khổ thiêng liêng nhất; chẳng hạn như sự mất mát những người thân cận nhất và những người bạn thiết tha nhất. Ngài không thể đến thăm một người bạn đang bệnh mà không có tên bồi bàn vô duyên nào đó xung quanh quan sát cơ mặt ngài, sát sao hệt như thể chúng là những tiên lượng về cái chết hay sự hồi phục của bệnh nhân. Nếu chẳng may người ấy bị tước đoạt khỏi ngài, ngài ngay lập tức bị vây quanh bởi hàng tá những kẻ quan sát như thế, những kẻ trông đợi một cái nhún vai đầy u sầu, một cái lắc đầu não nề, và sự biến dạng biểu cảm trên khuôn mặt để đong đếm tình cảm và giá trị của ngài dành cho người đã khuất; nhưng không có gì trong những hoàn cảnh này lại chiếm được cảm tình của họ bằng việc khóc lóc thảm thiết. Vì mọi cảm xúc của họ đều hời hợt, họ tưởng tượng rằng cái ổ của tình yêu và tình bạn nằm một cách hữu hình trong đôi mắt; họ phán đoán kho tàng tử tế mà ngài dành cho người sống dựa vào lượng nước mắt ngài trút ra cho người chết; thế là nếu ai đó thiếu hụt lượng nước muối mà người khác thừa mứa, kẻ đó có nguy cơ cao bị xem là vô cảm hoặc bất nhân: Họ là những kẻ xa lạ với tình bạn, kẻ mà nỗi đau buồn lại chưa đủ độ ẩm để làm ướt ngần ấy chiếc khăn tay. Nhưng kinh nghiệm đã bảo chúng ta rằng chẳng có gì đánh lừa người ta cho bằng dấu hiệu bề ngoài này của nỗi đau buồn; và lịch sử tự nhiên về cơ thể chúng ta sẽ dạy chúng ta rằng dòng suối ở mắt này, khả năng rơi lệ này, chỉ là đặc trưng của một số thể tạng nhất định. Chúng ta quan sát thấy ở cơ thể mỏng manh của trẻ em, khi bị trái ý và kỳ vọng nhỏ nhoi, chúng dễ tan thành nước mắt đến nhường nào. Nếu nỗi đau buồn ở người lớn cũng thế, tự nhiên sẽ chẳng tài nào chống đỡ nổi sự quá trớn của nó dẫu chỉ trong một khoảnh khắc. Thêm vào quan sát ấy, sự chuyển đổi từ cảm xúc này sang niềm vui của chúng nhanh chóng đến thế nào. Tôi không nói rằng chúng ta thường thấy, ở những sinh vật mỏng manh chỉ kém trẻ em một bậc, những giọt nước mắt rơi mà chẳng có mấy nỗi buồn đau. Do đó, việc rơi nước mắt mà không có nhiều nỗi buồn là chuyện bình thường, và việc chịu đựng nhiều nỗi buồn mà chẳng rơi giọt nước mắt nào cũng phổ biến chẳng kém. Nỗi đau buồn và việc khóc lóc quả thực là những người bạn đồng hành thường xuyên, nhưng tôi tin là không bao giờ đi cùng nhau ở những cực điểm cao nhất của chúng. Giống như tiếng cười không bắt nguồn từ niềm vui sâu sắc, việc khóc lóc cũng chẳng bắt nguồn từ nỗi buồn sâu sắc. Nỗi buồn hiện lên quá dễ dàng qua đôi mắt không thể đã cắm rễ sâu vào trái tim. Trái tim căng phồng vì đau buồn sẽ chặn đứng mọi lối đi của nước mắt hay tiếng than van.

Giờ đây, thưa ngài, điều tôi muốn ngài hướng tới trong toàn bộ chuyện này là hãy thông báo cho đám phê bình nông cạn và những kẻ soi mói nỗi đau buồn rằng, nỗi đau đích thực luôn nỗ lực để trở nên vô hình, rằng nó là kẻ xa lạ với nghi thức, và rằng tự thân nó mang một phẩm chất cao cả hơn rất nhiều so với những tình tiết vụn vặt bị làm điệu dưới danh nghĩa phép lịch sự. Ngài phải biết rằng, thưa ngài, tôi vừa mất đi một người bạn thân thiết, người mà tôi vẫn chưa rơi một giọt nước mắt nào, và vì lý do đó, những lời bình phẩm của ngài về chủ đề ấy sẽ càng được trân trọng hơn đối với,"

Thưa ngài,

Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài,

B.D.

Ngày 15 tháng 6.

Thưa Ngài Spectator,

"Cũng như tôi hy vọng có rất ít người thiếu lòng biết ơn đến mức không thừa nhận sự hữu ích từ ngòi bút của ngài và xem đó là một phúc lợi công cộng; tôi cũng ý thức được rằng, dù thế nào đi nữa, ngài hẳn vẫn tìm thấy niềm vui bí mật và vô song của việc làm điều thiện, đồng thời là người chia sẻ lớn trong sự giải trí mà ngài mang lại. Tôi thừa nhận phái chúng tôi rất mang ơn, và tôi hy vọng đã được trau dồi nhờ những nỗ lực của ngài, thậm chí cả những dụng ý của ngài đặc biệt dành cho dịch vụ của chúng tôi. Nếu quả thực, như người ta đôi khi nói, phái chúng tôi có ảnh hưởng đến phái bên kia, bài viết của ngài có thể trở thành một phúc lợi còn lớn lao hơn nữa. Việc ngài hướng dẫn chúng tôi đọc sách chắc chắn là phương tiện tốt nhất để chỉ giáo chúng tôi; nhưng tôi nghĩ, cũng như ngài, sự cẩn trọng trong vấn đề đó là vô cùng hữu ích, bởi vì việc nâng cao sự hiểu biết của chúng tôi có thể mang lại lợi ích hoặc không, tùy thuộc vào cách nó được quản lý. Người ta từng nghĩ rằng chúng tôi nhìn chung không phải dốt nát mà là được dạy dỗ tồi, hoặc phái chúng tôi không thường thiếu trí tuệ, phán đoán hay kiến thức, mà thiếu sự ứng dụng đúng đắn của chúng: Ngài vô cùng lịch sự khi nói rằng các nữ độc giả của ngài đã là những học giả uyên thâm hơn cả đám công tử bột, và rằng ngài có thể nêu tên một vài người trong số họ trò chuyện trôi chảy hơn vài quý ông đang làm mưa làm gió tại quán Will's; điều này có lẽ đúng và chẳng phải là lời khen ngợi to tát gì cho cam, theo quan điểm của tôi, ngay cả khi so sánh của ngài vươn tới cả quán Tom's và Grecian: Chắc chắn ngài quá khôn ngoan để nghĩ rằng đó là một lời khen ngợi thực sự dành cho một người phụ nữ. Chẳng phải sẽ đáng mong ước hơn nếu chúng ta tự hoàn thiện trong lĩnh vực của chính mình, và chứng tỏ bản thân là những người con gái, người vợ, người mẹ và người bạn tốt hơn hay sao?

Tôi không thể không đồng tình với nhà buôn sáng suốt ở phố Cheapside (dù tôi hoàn toàn không có thành kiến thiên vị ông ta) trong việc khuyến nghị nghiên cứu số học; và buộc phải bất đồng ngay cả với uy quyền mà ngài nhắc đến, khi nó khuyên biến phái chúng tôi thành các học giả. Quả thực, có thêm chút triết học nhằm khuất phục các đam mê dưới lý trí đôi khi sẽ hữu ích, và một chuyên luận mang tính chất đó sẽ được tôi chấp thuận, thậm chí để đổi lấy Theodosius, hoặc Sức mạnh của Tình yêu; nhưng vì tôi thừa biết ngài không thiếu những gợi ý, tôi sẽ không đi xa hơn việc khuyến nghị tác phẩm Giáo dục Con gái của Giám mục xứ Cambray, như nó đã được dịch sang ngôn ngữ duy nhất mà tôi có chút ít hiểu biết2, dẫu có lẽ phải chịu nhiều thiệt thòi. Tôi từng nghe người ta phản đối tác phẩm ấy rằng các hướng dẫn của nó không mang tính sử dụng phổ quát, mà chỉ phù hợp cho một vị đại phu nhân; nhưng thú thật tôi không cùng quan điểm đó; bởi vì tôi không nhớ có quy tắc nào được đặt ra cho các khoản chi tiêu của phụ nữ, điểm khác biệt duy nhất mà tôi nghĩ một nữ sĩ nên có so với một quý bà thuộc gia thế giàu có nhất hoặc dòng dõi cao quý nhất, chứ không phải ở các nguyên tắc công lý, lòng biết ơn, sự chân thành, sự thận trọng hay đức khiêm nhường. Lẽ ra tôi nên cáo lỗi vì bức thư dài dòng này; nhưng vì tôi tin ngài là một người bạn của sự chân thành hơn là nghi thức, tôi chỉ xin đảm bảo rằng tôi là,"

Thưa ngài,

Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài,

Annabella.

T.

Chú thích 1: Seneca. Citation omitted also in the early reprints. return to footnote mark

Chú thích 2: Fenelon was then living. He died in 1715, aged 63. return

Mục lục

Số 96 Thứ Tư, ngày 20 tháng 6 năm 1711 Steele

... Amicum

Mancipium domino, et frugi ...

Hor.

Thưa Ngài Spectator,

Tôi đã đọc đi đọc lại bài luận của ngài về tầng lớp gia nhân, và với tư cách là một người hầu, tôi cảm thấy rất phiền lòng khi trong vô vàn những khía cạnh mà ngài dùng để xem xét đám đầy tớ tồi, ngài lại chẳng chừa chỗ nào để nhắc đến những kẻ tốt. Tuy nhiên, có một quan sát của ngài mà tôi đồng tình, đó là: Có những người thông minh và có hiểu biết trong mọi tầng lớp xã hội; và chính gia nhân là những kẻ loan truyền phần lớn những điều tốt hoặc xấu được nói về các ông chủ của họ. Rằng có những người có hiểu biết đang phải sống đời kiếp ở đợ, tôi xin phép được khoe rằng mình đã nếm trải qua kinh nghiệm đau thương. Ngài đã quy kết một cách hoàn toàn chính xác nguồn gốc của sự bất chính chung trong chúng ta là do thói quen trả tiền ăn thay vì cấp cơm (Board-Wages), và lối sống xa rời nếp nhà truyền thống; nhưng tôi không thể bày tỏ suy nghĩ của mình về chủ đề này cách nào tốt hơn ngoài việc kể lại một câu chuyện ngắn về cuộc đời chính tôi cho đến năm nay, tuổi bốn mươi lăm; nghĩa là từ khi tôi bắt đầu làm chú tiểu đồng mới mọc lúc mười bốn tuổi, cho đến cương vị hiện tại là người gác cổng cho một vị quý tộc ở độ tuổi đã nêu trên. Xin thưa rằng, cha tôi là một tá điền nghèo của gia đình ngài Sir Stephen Rackrent: Ngài Sir Stephen cho tôi đi học, hay đúng hơn là bắt tôi theo hầu con trai ngài là Harry đến trường từ năm lên chín; và ở đó, dẫu Sir Stephen có trả chút tiền học phí cho tôi, tôi vẫn bị đối xử như một tên đầy tớ, và buộc phải nhặt nhạnh từng mẩu kiến thức ít ỏi bằng chính sự siêng năng của mình, bởi vì ông thầy giáo chẳng thèm để ý gì đến tôi. Cậu chủ trẻ của tôi là một đứa trẻ vô cùng lanh lợi; và việc tôi luôn túc trực bên cạnh cậu, cùng tình cảm tôi dành cho cậu, đã mang lại cho tôi không ít lợi thế. Cậu chủ vô cùng yêu quý tôi, và từng bị roi đòn nhiều lần vì tội không chịu giữ khoảng cách với tôi. Cậu luôn miệng nói rằng khi nào thừa kế gia cơ, cậu sẽ cho tôi thuê lại mảnh đất của cha tôi không mất đồng tiền thuê nào. Tôi theo cậu lên thành phố học trường Westminster; vào thời điểm đó, cậu dạy lại cho tôi vào ban đêm tất cả những gì cậu học được ở trường, và bắt tôi dò từ điển giúp khi cậu làm bài tập. Định mệnh trớ trêu thay, cậu chủ Harry lâm bệnh nặng vì một cơn sốt, và qua đời chỉ trong vòng mười ngày kể từ khi ngã bệnh. Đó là nỗi đau lớn đầu tiên trong đời tôi; và tôi xin đảm bảo với ngài, thưa Ngài Spectator, tôi vẫn nhớ như in những cử chỉ đáng yêu của vị thiếu gia ngọt ngào ấy trong cơn sốt, tươi mới hệt như thể mọi chuyện chỉ vừa mới ngày hôm qua. Nếu cậu muốn thứ gì, nhất định thứ đó phải do Tom đưa cho: Khi tôi vô tình làm rơi thứ gì vì quá đau buồn, cậu sẽ thốt lên: Đừng đánh đứa bé tội nghiệp ấy; hãy cho tôi thêm ít thuốc nước đi, không ai khác được phép đưa cho tôi ngoài cậu ấy cả. Cậu tìm cách che giấu sự bệnh tật trầm trọng của mình khi thấy tôi không thể chịu đựng được cảnh cậu đang gặp nguy hiểm, và an ủi tôi rằng: Tom, Tom, hãy vững lòng lên. Khi tôi đang cầm chiếc cốc kề vào môi cậu, cậu lên cơn co giật; và ngay khoảnh khắc ấy, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng thở hắt cuối cùng của người chủ yêu quý. Tôi nhanh chóng bị tống cổ ra khỏi phòng, và bị bỏ mặc muốn khóc lóc hay đập đầu vào tường ra sao tùy ý. Nỗi đau đớn trong tôi là không thể diễn tả bằng lời; và ai nấy đều nghĩ rằng nó sẽ cướp đi sinh mạng của tôi. Chỉ vài ngày sau, phu nhân lớn tuổi của tôi, một trong những mụ nội trợ keo kiệt nhất thế gian, nghĩ đến chuyện tống cổ tôi ra đường, bởi vì tôi làm bà nhớ đến đứa con trai quá cố. Sir Stephen đề nghị đưa tôi đi học nghề; nhưng phu nhân nhà tôi vốn là một người quản lý xuất sắc, nhất quyết không để chồng lãng phí tiền bạc vào các hành động bác ái. Tôi đủ khôn lớn để cảm thấy vô cùng phẫn uất khi thấy bà thản nhiên vứt bỏ một người mà con trai bà từng vô cùng yêu thương; thế nên tôi bước ra khỏi nhà để lang thang bất cứ nơi đâu đôi chân đưa lối. Ba ngày sau khi rời khỏi gia đình Sir Stephen, tôi lang thang dọc theo các lối đi trong khu Temple. Một quý cô trẻ tuổi trong tòa nhà (như tôi nghe bà ta nói sau đó), khi thấy tôi nửa đói nửa rét nhưng ăn mặc chỉnh tề, liền nghĩ rằng tôi là một cỗ xe ngựa sẵn sàng phục vụ tận tay, sau một vài câu hỏi qua loa kiểu "Mày có muốn tìm chủ không?", liền bảo tôi đi theo; tôi làm theo, và chỉ một thoáng sau đã tự cho mình là sinh vật hạnh phúc nhất thế gian này. Thời gian của tôi bị ngốn sạch vào việc mang thư tình cho mấy ả đàn bà lẳng lơ, hay chuyển tin nhắn cho các tiểu thư là chỗ quen biết của chủ. Chúng tôi lang thang từ quán rượu này sang quán rượu khác, tới nhà hát, vườn Mulberry1, và mọi chốn tụ tập; nơi chủ tôi đắm chìm mỗi đêm vào những cuộc tình ái mới, thứ mồi chè và gái gú đã ngốn sạch toàn bộ thời gian của ông ta mỗi khi có tiền. Giữa những trò trác táng ấy, tôi có niềm vui được nằm ngủ trên cầu thang quán rượu nửa đêm, chơi súc sắc với đám đầy tớ khác và những trò lêu lổng tương tự. Khi chủ tôi cạn túi, tôi thường được giao việc chép lại những đoạn thơ tình, những bài hát cũ và mấy bài châm biếm mới. Cuộc sống ấy kéo dài cho đến khi chủ tôi kết hôn, và bấy giờ ông ta tỏ ra khôn ngoan khi tống khứ tôi đi, vì tôi nắm giữ bí mật về những cuộc tình vụng trộm của ông ta.

Tôi hoàn toàn mất phương hướng không biết phải bước tiếp con đường nào; cuối cùng, tôi tìm đến một kẻ cùng cảnh ngộ, một trong những tình nhân của ông ta, một ả đàn bà giang hồ chốn phồn hoa. Cô ta lúc đó đang khá rủng rỉnh tiền bạc, liền sắm sửa quần áo cho tôi từ đầu đến chân, và biết tôi là một tay lanh lợi nên đã thuê mớm tôi làm việc tương ứng. Thỉnh thoảng tôi phải đi ra ngoài cùng cô ta, và khi cô ta ngắm trúng một gã trai trẻ nào vừa mắt, tôi sẽ bị bỏ rơi như một kẻ không thể tin tưởng được. Cô ta thường xuyên mặc cả mua hàng ở Chợ mới2, và khi muốn được gạ gẫm, cô ta sẽ sai tôi đi vạy vọ việc vặt. Khi một kẻ theo đuổi và cô ta bắt đầu trò chuyện, tôi sẽ lập tức xông vào và báo rằng Sir John đã về nhà; thế là cô ta sẽ gọi chiếc xe ngựa khác để tránh bị bám đuôi. Kẻ si tình ra hiệu cho tôi khi tôi leo lên bến sau xe, tôi lắc đầu ra hiệu chuyện đó là bất khả thi; tôi bỏ mặc quý cô ở ngã rẽ tiếp theo, và bám theo tên ngốc đó để tìm cách ngáng đường hắn vào dịp khác. Bên cạnh những việc tử tế kiểu này, tôi viết toàn bộ thư tình cho tình nhân của mình; vài bức theo lời một quý cô nhìn thấy một quý ông nọ ở một nơi nọ mặc chiếc áo khoác màu nọ, vài bức thể hiện sự hoảng sợ của cô ta trước người chồng già ghen tuông, những bức khác giải thích rằng sự nghiêm khắc của cha mẹ cô ta lớn đến mức (dù của hồi môn đã được định đoạt) cô ta sẵn sàng trốn theo một người nào đó, dẫu biết hắn chỉ là một đứa con trai thứ. Tóm lại, nửa cái học thức và tình yêu sách vở nhảm nhí đã giúp tôi viết thư tình vượt trội hơn tất cả những kẻ tán tỉnh cô ta qua đường thư tín; và vì cô ta cực kỳ ranh mãnh, cô ta đã xoay sở rất tốt giữa đám đông nhờ sự giả vờ khéo léo về đức khiêm nhường cao độ. Giữa lúc ấy, tôi bất ngờ nhận được một bức thư từ cô ta kèm theo tờ giấy bạc mười bảng.

Tom chân chất,

Cậu sẽ không bao giờ gặp lại tôi nữa. Tôi đã kết hôn với một quý ông nhà quê rất ranh mãnh, kẻ có lẽ sẽ đoán ra điều gì đó nếu tôi tiếp tục giữ cậu lại; thế nên tạm biệt nhé.

Khi công việc này cũng tan thành mây khói vì hôn nhân, tôi quyết định sang làm việc cho một tầng lớp hoàn toàn khác trong tương lai; và xin được làm quản gia (Butler) cho một trong những gia đình có xe ngựa riêng, ba bốn người hầu, một ngôi nhà ngăn nắp và vẻ ngoài bề thế vững vàng trên một cơ ngơi nhỏ. Tại đây tôi sống vô cùng thoải mái trong một thời gian, cho đến khi tôi bất ngờ bắt gặp ông chủ của mình, một kẻ nghiêm nghị nhất đời, đang ở trên gác mái với cô hầu phòng. Tôi rành đời quá rõ để không nghĩ đến chuyện ở lại đó; và ngày hôm sau, tôi giả vờ nhận được bức thư từ quê nhà báo tin cha sắp chết, rồi xin thôi việc kèm theo một khoản tiền thưởng vì sự khôn ngoan của mình.

Người tiếp theo tôi phục vụ là một gã độc thân cáu kỉnh, kẻ mà tôi ở lại cùng trong suốt một năm rưỡi. Phần lớn thời gian trôi qua rất nhẹ nhàng; bởi vì khi đã bắt đầu hiểu hắn, tôi chẳng bận tâm đến những gì hắn nói cũng chẳng kém gì việc hắn thực sự có ý đó; thế nên có một hôm trong tâm trạng vui vẻ, hắn bảo rằng tôi là người hầu tuyệt vời nhất mà hắn từng có, nhờ vào việc tôi chẳng thèm tôn trọng hắn chút nào.

Thưa ngài, đó là những sự cố chính trong cuộc đời tôi; và tôi sẽ không sa đà kể lể về vô số những nơi chốn khác mà tôi từng đi qua, nơi tôi từng là gã kỳ lạ nhất thế gian, nơi chẳng một bóng người nào trên đời có được những tên đầy tớ như thế, nơi chắc chắn họ là những kẻ xui xẻo nhất trần gian về khoản gia nhân; cứ thế v.v.. Tất cả những gì tôi muốn qua bản tường trình này là cho ngài thấy rằng chúng tôi, những người hầu tội nghiệp, không phải (như ngài gọi chúng tôi một cách quá vơ đũa cả nắm) toàn là lũ vô lại; mà chúng tôi ra sao là tùy thuộc vào tấm gương của những kẻ bề trên. Trong gia đình tôi đang phục vụ hiện tại, tôi không phạm phải tội lỗi nào ngoài tội nói dối; điều mà tôi làm với một khuôn mặt tỉnh queo trong bộ áo choàng và chiếc gậy mỗi ngày tôi sống, và gần như suốt cả ngày dài, khi từ chối tiếp những kẻ cầu hôn phiền phức cho ngài ta và những vị khách không mời mà đến cho phu nhân. Nhưng, thưa ngài, tôi muốn ngài biết rằng khi ra ngoài xã hội, tôi là một thủ lĩnh của đám gia nhân: Tôi chính là kẻ giữ nhịp bằng cách gõ cây gậy ba toong vào tấm ván trên ban công ở nhà hát opera; tôi chính là kẻ xúc động vô cùng đúng lúc tại một vở bi kịch, khi giới quý tộc đang trừng trừng nhìn nhau trong những tình tiết quan trọng nhất: Khi ngài nghe thấy tiếng hô vang đúng chỗ giữa đám đông, một tiếng "hừm" tán đồng khi chạm đến cao trào của một bài diễn thuyết, hay một tiếng reo hò cất lên đại diện cho tiếng nói của nhân dân; ngài có thể đinh ninh rằng nó được khởi xướng hoặc hưởng ứng bởi,

T. Thưa ngài,

Người đầy tớ khiêm nhường hơn cả của ngài,

Thomas Trusty

Chú thích 1: A place of open-air entertainment near Buckingham House. Sir Charles Sedley named one of his plays after it. return to footnote mark

Chú thích 2: In the Strand, between Durham Yard and York Buildings; in the Spectator's time the fashionable mart for milliners. It was taken down in 1737. return

Mục lục

Số 97 Thứ Năm, ngày 21 tháng 6 năm 1711 Steele

Projecere animas.

Virg.

Trong số những giấy tờ rời rạc mà tôi đã nhiều lần nhắc đến trước đây, tôi tìm thấy một cuộc trò chuyện giữa Pharamond và Eucrate về chủ đề các cuộc đấu kiếm tay đôi, cùng bản sao của một sắc lệnh được ban hành sau cuộc thảo luận đó.

Eucrate lập luận rằng không có hình phạt nào ngoài những biện pháp nghiêm khắc và báo thù nhất, chẳng hạn như bêu thây những kẻ phạm tội trong xiềng xích và hành quyết chúng bằng những cực hình tinh vi nhất, mới đủ sức nhổ tận gốc một tội ác đã ngự trị quá lâu và bám rễ sâu xa trong quan niệm của thế giới như một điều vĩ đại và đáng ngợi ca; nhưng nhà vua đáp rằng: Quả thực những hình phạt thị chúng là cần thiết để chữa trị căn bệnh này; nhưng xét thấy nó chỉ hoành hành trong giới những kẻ quá nhạy cảm về ý thức danh dự, và thường xảy ra chuyện một cuộc đấu kiếm được tiến hành chỉ để giữ thể diện trước thiên hạ, khi mà trong thâm tâm cả hai bên vẫn hòa thuận và giảng hòa với nhau; rõ ràng việc xoay chuyển trào lưu theo một hướng khác sẽ chặn đứng hiệu quả cái thứ vốn chỉ tồn tại như một trào lưu. Rằng đối với những con người ấy, sự nghèo đói và ô nhục đã là những cực hình đủ nặng; rằng ngài sẽ không đi quá xa trong việc trừng phạt ở người khác những tội ác mà ngài thừa nhận bản thân mình là kẻ có tội nhiều nhất, bởi vì lẽ ra ngài đã có thể ngăn chặn chúng bằng cách bày tỏ sự bất bình sớm hơn. Bên cạnh đó, nhà vua nói rằng ngài vốn ác cảm với các cực hình, thứ biến chính bản chất con người, chứ không phải tên tội phạm, thành kẻ bị nhục nhã; và rằng ngài chắc chắn sẽ không dùng biện pháp này khi tội ác chỉ là một hệ quả tồi tệ xuất phát từ một nguyên nhân đáng ngợi ca, đó là nỗi sợ bị hổ thẹn. Cùng lúc đó, nhà vua đã có những lời lẽ vô cùng duyên dáng khi bàn về lòng thương xót; và hối hận vì nhiều hành vi khoan dung từng mang vẻ ngoài hào nhoáng khi thực hiện nhưng lại để lại hậu quả khủng khiếp qua bài học nhãn tiền. Lòng thương xót dành cho cá nhân, ngài nhận xét, chính là sự tàn nhẫn đối với đại cục: Rằng dẫu một vị quân vương không thể làm cho người chết sống lại bằng cách lấy mạng kẻ đã giết người đó, ngài cũng chẳng thể bồi thường cho nạn nhân tiếp theo sẽ ngã xuống vì tấm gương xấu đó; hay tự trả lời cho bản thân về sự thiên vị khi không khoan dung cho kẻ phạm tội tiếp theo cũng như kẻ đi trước.

"Về phần trẫm," Pharamond nói, "trẫm đã chinh phục nước Pháp, và vẫn ban hành luật lệ cho thần dân của mình: Luật pháp là phương pháp sống của trẫm; chúng không phải là sự suy giảm mà là sự định hướng cho quyền lực của trẫm. Trẫm vẫn có quyền tuyệt đối để phân biệt người vô tội và kẻ đức hạnh, để ban ân sủng cho những kẻ dũng cảm và hào hiệp: Trẫm có quyền tuyệt đối trong lòng tốt của mình: Không ai có thể chống lại lòng rộng lượng của trẫm, hay áp đặt quy tắc cho sự ân chuẩn của trẫm. Chừng nào trẫm còn có thể, theo ý muốn của mình, thưởng cho người tốt, trẫm chẳng phải bận lòng vì không thể tha thứ cho kẻ ác: Chính vì lý do đó," Pharamond tiếp lời, "trẫm sẽ chặn đứng hiệu quả tội ác này, bằng cách không còn phơi bày sự mềm mỏng trong bản tính của trẫm trước sự nài nỉ đòi phải dành sự tôn trọng như nhau cho những kẻ khốn khổ vì lỗi lầm của chính họ và những kẻ khốn khổ vì bất hạnh. Những kẻ nịnh hót," nhà vua mỉm cười kết luận, "thường nhắc đi nhắc lại với chúng ta, những bậc quân vương, rằng chúng ta là đại diện của Thiên đàng; hãy thực sự là thế, và hãy để điều duy nhất nằm ngoài tầm với của chúng ta là làm điều ác."

Chẳng bao lâu sau buổi tối khi Pharamond và Eucrate có cuộc trò chuyện này, sắc lệnh sau đây đã được công bố.

"Sắc lệnh của Pharamond chống lại các cuộc đấu kiếm.

Pharamond, Vua xứ Gaul, gửi lời chào thân ái đến toàn thể thần dân yêu dấu.

Xét vì đã lọt vào thông báo và quan sát hoàng gia của chúng ta rằng, bất chấp mọi luật lệ của thần linh và nhân loại, dạo gần đây đã trở thành một thói quen trong giới quý tộc và điền chủ thuộc vương quốc của chúng ta, khi đối mặt với những khiêu khích nhỏ nhặt lẫn lớn lao khẩn cấp, dám thách thức nhau ra chiến trường để tự tay và bằng thẩm quyền của chính họ giải quyết các tranh chấp thông qua chiến đấu; Chúng ta thấy cần thiết phải đưa thói quen nói trên vào sự cân nhắc của hoàng gia, và nhận thấy sau khi điều tra về những nguyên nhân thông thường dẫn đến các quyết định chết chóc ấy rằng: Bởi vì thói quen tội lỗi này, bất chấp mọi lời răn dạy của tôn giáo thánh thiêng và các quy tắc của lý trí đúng đắn, hành động vĩ đại nhất của tâm trí con người, đó là sự tha thứ cho những lăng mạ, đã trở nên đê tiện và đáng hổ thẹn; rằng các quy tắc của xã hội tốt đẹp và giao tiếp đức hạnh bị đảo lộn; rằng lũ lươn lẹo, phù phiếm và xấc láo đang lấn lướt những kẻ cẩn trọng, khôn ngoan và khiêm nhường; rằng mọi đức hạnh bị kìm nén, và mọi thói hư tật xấu được hậu thuẫn, chỉ trong duy nhất hành vi dám đối mặt với cái chết. Hơn thế nữa, với nỗi đau buồn lớn lao trong tâm hồn, Chúng ta cũng quan sát thấy rằng hành động khủng khiếp này, do sự dung túng lâu ngày (khi sự chú ý của hoàng gia bận rộn với những vấn đề mang tính tổng quát hơn), nay đã trở thành một điều vinh quang, và việc từ chối tham gia vào đó lại là một sự nhơ nhuốc. Trong những mối bận tâm và điều tra hoàng gia này, Chúng ta còn được cho biết thêm rằng những cá nhân có giá trị xuất chúng nhất và năng lực đầy hứa hẹn nhất, đi kèm với niềm đam mê mãnh liệt nhất dành cho vinh quang chân chính, lại chính là những kẻ dễ vướng vào các hiểm họa phát sinh từ sự lỏng lẻo này. Giờ đây, cân nhắc một cách nghiêm túc những tiền đề trên, và đong đếm kỹ lưỡng rằng mọi tình huống khẩn cấp như thế (khi tâm trí không thể tự làm chủ bản thân, và khi sự lăng mạ quá bất ngờ hoặc quá tinh vi để có thể chịu đựng) đã được quy định cụ thể bởi các đạo luật ban hành từ trước; và rằng các tính chất của những tổn thương nhỏ hơn, giống như thói vô ơn, quá tinh tế và mong manh để có thể nằm dưới các quy tắc chung; Chúng ta quyết định xóa sổ trào lưu hoặc sự ngông cuồng của cơn giận này ra khỏi tâm trí thần dân của chúng ta, bằng những quyết nghị hoàng gia được tuyên bố trong sắc lệnh này như sau:

Bất kỳ cá nhân nào Gửi hoặc Chấp nhận lời thách đấu, hoặc hậu duệ của cả hai bên, dù không có cái chết nào xảy ra sau đó, sẽ, kể từ sau khi công bố sắc lệnh này của chúng ta, mất đi năng lực đảm nhiệm các chức vụ trong các lãnh địa của chúng ta.

Kẻ nào chứng minh được việc gửi hoặc nhận lời thách đấu sẽ nhận được toàn bộ tài sản cá nhân của cả hai bên để sử dụng và làm sở hữu riêng; và bất động sản của họ sẽ ngay lập tức được chuyển nhượng sang cho người thừa kế trực tiếp của những kẻ phạm tội với đầy đủ quyền hạn hệt như thể những kẻ phạm tội đó đã thực sự qua đời.

Trong các trường hợp mà luật pháp (đã được Chúng ta ban hành cho thần dân) cho phép quyền kháng cáo vì máu thịt; khi tội phạm bị kết án bởi đơn kháng cáo đó, hắn sẽ không chỉ phải chịu án tử hình, mà toàn bộ tài sản của hắn, bao gồm bất động sản, hỗn hợp và cá nhân, sẽ kể từ giờ phút hắn chết được chuyển nhượng sang cho người thừa kế trực tiếp của người mà hắn đã đổ máu.

Rằng kể từ nay sẽ không nằm trong quyền hạn hoàng gia của chúng ta, hay của những người kế vị chúng ta, được ân xá cho những tội ác nói trên hoặc khôi phục cho những kẻ phạm tội1 tài sản, danh dự hoặc dòng máu của họ cho đến muôn đời.

Ban hành tại cung điện Blois của chúng ta, ngày 8 tháng 2 năm 420. Vào năm thứ hai triều đại của chúng ta.

T.

Chú thích 1: them return to footnote mark

Mục lục

Số 98 Thứ Sáu, ngày 22 tháng 6 năm 1711 Addison

Tanta est quarendi cura decoris.

Juv.

Không có thứ gì trong tự nhiên lại biến đổi khôn lường bằng kiểu tóc của phụ nữ: Trong ký ức của chính mình, tôi từng chứng kiến nó dâng trào và tụt xuống hơn ba mươi độ.

Khoảng mười năm trước, nó vút cao lên một tầm vóc vô cùng vĩ đại1, đến mức phái nữ của loài người chúng ta cao vượt hẳn hơn cả đàn ông. Phụ nữ có một vóc dáng khổng lồ đến nỗi chúng ta trông giống như những con cào cào đứng trước họ2. Hiện tại, toàn bộ phái đẹp dường như bị thu nhỏ và co rút lại thành một chủng tộc giai nhân suýt chút nữa biến thành một loài khác. Tôi nhớ có vài vị phu nhân từng cao suýt soát bảy thước Anh, nay lại thiếu đi vài inch so với năm thước: Làm thế nào họ bị cắt xén như vậy thì tôi không tài nào dò ra nổi; liệu toàn bộ phái nữ hiện tại đang phải chịu một hình phạt nào đó mà chúng ta không hay biết, hay họ đã trút bỏ những kiểu tóc cao để gây bất ngờ cho chúng ta bằng một thứ hoàn toàn mới mẻ trong lĩnh vực đó, hay một vài kẻ cao kều nhất trong phái đẹp đã quá ranh mãnh qua mặt những người khác bằng cách nghĩ ra phương pháp này để khiến bản thân trông có vẻ vừa vặn hơn, vẫn là một bí mật; dẫu tôi thấy đa số có chung quan điểm rằng hiện tại họ giống như những cái cây vừa bị xén tỉa cành, chắc chắn sẽ đâm chồi nảy lộc và vươn lên với những bộ tóc đồ sộ hơn trước. Về phần mình, vì không thích bị lấn lướt bởi những người phụ nữ cao hơn mình, tôi vô cùng ngưỡng mộ phái đẹp trong sự nhún nhường hiện tại của họ, thứ đã thu hẹp họ về lại kích thước tự nhiên, hơn là thời điểm họ kéo dài thân hình và vươn mình thành những hình tượng khổng lồ đáng sợ. Tôi không ủng hộ việc bồi đắp thêm cho những công trình tuyệt mỹ của tự nhiên, cũng chẳng muốn dựng lên bất kỳ kiến trúc kỳ quặc nào dựa trên nền tảng của bà: Do đó, tôi phải lặp lại rằng tôi vô cùng hài lòng với kiểu tóc đang thịnh hành hiện nay, và nghĩ rằng nó cho thấy sự khôn ngoan đang ngự trị mạnh mẽ trong phần giá trị của phái đẹp. Người ta có thể quan sát thấy phụ nữ qua mọi thời đại luôn tốn nhiều công sức hơn đàn ông trong việc trang hoàng phía bên ngoài chiếc đầu của họ; và quả thực tôi vô cùng thán phục việc những nữ kiến trúc sư tài ba đó, những kẻ dựng lên những công trình kỳ diệu từ ruy-băng, ren và dây kẽm, lại chưa từng được ghi danh cho những phát minh tương ứng của họ. Chắc chắn đã có rất nhiều trật tự kiến trúc trong những loại công trình này chẳng kém gì những công trình được làm bằng cẩm thạch: Đôi khi chúng vươn lên theo hình kim tự tháp, đôi khi giống như ngọn tháp canh, và đôi khi như ngọn tháp nhọn nhà thờ. Vào thời của Juvenal, công trình này vươn lên qua vài tầng lớp và lầu gác, như ông đã miêu tả một cách vô cùng hài hước.

Tot premit ordinibus, tot adhuc compagibus altum

Ædificat caput: Andromachen a fronte videbis;

Post minor est: Altam credas.

Juv.

Nhưng tôi không nhớ trong bất kỳ phần nào mình từng đọc, kiểu tóc lại vươn tới mức độ ngông cuồng lớn đến thế như trong thế kỷ thứ mười bốn; khi nó được xây dựng thành một cặp hình nón hoặc tháp nhọn đứng cao ngất ngưởng ở mỗi bên đầu, đến mức một người phụ nữ vốn chỉ là một nàng Pygmy nếu không có kiểu tóc, bỗng hóa thành một gã khổng lồ Colossus ngay khi đội nó lên.

Monsieur Paradin3 nói rằng:

"Những chiếc mũ fontange cổ lỗ sĩ này vươn cao hơn một sải tay so với đầu; chúng nhọn hoắt như tháp chuông nhà thờ, và có những dải vải đăng-ten buông lỏng dài gắn ở chóp, được viền ren cầu kỳ rủ xuống lưng hệt như những dải băng cờ."

Phụ nữ có lẽ đã có thể đẩy công trình kiến trúc Gothic này đi xa hơn nữa, nếu không có một vị tu sĩ lừng danh, tên là Thomas Conecte4, đứng lên tấn công nó bằng sự nhiệt thành và quyết tâm cao độ.

Vị thánh nhân này đi từ nơi này sang nơi khác để giảng đạo phản đối cái trướng quái dị này; và thành công rực rỡ đến mức, giống như các pháp sư từng hiến tế sách của họ vào ngọn lửa theo lời giảng của một vị tông đồ, rất nhiều phụ nữ đã vứt bỏ kiểu tóc của mình ngay giữa bài giảng và đốt lửa trại ngay trong tầm mắt của bục giảng kinh. Ông nổi tiếng đến mức, cả về sự thánh thiện trong lối sống lẫn phong cách giảng đạo, ông thường có một giáo đoàn lên tới hai mươi ngàn người; đàn ông đứng một bên bục giảng, đàn nào đứng bên kia, trông hệt như (nếu dùng hình ảnh ẩn dụ của một nhà văn tài hoa) một khu rừng tùng bách với ngọn chạm tới mây xanh. Ông đã kích động và khuấy động người dân chống lại món trang sức quái dị này đến mức nó rơi vào một dạng bức hại; và bất cứ khi nào nó xuất hiện trước công chúng, nó liền bị đám đông ném đá tới tấp vào những kẻ đeo nó.

Nhưng dẫu kỳ quan này đã biến mất khi vị giảng sư còn ở đó, nó lại bắt đầu xuất hiện trở lại vài tháng sau khi ông rời đi, hay nói theo ngôn ngữ của chính Monsieur Paradin:

"Những người phụ nữ, giống như loài ốc sên, vì sợ hãi mà rụt sừng lại, nay lại giương chúng ra ngay khi hiểm họa qua đi."

Sự ngông cuồng của kiểu tóc phụ nữ trong thời đại đó cũng được ghi nhận bởi Monsieur d'Argentré5 trong lịch sử xứ Bretagne, và bởi các nhà sử học khác cũng như nhân vật mà tôi vừa trích dẫn.

Người ta thường quan sát thấy rằng một triều đại tốt đẹp là thời điểm thích hợp duy nhất để ban hành luật pháp chống lại sự lạm quyền quá mức; tương tự như thế, một kiểu tóc thái quá có thể bị tấn công hiệu quả nhất khi trào lưu đang quay lưng lại với nó. Do đó, tôi xin giới thiệu bài viết này đến các nữ độc giả như một biện pháp phòng ngừa.

Tôi muốn thỉnh cầu phái đẹp cân nhắc xem việc họ muốn bồi đắp thêm bất cứ thứ gì có tính trang trí cho kiệt tác vốn đã là tuyệt đỉnh của tự nhiên là bất khả thi đến nhường nào. Khuôn mặt mang vẻ đẹp lộng lẫy nhất, cũng như vị trí cao nhất, trong một hình thể con người. Tự nhiên đã dốc toàn bộ nghệ thuật của mình vào việc làm đẹp khuôn mặt; bà đã điểm xuyết nó bằng sắc hồng thắm, cấy vào đó một hàng ngà đôi, biến nó thành chiếc ghế ngự trị của nụ cười và đôi má ửng hồng, thắp sáng và làm cho nó sống động bằng ánh sáng rực rỡ của đôi mắt, treo ở mỗi bên những cơ quan cảm giác kỳ diệu, ban cho nó những dáng điệu và nét duyên dáng không thể diễn tả bằng lời, đồng thời bao quanh nó bằng một mái tóc bồng bềnh buông xõa nhằm đặt mọi vẻ đẹp của nó vào ánh sáng hài hòa nhất: Tóm lại, bà dường như đã thiết kế phần đầu như một mái vòm cho công trình vĩ đại nhất của mình; và khi chúng ta chất lên đó một đống đồ trang trí thừa thãi như thế, chúng ta đang phá hủy sự đối xứng của hình thể con người, và dại dột tìm cách hướng ánh mắt ra khỏi những vẻ đẹp vĩ đại và đích thực để chạy theo những món đồ chơi trẻ con, ruy-băng và ren xương cá.

L.

Chú thích 1: The Commode, called by the French Fontange, worn on their heads by ladies at the beginning of the 18th century, was a structure of wire, which bore up the hair and the forepart of the lace cap to a great height. The Spectator tells how completely and suddenly the fashion was abandoned in his time. return to footnote mark

Chú thích 2: Numbers xiii 33. return

Chú thích 3: Guillaume Paradin, a laborious writer of the 16th century, born at Cuizeau, in the Bresse Chalonnoise, and still living in 1581, wrote a great many books. The passages quoted by the Spectator are from his Annales de Bourgoigne, published in 1566. return

Chú thích 4: Thomas Conecte, of Bretagne, was a Carmelite monk, who became famous as a preacher in 1428. After reproving the vices of the age in several parts of Europe, he came to Rome, where he reproved the vices he saw at the Pope's court, and was, therefore, burnt as a heretic in 1434. return

Chú thích 5: Bertrand d'Argentré was a French lawyer, who died, aged 71, in 1590. His Histoire de Bretagne was printed at Rennes in 1582. return

Mục lục

Số 99 Thứ Bảy, ngày 23 tháng 6 năm 1711 Addison

... Turpi secernis Honestum.

Hor.

Câu lạc bộ, nơi tôi từng nhiều lần tuyên bố mình là thành viên, tối qua đã tham gia vào một cuộc thảo luận về thứ được xem là điểm múa cốt lõi của danh dự ở nam giới và phụ nữ; và đã đưa ra rất nhiều gợi ý về chủ đề này mà tôi thấy hoàn toàn mới mẻ: Do đó, tôi sẽ hệ thống hóa các phản hồi khác nhau nảy sinh trong dịp này, và trình bày với độc giả để làm bài luận suy ngẫm cho ngày hôm nay; sau khi đã nói trước rằng nếu có bất kỳ điều gì trong bài viết này dường như mâu thuẫn với bất kỳ đoạn nào trong bài hôm Thứ Năm tuần trước, xin độc giả hãy xem bài này là tâm tư của Câu lạc bộ, còn bài kia là suy nghĩ riêng của tôi, hay đúng hơn là của Pharamond.

Điểm danh dự lớn nhất ở nam giới là lòng dũng cảm, và ở phụ nữ là sự trinh bạch. Nếu một người đàn ông đánh mất danh dự của mình trong một trận đụng độ, không phải là không thể để anh ta lấy lại nó trong trận đụng độ khác; nhưng một vết trượt trong danh dự của người phụ nữ là không thể cứu vãn. Tôi không thể đưa ra lý do nào cho việc ấn định điểm danh dự vào hai phẩm chất này, ngoại trừ việc mỗi phái đặt giá trị cao nhất vào phẩm chất khiến họ trở nên đáng yêu nhất trong mắt phái kia. Giả sử đàn ông tự chọn cho mình mà không màng đến ý kiến của phái đẹp, tôi tin rằng sự lựa chọn sẽ rơi vào trí tuệ hoặc đức hạnh; hoặc giả như phụ nữ tự quyết định điểm danh dự của chính họ, có lẽ sự thông minh hoặc tính tốt bụng sẽ chiến thắng sự trinh bạch.

Không có gì giới thiệu đàn ông đến phái yếu tốt hơn lòng dũng cảm; có thể vì họ vui mừng khi thấy một kẻ vốn là nỗi khiếp sợ của người khác lại ngã gục như một tên nô lệ dưới chân mình, hoặc vì phẩm chất này bù đắp cho khiếm khuyết chính của họ trong việc bảo vệ họ khỏi những lăng mạ và báo thù cho các cuộc tranh chấp của họ, hay vì lòng dũng cảm là dấu hiệu tự nhiên của một thể trạng mạnh mẽ và lanh lợi. Ngược lại, không có gì khiến một người phụ nữ được coi trọng hơn bởi phái đối diện ngoài sự trinh bạch; có thể vì chúng ta luôn trân trọng nhất những kẻ khó chinh phục nhất, hoặc vì không có gì ngoài sự trinh bạch, đi kèm với các phụ thuộc đồng hành như sự thật, lòng trung thành và sự chung thủy, trao cho người đàn ông quyền sở hữu đối với người mà anh ta yêu, và do đó làm cho nàng trở nên đáng quý đối với anh ta hơn bất kỳ thứ gì trên đời.

Tôi vô cùng thích thú với một đoạn văn trên tấm bia tưởng niệm được dựng tại Tu viện Westminster cho Cố Công tước và Nữ công tước xứ Newcastle:

"Tên của bà là Margaret Lucas, người em út của Lãnh chúa Lucas xứ Colchester; một dòng dõi quý phái, vì tất cả các anh em trai đều dũng cảm, và tất cả các chị em gái đều đức hạnh."

Trong các tiểu thuyết hiệp sĩ, nơi điểm danh dự được đẩy đến mức điên rồ, toàn bộ câu chuyện chỉ xoay quanh sự trinh bạch và lòng dũng cảm. Nàng tiểu thư cưỡi trên một con bạch mã, như một biểu tượng của sự ngây thơ, và để tránh điều tiếng, phải có một gã lùn làm tiểu đồng. Nàng không được phép nghĩ đến đàn ông cho đến khi một tai ương nào đó mang một Hiệp sĩ Lang thang đến giải cứu. Người hiệp sĩ đem lòng yêu, và nếu lòng biết ơn không ngăn cản nàng sát hại người giải cứu mình, hắn sẽ chết dưới chân nàng vì sự lạnh lùng của nàng. Tuy nhiên, hắn phải chờ đợi vài năm nơi hoang mạc, trước khi trái tim trinh nữ của nàng có thể nghĩ đến chuyện đầu hàng. Người hiệp sĩ rời đi, tấn công bất cứ thứ gì hắn gặp lớn hơn và mạnh mẽ hơn mình, tìm kiếm mọi cơ hội để bị đập đầu, và sau bảy năm lang thang liền trở về với người tình, người có sự trinh bạch đã bị tấn công trong thời gian đó bởi những tên người khổng lồ và bạo chúa, đồng thời trải qua vô số thử thách hệt như lòng dũng cảm của người tình nàng.

Tại Tây Ban Nha, nơi vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích của trào lưu lãng mạn này, việc một quý cô liếc nhìn người tình của mình một cách tình cờ từ cửa sổ, dù nó cao tới hai ba tầng lầu đi nữa, cũng là một ân huệ ngất ngây; cũng như việc người tình khẳng định tình cảm của mình với người tình trong một trận đấu tay đôi với một con bò mót điên là điều bình thường.

Sự vi phạm điểm danh dự lớn nhất giữa người đàn ông với nhau chính là nói dối (giving the lie). Người ta có thể bảo người khác là chơi bời, ném nhậu, lộng ngôn, và những điều đó có thể trôi qua không cần trả đũa; nhưng việc bảo anh ta nói dối, dẫu chỉ là nói đùa, là một sự lăng mạ mà không gì ngoài máu mới có thể gột rửa. Lý do có lẽ bởi vì không có thói xấu nào ngầm ám chỉ sự thiếu hụt lòng dũng cảm nhiều bằng hành vi thốt ra lời nói dối; và do đó bảo một người rằng hắn nói dối chính là chạm vào phần nhạy cảm nhất của danh dự, và gián tiếp gọi hắn là kẻ hèn nhát.

Tôi không thể bỏ qua dưới đề mục này những gì Herodotus kể cho chúng ta về người Ba Tư cổ đại, rằng từ năm năm tuổi đến hai mươi tuổi, họ chỉ dạy con trai mình ba điều: Cưỡi ngựa, bắn cung, và nói sự thật.

Việc đặt điểm danh dự vào thứ lòng dũng cảm giả tạo này đã tạo cơ hội cho cặn bã của nhân loại, những kẻ chẳng có lấy một chút đức hạnh hay lẽ phải thông thường, tự xưng là những người có danh dự.

Một vị quý tộc Anh quốc1, người mới qua đời chưa lâu, thường kể một câu chuyện vui về một quý ông người Pháp đến thăm ông ta vào sáng sớm tại Paris, và sau rất nhiều lời lẽ bày tỏ sự tôn trọng, cho ông biết rằng ông ta có khả năng ban ơn cho vị bá tước; tóm lại, điều đó có nghĩa là ông ta tin mình có thể cho vị bá tước biết tên kẻ đã xô đẩy ông ta khi bước ra từ nhà hát opera, nhưng trước khi tiếp tục, ông ta nài nỉ vị bá tước đừng từ chối vinh dự nhận ông ta làm người làm chứng thứ hai (phụ tá đấu kiếm). Vị lãnh chúa Anh quốc, để tránh bị lôi kéo vào một việc vô cùng ngớ ngẩn, liền bảo rằng ông ta đã vướng bận lời hứa cho hai trận đấu kiếm tiếp theo với một đôi bạn thân thiết. Ngay lập tức, vị quý ông kia cáo lui, với hy vọng vị bá tước không buồn lòng nếu ông ta không nhúng tay thêm vào một vụ việc mà bản thân chẳng thu lại được chút lợi lộc nào.

Việc đập tan quan niệm sai lầm về danh dự này ở một dân tộc phù phiếm và sôi nổi như người Pháp được xem xét một cách xứng đáng là một trong những phần vinh quang nhất trong triều đại của vị vua hiện tại của họ. Thật tiếc khi hình phạt dành cho những quan niệm tai hại này lại thiếu đi những tình tiết cụ thể mang tính hổ nhục và nhơ nhuốc, để những kẻ nô lệ cho chúng có thể thấy rằng thay vì nâng cao danh tiếng, chúng lại dẫn dắt họ đến sự nhục nhã và ô danh.

Cái chết chưa đủ sức răn đe những kẻ xem việc coi thường nó là vinh quang; nhưng nếu bất kỳ ai tham gia đấu kiếm phải đứng vào cùm bêu thị chúng (pillory), nó sẽ nhanh chóng làm giảm bớt số lượng những kẻ tự xưng là người có danh dự tưởng tượng này, đồng thời chấm dứt một tập tục ngớ ngẩn đến thế.

Khi danh dự là chỗ dựa cho những nguyên tắc đức hạnh, và đi song hành cùng luật pháp của Thiên đàng cũng như đất nước, nó không thể được nâng niu và khích lệ quá mức. Nhưng khi những mệnh lệnh của danh dự đi ngược lại với tôn giáo và công lý, chúng chính là sự đồi trụy lớn nhất của bản chất con người, bằng cách trao cho những tham vọng sai lầm và những ý tưởng lệch lạc về thế nào là điều tốt đẹp và đáng ngợi ca; và do đó chúng cần phải bị bài trừ bởi mọi chính quyền, đồng thời bị trục xuất như thứ độc dược và dịch bệnh của xã hội loài người.

L.

Chú thích 1: Percy said he had been told that this was William Cavendish, first Duke of Devonshire, who died in 1707. return to footnote mark

Mục lục

No. 100 Monday, June 25, 1711 Steele

Nil ego contulerim jucundo sanus amico.

Hor.

Một người có tuổi thấy thích hợp khi nhìn lại cuộc đời trước đây của mình, và chỉ gọi đó là cuộc sống khi nó trôi qua trong sự thỏa mãn và tận hưởng, loại trừ tất cả những phần không mang lại niềm vui cho anh ta, sẽ thấy mình còn rất trẻ, nếu không muốn nói là đang ở tuổi ấu thơ. Bệnh tật, tâm trạng tồi tệ và sự lười biếng sẽ cướp đi của ông ta một phần lớn khoảng thời gian mà chúng ta thường gọi là cuộc đời. Do đó, bổn phận của mỗi người muốn sống trung thực với chính mình là phải đạt được, nếu có thể, một tâm trạng dễ chịu, và đặt bản thân vào trạng thái sẵn sàng thường trực cho những niềm vui của sự tồn tại. Trái lại, bạn hiếm khi thấy một người nào không cảm thấy bất ổn tỷ lệ thuận với sự tiến bộ của họ trong các nghệ thuật sống. Sự tinh tế giả tạo là sự cải tiến phổ biến mà chúng ta bắt gặp ở những kẻ tự cho mình là thanh cao hơn người khác: Bản thân họ không hướng tới những niềm vui đích thực, mà quay sang quan sát những niềm vui sai lầm của kẻ khác. Những người như thế là những bệnh nhân tưởng tượng (valetudinarians) trong xã hội, và họ không nên bước vào đám đông chẳng khác nào một người bệnh không nên bước ra ngoài không khí trong lành: Nếu một người quá yếu ớt để chịu đựng thứ vốn là sự sảng khoái cho những người khỏe mạnh, anh ta phải tiếp tục ở trong phòng. Khi có bất kỳ ai trong công ty của ngài Sir Roger phàn nàn rằng mình không khỏe, ngài ngay lập tức gọi một ly thuốc ấm (posset-drink) cho người đó; chính vì lý do này mà những kẻ hay than vãn về thể trạng của mình ở những nơi khác lại trở nên vui vẻ nhất có thể mỗi khi có mặt ngài.

Thật là một điều kỳ lạ khi rất nhiều người, và không bị xem là ngớ ngẩn, lại đi giải trí cho những người họ đàm đạo bằng cách kể lể lịch sử về những nỗi đau và cơn nhức mỏi của họ; và tưởng tượng những lời kể lể đó là phần đóng góp của họ cho cuộc trò chuyện. Đây là sự trợ giúp tồi tệ nhất cho việc trò chuyện xét trên mọi phương diện, và một người thà đừng suy nghĩ gì cả, hoặc tự thấy mình vô cùng tầm thường, khi nhận ra câu chuyện kể lể về cơn đau đầu của mình được đáp lại bằng câu hỏi của người khác về tin tức trong chuyến thư tín mới nhất? Sự hòa nhã lẫn nhau là bộ trang phục mà chúng ta phải khoác lên mỗi khi gặp mặt, và chúng ta không nên đả động đến những gì liên quan đến bản thân, trừ khi đó là những vấn đề mà bạn bè của chúng ta nên mừng vui cho: Nhưng quả thực có vô số người chẳng thèm đặt ra cho mình bất kỳ phương pháp nào để làm vui lòng bản thân hay người khác; đó là những kẻ mà chúng ta thường gọi là những người vô tích sự (indolent persons). Sự vô tích sự, ngẫm cho cùng, là một trạng thái trung gian giữa niềm vui và nỗi đau, và vô cùng không phù hợp với bất kỳ giai đoạn nào trong đời chúng ta sau khi đã rời khỏi vòng tay của vú em. Sự ác cảm mãnh liệt với lao động như thế tạo ra sự mệt mỏi thường trực, và người ta sẽ nghĩ nó biến chính sự tồn tại thành một gánh nặng. Kẻ vô tích sự tự hạ thấp phẩm giá bản chất của mình, và biến sinh mệnh vốn có lý trí ấy thành một thứ thuần túy sinh thực thực vật: Cuộc đời hắn chỉ bao gồm sự sinh sôi và lụi tàn đơn thuần của một cái xác, thứ mà nếu xét trong mối quan hệ với phần còn lại của thế giới, hoàn toàn có thể không cần tâm trí, cũng chẳng khác nào nơi trú ngụ của một tâm hồn có lý trí.

