The Spectator, Các Tập 1, 2 Và 3

Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quảng Cáo

❊ ❊ ❊

Số 227 Thứ Ba, ngày 20 tháng 11 năm 1711 Addison

Trong bài viết vào Thứ Năm tuần trước của mình, tôi đã nhắc đến một địa điểm mang tên Vực Tình Nhân (The Lover's Leap), nơi mà tôi nhận thấy đã khơi dậy sự tò mò lớn lao trong lòng nhiều độc giả thường xuyên của tôi. Ở đó, tôi đã kể rằng cú nhảy này thường được thực hiện từ một mõm đá tại Leucas.

Leucas này xưa kia vốn là một phần của Acarnania, được nối liền với vùng đất ấy bởi một dải đất hẹp mà qua năm tháng, biển cả đã dâng lên ngập lụt và cuốn phăng đi; thế nên ngày nay, Leucas đã bị tách rời khỏi đại lục và trở thành một hòn đảo nhỏ nằm trong biển Ionian. Mõm đá trên hòn đảo này, nơi người tình gieo mình xuống vực, thuở trước gọi là Leucate. Nếu độc giả muốn tìm hiểu cả hòn đảo lẫn mõm đá ấy qua tên gọi thời hiện đại, vị ấy sẽ tìm thấy trên bản đồ của mình hòn đảo Leucas cổ xưa dưới cái tên St. Mauro, và mõm đá Leucate cổ xưa dưới cái tên Mũi St. Mauro.

Vì đã dấn thân sâu vào chốn cổ sử đến thế, tôi buộc phải lưu ý rằng Theocritus, trong câu châm ngôn đề đầu bài viết của tôi, đã miêu tả một trong những mục đồng tuyệt vọng đang ngỏ lời với người tình của chàng theo cách thức như sau:

Than ôi! Chuyện gì sẽ xảy ra cho tôi đây! Thân phận khốn khổ này của tôi! Nàng không đoái hoài nghe tôi sao? Tôi sẽ trút bỏ xiêm y, và gieo mình xuống làn nước biển nơi ngư dân Olphis thường lui tới. Và dẫu tôi có may mắn thoát chết, tôi biết nàng cũng sẽ lấy làm hoan hỉ.

Tôi xin nhường lại cho giới phê bình phán quyết xem liệu địa điểm mà chàng mục đồng ấy đặc biệt chỉ ra có phải là chòm Leucate vừa nêu trên, hay ít ra là một Vực Tình Nhân nào khác được cho là mang lại hiệu quả tương tự. Tôi không thể tin nổi, như tất cả các nhà chú giải vẫn đinh ninh, rằng chàng mục đồng ở đây không ngụ ý điều gì khác ngoài việc tự vẫn bằng cách dìm mình xuống nước, bởi vì chàng ta xem kết cục cú nhảy của mình là điều bấp bênh khi nói thêm rằng, nếu chàng may mắn thoát chết, chàng biết người tình của mình sẽ lấy làm hoan hỉ về điều đó; mà theo cách giải thích của chúng tôi, điều này có nghĩa là nàng sẽ vô cùng vui mừng khi tuswc bỏ được một kẻ si tình vốn gây cho nàng biết bao phiền toái.

Sau lời tựa ngắn ngủi này, tôi xin gửi đến quý độc giả một số lá thư mà tôi đã nhận được về đề tài này. Bức thư đầu tiên do một vị y sĩ gửi cho tôi.

Thưa Ngài Spectator,

'Vực Tình Nhân, mà ngài đã đề cập trong bài viết số 223 của mình, theo tôi thường là một phương thuốc chữa trị tình yêu vô cùng hiệu quả, và không chỉ chữa tình yêu, mà còn chữa trị mọi nỗi thống khổ khác. Nói tóm lại, thưa Ngài, tôi e rằng đó chính là cú nhảy mà Hero đã thực hiện để dứt bỏ niềm đam mê dành cho Leander. Một người sẽ chẳng gặp nguy hiểm gì về việc tan nát cõi lòng, nếu họ tự bẻ gãy cổ mình để ngăn chặn điều đó. Tôi thừa rõ những điều kỳ diệu mà các tác giả cổ đại kể lại về cú nhảy này; và đặc biệt là rất nhiều người từng thử qua đã thoát nạn không chỉ toàn mạng mà còn nguyên vẹn chân tay. Nếu bằng cách này họ rứt bỏ được mối tình của mình, dẫu phần nào có thể quy cho những lý do mà ngài đã đưa ra; cớ sao chúng ta lại không cho rằng bồn tắm lạnh mà họ tự dìm mình xuống cũng có phần đóng góp vào sự chữa lành ấy nhỉ? Một cú nhảy xuống biển hoặc vào bất kỳ lạch nước mặn nào thường mang lại một luồng sinh khí mới mẻ và một hướng đi mới cho dòng máu; chính vì lý do đó mà chúng tôi kê nó cho những căn bệnh mà không một thứ dược phẩm nào khác có thể chạm tới. Tôi có thể trích dẫn một câu từ một tác giả vô cùng đáng kính, trong đó cơn điên cuồng do tình yêu gây ra được so sánh với cơn điên do vết cắn của một con chó dại. Nhưng vì sự so sánh này có phần hơi thô kệch đối với bài viết của ngài, và có vẻ như được dẫn ra để chế giễu vị tác giả đã sử dụng nó; tôi xin phép chỉ hé lộ đôi điều và mong ngài cân nhắc xem, nếu cơn cuồng loạn do hai nguyên nhân khác biệt ấy gây ra có cùng bản chất, thì há chẳng thể được chữa trị một cách vô cùng thích hợp bằng chính những phương kế giống nhau sao.'

Tôi kính thư, thưa Ngài,

Người đầy tớ khiêm nhường nhất và người hâm mộ nhiệt thành của ngài,

Aesculapius.'

Thưa ngài Spectator,

'Tôi là một thiếu nữ lỡ làng trong chuyện tình duyên. Câu chuyện của tôi vô cùng dài dòng và sầu thảm. Xin tóm tắt những ý chính cho ngài nghe: Một thanh niên nọ, sau khi theo đuổi tôi suốt ba năm trời ròng rã, và lấp đầy đầu óc tôi bằng muôn vàn giấc mộng hạnh phúc, thì cách đây vài hôm lại đi cưới một người khác. Xin ngài hãy cho tôi biết vùng đất nào trên thế giới này có ngọn mõm đá mà ngài gọi là Vực Tình Nhân, và liệu người ta có thể đến đó bằng đường bộ hay không? Nhưng than ôi, tôi e rằng nó đã mất đi linh nghiệm, và một phụ nữ thời nay sẽ chẳng tìm thấy sự khuây khỏa nào khi thực hiện một cú nhảy như thế, chẳng khác chi việc cất tiếng hát dâng thần Venus. Thế nên tôi đành phải cất lời than khóc cùng Dido trong tập Virgil của Dryden rằng:

Hỡi Trời xanh nghiệt ngã, chẳng màng chữa bệnh yêu!

Người đầy tớ đau khổ của ngài,

Athenais.'

Mister Spictatur,

'Trái tim tôi tràn ngập những mối tình và niềm đam mê dành cho phu nhân Gwinifrid, còn nàng lại vô cùng cáu kỉnh và đâm ra nổi giận lôi đình với tôi, giá mà tôi có được cái phúc lớn là nơi ở của mình (vốn được ông cố tôi đặt ngay dưới chân một ngọn đồi) cách Vực Tình Nhân chừng hai mươi dặm, thì quả thật tôi sẽ gắng sức tự bẻ gãy cổ mình ở đó cho bõ ghét. Giờ đây, hỡi Mister Spictatur đáng kính của Đại Anh uy nghiêm, ngài phải biết rằng ở Caernarvonshire có một ngọn núi cực kỳ to lớn, niềm kiêu hãnh của cả xứ Wales, mang tên Penmainmaure, và ngài cũng phải biết rằng từ chỗ tôi đi bộ đến đó chẳng xa xôi gì mấy; nhưng con đường thì đầy đá sỏi và làm hỏng cả giày dép. Nay, ngay trên đỉnh ngọn núi này có một vách đá cao chót vót (giống như ngọn tháp nhà thờ) vươn hẳn ra tận phía trên mặt biển; thế nên khi nỗi sầu muộn dâng trào và tôi gieo mình từ đó xuống, tôi rất mong người bạn vô cùng tốt bụng của mình cho tôi biết trên trang báo Spictatur của ngài rằng liệu tôi có được chữa lành những mối tình đau đớn hay không; bởi vì ở đó mặt biển trong vắt như gương và xanh ngắt như màu tỏi tây: Hơn thế nữa, nếu tôi bị chết đuối và gãy cổ, liệu phu nhân Gwinifrid có còn oán hận tôi sau đó hay không. Xin ngài hãy hồi âm thật nhanh, bởi vì tôi đang vô cùng vội vã, và tôi có nguyện vọng giải quyết công chuyện của mình mà không muốn lãng phí thời gian. Tôi vẫn giữ trọn tình cảm chân thành, người bạn mãi mãi si tình của ngài,