Thuộc loại này là cuộc đời của cặp đôi phi thường Harry Tersett và phu nhân. Harry trong những ngày độc thân là một trong những sinh vật xấc láo có nhiều sự hoạt bát nhưng ít hiểu biết; bà Rebecca Quickly, người mà hắn kết hôn, hội tụ tất cả những gì ngọn lửa của tuổi trẻ và phong thái lanh lợi có thể mang lại để trở thành một người phụ nữ dễ mến. Hai con người có vẻ như xứng đôi vừa lứa ấy đã ngã vào vòng tay nhau; và khi niềm đam mê đã cạn kiệt, cùng lúc chẳng có lấy một chút lý trí hay trí tuệ nào ở cả hai để thay thế cho nó, cuộc đời họ giờ đây rơi vào trạng thái đình trệ; các bữa ăn trở nên nhạt nhẽo và thời gian thì tẻ nhạt; gia sản đặt họ đứng cao hơn những mối lo toan, và sự mất đi vị giác hạ thấp họ xuống dưới cả những trò tiêu khiển. Khi chúng ta nói về những trường hợp này như những ví dụ về sự phi tồn tại, ý chúng ta không phải là để sống thì nhất định phải luôn chìm trong những đám bạn bè tiệc tùng tưng bừng, hay đội những vòng nguyệt quế trên đầu, như những tay chơi vui vẻ thời cổ đại được miêu tả; nhưng điều được nhắm tới qua việc xem xét những mặt đối lập với niềm vui, sự vô tích sự và sự tinh tế thái quá này, là để chỉ ra rằng giữ gìn một tâm trạng biết đón nhận một niềm vui chắc chắn trong mọi thứ ta nghe và thấy là một sự khôn ngoan.

Phẩm chất có thể mang theo người này của sự hòa nhã làm gia vị cho mọi phần và mọi sự kiện chúng ta gặp phải, theo cách mà không một khoảnh khắc nào bị bỏ phí; trái lại, tất cả đều trôi qua với rất nhiều niềm mãn nguyện đến mức gánh nặng lớn nhất (khi nó là gánh nặng) chính là thời gian, lại không bao giờ bị chúng ta cảm nhận thấy.

Varilas sở hữu phẩm chất này đến mức độ hoàn hảo nhất, và truyền bá nó bất cứ nơi nào hắn xuất hiện: Kẻ buồn bã, người vui vẻ, kẻ nghiêm nghị, người ủ rũ, đều ánh lên một niềm vui mới mỗi khi hắn bước vào giữa họ. Cùng lúc đó, chẳng ai có thể lặp lại bất kỳ điều gì Varilas từng nói mà xứng đáng để nhắc lại; nhưng con người ấy có được bản tính tốt đẹp bẩm sinh đến mức hắn được mọi người chào đón, bởi vì ai nấy đều nghĩ rằng hắn chào đón chính mình. Hắn có vẻ như chẳng đóng góp gì vào sự vui nhộn của đám đông; thế nhưng khi ngẫm lại, bạn sẽ thấy tất cả những điều đó xảy ra chỉ vì sự hiện diện của hắn. Tôi nghĩ có một quý ông đã nói một câu rất hay ho rằng, nếu Varilas có sự thông minh, đó sẽ là sự thông minh tuyệt vời nhất trên đời. Chắc chắn rằng, khi một trí tưởng tượng lanh lợi đã được uốn nắn kỹ càng và phép lịch sự được cộng hưởng với một tính cách ngọt ngào, chúng sẽ hội tụ để biến điều đó thành một trong những phước lành lớn nhất cũng như niềm vui của cuộc sống.

Đàn ông sẽ bước vào các buổi tiệc với niềm vui lớn gấp mười lần thực tế, nếu họ chắc chắn không nghe thấy bất kỳ điều gì gây sốc cho mình, cũng như kỳ vọng những điều làm họ hài lòng. Khi chúng ta biết mọi người được nhắc đến đều được đại diện bởi một kẻ không có ác ý, và mọi thứ được đề cập đều được miêu tả bởi một kẻ có xu hướng đặt nó dưới ánh sáng tốt nhất, sự giải trí ấy ắt phải rất tinh tế; bởi vì người nấu ăn không nhận được gì mang đến tay mình ngoài những thứ ưu tú nhất trong loại của nó. Những bức tranh đẹp đẽ là sự giải trí của những tâm hồn trong sáng, và những sự biến dạng là của những kẻ đồi bại. Đó là một bước tiến hướng tới đời sống của các thiên thần, khi chúng ta tận hưởng cuộc trò chuyện trong đó không có gì được phơi bày ngoài sự xuất chúng của nó; và là một bước tiến hướng tới đời sống của loài quỷ dữ, khi không có gì được trưng ra ngoài sự suy đồi của nó.

T.

Mục lục

Số 101 Thứ Ba, ngày 26 tháng 6 năm 1711 Addison

Romulus, et Liber pater, et cum Castore Pollux,

Post ingentia facta, Deorum in templa recepti;

Dum terras hominumque colunt genus, aspera bella

Componunt, agros assignant, oppida condunt;

Ploravere suis non respondere favorem

Speratum meritis: ...

Hor.

Sự chỉ trích, theo một tác giả tài hoa gần đây, là cái thuế mà một con người phải trả cho công chúng vì tội nổi tiếng1. Thật là ngớ ngẩn khi một người nổi tiếng nghĩ đến chuyện trốn tránh nó, và là sự yếu đuối nếu để bản thân bị ảnh hưởng bởi nó. Tất cả những nhân vật lừng lẫy thời cổ đại, và quả thực của mọi thời đại trên thế giới, đều từng bước qua cuộc bức hại đầy lửa này. Không có sự phòng thủ nào chống lại sự lăng mạ ngoài sự vô danh; nó giống như một thứ đồng hành với sự vĩ đại, hệt như những bài thơ châm biếm và lăng mạ từng là phần thiết yếu của một lễ khải hoàn La Mã.

Nếu những người nổi tiếng dễ bị chỉ trích một mặt, họ cũng dễ bị nịnh hót mặt kia. Nếu họ nhận được những lời lăng mạ không đáng có, họ cũng đồng thời nhận được những lời ca tụng không xứng đáng. Tóm lại, kẻ ở vị trí cao không bao giờ được nhìn bằng con mắt dửng dưng, mà luôn được xem xét như một người bạn hoặc một kẻ thù. Vì lý do này, những người ở cương vị lớn hiếm khi được phác họa chân dung thực sự cho đến tận vài năm sau khi họ qua đời. Những tình bạn cá nhân và sự thù hận cá nhân của họ phải chấm dứt, và các phe phái họ từng tham gia phải đi đến hồi kết, trước khi những lỗi lầm hay đức hạnh của họ có thể được đối xử công bằng. Khi các nhà văn có ít cơ hội biết sự thật nhất lại là lúc họ có tâm trạng tốt nhất để kể ra sự thật.

Do đó, đặc quyền của hậu thế là điều chỉnh các nhân vật lừng lẫy, và thiết lập lại trật tự giữa những đối thủ từng vì sự khao khát vĩ đại mà chia rẽ cả một thời đại thành các phe phái. Giờ đây chúng ta có thể thừa nhận Caesar là một vĩ nhân mà không làm giảm đi phần của Pompey; và ca ngợi những đức hạnh của Cato mà không hạ thấp những đức hạnh của Caesar. Bất kỳ ai đã qua đời từ lâu đều được phân bổ một tỷ lệ ca ngợi thích hợp, thứ mà khi còn sống bạn bè của họ quá hào phóng còn kẻ thù của họ lại quá bủn xỉn trong việc trao tặng.

Theo các tính toán của Sir Isaac Newton, quả sao chổi xuất hiện lần cuối vào năm 1680 đã hấp thụ một lượng nhiệt lớn qua những lần tiến sát mặt trời, đến mức nó sẽ nóng hơn hai ngàn lần so với sắt nung đỏ, giả sử nó là một quả cầu bằng kim loại đó; và giả sử nó to bằng Trái Đất, ở cùng khoảng cách với Mặt Trời, nó sẽ mất tới năm mươi ngàn năm để nguội đi trước khi phục hồi lại nhiệt độ tự nhiên của mình2. Tương tự như thế, nếu một người Anh xem xét sự sục sôi lớn lao mà thế giới chính trị của chúng ta đang quăng mình vào hiện tại, và mức độ nóng bỏng mãnh liệt của nó trong mọi ngóc ngách, anh ta không thể cho rằng nó sẽ nguội bớt trong vòng ít hơn ba trăm năm. Trong một khoảng thời gian dài như thế, có khả năng những sức nóng của thời đại hiện tại sẽ lụi tàn, và các tầng lớp vĩ nhân khác nhau của chúng ta sẽ được đại diện dưới những nhân vật đích thực của họ. Khi đó, một sử gia lỗi lạc nào đó có thể xuất hiện, người sẽ không viết recentibus odiis (như cách Tacitus biểu đạt) với những cảm xúc và định kiến của một tác giả đương thời, mà sẽ phân phối một cách vô tư sự nổi tiếng giữa các vĩ nhân của thời đại hiện tại.

Tôi không thể kìm được việc tự giải trí rất thường xuyên với ý tưởng về một sử gia tưởng tượng như thế khi miêu tả triều đại của Nữ hoàng Anne Đệ nhất, và mở đầu nó bằng một lời phiến dành cho độc giả rằng ông ta đang bước vào phần rực rỡ nhất của câu chuyện lịch sử nước Anh. Những đối thủ lớn về danh tiếng khi đó sẽ được phân biệt theo giá trị tương ứng của họ và tỏa sáng trong các điểm sáng thích hợp của mình. Một con người như thế (vị sử gia nói), dẫu được miêu tả theo nhiều cách khác nhau bởi các nhà văn cùng thời với ông ta, hóa ra lại là một người có năng lực phi thường, sự chuyên cần lớn lao và tính chính trực hiếm có; và một người khác cũng thế (dẫu thuộc phe phái và lợi ích đối lập) hoàn toàn không thua kém ông ta về bất kỳ phương diện nào trong số đó. Những đối thủ khác nhau, những kẻ hiện đang nỗ lực hạ bóp nghẹt lẫn nhau, và được ca tụng hay bêu riếu bởi các phe phái khác nhau, khi đó sẽ có chung một khối lượng người ngưỡng mộ, và hiện lên đầy lừng lẫy trong quan điểm của toàn thể quốc gia Anh quốc. Người xứng đáng, kẻ hiện tại chỉ có thể tự giới thiệu bản thân trước lòng kính trọng của một nửa người đồng hương, khi đó sẽ nhận được sự chấp thuận và tán dương của cả một thời đại.

Trong số những cá nhân khác nhau nở rộ trong triều đại vinh quang này, không có gì nghi ngờ khi một sử gia tương lai như nhân vật mà tôi đang nhắc đến sẽ đề cập đến những con người thiên tài và học thức hiện đang tạo dựng vóc dáng trong quốc gia Anh quốc. Về phần mình, tôi thường tự mãn nguyện với sự nhắc đến đầy vinh dự sẽ dành cho mình khi đó; và đã phác thảo sẵn một đoạn văn trong trí tưởng tượng mà tôi tưởng tượng sẽ không quá khác biệt so với những gì sẽ được tìm thấy trong trang này hay trang khác của vị sử gia tưởng tượng đó.

"Chính dưới triều đại này," ông ta nói, "mà tờ Spectator đã xuất bản những bài luận nhật báo nhỏ hiện vẫn còn lưu truyền. Chúng ta biết rất ít về tên tuổi hay con người của tác giả này, ngoại trừ việc ông ta là một người có khuôn mặt rất ngắn, cực kỳ nghiện sự im lặng, và là một kẻ yêu mến tri thức đến mức ông ta thực hiện một chuyến hải trình đến Đại Cairo chỉ vì một lý do duy nhất là để đo kích thước của một Kim tự tháp. Người bạn thân nhất của ông ta là Sir Roger De Coverley, một hiệp sĩ nhà quê kỳ quặc, và một học giả trường luật mà tên tuổi ông ta chưa truyền lại cho chúng ta. Ông sống dưới danh nghĩa khách trọ tại nhà của một góa phụ, và là một kẻ eccentric vĩ đại trong mọi khía cạnh của cuộc đời. Đó là tất cả những gì chúng ta có thể khẳng định với bất kỳ sự chắc chắn nào về con người và tính cách của ông ta. Còn về các bài luận của ông, bất chấp một số từ ngữ cổ xưa và các cụm từ tối nghĩa của thời đại mà ông sống, chúng ta vẫn hiểu đủ để nhìn thấy các trò giải trí và nhân vật của quốc gia Anh thời bấy giờ: Không phải là chúng ta không cần châm chước cho sự vui nhộn và tính trào phúng của tác giả, người mà chắc chắn đã bóp méo nhiều sự miêu tả vượt quá sự thật. Bởi vì nếu chúng ta diễn giải các từ ngữ của ông theo nghĩa đen, chúng ta phải giả định rằng những phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu từng dành trọn cả buổi sáng để xem múa rối; rằng họ tuyên bố nguyên tắc của mình qua những miếng vá trên mặt; rằng một khán giả sẽ ngồi suốt một buổi tối để thưởng thức một màn trình diễn kịch được viết bằng một ngôn ngữ mà họ không hiểu; rằng ghế ngồi và chậu hoa được đưa lên sân khấu Anh quốc với tư cách là diễn viên; rằng một đám đông hỗn tạp gồm nam nữ được phép tụ họp vào nửa đêm trong những chiếc mặt nạ trong vòng vây của cung điện; cùng với nhiều điều phi lý mang tính tương tự. Do đó, trong những trường hợp này và tương tự thế, chúng ta phải giả định rằng những gợi ý và ẩn dụ xa vời đó nhằm vào một số thói hư tật xấu nhất định đang thịnh hành thời bấy giờ, và mà hiện tại chúng ta không có chút khái niệm nào. Chúng ta có thể phỏng đoán qua nhiều đoạn trong các bài luận rằng từng có những nhà văn nỗ lực hạ thấp các tác phẩm của tác giả này; nhưng vì không có gì mang tính chất đó truyền đến chúng ta, chúng ta không thể đoán được bất kỳ phản đối nào có thể đưa ra cho bài viết của ông. Nếu chúng ta xem xét văn phong của ông với sự bao dung mà chúng ta phải dành cho các nhà văn Anh cổ đại, hoặc nếu chúng ta nhìn vào sự đa dạng trong các chủ đề của ông, cùng với những bài luận phê bình, phản ánh đạo đức..."

Phần tiếp theo của đoạn văn quá có lợi cho tôi và vượt xa bất cứ điều gì tôi có thể vờ vịt, đến nỗi tôi hy vọng độc giả sẽ tha thứ cho tôi vì đã không đưa nó vào.

L.

Chú thích 1: Swift. return to footnote mark

Chú thích 2: In his Principia, published 1687, Newton says this to show that the nuclei of Comets must consist of solid matter. return

Chú thích 3: a return

Chú thích 4: a whole return

Mục lục

Số 102 Thứ Tư, ngày 27 tháng 6 năm 1711 Addison

... Lusus animo debent aliquando dari,

Ad cogitandum melior ut redeat sibi.

Phædr.

Tôi không biết nên gọi bức thư sau đây là một bài châm biếm về bọn phụ nữ lẳng lơ, hay một bức tranh miêu tả những tài lẻ kỳ quặc của họ, hay nên đặt cho nó cái tên gì khác nữa; nhưng dẫu sao đi nữa, tôi vẫn sẽ công bố nó cho công chúng. Nó sẽ tự giải thích ý định của mình một cách đầy đủ, thế nên tôi sẽ trao nó cho độc giả nguyên văn, không kèm theo lời tựa cũng chẳng có phần tái bút.

Thưa Ngài Spectator,

"Phụ nữ được trang bị quạt giấy như đàn ông mang gươm, và đôi khi tạo ra nhiều chiến tích hơn nhờ chúng. Do đó, để các quý cô có thể trở thành chủ nhân hoàn toàn của thứ vũ khí mà họ mang theo, tôi đã dựng lên một học viện nhằm đào tạo các thiếu nữ trong việc sử dụng quạt, theo những điệu bộ và cử động thời thượng nhất hiện đang được thực hành tại triều đình. Các quý cô mang quạt dưới sự huấn luyện của tôi được xếp hàng hai lần một ngày trong đại sảnh lớn của tôi, nơi họ được hướng dẫn cách sử dụng vũ khí của mình và tập luyện qua các khẩu lệnh sau đây:

Cầm quạt,

Xòe quạt,

Nổ quạt,

Hạ quạt,

Thu quạt,

Vẫy quạt.

Qua việc tuân thủ chính xác vài khẩu lệnh đơn giản này, một người phụ nữ có tư chất kha khá, người sẽ ứng dụng bản thân một cách siêng năng vào bài tập của mình trong khoảng thời gian chỉ vỏn vẹn nửa năm, sẽ có thể ban cho chiếc quạt của mình tất cả những nét duyên dáng có thể bước vào cỗ máy thời trang nhỏ bé ấy.

Nhưng để độc giả có thể hình thành cho mình một quan niệm đúng đắn về bài tập này, tôi xin phép được giải thích nó chi tiết trong mọi bộ phận. Khi trung đoàn phái đẹp của tôi được xếp trận, mỗi người cầm vũ khí trên tay, theo khẩu lệnh cầm quạt của tôi, từng người sẽ lắc chiếc quạt về phía tôi kèm theo một nụ cười, sau đó vỗ nhẹ vào vai người phụ nữ bên phải mình, rồi chạm khẽ môi vào chóp quạt, sau đó thả lỏng tay với một cử động nhẹ nhàng, và đứng ở tư thế sẵn sàng đón nhận khẩu lệnh tiếp theo. Tất cả những điều này được thực hiện với một chiếc quạt khép kín, và thường được học trong tuần đầu tiên.

Động tác tiếp theo là xòe quạt, trong đó bao gồm một vài cáiúng tay và rung động nhỏ, cũng như những cú mở ra từ từ và có cân nhắc, đi kèm với nhiều chuyển động tự bung ra trong chính chiếc quạt, những thứ hiếm khi được học dưới một tháng luyện tập. Phần này của bài tập làm cho các khán giả thích thú hơn bất kỳ phần nào khác, vì nó bất ngờ hé lộ vô số những hình tượng Cupid, vòng hoa, bàn thờ, chim chóc, thú vật, cầu vồng và những hình ảnh dễ chịu tương tự tự bày ra trước mắt, trong lúc mọi người trong trung đoàn đều cầm một bức tranh trên tay.

Khi tôi hô khẩu lệnh nổ quạt, họ tạo ra một tiếng nổ lớn chung có thể nghe thấy ở khoảng cách đáng kể khi hướng gió thuận lợi. Đây là một trong những phần khó nhất của bài tập; nhưng tôi có vài quý cô bên cạnh, những người trong ngày đầu bước chân vào không thể tạo ra một tiếng nổ đủ lớn để nghe thấy ở đầu bên kia căn phòng, nay có thể nổ một chiếc quạt theo cách tạo ra âm thanh giống hệt như một khẩu súng lục bỏ túi. Tôi cũng đã cẩn thận (nhằm ngăn chặn các thiếu nữ nổ quạt sai chỗ hoặc trong những dịp không thích hợp) chỉ ra chủ đề nào thì tiếng nổ của quạt mới được cất lên đúng cách: Tôi cũng phát minh ra một chiếc quạt mà nhờ đó một cô gái mười sáu tuổi, với sự trợ giúp của một chút gió được giữ kín quanh một trong những thanh xương quạt lớn nhất, có thể tạo ra tiếng nổ lớn hệt như một người phụ nữ năm mươi tuổi dùng chiếc quạt thông thường.

Khi quạt đã được nổ xong, khẩu lệnh tiếp theo theo thứ tự là hạ quạt xuống. Điều này dạy một quý cô cách buông quạt duyên dáng khi cô ta vứt nó sang một bên để cầm một bộ bài, chỉnh lại lọn tóc, cài lại chiếc ghim đang rơi, hoặc ứng dụng bản thân vào bất kỳ vấn đề quan trọng nào khác. Phần bài tập này, vì chỉ bao gồm việc tung chiếc quạt với một điệu bộ lên chiếc bàn dài (được đặt sẵn bên cạnh cho mục đích đó), có thể được học trong vòng hai ngày cũng nhanh như trong một năm.

Khi trung đoàn phái đẹp của tôi đã bị tước vũ khí như thế, tôi thường cho phép họ đi lại quanh phòng trong một khoảng thời gian; rồi thet thình lình (hệt như những quý cô nhìn đồng hồ sau một chuyến viếng thăm dài) tất cả bọn họ vội vã chạy về phía vũ khí của mình, vớ lấy chúng trong một nốt nhạc, và đứng vào vị trí thích hợp ngay khi tôi hô thu quạt. Phần này của bài tập không quá khó, miễn là người phụ nữ tập trung tư tưởng vào nó.

Vẫy quạt là phần cuối cùng, và quả thực là kiệt tác của toàn bộ bài tập; nhưng nếu một người phụ nữ không lãng phí thời gian, cô ta có thể tự làm chủ nó trong vòng ba tháng. Tôi thường loại bỏ những ngày chó sủa (Dog-days) và khoảng thời gian oi bức của mùa hè ra khỏi việc giảng dạy phần này của bài tập; bởi vì ngay khi tôi phát ra khẩu lệnh vẫy quạt, căn phòng ngập tràn vô số những ngọn gió xuân và làn gió nhẹ vô cùng sảng khoái trong mùa đó, dẫu chúng có thể nguy hiểm cho những quý cô có thể trạng mỏng manh vào bất kỳ mùa nào khác.

Có vô vàn những cử động khác nhau được tận dụng trong tiếng vẫy quạt. Có cái vẫy quạt giận dữ, cái vẫy quạt khiêm nhường, cái vẫy quạt rụt rè, cái vẫy quạt bối rối, cái vẫy quạt vui vẻ, và cái vẫy quạt đắm say. Tóm lại, chẳng có cảm xúc nào trong tâm trí mà không tạo ra sự kích động phù hợp trong chiếc quạt; đến mức nếu tôi chỉ nhìn chiếc quạt của một quý cô đã qua huấn luyện, tôi biết rõ nàng đang cười, cau mày hay đỏ mặt. Tôi từng thấy một chiếc quạt giận dữ đến mức sẽ vô cùng nguy hiểm nếu người tình vắng mặt từng chọc giận nó dám bước vào luồng gió của nó; và những lúc khác lại vô cùng uể oải, đến mức tôi thấy mừng thay cho nàng vì người tình đã đứng ở khoảng cách đủ xa khỏi nó. Tôi không cần phải nói thêm rằng một chiếc quạt mang tính đoan trang hay lẳng lơ tùy thuộc vào bản chất của người cầm nó. Để kết thúc bức thư, tôi phải thông báo cho ngài rằng tôi đã biên soạn từ những quan sát của chính mình một chuyên luận nhỏ dành cho học trò của mình, mang tiêu đề Những niềm đam mê của chiếc quạt; tôi sẽ truyền đạt nó cho ngài, nếu ngài nghĩ nó hữu ích cho công chúng. Tôi sẽ tổ chức một buổi tổng duyệt chung vào Thứ Năm tới; ngài sẽ rất được chào đón nếu vinh danh nó bằng sự hiện diện của mình. Kính thư, v.v..

P.S. Tôi dạy các nam thanh niên toàn bộ nghệ thuật galant chiếc quạt.

N.B. Tôi có sẵn một vài chiếc quạt trơn nhỏ được làm riêng cho mục đích này, để tránh tốn kém."

L.

Chú thích 1: that return to footnote mark

Chú thích 2: is return

Chú thích 3: that return

Mục lục

Số 103 Thứ Tư, ngày 28 tháng 6 năm 1711 Steele

... Sibi quivis

Speret idem frusta sudet frustraque laboret

Ausus idem ...

Hor.

Người bạn là nhà thần học của tôi từng được đón tiếp bằng những lời lẽ xã giao (những thứ mà ông nghĩ không thể áp dụng đúng đắn cho bất kỳ người sống nào, còn tôi thì nghĩ chỉ có thể nói về một mình ông, và điều đó lại được nói khi ông vắng mặt) đã cảm thấy vô cùng phiền lòng trước lối nói xã giao thái quá trong giới chúng ta, đến mức ông đã thực hiện một bài diễn thuyết phản đối nó tại Câu lạc bộ; bài diễn thuyết được ông khép lại bằng nhận xét rằng ông chưa từng nghe thấy một lời tán dương xã giao nào được thốt ra trong hội của chúng ta kể từ khi thành lập. Mọi người đều hài lòng với phần kết luận của ông; và vì ai nấy đều biết thiện chí của ông dành cho những người còn lại, họ đều bị thuyết phục rằng vô số những lời bày tỏ lòng tốt và sự phục vụ mà chúng ta thường bắt gặp vốn không phải là bản tính tự nhiên khi trái tim có thiện ý; mà là một sự mại dâm của lời nói, hiếm khi có ý định ngầm hiểu Bất kỳ phần nào trong những gì chúng ta thể hiện, và không bao giờ có ý định ngầm hiểu Toàn bộ những gì chúng ta thể hiện.

Người bạn tôn kính của chúng ta, khi xoay quanh chủ đề này, đã chỉ cho chúng ta thấy hai hoặc ba đoạn văn về chủ đề này trong bài giảng đầu tiên thuộc tập đầu tiên trong các tác phẩm truy điệu của vị cố Tổng giám mục1. Tôi không biết mình từng đọc qua thứ gì làm tôi thỏa mãn hơn thế, và nếu vinh dự của Longinus là việc ông bàn về cái siêu việt bằng một văn phong tương xứng với nó, người ta cũng có thể nói về tác giả này khi bàn về sự chân thành, rằng ông căm ghét mọi sự phô trương hùng biện trong dịp này, đồng thời đối xử với nó bằng một sự giản dị hơn mức bình thường, nhằm đóng vai trò vừa là một nhà thuyết giảng vừa là một tấm gương. Với sự tự chủ nhường nào khi ông phơi bày trước mặt chúng ta, bằng ngôn ngữ và tâm trạng của chức nghiệp mình, một lỗi lầm mà nếu chỉ thả lỏng và nhiệt tình đôi chút trong diễn đạt sẽ biến thành sự hóm hỉnh và châm biếm sinh động nhất? Nhưng trái tim ông được chuẩn bị tốt hơn, và người đàn ông nhân hậu ấy đã trừng trị vị học giả lớn theo cách mà ông có thể cất lời như sau:

"... Trong số vô vàn những biểu hiện khác của sự suy đồi và thoái hóa lớn lao trong thời đại chúng ta đang sống, sự thiếu hụt trầm trọng và phổ biến về tính chân thành trong giao tiếp là một trong những điều không nhỏ. Thế giới đã trở nên ngập tràn sự giả dối và xã giao, đến mức lời nói của con người hầu như chẳng mang ý nghĩa gì về suy nghĩ của họ; và nếu có ai đo lường lời nói bằng trái tim, nói năng như những gì mình suy nghĩ, và không bày tỏ lòng tốt với mọi người nhiều hơn mức con người ta thường có cho bất kỳ ai, kẻ đó khó lòng thoát khỏi sự khiển trách vì thiếu giáo dục. Sự chân chất và chân thành kiểu Anh cổ đại, thứ chính trực hào phóng của tự nhiên và sự trung thực trong tính cách, thứ luôn biện minh cho sự vĩ đại đích thực của tâm trí và thường đi kèm với lòng dũng cảm và quyết tâm bất khuất, nay đã phần nào bị đánh mất trong chúng ta; người ta đã có những nỗ lực lâu dài nhằm biến đổi chúng ta thành những phong tục và thời trang ngoại kiều, đồng thời đưa chúng ta đến sự bắt chước nô lệ những kẻ tồi tệ nhất trong số những láng giềng của chúng ta đối với vài phẩm chất tồi tệ nhất của họ. Phương ngữ giao tiếp ngày nay phồng rộp lên vì sự phù phiếm và xã giao, và ngấy đến tận cổ (nếu tôi có thể nói thế) trước những biểu hiện của lòng tốt và sự tôn trọng, đến mức nếu một người sống từ một hoặc hai thế kỷ trước quay trở lại thế giới này, anh ta thực sự sẽ cần một cuốn từ điển để giúp mình hiểu ngôn ngữ của chính mình và biết được giá trị nội tại thực sự của cụm từ đang thịnh hành, đồng thời thoạt đầu sẽ khó lòng tin nổi những mức độ cao nhất và biểu hiện chân thành nhất của lòng tốt lại có thể trôi qua với một cái giá thấp đến thế trong thanh toán thông thường; và khi anh ta hiểu ra điều đó, anh ta sẽ mất rất nhiều thời gian trước khi có thể tự làm bản thân đối thoại với mọi người một cách đàng hoàng và với một lương tâm trong sáng trên các điều khoản bình đẳng và theo cách của riêng họ.

Và thực sự thật khó để nói liệu chúng ta nên khơi gợi sự khinh miệt hay lòng thương hại nhiều hơn, khi nghe những biểu hiện trang trọng của sự tôn trọng và lòng tốt sẽ trôi qua giữa người với người gần như chẳng vì dịp gì; sự tôn trọng và kính trọng lớn lao đến nhường nào sẽ được họ tuyên bố cho một kẻ mà có lẽ họ chưa từng gặp trước đó, và họ hoàn toàn tận tụy dâng hiến cho sự phục vụ và lợi ích của người đó vì không có lấy một lý do; họ biết ơn vô hạn và đời đời kiếp kiếp vì không có lấy một ân huệ; và họ sẽ quan tâm, vâng, cả đau khổ vì người đó đến nhường nào vì không có lấy một nguyên nhân. Tôi biết người ta nói rằng, để biện minh cho cái kiểu giao tiếp rỗng tuếch này, rằng chẳng có tổn hại nào, chẳng có sự lừa dối thực sự nào trong xã giao, nhưng vấn đề vẫn hoàn toàn ổn miễn là chúng ta hiểu lẫn nhau; et Verba valent ut Nummi: Lời nói giống như tiền bạc; và khi giá trị lưu thông của chúng được hiểu chung, chẳng có ai bị lừa bởi chúng cả. Điều này có lý đôi chút, nếu những từ ngữ ấy là cái gì đó; nhưng khi được đưa vào sổ sách, chúng chỉ là những con số không tròn trĩnh. Tuy nhiên, đó vẫn là một vấn đề chính đáng để phàn nàn rằng sự chân thành và sự chân chất đã lỗi thời, và ngôn ngữ của chúng ta đang trượt ngã vào một lời nói dối; rằng con người ta gần như đã đảo lộn hoàn toàn công dụng của ngôn ngữ, và biến lời nói thành vô nghĩa, rằng phần lớn giao tiếp của nhân loại chẳng là gì khác ngoài việc buôn bán sự giả dối; đến mức nó có thể làm một người phát bệnh thực sự và mệt mỏi với thế giới, khi chứng kiến sự thiếu chân thành ít ỏi đang được sử dụng và thực hành giữa người với người."

Khi thói xấu này được đặt dưới ánh sáng đầy khinh miệt ấy, ông đã lập luận một cách không thể chối cãi chống lại nó, bằng những từ ngữ và tư tưởng tự nhiên đến mức bất kỳ ai đọc chúng cũng tưởng tượng chính bản thân mình có thể là tác giả của chúng.

"Nếu vẻ bề ngoài của bất kỳ thứ gì có ích cho một việc gì, tôi dám chắc sự chân thành còn tốt hơn: Bởi vì tại sao bất kỳ ai lại giả vờ, hoặc ra vẻ là thứ mà mình không phải, nếu không phải vì họ nghĩ việc sở hữu một phẩm chất như thứ mình đang giả vờ là điều tốt? Bởi vì việc làm giả và giả vờ chính là khoác lên mình diện mạo của một sự xuất chúng thực sự nào đó. Giờ đây, cách tốt nhất trên thế gian để ra vẻ là bất cứ thứ gì chính là thực sự trở thành điều mà người ta muốn ra vẻ. Bên cạnh đó, việc duy trì cái cớ giả vờ cho một phẩm chất tốt đôi khi rắc rối chẳng kém gì việc sở hữu nó; và nếu một người không có nó, mười mươi là anh ta sẽ bị phát hiện là đang thiếu nó; và thế là mọi công sức lẫn lao động để ra vẻ có được nó đều đổ sông đổ biển."

Ở một phần khác của bài luận đó, ông tiếp tục chứng minh rằng mọi sự xảo trá tự nhiên đều dẫn đến sự thất vọng cho chính kẻ thực hành nó.

"Bất kỳ sự thuận tiện nào người ta nghĩ có trong sự giả dối và ngụy tạo, nó cũng sẽ sớm qua đi; nhưng sự bất tiện của nó là vĩnh viễn, bởi vì nó đẩy một con người vào một sự đố kỵ và nghi ngờ vĩnh cửu, đến mức anh ta không được tin tưởng khi nói sự thật, và cũng chẳng được tín nhiệm ngay cả khi có lẽ anh ta có ý tốt thực sự. Khi một người đã đánh mất uy tín về sự chính trực của mình, anh ta sẽ bị mắc kẹt, và khi ấy chẳng có gì cứu vãn được anh ta nữa, dù là sự thật hay sự giả dối."

R.

Chú thích 1: This sermon on Sincerity, from John i. 47, is the last Tillotson preached. He preached it in 1694, on the 29th of July, and died, in that year, on the 24th of November, at the age of 64. John Tillotson was the son of a Yorkshire clothier, and was made Archbishop of Canterbury in 1691, on the deprivation of William Sancroft for his refusal to take the oaths to William and Mary. return to footnote mark

Mục lục

Số 104 Thứ Sáu, ngày 29 tháng 6 năm 1711 Steele

... Qualis equos Threissa fatigat

Harpalyce ...

Virg.

Đó sẽ là một sự cải tiến cao quý, hay đúng hơn là sự khôi phục lại thứ mà chúng ta gọi là phép lịch sự tốt đẹp, nếu không có bất kỳ điều gì được thông qua giữa chúng ta bị xem là dễ mến mà lại vi phạm dù chỉ một chút đối với quy tắc sống gọi là Decorum, hay sự tôn trọng đối với phép tắc. Điều này sẽ chỉ huy sự kính trọng của nhân loại, bởi vì nó mang trong mình sự deference đối với ý kiến tốt đẹp của họ, cũng như sự khiêm nhường ngự trị trong một tâm hồn đáng kính luôn đi kèm với một sự tôn kính nhất định, thứ mà không một tâm hồn kiêu ngạo nào, với mọi mưu mẹo có thể tưởng tượng, có thể mua được.

Tully nói rằng đức hạnh và phép tắc gắn bó mật thiết với nhau đến mức thật khó để tách rời chúng ra khỏi trí tưởng tượng của chúng ta. Giống như vẻ đẹp của cơ thể luôn đi kèm với sự khỏe mạnh của nó, phép tắc chắc chắn đồng hành với đức hạnh: Giống như vẻ đẹp thể xác, đi cùng phong thái dễ mến, làm thỏa mãn đôi mắt, và niềm vui ấy bao gồm việc chúng ta quan sát tất cả các bộ phận được tỷ lệ hóa với nhau bằng một sự thanh lịch nhất định; phép tắc trong hành vi biểu hiện trong đời sống của chúng ta cũng giành được sự chấp thuận của tất cả những ai chúng ta đàm đạo, xuất phát từ trật tự, sự nhất quán và tính chừng mực trong lời nói lẫn hành động của chúng ta. Điều này bắt nguồn từ sự tôn kính mà chúng ta dành cho mọi người tốt, và cho thế giới nói chung; bởi vì việc phớt lờ những gì người khác nghĩ về bạn không chỉ cho thấy bạn kiêu ngạo mà còn bị ruồng bỏ. Trong tất cả những cân nhắc này, chúng ta phải phân biệt cách một đức hạnh khác với đức hạnh kia; cũng như bổn phận của công lý là không bao giờ gây bạo lực, thì của sự khiêm tốn là không bao giờ phạm phải xúc phạm. Trong chi tiết sau cùng này nằm toàn bộ sức mạnh của thứ gọi là phép tắc; vì mục đích này, vị đạo đức học xuất sắc được nhắc đến ở trên đã bàn về phép tắc; nhưng phẩm chất này dễ được thấu hiểu bởi một trí tuệ bình thường hơn là được diễn đạt bằng tất cả tài hùng biện của ông. Phép tắc trong hành vi này thường bị vi phạm trong mọi tầng lớp xã hội; vâng, ngay cả phụ nữ, dẫu tự thân họ được tạo ra như thể để làm đồ trang trí, cũng thường nhầm lẫn rất nhiều trong phần trang trí này của cuộc đời. Ngẫm cho ra, đó sẽ là một quy tắc ngắn gọn cho hành vi, nếu mọi thiếu nữ trong trang phục, lời nói và hành động của mình chỉ cố gắng giới thiệu bản thân như một người chị, người con gái hay người vợ, và khiến bản thân trở nên đáng kính trọng hơn trong một trong những vai trò ấy. Sự quan tâm đến bản thân, liên quan đến những gia đình mà phụ nữ sinh ra, là động lực tốt nhất để họ được tán tỉnh bước vào liên minh của những gia đình khác. Không gì có thể thúc đẩy mục đích này tốt hơn sự duy trì nghiêm ngặt phép tắc. Tôi sẽ rất vui nếu một trật tự kỵ mã nhất định của các quý cô, những người mà người ta bắt gặp vào một buổi tối ở mọi lối ra của thị trấn, có thể đưa chủ đề này vào sự cân nhắc nghiêm túc của họ; để làm được điều đó, bức thư sau đây có lẽ không hoàn toàn không đáng để họ nghiền ngẫm1.

Thưa Ngài Spectator,

"Gần đây, khi đi dạo hít thở không khí trong một buổi chiều tuyệt đẹp nhất mà mùa này sản sinh ra, trong lúc tôi đang chiêm ngưỡng sự thanh bình của bầu trời, sắc màu sinh động của những cánh đồng và sự đa dạng của phong cảnh ở mọi hướng xung quanh, đôi mắt tôi bất chợt bị lôi kéo khỏi những đối tượng vô tri ấy bởi một nhóm kỵ mã nhỏ tôi thấy đang đi qua con đường cái quan. Phần lớn trong số họ thoát khỏi sự quan sát cụ thể của tôi, bởi vì toàn bộ sự chú ý của tôi dán chặt vào một thiếu niên vô cùng khôi ngô đang cưỡi ngựa ở giữa nhóm, và trông có vẻ như được ăn mặc theo một mô tả nào đó trong tiểu thuyết lãng mạn. Các nét trên khuôn mặt, sắc da và trang phục của cậu ta mang vẻ nữ tính đáng chú ý, và một sự kiêu ngạo ủ rũ nhất định hiện lên trong phong thái: Mái tóc được uốn xoăn và xức phấn cẩn thận, rủ xuống vai một đoạn khá dài, và được buộc một cách đùa giỡn, hệt như bởi bàn tay của tình nhân, bằng một dải ruy-băng đỏ bay lất phất phía sau như một dải băng cờ: Cậu ta mặc áo khoác và áo ghi-lê bằng vải camlet màu xanh lam được viền và thêu chỉ bạc; một chiếc khăn quàng cổ bằng loại ren tinh tế nhất; và đội một chiếc mũ hải ly nhỏ viền bạc được bẻ chéo bảnh bao, trở nên sinh động hơn nhờ một chiếc lông chim. Con ngựa của cậu ta cũng vậy, một con ngựa đi bước một, được trang hoàng theo kiểu bay bổng tương tự và có vẻ cũng chia sẻ sự kiêu ngạo với người cưỡi. Trong lúc tôi đang thương xót cho sự xa hoa của thiếu niên này, người mà trong mắt tôi chỉ được giáo dục như một đối tượng để ngắm nhìn, tôi nhận ra khi đến gần hơn và khi hạ tầm mắt xuống, một phần của trang thiết bị mà tôi chưa từng quan sát thấy trước đó, đó là một chiếc váy dài (petticoat) cùng loại với áo khoác và áo ghi-lê. Sau phát hiện này, tôi lại nhìn vào khuôn mặt của nữ chiến binh Amazon đã đánh lừa mình như thế, và nghĩ rằng những nét vốn trước đây làm tôi phì cười vì sự mềm mại nay đã được cường hóa thành một sự táo bạo không thích hợp; và dẫu đôi mắt, mũi và miệng có vẻ được cấu trúc với sự đối xứng hoàn hảo, tôi không chắc liệu kẻ thoạt nhìn là một thiếu niên rất bảnh bao ấy có thực sự là một người đàn bà tồi tệ hay không.

Có một phản đối tự nhiên hiện lên chống lại những sự bối rối và pha trộn trang phục thỉnh thoảng này, đó là chúng có vẻ phá vỡ sự thích hợp và phân biệt ngoại hình trong đó vẻ đẹp của các nhân vật khác nhau được bảo tồn; và nếu chúng xuất hiện thường xuyên hơn hiện tại, trông chúng sẽ giống như việc biến các hội họp công cộng của chúng ta thành một buổi hóa trang chung. Mẫu trang phục đi săn kiểu Amazon này dành cho phụ nữ, theo tôi hiểu, lần đầu tiên được nhập khẩu từ Pháp, và thể hiện vừa đủ sự vui tươi của một dân tộc được dạy dỗ để làm bất cứ điều gì miễn là có sự tự tin; nhưng tôi không thể không nghĩ rằng nó vẫn ngượng ngùng trên sự khiêm tốn của người Anh chúng ta. Chiếc váy dài là một dạng vướng víu đối với nó, và nếu các nữ chiến binh Amazon nghĩ ra chuyện tiếp tục cuộc cướp bóc này đối với những món trang trí của phái chúng ta, họ nên bồi đắp thêm cho chiến lợi phẩm của mình, và hoàn tất chiến thắng over chúng ta bằng cách mặc quần dài (breeches).

Nếu việc vô tình ngấm dần phong cách của những kẻ chúng ta bắt chước là điều tự nhiên, những quý cô thích thú với việc khoác lên trang phục của chúng ta sẽ mang lại cho chúng ta nhiều vinh dự hơn mức chúng ta xứng đáng nhận được, nhưng họ sẽ làm điều đó bằng chính cái giá của mình. Tại sao nàng Camilla đáng yêu lại đánh lừa chúng ta qua nhiều hình hài ngoài hình hài của chính nàng, và thích được phác họa trong bức tranh của mình với một khẩu súng và một con chó spaniel, trong khi người anh cả của nàng, người thừa kế của một gia đình danh giá, lại được vẽ trong những bộ lụa là hệt như chị gái mình? Trang phục và phong thái của một đàn ông không dễ để phân chia; và những ai không thỏa mãn với vế sau không bao giờ nên nghĩ đến chuyện khoác lên vế đầu. Có một tỷ lệ lớn sự dễ mến tự nhiên trong phái đẹp của hòn đảo chúng ta, đến mức họ dường như bị lừa gạt vào những trang phục lãng mạn này mà không có cùng một nhu cầu như những kẻ phát minh ra chúng: Tất cả những gì cần được mong đợi ở họ là hãy là chính họ, nghĩa là những gì tự nhiên đã thiết kế ra họ; và để nhìn thấy sai lầm của mình khi đi chệch khỏi điều này, hãy để họ nhìn vào một người đàn ông mang sự mềm mại và nữ tính của phụ nữ, để học cách phái đẹp của họ phải hiện lên trước mắt chúng ta thế nào khi tiếp cận với sự giống hệt đàn ông.

Kính thư,

Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài."

T.

Chú thích 1: The letter is by John Hughes. return to footnote mark

Mục lục

Số 105 Thứ Bảy, ngày 30 tháng 6 năm 1711 Addison

... Id arbitror

Adprime in vita esse utile, ne quid nimis.

Ter. And.

Người bạn của tôi, Will Honeycomb, rất tự hào về cái gọi là Hiểu biết về Nhân loại, thứ đã tốn của anh ta không ít tai ương thời tuổi trẻ; bởi vì Will coi mọi bất hạnh anh ta từng gặp phải với phụ nữ, và mọi cuộc đụng độ với đàn ông, như những phần trong nền giáo dục của mình, và tưởng tượng rằng anh ta sẽ chẳng bao giờ trở thành con người như hiện tại nếu không đập phá cửa sổ, đánh gục cảnh sát, làm phiền những người lương thiện bằng những bản serenade nửa đêm, và quậy phá các chốn ổ chuột của đàn bà lẳng lơ khi còn là một thiếu niên. Việc dấn thân vào những cuộc phiêu lưu mang tính chất này được Will gọi là nghiên cứu nhân loại; và gọi sự hiểu biết thị trấn này là sự hiểu biết thế gian.

Will thành thật thú nhận rằng trong suốt nửa cuộc đời, đầu óc anh ta đau nhức mỗi sáng vì việc "nghiên cứu đàn ông" thâu đêm; và hiện tại tự an ủi bản thân dưới những nỗi đau đớn thỉnh thoảng phải gánh chịu rằng nếu không có chúng, anh ta sẽ chẳng thể quen thuộc với những thói lãng mạn của thời đại. Will xem điều này như học thức của một quý ông, và coi tất cả các loại khoa học khác như tài lẻ của kẻ mà anh ta gọi là một học giả, một mọt sách, hay một nhà triết học.

Vì những lý do này, Will tỏa sáng trong các buổi hội họp đông người, nơi anh ta có sự khôn ngoan để không lội quá sâu, và thường có một cách thức nhất định để biến sự thiếu hiểu biết thực sự của mình thành một thứ có vẻ như chỉ là bề ngoài. Tuy nhiên, Câu lạc bộ của chúng ta thường xuyên bắt quả tang anh ta hớ hênh, và những lúc đó họ chẳng bao giờ nương tay với anh ta. Bởi vì Will thường lăng mạ chúng ta bằng sự hiểu biết về thị trấn, đôi khi chúng ta trả thù anh ta bằng sự hiểu biết về sách1.

Tuần trước, anh ta đem ra hai hoặc ba bức thư mà anh ta viết thời trẻ gửi cho một ả lẳng lơ. Những lời trêu chọc trong đó khá tự nhiên, và chấp nhận được đối với một gã trai thành thị thuần túy; nhưng ngặt nỗi, vài từ trong đó lại viết sai chính tả. Will lấp liếm điều đó lúc đầu tốt nhất có thể; nhưng khi thấy mình bị dồn ép tứ phía, đặc biệt là bởi chàng học giả luật (Templar), anh ta với chút hằn học liền bảo rằng anh ta chưa bao giờ thích sự kệch cỡm trong chính tả, và rằng anh ta viết chữ như một quý ông, chứ không phải như một học giả: Ngay sau đó, Will quay lại với chủ đề quen thuộc là chỉ trích sự chật hẹp trong tư tưởng, tính kiêu ngạo và sự ngu dốt của đám học giả kệch cỡm; điều mà anh ta đẩy đi xa đến mức khi tôi lui về phòng trọ, tôi không kìm được việc gom lại những suy nghĩ nảy sinh trong đầu về chủ đề đó.

Một người được nuôi dưỡng giữa những trang sách, và chẳng thể bàn luận về bất cứ thứ gì khác, là một người bạn vô cùng tẻ nhạt, và là kẻ mà chúng ta gọi là một kẻ kệch cỡm sách vở (pedant). Nhưng, ngẫm cho cùng, chúng ta nên mở rộng danh hiệu đó và trao nó cho bất cứ ai không biết cách suy nghĩ ngoài nghề nghiệp và lối sống riêng biệt của mình.

Còn ai là kẻ kệch cỡm hơn một gã trai thành thị thuần túy? Cấm hắn bén mảng tới các nhà hát, một danh mục những giai nhân đang thịnh hành, và bản tường trình về vài chứng bệnh thời thượng vừa giáng xuống người hắn, là bạn lập tức biến hắn thành câm lặng. Kiến thức của bao nhiêu quý ông bảnh chọe nằm trọn trong chu vi của cung đình? Hắn sẽ kể cho bạn nghe tên của những sủng thần chủ chốt, lặp lại những câu nói thâm sâu của một nhà quý tộc, thì thầm một vụ tình ái chưa bị dư luận phanh phui; hoặc nếu phạm vi quan sát của hắn rộng hơn bình thường một chút, có lẽ hắn sẽ sa đà vào mọi tình tiết, bước ngoặt và biến động trong một ván bài Ombre. Khi hắn đi xa đến thế, hắn đã phơi bày toàn bộ vòng tròn tài năng của mình, vốn liếng của hắn đã cạn kiệt, và hắn bị tước khả năng tiếp tục trò chuyện.

Họ là gì nếu không phải là những kẻ kệch cỡm chính hiệu? Thế mà đây lại là những kẻ tự hào nhất về việc thoát khỏi sự kệch cỡm của các trường đại học.

Tôi cũng có thể nhắc đến kẻ kệch cỡm nhà binh, kẻ lúc nào cũng nói chuyện doanh trại và đang công thành chiến địa, lập cứ điểm rồi đánh trận từ đầu năm đến cuối năm. Mọi thứ hắn thốt ra đều nồng mùi thuốc súng; nếu bạn tước bỏ pháo binh của hắn, hắn chẳng còn lời nào để tự vệ. Tôi cũng có thể nhắc đến kẻ kệch cỡm luật pháp, kẻ liên tục đưa ra các tình huống, lặp lại các vụ việc tại Tòa án Westminster2, cãi cọ với bạn về những tình tiết vô thưởng vô phạt nhất trong đời sống, và không thể bị thuyết phục về khoảng cách của một địa điểm hay một chi tiết vụn vặt nhất trong cuộc trò chuyện, trừ khi bằng sức mạnh của lý lẽ. Kẻ kệch cỡm chính trị thì chìm đắm trong tin tức và lạc trôi trong chính trị. Nếu bạn nhắc đến một trong các vị vua Tây Ban Nha hoặc Ba Lan, hắn bàn luận rất đáng nể; nhưng nếu bạn bước ra khỏi tờ Công báo (Gazette), bạn bỏ rơi hắn ngay. Tóm lại, một kẻ thuần túy cung đình, một kẻ thuần túy nhà binh, một kẻ thuần túy học giả, một kẻ thuần túy bất kỳ thứ gì, đều là một nhân vật kệch cỡm nhạt nhẽo, và ngớ ngẩn như nhau.

Trong số tất cả các loại kẻ kệch cỡm mà tôi đã đề cập trên đây3, kẻ kệch cỡm sách vở là kẻ dễ chịu đựng nhất; ít nhất hắn cũng có một trí tuệ đã qua luyện tập và một cái đầu đầy đặn dẫu rối rắm, thế nên một người trò chuyện với hắn thường có thể nhận được những gợi ý về những điều đáng biết, và những thứ anh ta có thể tận dụng cho lợi ích của bản thân, dẫu chúng ít có giá trị với chính chủ nhân của nó. Loại kệch cỡm tồi tệ nhất trong giới học giả là những kẻ bẩm sinh sở hữu một lượng rất ít ỏi sự khôn ngoan thông thường, và đã đọc một số lượng lớn sách vở mà không có gu thẩm mỹ hay sự phân biệt.

Sự thật là, học thức, giống như du lịch và tất cả các phương pháp cải thiện bản thân khác, khi nó hoàn thiện sự khôn ngoan, cũng đồng thời biến một kẻ ngốc trở nên khó chịu gấp mười ngàn lần, bằng cách cung cấp đa dạng các chất liệu cho sự xấc láo của hắn, và trao cho hắn cơ hội bộc lộ những điều ngớ ngẩn.

Những kẻ kệch cỡm nông cạn ca tụng lẫn nhau nhiều hơn rất nhiều so với những người có học thức vững chắc và hữu ích. Để đọc những chức danh họ dành cho một biên tập viên hay người đối chiếu bản thảo, bạn sẽ tưởng hắn là vinh quang của khối thịnh vượng chung văn chương và là kỳ quan của thời đại mình, trong khi có lẽ sau khi kiểm tra, bạn nhận ra hắn chỉ vừa chỉnh sửa một tiểu phân tử Hy Lạp, hay rải một câu văn dài ngoằn ngoèo bằng những dấu phẩy thích hợp.

Quả thực họ buộc phải hào phóng với những lời ca tụng như thế, để có thể giữ cho nhau đứng vững; và chẳng có gì lạ khi một khoá tri thức vốn không có khả năng làm cho con người trở nên khôn ngoan lại có xu hướng tự nhiên biến anh ta thành kẻ kiêu ngạo và tự phụ.

L.

Chú thích 1: in return to footnote mark

Chú thích 2: that return

Chú thích 3: that return

Chú thích 4: above mentioned return

Mục lục

Số 106 Thứ Hai, ngày 2 tháng 7 năm 1711 Addison

... Hinc tibi Copia

Manabit ad plenum, benigno

Ruris honorum opulenta cornu.

Hor.

Từng nhận được lời mời từ người bạn Sir Roger De Coverley đến trải qua một tháng cùng ông ở miền quê, tuần trước tôi đã đồng hành cùng ông tới đó, và hiện đang định cư cùng ông một thời gian tại căn nhà miền quê của ông, nơi tôi dự định sẽ hình thành một số bài luận tiếp theo của mình. Sir Roger, người rất am hiểu tính tình của tôi, để tôi tự do thức dậy và đi ngủ khi muốn, dùng bữa tại bàn của ông hoặc trong phòng tùy ý, ngồi im lặng và chẳng nói gì mà không hề bắt tôi phải vui vẻ. Khi các quý ông trong vùng đến thăm ông, ông chỉ giới thiệu tôi từ xa: Khi tôi đi dạo trong các cánh đồng của ông, tôi từng quan sát thấy họ lén lút ngắm nhìn tôi qua hàng rào, và nghe thấy vị hiệp sĩ dặn dò họ đừng để tôi thấy, bởi vì tôi ghét bị nhìn chằm chằm.

Tôi cảm thấy thoải mái hơn trong gia đình của Sir Roger, bởi vì nó bao gồm những con người điềm đạm và nghiêm cẩn; bởi vì vị hiệp sĩ là người chủ tuyệt vời nhất trên đời, ông hiếm khi thay đổi gia nhân; và vì được yêu mến bởi tất cả mọi người xung quanh, đám đầy tớ chẳng bao giờ muốn rời xa ông; nhờ thế mà toàn bộ gia quyến của ông đều đã luống tuổi và cùng già đi với chủ nhân của họ. Bạn sẽ nhầm lẫn người hầu phòng (valet de chambre) của ông với anh em ruột của ông, người quản gia thì tóc đã điểm bạc, người chăn ngựa là một trong những người trang nghiêm nhất mà tôi từng thấy, còn người đánh xe mang diện mạo của một ủy viên hội đồng cơ mật. Bạn có thể thấy sự nhân hậu của người chủ hiện lên ngay cả trong con chó săn già trong nhà, và ở một con ngựa câu lông xám được chăm sóc rất cẩn thận và ân cần trong chuồng để báo đáp những chiến công phục vụ trước kia, dẫu nó đã vô tích sự trong suốt mấy năm trời.

Tôi không khỏi quan sát với rất nhiều niềm thích thú niềm vui lộ rõ trên nét mặt của những người đầy tớ lâu năm này khi người bạn của tôi đặt chân đến dinh thự miền quê. Một số trong họ không kìm được những giọt nước mắt khi nhìn thấy người chủ cũ; ai nấy đều xông xép tiến lên để làm điều gì đó cho ông, và có vẻ nản lòng nếu không được giao việc. Cùng lúc đó, vị hiệp sĩ già nhân hậu, với sự pha trộn giữa người cha và người chủ gia đình, đã xoa dịu những câu hỏi về công việc của chính mình bằng vài câu hỏi ân cần liên quan đến bản thân họ.

Sự nhân từ và bản tính tốt đẹp này thu hút mọi người đến với ông, thế nên khi ông trêu đùa bất kỳ ai trong số họ, toàn bộ gia quyến đều vui vẻ, và chẳng ai vui vẻ hơn chính kẻ mà ông đang trêu chọc: Ngược lại, nếu ông ho khan, hay bộc lộ bất kỳ sự suy yếu nào của tuổi cao sức yếu, một người đứng xem rất dễ nhận thấy nỗi lo âu thầm kín trong ánh mắt của toàn bộ đám gia nhân1.

Người bạn đáng kính của tôi đã đặt tôi dưới sự chăm sóc đặc biệt của người quản gia, một người rất thận trọng, và cũng giống như các gia nhân khác, vô cùng khao khát làm tôi hài lòng, bởi vì họ thường nghe chủ nhân nhắc đến tôi như một người bạn tri kỷ.

Người bạn đồng hành chính của tôi, trong lúc Sir Roger đang giải trí trong những khu rừng hoặc cánh đồng, là một người rất đáng kính luôn túc trực bên Sir Roger, và đã sống tại nhà ông trong vai trò một vị tuyên úy (chaplain) hơn ba mươi năm. Vị quý ông này là một người có hiểu biết tốt và học thức kha khá, có lối sống rất mực quy chuẩn và cách trò chuyện nhã nhặn: Ông yêu mến Sir Roger từ tận đáy lòng, và biết rằng mình rất được vị hiệp sĩ già kính trọng, thế nên ông sống trong gia đình này giống một người thân hơn là một kẻ ăn nhờ ở đậu.

Tôi đã quan sát thấy trong một số bài viết của mình rằng người bạn Sir Roger của tôi, giữa bao nhiêu phẩm chất tốt đẹp, là một kẻ có đôi chút kỳ quặc (humourist); và rằng các đức hạnh cũng như những điểm yếu của ông đều được tô điểm bởi một sự phóng khoáng nhất định, thứ làm cho chúng mang đậm dấu ấn riêng của Sir Roger, và phân biệt chúng với những người khác. Khuôn mặt tư duy này, dẫu tự thân thường rất vô hại, làm cho cuộc trò chuyện của ông trở nên vô cùng dễ chịu, và thú vị hơn rất nhiều so với mức độ hiểu biết và đức hạnh thông thường dưới màu sắc bình thường. Khi tôi đi dạo cùng ông tối qua, ông hỏi tôi thích người đàn ông tốt mà tôi vừa nhắc đến lúc nãy ra sao? và không chờ câu trả lời, ông bảo tôi rằng: Ông sợ bị lăng mạ bằng tiếng Latin và tiếng Hy Lạp ngay tại bàn ăn của chính mình; vì lý do đó ông đã nhờ một người bạn thân ở đại học tìm giúp một vị giáo sĩ thiên về sự hiểu biết bình thường hơn là học thức uyên thâm, có diện mạo khả ái, giọng nói trong trẻo, tính tình cởi mở, và nếu có thể, là một người hiểu biết chút ít về cờ thỏ cáo (back-gammon).