Davyth ap Shenkyn.'

Tái bút: 'Những vụ kiện tụng đã đưa tôi đến London, nhưng tôi đã thua kiện; và vì thế tôi đã quyết định về quê và nhảy xuống trước khi những đợt sương giá bắt đầu; bởi vì tôi rất dễ bị nhiễm lạnh.'

Châm biếm, có lẽ là một phương kế đối phó với tình yêu tốt hơn những lời khuyên nhủ tỉnh táo, và tôi cho rằng Hudibras cùng Don Quixote có thể hiệu quả chẳng kém gì bất kỳ bậc hiền triết cổ đại nào trong việc chữa trị sự thái quá của thứ tình cảm này. Do đó, tôi sẽ cho ấn hành rất sớm bản dịch của một bản thảo tiếng Hy Lạp nhỏ, do một người bạn uyên bác gửi cho tôi. Nó có vẻ là một phần trích lục từ những hồ sơ được lưu giữ tại ngôi đền nhỏ thờ Apollo tọa lạc trên mõm đá Leucate. Độc giả sẽ thấy đây là một bản tóm tắt về một số người từng thử qua cú nhảy của người tình, và kết quả mà họ thu nhận được. Vì dường như trong đó có một vài sự nhầm lẫn về niên đại cùng những sai lệch so với phép chính tả cổ xưa, bản thân tôi không hoàn toàn chắc chắn rằng nó là văn bản đích thực, chứ không phải là tác phẩm của một trong những kẻ ngụy biện người Hy Lạp vốn từng đánh lừa thế giới bằng một vài tác phẩm ngụy tạo thuộc loại này. Tôi nói điều này như một lời thận trọng, bởi vì tôi biết có một số nhà văn uy bác phi thường, những kẻ sẽ không bỏ lỡ cơ hội vạch trần sự dốt nát của tôi nếu họ bắt gặp tôi sơ hở trong một vấn đề trọng đại nhường này.

C.

Chú thích 1: tách rời khỏi

Chú thích 2: mạng sống của mình.

Chú thích 3: Quảng cáo sau đây xuất hiện trong các số 227 đến 234, 237, 247 và 248, với từ chắc chắn (certainly) đặt trước cụm sẵn sàng (be ready) sau lần đăng đầu tiên: Hiện đang in theo hình thức đặt thuê bao hai tập sách The Spectators khổ lớn in chữ ngoại cỡ; giá của hai tập sách được đóng bìa đẹp và dát vàng là hai đồng guinea. Những ai có ý định đặt thuê bao, xin vui lòng nộp tiền đặt trước cho Jacob Tonson, hiệu sách ở Strand, vì sách đã hoàn thành gần xong, sẽ sẵn sàng giao cho người đặt mua vào hoặc trước dịp Giáng sinh tới đây. Tập ba và tập bốn trong các tác phẩm suy tưởng của Isaac Bickerstaff, Esq., đã sẵn sàng để giao tại cùng địa điểm trên. N.B. Tác giả mong rằng những quý ông nào chưa nhận được sách mà mình đã đặt mua, xin vui lòng thông báo điều đó cho ông Tonson.

Mục lục

No. 228 Thứ Tư, ngày 21 tháng 11 năm 1711 Steele

Percunctatorem fugito, nam Garrulus idem est.

Hor.

Có một sinh linh sở hữu đầy đủ các cơ quan ngôn ngữ, một năng lực tương đối tốt để lĩnh hội những gì được nói với mình, cùng một phong thái khá đúng mực trong mọi tình huống của cuộc sống thường nhật; nhưng tự bản chất lại vô cùng trống rỗng về tư duy, và do đó buộc phải cậy nhờ đến những sự trợ giúp bên ngoài. Bản chất của kẻ hay dò la sự tình chính là như thế. Bạn có thể thường xuyên quan sát thấy rằng, dẫu kẻ ấy nói năng khôn ngoan chẳng kém gì bất kỳ ai về bất cứ điều gì mà hắn rành rẽ, hắn lại không thể tin tưởng vào dòng suy tưởng của chính mình để tự giải trí dựa trên nền tảng đó, mà cứ tiếp tục đặt ra hết thắc mắc mới này đến thắc mắc khác. Thế nên, dẫu bạn biết hắn thừa sức tham gia những cuộc trò chuyện tao nhã nhất, bạn vẫn sẽ thấy hắn ngồi rất đỗi vừa lòng bên một kẻ nài ngựa, say sưa kể lạy về những thăng trầm trong sức khỏe của con ngựa nhà hắn, loại thuốc nào hắn đã bắt nó uống, nó hợp thuốc ra sao, rồi sau đó nó hồi phục khẩu vị và việc tập luyện thế nào, hoặc bất kỳ chuyện tào lao nào tương tự; và tỏ ra hào hứng chẳng khác gì khi bạn bàn luận với hắn về những chân lý tối quan trọng. Tính khí này ở một mức độ nào đó không làm cho con người ta bất hạnh, dẫu nó có thể khiến hắn trở thành đối tượng của những lời trêu chọc; bởi vì hắn thường kết giao với một người sinh ra dường như là dành riêng cho hắn, đó chính là kẻ lắm điều. Mọi sự được sắp đặt sao cho giữa hai kiểu người này có một khuynh hướng ngầm, tự nhiên tựa như sự hút nhau giữa hai giới tính khác nhau, nhằm bù đắp cho những thiếu sót của nhau.

Hôm nọ, tôi có vinh dự được ngồi trong một phòng khách công cộng và chứng kiến một kẻ hay dò la nhìn theo với vẻ mặt đầy thỏa mãn khi một trong những kẻ lắm điều ấy bước tới.

Kẻ có tài ăn nói bèn ngồi xuống bên cạnh hắn, rồi vò đầu, tựa tay lên ghế, với một bộ dạng bứt rứt, liền cất lời: 'Hôm nay chẳng có chút tin tức gì sất. Tôi chẳng hiểu mình bị làm sao nữa, nhưng đêm qua tôi ngủ rất kém; chẳng biết có phải tôi bị nhiễm lạnh hay không, nhưng tôi có cảm giác mình đi giày không đủ dày để giữ ấm trong thời tiết này, và tôi đã ho suốt cả tuần nay: Chắc chắn là thế rồi, bởi vì thói quen tắm đầu mùa đông lẫn mùa hè bằng nước lạnh đã ngăn không cho cái lạnh xâm nhập vào người theo đường đó; thế nên nó hẳn đã lọt vào qua đôi chân tôi; nhưng tôi chẳng thèm để ý đến nó: gió thổi chiều nào theo chiều ấy thôi. Phần lớn những tai ương của chúng ta xuất phát từ sự quá ư mềm yếu; và da mặt chúng ta tự bản chất cũng chẳng chịu đựng nổi cái lạnh giỏi hơn các bộ phận khác là bao. Người da đỏ đã đáp lại rất chí lý một người châu Âu khi được hỏi làm sao mà ông ta có thể để mình trần đi lại được rằng: Tôi là một khuôn mặt đây thôi.'