"Người bạn của tôi, Sir Roger nói, đã tìm cho tôi vị quý ông này, người bên cạnh những năng khiếu được yêu cầu2, theo họ kể, còn là một học giả giỏi, dẫu ông không phô trương điều đó. Tôi đã trao cho ông ấy chức vụ mục sư của giáo xứ; và vì biết rõ giá trị của ông, tôi đã thiết lập cho ông một khoản trợ cấp trọn đời hậu hĩnh. Nếu ông sống thọ hơn tôi, ông sẽ thấy rằng ông đứng ở vị trí cao hơn trong lòng tôi có lẽ so với những gì ông nghĩ. Ông ấy đã ở bên tôi ba mươi năm nay; và dẫu không biết tôi có để ý điều đó hay không, trong suốt khoảng thời gian ấy, ông chưa từng xin xắn bất cứ điều gì cho bản thân, dẫu ngày nào ông cũng nài nỉ tôi giúp đỡ người này hay người kia trong số những tá điền giáo dân của ông. Không có một vụ kiện tụng nào xảy ra trong giáo xứ kể từ khi ông sống giữa họ: Nếu có tranh chấp phát sinh, họ tìm đến ông để phán quyết; nếu họ không đồng tình với phán quyết của ông, điều mà tôi nghĩ chưa bao giờ xảy ra quá một hoặc hai lần là cùng, họ sẽ kháng cáo lên tôi. Khi ông mới đến định cư với tôi, tôi đã tặng ông toàn bộ những bài giảng hay bằng tiếng Anh từng được ấn bản3, và chỉ nài xin ông rằng mỗi Chủ Nhật hãy đọc vang một bài trong số đó trên bục giảng. Theo đó, ông đã sắp xếp chúng thành một chuỗi tự nhiên nối tiếp nhau, tạo thành một hệ thống thần học thực hành xuyên suốt."

Trong lúc Sir Roger đang kể dở câu chuyện, vị quý ông mà chúng tôi đang bàn đến đã tiến lại gần; và khi vị hiệp sĩ hỏi ngày mai ai sẽ giảng đạo (vì khi ấy là tối thứ Bảy), ông bảo chúng tôi rằng Giám mục xứ St. Asaph giảng buổi sáng, và Tiến sĩ South giảng buổi chiều. Sau đó, ông cho chúng tôi xem danh sách các vị giảng sư cho cả năm, nơi tôi nhìn thấy với rất nhiều niềm thích thú Tổng giám mục Tillotson, Giám mục Saunderson, Tiến sĩ Barrow, Tiến sĩ Calamy4, cùng vài tác giả còn sống từng ấn bản các bài giảng về Thần học Thực hành. Ngay khi nhìn thấy vị đáng kính này trên bục giảng, tôi vô cùng tán thành việc người bạn của tôi đã kiên quyết đòi hỏi các phẩm chất về diện mạo khả ái và giọng nói trong trẻo; bởi vì tôi bị mê hoặc bởi sự duyên dáng trong vóc dáng và cách truyền đạt của ông, cũng như bởi những bài giảng mà ông cất giọng, đến mức tôi nghĩ mình chưa từng trải qua khoảng thời gian nào đáng thỏa mãn hơn thế. Một bài giảng được lặp lại theo cách này giống như tác phẩm của một nhà thơ qua miệng của một diễn viên duyên dáng.

Tôi tha thiết ước gì nhiều vị giáo sĩ vùng quê của chúng ta có thể noi gương này; và thay vì vắt kiệt tinh thần vào những sáng tác tẻ nhạt của riêng mình, hãy nỗ lực đạt được một cách phát âm đẹp đẽ, cùng tất cả những tài năng thích hợp khác để củng cố những gì đã được viết bởi các bậc thầy lớn. Điều này không chỉ dễ dàng hơn cho chính họ, mà còn mang tính bồi đắp giáo hóa hơn cho người dân.

L.

Chú thích 1: Thomas Tyers in his Historical Essay on Mr. Addison (1783) first named Sir John Pakington, of Westwood, Worcestershire, as the original of Sir Roger de Coverley. But there is no real parallel. Sir John, as Mr. W. H. Wills has pointed out in his delightful annotated collection of the Sir Roger de Coverley papers, was twice married, a barrister, Recorder of the City of Worcester, and M. P. for his native county, in every Parliament but one, from his majority till his death. The name of Roger of Coverley applied to a contre-danse (i.e. a dance in which partners stand in opposite rows) Anglicised Country-Dance, was ascribed to the house of Calverley in Yorkshire, by an ingenious member thereof, Ralph Thoresby, who has left a MS. account of the family written in 1717. Mr. Thoresby has it that Sir Roger of Calverley in the time of Richard I had a harper who was the composer of this tune; his evidence being, apparently, that persons of the name of Harper had lands in the neighbourhood of Calverley. Mr. W. Chappell, who repeats this statement in his Popular Music of the Olden Time, says that in a MS. of the beginning of the last century, this tune is called 'Old Roger of Coverlay for evermore. A Lancashire Hornpipe.' In the Dancing Master of 1696. it is called ' Roger of Coverly.' Mr. Chappell quotes also, in illustration of the familiar knowledge of this tune and its name in Addison's time, from 'the History of Robert Powell, the Puppet Showman (1715),' that 'upon the Preludis being ended, each party fell to bawling and calling for particular tunes. The hobnail'd fellows, whose breeches and lungs seem'd to be of the same leather, cried out for Cheshire Rounds, Roger of Coverly,' &c. return to footnote mark

Chú thích 2: I required return

Chú thích 3: that return

Chú thích 4: Archbishop Tillotson's Sermons appeared in 14 volumes, small 8vo, published at intervals; the first in 1671; the second in 1678; the third in 1682; the fourth in 1694; and the others after his death in that year. Robert Sanderson, who died in 1663, was a friend of Laud and chaplain to Charles I, who made him Regius Professor of Divinity at Oxford. At the Restoration he was made Bishop of Lincoln. His fame was high for piety and learning. The best edition of his Sermons was the eighth, published in 1687: Thirty-six Sermons, with Life by Izaak Walton. Isaac Barrow, Theologian and Mathematician, Cambridge Professor and Master of Trinity, died in 1677. His Works were edited by Archbishop Tillotson, and include Sermons that must have been very much to the mind of Sir Roger de Coverley, Against Evil Speaking. Edmund Calamy, who died in 1666, was a Nonconformist, and one of the writers of the Treatise against Episcopacy called, from the Initials of its authors, Smeetymnuus, which Bishop Hall attacked and John Milton defended. Calamy opposed the execution of Charles I and aided in bringing about the Restoration. He became chaplain to Charles II, but the Act of Uniformity again made him a seceder. His name, added to the other three, gives breadth to the suggestion of Sir Roger's orthodoxy. return

Mục lục

Số 107 Thứ Ba, ngày 3 tháng 7 năm 1711 Steele

Æsopo ingentem statuam posuere Attici,

Servumque collocârunt Æterna in Basi,

Patere honoris scirent ut Cuncti viam.

Phæd.

Sự tiếp đón, cách thức phục vụ, sự tự do không bị quấy rầy và sự tĩnh lặng mà tôi bắt gặp ở đây tại miền quê đã củng cố niềm tin vẫn có từ trước tới nay của tôi rằng: Sự suy đồi chung về đạo đức của tầng lớp gia nhân hoàn toàn bắt nguồn từ hạnh kiểm của các ông chủ. Vẻ mặt của từng người trong gia đình mang lại sự thỏa mãn lớn đến mức dường như ai nấy đều ý thức được cái phước lành hạnh phúc đã giáng xuống đời mình khi được làm thành viên của nó. Có một chi tiết cụ thể mà tôi hiếm khi thấy ở đâu ngoài dinh thự của Sir Roger; đó là ở tất cả các nơi khác, gia nhân thường né tránh những khu vực trong nhà mà chủ nhân đang bước qua; ngược lại, ở đây họ cố tình đặt mình vào lối đi của ông; và điều đó ở cả hai phía đều được ngầm hiểu như một buổi thăm viếng, khi đám đầy tớ xuất hiện mà không cần gọi. Điều này xuất phát từ tính tình nhân hậu và bình đẳng của chủ nhà, người cũng hiểu rõ cách tận hưởng một gia sản lớn với sự tiết kiệm sao cho luôn dư dả một khoảng dài phía trước. Điều đó làm cho tâm trí ông được thảnh thơi, và do đó không có xu hướng thốt ra những lời cáu kỉnh, hay đưa ra những mệnh lệnh nóng nảy hoặc bất nhất với những người xung quanh. Nhờ thế mà sự kính trọng và tình yêu đi đôi với nhau; và một sự vui vẻ nhất định trong việc thực thi bổn phận chính là điểm đặc trưng riêng của phần dưới trong gia đình này. Khi một người hầu được gọi trước mặt chủ, anh ta không bước ra với sự mong chờ bị mắng mỏ vì một lỗi lầm vặt vãnh nào đó, bị đe dọa lột sạch quần áo hay bị đối xử bằng thứ ngôn ngữ khó nghe mà những ông chủ tồi hay dành cho những người hầu đáng kính; mà thường là để được hỏi xem anh ta đã đi con đường nào mà về đích nhanh chóng theo đúng lệnh, liệu anh ta có đi qua cánh đồng nọ không, người lão nông thuê nó có khỏe mạnh không, hay anh ta đã chuyển lời thăm của Sir Roger tới ông ấy chưa, v.v..

Một người duy trì được sự tôn kính, được xây dựng trên nền tảng sự nhân từ đối với những người phụ thuộc, sống giống một vị hoàng tử hơn là một ông chủ trong gia đình mình; các mệnh lệnh của ông được đón nhận như những ân huệ hơn là các bổn phận; và sự phân biệt được tiếp cận ông là một phần của phần thưởng cho việc thực thi những gì được ông sai bảo.

Có một chi tiết khác trong cách quản lý mà người bạn của tôi xuất sắc hơn người, đó là cách thưởng cho gia nhân: Ông luôn ôm quan điểm rằng việc đem những bộ quần áo cũ của mình cho các valet mặc mang lại tác động rất xấu đối với những tâm hồn nhỏ nhen, đồng thời tạo ra một cảm giác bình đẳng ngớ ngẩn giữa các bên ở những kẻ chỉ bị ấn tượng bởi những thứ bề ngoài. Tôi từng nghe ông pha trò vui vẻ trong dịp này, và miêu tả một quý ông trẻ tuổi mắng mỏ người hầu của mình ngay trong chiếc áo khoác mà một hoặc hai tháng trước từng là sự phân biệt làm ông ta tự hào nhất về bản thân. Ông còn lái câu chuyện hướng về những món quà hậu hĩnh kiểu này của phụ nữ một cách thú vị hơn nữa; và tôi từng nghe ông kể rằng ông biết một quý bà xinh đẹp phân bố thưởng phạt bằng cách trao những trang phục hợp mốt hoặc kệch cỡm cho các nữ tỳ của mình.

Nhưng người bạn hiền của tôi đứng cao hơn những biểu hiện thiện chí nhỏ nhặt ấy trong việc chỉ ban phát những món quà vặt vãnh cho gia nhân; một người hầu tốt đối với ông chắc chắn sẽ có quyền lựa chọn rất sớm việc không còn làm người hầu nữa. Như tôi đã quan sát trước đó, ông là một người quản lý giỏi, và hiểu tường tận rằng kỹ năng về túi tiền là đức hạnh cốt lõi của cuộc đời này; tôi muốn nói, ông hiểu rõ rằng sự tiết kiệm là bệ đỡ cho lòng hào hiệp, thế nên ông thường có thể bỏ qua một khoản tiền phạt lớn khi một căn nhà trọ hết hạn hợp đồng, và trao quyền định cư đó cho một người hầu tốt có ý định ra lập nghiệp ngoài xã hội, hoặc bắt một kẻ xa lạ trả khoản tiền phạt đó cho người hầu ấy, nhằm giúp anh ta có được sự duy trì cuộc sống thoải mái hơn nếu anh ta tiếp tục ở lại phục vụ.

Một người có danh dự và lòng hào hiệp hiểu rằng sẽ là sự khốn khổ cho chính bản thân nếu không có ý chí nào ngoài ý chí của kẻ khác, dẫu đó là người tuyệt vời nhất trên đời, và vì lý do đó, ông nhanh chóng tiến hành đưa các gia nhân của mình đến với những sinh kế tự lập. Phần lớn gia sản của Sir Roger được cho thuê bởi những người từng phục vụ chính ông hoặc tổ tiên ông. Đối với tôi, việc quan sát những vị khách từ khắp nơi đến chào mừng sự trở về miền quê của ông là một điều vô cùng thú vị; và tất cả sự khác biệt mà tôi có thể nhận thấy giữa những người hầu cũ đến thăm ông và những người ở lại trong gia đình là nhóm sau trông giống những quý ông lịch lãm hơn và là những cận thần khéo léo hơn.

Việc giải phóng nô lệ và đưa họ vào con đường sinh kế này được tôi xem xét chỉ là những gì nợ một người hầu tốt, sự khích lệ sẽ khiến người kế nhiệm anh ta siêng năng, khiêm nhường và sẵn sàng hệt như anh ta. Có điều gì đó kỳ lạ trong sự chật hẹp của những tâm hồn có thể thấy vui vẻ nhưng lại cạn kiệt sự ban phát đối với những kẻ làm họ vui lòng.

Người ta có thể, trong dịp này, kể lại ý thức mà những nhân vật vĩ đại qua mọi thời đại từng có đối với công lao của những người phụ thuộc vào họ, cùng những chiến công anh hùng mà con người từng làm cho các ông chủ của mình trong tận cùng nghịch cảnh; và chứng minh cho những vị bảo hộ sa cơ thấy rằng vận may chính là tất cả sự khác biệt giữa họ; nhưng vì tôi thiết kế bài luận này chỉ như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng cho những ông chủ vong ân bội nghĩa, tôi sẽ không vượt ra ngoài các sự cố của đời sống thông thường, mà khẳng định như một quan sát chung rằng tôi chưa từng thấy, ngoại trừ trong gia đình của Sir Roger và một hoặc hai nơi khác, những người hầu tốt được đối xử đúng mực. Sự tử tế của Sir Roger vươn tới cả con cháu của họ, và ngay sáng nay ông đã cử cháu nội của người đánh xe đi học nghề. Tôi xin khép lại bài viết này bằng một bức tranh trong phòng trưng bày của ông, nơi có rất nhiều tác phẩm sẽ xứng đáng nhận được sự quan sát trong tương lai của tôi.

Ngay ở phía trên cùng của cấu trúc đẹp đẽ này, tôi nhìn thấy bức chân dung của hai chàng trai trẻ đang đứng dưới một dòng sông, một người khỏa thân, người kia mặc đồng phục gia nhân. Người được nâng đỡ trông có vẻ bán sống bán chết, nhưng vẫn còn đủ sống để thể hiện trên khuôn mặt niềm vui sướng tột cùng và tình yêu đối với người kia. Tôi nghĩ hình bóng ngất xỉu ấy trông giống người bạn Sir Roger của tôi; và khi nhìn người quản gia đứng cạnh để hỏi về nó, ông thông báo rằng người mặc đồng phục là một gia nhân của Sir Roger, người đứng trên bờ trong lúc chủ nhân đang bơi, và quan sát thấy ông gặp cơn bạo bệnh đột ngột, chìm nghỉm dưới mặt nước, liền lao xuống cứu ông. Ông kể rằng Sir Roger đã cởi bỏ bộ trang phục đang mặc ngay khi về đến nhà, và bằng một khoản tiền thưởng hậu hĩnh vào lúc đó, tiếp nối bằng sự sủng ái của ông từ đó đến nay, đã biến anh ta thành chủ nhân của cái dinh thự xinh đẹp mà chúng ta nhìn thấy từ xa khi đến ngôi nhà này. Quả thực tôi nhớ Sir Roger từng nói có một vị quý ông rất đáng kính sống ở đây, người mà ông mang ơn ngập đầu, mà không hề nhắc thêm điều gì khác. Khi tôi trông có vẻ không hài lòng trước một phần của bức tranh, người hướng dẫn thông báo rằng đó là ý nguyện trái ngược của Sir Roger, và theo lời khẩn khoản thiết tha của chính vị quý ông nọ, ông được phác họa trong bộ trang phục mà ông từng dùng để cứu chủ nhân của mình.

R.

Chú thích 1: a return to footnote mark

Mục lục

Số 108 Thứ Tư, ngày 4 tháng 7 năm 1711 Addison

Gratis anhelans, multa agendo nihil agens.

Phæd.

Khi tôi đang đi dạo cùng Sir Roger trước nhà vào sáng hôm qua, một nông dân mang đến cho ông một con cá khổng lồ, và thưa rằng ông William Wimble1 đã bắt được nó vào chính sáng hôm đó; và rằng ông ấy gửi nó kèm theo lời chào thăm, đồng thời dự định sẽ đến dùng bữa trưa với ông. Cùng lúc đó, anh ta trao một bức thư mà người bạn của tôi đọc cho tôi nghe ngay khi người đưa tin rời đi.

Sir Roger,

"Tôi muốn ngài chấp nhận một con cá tráp (jack), đây là con ngon nhất tôi bắt được trong mùa này. Tôi dự định đến ở lại với ngài một tuần, và xem cá rô cắn câu thế nào ở Sông Đen. Tôi quan sát thấy với một chút lo lắng, lần cuối gặp ngài trên sân bóng lăn, chiếc roi da của ngài bị rách mất đuôi roi; tôi sẽ mang theo nửa tá chiếc do tôi bện tuần trước, hy vọng chúng sẽ phục vụ ngài suốt thời gian ngở ở miền quê. Tôi đã không rời khỏi yên ngựa trong sáu ngày qua, vì bận đến Eaton với con trai cả của Sir John. Cậu ta tiếp thu kiến thức rất mạnh mẽ. Thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường của ngài,

Will. Wimble."

Bức thư phi thường và thông điệp đi kèm này làm tôi vô cùng tò mò muốn biết tính cách và phẩm chất của vị quý ông đã gửi chúng; thứ mà tôi phát hiện ra như sau.

Will Wimble là em trai của một nam tước, và xuất xứ từ dòng dõi cổ xưa nhà Wimbles. Hiện tại anh ta ở độ tuổi từ bốn mươi đến năm mươi; nhưng vì không được rèn luyện nghề nghiệp nào và sinh ra không có cơ ngơi, anh ta thường sống với người anh trai trong vai trò quản lý thú săn. Anh ta lùa bầy chó săn giỏi hơn bất kỳ ai trong vùng, và rất nổi tiếng trong việc tìm ra dấu vết con thỏ rừng. Anh ta cực kỳ am hiểu mọi ngóc ngách thủ công lặt vặt của một kẻ ăn không ngồi rồi: Anh ta làm ruồi giả câu cá (May-fly) tuyệt đỉnh; và cung cấp cần câu cho cả vùng. Vì là một gã thân thiện thích xía vào chuyện người khác và rất được kính trọng nhờ gia thế, anh ta là một vị khách được chào đón ở mọi ngôi nhà, đồng thời duy trì mối quan hệ tốt đẹp với tất cả các quý ông xung quanh. Anh ta mang củ hoa tulip trong túi đi từ nhà này sang nhà khác, hay trao đổi củ hoa anh túc giữa một đôi bạn sống có lẽ ở hai đầu đối diện của hạt.

Will là cưng của tất cả những người thừa kế trẻ tuổi, những người thường được anh ta tặng cho một chiếc lưới do chính tay anh ta đan, hoặc một con chó đánh hơi (setting-dog) do chính anh ta tự tay huấn luyện; thỉnh thoảng anh ta tặng một cặp vớ tự đan cho mẹ hoặc chị em của họ, và tạo ra rất nhiều tiếng cười giữa họ bằng cách hỏi mỗi khi gặp mặt rằng họ mang vớ thế nào? Những sản phẩm thủ công mang phong cách quý ông và những sở thích nhỏ nhặt ân cần này biến Will thành đứa con cưng của vùng quê.

Sir Roger đang tiếp tục miêu tả tính cách của anh ta thì chúng tôi thấy anh ta tiến về phía chúng tôi với hai hoặc ba cành phỉ trên tay do chính tay anh ta chặt trong các khu rừng của Sir Roger khi đi ngang qua trên đường đến nhà. Tôi vô cùng hài lòng khi quan sát thấy một bên là sự chào đón nồng hậu và chân thành mà Sir Roger dành cho anh ta, còn bên kia là niềm vui thầm kín lộ rõ trên nét mặt vị khách khi nhìn thấy vị hiệp sĩ già nhân hậu. Sau những lời chào hỏi ban đầu, Will nài nỉ Sir Roger cho mượn một người hầu để mang một bộ cầu lông (shuttlecocks) có trong chiếc hộp nhỏ của anh ta đến cho một quý cô sống cách đó khoảng một dặm, người mà dường như anh ta đã hứa tặng món quà đó từ hơn nửa năm nay.

Lưng Sir Roger vừa quay đi là anh bạn chân chất Will bắt đầu kể cho tôi nghe về một con gà lôi lớn mà anh ta vừa làm cho bay vụt lên từ một trong những khu rừng lân cận, cùng hai ba cuộc phiêu lưu có tính chất tương tự. Những nhân vật kỳ quặc và bất thường là loại mồi mà tôi tìm kiếm và thích thú nhất; vì lý do đó tôi vô cùng thích thú trước sự mới mẻ của nhân vật đang trò chuyện với mình, hệt như anh ta có thể hào hứng với việc làm bay vụt một con gà lôi, và do đó lắng nghe anh ta với sự chú ý hơn bình thường.

Giữa lúc anh ta đang trò chuyện thì chuông reo báo giờ ăn trưa, nơi vị quý ông mà tôi vừa nhắc đến có niềm vui được nhìn thấy con cá tráp khổng lồ do chính tay mình bắt được dọn lên làm món khai vị theo cách vô cùng thịnh soạn. Khi chúng tôi ngồi vào bàn, anh ta kể một tràng dài cách anh ta móc câu, đùa giỡn với nó, làm cho nó mệt lả rồi cuối cùng kéo nó lên bờ, kèm theo một số chi tiết kéo dài suốt món khai vị đầu tiên. Một đĩa thịt thú rừng dọn ra sau đó đã cung cấp câu chuyện cho phần còn lại của bữa ăn, kết thúc bằng phát minh muộn màng của Will nhằm cải tiến chiếc còi nhử chim cút (quail-pipe).

Khi lui về phòng sau bữa trưa, tôi thầm cảm thấy xót xa cho vị quý ông chân chất từng dùng bữa cùng chúng tôi; và không khỏi suy ngẫm với rất nhiều bận tâm rằng tại sao một trái tim tốt đẹp và những bàn tay bận rộn lại hoàn toàn bị chôn vùi vào những chuyện vặt vãnh; rằng tại sao rất nhiều sự nhân ái lại mang lại ít lợi ích cho người khác đến thế, và sự siêng năng lại ít đem lại lợi thế cho chính mình đến vậy. Tâm trạng và sự ứng dụng vào công việc tương tự lẽ ra đã có thể giới thiệu anh ta đến sự kính trọng của công chúng, và nâng cao vận may của anh ta ở một trật tự cuộc sống khác. Điều tốt đẹp nào cho đất nước hay cho chính mình mà một thương gia hay nhà buôn không thể làm được với những phẩm chất hữu ích dẫu bình thường như thế?

Trường hợp của Will Wimble là cảnh ngộ của rất nhiều người con trai thứ trong một gia đình lớn, những kẻ thà nhìn con cái mình chết đói như những quý ông còn hơn là phát đạt trong một nghề nghiệp hay thương mại bị xem là hạ thấp phẩm giá của họ. Thói quen này lấp đầy nhiều nơi ở châu Âu bằng sự kiêu ngạo và cảnh ăn mày. Đó là niềm may mắn của một quốc gia thương mại như chúng ta, khi những người con trai thứ, dẫu không có năng lực trong bất kỳ nghệ thuật hay nghề nghiệp tự do nào, vẫn có thể được đặt vào một con đường sống có lẽ đủ sức giúp họ cạnh tranh với những người giỏi nhất trong gia đình mình: Theo đó, chúng ta thấy rất nhiều công dân bước ra thế giới với cơ ngơi khiêm tốn, vươn lên nhờ sự siêng năng trung thực để đạt được gia sản lớn hơn cả những người anh trai của họ. Không loại trừ khả năng Will từng được thử sức với thần học, luật pháp hoặc y học; và nhận thấy thiên hướng của mình không nằm ở đó, cha mẹ cuối cùng đã buông tay để anh ta tự do với những sáng chế của chính mình. Nhưng chắc chắn, dù anh ta có không thích hợp thế nào đối với các nghiên cứu mang tính chất cao cả hơn, anh ta lại hoàn toàn thích hợp cho các hoạt động buôn bán và thương mại. Vì tôi nghĩ đây là một điểm không thể nhấn mạnh quá mức, tôi sẽ yêu cầu độc giả so sánh những gì tôi đã viết ở đây với những gì tôi từng nói trong bài luận Thứ Hai mươi mốt của mình.

L.

Chú thích 1: Will Wimble has been identified with Mr. Thomas Morecraft, younger son of a Yorkshire baronet. Mr. Morecraft in his early life became known to Steele, by whom he was introduced to Addison. He received help from Addison, and, after his death, went to Dublin, where he died in 1741 at the house of his friend, the Bishop of Kildare. There is no ground for this or any other attempt to find living persons in the creations of the Spectator, although, because lifelike, they were, in the usual way, attributed by readers to this or that individual, and so gave occasion for the statement of Pudgell in the Preface to his Theophrastus that 'most of the characters in the Spectator were conspicuously known.' The only original of Will Wimble, as Mr. Wills has pointed out, is Mr. Thomas Gules of No. 256 in the Tatler. return to footnote mark

Chú thích 2: begun return

Mục lục

Số 109 Thứ Năm, ngày 5 tháng 7 năm 1711 Steele

Abnormis sapiens ...

Hor.

Sáng nay tôi đang đi dạo trong hành lang thì Sir Roger bước vào từ đầu đối diện, và tiến về phía tôi, nói rằng ông rất vui khi được gặp tôi giữa những người họ hàng nhà De Coverley của mình, và hy vọng tôi thích sự bầu bạn của ngấy ngây ngần ấy những con người tốt bụng vốn im lặng chẳng kém gì tôi. Tôi biết ông đang ám chỉ những bức tranh, và vì ông là một quý ông rất tự hào về dòng dõi cổ xưa của mình, tôi chờ đợi ông kể cho tôi nghe một vài câu chuyện về chúng. Lúc này chúng tôi đã đến đầu trên của hành lang, vị hiệp sĩ quay mặt về phía một bức tranh và khi chúng tôi đứng trước nó, ông bắt đầu câu chuyện theo cách nói thẳng thừng của mình về mọi thứ khi chúng hiện lên trong trí tưởng tượng, không có phần giới thiệu rườm rà hay bận tâm giữ gìn vẻ bề ngoài của một chuỗi suy nghĩ.

"Đáng để cân nhắc," ông nói, "sức mạnh của trang phục; và cách con người của thời đại này khác biệt với thời đại khác, hoàn toàn chỉ nhờ vào điều đó. Người ta cũng có thể quan sát thấy trào lưu chung của một thời đại từng được tuân theo bởi một nhóm người cụ thể ở thời đại khác, và được họ gìn giữ từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cứ thế, chiếc áo khoác phồng to khổng lồ và chiếc mũ trùm đầu nhỏ, thứ trang phục thời Vua Henry VII, vẫn được giữ lại ở đội Cận vệ Yeomen; không phải là không có tầm nhìn chính trị hay ho, bởi vì chúng làm họ trông cao hơn một thước và rộng hơn một thước rưỡi: Chưa kể chiếc mũ để lộ toàn bộ khuôn mặt, do đó trông dữ dội hơn, và thích hợp hơn để đứng canh gác tại lối vào các cung điện.

Tiền bối này của chúng ta, ngài thấy đấy, ăn mặc theo kiểu này, và má của ông ấy sẽ chẳng to hơn má tôi đâu, nếu ông ấy đội mũ phớt như tôi. Ông ấy là người cuối cùng giành được giải thưởng tại Sân thi đấu giáo mác (Tilt-Yard, nay là một con đường chung trước Whitehall1). Ngài thấy chiếc giáo gãy nằm kia bên chân phải của ông ấy không; ông ấy đã đập nát ngọn giáo của đối thủ ra thành trăm mảnh; và tự ngự trị, ngài xem này, thưa ngài, theo cách này, đồng thời lọt vào tầm ngắm của quý ông cưỡi ngựa lao về phía mình với một lực kinh hoàng ngay trên phần múp của yên ngựa, ông ấy cứ thế phi ngựa qua trận đấu, với một điệu bộ cho thấy ông làm thế chủ yếu để thực thi quy định của trường đấu hơn là vạch trần kẻ thù; tuy nhiên, rõ ràng ông biết cách tận hưởng chiến thắng, và với một bước kiệu nhẹ nhàng, ông tiến đến một phòng trưng bày nơi các quý bà ngồi (vì họ là đối thủ của nhau) và hạ gã xuống với sự nhã nhặn đáng khen ngợi cùng sự ngông cuồng có thể tha thứ. Tôi không biết chừng đó có phải chính là vị trí của quán cà phê hiện nay không.

Ngài phải biết tổ tiên này của tôi không chỉ có tư chất nhà binh mà còn thích hợp cho các nghệ thuật hòa bình, bởi vì ông chơi đàn viol bass giỏi chẳng kém bất kỳ quý ông nào tại triều đình; ngài thấy cây viol của ông treo ở đâu cạnh thanh gươm chuôi giỏ không. Sự kiện tại sân thi đấu chắc chắn đã chiến thắng người đẹp, người từng là một Nữ quan danh dự và là tuyệt sắc giai nhân thời bấy giờ; nàng đứng kia, bức tranh kế tiếp. Ngài thấy đấy, thưa ngài, Cụ Kỵ Ngoại của tôi mặc chiếc váy dài tân thời, ngoại trừ việc trang phục hiện đại được nhún ở eo; bà cố của tôi trông như thể đang đứng bên trong một cái trống lớn, trong khi các quý cô ngày nay đi lại hệt như đang ở trong một chiếc xe đẩy tập đi (go-cart). Dù vị phu nhân này được nuôi dưỡng tại triều đình, bà trở thành một người vợ nhà quê xuất sắc, sinh cho chồng mười đứa con, và khi tôi cho ngài xem thư viện, ngài sẽ tận mắt thấy bằng chính nét chữ của bà (châm chước cho sự khác biệt về ngôn ngữ) công thức nấu ăn ngon nhất hiện có ở Anh cho cả món cháo đặc (hasty-pudding) lẫn món bánh trắng (white-pot)2.

Nếu ngài vui lòng lùi lại một chút, bởi vì cần phải ngắm ba bức tranh kế tiếp cùng một lúc; đây là ba chị em. Người ở bên phải, người vô cùng xinh đẹp đó, mất đi mà vẫn giữ thân phận trinh nữ; người kế tiếp, thậm chí còn đẹp hơn thế, chịu chung số phận, dù không hề muốn; thứ tầm thường ở giữa gom cả phần của hai người kia cộng vào phần của mình, và bị cuỗm đi bởi một người hàng ngàn láng giềng, một kẻ đầy mưu lược và quyết tâm, bởi vì hắn đã bỏ độc ba con chó ngao để tiếp cận nàng, và quật ngã hai kẻ trộm nai khi cướp nàng đi. Những tai ương xảy ra trong mọi gia đình: Vụ trộm cô nàng ngổ ngáo này cùng số tiền lớn chẳng là gì to tát đối với gia sản của chúng ta. Nhưng người kế tiếp thừa kế nó lại chính là chàng trai ủy mị mà ngài thấy ở kia: Hãy quan sát những chiếc cúc nhỏ, đôi giày nhỏ, những đường ren, những đường xẻ rạch trên quần áo của ông ta, và trên hết là tư thế mà ông ta được vẽ (chắc chắn là do chính ông ta chọn); ngài thấy ông ta ngồi với một tay đặt trên bàn viết đang viết lãng du, và nhìn đi hướng khác, giống như một nhà văn tự do, hay một nhà thơ trữ tình: Ông ta là một trong những kẻ có quá nhiều sự thông minh đến mức chẳng biết cách sống trên đời; ông ta là một con người thiếu vắng công lý nhưng thừa thãi phép lịch sự; ông ta làm khánh kiệt bất cứ ai dính líu đến mình nhưng chưa từng thốt ra một lời thô lỗ trong đời; là kẻ vô tích sự nhất thế gian, ông ta sẽ ký một văn bản tước đi nửa gia sản với đôi găng tay trên tay, nhưng kiên quyết không đội mũ trước mặt một quý cô dù có phải cứu lấy đất nước. Người ta đồn rằng ông ta là kẻ đầu tiên tán tỉnh bằng cách bóp tay. Ông ta để lại cơ ngơi với khoản nợ mười ngàn bảng treo trên đầu, nhưng dẫu sao từ mọi phía tôi được thông báo rằng ông ta đích thực là quý ông bảnh bao nhất thế gian theo mọi nghĩa. Khoản nợ đó đè nặng lên gia tộc chúng ta trong một thế hệ, nhưng được cứu vãn bởi một món quà từ người chân chất mà ngài thấy ở kia, một công dân cùng họ với chúng ta, nhưng hoàn toàn không có họ hàng gì với chúng ta cả. Tôi biết ngài Andrew Freeport từng nói sau lưng tôi rằng người đàn ông này xuất thân từ một trong mười người con của Nữ quan danh dự mà tôi vừa giới thiệu với ngài ở trên; nhưng điều đó chưa bao giờ được chứng thực. Quả thực chúng ta phớt lờ chuyện đó, bởi vì tiền bạc lúc bấy giờ đang thiếu thốn.

Tại đây tôi thấy người bạn của mình có đôi chút lúng túng, và quay mặt về phía bức chân dung kế tiếp.

Sir Roger tiếp tục câu chuyện về phòng trưng bày theo cách sau:

"Người đàn ông này (chỉ vào kẻ tôi đang ngắm) tôi cho là niềm vinh quang của gia tộc chúng ta. Sir Humphrey De Coverley; trong các giao dịch, ông đúng giờ như một nhà buôn, và hào hiệp như một quý ông. Ông sẽ tự thấy mình khánh kiệt nếu nuốt lời hứa, hệt như thể điều đó bị theo sau bởi sự phá sản. Ông phục vụ đất nước với tư cách là Hiệp sĩ của hạt này cho đến tận ngày ngài nhắm mắt xuôi tay. Ông thấy việc duy trì sự chính trực trong lời nói và hành động chẳng hề dễ dàng, ngay cả trong những thứ liên quan đến các chức vụ đè nặng lên vai trong việc chăm sóc công việc riêng và các mối quan hệ trong đời, và do đó rất e sợ (dẫu sở hữu những tài năng lớn) khi bước vào các chức vụ nhà nước, nơi ông phải đối mặt với cạm bẫy của tham vọng. Sự ngây thơ trong lối sống và năng lực lớn lao là những phần nổi bật trong tính cách của ông; năng lực sau, ông từng quan sát thấy, đã dẫn đến sự hủy diệt của điều trước, và thường xuyên than thở rằng 'Vĩ đại' và 'Tốt đẹp' không mang cùng một ý nghĩa. Ông là một nhà nông học xuất sắc, nhưng đã quyết định không vượt quá một mức độ tài sản nhất định; tất cả những gì vượt qua mức đó ông dùng để ban những ân huệ bí mật nhiều năm sau khi đạt được tổng số tiền nhắm đến cho mục đích sử dụng cá nhân. Tuy nhiên, ông không chùng tay trong sự siêng năng, mà cho đến tuổi già thanh lịch vẫn dành cuộc đời và gia sản vốn thừa thãi đối với bản thân để phục vụ bạn bè và hàng xóm."

Đúng lúc ấy chúng tôi được gọi vào dùng bữa trưa, và Sir Roger khép lại bài diễn thuyết về vị quý ông này bằng cách bảo tôi, trong lúc chúng tôi đi theo người hầu, rằng tổ tiên này của ông là một người dũng cảm và suýt chút nữa mất mạng trong Nội chiến;

"Bởi vì," ông nói, "ông ấy được cử ra khỏi chiến trường để mang một thông điệp riêng, ngay ngày hôm trước Trận chiến Worcester."

Sự kỳ quặc của việc suýt mất mạng chỉ vì ở cách vạch hiểm họa đúng một ngày, cùng các vấn đề khác được nhắc đến ở trên, pha trộn với sự khôn ngoan lành mạnh, làm tôi bối rối không biết mình nên thích thú hơn trước sự khôn ngoan hay sự ngây thơ của người bạn mình.

R.

Chú thích 1: When Henry VIII drained the site of St. James's Park he formed, close to the Palace of Whitehall, a large Tilt-yard for noblemen and others to exercise themselves in jousting, tourneying, and fighting at the barriers. Houses afterwards were built on its ground, and one of them became Jenny Man's "Tilt Yard Coffee House." The Paymaster-General's office now stands on the site of it. return to footnote mark

Chú thích 2: A kind of Custard. return

Mục lục

Số 110 Thứ Sáu, ngày 6 tháng 7 năm 1711 Addison

Horror ubique animos, simul ipsa silentia terrent.

Virg.

Cách không xa dinh thự của Sir Roger, giữa những tàn tích của một tu viện cổ, có một lối đi dài rợp bóng những cây du già; những cây du vươn cao đến mức khi người ta bước qua dưới tán lá của chúng, lũ quạ và vẹt đậu trên ngọn dường như đang kêu quác quác ở một cõi trời khác. Tôi vô cùng thích thú với thứ âm thanh này, thứ mà tôi xem như một dạng cầu nguyện tự nhiên gửi đến Đấng cung cấp nhu cầu cho toàn thể tạo vật của Ngài, và Đấng mà trong ngôn ngữ tuyệt đẹp của các Thánh vịnh, nuôi dưỡng những chú quạ non gọi đến Ngài.

Tôi thích chốn ẩn cư1 này hơn, bởi vì nó mang tiếng xấu là bị ma ám; chính vì lý do đó (như tôi được kể trong gia đình) chẳng một sinh linh nào dám bén mảng bước chân vào đây sau khi mặt trời lặn ngoài vị linh mục. Người quản gia nhân hậu của tôi với một gương mặt rất nghiêm trang đã nài nỉ tôi đừng mạo hiểm dấn thân vào đó sau hoàng hôn, bởi vì một trong những tên đầy tớ suýt chết khiếp vì hồn ma hiện hình dưới hình dạng một con ngựa đen không đầu; và ông nói thêm rằng khoảng một tháng trước, một cô hầu phòng đi làm về muộn qua lối đó với một thùng sữa trên đầu, đã nghe thấy tiếng sột soạt trong bụi rậm đến mức làm rơi cả thùng sữa.

Tôi đang đi dạo tại nơi này tối qua trong khoảng thời gian từ chín đến mười giờ, và không thể không nghĩ rằng đây là một trong những khung cảnh thích hợp nhất trên đời cho một hồn ma xuất hiện. Những tàn tích của tu viện nằm rải rác ở mọi hướng, và phủ một nửa bởi dây thường xuân cùng những bụi cơm cháy, những ổ trú ẩn của nhiều loài chim cô độc hiếm khi xuất hiện cho đến tận chạng vạng buổi chiều. Nơi đây từng là một nghĩa trang, và vẫn mang vài dấu vết của mồ mả và nơi chôn cất. Có một tiếng vang vọng giữa những tàn tích cũ và các hầm mộ đến mức nếu bạn dậm chân mạnh hơn bình thường một chút, bạn sẽ nghe thấy âm thanh lặp lại. Cùng lúc đó, hàng cây du, kết hợp với tiếng kêu quạ thỉnh thoảng vang lên từ ngọn của chúng, trông vô cùng trang nghiêm và đáng kính. Những đối tượng này tự nhiên khơi gợi sự nghiêm túc và tập trung chú ý; và khi màn đêm làm tăng thêm sự kinh hãi của nơi chốn, đồng thời trút xuống mọi nỗi sợ hãi siêu số lượng lên vạn vật trong đó, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên khi những tâm hồn yếu đuối lấp đầy nó bằng những bóng ma và sự hiện hình.

Ông Locke, trong chương về Sự liên kết các ý niệm, có những nhận xét vô cùng thú vị nhằm cho thấy qua định kiến giáo dục, một ý niệm thường đưa vào tâm trí cả một tập hợp các ý niệm chẳng mang chút điểm tương đồng nào với nhau trong bản chất của vạn vật. Trong số vài ví dụ có tính chất này, ông đưa ra trường hợp sau:

"Ý niệm về quêu quắt và yêu tinh thực ra chẳng liên quan gì đến bóng tối hơn là ánh sáng: Thế nhưng, cứ để một mụ hầu ngốc nghếch nhồi nhét những điều này nhiều lần vào tâm trí một đứa trẻ, và cấy chúng ở đó cùng nhau, có lẽ đứa trẻ ấy sẽ chẳng bao giờ có thể tách rời chúng ra nữa chừng nào còn sống; mà bóng tối sẽ mãi mãi mang theo những ý niệm kinh hoàng đó, và chúng sẽ gắn kết chặt chẽ đến mức đứa trẻ không thể chịu đựng cái này cũng hệt như không thể chịu đựng cái kia2."

Trong lúc tôi đang đi dạo trong chốn hoang vu này, nơi chạng vạng buổi chiều cộng hưởng với bao cơ hội gây sợ hãi khác, tôi quan sát thấy một con bò đang gặm cỏ cách đó không xa, thứ mà một trí tưởng tượng dễ hoảng sợ hoàn toàn có thể diễn dịch thành một con ngựa đen không đầu; và tôi dám cá rằng tên đầy tớ tội nghiệp đã mất hồn vì một dịp lặt vặt như thế.

Người bạn Sir Roger của tôi từng nhiều lần kể lại với rất nhiều niềm vui rằng khi mới thừa kế gia sản, ông thấy ba phần căn nhà hoàn toàn vô tích sự; rằng căn phòng đẹp nhất mang tiếng là bị ma ám, và vì lý do đó bị khóa chặt; rằng những tiếng động lạ từng phát ra trong hành lang dài của ông, đến mức ông chẳng thể kiếm nổi một người hầu dám bước vào đó sau tám giờ tối; rằng cửa của một trong các phòng ngủ bị đóng đinh lại, bởi vì trong gia đình lan truyền câu chuyện rằng một người quản gia từng treo cổ tự tử ở đó; và rằng mẹ ông, người thọ đến tuổi cao niên, đã đóng cửa một nửa số phòng trong nhà, nơi chồng, con trai hoặc con gái của bà từng qua đời.

Vị hiệp sĩ nhìn thấy chốn cư ngụ của mình bị thu hẹp vào3 một phạm vi nhỏ bé như thế, và bản thân bị cô lập khỏi chính ngôi nhà của mình, ngay sau cái chết của người mẹ đã ra lệnh mở toang tất cả các phòng4, và được trừ tà bởi vị tuyên úy, người đã ngủ qua từng phòng này đến phòng khác, và nhờ phương pháp đó đã xua tan những nỗi sợ hãi từng ngự trị lâu ngày trong gia đình.

Tôi đã không đi vào chi tiết như thế về những nỗi kinh hoàng nực cười này, nếu không nhận thấy chúng hoành hành quá mức ở mọi ngóc ngách miền quê. Cùng lúc đó, tôi nghĩ một kẻ bị khiếp sợ bởi trí tưởng tượng về ma quỷ và sự hiện hình lại hợp lý hơn nhiều so với một kẻ đi ngược lại với báo cáo của tất cả các sử gia thiêng liêng lẫn phàm tục, cổ đại lẫn hiện đại, và truyền thống của mọi quốc gia, khi cho rằng sự xuất hiện của các linh hồn là chuyện hoang đường và vô căn cứ: Giả sử tôi không thể phó mặc bản thân cho chứng thực chung này của nhân loại, tôi cũng sẽ phó mặc cho những lời kể của các cá nhân hiện đang sống và những người mà tôi không thể hoài nghi trong các vấn đề thực tế khác. Tôi có thể thêm vào đây rằng không chỉ các sử gia, những người mà chúng ta có thể gộp chung với các nhà thơ, mà ngay cả các triết gia thời cổ đại cũng ủng hộ quan điểm này.

Chính Lucretius, dù qua đường lối triết học của mình buộc phải duy trì rằng linh hồn không tồn tại tách rời khỏi thể xác, vẫn không mảy may hoài nghi về tính thực tế của các hiện hình, và rằng con người thường xuất hiện trở lại sau khi chết. Tôi thấy điều này vô cùng đáng chú ý; ông bị dồn ép bởi các sự kiện thực tế mà bản thân không có đủ sự tự tin để phủ nhận, đến mức buộc phải giải thích nó bằng một trong những quan niệm phi triết học ngớ ngẩn nhất từng được khởi xướng.

Ông bảo chúng ta rằng bề mặt của mọi vật thể liên tục bay khỏi các vật thể tương ứng của chúng, hết lớp này đến lớp khác; và rằng những bề mặt hay lớp vỏ mỏng bao bọc lẫn nhau trong lúc chúng kết nối trong cơ thể giống như các lớp của củ hành tây đôi khi được nhìn thấy nguyên vẹn khi chúng tách rời khỏi nó; nhờ thế mà chúng ta thường chiêm ngưỡng hình thù và bóng dáng của những người hoặc đã chết hoặc vắng mặt5.

Tôi xin khép lại bài viết này bằng một câu chuyện trích từ Josephus, không hẳn vì câu chuyện tự thân nó mà vì những phản ánh đạo đức mà tác giả dùng để khép lại nó, và tôi xin ghi lại ở đây bằng chính những từ ngữ của ông.

"Glaphyra, con gái của Vua Archelaus, sau cái chết của hai người chồng đầu (kết hôn với người chồng thứ ba, là em trai của người chồng đầu, và quá say đắm nàng đến mức ông ta ruồng bỏ người vợ trước để nhường chỗ cho cuộc hôn nhân này) đã có một giấc mơ vô cùng kỳ lạ. Nàng tưởng tượng rằng nàng nhìn thấy người chồng đầu tiên đang tiến về phía mình, và nàng ôm chầm lấy ông ta với rất nhiều sự dịu dàng; khi giữa lúc niềm vui sướng mà nàng biểu lộ khi nhìn thấy ông, ông ta quở trách nàng theo cách sau: Glaphyra, ông nói, nàng đã biến câu nói cổ xưa thành sự thật rằng không thể tin tưởng phụ nữ. Chẳng phải ta là người chồng trinh bạch của nàng sao? Chẳng phải ta có con với nàng sao? Sao nàng có thể quên đi tình yêu của chúng ta đến mức bước vào cuộc hôn nhân thứ hai, rồi sau đó là thứ ba, thậm chí lấy làm chồng một kẻ đã không một chút hổ thẹn luồn lách vào giường của anh trai mình? Tuy nhiên, vì tình yêu đã qua của chúng ta, ta sẽ giải thoát nàng khỏi sự sỉ nhục hiện tại, và biến nàng thành của ta đến muôn đời. Glaphyra kể lại giấc mơ này cho vài phụ nữ quen biết, và qua đời chẳng bao lâu sau đó6. Tôi nghĩ câu chuyện này có lẽ không lạc lõng ở nơi này, nơi tôi bàn về những vị vua ấy; bên cạnh đó, tấm gương này xứng đáng được lưu ý vì nó chứa đựng một minh chứng chắc chắn nhất về sự bất tử của linh hồn, và về Sự quan phòng của Thiên đàng. Nếu bất kỳ ai nghĩ những sự kiện này là khó tin, hãy tận hưởng quan điểm của riêng mình, nhưng đừng nỗ lực quấy rầy niềm tin của những người khác, những kẻ qua những trường hợp có tính chất này được kích thích hướng tới việc học tập đức hạnh."

L.

Chú thích 1: Walk return to footnote mark

Chú thích 2: Essay on the Human Understanding, Bk. II., ch. 33. return

Chú thích 3: into return

Chú thích 4: the Rooms return

Chú thích 5: Lucret. iv. 34, &c. return

Chú thích 6: Josephus, Antiq. Jud. lib. xvii. cap. 15, 415. return

Mục lục

Số 111 Thứ Bảy, ngày 7 tháng 7 năm 1711 Addison

... Inter Silvas Academi quærere Verum.

Hor.

Hành trình của bài luận trước đã dẫn dắt tôi một cách vô thức vào một chủ đề mà tôi luôn suy ngẫm với rất nhiều niềm thích thú, ý tôi muốn nói đến sự bất tử của linh hồn. Hôm qua tôi đang đi dạo một mình trong một khu rừng của người bạn, và lạc lối trong đó một cách vô cùng dễ chịu, khi tôi đang nhẩm lại trong tâm trí những lập luận khác nhau xác lập điểm vĩ đại này, thứ vốn là nền tảng của đạo đức, và là nguồn cội của mọi niềm hy vọng dễ chịu cùng niềm vui thầm kín có thể nảy sinh trong trái tim của một sinh vật có lý trí. Tôi đã xem xét những bằng chứng khác nhau được rút ra từ:

Bản chất của chính linh hồn, và đặc biệt là tính phi vật chất của nó; thứ dẫu không hoàn toàn thiết yếu đối với tính vĩnh hằng của sự tồn tại của nó, tôi nghĩ đã được minh chứng gần như là một điều hiển nhiên.

Các đam mê và tình cảm của nó, cụ thể là từ tình yêu sự tồn tiêu, nỗi kinh hoàng trước sự tiêu vong, và niềm hy vọng về sự bất tử, cùng với sự mãn nguyện thầm kín mà nó tìm thấy trong việc thực hành đức hạnh, và sự bất ổn theo sau nó khi phạm phải tội lỗi.

Bản chất của Đấng Tối Cao, khi công lý, lòng nhân từ, sự khôn ngoan và tính chân thật của Ngài đều liên quan đến điểm lớn lao này.

Nhưng trong số những lập luận tuyệt vời này và các lập luận khác cho sự bất tử của linh hồn, có một lập luận được rút ra từ sự tiến triển vĩnh viễn của linh hồn hướng tới sự hoàn mỹ của nó, mà không có khả năng vươn tới điểm tận cùng của nó; đó là một gợi ý mà tôi không nhớ từng thấy được khai mở và trau chuốt bởi những người khác từng viết về chủ đề này, dẫu nó dường như mang sức nặng rất lớn đối với tôi. Làm sao nó có thể bước vào tâm trí con người, rằng linh hồn vốn có khả năng đạt được sự hoàn mỹ vô biên, và tiếp nhận những cải tiến mới đến muôn đời, lại rơi vào hư vô gần như ngay sau khi được tạo ra? Phải chăng những năng lực như thế được tạo ra cho vô ích? Một con vật đạt đến một điểm hoàn mỹ mà nó không bao giờ có thể vượt qua: Chỉ trong vài năm, nó có tất cả những tài năng mà nó có thể có; và giả sử nó sống thêm mười ngàn năm nữa, nó vẫn sẽ là sinh vật y hệt như hiện tại. Giả sử linh hồn con người cứ dậm chân tại chỗ trong các thành tựu của mình như thế, giả sử các khả năng của nó nở rộ hoàn toàn và không thể mở rộng thêm nữa, tôi có thể tưởng tượng nó có thể lụi tàn một cách vô thức, và rơi tõm một lúc vào trạng thái tiêu vong. Nhưng liệu chúng ta có thể tin rằng một sinh vật có suy nghĩ đang trong đà tiến triển vĩnh viễn của các cải tiến, và lữ hành từ sự hoàn mỹ này sang sự hoàn mỹ khác, sau khi vừa nghía mắt ra ngoài nhìn ngắm các công trình của Đấng Tạo Hóa, và thực hiện một vài khám phá về lòng nhân từ, sự khôn ngoan và quyền năng vô hạn của Ngài, lại phải diệt vong ngay lúc mới xuất phát và ngay tại thời điểm khởi đầu của những cuộc điều tra?

Một con người, được xem xét trong trạng thái hiện tại, dường như chỉ được phái đến thế gian để sinh sôi nảy nở nòi giống của mình. Anh ta tự cung cấp cho mình một kẻ kế nhiệm, và ngay lập tức rời bỏ vị trí để nhường chỗ cho kẻ đó1.

... Hæres

Hæredem alterius, velut unda, supervenit undam.

Anh ta có vẻ không được sinh ra để tận hưởng cuộc sống, mà để chuyển giao nó cho người khác. Điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi xem xét ở động vật, loài được tạo ra để phục vụ chúng ta, và có thể hoàn thành công việc của mình trong một cuộc đời ngắn ngủi. Con tằm, sau khi nhả xong kén, đẻ trứng rồi chết. Nhưng con người không bao giờ có thể thu nạp trọn vẹn thước đo tri thức của mình, không có thời gian để khuất phục các đam mê, thiết lập linh hồn trong đức hạnh, và chạm tới sự hoàn mỹ của bản thân, trước khi bị vội vã rời khỏi sân khấu. Liệu một Đấng khôn ngoan vô hạn có tạo ra những sinh vật vinh quang như thế cho một mục đích tầm thường đến vậy? Liệu Ngài có thể tìm thấy niềm vui trong việc sản xuất ra những trí tuệ yểu mệnh như thế, những sinh vật có lý trí sống ngắn ngủi như thế? Liệu Ngài có ban cho chúng ta những tài năng không được vận dụng? Những năng lực không bao giờ được thỏa mãn? Làm thế nào chúng ta có thể tìm thấy sự khôn ngoan tỏa sáng qua tất cả các công trình của Ngài, trong việc tạo hình con người, nếu không xem thế giới này như một vườn ươm cho thế giới tiếp theo, và tin rằng các thế hệ sinh vật có lý trí khác nhau nổi lên và biến mất trong những sự kế tiếp nhanh chóng như thế, chỉ để tiếp nhận những bài học vỡ lòng đầu tiên của sự tồn tại tại đây, để rồi sau đó được cấy ghép vào một khí hậu thân thiện hơn, nơi chúng có thể lan tỏa và đơm hoa kết trái đến muôn đời.

Theo quan điểm của tôi, không có suy ngẫm nào dễ chịu và đắc thắng hơn trong tôn giáo bằng điều này về sự tiến triển vĩnh viễn mà linh hồn thực hiện hướng tới sự hoàn mỹ của bản chất nó, mà không bao giờ chạm đến một dấu chấm hết trong đó. Nhìn nhận linh hồn cứ tiến bước từ sức mạnh này sang sức mạnh khác, xem xét rằng nó sẽ tỏa sáng đời đời với những sự gia tăng mới của vinh quang, và rực rỡ đến muôn đời; rằng nó sẽ mãi nối tiếp đức hạnh với đức hạnh, và tri thức với tri thức; điều đó mang trong mình một thứ gì đó vô cùng dễ chịu đối với tham vọng vốn tự nhiên trong tâm trí con người. Hơn thế nữa, đó hẳn là một viễn cảnh làm hài lòng chính Thiên đàng, khi nhìn thấy tạo vật của mình mãi mãi trở nên xinh đẹp hơn trong mắt Ngài, và xích lại gần Ngài hơn qua những bậc thang tương đồng lớn hơn.

Ngẫm lại, suy ngẫm đơn lẻ này về sự tiến triển của một tinh thần hữu hạn hướng tới sự hoàn mỹ sẽ đủ sức dập tắt mọi sự đố kỵ ở những bản tính thấp kém, và mọi sự khinh miệt ở những bản tính thượng đẳng. Vị Cherubim hiện đang hiện lên như một vị thần đối với linh hồn con người rất hiểu rằng thời điểm sẽ đến trong cõi vĩnh hằng, khi linh hồn con người sẽ hoàn hảo hệt như chính ông ta hiện tại: Vả lại, khi nàng nhìn xuống mức độ hoàn mỹ đó, nàng cũng sẽ thấy mình không còn kém xa nó nữa. Đúng là bản chất cao hơn vẫn tiếp tục tiến bước, và nhờ thế bảo vệ khoảng cách cũng như sự vượt trội của mình trong chiếc thang sinh mệnh; nhưng ông ta biết dù trạm dừng tay của mình có cao đến đâu ở hiện tại, bản chất thấp kém cuối cùng cũng sẽ vươn lên tới đó, và tỏa sáng trong cùng một độ vinh quang.

Với sự kinh ngạc và tôn kính biết bao khi chúng ta có thể nhìn vào chính linh hồn mình, nơi có những kho báu ẩn giấu của đức hạnh và tri thức, những nguồn cội hoàn mỹ vô tận? Chúng ta chưa biết mình sẽ ra sao, cũng chẳng bao giờ bước vào trái tim con người để hình dung về vinh quang sẽ luôn được dự trữ sẵn cho nó.

Linh hồn, được xem xét cùng với Đấng Tạo Hóa của nó, giống như một trong những đường toán học có thể xích lại gần nhau hơn trong suốt cõi vĩnh hằng mà không có khả năng chạm vào nhau2: Và liệu có suy nghĩ nào mang tính ngất ngây cho bằng việc xem xét bản thân chúng ta trong những sự tiếp cận vĩnh viễn với Đấng không chỉ là tiêu chuẩn của sự hoàn mỹ mà còn của niềm hạnh phúc!