Tôi nhận thấy bài diễn ngôn này cũng được vị khách tò mò chung của chúng ta đón nhận nồng nhiệt chẳng kém gì bất kỳ chủ đề trọng đại nào khác; nhưng đúng lúc ấy, có kẻ gọi kẻ lắm điều của chúng ta sang một góc phòng khác, thế là vị khách tò mò liền kể lại cho người ngồi cạnh mình nghe rằng ông X, vừa rời khỏi đây lúc nãy, có thói quen gội đầu bằng nước lạnh mỗi sáng; và cứ thế, hắn lặp lại gần như nguyên văn tất cả những gì vừa được nói với mình. Sự thật là, những kẻ hay dò la chính là cái phễu của mọi cuộc trò chuyện; chúng chẳng thu nạp điều gì cho riêng mục đích của mình, mà chỉ cốt để truyền lại cho kẻ khác: Chúng là những chiếc máng dẫn qua đó mọi điều hay lẽ phải cũng như chuyện thị phi được bàn tán trong thành phố. Những ai cảm thấy khó chịu vì chúng, hoặc nghĩ rằng mình phải gánh chịu thiệt hại từ hành vi của chúng, hoàn toàn có thể tự mình khắc phục sự bất tiện đó; bởi vì chúng vốn chẳng phải là những kẻ mang tâmạ độc địa, và nếu bạn chịu khó cung cấp thông tin, bạn có thể phản bác bất cứ điều gì chúng từng nói trước đó ngay bằng chính cái miệng của chúng. Được nghe thêm chi tiết về một sự việc là một trong những niềm vui lớn lao nhất có thể đến với chúng; và hiếm khi chúng kể lơ lơ lửng lửng hơn mức: Cả thành phố đang bàn tán chuyện đó, hoặc Tôi nghe tin này từ một nguồn tin đáng tin cậy: Nhờ thế mà vẫn còn dư địa để thiên hạ tường tận sự việc hơn, và để một nguồn tin cao tay hơn phản bác lại những gì vừa được thốt ra bởi một nguồn tin vốn dĩ cũng khá tốt.

Tôi chưa từng thấy tính khí này trở nên nực cười hơn khi nó hiện thân ở một người cha, kẻ luôn tha thiết dò la tường tận xem con trai mình đã trải qua những giờ phút rỗi rãi ra sao; nếu đó là một cách sống hoàn toàn vô bổ, thì chẳng có niềm vui nào lớn hơn sự hào hứng mà kẻ tò mò bộc lộ khi thấy con mình bước theo những bước chân đầy triển vọng của chính hắn ta! Nhưng tính khí này ở nam giới bộc lộ sự thú vị nhất là khi họ đang bàn tán về một điều gì đó vốn không hẳn thích hợp để người thứ ba lắng nghe, thế nhưng tự thân nó lại chẳng có gì to tát. Hôm nọ, có một chàng thanh niên ăn mặc bảnh bao bước vào, và lập tức hai quý ông thuộc chủng loại tò mò này liền túm tụm xì xào bàn tán về gia phả của cậu ta. Tôi có thể loáng thoáng nghe được ngắt quãng vài câu: Ả ta là dì của cậu ta; rồi câu đáp lại: À phải, bên họ ngoại; rồi lại nhỏ giọng hơn chút nữa: Cha của cậu ta thường đội bộ tóc giả sẫm màu hơn; câu trả lời: Không hẳn thế. Nhưng vị này đi giày gót cao hơn đấy.

Theo quan điểm của tôi, những kẻ tò mò sở dĩ như vậy hoàn toàn là do sự trống rỗng trong trí tưởng tượng của chính chúng, thế nên chẳng có gì nguy hiểm cho bằng việc thổ lộ bí mật với chúng; bởi vì chính cái bản tính thích dò la ấy cũng khiến chúng trở nên ba hoa một cách vô duyên vô phạt không kém: Dẫu vậy, chẳng ai cần phải tự đặt mình vào thế yếu trước chúng dù có giao du đi chăng nữa, bởi vì chúng cũng dễ dàng thỏa mãn với những chuyện ít quan trọng hơn. Khi đã có sẵn củi lửa, thì thứ gì bén lửa chẳng được — Cứ thế, những câu kết lửng lơ trên các tờ báo, như: Tin này cần được kiểm chứng, Điều này dấy lên nhiều phỏng đoán, và Thời gian sẽ ngã ngũ sự thật, đều được chúng ngấu nghiến đọc và nghiền ngẫm chứ chẳng hề xem đó chỉ là những từ ngữ thừa thãi lấp đầy chỗ trống.