L.

Chú thích 1: ,and provide return to footnote mark

Chú thích 2: The Asymptotes of the Hyperbola. return

Mục lục

Số 112 Thứ Hai, ngày 9 tháng 7 năm 1711 Addison

Tôi luôn vô cùng hài lòng với một Ngày Chủ Nhật ở vùng quê; và nghĩ rằng, nếu việc giữ gìn sự thánh thiện cho Ngày Thứ Bảy chỉ là một thể chế nhân tạo, đó vẫn sẽ là phương pháp tốt nhất từng được nghĩ ra nhằm mài giũa và văn minh hóa nhân loại.

Chắc chắn người dân quê sẽ nhanh chóng thoái hóa thành một dạng dã nhân và kẻ rợ, nếu không có những sự trở lại thường xuyên của một thời gian quy định, trong đó toàn bộ ngôi làng tụ họp lại với nhau bằng những khuôn mặt rạng rỡ nhất, và trong những trang phục sạch sẽ nhất1, để trò chuyện với nhau về các chủ đề thông thường, nghe giải thích về các bổn phận, và cùng nhau cất tiếng ca ngợi Đấng Tối Cao.

Ngày Chủ Nhật gột rửa lớp gỉ sét của cả tuần, không chỉ vì nó làm mới lại trong tâm trí họ những khái niệm về tôn giáo, mà còn vì nó thúc đẩy cả hai phái xuất hiện trong những hình thức dễ chịu nhất của mình, đồng thời phát huy tất cả những phẩm chất có khả năng mang lại cho họ một vóc dáng trong mắt ngôi làng. Một anh chàng nhà quê tự hào nổi bật tại nghĩa trang hệt như một công dân trên sàn giao dịch chứng khoán, khi các vấn đề chính trị của giáo xứ thường được thảo luận tại nơi đó sau bài giảng hoặc trước khi chuông réo.

Người bạn Sir Roger của tôi, với tư cách là một tín đồ ngoan đạo, đã làm đẹp cho phần bên trong nhà thờ của mình bằng vài đoạn văn bản kinh thánh do chính ông lựa chọn; ông cũng trao tặng một tấm khăn trải bục giảng đẹp mắt và rào lại bàn tiệc thánh bằng chi phí của chính mình.

Ông từng nhiều lần kể cho tôi nghe rằng khi mới thừa kế gia sản, ông thấy các giáo dân của mình rất vô kỷ luật; và để buộc họ quỳ gối và cùng đọc phần đáp ca, ông đã tặng mỗi người một chiếc gối quỳ và một cuốn Sách Cầu Nguyện Chung: Cùng lúc đó, ông thuê một giáo viên dạy hát lưu động đi khắp vùng với mục đích đó, nhằm hướng dẫn họ đúng các giai điệu của các Thánh vịnh; nhờ thế mà giờ đây họ rất tự hào về điều đó, và quả thực vượt trội hơn hầu hết các nhà thờ miền quê mà tôi từng nghe.

Vì Sir Roger là chủ đất của toàn bộ giáo đoàn, ông duy trì trật tự rất tốt cho họ, và sẽ không cho phép bất kỳ ai ngủ gục trong đó ngoài chính mình; bởi vì nếu chẳng may ông bị chợp mắt một giấc ngắn trong bài giảng, khi tỉnh dậy ông liền đứng phắt dậy và nhìn ngó xung quanh, và nếu thấy bất kỳ ai khác đang gật gù, ông hoặc tự mình đánh thức họ, hoặc sai người hầu đến chỗ họ. Vài điểm kỳ quặc khác của vị hiệp sĩ già bộc lộ trong những dịp này: Thỉnh thoảng ông kéo dài một câu thơ trong các Thánh vịnh hát, nửa phút sau khi phần còn lại của giáo đoàn đã dứt; thỉnh thoảng, khi hài lòng với nội dung sùng tín, ông cất tiếng Amen ba hoặc bốn lần cho cùng một lời cầu nguyện; và đôi khi đứng phắt dậy khi mọi người khác đang quỳ gối, để đếm số lượng giáo đoàn, hoặc xem có tá điền nào vắng mặt không.

Hôm qua tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe người bạn già của mình, giữa buổi lễ, cất tiếng gọi một tên John Matthews nào đó hãy chú ý đến việc mình đang làm, và đừng làm phiền giáo đoàn. Tên John Matthews này hóa ra nổi tiếng là một kẻ lười biếng, và vào thời điểm đó đang đá chân đùa giỡn để giải trí. Uy quyền này của vị hiệp sĩ, dẫu được thực thi theo cái cách kỳ quặc đi kèm với ông trong mọi hoàn cảnh của đời sống, lại mang lại hiệu quả rất tốt đối với giáo xứ, những người chưa đủ lịch sự để thấy bất kỳ điều gì nợ nần nực cười trong hành vi của ông; bên cạnh đó, trí tuệ chung và giá trị nhân cách của ông khiến bạn bè nhìn nhận những nét đơn độc nhỏ nhặt ấy như những thứ làm nổi bật chứ không làm lu mờ đi những phẩm chất tốt đẹp của ông.

Ngay khi bài giảng kết thúc, chẳng ai dám rón rén cho đến khi Sir Roger bước ra khỏi nhà thờ. Vị hiệp sĩ bước xuống từ chỗ ngồi ở cung thánh giữa một hàng đôi các tá điền đứng cúi đầu chào ông ở mỗi bên; và thỉnh thoảng hỏi thăm vợ, mẹ, con trai hay cha của người nào đó không thấy đến nhà thờ; điều này được ngầm hiểu là một sự khiển trách ngầm đối với kẻ vắng mặt.

Vị tuyên úy từng kể cho tôi nghe rằng vào một ngày kiểm tra giáo lý, khi Sir Roger hài lòng với một cậu bé trả lời giỏi, ông đã ra lệnh tặng cho cậu bé một cuốn Kinh Thánh vào ngày hôm sau để khích lệ, và đôi khi kèm theo một khúc thịt xông khói cho mẹ cậu. Sir Roger cũng tăng thêm năm bảng một năm cho chức vụ thư ký nhà thờ; và để khích lệ những chàng trai trẻ hoàn thiện bản thân trong nghi thức nhà thờ, ông hứa hẹn khi vị đương kim mục sư, người đã rất già, qua đời, ông sẽ ban phó nó dựa trên năng lực thực tế.

Mối quan hệ tốt đẹp giữa Sir Roger và vị tuyên úy, cùng sự đồng thuận tương hỗ của họ trong việc làm điều thiện, càng trở nên đáng chú ý hơn bởi vì ngôi làng ngay bên cạnh nổi tiếng với những bất hòa và tranh chấp nảy sinh giữa mục sư và vị 'squire' (địa chủ), những kẻ sống trong tình trạng chiến tranh vĩnh viễn. Vị mục sư luôn mắng nhiếc vị địa chủ trong các bài giảng, và vị địa chủ để trả thù mục sư liền không bao giờ đến nhà thờ. Vị địa chủ đã biến tất cả các tá điền của mình thành những kẻ vô thần và trốn thuế thập phân; trong khi vị mục sư giáo huấn họ mỗi Chủ Nhật về sự cao quý trong chức sắc của mình, và ám chỉ trong hầu như mọi bài giảng rằng ông ta là một người đàn ông tốt hơn người bảo hộ của mình. Tóm lại, mọi việc đã đi đến cực độ đến mức vị địa chủ đã không đọc kinh cầu nguyện dù công khai hay riêng tư trong nửa năm nay; và vị mục sư đe dọa ông ta, nếu không cải thiện hành vi, sẽ cầu nguyện cho ông ta trước mặt toàn bộ giáo đoàn.

Những mối thù hận có tính chất này, dẫu quá thường xuyên ở miền quê, lại vô cùng tai hại đối với những người bình thường; những kẻ đã quá quen với việc bị làm cho lóa mắt bởi sự giàu có, đến mức họ dành sự kính trọng lớn lao cho sự hiểu biết của một người có gia sản hệt như của một người có học thức, và rất khó bị thuyết phục để tôn trọng bất kỳ chân lý nào, dẫu nó quan trọng đến đâu, được giảng đạo cho họ, khi họ biết có vài người thu nhập năm trăm bảng một năm không tin vào điều đó.

L.

Chú thích 1: had been return to footnote mark

Chú thích 2: Dress return

Chú thích 3: the Parish return

Mục lục

Số 113 Thứ Ba, ngày 10 tháng 7 năm 1711 Steele

... Harent infixi pectore vultus.

Virg.

Trong miêu tả đầu tiên của tôi về nhóm người mà tôi dành phần lớn thời gian để bầu bạn, người ta có thể nhớ rằng tôi từng đề cập đến một nỗi đau đớn lớn lao mà người bạn Sir Roger của tôi từng vướng phải thời trẻ; không gì khác chính là sự thất vọng trong tình yêu. Buổi chiều hôm nay, chúng tôi tình cờ bước vào một lối đi dạo rất dễ chịu cách xa nhà ông: Ngay khi chúng tôi đặt chân tới đó,

"Thật là tồi tệ," vị lão ông cất lời, nhìn xung quanh kèm theo một nụ cười, "khi bất kỳ phần đất đai nào của ta lại được định đoạt cho một kẻ đối xử với ta tệ bạc hệt như mụ góa phụ đảnh đá1 từng làm; thế mà ta chắc chắn mình không thể nhìn thấy một nhánh cành nào trên toàn bộ lối đi rợp bóng cây này mà không gợi nhớ về mụ và sự tàn nhẫn của mụ. Quả thực mụ có đôi bàn tay đẹp nhất thế gian. Ngài phải biết đây là nơi ta từng dùng để trầm ngâm về mụ; và bởi thói quen đó, ta không bao giờ bước vào đây mà không cảm thấy những tình cảm dịu dàng tương tự bùng phát trong tâm trí, hệt như thể ta đang thực sự đi dạo cùng sinh vật xinh đẹp đó dưới những tán bóng râm này. Ta từng ngốc nghếch đến mức khắc tên mụ lên vỏ của vài cái cây trong số này; khổ thay cho số phận của đàn ông khi yêu, khi họ cố gắng xóa bỏ đam mê của mình bằng những phương pháp chỉ cốt làm in hằn nó sâu hơn. Quả thực mụ có đôi bàn tay đẹp nhất thế gian."

Tiếp theo đó là một sự im lặng tĩnh mịch; và tôi không lấy làm phiền lòng khi quan sát thấy người bạn của mình tự nhiên chìm đắm vào một câu chuyện mà trước đó tôi từng lưu ý là ông luôn cố tình tránh né. Sau một khoảng ngừng vô cùng dài, ông bắt đầu kể lại sự kiện lớn lao này trong đời mình, với một phong thái mà tôi nghĩ đã nâng tầm ý tưởng của tôi về ông vượt lên trên bất cứ điều gì tôi từng có trước đây; và vẽ nên bức tranh về tâm hồn vui vẻ ấy của ông, trước khi nó hứng chịu cú đánh từng làm rung chuyển lời nói và hành động của ông cho đến tận ngày nay. Nhưng ông tiếp tục kể như sau:

"Ta thừa kế cơ ngơi vào năm hai mươi hai tuổi, và quyết định noi theo bước chân của những vị tổ tiên đáng kính nhất từng sinh sống trên mảnh đất này trước ta, trong mọi phương thức hiếu khách và láng giềng tốt đẹp, vì danh tiếng của ta; cùng các trò chơi và giải trí đồng quê, vì sức khỏe của ta. Vào năm hai mươi ba tuổi, ta buộc phải phục vụ với tư cách là Cảnh sát trưởng của hạt; và trong đám gia nhân, thuộc hạ cùng toàn bộ đoàn tùy tùng, ta đã thỏa mãn niềm vui của một thanh niên (người không đánh giá thấp diện mạo của chính mình) khi chớp lấy cơ hội công khai đó để phô bày vóc dáng và hành vi của mình một cách lợi thế nhất. Ngài có thể dễ dàng tưởng tượng ra bản thân trông ta ra sao khi khá cao lớn, cưỡi ngựa giỏi2, và ăn mặc rất bảnh bao, đi đầu cả một hạt, với ban nhạc đi trước, một chiếc lông chim trên mũ, và con ngựa được cương hàm gọn gàng. Ta có thể đảm bảo với ngài rằng ta không giấu nổi sự thích thú trước những cái nhìn và ánh mắt thân thiện từ mọi ban công và ô cửa sổ khi ta cưỡi ngựa đến tòa sảnh nơi diễn ra các phiên tòa xét xử. Nhưng khi ta đến đó, một sinh vật xinh đẹp trong trang phục góa phụ đang ngồi trong tòa án để nghe kết quả của vụ kiện liên quan đến tiền cấp dưỡng của nàng. Sinh vật đầy uy quyền này (được sinh ra để tàn phá tất cả những ai chiêm ngưỡng nàng) đã thể hiện một vẻ cam chịu trên khuôn mặt, đồng thời gánh chịu những tiếng thì thầm của mọi người xung quanh tòa án bằng một sự bất ổn đáng yêu nào đó, xin thưa với ngài là thế, rồi lại lấy lại bình tĩnh từ ánh mắt này sang ánh mắt khác, cho đến khi nàng hoàn toàn bối rối vì chạm trán thứ gì đó quá đỗi đắm đuối trong mọi ánh nhìn nàng bắt gặp, để rồi cuối cùng, với một lời nguyền rủa dành cho mụ ta, nàng liếc cặp mắt bỏ bùa ấy về phía ta. Ta vừa chạm phải nó là cúi đầu hệt như một gã nhà quê ngốc nghếch bị đánh úp; và biết rằng vụ kiện của nàng là vụ đầu tiên được đưa ra xét xử, ta liền gào lên, hệt như một con bê bị bắt làm tù binh như ta lúc bấy giờ: Hãy dọn đường cho các nhân chứng của bị cáo! Sự thiên vị bất ngờ này khiến toàn bộ hạt ngay lập tức nhận ra ngài cảnh sát trưởng cũng đã trở thành nô lệ cho mụ góa phụ xinh đẹp. Trong suốt thời gian vụ kiện của nàng được xét xử, nàng cưỡi ngựa, ta xin thưa với ngài, với một sự tập trung sâu sắc vào công việc của mình, tranh thủ cơ hội để những mẩu giấy nhắn nhỏ được chuyển đến hội đồng của mình, rồi lại rơi vào trạng thái bối rối đáng yêu, xuất phát từ việc phải diễn trước quá nhiều người, đến mức không chỉ ta mà toàn bộ tòa án đều có cảm tình với nàng; và tất cả những gì người thừa kế tiếp theo của người chồng quá cố có thể viện dẫn đều bị xem là vô căn cứ và phù phiếm đến mức khi đến lượt hội đồng của nàng đáp trả, chẳng có lấy một nửa những gì mọi người khác trong tòa án nghĩ rằng anh ta có thể viện dẫn để mang lại lợi ích cho nàng được thốt ra. Ngài phải hiểu, thưa ngài, mụ phụ nữ đảnh đá này là một trong những sinh vật khó hiểu, những kẻ thầm tận hưởng sự ngưỡng mộ của đàn ông nhưng không tự cho phép mình vướng vào bất kỳ hệ lụy nào xa hơn thế. Do đó nàng luôn có một tá kẻ ngưỡng mộ theo đuôi, và nàng di chuyển từ những tên nô lệ ở thị trấn sang những kẻ ở miền quê, tùy theo các mùa trong năm. Nàng là một phụ nữ thích đọc sách và chìm đắm trong những niềm vui của tình bạn; Nàng luôn được đồng hành bởi một tâm phúc, người chứng kiến những tuyên bố hằng ngày của nàng chống lại phái chúng ta, và do đó là một rào cản cho những bước đi đầu tiên của nàng hướng tới tình yêu, dựa trên sức mạnh của những nguyên tắc và tuyên ngôn của chính nàng."

Chú thích 1: perverse Widow return to footnote mark

Chú thích 2: rid return

Mục lục

Tuy nhiên, tôi phải thú nhận rằng người Nương tử tài hoa này đã dành cho tôi sự chiếu cố hơn hẳn những người khác, và từng tuyên bố rằng Ngài Roger De Coverley là kẻ ngốc nghếch hiền lành và nhân hậu nhất trong số tất cả những gã thô lỗ ở chốn thôn quê. Có kẻ đã thuật lại lời ấy cho tôi nghe với ý định chế giễu; nhưng dựa vào sự khích lệ mong manh ấy—rằng ít ra mình cũng được coi là kẻ đáng ghét ít nhất—tôi bèn may trang phục mới, đổi cặp ngựa kéo xe khác, gửi tất cả chúng lên thành phố để tập mang hàm thiết và học cách sải chân thật đều, đồng thời bước đi nhịp nhàng với nhau, trước khi tôi dám mạo muội băng qua vùng quê để đến diện kiến nàng. Ngay khi thấy đoàn tùy tùng của mình đã xứng tầm với gia thế và tuổi trẻ, tôi liền khởi hành từ đây để đến tỏ tình. Tài năng đặc biệt của người phụ nữ này từ xưa đến nay vẫn là khơi dậy khao khát của người khác mà vẫn buộc họ phải kính trọng. Để đạt tới đỉnh cao nghệ thuật ấy, nàng sở hữu lượng tri thức, sự hóm hỉnh và khiếu phán đoán sắc sảo vượt xa mức thông thường ngay cả ở những nam nhân ưu tú. Thêm vào đó, nàng lại sở hữu nhan sắc vượt lên trên mọi phụ nữ. Nếu bạn không chịu để nàng dùng chút thủ pháp đưa tình bằng đôi mắt cùng nghệ thuật làm đẹp, nàng sẽ tự trang bị cho mình thứ bùa mê đích thực, khiến bạn phải sững sờ thán phục thay vì dâng trọn khao khát. Quả thực, nếu bạn ngắm nhìn trọn vẹn con người nàng, nơi diện mạo ấy toát lên một vẻ uy nghiêm, phong thái điềm đạm cùng sự nhã nhặn trong từng cử chỉ, khiến cho dẫu vóc dáng nàng thắp lên trong bạn niềm hy vọng, thì đức hạnh của nàng lại khiến bạn phải kính sợ. Nhưng ngặt một nỗi, nàng lại là một bậc kỳ tài uyên bác đến mức chẳng một trang nam nhi thôn quê nào dám đến gần mà không trở thành trò cười. Như tôi đang định kể với các bác, khi đến phủ của nàng, tôi được đón tiếp với thái độ vô cùng lịch thiệp; đồng thời nàng tự chủ ý đứng ở vị trí để tôi có thể nhìn thấy đầu tiên, trong một tư thế mà các bác thường gọi là dáng vẻ trong tranh, nhờ đó nàng khoe ra những nét quyến rũ mới, và cuối cùng tôi tiến đến gần nàng với sự kính sợ đến mức nghẹn lời. Nàng vừa nhận ra điều đó liền chớp lấy thời cơ, bắt đầu giảng giải cho tôi nghe về tình yêu và lòng chung thủy, dưới góc độ chúng được theo đuổi bởi những kẻ mạo nhận và những tín đồ chân chính ra sao. Khi nàng đã bàn luận xong những điểm này bằng một bài thuyết giảng mà tôi thực lòng tin là uyên bác chẳng kém bất kỳ triết gia xuất chúng nào ở châu Âu có thể thốt ra, nàng hỏi tôi rằng liệu nàng có may mắn đồng quan điểm với tôi trong những vấn đề quan trọng này không. Nữ tâm phúc của nàng ngồi ngay bên cạnh, và nhân lúc tôi đang vô cùng bối rối đến chết lặng, trợ thủ đầy ác ý ấy quay sang nàng và nói: "Tôi rất đỗi vui mừng khi thấy Ngài Roger ngập ngừng trước đề tài này, và có vẻ quyết định sẽ bày tỏ toàn bộ suy nghĩ của mình về vấn đề ấy khi ngài ấy muốn.&C

Cả hai đều giữ nguyên vẻ mặt điềm nhiên, và sau khi tôi đã ngồi suốt nửa tiếng đồng hồ đăm chiêu suy nghĩ xem phải ứng xử thế nào trước những bậc thông thái uyên thâm nhường ấy, tôi đứng dậy xin phép cáo lui. Kể từ dạo đó, cơ duyên đã không ít lần đưa đẩy tôi bước vào tầm ngắm của nàng, và cũng bấy nhiêu lần nàng hướng vào tôi những bài diễn ngôn mà tôi hoàn toàn không tài nào hiểu nổi. Sự tàn nhẫn này đã đẩy tôi ra xa khỏi đối tượng diễm lệ nhất mà mắt trần từng được chiêm ngưỡng. Đó cũng là cách đối xử của nàng với toàn nhân loại, và bạn buộc phải tán tỉnh nàng giống như cách chinh phục con quái vật Sphinx, đó là đánh đố lại nàng. Nhưng giả sử nàng cũng như bao phụ nữ khác, và người ta có thể trò chuyện được với nàng, thì niềm vui của kẻ được đàm đạo cùng một tạo vật ấy sẽ bền vững biết bao — Suy cho cùng thì, các bác có thể chắc chắn rằng trái tim nàng đã vương vấn bóng hình ai đó; thế mà tôi từng nghe tin đáng tin cậy rằng; nhưng ai mà tin nổi một nửa những điều thiên hạ đồn đại! Sau khi ngừng nói chuyện với tôi, nàng đưa tay lên ngực áo để chỉnh lại chiếc khăn viền cổ. Kế đó, nàng khẽ hạ mi mắt xuống khi thấy tôi đăm đăm nhìn nàng quá mức. Người ta bảo nàng ca hát rất hay; ngay cả giọng nói trong giao tiếp thường ngày của nàng cũng ẩn chứa điều gì đó ngọt ngào đến khôn tả. Các bác phải biết rằng tôi đã dùng bữa cùng nàng tại một bàn tiệc chung vào ngày hôm sau lần đầu tiên gặp mặt, và nàng đã gắp cho tôi chút bánh cúc giữa ánh mắt soi mói của tất cả các quý ông trong vùng: Quả thực nàng sở hữu đôi bàn tay đẹp nhất trên cõi đời này. Tôi có thể đoan chắc với các bác, thưa ngài, nếu ngài được ngắm nhìn nàng, ngài cũng sẽ rơi vào cảnh ngộ tương tự; bởi vì lời ăn tiếng nói của nàng là âm nhạc, còn vóc dáng nàng tựa thiên thần. Nhưng tôi nhận ra mình đang luyên thuyên lan man khi nhắc đến nàng; dẫu vậy, thật là đần độn nếu tỏ ra dửng dưng trước một sự hoàn mỹ nhường ấy. Ôi tạo vật xuất chúng, nàng vừa không thể bắt chước đối với mọi phụ nữ, lại vừa chẳng thể với tới đối với mọi nam nhân."

Tôi nhận thấy bằng hữu của mình bắt đầu lảm nhảm, bèn khéo léo dẫn dắt ông ấy hướng về phía dinh thự để có thêm những vị khách khác nhập bọn, và tôi tin chắc rằng quả phụ chính là nguyên nhân ngầm gây ra mọi sự bất nhất xuất hiện trong một số phần lời kể của bằng hữu tôi; dẫu cho ông ấy có khả năng tự chủ cao đến mức không trực tiếp nhắc tên nàng, nhưng đúng như câu thơ của Martial mà chẳng biết dịch sang tiếng Anh thế nào cho phải, Dum tacet hanc loquitur.

Tôi xin khép lại bài viết này bằng toàn bộ bài thơ trào phúng thứ 3, miêu tả vô cùng hài hước tình cảnh của người bằng hữu chân chất của tôi.

Quicquid agit Rufus nihil est nisi Nævia Rufo,

Si gaudet, si flet, si tacet, hanc loquitur:

Cœnat, propinat, poscit, negat, annuit, una est

Nævia; Si non sit Nævia mutus erit.

Scriberet hesterna Patri cum Luce Salutem,

Nævia lux, inquit, Nævia lumen, ave.

Let Rufus weep, rejoice, stand, sit, or walk,

Still he can nothing but of Nævia talk;

Let him eat, drink, ask Questions, or dispute,

Still he must speak of Nævia, or be mute.

He writ to his Father, ending with this Line,

I am, my Lovely Nævia, ever thine.

R.

... Paupertatis pudor et fuga ...

Hor.

Tính tiết kiệm trong công việc có tác động đối với tài sản của chúng ta cũng giống như phép lịch sự đối với cách giao tiếp. Ở cả hai trường hợp đều tồn tại một lối hành xử giả tạo, thay vì khiến con người ta được kính trọng, lại biến họ thành những kẻ khốn cùng và đáng khinh. Hôm qua tại dinh thự của Ngài Roger, chúng tôi có một nhóm các quý ông miền quê đến dùng bữa trưa; và sau bữa ăn, những ai thích thú đều nâng ly khá thoải mái. Giữa số đó, tôi chú ý đến một người có diện mạo tương đối khả ái, có vẻ thèm khát chất có cồn hơn bất kỳ ai trong nhóm, thế nhưng ngài lại không nhấm nháp nó với sự thưởng thức, ngẫm cho kỹ là vậy. Khi hơi men bốc lên, ông bắt đầu nghi ngờ mọi điều được nói ra; và khi cơn say tiến gần hơn, tính khí ông càng trở nên tồi tệ hơn sự vốn có. Đồng thời, sự cay đắng của ông có vẻ xuất phát từ nỗi bất mãn thầm kín trong tâm hồn nhiều hơn là do bất kỳ sự chán ghét nào đối với những người xung quanh. Khi nghe danh tính của ông, tôi nhận ra ông là một quý tộc sở hữu gia tài đáng kể tại hạt này, nhưng đang ngập ngìa trong nợ nần. Điều khiến người đàn ông bất hạnh này mang tâm trạng cáu kỉnh chính là vì điền trang của ông đã bị cầm cố và đang bị gặm mòn bởi nạn cho vay nặng lãi; vậy mà ông lại chẳng đành lòng bán đi bất kỳ phần nào trong đó. Cái tôi kiêu hãnh của ông, dẫu phải đánh đổi bằng những đêm trắng trằn trọc, sự bất an thường trực, nguy cơ chuốc lấy nhục mã và muôn vàn phiền toái không tên, vẫn quyết bám lấy cái ung nhọt trong gia sản ấy, thà chịu đựng chứ nhất quyết không để người ta bảo rằng mình nay sở hữu số trăm bảng thu nhập mỗi năm ít hơn tiếng tăm vốn có. Cứ thế, ông gánh chịu nỗi thống khổ của sự nghèo hòan để tránh cái danh nghèo túng. Nếu ghé thăm dinh thự của ông, bạn sẽ thấy sự sung túc ngập tràn; nhưng lại được dọn dẹp theo cách phô bày rõ sự gượng gạo, rằng tâm trí người chủ hoàn toàn chẳng để tâm vào đó. Phảng phất trong mọi ngóc ngách là sự hoang phí và bất cẩn, toàn bộ khung cảnh hiện lên chẳng khác nào một sự túng thiếu được che đậy, một sự nghèo đói hào nhoáng. Sự ngăn nắp và vui tươi vốn hiện diện bên bàn ăn của người biết sống trong khả năng cho phép thì hoàn toàn vắng bóng, thay vào đó là lối phục vụ phóng túng buông thả của tất cả những kẻ hầu người hạ xung quanh.

Hành vi của vị quý ông này, dẫu là một phương thức quản lý rất phổ biến, nhưng cũng nực cười chẳng kém gì một viên sĩ quan chỉ nắm trong tay ít binh lính dưới quyền mà lại ôm đồm bảo vệ một vùng lãnh thổ rộng lớn thay vì một con đèo nhỏ hẹp. Việc chi trả, giả vờ, và duy trì quyền sở hữu đối với một gia nghiệp lớn hơn thực tế của mình là sự kiêu căng không thể dung thứ nhất trên đời, và cuối cùng chắc chắn sẽ đẩy kẻ phạm phải nó vào con đường ô nhục. Thế nhưng, nếu quan sát khắp bất kỳ hạt nào ở Vương quốc Anh, chúng ta sẽ bắt gặp không ít kẻ vướng vào sai lầm chí mạng này; nếu có thể dùng một mỹ từ êm ái để gọi cái thói bắt nguồn từ sự hổ thẹn giả tạo, ngượng ngùng không dám phô bày thân phận thật, trong khi một thái độ ứng xử ngược lại có thể nhanh chóng đưa họ vươn lên hoàn cảnh mà họ đang cố ra vẻ. Laertes sở hữu một nghìn năm trăm bảng Anh mỗi năm; số tiền này đã bị thế chấp để vay sáu nghìn bảng; nhưng thật bất khả thi khi muốn thuyết phục ông rằng nếu ông bán đi một lượng đất đủ để trả hết khoản nợ ấy, ông sẽ tiết kiệm được bốn xu trên mỗi bảng — khoản tiền mà ông đang phải cúng nọt chỉ để đổi lấy cái hư danh được mang tiếng là chủ nhân của toàn bộ điền trang đó. Dẫu vậy, nếu Laertes làm thế, có lẽ tài sản của ông sẽ dễ thở hơn; nhưng khi đó Irus, một kẻ phất lên từ ngày hôm qua với mức thu nhập chỉ vỏn vẹn một nghìn hai trăm bảng một năm, sẽ trở thành ngang hàng với ông. Thà để tình trạng đó tiếp diễn còn hơn, Laertes vẫn tiếp tục mang những đứa trẻ có dòng dõi cao quý ra đời, và cứ mỗi mười hai tháng, sự ra đời của một đứa con lại chất thêm lên điền trang của ông ít nhất là tiền thuê đất của một năm.

Laertes và Irus là những người hàng xóm có lối sống vô cùng căm ghét lẫn nhau. Irus bị thúc đẩy bởi nỗi sợ nghèo khó, còn Laertes lại hành động vì sự hổ thẹn trước cái nghèo ấy. Dẫu cho động cơ hành động của cả hai có sự tương đồng rất gần gũi và đều có thể quy về một điểm rằng: "Đối với mỗi người bọn họ, sự nghèo đói chính là tai họa lớn nhất," thì tác phong của họ lại hoàn toàn khác biệt nhau một trời một vực. Sự hổ thẹn vì nghèo túng khiến Laertes vung tay quá trán vào những cỗ xe ngựa xa hoa, chi phí phù phiếm và những bữa tiệc tùng xa xỉ; trong khi nỗi sợ nghèo khó lại khiến Irus chỉ cho phép bản thân dùng những vật dụng thiết yếu đạm bạc, ra đường không cần gia nhân, tự tay bán lúa mì, giám sát tá nông và đích thân lao động như một tá điền. Nỗi hổ thẹn vì nghèo khó đẩy Laertes tiến gần hơn đến bờ vực ấy mỗi ngày; ngược lại, nỗi sợ nghèo khó lại thôi thúc Irus ngày ngày rời xa nó thêm một chút.

Những động cơ khác biệt này tạo nên sự thái quá mà con người thường mắc phải trong việc lơ là hoặc lo toan cho bản thân. Nạn cho vay nặng lãi, đầu cơ chứng khoán, tống tiền và áp bức đều có mầm mống từ nỗi sợ thiếu thốn; trong khi thói kiêu ngạo, ăn chơi trác táng và hoang phí lại xuất phát từ sự hổ thẹn trước cảnh nghèo hèn. Nhưng cả hai sự thái quá ấy đều thấp kém hơn rất nhiều so với mục tiêu theo đuổi của một tạo vật có lý trí. Sau khi chúng ta đã lo liệu đầy đủ để nắm giữ chừng mực cần thiết cho việc duy trì bản thân trong vị thế con người tương xứng với nhân phẩm, thì việc bận tâm đến những thứ dư thừa là một thói tật hoang phí chẳng kém gì sự lơ là những nhu cầu thiết yếu trước đó.

Hiển nhiên là cả hai thái quy định này đều đi ngược lại tự nhiên khi con người hành động theo lý trí và lẽ phải thông thường. Chính từ sự chiêm nghiệm này mà tôi luôn đọc các tác phẩm của Ông Cowley với niềm khoái cảm lớn lao nhất: Khí phách cao thượng của ông vượt trội hơn hẳn so với những nhân vật tên tuổi khác cũng như sự uyên bác của chính ông; và đó là một tinh thần phân định chân chính ở vị tác giả tao nhã đã xuất bản các tác phẩm của ông khi đi sâu khai thác tâm tính cùng sự tiết chế trong những ham muốn của Cowley: Nhờ cách này, ông đã khắc họa người bạn của mình vừa đáng mến lại vừa nổi danh. Trạng thái cuộc sống mang vẻ bề ngoài nghèo khổ cùng với tầng lớp đại dân đen của Ông Cowley được miêu tả vô cùng xuất sắc; và đó không phải là niềm thỏa mãn nhỏ nhoi đối với những ai có cùng khuynh hướng ham muốn ấy, khi ông viện dẫn uy quyền của các bậc hiền triết ở kỷ nguyên hoàng kim nhất nhân loại để củng cố cho quan điểm của mình về những theo đuổi thông thường của nhân loại.

Thiết tưởng, sẽ là một châm ngôn sống không tồi nếu như, theo như vị tổ tiên của Ngài Roger mà tôi vừa nhắc đến, mỗi người tự vạch ra cho mình một hạn mức tài chính nhất định mà họ tự quyết định không bao giờ vượt quá. Bằng cách này, họ có thể tự lừa dối bản thân để tìm thấy sự tĩnh tâm ở phía bên này của kỳ vọng đó, hoặc dùng khoản kiếm được vượt mức ấy vào những mục đích cao cả hơn là phục vụ cho những hoan lạc hay nhu cầu cá nhân. Tâm tính này sẽ giúp con người miễn nhiễm với thói ganh tị mù quáng trước những kẻ bứt phá không ngừng nghỉ ở phía trên, cũng như sự khinh miệt khó bề dung thứ đối với những số phận hạnh phúc ở phía dưới. Làm được vậy chẳng khác nào giương buông theo la bàn, sống có mục đích; còn việc cứ mãi chìm đắm trong những ảo ảnh về khoản lợi lộc tương lai, rồi trang bị thứ áo giáp vô ích chống lại những đòn giò bất trắc của vận mệnh, lại là một sự tồn tại cơ học không có lý trí soi đường, mà bị cuốn đi bởi một thứ bản năng vô thức hướng về những điều tầm thường không đáng để chúng ta bận tâm hay kính trọng. Hoàn toàn có khả năng là sự tĩnh lặng mà tôi đang tận hưởng tại dinh thự của Ngài Roger đã khơi gợi trong tôi lối tư duy này, vốn tách rời khỏi gu thưởng thức thông thường của thế gian: Nhưng vì hiện tại tôi đang ở trong một chòi xanh dễ chịu được bao quanh bởi phong cảnh tuyệt mỹ, tôi chẳng cảm thấy xung động nào mạnh mẽ hơn việc được tiếp tục trú ngụ tại những dinh cơ này, nơi cách xa hoàn toàn khỏi những chốn phô trương của cuộc đời; và ngay tại thời điểm đặt bút viết này, tôi đủ chất triết gia để khép lại bằng lời của Ông Cowley;

If e'er Ambition did my Fancy cheat,

With any Wish so mean as to be Great;

Continue, Heav'n, still from me to remove

The humble Blessings of that Life I love.

Footnote 1: The Land Tax.

Footnote 2: But

Footnote 3: Dr. Thomas Sprat, Bishop of Rochester, in his Life of Cowley prefixed to an edition of the Poet's works. The temper of Cowley here referred to is especially shown in his Essays, as in the opening one Of Liberty, and in that Of Greatness, which is followed by the paraphrase from Horace's Odes, Bk. III. Od. i, beginning with the expression above quoted:

Hence, ye profane; I hate ye all;

Both the Great Vulgar and the Small.

Footnote 4: From the Essay Of Greatness.

... Ut sit Mens sana in Corpore sano.

Juv.

Lao động thể xác chia làm hai loại: một là công việc mà con người phải nhẫn nhục chịu đựng vì sinh kế, hai là hoạt động thể lực họ tự nguyện dấn thân vì sự giải trí. Loại thứ hai thường đổi tên từ "lao động" thành "tập thể dục", nhưng thực chất chỉ khác với lao động thông thường ở chỗ nó xuất phát từ một động cơ khác.

Đời sống điền viên phong phú cả hai loại lao động này, và chính vì lẽ đó, nó ban cho con người nguồn dự trữ sức khỏe dồi dào hơn, nhờ đó mang lại khả năng tận hưởng trọn vẹn bản thân sâu sắc hơn bất kỳ lối sống nào khác. Tôi coi cơ thể như một hệ thống các ống dẫn và màng lọc, hay nếu dùng một cụm từ mang tính thôn dã hơn, là một bó các đường ống và lưới lọc được ráp nối với nhau một cách kỳ diệu đến mức tạo thành một cỗ máy hoàn hảo để linh hồn vận hành. Mô tả này không chỉ bao gồm nội tạng, xương, gân, tĩnh mạch, dây thần kinh và động mạch, mà còn ôm trùm mọi thớ cơ cùng dây chằng vốn là hợp chất của các sợi tơ, tựa như vô số ống dẫn hay ống nghiệm vô hình đan cài chằng chịt với các màng lọc hoặc lưới lọc ẩn khuất ở mọi phía.

Quan niệm tổng quát này về cơ thể con người, dẫu chưa cần xét đến những chi tiết tỉ mỉ của giải phẫu học, cũng đủ cho ta thấy lao động là điều tuyệt đối thiết yếu cho việc duy trì nó đúng cách. Phải có những chuyển động và sự dao động liên tục để hòa trộn, tiêu hóa và tách lọc các chất dịch bên trong, cũng như để khơi thông và làm sạch vô tận những đường ống và lưới lọc cấu thành nên cơ thể, đồng thời rèn luyện cho phần thể chất rắn chắc và bền bỉ hơn. Lao động hoặc tập luyện giúp làm lên men các dịch thể, đưa chúng vào đúng các mạch dẫn, tống khứ các chất thừa thãi, và phò trợ tự nhiên trong những quá trình phân bổ thầm kín ấy — thiếu chúng, cơ thể không thể duy trì sự tráng kiện, và linh hồn cũng chẳng thể hành sự với niềm hoan hỉ.

Tôi có thể kể ra đây những tác động của việc này đối với mọi năng lực của tâm trí, khi nó giúp giữ cho nhận thức minh mẫn, trí tưởng tượng bình yên, và tinh lọc những luồng sinh khí cần thiết cho việc phát huy đúng đắn các năng lực trí tuệ trong khuôn khổ các quy luật liên kết hiện tại giữa thể xác và linh hồn. Chính sự lơ là trong khía cạnh này là nguyên nhân gây ra chứng u sầu vốn rất phổ biến ở những người có tính khí hay suy ngẫm và quen ngồi một chỗ, cũng như chứng bứt rứt hơi men mà phái nữ thường hay mắc phải.

Nếu việc tập luyện không phải là điều tuyệt đối thiết yếu cho sự an khang của chúng ta, thì tạo hóa đã chẳng ban cho cơ thể sự thích ứng hoàn hảo đến vậy qua việc ban tặng cho các chi sự linh hoạt và cho từng bộ phận độ dẻo dai đủ để tất yếu tạo ra những sức nén, sự co duỗi, vặn vẹo, giãn nở cùng mọi hình thức chuyển động khác cần thiết cho việc duy trì một hệ thống ống dẫn và màng lọc như đã đề cập. Và để chúng ta không thiếu đi những động lực lôi cuốn vào việc rèn luyện cơ thể vốn mang lại lợi ích cho chính mình, tạo hóa đã định đoạt sao cho chẳng có điều giá trị nào có được mà không phải đánh đổi bằng nỗ lực. Chưa nói đến sự giàu sang và vinh hiển, ngay cả cơm ăn áo mặc cũng không thể với tới nếu thiếu đi công sức nhọc nhằn của đôi bàn tay và giọt mồ hôi trên trán. Sơ tâm ban phát nguyên liệu, nhưng đòi hỏi chúng ta phải tự tay chế biến chúng. Đất đai phải được cày xới mới chịu dâng hiến hoa trái, và khi nó bị ép phải cho ra đời các sản phẩm, chúng phải qua tay bao nhiêu người mới sẵn sàng để sử dụng? Các ngành sản xuất, thương mại và nông nghiệp tự nhiên đã thu hút hơn mười chín phần hai mươi dân số nhân loại; và đối với những ai không bị ép buộc phải lao động bởi hoàn cảnh sinh ra, họ còn khốn khổ hơn phần còn lại của nhân loại, trừ phi họ tựindulge vào thứ lao động tự nguyện mang tên tập thể dục.

Bằng hữu của tôi, Ngài Roger, là một con người không biết mệt mỏi trong các công việc kiểu này, và đã treo khắp nhiều căn phòng trong dinh thự những chiến tích từ các cuộc săn bắn trước kia của ông. Các bức tường ở sảnh lớn được phủ kín bởi sừng của đủ loại hươu nai mà ông đã hạ gục trong những chuyến đi săn — thứ đồ đạc mà ông trân quý nhất trong nhà, bởi chúng cung cấp cho ông những đề tài trò chuyện bất tận và chứng tỏ rằng ông chưa từng sống hoài phí. Ở góc cuối sảnh là một bộ da rái cá lớn được nhồi cỏ, do mẫu thân của ngài ra lệnh treo theo cách đó, và vị hiệp sĩ ngắm nhìn nó với sự thỏa mãn tột cùng, bởi có vẻ như ngài mới chỉ lên chín tuổi khi con chó săn của ngài tước đoạt mạng sống của nó. Một căn phòng nhỏ giáp sảnh là một thứ nhà kho chứa đầy súng đạn đủ kích cỡ và phát minh, thứ mà vị hiệp sĩ đã dùng để gây ra cảnh tàn sát kinh hoàng trong các khu rừng, tiêu diệt hàng vạn gà lôi, gà gô và chim dẽ giun. Cửa chuồng ngựa của ông được chắp vá bằng những chiếc mõm thuộc về loài cáo do chính tay ngài săn đuổi. Ngài Roger từng cho tôi xem một chiếc trong số đó, vì để làm dấu, đã được đóng xuyên qua một chiếc đinh đồng — chiến tích tiêu tốn của ông khoảng mười lăm giờ đồng hồ rong ruổi trên lưng ngựa, cuốn ông qua nửa tá hạt, làm chết ngỏm một cặp ngựa chiến và thất lạc hơn một nửa số chó săn. Vị hiệp sĩ coi đây là một trong những chiến công vĩ đại nhất đời mình. Người góa phụ ngang ngạnh mà tôi từng nhắc đến chính là nguyên nhân cái chết của không ít con cáo, bởi Ngài Roger từng kể với tôi rằng trong suốt quá trình theo đuổi tình ái, ông đã dùng mõm cáo để vá cửa phía tây chuồng ngựa. Hễ khi nào người góa phụ tỏ ra cay nghiệt, đám cáo chắc chắn là lũ phải gánh chịu hậu quả. Tương xứng với việc ngọn lửa tình yêu dành cho góa phụ nguội dần và tuổi già ập tới, ông đã gác lại thú săn cáo; nhưng một con thỏ rừng nào bén mảng ngồi trong phạm vi mười dặm quanh nhà ông thì vẫn chưa thể tính là an toàn.

Chẳng có hình thức tập luyện nào mà tôi lại tha thiết khuyến khích các độc giả ở cả hai phái như việc cưỡi ngựa, bởi chẳng có bộ môn nào đóng góp nhiều cho sức khỏe đến thế, lại vừa vặn phù hợp với cơ thể về mọi mặt theo đúng quan niệm mà tôi đã trình bày. Bác sĩ Sydenham dành những lời ngợi ca vô cùng hào phóng cho nó; và nếu độc giả người Anh muốn tìm hiểu tường tận về các tác động cơ học của nó, ông có thể tìm đọc trong một cuốn sách được xuất bản cách đây không lâu dưới tựa đề Medicina Gymnastica. Về phần mình, khi ở trong thành phố, vì thiếu những cơ hội đó, tôi tự tập luyện mỗi ngày một giờ với một quả tạ đặt ở góc phòng — thứ làm tôi vô cùng hài lòng bởi nó thực hiện mọi yêu cầu của tôi trong sự im lặng tuyệt đối. Bà chủ nhà và các con gái quen thuộc với khung giờ tập luyện của tôi đến mức họ không bao giờ bước vào phòng làm phiền tôi trong lúc tôi đang tập tạ.

Khi còn trẻ hơn bây giờ vài tuổi, tôi từng tự vùi mình vào một trò giải trí nhọc nhằn hơn, học được từ một chuyên khảo bằng tiếng Latin viết với sự uyên bác tuyệt vời: Ở đó nó được gọi là skiomachia, hay cuộc chiến đấu với cái bóng của chính mình, bao gồm việc vung vẩy hai chiếc gậy ngắn cầm ở mỗi tay, đầu gậy có gắn các cục chì nặng. Động tác này giúp nở ngực, vận động các cơ và mang lại cho con người toàn bộ niềm vui của quyền anh mà không phải chịu những cú đấm. Tôi ước gì nhiều bậc học giả có thể dành trọn khoảng thời gian mà họ lãng phí vào các cuộc tranh cãi và đôi co vô bổ để chuyển sang phương pháp chiến đấu với cái bóng của chính mình này. Nó có thể đóng góp rất nhiều vào việc giải tỏa chứng u sầu vốn khiến họ trở nên khó chịu với công chúng cũng như với chính bản thân họ.

Lời kết: Vì tôi là một tổ hợp của thể xác và linh hồn, tôi coi bản thân có nghĩa vụ phải tuân thủ một hệ thống bổn phận kép; và tôi cho rằng mình chưa hoàn thành công việc trong ngày khi chưa dùng phương pháp này để rèn luyện phần thể xác thông qua lao động và tập luyện, cũng như phần linh hồn thông qua sự học hỏi và chiêm nghiệm.

L.

Footnote 1: Motion

Footnote 2: Medicina Gymnastica, or, a Treatise concerning the Power of Exercise. By Francis Fuller, M.A.

Footnote 3: Artis Gymnasticæ apud Antiquos ... Libri VI. (Venice, 1569). By Hieronymus Mercurialis, who died at Forli, in 1606. He speaks of the shadow-fighting in Lib. iv. cap. 5, and Lib. v. cap. 2.

... Vocat ingenti clamore Cithœron,

Taygetique canes ...

Virg.

Những ai nghiên cứu về bản chất con người đều nhận thấy rằng không có gì minh chứng cho sự cao cả của tâm hồn rõ nét hơn việc niềm hạnh phúc của nó nằm ở hành động. Mỗi con người đều mang trong mình một nguyên lý năng động đến mức họ sẽ tự tìm kiếm điều gì đó để bận rộn dẫu ở bất kỳ chốn nào hay trong hoàn cảnh sống ra sao. Tôi từng nghe về một quý tộc bị giam cầm biệt giam trong ngục Bastile suốt bảy năm trời; trong khoảng thời gian đó, ông tự khuây khỏa bằng cách rải vài chiếc ghim nhỏ quanh phòng, nhặt chúng lên rồi xếp thành các hình thù khác nhau trên tay một chiếc ghế bành lớn. Sau này, ông thường kể với bạn bè rằng nếu không tìm ra trò tiêu khiển này, ông thực sự tin là mình đã phát điên.

Sau những gì đã được chia sẻ, tôi chẳng cần phải thông báo với độc giả rằng Ngài Roger — nhân vật mà tôi hy vọng các độc giả hiện đã nắm khá rõ tính cách — thời trẻ từng trải qua toàn bộ chuỗi các hoạt động giải trí thôn dã vốn vô cùng phong phú ở vùng quê; những trò chơi có vẻ cực kỳ phù hợp với sự lao động cần cù mà người ta có thể quan sát thấy ở đây với mức độ lớn hơn nhiều so với chốn thị thành. Tôi từng ám chỉ đến một số chiến tích của bằng hữu mình: Thời trai trẻ, ông từng săn được bốn đàn gà gô trong một mùa; và làm kiệt sức không biết bao nhiêu con cá hồi chỉ bằng một sợi dây câu làm từ đúng một sợi tóc. Những lời cảm ơn và lời chúc phúc chân thành từ chòm xóm luôn đồng hành cùng ông, nhờ vào sự căm thù đáng nể của ông đối với loài cáo; ông đã tiêu diệt số lượng loài sinh vật hại này trong một năm còn nhiều hơn cả tổng số mà thiên hạ nghĩ toàn vùng có thể sinh ra. Quả thực, vị hiệp sĩ không ngần ngại thú nhận với những người bạn thân thiết nhất rằng để củng cố tiếng tăm theo hướng này, ông đã bí mật cho người mua số lượng lớn cáo từ các hạt khác, rồi thả chúng ra khắp vùng vào ban đêm để tiện bề lập công trong việc tiêu diệt chúng vào ngày hôm sau. Ngựa săn của ông thuộc hàng đẹp nhất và được huấn luyện tốt nhất trong toàn vùng: Các tá điền của ông vẫn chưa ngớt lời ca ngợi một con ngựa chiến lông xám từng không may ngã vào cọc nhọn nhiều năm trước, được đem chôn cất với nghi lễ vô cùng trang trọng trong vườn cây ăn quả.

Ngài Roger, vì hiện tại đã quá già để tham gia săn cáo, nên để duy trì sự năng động, đã thanh lý đám chó săn thỏ dòng Beagles và tậu một bầy chó săn đánh hơi dòng Stop-Hounds. Những chú chó này tuy kém về tốc độ, nhưng ông cố gắng bù đắp bằng tiếng sủa trầm vang và sự hòa âm đa dạng của chúng — những âm thanh được phối hợp nhịp nhàng đến mức toàn bộ tiếng tru tạo thành một buổi hòa nhạc hoàn chỉnh. Ông rất tinh tế trong khoản này đến mức độ hôm nọ, khi một quý tộc tặng ông một con chó săn vô cùng đẹp, vị hiệp sĩ đã sai người hầu đem trả lại kèm theo rất nhiều lời lẽ lịch sự, nhưng đồng thời nhờ chuyển lời đến chủ nhân của nó rằng con chó mà ông gửi thực chất là một nốt Trầm (Bass) xuất sắc, ngặt nỗi hiện tại ông chỉ đang cần một nốt Giọng nam cao (Counter-Tenor).

Nếu tôi có thể tin rằng bằng hữu mình từng đọc qua các tác phẩm của Shakespeare, tôi chắc chắn sẽ kết luận rằng ông đã lấy ý tưởng từ nhân vật Theseus trong vở kịch Giấc mộng đêm hè.

My Hounds are bred out of the Spartan Kind,

So flu'd, so sanded; and their Heads are hung

With Ears that sweep away the Morning Dew.

Crook-knee'd and dew-lap'd like Thessalian Bulls;

Slow in Pursuit, but match'd in Mouths like Bells,

Each under each: A Cry more tuneable

Was never hallowed to, nor chear'd with Horn.

Ngài Roger nhiệt tình với môn thể thao này đến mức ông tham gia hầu như mỗi ngày kể từ khi tôi đặt chân về đây; và nhân việc ngài mục sư đề nghị cho tôi mượn con ngựa điền kinh hiền lành của thầy, tôi đã bị thuyết phục vào sáng hôm qua để nhập hội cùng mọi người. Khi chúng tôi cùng nhau phi nước đại, tôi vô cùng thích thú khi quan sát thấy lòng tốt bao dung của toàn bộ chòm xóm dành cho bằng hữu tôi. Các con trai của những tá điền cảm thấy vô cùng hạnh phúc nếu họ kịp mở một cánh cổng cho vị hiệp sĩ già nhân hậu đi qua — người thường đáp lại bằng cái gật đầu hoặc nụ cười thân thiện, kèm theo câu hỏi thăm ân cần về cha và chú của họ.

Sau khi cưỡi ngựa đi được khoảng một dặm rời khỏi nhà, chúng tôi tiến vào một vùng đất hoang rộng lớn và các tay săn bắt đầu lùng sục. Họ vừa làm vậy được một lúc, thì khi tôi đang đứng cách phần còn lại của nhóm một khoảng ngắn, tôi thấy một con thỏ rừng bất ngờ chồm ra từ một bụi kim tước nhỏ gần như ngay dưới chân ngựa của tôi. Tôi ghi nhớ hướng đi của nó và cố ra hiệu cho mọi người bằng cách giơ dài cánh tay; nhưng chẳng ích gì, cho đến khi Ngài Roger — kẻ thừa biết mọi cử động khác thường của tôi đều có ngụ ý — phi ngựa lại gần và hỏi tôi rằng liệu con thỏ đã chạy theo hướng đó phải không? Khi tôi đáp "Phải", ông lập tức gọi lũ chó lại và ra lệnh đánh hơi theo dấu vết. Trong lúc chúng đang tỏa ra, tôi nghe thấy một gã nhà quê lầm bầm với bạn đồng hành rằng: "Thật là kỳ lạ khi bọn họ suýt đánh mất toàn bộ cuộc săn chỉ vì gã đàn ông trầm lặng kia không chịu thét lên câu báo hiệu Thỏ chạy hướng kia rồi."

Điều này, cộng với ác cảm của tôi đối với việc nhảy qua các hàng rào, khiến tôi lui về một gò đất cao — nơi tôi có thể thâu tóm toàn bộ bức tranh của cuộc săn mà không phải chịu sự mệt nhọc khi phải bám sát đàn chó. Con thỏ rừng ngay lập tức bỏ xa đám chó hơn một dặm; nhưng tôi vô cùng thích thú khi nhận ra rằng thay vì chạy thẳng một mạch, hay theo ngôn ngữ của thợ săn là "vượt vùng" như tôi từng e sợ, nó lại quẫy đuôi vòng lại và vẽ nên một vòng tròn quanh ngọn đồi nơi tôi đứng trạm, theo cách mang lại cho tôi một góc nhìn vô cùng rõ nét về cuộc săn. Tôi có thể nhìn thấy nó chạy vụt qua trước, rồi một lúc sau là đám chó đang lần giở toàn bộ đường đi nước bước của nó qua từng khúc cua. Cùng lúc đó, tôi vô cùng hoan hỉ khi quan sát sự kính trọng mà toàn bộ bầy chó dành cho từng con chó đầu đàn dựa trên uy tín mà nó đã tạo dựng được giữa bầy: Hễ khi nào chúng bị mất dấu và một con chó già có tiếng tăm cất tiếng sủa dù chỉ một lần, nó lập tức được cả bầy hùa theo hưởng ứng; trong khi một con chó tơ hoặc một kẻ nổi danh là "nói dối" có thể sủa rách cả cổ họng mà chẳng ai thèm ngó ngàng tới.

Con thỏ rừng sau khi khép mình ẩn nấp hai ba lần và bị đuổi tung lên bấy nhiêu lần, cuối cùng lại tiến sát về phía điểm xuất phát ban đầu. Đám chó rượt đuổi phía sau, theo sát chúng là vị hiệp sĩ hào hoa cưỡi trên con ngựa chiến lông trắng, xung quanh là các tá điền cùng gia nhân, đang hào hứng cổ vũ bầy chó với khí thế phơi phới của tuổi đôi mươi. Một tay săn phóng ngựa đến bên tôi và quả quyết rằng cuộc săn sắp sửa kết thúc, bởi những con chó già vốn tụt lại phía sau nãy giờ nay đã lên dẫn đầu bầy. Gã đó đã đoán trúng. Con thỏ của chúng tôi băng qua một cánh đồng lớn ngay dưới chân chúng tôi, theo sau là toàn bộ bầy chó đang tru lên trong tầm mắt. Phải thú nhận rằng ánh nắng rạng rỡ, sự tươi vui của vạn vật xung quanh, tiếng tru vang vọng của bầy chó dội ngược lại từ hai ngọn đồi lân cận thông qua hiệu ứng tiếng vang kép, hòa cùng tiếng hò reo của các thợ săn và tiếng tù và vang dội, đã đẩy tinh thần tôi lên một niềm hoan hỉ ngập tràn — thứ tôi hoàn toàn thả mình tận hưởng bởi tôi chắc chắn nó vô cùng trong sáng. Nếu tôi có chút bận lòng nào, thì đó là vì con thỏ tội nghiệp giờ đây đã kiệt sức và gần như nằm trong tầm vươn tới của kẻ thù; đúng lúc đó, người dắt chó lao lên và ném chiếc sào của mình chắn ngang trước mặt bầy chó. Chúng lúc ấy chỉ còn cách con mồi mà mình đã rượt đuổi suốt ngấy ấy giờ có đúng tám thước; thế nhưng trước tín hiệu vừa rồi, tất cả đều khựng lại đột ngột, và dẫu tiếp tục tru lên ầm ĩ như trước, chúng tuyệt đối không dám bén mảng vượt qua chiếc sào. Đồng thời, Ngài Roger phóng ngựa lên, xuống ngựa và ôm trọn con thỏ vào lòng; rồi chẳng mấy chốc trao nó lại cho một người hầu kèm theo mệnh lệnh: nếu có thể giữ cho nó sống sót, hãy thả nó vào khu vườn lớn của ông — nơi dấy có vẻ như ông nuôi nhốt vài tù nhân chiến tranh này, đang cùng nhau sống trong cảnh giam cầm vô cùng thoải mái. Tôi vô cùng hoan hỉ khi chứng kiến kỷ luật của bầy chó cùng bản tính nhân hậu của vị hiệp sĩ, người không đành lòng tước đoạt mạng sống của một tạo vật đã mang lại cho ông quá nhiều niềm vui.