Thỉnh thoảng, người ta vẫn có thể bắt gặp tính khí này đi kèm với một niềm khao khát vô độ muốn biết những gì đang diễn ra, nhưng lại chẳng hề đem áp dụng nó vào bất kỳ mục đích thực tế nào trên đời ngoài việc làm trò giải trí cho riêng mình. Một tâm hồn tìm thấy niềm vui theo cách này vốn thích hợp với sự hài hước cùng nét vui tươi, được tôi luyện để sắm vai một kẻ đứng ngoài cuộc vô lo vô nghĩ trên cõi đời này, và tựa như chính tôi, trở thành một kẻ quan sát thuần túy. Sự tò mò này, nếu không mang lòng ác độc hay tư lợi, sẽ tích trữ trong trí tưởng tượng một kho tàng những tình tiết chắc chắn sẽ mang lại niềm vui khi chúng được mang ra bàn luận trong những buổi trò chuyện. Nếu người ta có thể thấu tỏ, từ tầng lớp quý ông cao quý nhất cho đến tên đầy tớ mọn hèn nhất, mọi âm mưu, tâm tư, niềm vui và lợi ích khác nhau của nhân loại, thì há đó chẳng phải là màn kịch vui thú nhất tưởng chừng có thể hình dung được sao khi được thưởng thức một vở hề liên tu bất tận, đó là việc quan sát nhân loại trong những suy nghĩ thầm kín và hành động công khai của họ lại khác xa nhau một trời một vực, vượt xa cả sự khác biệt giữa chiếc mũ ngủ và bộ tóc giả dài lê thê?

Thưa ngài Spectator,

'Plutarch kể cho chúng ta nghe rằng Caius Gracchus, nhà quý tộc La Mã, thường bị cơn thịnh nộ cuốn đi đến mức cất giọng la hét lớn tiếng và đầy hỗn loạn đến độ căng cổ họng lên và chẳng thể nói tiếp được nữa. Để khắc phục sự quá đà này, ông luôn có một tên đầy tớ khéo léo tên là Licinius túc trực bên cạnh với một chiếc còi chỉnh âm hoặc một nhạc cụ để điều tiết giọng nói; hễ khi nào hắn nghe thấy chủ nhân bắt đầu lớn giọng, hắn liền lập tức tấu lên một nốt trầm dịu nhẹ; và người ta kể rằng khi ấy, Caius sẽ lập tức dịu giọng xuống và trở nên bình tĩnh trở lại.

'Khi nhớ lại câu chuyện này, tôi vẫn thường tự hỏi cớ sao một công cụ hữu ích như thế lại bị bỏ xó lâu đến vậy; nhất là khi chúng ta nhận ra rằng việc làm tốt đẹp ấy của Licinius đã gìn giữ tên tuổi của ông qua hàng trăm năm nay, thiết nghĩ điều đó đáng lẽ phải khích lệ ai đó hồi sinh nó lại, nếu không phải vì lợi ích chung của công chúng, thì cũng vì danh tiếng của chính họ. Người ta có thể phản đối rằng những kẻ hay lớn giọng của chúng ta quá đỗi say mê thứ âm thanh của chính chúng đến mức sẽ chẳng vui vẻ gì khi bị đám đầy tớ chặn họng: Nhưng giả sử điều này là đúng đi nữa, thì chắc chắn bất kỳ thính giả nào của họ cũng hoàn toàn có quyền cất lên một nốt trầm dịu nhẹ để tự vệ. Nói ngắn gọn lại, chẳng thấy bóng dáng Licinius nào xuất hiện mà tiếng ồn thì cứ ngày một gia tăng, tôi bèn quyết định dành trọn kỳ nghỉ dài vừa qua này cho lợi ích của tổ quốc; và cuối cùng, với sự trợ giúp của một nghệ nhân khéo léo (người chuyên làm việc cho Hội Hoàng gia), tôi đã hoàn thành gần xong thiết kế của mình, và sẽ sẵn sàng trong một thời gian ngắn nữa để cung cấp cho công chúng bất kỳ số lượng nào các nhạc cụ này mà họ muốn, hoặc để đặt tại các quán cà phê, hoặc để mang theo sử dụng riêng. Trong lúc chờ đợi, tôi xin bày tỏ sự kính trọng đến một số quý ông mà tôi biết chắc sẽ có nguy cơ vi phạm đến chiếc còi này bằng cách gửi cho họ những bức thư riêng, trong đó tôi sẽ chỉ viết độc một câu: Hãy sắm lấy một chiếc còi Licinius.'

'Tôi vốn chẳng muốn làm phiền ngài lâu hơn nữa, ngoai trừ việc tôi không thể kết thúc mà lại quên xin ngài hãy hoan hỷ nhận lấy một trong những chiếc còi này, sẽ được gửi lại cho ngài chỗ bác Buckley; và tôi hy vọng nó sẽ hữu ích cho ngài, bởi vì bản thân ngài vốn là một người im lặng nên ngài là người dễ bị tổn thương nhất trước những sự lăng mạ của đám đông ồn ào.'

Tôi kính thư, thưa Ngài, &c.

W. B.

Tôi suýt quên thông báo với ngài rằng, như một sự cải tiến cho nhạc cụ này, sẽ có một nốt nhạc đặc biệt mà tôi gọi là Nốt Im Lặng (Hush-Note); và nốt này sẽ được sử dụng để chống lại những câu chuyện dài dòng lê thê, thề thốt, những lời lẽ tục tĩu và đại loại như thế.

Mục lục

No. 229 Thứ Năm, ngày 22 tháng 11 năm 1711 Addison

—Spirat adhuc amor,

Vivuntque commissi calores

Æoliæ fidibus puellæ.

Hor.

Giữa vô vàn tác phẩm cổ đại nổi tiếng vẫn còn có thể chiêm ngưỡng tại Rome, có một bức tượng cụt tay chân lẫn đầu; nhưng lại phô bày một tay nghề chế tác tinh xảo đến mức trong phần còn lại của nó, khiến Michael Angelo từng tuyên bố rằng ông đã học hỏi toàn bộ nghệ thuật của mình từ đó. Quả thực, ông đã nghiên cứu nó chăm chú đến mức tạo ra phần lớn các bức tượng, và thậm chí cả những bức tranh của mình theo cái gu thẩm mỹ ấy, mượn theo cách nói của người Ý; chính vì lý do này mà bức tượng cụt lủn ấy vẫn được gọi là Trường phái của Michael Angelo.

Một đoạn thơ chắp vá của Sappho, thứ mà tôi dự định dùng làm chủ đề cho bài viết này, cũng có được danh tiếng lớn lao không kém trong giới thi sĩ và phê bình dường như bức tượng tàn tật vừa được nhắc tới ở trên trong giới điêu khắc và hội họa. Một số đồng bào của chúng ta, và đặc biệt là nhà thơ Dryden, có vẻ rất thường xuyên phỏng theo nó trong các tác phẩm kịch nghệ cũng như trong những bài thơ viết về chủ đề tình yêu của họ.

Dẫu nguyên cớ dẫn đến khúc ca này là gì đi nữa, độc giả người Anh sẽ thấu cảm trọn vẹn những nét đẹp của nó, nếu người ấy hình dung rằng nó được viết dưới danh nghĩa của một kẻ si tình đang ngồi bên người thương. Tôi xin trình bày ba bản dịch khác nhau của nguyên tác tuyệt mỹ này: bản đầu tiên là của Catullus, bản thứ hai của ngài Boileau, và bản cuối cùng là của một quý ông có bản dịch bài Thánh thi dâng kính Venus từng nhận được sự ngưỡng mộ vô cùng xứng đáng.

Ad Lesbiam

Ille mî par esse deo videtur,

Ille, si fas est, superare divos,

Qui sedens adversus identidem te,

Spectat, et audit.

Dulce ridentem, misero quod omnis

Eripit sensus mihi: nam simul te,

Lesbia, adspexi, nihil est super mî

Quod loquar amens.

Lingua sed torpet, tenuis sub artus

Flamnia dimanat, sonitu suopte

Tinniunt aures, gemina teguntur

Lumina nocte.

Độc giả uyên bác của tôi sẽ thừa rõ lý do tại sao một trong số các câu thơ này được in bằng kiểu chữ La Mã; và nếu vị ấy đối chiếu bản dịch này với nguyên tác, sẽ nhận ra rằng ba khổ thơ đầu được chuyển ngữ gần như từng chữ một, không chỉ giữ được sự tao nhã tương đương, mà còn mang nhịp điệu ngắn gọn súc tích vốn vô cùng nổi bật trong tiếng Hy Lạp, và là nét đặc trưng độc đáo của thể thơ Sappho. Tôi không tài nào tưởng tượng nổi vì lý do gì mà phu nhân Dacier lại bảo với chúng ta rằng khúc ca này của Sappho được bảo lưu trọn vẹn trong tác phẩm của Longinus, trong khi hiển nhiên với bất kỳ ai tra cứu đoạn trích dẫn của tác giả ấy đều thấy rằng chí ít phải có thêm một khổ thơ nữa đã thất truyền, không đến được với chúng ta.