Trên đường trở về nhà, tôi chợt nhớ ra rằng trong bài luận xuất sắc về Sự khốn khổ của con người, Monsieur Paschal từng nói với chúng ta rằng: "Mọi nỗ lực vươn tới sự vĩ đại của chúng ta chẳng bắt nguồn từ đâu khác ngoài khát khao được vây quanh bởi vô số con người và công việc nhằm ngăn cản ta nhìn vào chính bản thân mình — một góc nhìn mà ta không tài nào chịu đựng nổi." Sau đó, ông tiếp tục chứng minh rằng niềm đam mê thể thao của chúng ta cũng xuất phát từ lý do tương tự, và đặc biệt đả kích gay gắt thú săn bắn. "Nào," ông nói, "ngoại trừ việc chôn vùi những suy nghĩ, còn gì có thể khiến con người ta vứt bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một con động vật ngớ ngẩn, thứ mà họ hoàn toàn có thể mua với giá rẻ hơn ở ngoài chợ?" Suy ngẫm trên quả thực hoàn toàn xác đáng khi một kẻ để cho toàn bộ tâm trí cuốn vào các trò chơi thể thao và đánh mất hoàn toàn bản thân trong những khu rừng; nhưng nó không hề tác động đến những ai hướng tới một mục đích đáng ca ngợi hơn nhiều từ hoạt động này, ý tôi là: Sự bảo tồn sức khỏe và duy trì mọi cơ quan của linh hồn ở trạng thái sẵn sàng tuân lệnh.

Giả sử nhân vật vô song mà tôi vừa trích dẫn khoan dung hơn với bản thân đôi chút về điểm này, thế giới có lẽ đã được tận hưởng sự hiện diện của ông lâu hơn rất nhiều; đằng này, vì quá mức vùi đầu vào việc học hành thời niên thiếu, ông đã nhiễm phải thể trạng tồi tệ để rồi sau cơn bạo bệnh kéo dài, ông đã từ giã cõi đời khi mới bước sang tuổi bốn mươi; và toàn bộ tiểu sử cuộc đời ông cho đến thời điểm đó chỉ là một chuỗi liên tục những ghi chép về hành xử của một tâm hồn cao cả đang vật lộn dưới muôn vàn nỗi đau đớn cùng bệnh tật.

Về phần mình, tôi dự định sẽ đi săn hai lần một tuần trong suốt thời gian lưu lại chỗ Ngài Roger; và sẽ kê đơn việc sử dụng điều độ môn thể thao này cho tất cả những người bạn ở quê của mình, coi đây là thứ dược liệu tuyệt vời nhất để chữa lành một thể trạng tồi tệ và gìn giữ một cơ thể khỏe mạnh.

Tôi không thể diễn đạt điều này tốt hơn những dòng thơ sau đây của Ông Dryden.

The first Physicians by Debauch were made;

Excess began, and Sloth sustains the Trade.

By Chace our long-liv'd Fathers earn'd their Food;

Toil strung the Nerves, and purify'd the Blood;

But we their Sons, a pamper'd Race of Men,

Are dwindled down to threescore Years and ten.

Better to hunt in Fields for Health unbought,

Than fee the Doctor for a nauseous Draught.

The Wise for Cure on Exercise depend:

God never made his Work for Man to mend.

Footnote 1: As to dogs, the difference is great between a hunt now and a hunt in the Spectator's time. Since the early years of the last century the modern foxhound has come into existence, while the beagle and the deep-flewed southern hare-hound, nearly resembling the bloodhound, with its sonorous note, has become almost extinct. Absolutely extinct also is the old care to attune the voices of a pack. Henry II, in his breeding of hounds, is said to have been careful not only that they should be fleet, but also 'well-tongued and consonous;' the same care in Elizabeth's time is, in the passage quoted by the Spectator, attributed by Shakespeare to Duke Theseus; and the paper itself shows that care was taken to match the voices of a pack in the reign also of Queen Anne. This has now been for some time absolutely disregarded. In many important respects the pattern harrier of the present day differs even from the harriers used at the beginning of the present century.

Footnote 2: Act IV. sc. 1.

Footnote 3: Pascal, who wrote a treatise on Conic sections at the age of 16, and had composed most of his mathematical works and made his chief experiments in science by the age of 26, was in constant suffering, by disease, from his 18th year until his death, in 1662, at the age stated in the text. Expectation of an early death caused him to pass from his scientific studies into the direct service of religion, and gave, as the fruit of his later years, the Provincial Letters and the Pensées.

Footnote 4: Epistle to his kinsman, J. Driden, Esq., of Chesterton.

... Ipsi sibi somnia fingunt.

Virg.

Có những quan điểm mà trong đó con người nên giữ thái độ trung lập, không nghiêng ngả tán thành bên này hay bên kia. Một thứ đức tin lơ lửng như thế, từ chối việc định cư tại bất kỳ kết luận nào, là điều tuyệt đối cần thiết đối với một tâm trí luôn cẩn trọng tránh xa những sai lầm và thành kiến. Khi các lập luận nặng ký ngang bằng nhau ở cả hai phía trong những vấn đề vốn dĩ không ảnh hưởng gì đến chúng ta, phương cách an toàn nhất là không hiến dâng bản thân cho bên nào cả.

Chính với tâm thế này, tôi nhìn nhận chủ đề về Phù thủy. Khi nghe những câu chuyện được kể lại từ khắp nơi trên thế giới, không chỉ từ Na Uy và Lapland, từ Đông và Tây Ấn, mà từ mọi quốc gia riêng lẻ ở châu Âu, tôi không tài nào ngăn nổi suy nghĩ rằng quả thực có sự giao du và thương mại với các linh hồn ác quỷ, giống như điều ta biểu đạt qua danh từ phù thủy. Thế nhưng, khi ngẫm lại rằng phần thế giới dốt nát và dễ tin là nơi sản sinh nhiều nhất những câu chuyện kiểu này, và rằng những kẻ ở chỗ chúng ta bị cho là dấn thân vào mối thương mại hỏa ngục ấy đều là những kẻ trí tuệ kém cỏi cùng trí tưởng tượng hoang tưởng, đồng thời suy ngẫm về vô số trò bịp bợm và ảo tưởng mang tính chất này từng bị vạch trần qua mọi thời đại, tôi cố gắng kìm giữ niềm tin của mình cho đến khi nghe được những tường thuật xác thực hơn bất kỳ thứ gì từng lọt vào tai tôi. Tóm lại, khi tôi cân nhắc câu hỏi: liệu trên đời có những con người được gọi là phù thủy hay không? tâm trí tôi bị chia rẽ giữa hai luồng quan điểm đối lập; hoặc đúng hơn (để nói lên suy nghĩ một cách phóng khoáng), tôi tin chung chung rằng có và đã từng có thứ gọi là phù thủy; nhưng đồng thời không thể dành chút tín nhiệm nào cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào của nó.

Tôi dấn thân vào cuộc chiêm nghiệm này bởi một vài sự kiện bắt gặp ngày hôm qua, mà tôi sẽ tường thuật lại cho độc giả một cách đầy đủ. Khi đang tản bộ cùng bằng hữu tôi là Ngài Roger dọc theo rìa một khu rừng của ông, một bà lão đã tiến đến xin tôi chút lòng thương hại.

Trang phục và vóc dáng của bà khiến tôi liên tưởng đến đoạn mô tả sau đây trong tác phẩm của Otway.

In a close Lane as I pursued my Journey,

I spy'd a wrinkled Hag, with Age grown double,

Picking dry Sticks, and mumbling to her self.

Her Eyes with scalding Rheum were gall'd and red,

Cold Palsy shook her Head; her Hands seem'd wither'd;

And on her crooked Shoulders had she wrap'd

The tatter'd Remnants of an old striped Hanging,

Which served to keep her Carcase from the Cold:

So there was nothing of a Piece about her.

Her lower Weeds were all o'er coarsly patch'd

With diff'rent-colour'd Rags, black, red, white, yellow,

And seem'd to speak Variety of Wretchedness.

Trong lúc tôi đang trầm ngâm ngẫm nghĩ về đoạn mô tả này và so sánh nó với đối tượng trước mắt, vị hiệp sĩ liền bảo tôi rằng, chính bà lão này mang tai tiếng là phù thủy ở khắp cả vùng, người ta quan sát thấy môi bà lúc nào cũng lẩm bẩm, và chẳng có chiếc gậy chăn cừu nào quanh nhà mà hàng xóm không tin là từng cõng bà đi hàng trăm dặm. Nếu chẳng may bà vấp ngã, họ luôn tìm thấy những cành cây hoặc cọng rơm nằm vắt chéo hình chữ thập trước mặt. Nếu bà lỡ miệng nhầm lẫn ở nhà thờ và cất tiếng Amen sai chỗ, họ chẳng bao giờ quên kết luận rằng bà đang đọc ngược kinh cầu. Chẳng có cô thôn nữ nào trong giáo xứ dám nhận một chiếc ghim băng từ tay bà, dẫu bà có chìa ra cả một túi tiền đi kèm. Bà mang cái tên Moll White, và là nguyên nhân khiến cả vùng xôn xao với vô số chiến tích tưởng tượng bị quy chụp lên đầu bà. Nếu cô gái vắt sữa không làm cho bơ đặc lại nhanh như ý muốn, Moll White chính là kẻ đứng sau đáy thùng churn. Nếu một con ngựa đổ mồ hôi trong chuồng, Moll White đã leo lên lưng nó. Nếu một con thỏ rừng bất ngờ trốn thoát khỏi bầy chó săn, tay thợ săn sẽ nguyền rủa Moll White. Thậm chí (Ngài Roger nói), tôi từng biết chủ bầy chó săn, trong một dịp như thế, đã sai một người hầu đi kiểm tra xem sáng hôm đó Moll White có ra khỏi nhà hay không.

Câu chuyện này khơi gợi sự tò mò của tôi đến mức tôi nài nỉ bằng hữu Ngài Roger cùng đi vào túp lều của bà, nằm ở một góc khuất u tịch dưới chân bìa rừng. Vừa bước vào, Ngài Roger nháy mắt với tôi và chỉ vào vật gì đó dựng sau cửa, khi nhìn kỹ tôi nhận ra đó là một cán chổi cũ. Cùng lúc đó, ông thì thầm vào tai tôi hãy chú ý đến con mèo mướp ngồi ở góc sưởi, theo lời vị hiệp sĩ già, nó cũng mang tiếng xấu chẳng kém gì bản thân Moll White; bởi ngoài việc người ta đồn Moll thường xuyên đồng hành cùng nó dưới cùng một hình hài, con mèo này còn bịa đặt là từng cất tiếng nói hai ba lần trong đời và bày ra nhiều trò quái ác vượt quá khả năng của một con mèo bình thường.

Tôi cảm thấy xót xa thầm kín khi chứng kiến bản chất con người rơi vào cảnh khốn cùng và nhục nhã ê chề nhường ấy, nhưng đồng thời không khỏi mỉm cười khi nghe Ngài Roger — người có chút bối rối về bà lão — với tư cách là một Thẩm phán Hòa bình đã khuyên nhủ bà nên tránh xa mọi mối giao thiệp với quỷ dữ và đừng bao giờ làm tổn hại đến gia súc của hàng xóm. Chúng tôi khép lại chuyến viếng thăm bằng một khoản tiền bố thí, thứ được đón nhận rất nồng nhiệt.

Trên đường trở về nhà, Ngài Roger kể với tôi rằng mụ Moll từng nhiều lần bị giải tới trước mặt ông vì tội khiến trẻ con nhổ ra những chiếc ghim băng và gây ra chứng ác mộng cho các thiếu nữ; và rằng dân làng chắc chắn đã ném mụ xuống ao và thử nghiệm đủ mọi trò quái gở với mụ mỗi ngày, nếu không nhờ có ông và vị mục sư can thiệp.

Sau đó, qua tìm hiểu, tôi phát hiện ra Ngài Roger đã nhiều lần chao đảo trước những lời đồn đại được mang tới cho ông về bà lão này, và suýt chút nữa đã tống giam mụ ra tòa án hạt, nếu không nhờ vị mục sư đã phải hết lời mới thuyết phục được ông đổi ý.

Tôi đi sâu vào chi tiết câu chuyện này bởi tôi nghe nói hầu như chẳng có ngôi làng nào ở nước Anh lại không có một Moll White của riêng mình. Khi một bà lão bắt đầu lú lẫn và trở thành gánh nặng cho giáo xứ, bà ta thường bị biến thành phù thủy, và làm cho cả vùng ngập tràn những tưởng tượng hoang đường, bệnh tật ảo tưởng cùng những giấc mơ kinh hoàng. Trong khi đó, kẻ khốn cùng vốn là nguyên nhân vô tội của ngấy ấy tai họa lại bắt đầu hoảng sợ chính mình, và đôi khi thú nhận những cuộc giao du cùng sự thân mật bí mật mà trí tưởng tượng của tuổi già mê sảng đã vẽ nên. Điều này thường tước đi lòng bác thương đối với những đối tượng đáng thương nhất, đồng thời tiêm nhiễm vào lòng người sự thù hằn đối với những mảnh đời cằn cỗi gầy guộc thuộc giống loài chúng ta — nơi bản chất con người bị tàn phá bởi sự ốm yếu và lú lẫn tuổi già.

L.

Footnote 1: Ottway, which I could not forbear repeating on this occasion.

Footnote 2: Orphan, Act II. Chamont to Monimia.

Footnote 3: The knight told me, upon hearing the Description,

Footnote 4: When this essay was written, charges were being laid against one old woman, Jane Wenham, of Walkerne, a little village north of Hertford, which led to her trial for witchcraft at assizes held in the following year, 1712, when she was found guilty; and became memorable as the last person who, in this country, was condemned to capital punishment for that impossible offence. The judge got first a reprieve and then a pardon. The lawyers had refused to draw up any indictment against the poor old creature, except, in mockery, for 'conversing familiarly with the devil in form of a cat.' But of that offence she was found guilty upon the testimony of sixteen witnesses, three of whom were clergymen. One witness, Anne Thorne, testified that every night the pins went from her pincushion into her mouth. Others gave evidence that they had seen pins come jumping through the air into Anne Thorne's mouth. Two swore that they had heard the prisoner, in the shape of a cat, converse with the devil, he being also in form of a cat. Anne Thorne swore that she was tormented exceedingly with cats, and that all the cats had the face and voice of the witch. The vicar of Ardeley had tested the poor ignorant creature with the Lord's Prayer, and finding that she could not repeat it, had terrified her with his moral tortures into some sort of confession. Such things, then, were said and done, and such credulity was abetted even by educated men at the time when this essay was written. Upon charges like those ridiculed in the text, a woman actually was, a few months later, not only committed by justices with a less judicious spiritual counsellor than Sir Roger's chaplain, but actually found guilty at the assizes, and condemned to death.

... Haret lateri lethalis arundo.

Virg.

Dinh cơ dễ chịu này được vây quanh bởi vô số lối đi thú vị được phát quang từ một khu rừng — nơi tọa lạc của ngôi nhà ở chính giữa — khiến người ta khó lòng mà cảm thấy chán ngấy khi lang thang từ mê cung khoái lạc này sang mê cung khoái lạc khác. Đối với một kẻ quen sống chốn thị thành, những quyến rũ của chốn thôn quê tuyệt vời đến mức tâm trí lạc trôi trong một niềm ngây ngất nâng tầm ta vượt lên cuộc sống thông thường, mà vẫn chưa đủ mạnh để gây mâu thuẫn với sự tĩnh lặng. Tôi đang chìm đắm trong trạng thái tâm trí ấy, ngây ngất trước tiếng nước róc rách, tiếng gió thì thầm, tiếng chim ca; và dù ngước nhìn trời cao, cúi nhìn mặt đất, hay quay sang những phong cảnh xung quanh, tôi vẫn vô cùng sửng sốt trước cảm giác hoan hỉ mới mẻ; cho đến khi tôi nhận ra qua giọng nói của bằng hữu đang rảo bước bên cạnh rằng chúng tôi đã vô tình lang thang vào lùm cây linh thiêng dành riêng cho người góa phụ.

"Người phụ nữ này," ông nói, "là kẻ khó hiểu nhất trong tất cả: nàng hoặc có ý định kết hôn, hoặc không. Điều gây bối rối nhất là nàng không hề tuyên bố với những kẻ theo đuổi rằng nàng có quyết tâm khước từ hoàn toàn tình trạng hôn nhân ấy, cũng chẳng chịu xua đuổi họ; nhưng vì ý thức được giá trị bản thân, nàng cho phép họ đến tỏ tình mà không hề sợ hãi bất kỳ hậu quả tồi tệ nào, hay lo lắng về việc thiếu đi sự tôn trọng từ sự giận dữ hoặc tuyệt vọng của họ. Nàng sở hữu một vẻ uy nghiêm khiến người ta không thể mạo phạm. Một kẻ có tâm trí luôn hướng về một đối tượng đáng yêu nhường ấy, thiết tưởng nên được dung thứ nếu những sự việc thông thường trong cuộc trò chuyện nằm ngoài sự chú ý của chàng ta. Quả thực tôi gọi nàng là ngang ngạnh, nhưng hỡi ôi! sao tôi lại gọi nàng như thế? Bởi vì giá trị vượt trội của nàng lớn đến mức tôi chẳng thể đến gần mà không mang nỗi kính sợ, rằng trái tim tôi bị kìm hãm bởi sự sùng kính quá mức; tôi tức giận vì những nét quyến rũ của nàng không dễ tiếp cận hơn, vì tôi có xu hướng muốn tôn sùng hơn là chào hỏi nàng: Biết bao lần tôi từng ước nàng gặp bất hạnh để tôi có cơ hội phụng sự nàng? Và biết bao lần tôi lại dằn vặt chính trong suy nghĩ ấy vì đã mang lại cho nàng nỗi đau của sự mang ơn? Chà, tôi đã trải qua một cuộc đời khốn khổ trong thầm kín vì nàng; nhưng ngẫm lại, có lẽ nàng đã rủ lòng ban ơn cho tôi đôi chút, nếu không vì con vật canh gác nhiều chuyện chính là ả nữ tâm phúc của nàng."

"Trong tất cả mọi người dưới ánh mặt trời này," (ông tiếp tục, gọi tên tôi) "hãy nhớ đánh dấu vào bọn nữ tâm phúc: chúng là những kẻ xấc láo nhất trần đời. Điều thú vị nhất khi quan sát chúng là chúng tự gán cho mình công trạng của những nữ chủ nhân đang nằm dưới quyền quản lý của chúng. Orestilla sở hữu khối tài sản lớn và luôn đứng trước nguy cơ bị bất ngờ tấn công, thế nên mụ ta đầy rẫy sự nghi ngờ đối với những thứ nhỏ nhặt nhất, đặc biệt cảnh giác với các mối quan hệ mới và việc trở nên quá thân thiết với những người cũ. Themista, nữ gia nhân sủng ái của mụ, cũng cẩn trọng chẳng kém trong việc cô ta nói chuyện với ai và phát ngôn những gì. Cứ cho là người được bảo hộ mang nhan sắc tuyệt trần, nữ tâm phúc của nàng ta sẽ đối xử với bạn bằng một thái độ cách xa vạn dặm; cứ cho là nàng ta giàu có, mụ ta liền gieo rắc lối hành xử đa nghi của người bạn kiêm bảo kê mình. Cứ thế, phần lớn các phụ nữ danh giá chưa chồng của chúng ta trên thực tế đều đã kết hôn về mặt ý nghĩa, ngoại trừ yếu tố khác biệt giới tính. Họ nằm dưới sự dẫn dắt trực tiếp của mụ thì thầm bên tai; và cứ nghĩ bản thân đang tự do chừng nào còn có thể tán gẫu với một trong những kẻ hầu cận ấy về mọi đàn ông nói chung, mà vẫn né tránh được người đàn ông mà họ thực sự ái mộ. Bạn sẽ chẳng tìm thấy một nữ thừa kế trong số hàng trăm người mà số phận không xoay quanh cái tình huống lựa chọn nữ tâm phúc này. Cứ như thế, vị tiểu thư chỉ được tán tỉnh, dâng quà và nịnh nọt thông qua kẻ đại diện là mụ hầu của nàng. Trong trường hợp của tôi, làm sao có thể..."

Ngài Roger đang tiếp tục bài diễn văn thì chúng tôi nghe thấy tiếng ai đó đang nói năng vô cùng nài nỉ, lặp đi lặp lại những từ này: "Sao cơ, đến một nụ cười cũng không có ư?"

Chúng tôi lần theo âm thanh cho đến khi đến một lùm cây rậm rạp, phía bên kia là một thiếu nữ đang ngồi với vẻ hờn dỗi giả tạo ngay trên một dòng suối trong vắt. Đối diện với nàng là anh William, quản lý thú săn của Ngài Roger. Vị hiệp sĩ thì thầm vào tai tôi: "Suỵt, bọn họ là tình nhân đấy." Tay thợ săn đăm đăm nhìn vào cái bóng của thiếu nữ trên dòng suối:

"Ôi bức tranh thân ái, nếu mi có thể ở lại đó trong lúc bóng hồng mà mi đại diện dưới dòng nước vắng mặt, lòng ta sẵn sàng đứng đây thỏa mãn muôn đời, chẳng màng phiền hà đến nàng Betty thân yêu của ta với bất kỳ lời nhắc nhở nào về gã William bất hạnh của nàng — kẻ đang bị nàng giận hờn. Nhưng hỡi ôi! Khi nàng ấy bỏ đi, mi cũng sẽ tan biến — Tuy nhiên, hãy để ta trò chuyện với mi khi mi còn ở đây. Hãy nói với Betty dấu yêu của ta rằng mi không phụ thuộc vào nàng ấy nhiều hơn gã William của nàng đâu! Sự vắng mặt của nàng sẽ tước đoạt mạng sống của ta chẳng khác nào của mi. Nếu nàng ấy dám dời mi đi, ta sẽ lao đầu xuống dòng nước này để nắm giữ mi; còn bản thân nàng, con người thân yêu của nàng, ta vĩnh viễn chẳng thể ôm lấy lần nữa — Sao mi vẫn nghe ta nói mà chẳng nở nổi một nụ cười — Thật quá sức chịu đựng —"

Vừa thốt xong những lời này, anh ta liền làm động tác như muốn lao mình xuống nước; khiến cô người yêu giật mình chồm dậy, và ngay khoảnh khắc tiếp theo, anh ta nhảy qua dòng suối và ôm chầm lấy nàng. Nàng hoàn toàn hoàn hồn sau cơn hoảng hốt, cất giọng quyến rũ không tưởng với âm điệu hờn dỗi:

"Tôi cứ tưởng anh định trầm mình chết đuối cơ đấy. Không, không đời nào anh chịu chết đuối cho đến khi anh kịp nói lời tạm biệt với Susan Holliday."

Tay thợ săn, với sự dịu dàng bộc lộ tình yêu nồng cháy nhất và áp sát má vào má nàng, thì thầm những lời thề thau chung thủy mềm mại nhất vào tai nàng và thốt lên:

"Đừng, mình ơi, đừng tin nửa lời mụ Kate Willow thốt ra; mụ ta cay độc và chuyên bịa đặt chuyện, bởi mụ thích nghe anh trò chuyện một mình với mụ ấy vì lợi ích của em thôi."

Các bác thấy chưa, Ngài Roger lên tiếng, các bác thấy chưa, mọi tai họa đều bắt nguồn từ bọn nữ tâm phúc! Nhưng chúng ta đừng quấy rầy họ; cô gái là người chân chất, còn gã đàn ông không dám hành xử khác đi, vì hắn biết tôi từng yêu quý cha của con bé: Tôi sẽ nhúng tay vào chuyện này và giục giã đám cưới nhanh chóng. Kate Willow là một ả ranh con hóm hỉnh hiểm độc trong vùng, từng một thời nhan sắc; và điều đó khiến tôi hy vọng mình sẽ thấy người góa phụ ngang ngạnh rơi vào hoàn cảnh tương tự. Mụ ta từng ăn nói xấc láo với tất cả những chàng trai chân chất bén mảng đến gần, và vô cùng kiêu hãnh về nhan sắc đến mức tự hào về những nét quyến rũ ấy cho đến khi chúng tàn phai. Thế nên giờ đây mụ lấy việc ngăn cản các thiếu nữ khác khôn ngoan hơn mình làm niềm vui: Tuy nhiên, ả hỗn xược đó hôm nọ nói cũng có lý: "Ngài Roger và tôi thế nào cũng phải thành một cặp, vì cả hai chúng tôi đều bị ruồng bỏ bởi những kẻ chúng tôi yêu:" Ả hồ ly đó nắm giữ uy lực rất lớn ở bất cứ nơi đâu mụ đặt chân đến và cũng đầy rẫy sự xảo quyệt.

Tuy nhiên, khi ngẫm lại người phụ nữ này, tôi không biết xét về tổng thể mình có chịu thiệt thòi gì khi từng yêu nàng hay không: Hễ khi nào nàng hiện về trong tâm trí, tuổi trẻ của tôi lại quay về, và tôi cảm nhận được một hơi ấm đã lãng quên trong huyết quản. Nỗi thống khổ này trong đời đã rắc lên toàn bộ hành xử của tôi một sự mềm mỏng mà nếu không có nó, tôi đã chẳng thể có được. Có lẽ chính nhờ bóng hình thân thương trong tim này mà tôi dễ mềm lòng, dễ tha ngoãn, và nhiều phẩm chất đáng khao khát đã hòa vào tính khí tôi — những thứ mà tôi chẳng thể vươn tới bằng những động cơ cao đẹp hơn ý nghĩ được làm người của nàng vào một ngày nào đó. Tôi khá thỏa mãn rằng một mối tình như tôi từng trải qua chẳng bao giờ có thể chữa lành trọn vẹn; và thưa bác với tôi, tôi thường có xu hướng tưởng tượng rằng nó đã để lại một hiệu ứng kỳ quặc nào đó lên bộ não tôi: Bởi tôi thường xuyên phát hiện ra rằng trong những bài phát biểu nghiêm túc nhất, tôi vô tình thốt ra chút thân mật hài hước hoặc cụm từ quái dị nào đó khiến cả hội trường phải bật cười; tuy nhiên, tôi không thể không công nhận nàng là một người phụ nữ tuyệt vời. Khi ở vùng quê, tôi cá là nàng chẳng thèm chạy vào nhà vắt sữa, mà đọc sách về bản chất thực vật; nàng có cả một thùng ong bằng thủy tinh, và rời bỏ những trang sách bước ra vườn để ngắm chúng làm việc và quan sát chính sách của cộng đồng chúng. Nàng am hiểu mọi thứ. Tôi sẵn sàng cược mười bảng để được nghe nàng tranh luận về thương mại với bằng hữu tôi là Ngài Andrew Freeport. Không, không, dẫu nàng mang vẻ ngây thơ là thế, nhưng hãy tin lời tôi đi, nàng chẳng khờ khỉ nào đâu.

T.

Urbem quam dicunt Romam, Melibæe, putavi

Stultus ego huic nostræ similem ...

Virg.

Những suy ngẫm đầu tiên và rõ ràng nhất nảy sinh trong tâm trí một kẻ rời bỏ thành thị để về quê chính là về sự khác biệt trong tập tục của những con người mà họ gặp gỡ tại hai bối cảnh sống khác nhau ấy. Ý tôi bằng từ tập tục ở đây không phải là đạo đức, mà là phong thái và phép lịch sự, cách chúng biểu hiện ở chốn thị thành và nơi thôn dã.

Và tại đây, trước hết tôi phải ghi nhận một cuộc cách mạng vô cùng to lớn đã diễn ra trong điều khoản về Phép lịch sự này. Vô số sự nhún nhường, nhượng bộ và kính cẩn dễ chịu, đi kèm với nhiều hình thức và nghi lễ bề ngoài, thoạt đầu vốn xuất hiện trong giới thượng lưu sống ở cung điện và thành phố — những người tự tách mình ra khỏi tầng lớp bình dân thô kệch (vốn hành động bộc trực và tự nhiên trong mọi hoàn cảnh) thông qua sự nhã nhặn tương hỗ và giao thiệp lịch thiệp đó. Những hình thức giao tiếp này dần dần nhân lên và trở nên phiền toái; thế giới thời thượng cảm thấy bị bó buộc quá mức trong đó, và do đó đã vứt bỏ phần lớn chúng. Giao tiếp, giống như tôn giáo của Giáo hội La Mã, từng bị bao vây bởi quá nhiều hình thức và nghi lễ đến mức nó cần một cuộc cải cách để cắt tỉa những thứ rườm rà, trả nó về với sự minh mẫn và vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Do đó, hiện tại, một phong thái tự do không gò bó cùng sự cởi mở nhất định trong hành vi chính là đỉnh cao của phép lịch sự. Thế giới thời thượng nay đã trở nên phóng khoáng và thoải mái hơn; cung cách của chúng ta khoác lên người một cách lỏng lẻo hơn; chẳng có gì hợp thời bằng một sự lơ đễnh dễ chịu. Tóm lại, phép lịch sự bộc lộ rõ nhất ở nơi mà đối với mắt phàm, nó ít hiện diện nhất.

Nếu sau đó chúng ta nhìn vào những kẻ thời thượng ở chốn thôn dã, ta sẽ bắt gặp ở họ phong thái của thế kỷ trước. Họ vừa mới đuổi kịp xu hướng của giới thượng lưu thì liền bị thành phố bỏ lại phía sau, và nay còn tiệm cận trạng thái nguyên thủy của tự nhiên hơn là những sự tinh tế từng ngự trị tại triều đình và vẫn đang duy trì ở vùng quê. Giờ đây, người ta có thể nhận ra một kẻ chưa từng giao thiệp với thế giới bên ngoài thông qua sự thái quá trong phép lịch sự của hắn. Một tay địa chủ quê mùa lịch thiệp sẽ cúi đầu chào bạn trong nửa tiếng đồng hồ nhiều bằng số lần một triều thần làm trong cả tuần. Mức độ bận rộn xoay quanh chỗ ngồi và thứ bậc tại một buổi họp mặt các phu nhân thẩm phán còn lớn hơn gấp bội so với một đại hội các Nữ công tước.

Sự lịch sự thôn dã này vô cùng phiền toái đối với một kẻ có tính khí như tôi — người thường chọn chiếc ghế nào ở gần nhất và bước đi trước hay sau, ở tiền tuyến hay hậu phương tùy theo sự xô đẩy của ngẫu nhiên. Tôi từng chứng kiến bữa ăn của bằng hữu Ngài Roger suýt nguội ngắt trước khi đám đông khách khứa kịp điều chỉnh xong nghi thức và chịu ngồi xuống; và tôi vô cùng thương xót cho người bằng hữu già khi thấy ông buộc phải lựa chọn, cân nhắc kỹ lưỡng khách khứa khi họ ngồi ở các vị trí khác nhau quanh bàn tiệc, để có thể nâng ly chúc sức khỏe họ tương ứng với địa vị và phẩm hàm của từng người. William Wimble đáng kính — người mà tôi tưởng chừng hoàn toàn miễn nhiễm với nghi lễ — lại gây cho tôi vô số rắc rối trong khía cạnh này. Dẫu đã đi câu suốt cả buổi sáng, ông nhất quyết không chịu tự múc thức ăn cho đến khi tôi được phục vụ xong. Khi chúng tôi bước ra khỏi sảnh, ông chạy nép phía sau tôi; và tối qua, lúc chúng tôi đang dạo bước trên đồng cỏ, ông khựng lại trước một chiếc bậc rào cho đến khi tôi bước đến gần, và khi tôi ra hiệu bảo ông trèo qua trước, ông nở một nụ cười nghiêm túc bảo rằng chắc tôi nghĩ ở miền quê này người ta không có phép tắc gì.

Lại có một cuộc cách mạng khác xảy ra trong vấn đề Phép lịch sự, liên quan đến cách trò chuyện giữa những nam nhân thời thượng, và tôi không thể không coi đó là điều vô cùng kỳ lạ. Trước kia, một trong những dấu hiệu phân biệt đầu tiên của một người đàn ông lịch thiệp là việc diễn đạt mọi thứ có dù chỉ một thoáng vẻ gợi dục nhỏ nhất bằng những thuật ngữ khiêm nhường và từ ngữ xa vời; trong khi kẻ thô kệch — vốn thiếu đi sự nhạy cảm trong nhận thức và biểu đạt ấy — lại khoác lên ý tưởng của mình bằng những từ ngữ bình dân, thô mộc nhất, vốn là những từ hiển nhiên và tự nhiên nhất. Kiểu lịch sự này có lẽ bị đẩy đi quá đà, khiến cuộc trò chuyện trở nên quá cứng nhắc, hình thức và câu nệ: Chính vì lý do đó (giống như thói đạo đức giả ở thế kỷ này thường bị kế nhiệm bởi chủ nghĩa vô thần ở thế kỷ sau), cuộc trò chuyện phần lớn đã thụt lùi trở lại thái cực ban đầu; để rồi hiện tại, một số nam nhân chốn thị thành của chúng ta, đặc biệt là những kẻ đã được gọt giuỗi ở Pháp, lại sử dụng những từ ngữ thô tục, kém văn minh nhất trong ngôn ngữ của chúng ta và thường thốt lên những câu khiến một kẻ quê mùa cũng phải đỏ mặt khi nghe thấy.

Thói lịch sự đồi bại này đang ngự trị giữa đám công tử bột thành thị, nhưng vẫn chưa lan được đến miền quê; và vì một lối trò chuyện vô lý như vậy không thể tồn tại lâu trong một cộng đồng có tuyên xưng tôn giáo hay chút biểu hiện khiêm nhường nào, nên nếu đám quý tộc thôn dã có sa chân vào đó, họ chắc chắn sẽ bị bỏ lại phía sau. Phép lịch sự của họ sẽ đến quá muộn, và họ sẽ bị coi là một lũ nhà quê dâm ô, trong khi cứ ngỡ mình đang trò chuyện cùng nhau như những trang nam nhân hóm hỉnh và ưa hưởng lạc.

Bởi hai khía cạnh của Phép lịch sự mà tôi vừa nhấn mạnh đều liên quan đến phong thái và giao tiếp, nên có một khía cạnh thứ ba xoay quanh trang phục. Ở điểm này, miền quê cũng tụt hậu rất xa. Những gã công tử thôn quê vẫn chưa thoát khỏi mốt thời trang thịnh hành vào thời điểm diễn ra cuộc Cách mạng, mà cưỡi ngựa khắp chốn trong những chiếc áo khoác đỏ và mũ viền ren, trong khi phụ nữ ở nhiều nơi vẫn đang cố gắng vượt qua nhau về chiều cao của những kiểu tóc búi.

Nhưng một người bạn của tôi — hiện đang công tác trên tuyến xét xử miền Tây — đã hứa cung cấp cho tôi bản tường trình về các mốt và xu hướng thời trang đang thịnh hành ở các vùng miền khác nhau trong cả nước mà anh ấy đi qua, nên tôi xin phép hoãn việc bàn sâu về chủ đề cuối cùng này cho đến khi nhận được bức thư từ anh ấy, thứ mà tôi đang ngóng đợi qua mỗi chuyến bưu điện.

L.

... Equidem credo, quia sit Divinitus illis

Ingenium ...

Virg.

Bằng hữu của tôi, Ngài Roger, rất hay trêu chọc tôi về việc tôi dành quá nhiều thời gian giữa bầy gia cầm của ông: Ông đã bắt gặp tôi hai ba lần ngắm nghía một tổ chim, và nhiều lần ngồi liền một hai tiếng đồng hồ gần một ổ gà mái cùng đàn con. Ông bảo rằng ông tin tôi quen biết cá nhân với từng con vật quanh nhà, gọi một con gà trống cụ thể là cưng của tôi, và thường xuyên phàn nàn rằng đám vịt ngỗng của ông thu hút sự chú ý của tôi nhiều hơn cả bản thân ông.

Tôi phải thú nhận rằng mình vô cùng thích thú với những chiêm nghiệm về tự nhiên vốn có thể thực hiện được ở đời sống điền viên; và vì việc đọc sách của tôi chủ yếu xoay quanh các tác phẩm lịch sử tự nhiên, tôi không khỏi nhớ lại trong dịp này những nhận xét khác nhau từng bắt gặp ở các tác giả, rồi so sánh chúng với những gì rơi vào tầm quan sát của bản thân: Các lập luận chứng minh sự quan phòng được rút ra từ lịch sử tự nhiên của loài vật đối với tôi là những điều hiển nhiên không cần bàn cãi.

Cấu trúc cơ thể của mỗi loài động vật đều khác biệt so với mọi loài khác; thế nhưng chẳng có dù chỉ một cú bẻ cong nhỏ trong các thớ cơ hay một vòng xoắn nào trong các sợi tơ của bất kỳ loài nào lại không khiến chúng trở nên phù hợp hơn với lối sống của loài động vật cụ thể ấy so với bất kỳ hình dáng hay kết cấu nào khác.

Những ham muốn dữ dội nhất trong mọi sinh vật chính là Dục vọng và Đói khát: Bản năng thứ nhất là tiếng gọi thường trực thôi thúc chúng duy trì nòi giống; bản năng thứ hai để tự bảo tồn.

Thật đáng kinh ngạc khi suy ngẫm về các mức độ chăm sóc khác nhau được truyền từ cha mẹ sang con cái, miễn sao đủ tuyệt đối thiết yếu cho việc lưu lại một thế hệ mai hậu.

Một số sinh vật vứt bỏ trứng của mình mặc cho số phận đưa đẩy và chẳng màng đến chúng nữa, như côn trùng và một số loài cá; những loài khác có cấu trúc tinh vi hơn sẽ tìm những chiếc ổ thích hợp để ký gửi rồi bỏ mặc chúng ở đó, như loài rắn, cá sấu và đà điểu; những loài khác nữa ấp trứng và chăm sóc con non cho đến khi chúng có thể tự mưu sinh.

Ta có thể gọi thứ nguyên lý nào dẫn dắt từng loài chim khác nhau tuân thủ một bản thiết kế cụ thể trong cấu trúc tổ của chúng, và hướng dẫn tất cả những cá thể cùng loài hoạt động theo đúng một khuôn mẫu? Đó không thể là sự bắt chước; bởi dẫu bạn đem ấp một quả trứng quạ dưới thân gà mái và không bao giờ để nó nhìn thấy bất kỳ đồng loại nào của mình, chiếc tổ mà nó làm ra vẫn sẽ y hệt — đến từng cọng rỗng — so với tất cả những chiếc tổ khác của cùng loài đó. Đó không thể là Lý trí; bởi nếu động vật được phú cho lý trí ở mức độ lớn như con người, các công trình của chúng sẽ đa dạng như của chúng ta, tùy thuộc vào sự tiện lợi khác nhau mà chúng tự đặt ra cho mình.

Chẳng lẽ không đáng chú ý sao khi kiểu thời tiết tạo ra sự ấm áp dễ chịu này ở loài động vật, lại đồng thời phủ lên cây cối những chiếc đồng phục lá xanh và các cánh đồng một thảm cỏ dày để chúng ẩn nấp và ngụy trang, đồng thời sinh sôi những bầy đàn côn trùng vô tận nhằm nuôi sống các bầy con tương ứng của chúng?

Chẳng lẽ không kỳ diệu sao khi tình cảm của đấng sinh thành lại mãnh liệt đến thế trong suốt quãng thời gian nó tồn tại; và rằng nó lại chẳng kéo dài lâu hơn sự cần thiết cho việc bảo tồn con non?

Sự mãnh liệt của tình yêu tự nhiên này được minh họa bằng một thí nghiệm vô cùng tàn nhẫn; mà tôi xin trích dẫn trọn vẹn như đã tìm thấy ở một tác giả xuất sắc, và hy vọng các độc giả sẽ tha thứ cho việc đề cập đến một hành động tàn nhược như vậy, bởi chẳng có gì minh họa rõ ràng bằng sức mạnh của nguyên lý đó ở loài vật mà tôi đang bàn đến. "Một người thông thạo giải phẫu đã mổ bụng một con chó cái, và trong lúc nó đang nằm trong cơn đau đớn tột cùng, ông chìa ra cho nó một trong những đứa con chó con, nó liền lập tức liếm láp; và trong khoảnh khắc đó dường như quên đi nỗi đau của chính mình. Khi người ta kéo con ra, nó vẫn dán chặt mắt vào đó và cất lên tiếng kêu rên rỉ — thứ có vẻ phát ra từ nỗi mất mát con non nhiều hơn là cảm nhận về sự tra tấn của chính nó."

Nhưng dẫu cho tình yêu tự nhiên này ở loài vật mãnh liệt và dữ dội hơn nhiều so với các sinh vật có lý trí, Sự quan phòng đã an bài sao cho nó không còn phiền toái đối với cha mẹ lâu hơn quãng thời gian hữu ích cho con cái: bởi ngay khi những nhu cầu của con non chấm dứt, người mẹ liền thu hồi sự âu yếm và bỏ mặc chúng tự mưu sinh; và một tình tiết vô cùng đáng chú ý trong khía cạnh bản năng này là, ta nhận thấy tình cảm của cha mẹ có thể kéo dài vượt quá thời hạn thông thường nếu việc bảo tồn nòi giống đòi hỏi điều đó; như ta có thể thấy ở các loài chim xua đuổi con cái ngay khi chúng có thể tự kiếm ăn, nhưng vẫn tiếp tục mớm mồi nếu chúng bị ràng buộc trong tổ, bị giam trong lồng, hoặc bằng cách nào đó không còn khả năng tự lo liệu những nhu cầu của bản thân.

Tình yêu tự nhiên này không được quan sát thấy ở loài vật theo chiều từ con cái hướng lên cha mẹ — điều hoàn toàn không cần thiết cho việc tiếp nối nòi giống: Và thực tế ở các sinh vật có lý trí, nó cũng chẳng gia tăng theo tỷ lệ nào khi lan tỏa xuống dưới; bởi trong mọi thứ tình cảm gia đình, ta thấy sự bảo bọc được ban ơn và những ân huệ được trao tặng mới là động lực mạnh mẽ hơn cho tình yêu và sự trìu mến, so với sự an toàn, lợi ích hay sinh mệnh đã nhận được.

Người ta sẽ phải kinh ngạc khi nghe những kẻ hoài nghi tranh luận về lý trí của động vật, và bảo rằng chỉ có sự kiêu ngạo và thành kiến của chúng ta mới không cho phép chúng sử dụng năng lực đó.

Lý trí bộc lộ trong mọi biến cố của cuộc đời; trong khi loài vật không hề thể hiện bất kỳ tài năng nào như vậy, ngoại trừ trong những việc liên quan trực tiếp đến sự tự bảo tồn của chính nó hoặc sự tiếp nối nòi giống. Loài vật trong thế hệ của chúng khôn ngoan hơn con người; nhưng sự khôn ngoan của chúng bị giới hạn trong một vài chi tiết và nằm trong một phạm vi vô cùng hẹp. Tách một con vật ra khỏi bản năng của nó, bạn sẽ thấy nó hoàn toàn bị tước đoạt sự minh mẫn. Để lấy một ví dụ thường xuyên xuất hiện trước mắt.

Với sự cẩn trọng biết bao, gà mái tự tìm cho mình một chiếc tổ ở những nơi vắng vẻ, không có tiếng ồn và sự quấy rầy! Khi nó đẻ trứng sao cho có thể che phủ chúng, nó cẩn trọng biết bao trong việc lật chúng thường xuyên để mọi phần đều thấm đượm hơi ấm sự sống! Khi nó rời tổ để tìm kiếm thức ăn thiết yếu, nó quay về đúng giờ làm sao trước khi chúng kịp nguội lạnh và mất đi khả năng sinh ra sinh vật? Vào mùa hè, bạn thấy nó tự do hơn và rời bỏ sự chăm sóc của mình trong hơn hai tiếng đồng hồ; nhưng vào mùa đông, khi cái lạnh khắc nghiệt có thể làm tê liệt nguyên tắc sự sống và tiêu diệt con non, nó trở nên chuyên chú hơn trong việc túc trực và chỉ rời đi một nửa thời gian đó. Khi ngày sinh nở đến gần, với biết bao sự tinh tế và chú ý, nó giúp con gà con phá vỡ nhà tù của mình! Chưa kể đến việc nó che chở con khỏi những bất trắc của thời tiết, cung cấp dưỡng chất phù hợp và dạy nó cách tự tự lập; chưa kể đến việc nó từ bỏ chiếc tổ nếu sau thời gian tính toán thông thường mà con non không xuất hiện. Một cuộc vận hành hóa học không thể được thực hiện với nghệ thuật hay sự cẩn trọng lớn hơn những gì được nhìn thấy trong việc ấp một quả trứng gà; dẫu có nhiều loài chim khác thể hiện sự khôn ngoan lớn hơn nhiều trong tất cả những chi tiết vừa kể.

Nhưng đồng thời, con gà mái — dẫu sở hữu vẻ khôn khéo bề ngoài này (thứ thực sự vô cùng thiết yếu cho việc nhân giống nòi giống) — nếu xét ở các khía cạnh khác thì hoàn toàn không có lấy một tia suy nghĩ hay lẽ phải thông thường nào. Nó nhầm một cục phấn với quả trứng và ấp lên đó theo cùng một cách: Nó hoàn toàn vô cảm trước bất kỳ sự gia tăng hay suy giảm nào về số lượng những quả trứng nó đẻ; nó không phân biệt được trứng của mình với trứng của loài khác; và khi con non nở ra dù là của một loài chim khác biệt bao nhiêu đi nữa, nó vẫn ấp ủ như con đẻ. Trong tất cả những tình huống không gắn liền trực tiếp với sự sinh tồn của chính nó hoặc loài của nó, nó đích thực là một kẻ đần độn.

Theo quan điểm của tôi, chẳng có điều gì trong tự nhiên mang tính thần bí hơn bản năng này ở loài vật, khi nó vừa vượt lên trên lý trí lại vừa kém xa nó vô hạn. Nó không thể được giải thích bằng bất kỳ thuộc tính nào trong vật chất, đồng thời hoạt động theo một cách kỳ lạ đến mức người ta không thể nghĩ đó là năng lực của một bản thể có trí tuệ. Về phần mình, tôi coi nó giống như nguyên lý hấp dẫn ở các vật thể — thứ không thể được giải thích bằng bất kỳ phẩm chất vốn có nào được biết đến trong bản thân các vật thể, cũng như từ bất kỳ quy luật cơ học nào, mà theo những quan niệm đúng đắn nhất của các triết gia vĩ đại, là một ấn tượng trực tiếp từ Đấng Động lực sơ khai và Năng lượng thần thánh đang hành động bên trong các sinh vật.

L.

Footnote 1: depose

... Jovis omnia plena.

Virg.

Khi đang đi dạo sáng nay trong khoảng sân rộng thuộc dinh thự miền quê của bằng hữu tôi, tôi vô cùng thích thú khi chứng kiến những biểu hiện khác biệt của bản năng ở một con gà mái được theo sau bởi bầy vịt con. Lũ vịt con, vừa thoáng thấy ao nước, liền lao ngay xuống đó; trong khi người mẹ kế, với sự lo lắng khôn cùng, cứ bay lượn bên bờ ao để gọi chúng rời khỏi một nguyên tố có vẻ vô cùng nguy hiểm và hủy diệt đối với nó. Vì nguyên lý khác biệt hoạt động ở những động vật khác nhau này không thể gọi là lý trí, nên khi chúng ta gọi nó là Bản năng, ý chúng ta là điều gì đó mà ta hoàn toàn không tài nào thấu hiểu. Đối với tôi, như tôi từng bóng gió trong bài viết trước, nó dường như là sự định hướng trực tiếp của Sự quan phòng, và là một hoạt động của Đấng Tối Cao tương tự như thứ quyết định mọi phần của vật chất về đúng tâm điểm của chúng.

Một triết gia hiện đại, được trích dẫn bởi Monsieur Bayle trong chuyên khảo uyên bác của ông về linh hồn loài vật, đã đưa ra cùng một quan điểm, dẫu bằng một thể thức từ ngữ táo bạo hơn, khi ông phát biểu rằng: Deus est Anima Brutorum, chính Chúa Trời là linh hồn của loài vật. Ai có thể gọi tên cái gọi là sự khôn khéo ở loài vật — thứ hướng dẫn chúng tìm đến những loại thức ăn thích hợp cho mình và khiến chúng tự nhiên tránh xa bất cứ thứ gì độc hại hoặc không lành mạnh?

Tully từng quan sát thấy rằng một con cừu vừa mới lọt lòng mẹ liền lập tức và tự nguyện tiến về phía núm vú. Dampier, trong các chuyến du hành của mình, kể rằng khi thủy thủ dạt vào bất kỳ bờ biển hoang sơ nào của châu Mỹ, họ không bao giờ mạo hiểm nếm trái cây của bất kỳ cái cây nào — dù nó có vẻ hấp dẫn đến đâu — trừ khi họ quan sát thấy nó có dấu vết mổ của loài chim; nhưng họ sẽ lao vào ăn uống mà không chút sợ hãi hay lo lắng ở những nơi chim chóc từng ăn trước đó.

Nhưng dẫu cho động vật hoàn toàn không có cái gọi là việc sử dụng lý trí, ta vẫn tìm thấy ở chúng tất cả những phần thấp kém hơn trong bản chất của chúng ta, đó là các cảm xúc và giác quan đạt đến mức độ mạnh mẽ và hoàn thiện nhất. Và tại đây, điều đáng chú ý là tất cả các loài thú dữ và chim săn mồi đều vô cùng dễ nổi giận, ác tâm, thù hằn và chịu sự chi phối của mọi cảm xúc bạo liệt khác có thể kích động chúng trong hành trình tìm kiếm thức ăn thích hợp; trong khi những loài không có khả năng tự vệ, không thể làm hại kẻ khác, hoặc có sự an toàn nằm chủ yếu ở việc trốn chạy, lại mang tâm lý đa nghi, sợ hãi và cảnh giác với mọi thứ chúng nhìn thấy hoặc nghe thấy; trong khi những loài khác hữu ích và phục vụ con người lại có bản tính được làm dịu bởi điều gì đó ôn hòa và dễ huấn luyện, nhờ đó đủ điều kiện cho một đời sống gia đình. Trong trường hợp này, các cảm xúc thường tương ứng với cấu trúc cơ thể. Ta không tìm thấy sự hung tợn của sư tử ở một động vật yếu ớt và không có khả năng tự vệ như con cừu, cũng chẳng thấy sự hiền lành của cừu ở một tạo vật được vũ trang để chiến đấu và tấn công như sư tử. Tương tự như vậy, ta thấy các loài động vật cụ thể sở hữu độ sắc sảo và khôn khéo tinh tế hơn kém ở những giác quan cụ thể — thứ mang lại lợi ích lớn nhất cho chúng và gắn liền mật thiết nhất với sự an toàn cũng như phúc lợi của chúng.

Chúng ta cũng không thể bỏ qua sự đa dạng tuyệt vời của các loại vũ khí mà tự nhiên dùng để trang bị khác nhau cho cơ thể của một số loài động vật, chẳng hạn như móng vuốt, móng guốc, sừng, răng, răng nanh, đuôi, ngòi độc, vòi, hoặc vòi voi. Các nhà tự nhiên học cũng quan sát thấy rằng phải có một nguyên lý ẩn giấu nào đó khác biệt với cái ta gọi là lý trí — thứ hướng dẫn động vật cách sử dụng các vũ khí này và dạy chúng điều khiển chúng sao cho đạt hiệu quả tối ưu; bởi chúng tự nhiên tự vệ bằng bộ phận chứa sức mạnh của mình trước cả khi thứ vũ khí ấy hình thành trên cơ thể; điều này đáng chú ý ở loài cừu, dẫu được nuôi dưỡng trong nhà và chưa từng chứng kiến hành vi của đồng loại, vẫn húc vào những kẻ đến gần bằng phần trán trước cả khi mầm sừng đầu tiên nhú lên.

Tôi xin bổ sung vào những quan sát chung này một ví dụ mà Ông Locke đã cung cấp cho chúng ta về sự quan phòng ngay trong những điểm khuyết của một sinh vật tưởng chừng hèn mọn và đáng khinh nhất trong toàn bộ thế giới động vật.

"Chúng ta có thể," ông viết, "từ cấu trúc của con hàu hoặc con sò, kết luận rằng nó không sở hữu nhiều giác quan hay các giác quan nhạy bén như con người hoặc một số loài động vật khác: Ngay cả khi có đi chăng nữa, trong trạng thái và sự bất lực không thể tự di chuyển từ nơi này sang nơi khác đó, chúng cũng chẳng được hưởng lợi gì từ chúng. Sức nhìn và thính giác sẽ có ích gì cho một sinh vật không thể tự di chuyển đến gần hoặc rời xa đối tượng mà từ xa nó nhận thức là tốt hay xấu? Và sự nhạy cảm sắc bén chẳng phải sẽ là sự bất tiện cho một sinh vật buộc phải bất động ở nơi số phận đã an bài; và ở đó tiếp nhận dòng chảy của dòng nước lạnh hơn hay ấm hơn, sạch sẽ hay dơ bẩn, tùy theo việc nó chảy đến đâu."

Tôi xin bổ sung vào ví dụ từ Ông Locke này một ví dụ khác từ Tiến sĩ Moor uyên bác — người trích dẫn nó từ Cardan, liên quan đến một loài động vật khác bị Sự quan phòng bỏ quên sự hoàn thiện, nhưng đồng thời lại thể hiện sự khôn ngoan trong việc hình thành cơ quan mà nó có vẻ thiếu sót nhất.

"Còn gì hiển nhiên và bình thường hơn một con chuột chũi? Thế nhưng còn có minh chứng nào rõ ràng hơn về Sự quan phòng ngoài nó? Các bộ phận trên cơ thể nó được tinh chỉnh vô cùng chính xác để phù hợp với bản chất và lối sống của nó: Vì nơi cư ngụ của nó nằm dưới lòng đất, nơi chẳng có gì để nhìn thấy, tự nhiên đã tạo cho nó đôi mắt tối tăm đến mức các nhà tự nhiên học khó lòng đồng thuận liệu nó có chút thị lực nào hay không. Nhưng để bù đắp, những gì nó có khả năng sử dụng cho việc tự vệ và cảnh báo nguy hiểm lại được ban cho một cách vô cùng nổi trội: đó là thính giác cực kỳ nhạy bén. Và rồi cái đuôi ngắn cùng đôi chân ngắn, nhưng đôi chân trước rộng được trang bị những chiếc móng sắc bén — ta thấy qua thực tế chúng phục vụ mục đích gì khi nó lao mình dưới lòng đất với tốc độ nhanh chóng và dọn đường trong lòng đất nhanh đến mức những kẻ chứng kiến không khỏi thán phục. Do đó, chân của nó ngắn để nó không phải đào bới nhiều hơn độ dày của cơ thể; và chân trước của nó rộng để nó có thể xúc đi lượng lớn đất cùng lúc; và nó có rất ít hoặc không có đuôi, bởi nó không chạy nhảy trên mặt đất như chuột cống hay chuột nhắt — những họ hàng của nó — mà sống dưới lòng đất và buộc phải tự đào cho mình một chỗ trú ẩn ở đó. Và khi nó rẽ đường xuyên qua một nguyên tố đặc quánh như vậy, thứ không dễ nhường chỗ như không khí hay nước, việc kéo theo một chiếc đuôi dài phía sau sẽ vô cùng nguy hiểm; bởi kẻ thù có thể tóm lấy phần đuôi phía sau và lôi nó ra trước khi nó kịp hoàn thành hoặc chiếm trọn công trình của mình."

Tôi không thể không nhắc đến nhận xét của Ông Boyle về sinh vật cuối cùng này, người mà tôi nhớ ở đâu đó trong các tác phẩm của ông đã quan sát thấy rằng dẫu con chuột chũi không hoàn toàn mù lòa (như người ta vẫn thường nghĩ), nó cũng không có đủ thị lực để phân biệt các đối tượng cụ thể. Mắt của nó được cho là chỉ có một dịch thể, được cho là mang lại cho nó khái niệm về ánh sáng chứ không phải bất cứ thứ gì khác, và được cấu trúc sao cho khái niệm này có lẽ gây đau đớn cho con vật. Hễ khi nào nó ngoi lên ánh sáng ban ngày rực rỡ, nó sẽ gặp nguy cơ bị bắt, trừ khi nó bị ánh sáng chiếu vào mắt tác động như vậy và lập tức cảnh báo nó chôn vùi bản thân vào nguyên tố quen thuộc của mình. Thêm thị lực sẽ vô ích đối với nó, cũng như không có gì có thể là chí mạng.

Tôi chỉ đưa ra ví dụ về những loài động vật có vẻ là công trình kém hoàn thiện nhất của tự nhiên; và nếu Sự quan phòng biểu hiện ngay cả trong những khuyết điểm của các sinh vật này, thì nó lại càng phô bày bản thân biết bao trong các năng khiếu đa dạng mà nó ban tặng cho những sinh vật hoàn thiện hơn ở các mức độ khác nhau trong các năng lực của chúng, tương ứng với điều kiện sống mà chúng được an bài.

Tôi ước gì Hội Hoàng gia của chúng ta biên soạn một bộ Lịch sử Tự nhiên, tốt nhất có thể thu thập được từ sách vở và quan sát. Nếu các tác giả khác nhau trong đó mỗi người đảm nhận một loài cụ thể của mình, và cung cấp cho chúng ta một bản tường trình rõ ràng về nguồn gốc, ngày sinh cùng sự giáo dục của nó; các chính sách, thù hận và đồng minh của nó, cùng cấu trúc và kết cấu của các bộ phận bên trong lẫn bên ngoài, đặc biệt là những bộ phận phân biệt nó với mọi loài động vật khác, cùng với khả năng thích ứng đặc thù của chúng đối với trạng thái sinh tồn mà Sự quan phòng đã an bài, thì đó sẽ là một trong những dịch vụ lớn nhất mà các nghiên cứu của họ có thể cống hiến cho nhân loại, đồng thời góp phần không nhỏ vào vinh quang của Đấng Tạo hóa thông thái tối cao.

Quả thực, một Lịch sử Tự nhiên như vậy, sau mọi cuộc nghiên cứu của giới uyên bác, vẫn sẽ vô cùng thiếu sót và khiếm khuyết. Biển cả và sa mạc che giấu hàng triệu loài động vật khỏi tầm quan sát của chúng ta. Vô số thủ đoạn và chiến lược được diễn ra trong những hoang mạc hoang vu và nơi đại dương sâu thẳm, thứ không bao giờ có thể lọt vào sự hiểu biết của chúng ta. Chưa kể đến việc có vô số loài sinh vật không thể nhìn thấy nếu không có, hoặc thậm chí ngay cả với sự trợ giúp của những thấu kính tinh vi nhất, nhiều hơn so với những loài đủ lớn để mắt thường có thể nắm bắt. Tuy nhiên, từ việc xem xét các loài động vật nằm trong tầm hiểu biết của chúng ta, chúng ta có thể dễ dàng rút ra kết luận về phần còn lại, rằng sự đa dạng tương tự của sự khôn ngoan và lòng tốt đang trải dài khắp toàn bộ tạo hóa, và đặt mọi sinh vật vào điều kiện có thể tự lo liệu cho sự an toàn cũng như sinh kế của chúng ở đúng trạm của mình.

Tully đã phác họa cho chúng ta một bức tranh tuyệt vời về Lịch sử Tự nhiên trong cuốn sách thứ hai của ông về Bản chất của các vị thần; và rồi bằng một văn phong được nâng tầm bởi các phép ẩn dụ và mô tả, đến mức nó nâng chủ đề vượt lên trên sự chế giễu và mỉa mai — những thứ thường giáng xuống các quan sát tỉ mỉ như vậy khi chúng qua tay một tác giả tầm thường.

L.

Footnote 1: Bayle's Dictionary, here quoted, first appeared in English in 1710. Pierre Bayle himself had first produced it in two folio vols. in 1695-6, and was engaged in controversies caused by it until his death in 1706, at the age of 59. He was born at Carlat, educated at the universities of Puylaurens and Toulouse, was professor of Philosophy successively at Sedan and Rotterdam till 1693, when he was deprived for scepticism. He is said to have worked fourteen hours a day for 40 years, and has been called 'the Shakespeare of Dictionary Makers.'

Footnote 2: Captain William Dampier's Voyages round the World appeared in 3 vols., 1697-1709. The quotation is from vol. i. p. 39 (Ed. 1699, the Fourth). Dampier was born in 1652, and died about 1712.

Footnote 3: Essay on Human Understanding, Bk. II. ch. 9, § 13.

Footnote 4: Antidote against Atheism, Bk. II. ch. 10, § 5.

Footnote 5: Disquisition about the Final Causes of Natural Things, Sect. 2.

Comes jucundus in via pro vehiculo est.

Publ. Syr. Frag.

Mối quan tâm đầu tiên của một người nên là tránh xa sự phán xét cắn rứt của chính trái tim mình; tiếp đến là thoát khỏi những lời chê bai của thế gian: Nếu điều sau mâu thuẫn với điều trước, nó hoàn toàn nên bị phớt lờ; nhưng bằng không, chẳng có niềm mãn nguyện nào lớn hơn đối với một tâm hồn chính trực khi chứng kiến những sự chuẩn mực mà nó tự trao cho mình được tiếp sức bởi những lời tán dương từ công chúng: Con người sẽ càng thêm vững vàng về hành xử của bản thân khi phán quyết mà họ giáng lên chính tác phong của mình được bảo chứng và xác nhận bởi quan điểm của tất cả những ai quen biết họ.

Bằng hữu đáng quý của tôi, Ngài Roger, là một trong những người không chỉ có được sự bình yên trong tâm hồn mà còn được yêu mến và kính trọng bởi tất cả những ai xung quanh. Ông nhận về món quà tương xứng cho lòng nhân ái bao la của mình dành cho nhân loại, đó là sự hồi đáp bằng tình cảm và thiện chí được trả ơn bởi từng cư dân sinh sống trong vùng lân cận. Gần đây, tôi đã bắt gặp hai ba ví dụ kỳ lạ về sự tôn trọng chung đó dành cho vị hiệp sĩ già nhân hậu. Ông khăng khăng muốn mang theo William Wimble và tôi cùng đến phiên tòa xét xử của hạt: Trên đường đi, William Wimble nhập hội với hai người đàn ông bình dân cưỡi ngựa đi trước chúng tôi và trò chuyện với họ một lúc; trong thời gian đó, bằng hữu tôi Ngài Roger đã tóm tắt cho tôi nghe về nhân thân của họ.

"Người đầu tiên trong số đó," ông nói, "kẻ có con chó săn bên cạnh, là một địa chủ nhỏ thu nhập khoảng một trăm bảng một năm, một người chân chất: Hắn vừa đủ tiêu chuẩn theo Đạo luật Săn bắn, có tư cách để bắn một con thỏ hay gà lôi: Hắn hạ gục một bữa tối bằng súng của mình hai ba lần một tuần; và nhờ đó sống tiết kiệm hơn nhiều so với những kẻ không sở hữu điền trang tốt bằng hắn. Hắn sẽ là một người hàng xóm tốt nếu không tàn sát quá nhiều gà lôi: Tóm lại, hắn là một người vô cùng khôn ngoan; biết bắn chim đang bay; và từng nhiều lần làm Hội thẩm trưởng của Bồi thẩm đoàn sơ thẩm."

"Kẻ còn lại đi cùng hắn là Tom Touchy, một gã nổi danh với thói kiện cáo mọi người. Không có một ai ở thị trấn hắn sinh sống mà hắn chưa từng kiện ra Tòa án quận. Tên khốn này từng có gan đi kiện cả người Góa phụ. Đầu óc hắn đầy ắp những án phí, tiền bồi thường và trát đòi hầu tòa; hắn hành hạ một cặp quý ông chân chất suốt một thời gian dài vì tội xâm phạm khi vô tình làm gãy một hàng rào của hắn, cho đến khi hắn buộc phải bán đi mảnh đất được rào quanh đó để chi trả cho các khoản phí tố tụng: Cha hắn để lại cho hắn bốn mươi bảng một năm; nhưng hắn kiện tụng qua lại nhiều lần đến mức giờ đây tài sản chẳng còn nổi ba mươi. Tôi đoán hắn lại đang đi lo cái vụ việc muôn thuở quanh cây liễu đó."

Trong lúc Ngài Roger đang kể cho tôi nghe câu chuyện này về Tom Touchy, William Wimble và hai người bạn đồng hành đã dừng chân đợi chúng tôi tiến kịp. Sau khi bày tỏ sự kính trọng với Ngài Roger, William thưa rằng ông Touchy và anh ta muốn nhờ ông phân xử một tranh chấp nảy sinh giữa họ. Hóa ra William đã kể cho người bạn đồng hành nghe về một lần đi câu của mình tại một cái hố nào đó; khi đó Tom Touchy, thay vì nghe trọn câu chuyện, lại bảo rằng một quý ông nào đó, nếu muốn, hoàn toàn có thể kiện William vì tội câu cá ở khúc sông đó. Bằng hữu tôi Ngài Roger vừa phi nước kiệu vừa lắng nghe cả hai; và sau khi ngẫm nghĩ một lúc, ông phán quyết với phong thái của một kẻ không đưa ra phán quyết vội vàng, rằng "có rất nhiều điều có thể được nói từ cả hai phía." Cả hai đều không tỏ ra bất mãn với quyết định của vị hiệp sĩ, bởi không ai trong số họ thấy mình sai lầm qua phán quyết đó: Nhờ vậy, chúng tôi tiếp tục ron rả lên đường đến phiên tòa.

Tòa đã mở khi Ngài Roger đến; nhưng mặc dù tất cả các thẩm phán đã ổn định chỗ ngồi trên ghế quan tòa, họ vẫn nhường chỗ cho vị hiệp sĩ già ở vị trí trung tâm; người vì uy tín của mình trong vùng đã tranh thủ thì thầm vào tai vị thẩm phán rằng: "Tôi rất vui vì Chúa ngài đã gặp được thời tiết thuận lợi như vậy trong chuyến công du của ngài." Tôi đang chăm chú lắng nghe tiến trình của tòa án và vô cùng thích thú trước vẻ trang nghiêm, bề thế vốn gắn liền một cách phù hợp với việc thực thi công lý công khai như vậy; thì sau khi tòa ngồi được khoảng một tiếng đồng hồ, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra giữa một phiên xử, bằng hữu tôi Ngài Roger đang đứng dậy để phát biểu. Tôi cảm thấy hơi lo lắng cho ông, cho đến khi nhận ra ông đã hoàn thành hai ba câu với vẻ mặt đầy bận rộn và sự dũng mãnh tuyệt vời.

Vừa khi ông đứng lên, phòng xử án chìm vào im lặng, và một tiếng thì thầm lan rộng giữa những người dân quê rằng Ngài Roger đang phát biểu. Bài phát biểu của ông lạc đề đến mức tôi sẽ không làm phiền độc giả bằng việc thuật lại nội dung của nó; và tôi tin rằng nó không hẳn được vị hiệp sĩ thiết kế để thông tin cho tòa án, mà nhằm củng cố hình ảnh của ông trong mắt tôi và duy trì uy tín của ông ở miền quê.

Tôi vô cùng thích thú khi tòa án giải tán, được chứng kiến các quý ông trong vùng quây quần bên bằng hữu già của tôi, tranh nhau cất lời tán dương ông; đồng thời đám đông bình dân đứng ngắm nhìn ông từ xa, không khỏi thán phục lòng dũng cảm của một kẻ không hề sợ hãi khi đứng lên nói chuyện với vị thẩm phán.

Trên đường trở về nhà, chúng tôi gặp một sự cố vô cùng kỳ lạ; tôi không thể không thuật lại bởi nó cho thấy tất cả những ai quen biết Ngài Roger đều khao khát trao cho ông những dấu hiệu tôn kính nhường nào. Khi chúng tôi đến vùng rìa điền trang của ông, chúng tôi dừng chân tại một quán trọ nhỏ để nghỉ ngơi cho cả người lẫn ngựa. Chủ quán hóa ra từng là gia nhân trong gia đình vị hiệp sĩ; và để tỏ lòng tôn kính với chủ cũ, từ lâu đã tự ý — mà Ngài Roger không hề hay biết — treo hình chân dung ông lên biển hiệu trước cửa; thế nên cái đầu của vị hiệp sĩ đã treo lủng lẳng bên đường khoảng một tuần trước khi chính chủ hay biết sự việc. Ngay khi Ngài Roger biết chuyện, nhận thấy sự vô ý của người gia nhân hoàn toàn bắt nguồn từ lòng mến mộ và thiện chí, ông chỉ bảo rằng anh ta đã dành cho mình một lời khen quá lớn; và khi gã kia có vẻ nghĩ điều đó khó có thể xảy ra, ông nói thêm với ánh mắt quả quyết hơn rằng đó là vinh dự quá lớn đối với bất kỳ kẻ nào dưới bậc công tước; nhưng đồng thời bảo rằng nó có thể được sửa đổi chỉ với vài nét cọ, và chính ông sẽ chịu chi phí cho việc đó. Theo đó, họ thuê một họa sĩ theo chỉ đạo của vị hiệp sĩ để thêm một bộ ria mép vào khuôn mặt và bằng chút phóng đại các đường nét để biến nó thành Đầu người Saracen. Tôi đã chẳng biết câu chuyện này nếu chủ quán không thưa với Ngài Roger ngay khi ông xuống ngựa rằng: "Đầu của ngài quản gia đã được mang về tối qua cùng những thay đổi mà ngài ra lệnh thực hiện trên đó." Nghe vậy, bằng hữu tôi với sự vui vẻ quen thuộc đã kể lại các chi tiết trên và gọi mang chiếc đầu vào phòng. Tôi không thể kìm nôn nức tiếng cười lớn hơn bình thường khi diện kiến khuôn mặt quái dị này — dưới lớp biểu cảm cau có và trừng trừng đầy bất thường đó, tôi vẫn thoáng nhận ra hình bóng xa vời của bằng hữu cũ. Ngài Roger, khi thấy tôi cười, liền nài nỉ tôi nói thật xem liệu mọi người có thể nhận ra ông trong lớp ngụy trang đó không. Ban đầu tôi giữ vẻ im lặng quen thuộc; nhưng trước sự nài nỉ của vị hiệp sĩ muốn biết liệu nó có giống ông hơn là một gã Saracen hay không, tôi điều chỉnh lại nét mặt tốt nhất có thể và đáp rằng: "Có rất nhiều điều có thể được nói từ cả hai phía."

Những cuộc phiêu lưu này, cùng với cách ứng xử của vị hiệp sĩ trong đó, đã mang lại cho tôi một ngày thú vị nhất từng gặp trong bất kỳ chuyến hành trình nào của mình.

L.

Doctrina sed vim promovet insitam,

Rectique cultus pectora roborant:

Utcunque defecere mores,

Dedecorant bene nata culpæ.

Hor.

Hôm qua, khi đang tản bộ hít thở không khí cùng bằng hữu Ngài Roger, chúng tôi bắt gặp một thanh niên da dẻ hồng hào, khỏe khoắn đang phi ngựa với tốc độ chóng mặt, kèm theo một cặp gia nhân phía sau. Khi tôi gặng hỏi anh ta là ai, Ngài Roger cho biết đó là một thiếu niên thuộc gia tộc giàu có, được nuôi dưỡng bởi một người mẹ hiền thọ sống cách nơi chúng tôi không quá vài dặm. Bà là một phu nhân rất phúc hậu, bằng hữu tôi kể, nhưng vì quá lo cho sức khỏe của con trai nên đã biến cậu ta thành kẻ vô tích sự. Bà nhanh chóng nhận ra việc đọc sách hại cho mắt, và việc viết lách làm cậu ta đau đầu. Cậu ta được thả rông giữa những khu rừng ngay khi đủ lớn để cưỡi ngựa hay vác súng trên vai. Tóm lại, qua lời kể của bằng hữu tôi, tôi nhận thấy cậu ta sở hữu một sức khỏe dồi dào nhưng chẳng có gì khác; và nếu mục đích sống của con người chỉ là để tồn tại, thì chẳng có thanh niên nào tài năng hơn cậu ta ở cả vùng quê này.

Sự thật là, từ khi cư trú tại những vùng này, tôi đã chứng kiến và nghe kể vô số ví dụ về những gã thừa kế trẻ tuổi và các cậu cả — những kẻ hoặc do tự mãn về điền trang mình được thừa hưởng nên cho rằng mọi kỹ năng khác là thừa thãi, hoặc do nghe những tư tưởng đó được tiêm nhiễm thường xuyên bởi sự nịnh hót của gia nhân và kẻ hầu người hạ, hoặc từ chính tư duy ngu ngốc ngự trị ở những kẻ chịu trách nhiệm giáo dục họ — hoàn toàn vô dụng, ngoại trừ việc duy trì dòng họ và truyền lại đất đai nhà cửa qua các thế hệ cho hậu thế.

Điều này thường khiến tôi nhớ đến câu chuyện về hai người bạn, mà tôi xin thuật lại đầy đủ cho độc giả dưới những cái tên giả định. Bài học rút ra từ đó, tôi hy vọng, sẽ hữu ích, dẫu có một số chi tiết khiến nó mang sắc thái tiểu thuyết hơn là một câu chuyện có thật.

Eudoxus và Leontine bước vào đời với gia tài khiêm tốn. Cả hai đều là những nam nhân có trí tuệ và đạo đức cao cả. Họ cùng theo đuổi con đường học vấn trong những năm tháng tuổi trẻ và vun đắp một tình bạn gắn bó đến cuối đời. Eudoxus, ngay từ bước chân đầu tiên vào đời, đã dấn thân vào chốn triều đình — nơi nhờ vào năng khiếu bẩm sinh và khả năng trau dồi, ông thăng tiến từ chức vụ này sang chức vụ khác, cho đến khi tạo dựng được một gia tài vô cùng kếch xù. Ngược lại, Leontine tìm kiếm mọi cơ hội để trau dồi trí tuệ thông qua việc học tập, giao tiếp và du hành. Ông không chỉ am hiểu mọi khoa học mà còn tường tận về các giáo sư lỗi lạc nhất khắp châu Âu. Ông nắm rõ lợi ích của các vương hầu, phong tục tập quán cùng thời trang tại triều đình của họ, và hiếm khi bắt gặp cái tên của một nhân vật xuất chúng nào trên công báo mà ông chưa từng trò chuyện hoặc tận mắt nhìn thấy. Tóm lại, ông đã hòa trộn và tiêu hóa tri thức về con người và sách vở xuất sắc đến mức trở thành một trong những nhân vật uyên bác nhất thời đại. Trong suốt hành trình học tập và du hành, ông vẫn duy trì thư tín đều đặn với Eudoxus — người thường ghi điểm với các nhân vật cốt cán chốn triều đình nhờ những thông tin tình báo nhận được từ Leontine.

Khi cả hai đã bước qua tuổi bốn mươi (độ tuổi mà theo Ông Cowley, không thể đùa giỡn với cuộc đời), họ quyết định, tuân theo dự định đã ấp ủ từ thuở đầu đời, sẽ lui về ở ẩn và dành phần đời còn lại ở chốn thôn quê. Nhằm hiện thực hóa điều đó, cả hai kết hôn vào khoảng cùng thời điểm. Leontine, bằng tài sản của mình và của vợ, đã tậu một nông trại trị giá ba trăm bảng mỗi năm, nằm trong vùng lân cận của người bạn Eudoxus — người đã mua một điền trang lớn gấp nhiều lần. Họ lần lượt làm cha vào cùng khoảng thời gian, khi Eudoxus sinh được một cậu con trai và Leontine sinh một cô con gái; nhưng trớ trêu thay, để lại nỗi đau vô bờ cho Leontine, người vợ trẻ (nơi mọi hạnh phúc của ông gửi gắm) đã qua đời chỉ vài ngày sau khi sinh con gái. Nỗi đau của ông sẽ trở nên không thể gượng dậy nổi nếu không được an ủi bởi những chuyến viếng thăm và trò chuyện hằng ngày từ người bạn. Khi họ đang trò chuyện cùng nhau với sự thân mật quen thuộc một ngày nọ, Leontine suy ngẫm về sự bất lực của bản thân trong việc mang lại nền giáo dục thích hợp cho con gái tại nhà riêng, còn Eudoxus ngẫm nghĩ về thói quen thông thường của một đứa con trai biết mình là người thừa kế một điền trang khổng lồ, cả hai liền đi đến thỏa thuận đổi con cho nhau: cụ thể là cậu con trai sẽ được nuôi dưỡng tại nhà Leontine như con đẻ của ông, còn cô con gái sẽ sống với Eudoxus như con ruột, cho đến khi mỗi người đạt đến tuổi trưởng thành. Vợ của Eudoxus, biết rằng con trai mình không thể được nuôi dưỡng tốt hơn ở dưới sự chăm sóc của Leontine, đồng thời cân nhắc rằng cậu bé sẽ luôn nằm dưới tầm mắt của chính mình, đã dần bị thuyết phục để ủng hộ dự án này. Do đó, bà nhận Leonilla — tên của cô bé — và nuôi dạy như con ruột. Hai người bạn từ hai phía đã vun đắp cho mình sự trìu mến thói quen đối với những đứa trẻ nằm dưới sự định hướng của họ, đến mức mỗi người đều mang tâm tư tình cảm đích thực của một người cha đối với đứa con mang danh nghĩa tưởng tượng.

Florio, tên của cậu ấm sống cùng Leontine, dẫu mang trọn vẹn lòng hiếu thảo và sự kính mến đối với người cha giả định, vẫn được dạy cách vui mừng mỗi khi trông thấy Eudoxus — người thường xuyên đến thăm bạn mình và bị chi phối bởi tình cảm ruột thịt cũng như các nguyên tắc thận trọng để làm sao khiến bản thân được Florio yêu mến và kính trọng. Cậu thiếu niên lúc này đã đủ lớn để nhận thức hoàn cảnh của người cha giả định, và do đó hiểu rằng cậu phải tự vươn lên trong đời bằng chính sự siêng năng của mình. Nhận thức này ngày càng lớn mạnh trong cậu mỗi ngày và tạo ra kết quả tốt đẹp đến mức cậu áp dụng bản thân với sự chú ý phi thường vào mọi thứ mà Leontine gợi ý. Năng khiếu bẩm sinh vốn rất tốt của cậu, được trợ giúp bởi những chỉ dẫn từ một nhà cố vấn xuất sắc, đã giúp cậu tiến những bước nhanh hơn bình thường qua mọi chặng đường giáo dục. Trước khi tròn hai mươi tuổi, sau khi hoàn thành việc học và các bài tập rèn luyện với vô số lời khen ngợi, cậu được chuyển từ đại học đến các khu nhà hội đồng pháp lý ở Luân Đôn — nơi rất ít kẻ có thể trở thành chuyên gia xuất chúng trong các nghiên cứu pháp lý khi chúng biết rằng mình sẽ thừa kế gia tài khổng lồ mà chẳng cần đến điều đó. Trường hợp của Florio không phải vậy; cậu nhận ra ba trăm bảng một năm là một gia tài vô cùng khiêm tốn cho cả Leontine lẫn bản thân, thế nên cậu miệt mài học tập không ngừng nghỉ cho đến khi nắm bắt sâu sắc về hiến pháp và luật pháp đất nước.

Lẽ ra tôi nên nói với độc giả rằng trong suốt thời gian Florio sống tại nhà người cha nuôi, cậu luôn là vị khách quý được chào đón tại gia đình Eudoxus — nơi cậu làm quen với Leonilla từ thuở nhỏ. Mối quan hệ quen biết với nàng dần dà chuyển thành tình yêu, thứ bên trong một tâm trí được nhào nặn trong mọi nguyên tắc danh dự và đức hạnh đã trở thành một thứ cảm xúc vô cùng dằn vặt. Cậu tuyệt vọng về việc có thể với tới một nữ thừa kế gia thế lớn nhường ấy, và thà chết chứ không bao giờ thử dùng bất kỳ phương thức bất chính nào. Leonilla, người thiếu nữ sở hữu nhan sắc tuyệt đỉnh đi đôi với sự khiêm nhường tột độ, cũng nuôi dưỡng trong lòng tình yêu thầm kín dành cho Florio, nhưng nàng cư xử khôn ngoan đến mức chưa bao giờ để lộ dù chỉ một thoáng nhỏ nhặn cho cậu hay biết.

Florio lúc bấy giờ đang bận rộn với mọi kỹ năng và sự hoàn thiện thích hợp để nâng tầm gia sản cá nhân và tạo dựng chỗ đứng ở quê hương, nhưng lại bị dằn vặt thầm kín bởi ngọn lửa tình yêu bùng cháy dữ dội nhất trong một trái tim cao cả và đức hạnh, thì bất ngờ nhận được lệnh gọi từ Leontine yêu cầu trở về quê ngay ngày hôm sau. Hóa ra Eudoxus đã quá tự hào trước những lời đồn đại về danh tiếng của con trai đến mức không thể tiếp tục giấu giếm thân phận thực sự với cậu. Sáng hôm sau khi đặt chân đến dinh thự của người cha giả định, Leontine thông báo rằng Eudoxus có điều quan trọng muốn trao đổi; nói xong, người đàn ông nhân hậu ôm chầm lấy cậu và bật khóc.

Florio vừa đặt chân đến dinh thự lớn nằm ở vùng lân cận, Eudoxus liền nắm lấy tay cậu sau những lời chào hỏi ban đầu và dẫn cậu vào phòng riêng. Tại đây, ông hé lộ toàn bộ bí mật về thân phận và quá trình giáo dục của cậu, rồi kết luận như sau: "Ta không còn cách nào khác để đền đáp lòng biết ơn đối với Leontine ngoài việc gả con cho con gái của ông ấy. Ông ấy sẽ không mất đi niềm hạnh phúc được làm cha của con qua sự thật mà ta vừa hé lộ. Leonilla cũng sẽ mãi là con gái của ta; lòng hiếu thảo của con bé, dẫu đặt nhầm chỗ, vô cùng gương mẫu đến mức xứng đáng nhận phần thưởng lớn nhất mà ta có thể ban tặng. Con sẽ có niềm vui chứng kiến một điền trang khổng lồ thuộc về mình — thứ mà con đã mất đi cảm giác tận hưởng nếu biết mình sinh ra đã ngậm thìa vàng. Hãy tiếp tục xứng đáng với nó hệt như cách con từng làm trước khi sở hữu nó. Ta đã để mẹ con ở căn phòng bên cạnh. Trái tim bà đang thổn thức hướng về con. Bà đang tường thuật lại cho Leonilla những điều ta vừa hé lộ với con."

Florio ngợp trong dòng thác hạnh phúc đến mức không tài nào thốt lên lời đáp, chỉ biết quỳ rạp xuống dưới chân người cha và giữa dòng nước mắt, hôn lấy hôn để đôi đầu gối ông, cầu xin sự ban phước và bày tỏ qua hành động câm lặng những cảm xúc yêu thương, bổn phận và biết ơn quá lớn lao không thể diễn tả bằng lời. Cuối cùng, đôi uyên ương hạnh phúc đã kết hôn, và một nửa điền trang của Eudoxus được sang tên cho họ. Leontine và Eudoxus trải qua phần đời còn lại bên nhau; và nhận lại trong thái độ hiếu thảo, tình cảm của Florio cùng Leonilla phần thưởng xứng đáng cũng như kết quả tự nhiên từ sự chăm sóc mà họ đã dồn tâm huyết vào nền giáo dục của chúng.

L.

Footnote 1: Essay On the Danger of Procrastination: 'There's no fooling with Life when it is once turn'd beyond Forty.'

Một kẻ xuất bản tác phẩm của mình thành trọn một tập sách sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối so với người truyền bá tác phẩm ra thế giới qua những tập mỏng rời rạc và từng bài riêng lẻ. Chúng ta không kỳ vọng bắt gặp bất cứ điều gì trong một cuốn sách dày cộm cho đến sau một vài lời mở đầu nặng nề và những lời xã giao sáo rỗng nhằm chuẩn bị tâm lý cho độc giả đón nhận phần tiếp theo: Thậm chí, các tác giả còn thiết lập nên một thứ quy luật bất thành văn rằng đôi khi con người ta được phép tỏ ra tẻ nhạt; hệt như việc ngay cả độc giả khó tính nhất cũng sẵn sàng châm chước cho vô số khoảng nghỉ ngơi và những cái gót gật gù ở một nhà văn chuyên viết tác phẩm đồ sộ. Điều này đã làm dấy lên câu châm ngôn Hy Lạp nổi tiếng mà tôi đã chọn làm châm ngôn mở đầu: Rằng một cuốn sách lớn là một tai họa lớn.

Ngược lại, những ai công bố tư tưởng của mình qua từng tờ báo riêng lẻ, rải rác từng phần nhỏ, lại hoàn toàn không có được những lợi thế đó. Chúng ta buộc phải lao ngay vào chủ đề và xử lý từng phần của nó một cách sinh động, bằng không các bài viết của chúng ta sẽ bị vứt xó vì quá tẻ nhạt và nhạt nhẽo: Nội dung của chúng ta phải được gom thật sát vào nhau, hoặc phải hoàn toàn mới lạ tự thân, hoặc mang sắc thái độc đáo qua cách diễn đạt. Giả sử các tác phẩm của những tác giả xuất sắc nhất của chúng ta cũng được bán lẻ ra công chúng theo cách này, và từng trang giấy đều bị phán xét bởi gu thẩm mỹ của bốn mươi hay năm chục ngàn độc giả, tôi e rằng chúng ta sẽ phải phàn nàn về vô số câu chữ sáo rỗng, quan điểm tầm thường, đề tài nhai lại và những tư tưởng phổ biến vốn vẫn trôi chảy ngon lành khi được gộp chung lại một đống. Đồng thời, dẫu cho một số bài viết có thể được cấu thành từ những mảnh gợi ý rời rạc và bản phác thảo bất định, người ta vẫn thường kỳ vọng mỗi tờ báo phải là một dạng chuyên luận, và bù đắp trong tư duy những gì nó thiếu hụt về độ dày: Rằng một điểm nhấn hài hước phải được khai thác trọn vẹn ở mọi khía cạnh; và một chủ đề phải được chạm đến ở những điều khoản cốt lõi nhất, mà không cần đến sự lặp lại, diễn giải thừa thãi hay phóng đại vốn được dung thứ trong những công trình dài hơi hơn. Những nhà văn luân lý thông thường kê đơn cho độc giả theo lối của Galen; thuốc của họ được bào chế với số lượng lớn. Một nhà văn viết tiểu luận phải hành nghề theo phương pháp hóa học, và chắt lọc tinh chất của một ly thuốc đầy chỉ trong vài giọt. Giả sử mọi cuốn sách đều bị cô đọng đến mức tinh túy như vậy, hẳn vô số tác giả cồng kềnh sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng một tờ báo một xu; trên đời sẽ chẳng còn tồn tại thứ gì gọi là một cuốn sách khổ lớn Folio. Tác phẩm của cả một thế kỷ sẽ thu gọn trên vài chiếc kệ sách; chưa kể đến hàng triệu cuốn sách sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Tôi không nghĩ rằng sự khó khăn khi cung cấp các bài viết riêng lẻ kiểu này đã cản trở các tác giả truyền bá tư tưởng của họ ra thế giới theo cách đó; dẫu tôi phải thú nhận rằng mình vô cùng kinh ngạc khi thấy ngành in ấn chỉ bị lạm dụng theo chiều hướng này bởi các nhà báo và những kẻ cuồng tín phe phái; cứ như thể việc giáo dục nhân loại về sự khôn ngoan và đức hạnh lại kém phần quan trọng hơn chính trị; và việc trở thành những người cha, người chồng, người con tốt lại kém giá trị hơn việc làm cố vấn hay chính khách. Giả sử các triết gia và vĩ nhân thời cổ đại — những kẻ từng bỏ ra biết bao tâm huyết để giáo dục nhân loại và để lại một thế giới khôn ngoan và tốt đẹp hơn trước khi họ tìm thấy nó — giả sử họ, tôi nói vậy, sở hữu nghệ thuật in ấn, chắc chắn họ sẽ tận dụng triệt để lợi thế đó để truyền bá các bài giảng của mình ra công chúng. Các ấn phẩm thông thường của chúng ta sẽ vô cùng hữu ích nếu chúng được tính toán nhằm lan tỏa lẽ phải qua phần đông quần chúng, làm minh mẫn nhận thức, khơi dậy tâm hồn bằng đức hạnh, xua tan nỗi sầu muộn của một trái tim trĩu nặng, hoặc giải tỏa tâm trí khỏi những công việc nghiêm túc hơn bằng các trò tiêu khiển trong sáng.

Khi tri thức — thay vì bị đóng gói trong sách vở và cất giấu trong thư viện hay chốn thâm sơn cùng cốc — lại được phơi bày ra trước công chúng như thế này; khi nó được tranh luận trong mọi hội nghị và bày biện trên mọi bàn tiệc, tôi không tài nào không ngẫm lại đoạn trích dẫn trong sách Châm ngôn: "Tri thức cất tiếng kêu ở bên ngoài, nàng cất tiếng trong các đường phố; nàng kêu lên ở nơi tụ họp đông đúc nhất, ở những lối ra vào của cổng thành. Trong thành phố nàng thốt lên những lời rằng: Hỡi những kẻ khờ dại, các ngươi còn yêu mến sự khờ dại đến bao giờ? Những kẻ nhạo báng còn ham thích sự nhạo báng, và những kẻ ngu muội còn ghét bỏ tri thức đến bao giờ?"

Vô số bức thư gửi đến tôi từ những con người có gu thẩm mỹ tuyệt vời ở cả hai phái (bởi tôi có thể phán đoán tính cách của họ qua cách viết) đã khích lệ tôi không ít trong việc tiếp tục tiến hành công cuộc này; bên cạnh việc chủ tiệm sách cho biết nhu cầu đặt mua các ấn phẩm này của tôi tăng lên từng ngày. Chính theo yêu cầu của ông ấy, tôi sẽ tiếp tục những bài chiêm nghiệm điền viên của mình cho đến hết tháng này; khi nhiều độc giả đã tự gom thành các bộ riêng biệt, hệt như họ từng làm trước đó đối với các bài viết liên quan đến sự hóm hỉnh, nhạc kịch, các vấn đề đạo đức hay chủ đề hài hước.

Tôi hoàn toàn không hề nản lòng khi đôi khi nhìn thấy các tác phẩm của mình bị vứt xó bởi những kẻ vô học và thiếu thẩm mỹ. Tồn tại một thứ sự chậm chạp và dốt nát đeo bám tâm trí của những kẻ bình thường, dày đặc đến mức tri thức không thể xuyên thủng. Tâm hồn của họ không thể được khai sáng.

... Nox atra cava circumvolat umbra.

Đối với những đối tượng này, tôi buộc phải áp dụng ngụ ý về con chuột chũi: Sau khi tham khảo ý kiến của vô số bác sĩ nhãn khoa để cải thiện thị lực, cuối cùng nó được trang bị một cặp kính tốt; nhưng khi nó cố gắng sử dụng chúng, mẹ nó đã khuyên nhủ một cách đầy khôn ngoan rằng: "Kính mắt, dẫu có thể giúp ích cho mắt của con người, nhưng chẳng có chút tác dụng nào đối với một con chuột chũi." Do đó, tôi không xuất bản những bài tiểu luận hằng ngày này vì lợi ích của loài chuột chũi.

Nhưng bên cạnh những kẻ là chuột chũi do dốt nát, còn có những kẻ là chuột chũi do ghen tị.

Hệt như câu ngạn ngữ Latin từng nói: "Kẻ này là con sói đối với kẻ kia;" xét theo nghĩa chung, một tác giả chính là con chuột chũi đối với tác giả khác. Họ bất khả thi trong việc khám phá ra những điểm đẹp đẽ trong tác phẩm của nhau; họ chỉ có đôi mắt dành cho những vết nhơ và khuyết điểm: Quả thực họ có thể nhìn thấy ánh sáng hệt như lời đồn về loài động vật mang tên họ, nhưng khái niệm về nó lại gây đau đớn cho họ; họ lập tức nhắm nghiền mắt trước nó và rút lui vào bóng tối tự nguyện. Tôi đã tóm gọn được hai ba con sâu mọt đào ngầm tối tăm này, và dự định sẽ xâu chuỗi chúng lại để bêu lên một trong các bài viết của mình, làm gương cho tất cả những con chuột chũi tự nguyện như thế.

C.

Footnote 1: Proverbs i 20-22.

Footnote 2: "Homo homini Lupus." Plautus Asin. Act ii sc. 4.

Ne pueri, ne tanta animis assuescite bella:

Neu patriæ validas in viscera vertite vires.

Vir.

Bằng hữu đáng quý của tôi, Ngài Roger, mỗi khi chúng tôi bàn về sự ác ý của các đảng phái, thường hay kể lại một tai nạn xảy ra với ông khi còn là một cậu học sinh — thời điểm mà mối thù hằn bùng lên dữ dội giữa phe Đầu tròn (Roundheads) và phe Kỵ sĩ (Cavaliers). Vị hiệp sĩ đáng kính này, khi ấy mới chỉ là một thiếu niên, có việc cần hỏi đường tới ngõ St. Anne, nhưng người mà ông bắt chuyện, thay vì trả lời câu hỏi, lại gọi ông là một gã giáo hoàng con tai dại và hỏi ai đã phong thánh cho Anne? Cậu bé, trong cơn bối rối, bèn hỏi người tiếp theo gặp trên đường về lối đi tới ngõ Anne; nhưng lại bị gọi là gã tai nhọn và thay vì được chỉ đường, còn được bảo rằng bà ta đã là thánh trước khi cậu ta sinh ra và sẽ vẫn là thánh sau khi cậu ta bị treo cổ. Trước tình hình đó, Ngài Roger kể, tôi thấy không tiện lặp lại câu hỏi trước, bèn đi vào từng ngõ ngách trong vùng và hỏi xem tên của ngõ đó là gì. Nhờ thủ pháp khôn ngoan này, ông đã tìm ra nơi mình cần hỏi mà không gây xúc phạm cho bất kỳ đảng phái nào. Ngài Roger thường khép lại câu chuyện này bằng những suy ngẫm về tác hại mà các đảng phái gây ra ở chốn thôn quê; chúng hủy hoại tình làng nghĩa xóm và khiến những quý ông chân chất căm ghét lẫn nhau; chưa kể đến việc chúng hiển nhiên hướng tới việc gây tổn hại cho Thuế đất đai và tàn phá thú săn.

Chẳng có tai họa nào giáng xuống một quốc gia khủng khiếp hơn tinh thần chia rẽ dữ dội — thứ xé toạc một chính phủ thành hai cộng đồng riêng biệt và khiến họ trở nên xa lạ cũng như thù địch với nhau nhiều hơn cả khi họ thực sự là hai quốc gia khác biệt. Tác động của một sự chia rẽ như vậy mang tính hủy hoại ở mức độ tột cùng, không chỉ đối với những lợi thế mà chúng dâng cúng cho kẻ thù chung, mà còn đối với những tệ nạn tư gia mà chúng sinh ra trong tâm can của hầu như từng cá nhân cụ thể. Sức ảnh hưởng này vô cùng chí mạng đối với cả đạo đức lẫn nhận thức của con người; nó làm chìm đắm đạo đức của một quốc gia, và không chỉ có vậy, còn tiêu hủy cả lẽ phải thông thường.

Tinh thần đảng phái cuồng nộ, khi hoành hành đến mức bạo lực cực điểm, sẽ bùng nổ thành nội chiến và đổ máu; và khi bị kìm hãm ở mức độ lớn nhất, nó tự nhiên bùng phát thành sự dối trá, bôi nhọ, vu khống và sự thực thi công lý thiên vị. Tóm lại, nó làm ngập tràn quốc gia bằng sự u sầu cùng mối hận thù sâu sắc, đồng thời tiêu diệt mọi mầm mống của lòng nhân ái, sự trắc ẩn và tính nhân văn.

Plutarch từng nhận xét rất hay rằng con người ta không nên cho phép bản thân căm ghét ngay cả kẻ thù của mình, bởi, ông nói, nếu bạn dung túng cảm xúc này trong một số trường hợp, nó sẽ tự bùng lên trong những trường hợp khác; nếu bạn căm ghét kẻ thù, bạn sẽ nhiễm phải một thói quen tâm lý đồi bại — thứ dần dần sẽ bùng nổ nhắm vào những người là bạn bè hoặc những kẻ dửng dưng với bạn. Tôi có thể lưu ý tại đây về việc nguyên tắc luân lý này (vốn quy tính độc hại của lòng căm hận về chính cảm xúc đó chứ không phải đối tượng của nó) đáp ứng tuyệt vời thế nào đối với quy luật vĩ đại từng được ban bố cho nhân loại khoảng một trăm năm trước khi vị triết gia này viết sách; nhưng thay vào đó, tôi chỉ xin ghi nhận với nỗi đau đớn thực sự trong tim rằng tâm hồn của nhiều người tốt trong số chúng ta dường như đã bị chua chát bởi các nguyên tắc đảng phái và xa lánh lẫn nhau theo cách mà tôi thấy hoàn toàn mâu thuẫn với những chỉ thị của cả lý trí lẫn tôn giáo. Sự cuồng nhiệt vì một nghĩa vụ công cộng thường dễ sinh ra những cảm xúc trong tim những con người đức hạnh — thứ mà sự bận tâm đến lợi ích cá nhân của họ chưa bao giờ có thể dẫn dụ họ sa chân vào.

Nếu tinh thần đảng phái này mang lại tác động tồi tệ như vậy đối với đạo đức của chúng ta, nó đồng thời cũng gây ra tác động vô cùng lớn đối với khả năng phán đoán của chúng ta. Chúng ta thường nghe thấy một bài báo hay tập sách tẻ nhạt nghèo nàn được tâng bốc lên mây, và đôi khi một tác phẩm cao quý lại bị bôi nhọ, bởi những kẻ mang nguyên tắc trái ngược với tác giả. Một kẻ bị chi phối bởi tinh thần này hầu như mất đi khả năng nhận diện những khuyết điểm hoặc vẻ đẹp thực sự. Một con người tài năng mang nguyên tắc khác biệt, hệt như một vật thể được nhìn qua hai môi trường truyền sáng khác nhau, xuất hiện với vẻ vẹo vọ hoặc đứt gãy, dẫu cho nó có thẳng thớm và nguyên vẹn đến đâu tự thân.

Vì lý do này, hầu như chẳng có nhân vật nào có chút tên tuổi ở nước Anh lại không mang hai nhân dạng trái ngược nhau, đối lập hệt như ánh sáng và bóng tối.

Tri thức và sự uyên bác gánh chịu hậu quả theo một cách đặc biệt từ thứ thành kiến kỳ lạ này — thứ hiện đang ngự trị giữa mọi tầng lớp và giai cấp trong quốc gia Anh quốc. Hơi giống việc trước đây con người ta trở nên nổi bật trong các hội đoàn uyên bác nhờ tài năng và thành tựu, giờ đây họ tự phân biệt bản thân bằng sự nhiệt thành và bạo lực mà họ dùng để ủng hộ các đảng phái tương ứng của mình. Sách vở cũng được định giá dựa trên những cân nhắc tương tự: Một văn phong chửi bới lăng mạ được khoác lên danh xưng châm biếm, và một đề cương tẻ nhạt gồm các quan điểm đảng phái lại được gọi là văn chương tinh tế.

Tồn tại một thủ đoạn ngụy biện được thực hành bởi cả hai phía, đó là việc lấy bất kỳ câu chuyện tai tiếng nào từng được thì thầm hoặc bị đặt điều về một tư nhân để biến nó thành sự thật hiển nhiên không thể chối cãi, rồi từ đó dựng lên những suy đoán tương ứng. Những lời vu khống chưa bao giờ được chứng minh, hoặc đã bị bác bỏ nhiều lần, lại chính là những tiền đề thông thường của những kẻ viết lác đồi bại này — thứ mà chúng vin vào hệt như những nguyên lý cơ bản được thừa nhận bởi tất cả mọi người, dẫu trong thâm tâm chúng thừa biết chúng là giả dối, hoặc tệ nhất là vô cùng đáng ngờ. Khi chúng đã đặt những nền tảng của sự xấc láo đó, chẳng có gì ngạc nhiên khi kiến trúc thượng tầng của chúng hoàn toàn tương xứng. Nếu tập quán trơ trẽn này của thời đại hiện tại kéo dài lâu hơn nữa, lời khen ngợi và sự khiển trách sẽ chấm dứt việc đóng vai trò là động lực hành động ở những người tốt.

Tồn tại những khoảng thời gian nhất định trong mọi chính phủ khi tinh thần phi nhân tính này chiếm thượng phong. Ý từng bị xé nát trong thời gian dài bởi phe Guelfes và Gibellines, và Pháp bởi những kẻ ủng hộ và chống lại Liên minh: Nhưng thật bất hạnh cho một con người khi sinh ra trong một mùa giông bão và cuồng phong như thế.

Chính tham vọng bất tận của những kẻ xảo quyệt đã xé nát một dân tộc thành các phe phái như thế, và lôi kéo vô số con người thiện lương vào lợi ích của chúng thông qua cái cớ lo lắng cho đất nước. Biết bao tâm hồn chân chất bị nhồi nhét những quan điểm vô tâm và man rợ, xuất phát từ lòng nhiệt thành vì lợi ích công cộng? Những sự tàn ác và phẫn nộ nào mà họ sẽ không dám nhắm vào những kẻ thuộc đảng phái đối nghịch — những người mà họ sẽ tôn vinh và kính trọng, nếu thay vì nhìn nhận họ qua những hình ảnh bị bóp méo, họ biết đến họ như những gì họ vốn có? Cứ thế, những con người có phẩm giá cao nhất bị dụ dỗ sa chân vào những sai lầm và thành kiến đáng hổ thẹn, biến thành những kẻ tồi tệ chính nhờ nguyên tắc cao cả nhất, đó là tình yêu đất nước. Tôi không thể không nhắc đến câu ngạn ngữ Tây Ban Nha nổi tiếng: "Nếu trên đời không có kẻ ngốc lẫn kẻ gian, tất cả mọi người sẽ chung một chí hướng."

Về phần mình, tôi tha thiết ước mong tất cả những người chân chính hãy liên kết thành một liên minh để hỗ trợ lẫn nhau chống lại nỗ lực của những kẻ mà họ phải coi là kẻ thù chung, bất kể họ thuộc phe phái nào.

Giả sử tồn tại một lực lượng trung lập chân chính như vậy, chúng ta sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy những kẻ tồi tệ nhất nắm giữ những vị trí hiển hách trong đời chỉ vì chúng hữu ích cho một đảng phái; cũng như không thấy những kẻ xuất sắc nhất bị ngó lơ chỉ vì họ vượt lên trên việc thực hành những phương thức làm vừa lòng phe phái của mình. Khi đó chúng ta sẽ tách từng tên tội phạm ra khỏi bầy đàn và truy đuổi hắn đến cùng, dẫu cho hắn có tỏ ra đáng sợ hay bành trướng đến đâu; ngược lại, chúng ta sẽ che chở cho sự ngây thơ khốn khổ và bảo vệ đức hạnh, dẫu nó có bị vây quanh bởi sự khinh miệt hay chế giễu, ghen tị hay bôi nhọ. Tóm lại, chúng ta sẽ không còn coi đồng bào mình là phe Whigs hay Tories nữa, mà sẽ biến con người tài năng thành bạn và kẻ đồi bại thành thù.

C.

Footnote 1: Among his Moral Essays is that showing How one shall be helped by Enemies. In his Lives, also, Plutarch applauds in Pericles the noble sentiment which led him to think it his most excellent attainment never to have given way to envy or anger, notwithstanding the greatness of his power, nor to have nourished an implacable hatred against his greatest foe. This, he says, was his only real title to the name of Olympius.

Footnote 2: Luke vi. 27-32.

Footnote 3: Characters altogether different

Footnote 4: a very

Footnote 5: People

Footnote 6: Neutral Body of

Tros Rutulusve fuat, nullo discrimine habebo.

Virg.

Trong bài viết ngày hôm qua, tôi đã đề xuất rằng những người chân chính của mọi đảng phái nên liên kết lại thành một dạng liên minh nhằm bảo vệ lẫn nhau và đập tan những kẻ thù chung. Vì thể chế trung lập này được thiết kế để hành động mà không bận tâm đến bất cứ điều gì ngoài Chân lý và Sự công bằng, đồng thời gột rửa những nóng giận và thành kiến nhỏ nhen vốn bám rễ vào các đảng phái đủ mọi loại, tôi đã chuẩn bị sẵn cho họ bản mẫu liên minh sau đây — thứ biểu đạt ý định của họ một cách minh bạch và giản dị nhất.

Chúng tôi, những người có tên dưới đây, long trọng tuyên bố:

Rằng trong lương tâm, chúng tôi tin hai cộng hai bằng bốn;

và rằng chúng tôi sẽ phán quyết bất kỳ kẻ nào cố gắng thuyết phục

chúng tôi điều ngược lại là kẻ thù của mình. Chúng tôi cũng sẵn sàng

duy trì, dẫu phải đánh đổi bằng mọi thứ thân thiết và quý giá nhất, Rằng sáu

nhỏ hơn bảy ở mọi thời điểm và mọi nơi, và rằng mười sẽ không lớn hơn ba năm

nữa so với hiện tại. Chúng tôi cũng kiên quyết tuyên bố rằng, quyết tâm

suốt đời của chúng tôi là gọi Đen là đen, và Trắng là trắng. Và chúng tôi sẽ

trong mọi hoàn cảnh chống lại những kẻ vào bất kỳ ngày nào trong năm gọi Đen

là trắng, hoặc Trắng là đen, bằng toàn bộ hiểm nguy cho tính mạng và tài sản của mình.

Giả sử tồn tại một sự kết hợp giữa những con người chân chính như thế — những người không màng đến bổng lộc chức quyền mà nỗ lực tận diệt tất cả những kẻ cuồng tín hung hãn sẵn sàng hy sinh một nửa đất nước cho cảm xúc và lợi ích của nửa kia; cũng như những kẻ đạo đức giả đồi bại chuyên mượn danh nghĩa lợi ích công cộng để trục lợi cá nhân; kèm theo toàn bộ đám tay sai đồi bại vô đạo đức bám đuôi mỗi phe mà chẳng có gì để trưng bày ngoài sự phục tùng mù quáng đối với các thủ lĩnh — chúng ta sẽ nhanh chóng chứng kiến tinh thần đảng phái cuồng nộ kia bị dập tắt, thứ mà theo thời gian có thể đẩy chúng ta đến sự chế giễu và khinh miệt của tất cả các quốc gia xung quanh.

Một thành viên của hội đoàn này — kẻ cẩn trọng cống hiến bản thân vào việc dọn đường cho nhân tài bằng cách hất cẳng đám người vô tích sự và đồi bại ra khỏi những vị trí hiển hách trong đời mà đôi khi chúng được đôn lên, và tất cả những điều đó không màng đến lợi ích cá nhân — sẽ là một ân nhân lớn lao đối với đất nước mình.

Tôi nhớ từng đọc trong Diodorus Siculus bản tường trình về một loài động vật nhỏ bé vô cùng năng nổ — mà tôi nghĩ ông gọi là con Ichneumon — chuyên coi cả cuộc đời mình là việc đập vỡ những quả trứng cá sấu mà nó luôn lùng sục khắp nơi. Bản năng này càng trở nên đáng chú ý hơn bởi con Ichneumon không bao giờ ăn những quả trứng nó đập vỡ, cũng chẳng thu được bất kỳ lợi lộc nào từ chúng theo bất kỳ cách nào khác. Nếu không vì những nỗ lực không ngừng nghỉ của loài sinh vật chăm chỉ này, sử gia cho biết, Ai Cập sẽ ngập tràn cá sấu: bởi người Ai Cập vốn dĩ không những không tiêu diệt những sinh vật tai hại đó, mà còn tôn thờ chúng như thần linh.

Nếu chúng ta nhìn vào hành vi của những đảng viên thông thường, ta sẽ thấy họ chẳng có lấy một điểm nào giống với loài vật vô vụ lợi này, mà trái lại hành động theo gương của tộc người Tartar hoang dã — những kẻ luôn khao khát tiêu diệt một con người sở hữu tài năng và thành tựu xuất sắc nhất, với suy nghĩ rằng sau khi kẻ đó qua đời, những tài năng tương tự — bất kể chúng trao cho hắn vị trí nào — sẽ mặc nhiên thuộc về kẻ tiêu diệt hắn.

Hệt như trong toàn bộ chuỗi các bài chiêm nghiệm của mình, tôi đã nỗ lực hết sức có thể để dập tắt tinh thần cảm xúc và thành kiến tai hại ấy — thứ đang hoành hành với cùng mức độ bạo lực ở mọi đảng phái — tôi lại càng khao khát làm được điều gì đó hữu ích trong khía cạnh này, bởi tôi quan sát thấy tinh thần đảng phái ngự trị ở miền quê nhiều hơn chốn thị thành. Tại đây, nó mang một thứ tính cách tàn nhẫn và sự hung hãn thôn dã — thứ mà những con người có giao thiệp tao nhã hoàn toàn xa lạ. Nó lan rộng đến tận việc cúi đầu chào hay ngả mũ; và trong khi các thủ lĩnh của các đảng phái vẫn duy trì vẻ bề ngoài lịch thiệp với nhau và giữ mối giao thiệp xã giao liên tục, thì đám tay chân được rải rác ở những vùng ngoại biên này thậm chí còn chẳng thèm giao du với nhau tại một trận đấu gà. Tâm lý này làm ngập tràn vùng quê bằng những buổi họp định kỳ giữa đám tay đua ngựa phe Whigs và đám thợ săn cáo phe Tories; chưa kể đến vô số lời nguyền rủa, cái cau mày và tiếng thì thầm mà nó sinh ra tại các phiên tòa quận.

Tôi không biết mình có đề cập trong bất kỳ bài viết trước nào chưa, rằng bằng hữu tôi Ngài Roger De Coverley và Ngài Andrew Freeport mang những nguyên tắc khác nhau — người trước nghiêng về giới địa chủ và người sau nghiêng về giới tài chính. Tính khí này ở mỗi người vô cùng ôn hòa đến mức nó không tiến xa hơn những lời trêu chọc dễ chịu — thứ thường làm khuây khỏa phần còn lại của câu lạc bộ. Tuy nhiên, tôi nhận thấy vị hiệp sĩ tỏ ra là một tín đồ phái Tory cứng rắn hơn nhiều khi ở miền quê so với lúc ở thành thị, điều mà như ông từng thì thầm vào tai tôi, là hoàn toàn cần thiết để duy trì sức ảnh hưởng của mình. Trong suốt hành trình từ Luân Đôn về dinh thự của ông, chúng ta thậm chí không hề ghé chân vào một quán trọ của phe Whig; hoặc nếu bất ngờ người đánh xe dừng nhầm chỗ, một trong số gia nhân của Ngài Roger sẽ phi ngựa đến bên chủ nhân hết tốc lực và thì thầm rằng chủ quán trọ từng chống lại một ứng viên nào đó trong kỳ bầu cử trước. Điều này thường đẩy chúng tôi vào những chiếc giường cứng nhắc và thức ăn tồi tàn; bởi chúng tôi không quan tâm đến quán trọ bằng việc xét xem chủ quán là ai; và miễn là nguyên tắc của chủ nhà vững vàng, chúng tôi chẳng màng đến sự ôi thiu của thực phẩm. Điều này càng trở nên bất tiện hơn, bởi chủ quán càng tốt thì cơ sở vật chất nhìn chung càng tồi tệ; gã ta thừa biết rằng những kẻ là bạn mình sẽ sẵn lòng chấp nhận chế độ ăn thô kệch và chỗ ngủ cứng nhắc. Vì những lý do đó, trong suốt thời gian trên đường đi, tôi vô cùng sợ hãi mỗi khi bước chân vào ngôi nhà của bất kỳ ai từng được Ngài Roger tán dương là người chân chính.

Từ khi lưu lại chỗ Ngài Roger ở miền quê, tôi hằng ngày tìm thấy nhiều ví dụ hơn về thứ tâm lý đảng phái hẹp hòi này. Hôm nọ, khi đang đứng trên một sân chơi bóng gỗ tại một thị trấn chợ lân cận (bởi đó là nơi tụ họp của các quý ông một phe hằng tuần), tôi quan sát thấy một người lạ mặt ở đó có diện mạo và phong thái lịch thiệp hơn mức bình thường; nhưng vô cùng ngạc nhiên khi thấy dẫu hắn là một tay cược rất sòng phẳng, chẳng ai thèm nhận cược với hắn. Nhưng qua tìm hiểu, tôi phát hiện ra hắn từng bỏ một lá phiếu bất lợi trong một quốc hội trước, và vì lý do đó, chẳng có nổi một người nào trên sân bóng gỗ ấy chịu giao du với hắn đến mức thắng tiền của hắn.

Trong số các ví dụ khác về bản chất này, tôi không thể bỏ qua một trường hợp liên quan đến chính bản thân mình. William Wimble hôm nọ đang kể lại vài câu chuyện kỳ lạ mà hắn nhặt nhạnh được từ đâu chẳng rõ về một nhân vật lớn nào đó; và khi tôi trố mắt nhìn hắn như một kẻ ngạc nhiên khi nghe những điều như vậy ở miền quê — những thứ thậm chí chưa từng được thì thầm ở thành phố — William khựng lại giữa dòng trò chuyện và sau bữa ăn đã hỏi riêng bằng hữu tôi Ngài Roger xem có chắc chắn tôi không phải là kẻ cuồng tín.

Tôi cảm thấy vô cùng lo ngại khi chứng kiến tinh thần bất hòa như vậy ở miền quê; không chỉ vì nó hủy hoại đức hạnh và lẽ phải thông thường, biến chúng ta thành những kẻ man rợ đối với nhau, mà còn bởi nó vĩnh cửu hóa sự thù hận, nới rộng những rạn nứt, và truyền lại những cảm xúc cùng thành kiến hiện tại cho hậu thế. Về phần mình, đôi khi tôi lo sợ rằng mình đang khám phá ra mầm mống của một cuộc nội chiến trong những sự chia rẽ này của chúng ta; và do đó không thể không thương xót, ngay từ những nguyên lý ban đầu của chúng, cho những khốn khổ và tai họa của con cháu chúng ta.

C.

Footnote 1: Bibliothecæ Historicæ, Lib. i. § 87.

Footnote 2: concerns to

Footnote 3: that

Quantum est in rebus Inane?

Pers.

Phong tục của chúng tôi tại dinh thự Ngài Roger, mỗi khi bưu phẩm đến, là cùng quây quần bên một bình cà phê và nghe vị hiệp sĩ già đọc bức thư của Dyer; ông đọc với cặp kính trễ trên mũi và bằng một giọng rõ ràng, thường xuyên mỉm cười trước những nét châm biếm rất hay xuất hiện trong các tác phẩm của tác giả đó. Sau đó, tôi sẽ trao đổi với vị hiệp sĩ những gói bưu phẩm mà tôi nhận được dưới danh nghĩa Spectator. Bức thư sau đây tình cờ làm ông hài lòng hơn thường lệ, nên tôi sẽ cho đăng tải theo yêu cầu của ông.

Kính gửi Ngài Spectator,

"Ngài đã khuây khỏa chốn thị thành suốt gần một tháng trời trên chi phí của chốn thôn quê, giờ là lúc ngài nên để cho miền quê được báo thù. Kể từ khi ngài rút lui khỏi nơi này, phái nữ đã lao vào những trò cực kỳ hoang phí. Những chiếc váy lót của họ — vốn bắt đầu phồng và sưng lên trước khi ngài rời đi — nay đã được bơm phồng thành một khối lõm khổng lồ và ngày càng phình to hơn qua mỗi ngày: Tóm lại, thưa ngài, từ khi phụ nữ biết rằng họ nằm ngoài tầm mắt của Spectator, họ không chịu tuân theo bất kỳ khuôn phép nào nữa. Ngài đã ca ngợi họ hơi sớm về sự khiêm nhường trong kiểu tóc búi; bởi giống như tâm trạng của một bệnh nhân thường bị đẩy từ chi này sang chi khác, sự dư thừa đồ trang trí của họ, thay vì bị triệt tiêu hoàn toàn, dường như chỉ rơi từ trên đầu xuống phần thân dưới. Những gì họ mất đi về chiều cao thì được bù đắp bằng chiều rộng, và trái ngược với mọi quy tắc kiến trúc, họ làm phần nền phình to ra ngay trong lúc rút ngắn phần kiến trúc thượng tầng. Giả sử họ giống như giống ngựa chớp Tây Ban Nha, thụ thai bằng gió, họ cũng chẳng thể nghĩ ra phát minh nào thích hợp hơn thế. Nhưng vì chúng ta chưa nghe nói về bất kỳ công dụng cụ thể nào của chiếc váy lót này, hay việc nó chứa đựng bất cứ thứ gì vượt ngoài những gì được cho là có trong những chiếc váy có thiết kế gọn gàng hơn, chúng ta vô cùng bối rối về nó.

Phụ nữ ngụy biện để bảo vệ những chiếc váy đáy rộng này rằng chúng thoáng khí và rất phù hợp với mùa hè; nhưng tôi coi đây chỉ là một cái cớ và một thủ mưu, bởi ai cũng rõ chúng ta đã không có một mùa hè nào ôn hòa hơn thế trong nhiều năm qua, nên chắc chắn cái nóng mà họ phàn nàn không thể nằm ở thời tiết. Hơn thế nữa, tôi rất muốn hỏi những ả tiểu thư yếu đuối này lý do tại sao họ lại cần được làm mát nhiều hơn các bậc mẫu thân trước họ.

Tôi nhận thấy vài nhà chiêm nghiệm có quan điểm cho rằng phái mạnh của chúng ta gần đây đã trở nên quá xấc láo, và chiếc váy lót phồng được tận dụng để giữ chúng ta ở một khoảng cách nhất định. Thật chắc chắn rằng danh dự của một người phụ nữ không thể được che chắn tốt hơn bằng cách này, vòng trong lồng vòng ngoài, giữa vô số công sự và các chiến hào bao vây. Một nữ nhân được bao bọc trong xương cá voi kiểu này được bảo vệ đầy đủ trước sự tiếp cận của một gã vô lại — kẻ hoàn toàn có thể tính đến cách tán tỉnh trong thùng rượu của Ngài George Etherege hệt như giữa vô số chiếc vòng phồng đó.

Giữa vô số phỏng đoán này, có những kẻ mang tâm tính mê tín nhìn nhận chiếc váy lót phồng như một dạng điềm gở. Vài kẻ quả quyết rằng nó báo hiệu sự sụp đổ của vua Pháp, và quan sát thấy váy phồng xuất hiện ở Anh ngay trước sự sụp đổ của vương triều Tây Ban Nha. Những kẻ khác có quan điểm rằng nó tiên tri chiến tranh và đổ máu, và tin rằng nó mang điềm báo giống như chiếc đuôi của một ngôi sao chổi. Về phần mình, tôi có xu hướng nghĩ rằng đó là dấu hiệu cho thấy đông đảo con người đang đến với thế giới này nhiều hơn là rời bỏ nó.

Lần đầu tiên tôi nhìn thấy một tiểu thư diện bộ váy lót này, tôi không khỏi qu trách nàng trong thâm tâm vì dám bước ra đường khi đang mang thai lớn, nhưng nhanh chóng tự trấn an khỏi sai lầm khi thấy toàn bộ phái nữ thời thượng đều diện đồ y hệt nàng. Người ta thường nghĩ rằng vài mụ phụ nữ ranh mãnh đã dụ dỗ bạn bè của họ mặc váy phồng để biến họ thành đồng lõa cho sự che giấu của chính mình, nhờ đó thoát khỏi sự phán xét của thế gian; hệt như các vị tướng cẩn trọng đôi khi mặc cho hai ba tá người thân trang phục của chính mình để tránh thu hút những cuộc tấn công cụ thể của kẻ thù. Chiếc váy lót ngạo nghễ xóa nhòa mọi ranh giới, san bằng mẹ với con gái, và đặt các thiếu nữ lẫn các phu nhân trưởng thành, phụ nữ đã có chồng và góa phụ lên cùng một vạch xuất phát. Trong khi đó, tôi không khỏi bận lòng khi thấy vô số thiếu nữ ngây thơ vóc dáng chuẩn mực lại bị thổi phồng lên và lạch bạch bước đi hệt như những phụ nữ mang thai.

Giả sử mốt này lan đến tầng lớp bình dân, các tuyến đường công cộng của chúng ta sẽ đông đúc đến mức thiếu không gian đường phố. Vô số giáo đoàn thời thượng đã tự thấy mình bị bó hẹp đáng kể, và nếu mốt này gia tăng, tôi lo ngại nó sẽ đẩy nhiều phụ nữ bình dân vào các buổi họp nhóm và giáo phái ly khai. Giả sử phái nam của chúng ta đồng thời nổi hứng mặc quần ống phồng (vì ai mà biết sự bất bình của họ trước cách đối xử của phái nữ có thể đẩy họ đến đâu), một người đàn ông và vợ anh ta sẽ chiếm trọn một hàng ghế.

Ngài biết đấy, thưa ngài, sử sách ghi lại rằng Alexander Đại đế trong chiến dịch Ấn Độ từng chôn vùi vài bộ giáp được làm quá khổ so với bất kỳ binh sĩ nào theo chỉ đạo của ông, nhằm mang lại cho hậu thế một ấn tượng phi thường về ông và khiến họ tin rằng ông từng chỉ huy một đội quân người khổng lồ. Tôi tin chắc rằng nếu một trong những chiếc váy lót hiện tại được treo lên trong bất kỳ viện bảo tàng tò mò nào, nó sẽ dẫn đến sai lầm tương tự đối với các thế hệ cách xa chúng ta vài đời: trừ phi chúng ta tin rằng hậu thế sẽ đánh giá các cụ cố của họ với sự bất kính đến mức nghĩ rằng họ tự làm mình trở nên quái dị để trông có vẻ đáng yêu.

Khi tôi quan sát khối kiến trúc tròn thời thượng mới này ở mọi khía cạnh, tôi không thể không nghĩ đến vị triết gia già nọ, sau khi bước vào một ngôi đền Ai Cập và ngó nghiêng tìm kiếm tượng thần của nơi này, cuối cùng phát hiện ra một chú khỉ đen nhỏ bé được tôn thờ ở chính giữa, khiến ông không khỏi thét lên (trước sự tai tiếng lớn của các tín đồ): Quả là một cung điện nguy nga cho một cư dân nực cười làm sao!

Dẫu ngài từng đưa ra quyết định trong một bài viết là tránh sa đà vào các chi tiết trang phục, tôi tin ngài sẽ không coi việc tháo vòng váy lót cho phái đẹp và chữa lành căn bệnh trướng bụng thời thượng này là điều thấp kém đối với mình. Tôi có xu hướng nghĩ rằng chiếc váy lót sẽ tự động co lại ngay khi ngài đặt chân đến thành phố; ít nhất một cái chạm bút của ngài sẽ khiến nó co rúm lại hệt như cây trinh nữ, và nhờ đó buộc nhiều kẻ đang khiếp sợ hoặc kinh ngạc trước sự tân kỳ điềm gở này — và trong số đó có —

Kẻ tôi tớ hèn mọn của ngài, v.v."

C.

Footnote 1: Love in a Tub, Act iv, sc, 6.

Footnote 2: In Plutarch's Life of him.

... Concordia discors.

Lucan.

Phụ nữ về bản chất vui tươi và rạng rỡ hơn nam nhân rất nhiều; dù là do máu của họ tinh tế hơn, các thớ cơ mỏng manh hơn, và tinh thần động vật nhẹ nhàng, bay bổng hơn; hay như một số người tưởng tượng, liệu có một dạng giới tính nào ngự trị ngay trong chính linh hồn hay không, tôi xin phép không phán đoán. Tươi tắn là món quà của phụ nữ, còn sự điềm đạm là của nam nhân. Do đó, mỗi bên nên canh chừng khuynh hướng đặc thù mà tự nhiên đã ấn định trong tâm trí họ, để nó không kéo đi quá đà và dẫn họ lạc lối khỏi những con đường của lý trí. Điều này chắc chắn sẽ xảy ra nếu một bên trong từng lời nói và hành động luôn ra vẻ cứng nhắc và nghiêm khắc, còn bên kia lại tỏ ra nhanh nhẹn và phù phiếm. Nam nhân nên cảnh giác trước việc bị quyến rũ bởi một thứ triết lý hoang dã, còn phụ nữ trước sự galantry vô tâm. Khi những sự phòng ngừa này không được tuân thủ, nam nhân thường thoái hóa thành kẻ yếm thế, còn phụ nữ thành những mụ phô trương kỳ quặc; nam nhân trở nên gắt gỏng u sầu, còn phụ nữ trở nên xấc láo và hoang tưởng.

Qua những gì tôi vừa chia sẻ, ta có thể kết luận rằng nam và nữ được tạo ra như những mảnh ghép bổ sung cho nhau, để những lo âu và bồn chồn của người chồng được khỏa lấp bởi sự lanh lẹ và tính tình dễ chịu của người vợ. Khi những yếu tố này được điều hòa đúng cách, sự lo toan và niềm vui sẽ đi đôi với nhau; và gia đình, hệt như một con thuyền được cân bằng đúng mức, không thiếu buồm cũng chẳng thiếu dải dằn.

Các nhà tự nhiên học quan sát thấy (vì khi ở miền quê tôi buộc phải lấy các phép ẩn dụ từ đó): Rằng chỉ có những con chim trống mới cất tiếng hót; rằng tiếng hót của chúng bắt đầu một chút trước mùa sinh sản và kết thúc một chút sau đó; rằng trong lúc chim mái đang ấp trứng, chim trống thường đứng canh trên một cành cây lân cận trong tầm tai nghe của nàng; và nhờ đó giải trí, vỗ về nàng bằng tiếng hót của mình trong suốt quãng thời gian nàng ấp.

Hợp đồng này giữa loài chim chỉ kéo dài cho đến khi một lứa con non ra đời; thế nên ở loài có cánh, những lo toan và mệt nhọc của đời sống hôn nhân, nếu tôi có thể gọi như thế, đè nặng chủ yếu lên vai phái mái. Ngược lại, giống như ở loài chúng ta, nam và nữ gắn kết với nhau suốt đời, và gánh nặng chính đặt lên vai phái mạnh, tự nhiên đã ban tặng mọi nghệ thuật xoa dịu và nịnh nọt cho phái nữ, để nàng có thể cổ vũ, động viên người bạn đồng hành của mình trong sự tận tụy và chuyên cần tạo lập của cải cho gia đình, cũng như nuôi dạy những đứa con chung. Tuy nhiên, điều này không nên hiểu theo nghĩa cứng nhắc rằng các bổn phận tương tự không thường xuyên mang tính tương cấm và đè nặng lên cả hai phía, mà chỉ nhằm làm nổi bật ý định chung của tự nhiên trong các khuynh hướng và năng khiếu khác nhau được ban cho hai giới.

Nhưng bất kể lý do gì khiến nam và nữ được tạo ra với sự đa dạng tính khí này, nếu ta quan sát hành vi của phái đẹp, ta thấy họ thích kết giao với một cá nhân tương đồng với mình ở cái tính khí nhẹ nhàng, bay bổng vốn có hơn là những kẻ đủ tiêu chuẩn để điều hòa và cân bằng nó. Từng tồn tại một lời phàn nàn lâu đời rằng: Gã công tử bột luôn dễ dàng chiếm được cảm tình của họ trước một người đàn ông khôn ngoan. Khi ta thấy một gã ồn ào và luyên thuyên, tràn đầy sức sống nhạt nhẽo và những tiếng cười cợt, ta có thể mạnh dạn tuyên bố hắn là kẻ được phái nữ sủng ái: Sự ồn ào và lăng xăng là những tài năng mà họ không thể cưỡng lại. Tóm lại, niềm đam mê của một phụ nữ bình thường dành cho một nam nhân chẳng là gì khác ngoài lòng yêu bản thân được chuyển hướng sang một đối tượng khác: Nàng muốn người tình của mình là một phụ nữ trong mọi thứ ngoại trừ giới tính. Tôi không biết có một mảnh châm biếm nào sắc bén hơn về phần này của phái nữ ngoài những dòng thơ của Ông Dryden:

Our thoughtless Sex is caught by outward Form,

And empty Noise, and loves it self in Man.

Đây là nguồn cội của vô số thảm họa đối với phái nữ, bởi nó thường xuyên trói buộc họ với những nam nhân trong thâm tâm cũng xem bản thân là những tạo vật xuất sắc hệt như họ; hoặc nếu những kẻ đó vô tình có tính khí dễ chịu, chúng cũng chỉ dùng để ném cửa tiền của tài sản, thổi phồng những thói hư tật xấu và trầm trọng thêm sự thiếu chín chắn của họ.

Sự nhẹ dạ bất thường của phái nữ cũng mang tính chí mạng chẳng kém sau khi kết hôn so với trước đó; nó phác họa trong trí tưởng tượng của họ hình ảnh người chồng tận tụy, thận trọng như một loài động vật gia đình chân chất và dễ sai khiến; đồng thời chuyển hướng suy nghĩ của họ về phía gã quý tộc thời thượng hào hoa, kẻ cười cợt, ca hát và ăn mặc quyến rũ hơn nhiều.

Vì sự sống động bất định này của tính khí dẫn dắt trái tim của những phụ nữ bình thường đi lạc lối trong việc lựa chọn người tình và đối xử với chồng, nó cũng vận hành với tác động tồi tệ không kém hướng về những đứa con của họ — những kẻ được dạy dỗ để hoàn thiện bản thân trong tất cả những sự hoàn mỹ siêu việt vốn tỏ ra hấp dẫn trong mắt người mẹ. Nàng ngưỡng mộ ở con trai những gì nàng từng yêu ở tình nhân; và qua đó đóng góp hết sức có thể để bất tử hóa bản thân trong một thế hệ hậu duệ vô tích sự.

Faustina trẻ là một ví dụ sinh động về loại phụ nữ này. Mặc dù kết hôn với Marcus Aurelius — một trong những vị hoàng đế La Mã vĩ đại nhất, khôn ngoan nhất và tốt đẹp nhất — nàng lại cho rằng một tay võ sĩ giác đấu tầm thường mới là một quý ông bảnh bao hơn nhiều; và đã cẩn trọng nhào nặn con trai Commodus theo đúng quan niệm của nàng về một nam nhân lịch lãm, đến mức khi hắn bước lên ngai vàng của cha, hắn đã trở thành bạo chúa ngốc nghếch và đồi trụy nhất từng đứng đầu đế chế La Mã, chẳng nổi danh trong bất cứ việc gì ngoài việc thi đấu kiếm tiền và đập vỡ đầu người khác.

Vì hắn chẳng có chút thẩm mỹ nào đối với vinh quang thực sự, ta nhìn thấy hắn trong vô số huy chương và tượng đồng còn sót lại được trang bị hệt như Hercules với một cây gậy và tấm da sư tử.

Tôi bị dẫn dắt vào bài chiêm nghiệm này bởi những nhân dạng mà tôi nghe kể về một quý ông nông thôn và phu nhân của ông, những người sống cách không xa chỗ Ngài Roger. Người vợ là một mụ phô trương già nua, lúc nào cũng thèm thuồng những trò giải trí chốn thị thành; người chồng là một gã nông phu cộc cằn, cau có và bực bội mỗi khi nghe đến tên nó. Người vợ ngập ngụa trong sự giả tạo, người chồng chìm đắm trong sự thô lỗ; người phu nhân không thể chịu nổi tiếng hót của chim sơn ca và chim họa mi, căm ghét những ngày hè lê thê, và phát ốm khi nhìn thấy những lùm cây râm mát cùng dòng suối róc rách; người chồng tự hỏi làm sao có thể có kẻ cảm thấy thích thú với những trò ngớ ngẩn của kịch nghệ và nhạc opera, rồi buông lời nguyền rủa từ sáng đến tối đám công tử xức nước hoa và triều thần lòe loẹt. Những đứa con được nuôi dưỡng trong những quan niệm khác biệt này của cha mẹ chúng. Các cậu con trai theo chân cha quanh các điền trang, trong khi các cô con gái đọc những tập tiểu thuyết tình yêu và tiểu thuyết lãng mạn cho mẹ nghe. Nhờ cách này, các cô gái nhìn nhận cha mình như một gã nhà quê, còn các cậu con trai nghĩ mẹ mình chẳng phải loại phụ nữ đứng đắn gì.

Cuộc đời của Aristus và Aspasia khác biệt biết bao? Sự tươi tắn ngây thơ của người này được điều hòa và dung hòa bởi sự điềm đạm vui tươi của người kia. Người vợ trở nên khôn ngoan qua những bài diễn ngôn của chồng, và người chồng trở nên vui tính qua những cuộc trò chuyện của vợ. Aristus sẽ chẳng thể đáng mến đến thế nếu thiếu đi Aspasia, cũng như Aspasia chẳng thể được kính trọng đến thế nếu thiếu đi Aristus. Đức hạnh của họ hòa quyện vào những đứa con và lan tỏa xuyên suốt toàn bộ gia đình một tinh thần nhân ái, thỏa mãn và mãn nguyện thường trực.

C.

Footnote 1: that

Vertentem sese frustra sectabere canthum,

Cum rota posterior curras et in axe secundo.

Pers.

Các bậc thầy hội họa không bao giờ thích vẽ con người theo mốt thời trang; bởi họ thừa biết rằng kiểu tóc búi hay bộ tóc giả đang thịnh hành và mang lại vẻ duyên dáng cho các bức chân dung ở hiện tại sẽ tạo ra một hình ảnh vô cùng kỳ quặc, và có lẽ trông vô cùng quái dị trong mắt hậu thế. Vì lý do này, họ thường khắc họa một nhân vật lừng lẫy trong trang phục La Mã, hoặc trong một dạng trang phục không bao giờ thay đổi. Tôi ước gì, vì lợi ích của những người bạn ở quê nhà, có một dạng trang phục trường tồn như vậy được áp dụng bởi tất cả những ai sống cách xa thành phố, và rằng họ có thể đồng thuận với nhau về những kiểu mốt không bao giờ dễ bị thay đổi và đổi mới.

Vì thiếu đi thứ trang phục cố định này, một kẻ thực hiện chuyến hành trình về vùng quê sẽ ngỡ ngàng hệt như một người dạo bước trong một phòng tranh chân dung gia đình cổ kính; và tìm thấy sự đa dạng phong phú không kém về trang phục và y phục ở những con người mà hắn trò chuyện. Nếu họ giữ lấy một bộ trang phục duy nhất không đổi, thỉnh thoảng họ sẽ có lúc hợp mốt, điều mà họ chẳng bao giờ có được theo cách quản lý mọi thứ ở hiện tại. Nếu thay vì chạy theo mốt, họ tiếp tục gắn bó với một trang phục nhất định, xu hướng thời trang thế nào rồi cũng sẽ bắt kịp họ, hệt như một chiếc đồng hồ chết vẫn chắc chắn chỉ đúng giờ hai lần mỗi ngày: Do đó trong trường hợp này, tôi xin khuyên họ, hệt như một quý ông từng khuyên người bạn đang săn lùng một gã trôi nổi khắp thị trấn: Nếu anh đuổi theo hắn, anh sẽ chẳng bao giờ tìm thấy hắn, nhưng nếu anh đứng canh ở góc của bất kỳ con đường nào, tôi cá là chẳng mấy chốc anh sẽ trông thấy hắn.

Tôi đã chạm đến chủ đề này trong một bài tiểu luận — thứ minh chứng cho việc người nhà quê bị dẫn dắt lạc lối tàn nhẫn thế nào khi chạy theo thành phố; và trang bị cho mình một diện mạo nực cười khi tưởng bản thân đang ở đỉnh cao của thời trang. Kể từ bài tiểu luận đó, tôi nhận được một bức thư (được tôi bóng gió ở đó) từ một quý ông hiện đang công tác trên tuyến xét xử miền Tây.

Kính gửi Ngài Spectator,

"Là một luật sư thuộc khu Inner-Temple, người Cornwall gốc, tôi thường đi theo tuyến xét xử miền Tây để dưỡng bệnh, và vì không bị bận rộn bởi khách hàng, tôi có thời gian để ghi nhận nhiều quan sát lọt khỏi tầm mắt của các bạn đồng hành.

Một trong những phụ nữ thời thượng nhất tôi gặp trên toàn tuyến xét xử chính là mụ chủ quán trọ ở Stains, nơi tôi tình cờ ghé qua vào một ngày lễ. Tóc búi của mụ cao chưa tới nửa thước, và váy lót thì nằm trong tầm vài thước so với chu vi thời thượng. Tại cùng địa điểm đó, tôi quan sát thấy một thanh niên đội bộ tóc giả tương đối ổn, ngặt nỗi nó lại bị che phủ bởi một chiếcếc mũ uốn theo mốt Ramillie Cock. Khi tôi tiếp tục hành trình, tôi quan sát thấy chiếc váy lót ngày càng thu hẹp lại, và cách Luân Đôn khoảng sáu mươi dặm thì lỗi mốt đến mức một người phụ nữ có thể đi lại trong đó mà chẳng gặp bất kỳ sự bất tiện nào.

Không xa Salisbury, tôi chú ý đến phu nhân của một Thẩm phán Hòa bình — người lỗi mốt ít nhất mười năm trong trang phục, nhưng đồng thời diện đồ đẹp lộng lẫy hết nấc. Bà được đính tua rua và diềm nhún từ đầu đến chân; mỗi dải ruy-băng đều nhăn nheo, và mọi phần trang phục đều quăn tít, khiến bà trông hệt như một trong những con vật mà ở miền quê chúng ta gọi là gà Friezeland.

Cách địa điểm này không quá vài dặm, tôi được thông báo rằng một trong những chiếc múp tai nhỏ bé của năm ngoái đã vô tình trôi dạt vào những vùng đó bằng cách nào đó, và tất cả phụ nữ thời thượng đang cắt đôi chiếc múp cũ của họ hoặc thu nhỏ chúng lại theo mô hình bé nhỏ đang lan truyền giữa họ. Tôi không thể tin nổi lời đồn đại ở đó rằng nó được gửi xuống miễn cước bởi một nghị sĩ quốc hội trong một gói bưu phẩm nhỏ; nhưng có lẽ vào mùa đông tới, mốt này sẽ đạt đỉnh tại vùng quê khi nó đã hoàn toàn lỗi thời ở Luân Đôn.

Gã công tử bảnh bao nhất tại phiên tòa hạt tiếp theo của chúng tôi diện một bộ tóc giả màu lanh khổng lồ được sản xuất từ thời vua William. Kẻ diện nó, hóa ra, để tóc tự nhiên khi ở nhà, và để bộ tóc giả nằm trong lốc xoăn suốt nửa năm trời, để có thể đội nó trong những dịp gặp gỡ các thẩm phán.

Tôi không thể bỏ qua một sự cố xảy ra với chúng tôi tại một nhà thờ làng trên biên giới Cornwall. Khi chúng tôi đang ở giữa buổi lễ, một quý nhân là người phụ nữ quyền lực nhất nơi đó — từng trải qua mùa đông ở Luân Đôn cùng chồng — bước vào giáo đoàn với một kiểu tóc búi nhỏ và một chiếc váy lót phồng. Cơn kinh ngạc bao trùm đám đông trước khung cảnh đó khiến tất cả đều đứng phắt dậy. Vài kẻ dán mắt vào phần đáy khổng lồ, vài kẻ nhìn phần đỉnh nhỏ bé của trang phục kỳ lạ này. Trong lúc đó, nữ chúa điền trang lấp đầy phần không gian của nhà thờ và bước đến ghế của mình với sự mãn nguyện khôn tả, giữa những tiếng thì thầm, phỏng đoán và kinh ngạc của toàn bộ giáo đoàn.

Trên đường rời khỏi đây, chúng tôi trông thấy một thanh niên phi ngựa về phía chúng tôi với tốc độ toàn lực, diện bộ tóc giả đuôi bob và một chiếc túi lụa đen cột vào đó. Hắn dừng phẩy xe để hỏi chúng tôi đám thẩm phán còn cách bao xa. Thời gian dừng lại của hắn ngắn đến mức chúng tôi chỉ kịp quan sát chiếc áo lê lụa mới tinh — thứ bị phanh ngực ở vài chỗ để khoe chiếc áo sơ mi sạch sẽ được may nhún bèo xuống tận ngang thắt lưng.

Từ địa điểm này, trong suốt hành trình xuyên qua những vùng cực Tây của vương quốc, chúng tôi tưởng mình đang ở dưới triều đại vua Charles II, khi người dân tạo ra rất ít sự biến đổi trong trang phục kể từ thời đó. Những gã công tử sành điệu nhất của vùng quê vẫn xuất hiện trong chiếc mũ Monmouth-Cock và khi họ đi tán tỉnh (dù có giữ chức vụ gì trong lực lượng dân quân hay không), họ thường khoác lên mình chiếc áo khoác đỏ. Chúng tôi quả thực vô cùng kinh ngạc tại quán trọ dừng chân tối qua khi gặp một quý ông trang bị bộ tóc giả dạng mũ ngủ, chiếc áo khoác có túi dài cùng tay áo xẻ, và một đôi giày có cổ khoét cao; nhưng chẳng mấy chốc chúng tôi nhận ra qua trò chuyện rằng hắn là kẻ chế giễu sự dốt nát và thô kệch của người nhà quê, và quyết tâm sống chết cùng mốt thời trang.

Thưa ngài, nếu ngài nghĩ bản tường trình về các chuyến du hành này có ích cho công chúng, năm tới tôi sẽ làm phiền ngài với những sự cố tôi bắt gặp ở các vùng khác của nước Anh. Bởi tôi được thông báo rằng có nhiều điều kỳ thú hơn ở tuyến xét xử phía Bắc so với miền Tây; và rằng một xu hướng thời trang tiến chậm hơn nhiều vào Cumberland so với Cornwall. Tôi nghe nói cụ thể rằng chiếc khăn Steenkirk chỉ mới cập bến Newcastle hai tháng trước, và có vài kiểu tóc búi ở những vùng đó rất đáng để thực hiện một chuyến hành trình đến tận nơi để chiêm ngưỡng.

C.

Footnotes 1: that

Footnote 2: and a

Footnote 3: Fashion of 1706

Footnotes 4: that

Footnotes 5: that

Footnote 6: whole Area

Footnote 7: that

Footnote 8: Of 1685.

Footnote 9: Fashion of 1692-3.

... Semperque recentes

Convectare juvat prædas, et vivere rapto.

Virg.

Hôm qua, khi đang cưỡi ngựa dạo chơi trên các cánh đồng cùng bằng hữu Ngài Roger, chúng tôi trông thấy một nhóm người Di-gan ở cách đó không xa. Vừa phát hiện ra họ, bằng hữu tôi thoáng do dự không biết có nên thực thi quyền Thẩm phán Hòa bình đối với một băng đảng lang thang vô pháp luật như vậy hay không; nhưng vì không mang theo viên thư ký — người cố vấn thiết yếu trong những dịp này — và sợ rằng bầy gia cầm của mình có thể chịu hậu quả tồi tệ, ông đành gác lại suy nghĩ đó: Nhưng đồng thời thuật lại cho tôi chi tiết về những tác hại mà chúng gây ra ở miền quê, từ việc ăn cắp tài sản của người dân đến quấy phá gia nhân.

"Nếu một mảnh vải vắt lơ lửng trên hàng rào," Ngài Roger kể, "chúng chắc chắn sẽ lấy; nếu con heo lạc đường trên cánh đồng, mười ăn một là nó biến thành con mồi của chúng; đám ngỗng của chúng ta không thể sống yên bình vì chúng; nếu ai đó kiện tụng chúng với sự nghiêm khắc, chuồng gà của hắn chắc chắn phải gánh chịu hậu quả: Chúng thường lang thang vào những vùng này vào khoảng thời gian này trong năm; và làm cho đầu óc của các cô hầu gái xao xuyến đến mức ta chẳng thể mong đợi bất kỳ công việc nào được hoàn thành cho đàng hoàng chừng nào chúng còn ở miền quê. Tôi có một cô vắt sữa chăm chỉ từng đưa tiền cho chúng bói tay mỗi mùa hè, và chưa bao giờ thất bại trong việc được hứa hẹn sẽ lấy được chàng trai khôi ngô nhất giáo xứ cho công sức của mình. Bác quản gia của anh cũng đủ ngu ngốc để bị chúng dụ dỗ; và mặc dù chắc chắn mất đi một con dao, cái nĩa hoặc chiếc thìa mỗi lần được bói vận mệnh, bác ta vẫn thường giam mình trong phòng đựng thức ăn với một ả Di-gan già suốt hơn nửa tiếng đồng hồ một lần trong năm. Người tình chính là thứ sinh kế của chúng, và chúng ban phát nó vô cùng hào phóng cho tất cả những ai tìm đến chúng. Thỉnh thoảng bạn sẽ thấy vài ả ranh con xinh xắn trong số chúng: Lũ khốn ấy thường sở hữu hàm răng trắng và đôi mắt đen."

Ngài Roger, nhận thấy tôi lắng nghe với sự chú ý lớn trước câu chuyện về một nhóm người hoàn toàn xa lạ đối với tôi, bảo rằng nếu tôi muốn, họ sẽ bói vận mệnh cho chúng tôi. Vì tôi rất hài lòng với đề xuất của vị hiệp sĩ, chúng tôi phi ngựa lại gần và chìa lòng bàn tay ra cho chúng. Một nữ tiên tri Cassandra của băng đảng, sau khi kiểm tra các đường chỉ tay của tôi vô cùng cẩn thận, bảo rằng tôi yêu một thiếu nữ xinh xắn trong góc khuất, rằng tôi là kẻ sát gái, kèm theo vài chi tiết khác mà tôi không thấy thích hợp để thuật lại.

Bằng hữu tôi Ngài Roger xuống ngựa, và chìa lòng bàn tay ra cho hai ba ả đứng cạnh, chúng bóp méo nó thành đủ mọi hình thù và miệt mài săm soi từng nếp nhăn có thể tạo ra trên đó; khi một ả già nua và rám nắng hơn phần còn lại lên tiếng bảo rằng ông có một người góa phụ trong đường đời của mình: Nghe vậy, vị hiệp sĩ liền thốt lên: "Thôi, thôi, cô là một ả ranh lười biếng"; và đồng thời mỉm cười nhìn tôi. Ả Di-gan thấy ông không hề khó chịu trong thâm tâm, sau khi thăm dò sâu hơn vào bàn tay ông, bèn phán rằng người tình trăm năm của ông rất chung thủy, và nàng sẽ mơ về ông đêm nay: Bằng hữu già của tôi thốt lên "Pish" và bảo ả nói tiếp. Ả Di-gan bảo rằng ông là một cử nhân, nhưng sẽ không độc thân lâu nữa; và rằng ông vô cùng quý giá đối với ai đó hơn ông tưởng: Vị hiệp sĩ vẫn lặp lại rằng Ả là một ả ranh lười biếng, và bảo ả nói tiếp. "Chà, thưa ngài," ả Di-gan nói, "ánh mắt liếc xấc láo đó của ngài làm tan nát trái tim bao thiếu nữ; ngài đâu có cái nụ cười quanh khóe miệng ấy cho không đâu..." Thứ tiếng lóng thô kệch được thốt ra kèm theo tất cả những điều này, hệt như sự tối tăm của một lời sấm truyền, càng khiến chúng tôi chú ý hơn. Tóm lại, vị hiệp sĩ để lại tiền cho ả — khoản tiền mà ông đã chèo kéo tay ả — rồi trèo lên ngựa tiếp tục hành trình.

Trên đường rời đi, Ngài Roger kể với tôi rằng ông biết vài người khôn ngoan từng tin rằng đám Di-gan này đôi khi tiên tri những điều vô cùng kỳ lạ; và suốt nửa tiếng đồng hồ liền tỏ ra vui vẻ hơn thường lệ. Ở đỉnh điểm của tâm trạng tốt đó, khi gặp một gã ăn xin thông thường trên đường — kẻ chẳng phải nhà tiên đoán nào — lúc ông định bố thí, ông phát hiện ra túi áo mình đã bịMóc sạch: Đó là một hình thức bói toán mà loài sâu mọt này rất thông thạo.

Tôi có thể giải trí cho độc giả tại đây bằng những ghi chép lịch sử về đám người lười biếng đồi bại này — những kẻ đang hoành hành khắp mọi quốc gia ở châu Âu, và sống giữa lòng các chính phủ trong một dạng liên bang của riêng chúng. Nhưng thay vì đi sâu vào những quan sát mang tính chất này, tôi xin lấp đầy phần còn lại của bài viết bằng một câu chuyện vẫn còn tươi mới ở Hà Lan, từng được in trong một bản tin hằng tháng của chúng tôi khoảng hai mươi năm trước.

"Khi con tàu Trekschuyt, hay thuyền cho thuê chở hành khách từ Leyden đi Amsterdam đang rời bến, một cậu bé chạy dọc theo bờ kênh nài nỉ được đón lên; nhưng chủ thuyền từ chối vì cậu nhóc không đủ tiền trả vé thông thường. Một thương gia lỗi lạc, bị thu hút bởi vẻ ngoài của cậu bé và thầm động lòng trắc ẩn, đã trả tiền thay cho cậu và ra lệnh cho phép cậu lên tàu. Khi trò chuyện với cậu sau đó, ông phát hiện cậu có thể nói trôi chảy ba hoặc bốn thứ tiếng, và qua kiểm tra kỹ hơn, biết được cậu từng bị bắt cóc từ khi còn là một đứa trẻ bởi một ả Di-gan, và lang thang cùng băng đảng hành khất đó qua nhiều vùng khác nhau ở châu Âu từ đó đến nay. Hóa ra vị thương gia — người có trái tim hướng về cậu bé bằng một bản năng bí ẩn nào đó — từng đánh mất một đứa con trai vài năm trước đó. Cha mẹ cậu, sau một thời gian dài tìm kiếm, đã đinh ninh cậu chết đuối ở một trong những con kênh chằng chịt khắp đất nước đó; và người mẹ đau khổ đến mức qua đời vì tiếc thương đứa con trai khôi ngô vốn là đứa con duy nhất. Khi lắp ghép lại mọi chi tiết, kiểm tra các vết bớt và dấu hiệu mà người mẹ từng dùng để mô tả đứa trẻ khi mới mất tích, cậu bé hóa ra chính là con trai của vị thương gia — người có trái tim bỗng dưng mềm nhũn một cách khó hiểu khi nhìn thấy cậu. Cậu nhóc vô cùng hài lòng khi tìm được một người cha giàu có và có khả năng để lại cho mình một gia tài lớn; về phần người cha, ông không khỏi hoan hỉ khi thấy đứa con trai từng bị cho là đã mất tích nay trở về với một thể trạng tráng kiện, tư duy sắc sảo và kỹ năng ngôn ngữ thành thạo."

Câu chuyện in ấn dừng lại ở đây; nhưng nếu tôi có thể tin vào những lời đồn đại, chàng ngôn ngữ gia của chúng ta sau khi nhận được những nền tảng phi thường cho một nền giáo dục tốt, sau đó đã được đào tạo trong mọi thứ phù hợp với một quý nhân; rũ bỏ từng chút một mọi thói hư tật xấu và tập quán từng quen thuộc trong các chuyến lưu lạc của mình: Thậm chí, người ta đồn rằng anh ta sau đó từng được tuyển dụng tại các triều đình nước ngoài trong các công việc quốc gia, mang lại danh tiếng lớn cho bản thân và vinh quang cho tổ quốc, và từng đi thăm nhiều quốc gia với tư cách là một đại sứ công quyền — nơi anh từng lang thang như một kẻ Di-gan.

C.

Footnote 1: that

Footnote 2: that

Footnote 3: that

Footnote 4: that

Footnote 5: Sides

Footnote 6: About three pence.

Footnote 7: by when

Footnote 8: that

Footnote 9: his Country

... Ipsæ rursum concedite Sylvæ.

Virg.

Thói quen thông thường của một kẻ yêu thích thể thao điền viên là bảo tồn thú săn trên chính điền trang của mình, và giải trí trên phần đất thuộc về hàng xóm. Bằng hữu tôi Ngài Roger thường đi cách nhà hai ba dặm, tiến vào vùng giáp ranh điền trang trước khi lùng sục tìm kiếm thỏ rừng hay gà lôi, với mục đích dung tha cho những cánh đồng của chính mình — nơi ông luôn chắc chắn tìm thấy trò giải trí khi tình thế ngặt nghèo nhất. Nhờ cách này, đàn vật nuôi quanh nhà của ông có thời gian sinh sôi nảy nở, bên cạnh việc cuộc săn trở nên thú vị hơn khi con mồi khó tiếp cận hơn, và không tập trung dày đặc đến mức gây ra sự bối rối hay hỗn loạn trong cuộc rượt đuổi. Vì những lý do này, người nông phu thôn quê, hệt như con cáo, hiếm khi săn mồi ở gần nhà.

Tương tự như vậy, tôi đã thực hiện một chuyến du ngoạn dài một tháng rời khỏi thành phố — vốn là cánh đồng săn bắn vĩ đại cho những thợ săn thuộc giống loài của tôi — để thử vận may ở miền quê, nơi tôi đã khơi mào nhiều chủ đề và săn lùng chúng với chút hoan hỉ cho bản thân và tôi hy vọng là cả những người khác. Tôi ở đây buộc phải dùng rất nhiều sự cần mẫn trước khi có thể khơi gợi bất cứ điều gì vừa ý, trong khi ở thành thị, khi tôi đang theo đuổi một nhân vật này, mười ăn một là tôi bị cắt ngang đường bởi một nhân vật khác, và tung ra vô số sinh vật kỳ lạ ở cả hai phái khiến chúng làm lu mờ dấu vết của nhau và làm rối tung cuộc săn. Khó khăn lớn nhất của tôi ở miền quê là tìm kiếm trò tiêu khiển, còn ở thành phố là lựa chọn nó. Trong lúc này, khi tôi đã dành trọn một tháng nghỉ ngơi cho các thành phố Luân Đôn và Westminster, tôi tự hứa hẹn sẽ thu về vô số con mồi mới khi trở về đó.

Quả thực đã đến lúc tôi rời khỏi miền quê, khi tôi nhận thấy toàn bộ chòm xóm bắt đầu tò mò gặng hỏi về tên tuổi và thân phận của mình. Niềm yêu thích sự cô độc, tính trầm lặng và lối sống đặc thù của tôi đã khơi dậy sự tò mò lớn ở khắp các vùng này.

Những quan niệm được thêu dệt về tôi vô cùng đa dạng; vài kẻ coi tôi rất kiêu ngạo, vài kẻ cho là rất khiêm nhường, và vài kẻ nghĩ là vô cùng u sầu. William Wimble, như bác quản gia kể lại, quan sát thấy tôi thui thủi một mình và cực kỳ im lặng khi ở cùng mọi người, nên sợ rằng tôi từng giết người. Dân làng có vẻ nghi ngờ tôi là một phù thủy; và vài kẻ trong số họ khi nghe về chuyến thăm mà tôi thực hiện tới Moll White, nhất quyết quả quyết rằng Ngài Roger đã mang theo một thuật sĩ đến để chữa bệnh cho bà lão và giải thoát chòm xóm khỏi những bùa phép của mụ. Thế nên nhân dạng mà tôi mang ở một phần chòm xóm chính là thứ mà họ gọi ở đây là Phù thủy Trắng.

Một Thẩm phán Hòa bình sống cách đây khoảng năm dặm, không thuộc phe của Ngài Roger, đã nói hai ba lần tại bàn ăn của ông rằng ông ta ước Ngài Roger không dung túng một tu sĩ Dòng Tên trong nhà, và rằng các quý ông trong vùng sẽ làm rất tốt nếu buộc tôi phải giải thích về thân phận của mình.

Ở chiều ngược lại, vài người bạn của Ngài Roger lại sợ rằng vị hiệp sĩ già đang bị lừa gạt bởi một kẻ xảo quyệt, và vì họ nghe nói ông giao du bừa bãi khi ở thành thị, nên không loại trừ khả năng ông đã mang về quê một kẻ thuộc phe Whig bị thất sủng, đang u sầu và ngậm miệng không nói gì vì đã mất chức.

Đó là sự đa dạng của các quan niệm được nuôi dưỡng ở đây về tôi, khiến tôi qua mắt vài kẻ như một kẻ bất mãn, và qua mắt những kẻ khác như một linh mục Công giáo; qua mắt vài kẻ như một phù thủy, và qua mắt những kẻ khác như một kẻ sát nhân; và tất cả những điều đó chẳng vì lý do gì khác mà tôi có thể tưởng tượng, ngoại trừ việc tôi không tru tréo, hò hét và làm ồn. Quả thực bằng hữu tôi Ngài Roger bảo họ rằng "đó là phong cách của tôi," và tôi chỉ là một triết gia; nhưng điều đó không làm họ thỏa mãn. Họ nghĩ có điều gì đó lớn lao hơn ở tôi mà ông không hé lộ, và rằng tôi không giữ im lặng vô cớ.

Vì những lý do này và nhiều lý do khác, tôi sẽ khởi hành đi Luân Đôn vào ngày mai, sau khi nhận ra qua thực tế rằng miền quê không phải là chốn dành cho một kẻ có tính khí như tôi — kẻ không yêu thích sự ồn ào và cái gọi là tình làng nghĩa xóm. Một kẻ cảm thấy bực bội khi một vị khách bất ngờ xông vào, và không thích hy sinh một buổi chiều cho bất kỳ kẻ vãng lai nào; kẻ muốn làm chủ thời gian của chính mình và theo đuổi các khuynh hướng cá nhân sẽ chỉ tạo ra một hình ảnh vô cùng thiếu hòa nhập trong lối sống kiểu này. Do đó, tôi sẽ lui về chốn thị thành, nếu tôi có thể dùng cụm từ đó, và hòa mình vào đám đông nhanh nhất có thể, nhằm mục đích được ở một mình. Tôi có thể khơi gợi ở đó bất kỳ suy ngẫm nào tùy thích về những kẻ khác mà không bị ai quan sát, đồng thời tận hưởng mọi lợi ích của sự giao thiệp cùng mọi đặc quyền của sự cô độc. Trong lúc này, để khép lại tháng ngày này và kết thúc các bài chiêm nghiệm điền viên của mình, tôi xin chèn vào đây bức thư từ bằng hữu William Honeycomb — kẻ chưa từng rời xa làn khói Luân Đôn dù chỉ một tháng trong suốt bốn mươi năm qua — đang chế giễu tôi theo cách của hắn về đời sống điền viên.

Kính gửi Spec,

"Tôi đoán bức thư này sẽ tìm thấy anh đang ngửi hoa cúc, hít hà mùi cỏ khô, hay phung phí thời gian vào một trò giải trí thôn dã vô hại nào đó tương tự. Dù vậy, tôi có lệnh từ câu lạc bộ triệu tập anh trở về thành phố, vì tất cả chúng tôi đều sợ chết khiếp rằng anh sẽ chẳng thể thưởng thức nổi bầu không khí của chúng tôi sau các cuộc trò chuyện với Moll White và William Wimble. Làm ơn đừng gửi lên đây bất kỳ câu chuyện nào về gà và bò nữa, cũng như đừng làm cho thành phố hoảng sợ bởi các linh hồn và phù thủy. Các bài tiểu luận của anh bắt đầu sực nức mùi rừng và đồng cỏ rồi đấy. Nếu anh không mau chóng quay lại, chúng tôi sẽ kết luận rằng anh đã rơi vào lưới tình với một cô vắt sữa của Ngài Roger. Gửi lời hỏi thăm đến vị hiệp sĩ. Ngài Andrew đã trở thành thủ lĩnh của câu lạc bộ kể từ khi rời xa chúng ta, và nếu ngài ấy không mau chóng quay lại, ngài sẽ biến từng đứa con của mẹ chúng ta thành những kẻ ủng hộ nền cộng hòa.

Kính thư Spec,

Mãi mãi của anh,

Will. Honeycomb."

C.

Footnote 1: an

Footnotes 2: that

Steel

... Qui aut Tempus quid postulet non videt, aut plura loquitur, aut se ostentat, aut eorum quibuscum est rationem non habet, is ineptus esse dicitur.

Tull.

Sau khi thông báo với bằng hữu thân thiết Ngài Roger rằng tôi sẽ khởi hành đi Luân Đôn vào ngày hôm sau, những con ngựa của ông đã sẵn sàng vào giờ hẹn vào buổi tối; và được tháp tùng bởi một người hầu của ông, tôi đến thị trấn hạt vào lúc chạng vạng để chuẩn bị sẵn sàng cho chiếc xe ngựa công cộng vào ngày hôm sau. Ngay khi chúng tôi đến quán trọ, người hầu phục vụ tôi đã gặng hỏi người gác cổng ngay trước mặt tôi xem có những hành khách nào đi chung xe?

Gã phục vụ đáp: Phu nhân Betty Arable, nữ thừa kế lớn, và người mẹ góa phụ của nàng; một sĩ quan tuyển quân (kẻ đặt chỗ vì họ tham gia); cậu ấm trẻ Quickset — họ hàng của nàng (người mà mẹ nàng muốn nàng kết hôn); Ephraim, tín hữu Quaker — người giám hộ của nàng; và một quý ông đã tự học đến mức câm lặng từ nhà của Ngài Roger De Coverley. Qua những gì hắn nói về bản thân tôi, tôi quan sát thấy rằng đúng với chức vụ của mình, hắn rất rành thông tin tình báo; và không nghi ngờ gì về việc có cơ sở cho những lời đồn đại của hắn về phần còn lại của nhóm khách, cũng như về bức tranh kỳ quặc mà hắn phác họa về tôi. Sáng hôm sau lúc trời rạng sáng, tất cả chúng tôi đều được gọi thức dậy; và tôi, kẻ biết rõ sự thẹn thùng tự nhiên của mình và nỗ lực để trở thành đối tượng ít có khả năng bị tranh cãi nhất có thể, liền thay đồ ngay lập tức để không bắt ai phải chờ đợi. Sự chuẩn bị đầu tiên cho việc khởi hành là chiếc giáo lửng của viên sĩ quan được đặt gần người đánh xe, và một chiếc trống phía sau xe. Trong lúc đó, tay đánh trống, tùy tùng của viên sĩ quan, làm ầm ĩ lên để không có món đồ nào của viên sĩ quan bị đặt ở vị trí dễ hỏng; nhờ đó túi hành lý của hắn được cố định chắc chắn trên ghế xe ngựa; và bản thân viên sĩ quan, theo lối hành xử thường xuyên dẫu đầy tính đố kỵ của giới quân nhân, đã ra lệnh cho gã hầu của mình chú ý kỹ để không ai ngoài một trong các tiểu thư được chiếm vị trí hắn đã đặt đối diện với hộp xe ngựa.

Chẳng mấy chốc chúng tôi đã ổn định chỗ ngồi và ngồi với vẻ ác cảm mà những kẻ không quá tốt bụng thường dành cho nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Chiếc xe ngựa lắc lư đưa chúng tôi vô tình chìm vào một dạng sự thân mật nào đó; và chúng tôi chưa di chuyển được hai dặm thì người góa phụ liền hỏi viên sĩ quan về kết quả của chiến dịch tuyển quân? Viên sĩ quan, với sự bộc trực mà hắn tin là vô cùng duyên dáng, thưa rằng:

"Quả thực ngài chỉ có chút vận may cỏn con, và chịu nhiều tổn thất vì nạn đào tẩu, do đó ngài rất vui lòng kết thúc chiến tranh của mình trong sự phục vụ phu nhân hoặc ái nữ xinh đẹp của bà. Tóm lại," hắn tiếp tục, "tôi là một người lính, và bộc trực là phong cách của tôi: Các phu nhân nhìn thấy tôi đây, trẻ trung, tráng kiện và trơ trẽn; hãy chọn tôi đi, hỡi góa phụ, hoặc trao tôi cho nàng ấy, tôi sẽ hoàn toàn tùng theo ý các vị. Tôi là một gã lính đánh thuê, ha!"

Câu nói này được nối tiếp bằng một tràng cười ngạo mạn của chính hắn và sự im lặng bao trùm của toàn bộ nhóm hành khách. Tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc chìm vào giấc ngủ say, điều mà tôi thực hiện với tốc độ tối đa.

"Nào," hắn nói, "hãy quyết định đi, chúng ta sẽ tổ chức đám cưới ở thị trấn tiếp theo: Chúng ta sẽ đánh thức người bạn dễ chịu đang ngủ say này để làm phù rể, và" — đét vào đầu gối tín hữu Quaker — hắn kết luận, "gã tín đồ xảo quyệt này, kẻ tôi cá là rành rọt mọi chuyện chẳng kém gì tôi hay các vị, hỡi góa phụ, sẽ trao cô dâu với tư cách người cha."

Tín hữu Quaker — người tình cờ là một kẻ sắc sảo — đáp lời:

"Hỡi bằng hữu, ta đón nhận bằng thiện ý việc ngươi trao cho ta thẩm quyền của một người cha đối với đứa trẻ khả ái và đức hạnh này; và ta phải bảo đảm với ngươi rằng nếu ta có quyền trao nàng, ta sẽ không ban nàng cho ngươi. Trò tiêu khiển của ngươi, hỡi bằng hữu, mang hương vị của sự ngu ngốc; ngươi là kẻ có tâm trí nhẹ dạ; chiếc trống của ngươi là biểu trưng cho chính ngươi, nó kêu vang vì nó trống rỗng. Quả thực, không phải từ sự đầy đặn mà từ sự trống rỗng của ngươi, ngươi đã thốt lên điều này hôm nay. Bằng hữu, bằng hữu, chúng ta đã thuê chiếc xe ngựa này theo hình thức hợp tác với ngươi để chở chúng ta đến thành phố lớn; chúng ta không thể đi bằng con đường nào khác. Người mẹ đáng kính này buộc phải nghe ngươi nếu ngươi cứ khăng khăng thốt ra những điều ngớ ngẩn; chúng ta không thể giúp gì được, hỡi bằng hữu, ta nói vậy: Nếu ngươi muốn, chúng ta buộc phải nghe ngươi: Nhưng nếu ngươi là kẻ am hiểu, ngươi đã không lợi dụng bộ mặt dũng mãnh của mình để làm nhục chúng ta — những đứa con của sự bình yên. Ngươi tự nhận là lính; hãy khoan dung cho chúng ta — những kẻ không thể kháng cự ngươi. Tại sao ngươi lại cười cợt người bạn của chúng ta — kẻ giả vờ ngủ say? Hắn chẳng nói gì cả: nhưng ngươi làm sao biết bên trong hắn chứa đựng điều gì? Nếu ngươi thốt ra những lời bất hợp pháp trước tai người thiếu nữ đức hạnh này, hãy cân nhắc rằng đó là sự lăng mạ đối với một người đang gặp cảnh ngốn nghèo không thể thoát khỏi ngươi: Việc nói năng thiếu suy nghĩ những điều chúng ta buộc phải nghe, bằng cách bị nhốt chung với ngươi trong phương tiện công cộng này, ở mức độ nào đó chính là hành vi cướp bóc dọc đường."

Tại đây, Ephraim dừng lại, và viên sĩ quan với sự trơ trẽn vui tươi và bất thường (kẻ vừa bị vạch mặt vừa tự duy trì bản thân cùng lúc) thét lên:

"Thưa ngài, bằng hữu, cảm ơn ngài; tôi suýt nữa đã trở nên vô duyên nếu ngài không khiển trách tôi. Nào, ngài hóa ra là một lão già sành sỏi, tôi sẽ cực kỳ trật tự trong phần còn lại của chuyến hành trình. Tôi suýt nữa đã làm dáng, nhưng thưa các phu nhân, tôi xin thứ lỗi."

Viên sĩ quan chẳng hề tỏ ra bực bội, và nhóm của chúng tôi càng xa rời sự chua chát từ vụ va chạm nhỏ này, khi Ephraim và hắn tìm thấy niềm vui đặc biệt trong việc tỏ ra dễ chịu với nhau trong tương lai; và đảm nhận các vai trò khác nhau trong việc điều phối nhóm hành khách. Các khoản chi phí, chỗ ở và điều kiện sinh hoạt thuộc về Ephraim; còn viên sĩ quan lo liệu mọi tranh chấp trên đường, như hành vi đúng mực của người đánh xe và quyền lợi của chúng ta trong việc ưu tiên đi trước — với tư cách là những kẻ hướng về Luân Đôn — so với mọi phương tiện đi ngược lại từ đó. Các sự cố chúng ta gặp phải đều bình thường, và rất ít điều xảy ra mang tính giải trí qua lời kể: Nhưng khi tôi cân nhắc nhóm hành khách mình đồng hành, tôi coi đó là một may mắn lớn khi toàn bộ chuyến hành trình không bị lãng phí vào những chuyện nhảm nhí — thứ đối với một phần trong chúng ta là sự giải trí, nhưng với phần còn lại là sự đày đọa.

Do đó, những gì Ephraim phát biểu khi chúng ta suýt đặt chân đến Luân Đôn mang lại cho tôi cảm giác không chỉ về sự am hiểu mà còn về phép lịch sự. Khi thiếu nữ bày tỏ sự hài lòng đối với chuyến hành trình và tuyên bố nó vô cùng thú vị đối với nàng, Ephraim bộc lộ quan điểm như sau:

"Chẳng có phần nào thông thường trong đời sống nhân loại thể hiện rõ nét tâm hồn tốt đẹp và một con người nội tâm chính trực cho bằng cách ứng xử của hắn khi gặp gỡ người lạ, đặc biệt là những kẻ có vẻ là bạn đồng hành không phù hợp nhất đối với hắn: Một kẻ như thế, khi vô tình chạm mặt những con người ngây thơ chân chất, dù cho hắn có am hiểu đến đâu về thói đời, cũng không khoe khoang về điều đó; mà trái lại sẽ che giấu sự vượt trội của mình trước họ, để không làm họ tổn thương.

Bằng hữu thân thiết của tôi," (ông tiếp tục, quay sang viên sĩ quan) "ngươi và ta sắp sửa chia tay và biết đâu chẳng bao giờ gặp lại: Nhưng hãy nghe lời khuyên của một kẻ chân chất; mốt thời trang và trang phục chỉ là thứ phù phiếm đối với con người thực sự, thế nên đừng nghĩ một kẻ như ngươi là đáng sợ vì y phục, hay một kẻ như ta là đáng khinh vì trang phục của mình.

Khi hai kẻ như ngươi và ta gặp nhau, với tình cảm đối với nhau đúng như lẽ ra phải có, ngươi nên vui mừng khi chứng kiến phong thái bình yên của ta, và ta nên hoan hỉ trước sức mạnh cùng khả năng bảo vệ ta trong sự bình yên đó của ngươi."

Footnote 1: The man who would not fight received the name of Ephraim from the 9th verse of Psalm lxxviii, which says: 'The children of Ephraim, being armed and carrying bows, turned back in the day of battle.'

Quis Desiderio sit pudor aut modus

Tam Chari capitis?

Hor.

Tồn tại một dạng khoái cảm, được pha trộn đan xen giữa sự kinh hoàng và nỗi buồn, trong sự chiêm nghiệm về cái chết. Tâm hồn đánh thức sự tò mò vượt mức bình thường khi hướng suy nghĩ vào cách ứng xử của những kẻ từng hành xử với một thái độ bình thản, nhẫn nhục, vui tươi, hào hiệp hay anh dũng trong tình thế cực đoan ấy.

Chúng ta bị tác động bởi những phong thái ứng xử tương ứng đó, bởi ta ngầm tin rằng phần hành động của người sắp chết là thứ chúng ta có thể bắt chước được, hoặc là điều ta tưởng tượng bản thân có khả năng thực hiện hơn cả.

Những con người có tâm hồn cao cả tiến bước trước mặt chúng ta hệt như các vị hoàng tử, và đối với đại đa số nhân loại, họ là đối tượng để ngưỡng mộ hơn là làm gương. Tuy nhiên, chẳng có tư tưởng nào tác động mạnh mẽ vào trí tưởng tượng của chúng ta hơn những tư tưởng được khơi gợi từ sự chiêm nghiệm về cái chết của những vĩ nhân và con người xuất chúng. Những người vô tội từng chịu chung số phận như tội phạm — dẫu họ là ân nhân của xã hội loài người — lại hiện lên như những cá nhân mang phẩm cấp cao nhất giữa vô vàn số lượng khổng lồ của nhân loại, những kẻ đã khuất. Khi sự bất công của thời đại đưa Socrates đến đoạn đầu đài, thật vĩ đại và kỳ diệu biết bao khi chứng kiến ông, không được hỗ trợ bởi bất cứ thứ gì ngoài lời chứng của chính lương tâm và những phỏng đoán về cõi vĩnh hằng, đón nhận chén thuốc độc với vẻ mặt vui tươi, hóm hỉnh, hệt như đang bước vào một cuộc hành trình thú vị và cất lời thỉnh cầu một vị thần nào đó làm cho nó may mắn.

Khi những hành động tốt đẹp của Phocion nhận về phần thưởng tương tự từ đất nước, và ông bị dẫn đi chịu chết cùng nhiều người bạn khác — những kẻ đang than khóc cho số phận của mình, còn ông thì điềm đạm rảo bước về pháp trường — thật duy trì phong thái tao nhã biết bao cho nhân dạng lừng lẫy của mình cho đến tận khoảnh khắc cuối cùng. Một kẻ trong đám đông khạc nhổ vào ông khi ông đi qua, ông với thẩm quyền quen thuộc đã cất tiếng hỏi xem có ai sẵn sàng dạy tên này cách ứng xử hay không. Khi một kẻ nhát gan chết cùng lúc vì tội lỗi của mình cứ rên rỉ một cách kém nam tính, ông đã quở trách hắn bằng câu hỏi này: "Chẳng lẽ không có chút an ủi nào cho một kẻ như ngươi khi được chết cùng Phocion ư?" Ngay khoảnh khắc ông sắp chết, họ hỏi ông có dặn dò gì cho con trai không, ông đáp: "Hãy quên đi sự bất công này của người Athens." Nicocles, người bạn của ông, chung một bản án, bày tỏ mong muốn được uống chén thuốc độc trước ông: Phocion đáp rằng vì ông chưa từng từ chối hắn bất cứ điều gì, ông cũng sẽ không từ chối điều này, yêu cầu khó khăn nhất mà hắn từng đưa ra.

Những trường hợp này vô cùng cao cả và vĩ đại, và những suy ngẫm của các tâm hồn siêu việt đó đã biến cái chết thành thứ mà Đấng Tác tạo Tự nhiên thực sự định hướng nó trở thành: sự giải thoát khỏi một sự tồn tại đa đoan luôn chịu đựng những nỗi buồn và khó khăn.

Epaminondas, vị tướng quân người Thebes, sau khi nhận một nhát kiếm chí mạng trong trận chiến — thanh gươm vẫn găm lại trong cơ thể — đã nằm trong tư thế đó cho đến khi nhận được tin báo rằng quân đội của ông đã giành chiến thắng, rồi mới cho phép người ta rút nó ra; ngay khoảnh khắc đó, ông bộc lộ bản thân như sau: "Đây không phải là hồi kết của cuộc đời ta, hỡi các chiến hữu; giờ đây mới là lúc Epaminondas của các ngươi ra đời, kẻ ngã xuống trong vinh quang nhường ấy."

Sẽ là một công việc bất tận nếu thu thập những ghi chép mà mọi thời đại đã làm ngập tràn thế giới về những tâm hồn cao cả và anh hùng từng từ giã cõi đời này, hệt như thể sự chấm dứt của sinh mệnh chỉ là một sự kiện thông thường trong đó.

Tôi rơi vào lối suy nghĩ thông thường này từ một nỗ lực vụng về nhằm rũ bỏ một nỗi buồn có thật và tươi mới, bằng cách lật giở những cuốn sách trong tâm trạng u sầu; nhưng thật chẳng dễ dàng gì để xóa bỏ những nỗi đau chạm đến trái tim bằng cách áp dụng các biện pháp chữa trị chỉ mang tính giải trí cho trí tưởng tượng. Do đó, vì bài viết này xoay quanh bất cứ điều gì liên quan đến đời sống nhân loại, tôi không thể không để chủ đề hiện tại đề cập đến đối tượng cuối cùng lọt vào mắt tôi, dẫu đó là một sự giải trí của nỗi đau.

Tôi đến thăm một người bạn vào chiều tối nay, với ý định trêu chọc anh ta về câu chuyện tôi nghe được rằng anh ta dự định cưới lén mà không cho chúng tôi — những người bạn thân thiết và quen biết — hay biết. Tôi bước vào căn hộ của anh với sự thân mật vốn duy trì suốt nhiều năm trời, và bước thẳng vào phòng ngủ, nơi tôi tìm thấy người bạn của mình đang trong cơn hấp hối. Tôi có thể làm gì? Niềm vui ngây thơ trong tâm trí tôi va đập vào tôi hệt như tội ác đồi bại nhất: Tôi vô ích cất tiếng gọi tên anh; anh đã bất tỉnh và kiệt sức quá mức để có thể nhận thức dù chỉ một chút về nỗi đau của tôi hay cảm nhận nỗi đau của chính mình. Xin cho phép tôi được chép lại đoạn độc thoại của mình, khi tôi đứng cạnh mẹ anh, chết lặng trước trọng lượng của nỗi buồn dành cho một người con từng là niềm tự hào và an ủi của bà, và chưa từng từ khi sinh ra cho đến giờ phút đó là nguyên nhân mang lại dù chỉ một khoảnh khắc đau buồn cho bà.

"Sự thay đổi này mới bất ngờ làm sao! Từ việc sở hữu sức sống và sự tráng kiện mạnh mẽ, lại bị quật ngã chỉ trong vài giờ xuống tình trạng chí mạng này! Những đôi môi trông nhợt nhạt và thâm tím kia, chỉ trong vài ngày qua từng mang lại niềm vui cho tất cả những ai nghe chúng cất lời: Công việc, mục đích tồn tại của anh ta, bên cạnh việc vâng lời Đấng mà anh ta đang hướng về, là làm vừa lòng và giáo dục, và chẳng vì mục đích nào khác ngoài việc làm vừa lòng và giáo dục. Lòng tốt là động lực cho các hành động của anh ta, và với toàn bộ năng lực cần thiết để tạo dựng chỗ đứng trong một thế giới đầy tranh chấp, sự ôn hòa, lòng nhân hậu, tính nhã nhặn, sự điều độ và khiết tịnh chính là những nghệ thuật trong cuộc đời xuất sắc của anh ta. Nơi anh ta đang nằm trong cơn quằn quậy bất lực kia, chẳng có người khôn ngoan nào hiểu rõ anh ta như tôi lại không sẵn lòng từ bỏ tất cả những gì thế gian có thể ban tặng để được ở gần điểm kết thúc của một cuộc đời như thế. Tại sao trái tim tôi lại ít tuân theo lý trí đến thế khi cứ mãi than khóc cho anh, hỡi con người xuất chúng... Xin Thiên Chúa tiếp nhận anh, hoặc phục hồi cho anh... Người mẹ thân yêu của anh, những người bạn mang ơn anh, những người gia nhân bất lực của anh, đang đứng vây quanh anh không phân biệt. Biết bao điều anh muốn nói với từng người chúng ta, giả sử anh còn minh mẫn.

Nhưng giờ đây trái tim nhân hậu ấy đã vỡ tung và anh được nghỉ ngơi — cùng với hơi thở đó đã trút đi một linh hồn chưa từng dung túng cho bất kỳ cảm xúc nào không phù hợp với chốn mà anh đang hướng tới: Những kế hoạch về công lý, sự thật, danh dự của anh nay ở đâu? Những tập sách anh sưu tầm, những lập luận anh phát minh, những tấm gương anh noi theo còn có ích gì. Thật nghèo nàn biết bao những kỳ vọng của kẻ hiếu học, kẻ khiêm nhường và người tốt, nếu phần thưởng cho những nỗ lực của họ chỉ được mong đợi từ con người. Không, người bạn của tôi, những bài biện hộ dự kiến của anh, những hành động tốt đẹp dự kiến dành cho bạn bè, những phụng sự dự kiến dành cho đất nước, đã được thực hiện (với tư cách là mối bận tâm của anh trong đó) trước mắt Đấng — nơi Quá khứ, Hiện tại và Tương lai xuất hiện cùng lúc trong một cái nhìn. Trong khi những kẻ khác mang tài năng của anh lại bị dằn vặt bởi tham vọng, bởi sự hư vinh, bởi lòng ghen tị, bởi sự ganh đua, anh đã quay tâm trí mình giỏi giang biết bao về sự tự hoàn thiện trong những điều nằm ngoài quyền lực của vận mệnh, trong sự chính trực, trong sự liêm khiết, trong thực hành và nghiên cứu công lý; hành trình của anh thầm lặng biết bao, chuyến đi của anh riêng tư biết bao, cái kết của anh vinh quang biết bao! Tôi từng biết nhiều người nổi tiếng hơn, vài người uyên bác hơn, nhưng chẳng có ai trong sạch đến thế."

R.

Footnote 1: From Plutarch's Life of Phocion.

Footnote 2: This friend was Stephen, son of Edmund Clay, haberdasher. Stephen Clay was of the Inner Temple, and called to the bar in 1700.

... Opiferque per Orbem

Dicor ...

Ovid.

Trong thời gian tôi vắng mặt ở miền quê, vô số gói bưu phẩm đã được gửi lại cho tôi, nhưng không được chuyển đến vì người ta kỳ vọng tôi sẽ trở lại thành phố mỗi ngày. Tác giả của bức thư sau đây, đề ngày từ Tower-Hill, từng được giải trí với một số quý ông uyên bác mặc áo choàng nhung từng bán hàng từ một sân khấu ở nơi đó, đã viết thư cho tôi một cách vô cùng thú vị, coi tôi như một bậc hiền triết về luân lý chẳng kém gì những vị đó trong y học. Để đáp lại thiện ý muốn làm cho các bài chữa bệnh của tôi trở nên nổi tiếng, tôi xin trích dẫn toàn bộ lời chứng thực của ông về năng lực lớn lao của tôi bằng chính ngôn từ của ông.

Kính gửi ngài,

"Việc ngài hôm nọ phát biểu rằng có điều gì đó kỳ diệu trong sự hẹp hòi của những tâm trí có thể cảm thấy hài lòng, nhưng lại cạn kiệt lòng hào phóng đối với những kẻ mang lại niềm vui cho họ, khiến tôi cảm thấy ray rứt vì mình không phải là kẻ có quyền lực: Nếu có, ngài sẽ sớm thấy tôi tán thành các bài tiểu luận của ngài đến nhường nào. Trong lúc này, tôi xin phép bù đắp sự bất lực đó bằng cống hiến rỗng tuếch của một tâm hồn chính trực, khi nói thẳng rằng tôi yêu mến và cảm ơn ngài vì những món quà tinh thần hằng ngày. Tôi kiên trì đọc ấn phẩm của ngài mỗi khi hút tẩu thuốc buổi sáng (dù không tài nào kìm được việc đọc châm ngôn trước khi nhồi thuốc và châm lửa), và quả thực nó mang lại hương vị tuyệt vời cho từng hơi khói; mỗi đoạn văn đều đậm đạc những tư tưởng hữu ích hoặc thú vị, và tôi chưa bao giờ thất bại trong việc được giải trí hoặc nâng cao kiến thức ở mức độ cao. Sự đa dạng trong các chủ đề của ngài làm tôi ngạc nhiên chẳng kém gì một hộp tranh trước đây — nơi chỉ có duy nhất một khuôn mặt, nhưng bằng cách kéo vài tấm mi-ca qua nó, nó biến thành một vị thượng nghị sĩ trang nghiêm hay một gã hề, một phu nhân dán miếng vá hay một nữ tu, một công tử bột hay một kẻ da đen, một ả kiêu kỳ hay một cô nàng phô trương, một gã địa chủ thôn quê hay một phù thủy, kèm theo vô số hình thức biểu đạt khác rất giải trí (hệt như ngài) dẫu bản chất bên phía dưới vẫn y nguyên. Đây là trò tiêu khiển trẻ con khi tôi còn bị cuốn hút bởi vẻ bề ngoài, nhưng ngài tạo ra ấn tượng sâu sắc hơn và tác động vào những chiếc lò xo thầm kín của tâm trí; ngài quy rũ trí tưởng tượng, xoa dịu cảm xúc, và dẫn dắt độc giả một cách vô thức đến sự ngọt ngào của tính cách mà ngài mô tả xuất sắc đến thế, ngài đánh thức lòng hào phóng bằng tinh thần đó, và tiêm nhiễm tính nhân văn bằng sự thoải mái đó, đến mức kẻ nào không bị ngài tác động thì chắc chắn là kẻ đần độn khốn khổ. Tôi không thể nói rằng ngài đã bắt sự xấc láo phải im lặng, hay thói hư vinh phải xấu hổ; nhưng có vẻ ngài đã làm điều đó tốt hệt như bất kỳ kẻ nào từng xuất hiện trên sân khấu công cộng; và cung cấp phương thuốc không thể sai lầm cho thói hư tật xấu cùng sự ngu ngốc với giá đúng một xu. Và vì việc những ai nhận được lợi ích từ các nhà khai thác nổi tiếng như vậy thường xuất bản quảng cáo để những người khác có thể gặt hái lợi ích tương tự, tôi thấy mình có nghĩa vụ tuyên bố với toàn thế giới rằng, sau một thời gian dài mắc chứng u sầu, khó chịu, cau có, đa nghi và bất hòa, nhờ việc áp dụng các bài thuốc của ngài, chỉ dùng kèm nửa ounce thuốc lá Virginia xịn trong sáu buổi sáng liên tiếp, tôi đã trở nên cởi mở, ân cần, sốt sắng, bộc trực và mến khách.

Tôi là, Kẻ hầu hận mọn và người ngưỡng mộ vĩ đại của ngài,

George Trusty.

Tower-hill,

Ngày 5 tháng 7 năm 1711.

Người cha chu đáo và vị thỉnh cầu khiêm nhường được đề cập dưới đây — những kẻ đang gặp khó khăn trong việc quản lý chính xác những chiếc quạt — sẽ sớm nhận được các thông báo thích hợp liên quan đến các giáo sư trong lĩnh vực đó, kèm theo nơi ở và phương pháp giảng dạy của họ.

Ngày 5 tháng 7 năm 1711.

Kính gửi ngài,

"Trong bài Spectator ngày 7 tháng 6, ngài có chép lại bức thư gửi tới từ một dạng sĩ quan duyệt binh mới — kẻ dạy các quý cô toàn bộ bài tập về Quạt; tôi có một cô con gái vừa đến thành phố, dẫu luôn cầm quạt trên tay vào đúng thời điểm, nàng lại chẳng biết cách sử dụng nó theo đúng kỷ luật chút nào, hệt như một cậu học trò vụng ngốc không biết cách sử dụng thanh kiếm mới; tôi gọi con bé lên đây chuyên tâm học bài tập này, vì nó đã vô cùng hoàn thiện trong mọi nghệ thuật khác mà một thiếu nữ cần phải hiểu; thỉnh cầu của tôi là ngài hãy nói chuyện với cộng sự của ngài thay mặt tôi, và trong bài viết tiếp theo hãy cho tôi biết ông ta mong đợi bao nhiêu, tính theo tháng hoặc quý, cho việc dạy học; và nơi ông ta giữ địa điểm hội họp. Tôi cũng có một cậu con trai, rất muốn được dạy cách tán tỉnh bằng quạt, và sẽ rất vui nếu biết vị đó sẽ lấy bao nhiêu để dạy cả hai, với điều kiện tôi tự túc quạt để luyện tập bằng chi phí của mình. Thông tin này sẽ vô cùng mang ơn,

Kẻ hầu khiêm nhường nhất của ngài,

William Wiseacre.

Ngay khi con trai tôi nhuần nhuyễn nghệ thuật này (hy vọng sẽ trong vòng một năm, vì cậu bé khá sáng dạ), tôi dự định cho nó học cưỡi ngựa chiến (dù chưa tròn hai tuổi), nếu mẹ nó — kẻ cưng chiều nó nhất — chịu mạo hiểm."

Kính gửi Spectator,

Thỉnh cầu khiêm nhường của Benjamin Easie, Gent.

Trình bày rằng,

"Đó là bất hạnh của người thỉnh cầu khi đi đến nhà thờ Hackney Chủ nhật tuần trước, nơi khiến cậu ta vô cùng kinh ngạc khi bắt gặp một binh sĩ thuộc sự huấn luyện của chính ngài: Nàng cuộn quạt, giương quạt, và trải qua toàn bộ bài tập của nó đến mức đáng kinh ngạc. Viên sĩ quan được quản lý tốt này của ngài, theo tôi được biết, đã là nguyên nhân hủy hoại của hơn năm thiếu niên bên cạnh tôi, và vẫn tiếp tục tàn phá bất cứ nơi đâu nàng đặt chân đến, khiến toàn bộ ngôi làng rơi vào tình trạng nguy hiểm lớn. Thỉnh cầu khiêm nhường của chúng tôi do đó là vị nữ chiến binh táo tợn này được ra lệnh hạ vũ khí ngay lập tức, hoặc ngài hãy ban hành lệnh để chúng tôi — những kẻ đã bị tổn thương như vậy — có thể tề tựu tại Điểm Hội họp Tổng quát, và được dạy cách quản lý hộp đựng thuốc hít của mình sao cho có thể trở thành đối thủ ngang sức với nàng:

Và người thỉnh cầu sẽ mãi cầu nguyện, v.v."

R.

Est brevitate opus, ut currat Sententia ...

Hor.

Tôi từng đọc ở đâu đó về một nhân vật lỗi lạc, trong các nghi lễ tôn giáo riêng tư của mình, từng dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì được sinh ra là một người Pháp: Về phần mình, tôi coi đó là một phước lành đặc biệt khi mình sinh ra là một người Anh.

Bên cạnh vô số lý do khác, tôi tự thấy mình vô cùng may mắn ở đất nước này, khi ngôn ngữ của nó vô cùng thích hợp đối với một kẻ kiệm lời và là kẻ thù của sự luyên thuyên.

Vì tôi thường xuyên suy ngẫm về vận may của mình trong chi tiết này, tôi xin chia sẻ với công chúng những chiêm nghiệm của mình về Tiếng Anh, không nghi ngờ gì về việc chúng sẽ được đón nhận bởi tất cả các độc giả tò mò.

Người Anh ưa thích sự im lặng hơn bất kỳ quốc gia châu Âu nào khác, nếu những nhận xét về chúng ta từ người nước ngoài là sự thật. Cuộc trò chuyện của chúng ta không được duy trì liên tục, mà rơi vào nhiều khoảng dừng và nhịp nghỉ hơn so với các quốc gia láng giềng; hệt như người ta quan sát thấy nội dung các bài viết của chúng ta được gom sát vào nhau và nằm trong phạm vi hẹp hơn so với các tác phẩm của các tác giả nước ngoài: Bởi vì, để ủng hộ tính trầm lặng tự nhiên của chúng ta, khi buộc phải thốt lên suy nghĩ, chúng ta thực hiện nó theo cách ngắn gọn nhất có thể, và sinh ra ý tưởng nhanh chóng nhất có thể.

Tính cách này thể hiện qua một số nhận xét mà chúng ta có thể thực hiện trên Ngôn ngữ Anh. Trước hết là việc nó chứa đầy các từ đơn âm, mang lại cho chúng ta cơ hội truyền đạt suy nghĩ bằng ít âm thanh. Điều này quả thực làm giảm đi sự tao nhã của ngôn ngữ, nhưng đồng thời biểu đạt các ý tưởng một cách sẵn sàng nhất, và do đó đáp ứng mục đích đầu tiên của ngôn ngữ tốt hơn so với số lượng âm tiết đa dạng từng làm cho từ ngữ của các ngôn ngữ khác trở nên du dương và vang dội hơn.

Âm thanh của các từ tiếng Anh của chúng ta thường giống với nhạc cụ dây, ngắn ngủi và thoáng qua, bùng lên và diệt vong chỉ sau một cái chạm; trong khi từ ngữ của các ngôn ngữ khác giống như nốt nhạc của nhạc cụ hơi, ngọt ngào và dâng trào, được kéo dài thành nhiều biến điệu đa dạng.

Tiếp theo, ta có thể quan sát thấy rằng ở những từ không phải đơn âm, chúng ta thường biến chúng thành đơn âm hết mức có thể thông qua tốc độ phát âm; hệt như trường hợp thường xảy ra ở hầu hết các từ dài có gốc Latin — nơi chúng ta rút ngắn độ dài của các âm tiết từng mang lại cho chúng vẻ trang nghiêm và long trọng trong ngôn ngữ gốc của chúng, nhằm khiến chúng thích hợp hơn cho sự nhanh gọn và phù hợp hơn với thiên bần của ngôn ngữ chúng ta. Ta có thể tìm thấy điều này trong vô số từ, như Liberty, Conspiracy, Theatre, Orator, v.v.

Cùng một sự ác cảm tự nhiên đối với sự luyên thuyên đã tạo ra một sự thay đổi đáng kể trong ngôn ngữ của chúng ta trong những năm gần đây, bằng cách gộp vào một âm tiết phần đuôi của thì Quá khứ hoàn thành, như trong các từ drown'd, walk'd, arriv'd thay vì drowned, walked, arrived — điều đã làm biến dạng ngôn ngữ rất nhiều và biến một phần mười những từ mượt mà nhất thành những cụm phụ huynh phụ âm. Điều này càng đáng chú ý hơn, bởi sự thiếu hụt nguyên âm trong ngôn ngữ của chúng ta từng là phàn nàn chung của các tác giả thời thượng nhất — những kẻ tuy nhiên lại chính là những người thực hiện các cuộc cắt giảm này, và do đó làm gia tăng đáng kể sự khan hiếm trước đó của chúng ta.

Suy ngẫm này về các từ kết thúc bằng ed, tôi từng nghe trong một cuộc trò chuyện từ một trong những thiên tài vĩ đại nhất mà thời đại này sản sinh. Tôi nghĩ chúng ta có thể bổ sung vào quan sát trước đó sự thay đổi diễn ra trong ngôn ngữ của chúng ta qua việc viết tắt một số từ kết thúc bằng eth, bằng cách thay thế chữ s vào vị trí của âm tiết cuối, như trong drowns, walks, arrives và vô số từ khác vốn trong cách phát âm của tổ tiên chúng ta là drowneth, walketh, arriveth. Điều này đã nhân lên một cách kỳ diệu một chữ cái vốn đã quá thường xuyên trong tiếng Anh, và bổ sung vào sự xì xào trong ngôn ngữ của chúng ta — thứ bị lưu ý rất nhiều bởi người nước ngoài; nhưng đồng thời lại chiều chuộng tính trầm lặng của chúng ta và giải thoát ta khỏi vô số âm tiết dư thừa.

Tôi có thể lưu ý tại đây rằng cùng một chữ cái đơn lẻ trong nhiều dịp thực hiện công việc của cả một từ, và đại diện cho chữ His và Her của tổ tiên chúng ta. Không có nghi ngờ gì về việc tai của một người nước ngoài — kẻ phán xét giỏi nhất trong trường hợp này — sẽ vô cùng phản đối những sự đổi mới như vậy, điều mà quả thực chúng ta cũng tự làm ở mức độ nào đó bằng cách giữ lại phần đuôi cũ trong văn bản và trong mọi nghi lễ trang nghiêm của tôn giáo.

Hệt như trong các ví dụ tôi vừa đưa ra, chúng ta đã rút gọn vô số từ cụ thể gây tổn hại cho ngôn ngữ, thì trong những dịp khác, chúng ta gộp hai từ thành một, thứ cũng làm mất đi giai điệu của ngôn ngữ và làm tắc nghẽn nó bởi phụ âm, như mayn't, can't, shd'n't, wo'n't và tương tự, thay cho may not, can not, shall not, will not, v.v.

Có lẽ chính tính cách nói không quá mức cần thiết đã cắt xén thê thảm một số từ của chúng ta đến mức trong các văn bản quen thuộc và giao tiếp, chúng thường mất đi tất cả ngoại trừ âm tiết đầu tiên, như mob, rep, pos, incog và tương tự; và vì mọi từ ngữ nực cười đều bước chân lần đầu vào ngôn ngữ thông qua các cụm từ quen thuộc, tôi không dám đảm bảo rằng chúng sẽ không theo thời gian được nhìn nhận như một phần của ngôn ngữ chúng ta. Ta thấy vài nhà thơ của chúng ta tỏ ra bất cẩn đến mức bắt chước các biểu đạt dơ bẩn của Hudibras trong các sáng tác nghiêm túc của họ, bằng cách vứt bỏ các dấu hiệu của danh từ — vốn mang tính thiết yếu đối với tiếng Anh. Thậm chí, thói quen rút ngắn ngôn ngữ này từng lan rộng đến mức một số tác giả nổi tiếng của chúng ta, trong số đó ta có thể kể đến Sir Roger L Estrange cụ thể, bắt đầu tỉa tót các từ ngữ khỏi mọi chữ cái dư thừa theo cách họ gọi, nhằm điều chỉnh cách chính tả cho phù hợp với cách phát âm; điều này hẳn đã làm đảo lộn mọi từ nguyên học và phá hủy hoàn toàn ngôn ngữ của chúng ta.

Chúng ta cũng có thể lưu ý tại đây rằng các danh từ riêng của chúng ta, khi được thân mật hóa bằng tiếng Anh, thường thu gọn thành đơn âm, trong khi ở các ngôn ngữ hiện đại khác chúng nhận được chuyển biến mềm mại hơn nhân dịp này bằng việc bổ sung thêm một âm tiết mới. Nick trong tiếng Ý là Nicolini, Jack trong tiếng Pháp là Janot; và tương tự cho phần còn lại.

Tồn tại một chi tiết khác trong ngôn ngữ của chúng ta thể hiện sự tiết kiệm từ ngữ lớn lao, đó là việc lược bỏ một số tiểu từ vốn bắt buộc phải xuất hiện trong các ngôn ngữ khác để làm cho câu văn dễ hiểu. Điều này thường làm bối rối các nhà văn xuất sắc nhất, khi họ thấy các đại từ quan hệ whom, which hoặc they nằm ở lòng thương xót của họ về việc có được chấp thuận hay không; và sẽ không bao giờ được quyết định cho đến khi chúng ta có thứ gì đó giống như một hàn lâm viện, bằng các thẩm quyền tốt nhất và các quy tắc rút ra từ sự tương tự của ngôn ngữ, giải quyết mọi tranh chấp giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa.

Tôi chỉ xem xét ngôn ngữ của chúng ta như một thứ thể hiện thiên bần và tính khí tự nhiên của người Anh — vốn khiêm nhường, trầm ngâm và chân thành, và có lẽ có thể gợi ý về con người, dẫu nó đã làm hỏng ngôn ngữ. Chúng ta có thể mang cùng tư tưởng đó sang các ngôn ngữ khác và suy luận phần lớn những gì đặc thù về chúng từ thiên bần của những con người nói chúng. Chắc chắn rằng tính cách nhẹ dạ luyên thuyên của người Pháp đã lây nhiễm không nhỏ vào ngôn ngữ của họ, điều có thể được minh họa bằng nhiều ví dụ; hệt như thiên bần của người Ý — vốn quá nghiện âm nhạc và nghi thức — đã đúc nắn mọi từ ngữ và cụm từ cho các mục đích cụ thể đó. Sự đường hoàng và điềm đạm của người Tây Ban Nha thể hiện hoàn hảo trong sự trang nghiêm của ngôn ngữ họ, và tính cách chân chất thô lỗ của người Đức nghe hay hơn trong sự thô ráp của tiếng Đức cao so với một ngôn ngữ tao nhã hơn.

C.

Footnote 1: that

Footnote 2: that

Footnote 3: Swift.

... Parthis mendacior ...

Hor.

Theo yêu cầu của gã kỳ quặc này, tôi xin In bức thư sau đây.

Kính gửi Ngài Spectator,

Tôi xin không cần bất kỳ lời nói đầu hay cáo lỗi nào để thông báo với ngài rằng tôi là, và từ thuở trẻ mãi mãi là, một trong những kẻ nói dối vĩ đại nhất mà hòn đảo này từng sản sinh. Tôi đã đọc qua tất cả các nhà luân lý học viết về chủ đề này, nhưng chưa bao giờ tìm thấy bất kỳ tác động nào mà các bài giảng của họ gây ra cho tôi, ngoại trừ việc làm gia tăng bất hạnh của tôi bằng những tư tưởng và ý tưởng mới, khiến tôi trở nên nhanh nhẹn hơn trong ngôn ngữ của mình, và đôi khi có khả năng pha trộn những sự thật giả tạo vào những điều khó tin của tôi. Dẫu mang ham muốn mạnh mẽ hướng về sự dối trá theo cách này, chẳng có con người nào sống chính trực hơn hoặc là người bạn chân thành hơn tôi; nhưng trí tưởng tượng của tôi cuốn tôi đi, và bất cứ điều gì được khởi xướng đều khơi gợi một chuỗi các cuộc phiêu lưu xuất hiện ngay lập tức trước mắt tôi đến mức tôi không thể kìm nôn việc thốt ra chúng, dẫu cho — sự bối rối tức thì của tôi — tôi thừa nhận bản thân có nguy cơ bị phát hiện bởi kẻ đầu tiên tôi gặp.

Nhân dịp nhắc đến Trận chiến Poltava, tôi không thể không kể câu chuyện về một người họ hàng của tôi — một thương gia trẻ được nuôi dưỡng tại Moscow — kẻ có quá nhiều gan dạ để bận tâm đến sách sổ sách và kế toán, trong lúc có một khung cảnh quá sôi động tại vùng đất hắn cư trú, và đã theo chân Sa hoàng với tư cách là một tình nguyện viên: Thanh niên nồng nhiệt này, sinh ra đúng vào khoảnh khắc sự việc được nhắc đến, chính là kẻ đã đánh gục vị tướng Thụy Điển khỏi lưng ngựa, chính hắn là nguyên nhân khiến quân Nga giữ được hỏa lực theo phong cách quân nhân đến thế, và đưa lên những đội quân được che chở khỏi kẻ thù ở thời điểm bắt đầu ngày chiến đấu; bên cạnh đó, cuối cùng hắn còn may mắn là kẻ bắt giữ Bá tước Piper. Dẫu mang ngọn lửa ngút trời ấy, tôi vẫn thừa nhận anh họ mình là tạo vật lịch sự nhất trần đời. Anh ta chưa bao giờ phô trương tài năng một cách xấc láo, lại sở hữu năng khiếu xuất sắc đối với thế giới trong mọi khía cạnh khác. Tôi nhận được những lá thư từ anh ta (tại đây tôi sờ vào túi áo) thuật lại chính xác tính cách của Sa hoàng — kẻ mà tôi tường tận một cách hoàn hảo; và tôi không thể không kết luận rằng tôi từng ngủ chung với Hoàng thượng hai ba lần một tuần trong suốt thời gian ngài trú ngụ tại Deptford. Tồi tệ hơn tất cả những điều này, việc trò chuyện với tôi là bất khả thi, trừ phi ngài trao cho tôi chút cơ hội thốt ra lời nói dối nào đó chẳng mang chút sự hóm hỉnh, hài hước, triển vọng lợi ích hay bất kỳ động cơ nào khác mà tôi có thể tưởng tượng trong tự nhiên. Hôm nọ, khi ai đó đang ca ngợi một nhà thần học uyên bác và xuất sắc, sao tôi lại phải nói rằng: "Tôi ngẫm lại y trông sẽ đáng kính hơn nếu không có làn da trắng đến thế?" Tôi nhớ đám đông đã mỉm cười. Tôi từng gặp lại quý ông đó sau này, và da hắn đen như than. Tôi nhận được những ám chỉ mỗi ngày trong đời rằng chẳng ai tin mình, nhưng tôi chẳng hề khá hơn. Tôi đang nói điều gì đó với một người bạn già tại quán cà phê Will hôm nọ, và hắn chẳng thèm đáp lại; thay vào đó, hắn bảo rằng một người quen của nhà hùng biện Tully từng nói với ông ta hai ba lần liên tiếp, mà không nhận được lời đáp nào, rằng trên danh dự của mình, y chỉ mới bước sang tuổi bốn mươi trong tháng đó; Tully đáp: "Chắc chắn anh nghĩ tôi là kẻ hoài nghi nhất trên đời nếu không tin những gì anh kể với tôi mỗi ngày suốt mười năm nay." Rắc rối ở chỗ tôi nhận thấy bản thân vô cùng có xu hướng tự nhận là đã có mặt trong mọi sự kiện được bàn tán trước mặt mình; điều này đẩy tôi vào vô số bất tiện, nhưng thực tế chúng lại ít đi bởi tôi không phải là kẻ ác tâm và chẳng bao giờ nói những điều gây bất lợi cho ai. Tôi chưa bao giờ trực tiếp bôi nhọ, nhưng tôi làm điều tồi tệ tương đương qua hậu quả, bởi tôi thường xuyên khiến một kẻ thốt ra biểu đạt sinh động nào đó, dù hắn sinh ra chỉ là một gã trưởng nam đơn thuần. Khi ai đó nói trước mặt tôi: "Kẻ đó chẳng khôn ngoan hơn mức hắn nên có," tôi lập tức đáp: "Này thề có Chúa, tôi không thấy thế đâu, y vừa nói một câu rất hay với ngài bá tước nọ trong dịp nọ, v.v." Một gã đần độn chân chất như thế từng bị săm soi qua từng biểu đạt y thốt ra, dựa trên sự giới thiệu của tôi, và hệ quả là trở thành đối tượng của sự chế giễu lớn hơn. Tôi từng cố gắng chữa trị cho bản thân khỏi thói tật xấc láo này và quyết tâm giữ im lặng suốt bảy ngày liền; tôi đã làm vậy, nhưng khi đó tôi thực hiện quá nhiều cái nháy mắt và sự méo mó không cần thiết trên khuôn mặt trước những gì người khác nói, đến mức tôi nhận ra mình chỉ kìm nôn biểu đạt, và trong thâm tâm vẫn tiếp tục nói dối mọi kẻ tôi gặp. Ngài phải biết một điều (tôi tin ngài sẽ nói thật đáng tiếc, xét đến công dụng tôi đáng lẽ có thể rút ra từ nó) rằng tôi chưa từng đi du lịch trong đời; nhưng tôi không biết liệu mình có thể nói về bất kỳ quốc gia nước ngoài nào với sự thân thuộc lớn hơn hiện tại hay không, trước những kẻ đối với tôi là người lạ. Tôi từng nguyền rủa các quán trọ ở Đức; ca ngợi các nhà thổ ở Venice; sự tự do trong giao tiếp ở Pháp; và dù chưa từng rời khỏi thị trấn thân yêu này cùng bán kính năm mươi dặm quanh nó, tôi từng bị truy đuổi ba đêm liền bởi những tên sát thủ vì vụ tình ái với tình nhân của một hồng y tại Rome. Sẽ là bất tận nếu cung cấp cho ngài những chi tiết kiểu này, nhưng tôi có thể đảm bảo với ngài, thưa Ngài Spectator, có khoảng hai mươi hay ba mươi kẻ như chúng tôi ở thị trấn này, ý tôi là các thành phố Luân Đôn và Westminster; tôi nói rằng có đủ số lượng chúng tôi ở thị trấn để lập nên một hội đoàn của riêng mình; và vì chúng ta không thể được tin tưởng thêm nữa, tôi khẩn nài ngài hãy in bức thư này để chúng ta có thể tề tựu cùng nhau và chịu sự quản lý sao cho chẳng cần đến niềm tin hay sự tín nhiệm nào giữa chúng ta. Nếu ngài thấy phù hợp, chúng ta có thể được gọi là Nhóm Sử gia, bởi Kẻ nói dối đã trở thành một từ quá nặng nề. Và để một thành viên của hội đoàn không bị đối xử tệ bạc bởi phần còn lại của thế giới, tôi khẩn cầu ngài hãy giải thích đôi chút về dạng người này, và không để các Sử gia chúng ta bị xếp loại — hệt như trong trí tưởng tượng của đám đông bình dân — chung với những kẻ nói dối thông thường, kẻ gieo rắc bất hòa, kẻ bịp bợm và kẻ xúi giục bạo loạn. Để ngài hướng dẫn về điều này, ngài cần biết rằng một Sử gia trong giao tiếp chỉ là một cá nhân sở hữu trí tưởng tượng phong phú đến mức không thể thỏa mãn với những sự kiện thông thường. Tôi biết một người thuộc tầng lớp quý tộc trong hội của chúng tôi, đã vượt qua tuổi bốn mươi ba — và theo lời châm biếm của Tully, đã giữ độ tuổi đó suốt vài năm nay — có khuynh hướng lãng mạn. Cứ trao cho hắn chút cơ hội nhỏ nhất, hắn sẽ kể cho ngài nghe điều gì đó vô cùng cụ thể từng xảy ra trong năm nọ, và trong nhóm nọ — nhân tiện có mặt kẻ nọ, kẻ sau này được phong chức nọ. Từ tất cả các chi tiết đó, bằng ngôn từ tuyệt vời nhất trên đời, hắn sẽ kết nối lại cùng những sự cố có vẻ hợp lý để phác họa nên một cá nhân sở hữu tầm nhìn sâu sắc nhất, tâm hồn chính trực nhất, kèm theo thái độ khiêm nhường đến mức ngài phải ngưỡng mộ khi hắn nói về bản thân. Kính thưa ngài, tại sao đây lại là Nói dối! Chẳng có điều gì mang tính giáo dục đến thế. Hắn sở hữu vẻ bề ngoài trang nghiêm nhất; điều gì đó vô cùng đáng kính và vĩ đại! Một Sử gia khác trong số chúng ta là một thanh niên chúng ta sẵn sàng kết nạp, dù y vô cùng thiếu tài năng, hệt như người ta gửi trẻ em (trước khi chúng có thể học bất cứ điều gì) đến trường để tránh xa rắc rối. Y kể những chuyện chẳng có chút nội dung gì, không thể làm vui lòng hay làm phật lòng ai, mà chỉ đơn thuần chiếm dụng thời gian của ngài vô mục đích, vô khoas học; nhưng y là kẻ tính tình tốt bụng, và làm điều đó vì thích nói chuyện với ngài và giải trí cho ngài. Tôi có thể kể tên cho ngài một sĩ quan từng thực hiện những điều vô cùng vĩ đại mà không cần đổ máu; hắn cực kỳ tẻ nhạt và chậm chạp trong tư duy, nhưng những gì hắn nói hoàn toàn là giả dối, thế nên chúng ta buộc phải giữ hắn lại. Xin cho phép tôi kể cho ngài về một kẻ nữa, đó là một tình nhân; y là tạo vật đau khổ nhất trần đời, lo lắng rằng những gì diễn ra giữa y và một Nữ nhân Sắc sảo sẽ bị ai đó phát hiện. Tuy nhiên, y tự an ủi. Mặc kệ ả hầu ranh mãnh đó. Nếu tiền có thể giữ cho ả ta kín miệng, tôi sẽ làm thế, dẫu phải cầm cố từng sào đất; Anthony và Cleopatra vì mục đích đó; Tất cả vì tình yêu và thế giới đã mất... Kế đó, thưa ngài, là thương gia nhỏ của tôi, anh chàng Indigo chân chất ở phố Exchange, đó là người của tôi trong chuyện Lợi và Lỗ, đó là chuyện hao hụt trọng lượng, đó là việc nói dối khắp toàn cầu; hắn sở hữu nguồn tình báo khổng lồ đến mức biết rõ mọi việc người Pháp đang làm, hoặc những gì chúng ta dự định hay nên dự định, và thu nhận nó từ những nguồn tin như thế. Nhưng hỡi ôi, tôi đang chạy đi đâu thế này! Trong lúc tôi phàn nàn, trong lúc tôi phản biện ngài, thậm chí tất cả những điều này cũng là một lời nói dối, và chẳng có lấy một nhân vật quý tộc, tình nhân, binh sĩ hay thương gia nào như tôi vừa mô tả tồn tại trên đời này mà tôi được biết. Nhưng tôi sẽ tự bắt lấy mình một lần trong đời, và bất chấp tự nhiên, thốt lên một sự thật, đó là tôi là Kẻ hầu hận mọn của ngài, v.v." T. Footnote 1: Prime Minister of Charles XII.

Footnote 2: exactly

Footnote 3: In the Spring of 1698.

Footnote 4: or

Footnote 5: has p>[TIÊU ĐỀ]: Chương 137: Thứ Ba, ngày 7 tháng 8 năm 1711

At hæc etiam Servis semper libera fuerunt, timerent, gauderent, dolerent, suo potius quam alterius arbitrio.

Tull. Epist.

Chẳng phải là nỗi bận tâm nhỏ nhoi đối với tôi khi phát hiện ra vô số lời phàn nàn từ tầng lớp nhân loại có số phận sống trong cảnh nô lệ, rằng những kẻ mà họ phụ thuộc không cho phép họ được hạnh phúc ngay cả ở mức độ mà hoàn cảnh của họ cho phép. Theo như những thông tín viên bất hạnh này thông báo cho tôi hay, có những ông chủ cảm thấy khó chịu trước một gương mặt vui tươi, và nghĩ rằng một người gia nhân đã sổng chuồng khỏi họ nếu y không duy trì sự kính sợ tột độ trước mặt họ. Có người kể rằng nếu y trông có vẻ thỏa mãn, ông chủ liền hỏi điều gì khiến y xấc láo thế sáng nay; nếu có chút cau có, "Này gã kia, mi không được trả lương à?" Những sinh vật khốn khổ ấy sống chung trong sự khốn cùng tột độ: Ông chủ không biết cách duy trì sự tôn trọng, còn người gia nhân không biết cách trao nó. Có vẻ nhân vật này mang tính tình u ám đến mức chẳng tìm thấy chút thỏa mãn nào giữa gia tài sung túc, và thầm bực bội khi nhìn thấy bất kỳ biểu hiện mãn nguyện nào ở một kẻ sống nhờ vào phần trăm thu nhập của ông ta, trong khi bản thân ông ta lại bất hạnh khi sở hữu toàn bộ. Những kẻ bất an, không thể làm chủ tâm trí mình, trút cơn uất giận lên tất cả những ai phụ thuộc vào họ; điều này, theo tôi, được thể hiện một cách sinh động trong những bức thư sau đây.

Ngày 2 tháng 8 năm 1711.

Kính gửi ngài,

Tôi đã đọc bài Spectator ngày 3 tháng trước, và ước mình có được diễm phúc được cất nhắc phục vụ một ông chủ tuyệt vời như Ngài Roger. Tính cách của ông chủ tôi hoàn toàn trái ngược với vị hiệp sĩ nhân hậu và hiền lành đó. Mọi chỉ thị của ông đều được ban hành, và tâm trí ông được hé lộ, theo phương thức trái ngược: Hướng như khi có điều gì cần ghi nhớ, với một nét mặt kỳ lạ, ông thét lên: "Hãy nhớ quên đi nhé." Nếu tôi phải quay về thật nhanh, "Đừng đến trong hai tiếng tới; nhớ ghé qua đường thăm vài người bạn đấy." Rồi một phương thức xuất sắc khác của ông là, nếu ông giao cho tôi việc gì mà ông biết chắc chắn phải mất nửa ngày, ông cứ mười lăm phút lại gọi mười lần để xem tôi đã làm xong chưa. Đó là phong cách của ông; và sự ngang ngạnh tương tự lan tỏa qua mọi hành động của ông, tùy theo các tình huống biến đổi. Bên cạnh tất cả những điều này, ông ta đa nghi đến mức tự hạ mình xuống công việc của một gián điệp. Ông ta bất hạnh hệt như cách ông ta hành hạ gia nhân: Ông ta liên tục canh chừng chúng ta, và chúng ta chẳng khác biệt gì về niềm vui và sự tự do so với một kẻ quản ngục và một tù nhân. Ông ta giăng bẫy để tìm lỗi, và vừa phát hiện ra liền thốt ra những lời lăng mạ khiến tôi xấu hổ vì chúng phát ra từ miệng ông ta hơn là vì chúng nhắm vào mình. Thưa ngài, đây là bản phác họa ngắn gọn về một ông chủ tôi đã phục vụ hơn chín năm; và dẫu chưa từng làm sai điều gì với ông, tôi thú nhận sự tuyệt vọng trong việc làm vừa lòng ông đã làm giảm đi đáng kể nỗ lực của tôi để làm điều đó. Nếu ngài cho phép tôi ăn cắp một câu văn từ cuốn Clarendon của ông chủ, tôi sẽ tóm tắt trường hợp của mình trong một từ: Bị đối xử tồi tệ hơn mức xứng đáng, tôi ít quan tâm đến việc hành xử tốt hơn trước đây.

Tôi là, thưa ngài,

Kẻ hầu hận mọn của ngài,

Ralph Valet.

Kính gửi Ngài Specter yêu quý, tôi là kẻ sát nút với hầu gái của tiểu thư, và nằm dưới quyền của cả phu nhân lẫn mụ hầu của bà. Tôi bị cả hai đối xử tồi tệ đến mức rất vui mừng nếu được nhìn thấy họ trong tờ Specter. Bản thân phu nhân chẳng có lấy một chủ kiến nào trên đời, và vì lý do đó mụ hầu của bà có hai mươi chủ kiến trong một khoảnh khắc. Phu nhân tôi là kẻ không bao giờ biết phải làm gì với chính mình; bà kéo lên rồi cởi ra mọi thứ mặc trên người đến hai mươi lần trước khi quyết định chọn nó cho ngày hôm đó. Tôi đứng ở một đầu phòng và đưa đồ cho mụ hầu. Khi phu nhân đòi một món đồ, tôi nghe thấy và đã mang đến nửa đường, thì mụ hầu chặn tôi ở giữa phòng để nhận nó, và ngay khoảnh khắc đó mụ nói Không, bà ấy sẽ không lấy nó nữa. Thế là tôi đi về, và mụ hầu tiến lại gần bà, và đến lúc này bà sẽ lấy món đồ đó cộng với hai ba món khác trong tích tắc: Mụ hầu và tôi lao về phía nhau; tôi vừa mang đầy đồ vừa trao cho mụ thì phu nhân nói bà chẳng cần bất kỳ món nào trong số đó, và chúng tôi là những kẻ đần độn nhất trần đời, còn bà là người phụ nữ bất hạnh nhất sống trên đời, vì bà sẽ chẳng kịp diện đồ đúng giờ. Cứ thế chúng tôi đứng đó không biết phải làm gì, khi vị phu nhân nhân hậu của chúng ta với tất cả sự kiên nhẫn trên đời thông báo cho chúng ta rõ ràng hết mức có thể rằng bà sẽ giữ bình tĩnh vì chúng ta chẳng có chút hiểu biết nào; và bắt đầu thay đồ lại từ đầu, xem chúng ta có thể tự tìm ra việc phải làm hay không. Khi diện đồ xong, bà đi dùng bữa, và sau khi chê bai mọi thứ ở đó, bà gọi xe ngựa, rồi lại ra lệnh cất đi, rồi quyết định không ra ngoài nữa, rồi lại muốn ra ngoài và ra lệnh lấy xe mui trần. Giờ đây, thưa Ngài Specter thân mến, tôi thỉnh ngài đại diện cho tất cả những kẻ hầu hạ các phu nhân khó chiều, hãy thông báo trên báo rằng chẳng có gì có thể hoàn thành nếu không cho phép thời gian, và người ta không thể quay về kịp với món đồ được sai đi mua nếu bị gọi quay lại trước khi kịp bước đi bước nào vì họ đòi hỏi. Và nếu ngài vui lòng, hãy cho họ biết rằng mọi bà chủ đều giống nhau hệt như mọi người hầu.

Người bạn thân yêu của ngài,

Patience Giddy.

Đó là những thảm họa lớn; nhưng hôm nọ tôi bắt gặp tại vùng năm cánh đồng hướng về Chelsea một kẻ bạo chúa dễ chịu hơn hai kẻ được mô tả ở trên. Một gã béo đang thở hồng hộc trong chiếc áo lê phanh ngực; một cậu bé mười bốn tuổi mặc đồng phục đi phía sau mang theo áo choàng, áo khoác ngoài, mũ, tóc giả và kiếm của hắn. Cậu nhóc tội nghiệp gần như kiệt sức dưới sức nặng và không thể theo kịp ông chủ — kẻ cứ mỗi nửa furlong lại quay đầu lại và tự hỏi điều gì khiến gã nhóc lười biếng trễ nải phía sau.

Thật không thể hiểu nổi tại sao con người ta lại không thể đặt mình vào hoàn cảnh của những kẻ dưới quyền khi họ ban hành các mệnh lệnh. Nhưng chẳng có gì phổ biến hơn việc nhìn thấy một kẻ (nếu bị đẩy xuống hoàn cảnh đó, sẽ chẳng được thuê bởi bất kỳ ai sống trên đời) lại than thở rằng hắn gặp rắc rối với đám vô tích sự tồi tệ nhất trong tự nhiên.

Có lẽ sẽ là đi quá xa khỏi đời sống thông thường nếu nhấn mạnh rằng kẻ không làm chủ bản thân và cảm xúc của mình thì không thể là một ông chủ thích hợp cho kẻ khác. Sự điềm đạm trong ngôn từ và hành động của một người sẽ dễ dàng lan tỏa xuyên suốt toàn bộ gia đình họ.

Pamphilio sở hữu hộ gia đình hạnh phúc nhất trong số những người tôi biết, và điều đó xuất phát từ sự quan tâm nhân đạo mà hắn dành cho họ trong tư cách cá nhân cũng như trong tư cách là người gia nhân. Nếu có bất kỳ dịp nào mà họ bị cho là không thích hợp để tham dự vào các mối quan tâm của ông chủ vì bận tâm đến việc riêng, ông đủ tốt để đặt mình vào hoàn cảnh của họ. Tôi thấy rất phù hợp ở ông khi trong bữa ăn hôm nọ, ông đã đưa ra lời xin lỗi vì thiếu người hầu. Ông nói: "Một trong các gia nhân của tôi đã về dự đám cưới em gái, và người kia tôi không mong đợi phục vụ, bởi cha cậu ấy vừa qua đời cách đây hai ngày."

T.

Utitur in re non Dubia testibus non necessariis.

Tull.

Người ta thỉnh thoảng bắt gặp những cá nhân cực kỳ uyên bác và rắc rối trong việc giải thích những trường hợp vô cùng minh bạch. Tully kể cho chúng ta về một tác giả từng dành ra vài trang giấy để chứng minh rằng các tướng lĩnh không thể thực hiện những chiến công vĩ đại từng mang lại cho họ sự lừng lẫy nhường ấy nếu họ không có con người. Ông ta cũng quả quyết rằng một bộ trưởng ở triều đình cũng giống như một chỉ huy chiến trường, chẳng thể làm được gì nếu không có những con người làm công cụ và trợ tá. Trong dịp này, ông đưa ra ví dụ về Themistocles, Pericles, Cyrus và chính Alexander — những người mà ông phủ nhận khả năng đạt được những gì họ đã làm nếu không có những kẻ khác đi theo sau. Thật thú vị khi thấy những cá nhân như vậy tranh cãi mà không có đối thủ, và đắc thắng mà không cần chiến thắng.

Tác giả được nhà hùng biện nhắc đến ở trên bị đặt vĩnh viễn vào ánh sáng nực cười, và chúng ta bắt gặp mỗi ngày trong giao tiếp những kẻ xứng đáng với danh tiếng tương tự vì tội làm phiền những người trò chuyện cùng họ bằng những điều hiển nhiên như thế. Những cá nhân mà tôi luôn nghĩ xứng đáng nhận được sự ngưỡng mộ cao nhất trong loại này chính là những người kể chuyện thông thường — những người vô cùng cẩn trọng một cách tôn giáo trong việc bám sát sự thật ở từng chi tiết cụ thể của một câu chuyện tường thuật, bất kể nó liên quan đến mục đích chính hay không. Một quý ông mà tôi có vinh dự được đồng hành hôm nọ, trong một dịp ngẫu nhiên, đã nói rằng ông nhớ một câu trả lời vô cùng hay được thực hiện bởi một người vô cùng hóm hỉnh dưới thời vua Charles trong một dịp tương tự. "Tôi nhớ," ông nói khi bắt đầu câu chuyện, "vào khoảng thời gian diễn ra vụ âm mưu của Oates, rằng tôi và một người anh họ con bác ở quán Gấu tại Holborn: Không, tôi nhớ nhầm rồi, đó là quán Chữ Thập, nhưng Jack Thompson ở đó, vì y rất thân với quý ông đã đưa ra câu trả lời. Nhưng tôi chắc chắn nó được nói ở đâu đó quanh đó, vì chúng tôi uống một chai rượu ở khu vực đó mỗi buổi chiều: Nhưng chẳng mớ gì quan trọng, sự việc vẫn thế; nhưng..."

Ông đang tiếp tục xác định địa lý của câu chuyện cười thì tôi rời phòng, kinh ngạc trước cú bẻ lái kỳ lạ trong tư duy — thứ có thể lãng phí ngôn từ mà không thốt ra điều gì có ích, vẫn quan sát những sự vô bổ của chính mình, nhưng vẫn tiếp tục tiến hành chúng. Tôi không nghi ngờ gì về việc ông đã thông báo cho phần còn lại của khánính giả — những kẻ kiên nhẫn hơn tôi — về nguồn gốc, thân phận cũng như quan hệ họ hàng của người đã tạo ra câu trả lời và kẻ đã khiêu khích ông ta làm thế.

Đó không phải là bất hạnh nhỏ nhoi đối với bất kỳ ai có sự trân trọng đúng đắn dành cho thời gian của mình, khi phẩm chất vô cùng chi tiết và cẩn trọng đến mức chính xác này bộc lộ ở một kẻ có địa vị buộc họ phải tham dự vào các chứng minh của hắn, rằng hiện tại là ban ngày, v.v. Nhưng điều này còn bị phóng đại khi cùng một thiên bần bước lên nắm quyền lực, hệt như thường thấy. Thậm chí tôi từng chứng kiến nó bước lên bục giảng hơn một lần. Một kẻ dạng này nhắm vào việc trở thành người ngưỡng mộ vĩ đại của Tiến sĩ Tillotson và Tiến sĩ Beveridge, chưa bao giờ thất bại trong việc chứng minh từ những tác giả vĩ đại này những điều mà không một sinh linh nào trên đời phủ nhận hắn dựa trên thẩm quyền đơn độc của chính hắn. Một ngày nọ, quyết định đi thẳng vào vấn đề trọng tâm, hắn nói: "Chiếu theo vị thần xuất sắc đó, tôi sẽ bước vào vấn đề, hoặc theo lời của ông ấy, trong bài giảng thứ mười lăm của ấn bản Folio, trang 160. Tôi sẽ giải thích ngắn gọn các từ ngữ, và sau đó xem xét vấn đề chứa đựng trong đó."

Quý ông chân chất này, người ta nghĩ, đáng lẽ không cần phải bóp méo sự khiêm nhường của mình đến mức thay đổi thiết kế Bước vào vấn đề thành Giải thích ngắn gọn. Nhưng sự việc diễn ra là hắn thậm chí không thấy hài lòng với thẩm quyền đó, mà còn bổ sung thêm vị thần học thứ hai để củng cố phương pháp của mình, và bảo chúng tôi rằng: "Cùng với Tiến sĩ Beveridge sùng đạo và uyên bác, trang thứ 4 trong tập thứ 9 của ông ấy, tôi sẽ nỗ lực làm cho nó rõ ràng nhất có thể từ những từ ngữ mà tôi vừa đọc, trong đó vì mục đích đó chúng ta sẽ xem xét..."

Kẻ ngốc nghếch này được giáo xứ — vốn không hiểu hắn — coi là một nhà thuyết giảng xuất sắc; nhưng ngặt nỗi hắn đọc sách quá nhiều và quá khiêm nhường đến mức không tin tưởng đủ vào tài năng của chính mình.

Bên cạnh những cá nhân khéo léo này — những kẻ tranh luận về những điều không ai có thể phủ nhận họ — là một nhóm người không thực sự cố gắng chứng minh những điều vô nghĩa, nhưng luôn nỗ lực khơi mào tranh luận với bạn về những vấn đề mà bạn sẽ nhượng bộ họ mà không có chút tranh cãi nào. Một trong những kẻ này từng nói với một quý ông vừa phát biểu rằng ông nhìn thấy nhân vật nọ đi về phía hố sỏi vào lúc chín giờ sáng: "Thưa ngài, tôi phải xin lỗi vì điều đó, bởi dẫu tôi rất miễn cưỡng có bất kỳ tranh chấp nào với ngài, tôi vẫn phải mạo muội nói với ngài rằng lúc đó đã là chín giờ khi tôi nhìn thấy y tại St. James." Khi những kẻ có thiên bần này tiến xa hơn trong học vấn, chúng sẽ ép bạn phải chứng minh tuyết màu trắng, và khi bạn đang ở trên đề tài đó, có thể nói rằng thực tế không có thứ gọi là màu sắc trong tự nhiên; tóm lại, chúng có thể biến chút tri thức ít ỏi của mình thành khả năng sẵn sàng khơi mào nghi ngờ; thành khả năng luôn luôn phù phiếm và luôn luôn không thể phản bác. Chính về hai kẻ tranh luận thuộc loại phiền toái và nhọc nhằn này mà triết gia Cynic từng nói: "Một trong những tên này đang vắt sữa một con cừu đực, còn kẻ kia giữ chiếc xô."

Footnote 1: On Rhetorical Invention.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.