Bản dịch thứ hai của đoạn thơ chắp vá này mà tôi xin trích dẫn tại đây là của ngài Boileau.

Heureux! qui prés de toi, pour toi seule soûpire:

Qui jouït du plaisir de t'entendre parler:

Qui te voit quelquefois doucement lui soûrire.

Les Dieux, dans son bonheur, peuvent-ils l'égaler?

Je sens de veine en veine une subtile flamme

Courir par tout mon corps, si-tost que je te vois:

Et dans les doux transports, où s'egare mon ame,

Je ne sçaurois trouver de langue, ni de voix.

Un nuage confus se répand sùr ma vuë,

Je n'entens plus, je tombe en de douces langueurs;

Et pâle, sans haleine, interdite, esperduë,

Un frisson me saisit, je tremble, je me meurs.

Độc giả sẽ nhận thấy đây giống một bài phỏng tác hơn là một bản dịch. Các tình tiết không nằm sát bên nhau, và không nối tiếp nhau với cường độ mãnh liệt cùng sự xúc cảm dạt dào như trong nguyên tác. Nói tóm lại, ngài Boileau đã mang lại cho chúng ta tất cả chất thơ, nhưng chưa truyền tải hết niềm đam mê của đoạn thơ nổi tiếng này. Cuối cùng, tôi xin gửi đến quý độc giả bản dịch tiếng Anh.

I

Blest as th'immortal Gods is he,

The Youth who fondly sits by thee,

And hears and sees thee all the while

Softly speak and sweetly smile.

II

'Twas this deprived my Soul of Rest,

And raised such Tumults in my Breast;

For while I gaz'd, in Transport tost,

My Breath was gone, my Voice was lost:

III

My Bosom glowed; the subtle Flame

Ran quick through all my vital Frame;

O'er my dim Eyes a Darkness hung;

My Ears with hollow Murmurs rung.

IV

In dewy Damps my Limbs were chil'd;

My Blood with gentle Horrors thrill'd;

My feeble Pulse forgot to play;

I fainted, sunk, and dy'd away.

Thay vì đưa ra bất kỳ lời nhận xét nào về bản dịch cuối cùng này, tôi xin mời vị độc giả uyên bác của mình hãy tra cứu những lời bình phẩm mà Longinus đã viết về nguyên tác. Bằng cách đó, vị ấy sẽ biết mình nên dành sự ưu ái cho bản dịch nào. Tôi chỉ xin nói thêm rằng bản dịch này được chấp bút mang đậm tinh thần của Sappho, và bám sát tiếng Hy Lạp nhất trong mức độ mà thiên bẩm ngôn ngữ của chúng ta cho phép.

Longinus đã nhận xét rằng bức tranh miêu tả tình yêu này ở Sappho là một bản sao chính xác của tự nhiên, và tất cả những chi tiết nối tiếp nhau trong dòng cảm xúc cuồn cuộn ấy, dẫu thoạt trông có vẻ mâu thuẫn với nhau, nhưng thực chất lại là những trạng thái có thật xảy ra trong cơn cuồng loạn của tình yêu.

Tôi lấy làm lạ rằng chẳng có một nhà phê bình hay biên tập viên nào, qua tay những người mà khúc ca này đã đi qua, lại không nhân cơ hội này để nhắc đến một tình tiết được Plutarch kể lại.

Tác giả ấy trong câu chuyện nổi tiếng về Antiochus, kẻ đã đem lòng yêu Stratonice, mẹ kế của mình, và (không dám thổ lộ mối tình ấy) bèn giả vờ lâm trọng bệnh phải nằm liệt giường, đã cho chúng ta biết rằng thầy thuốc Erasistratus đã phát hiện ra bản chất căn bệnh của chàng nhờ vào những triệu chứng tình yêu mà ông đã học được từ các tác phẩm của Sappho. Stratonice lúc ấy đang có mặt trong phòng của hoàng tử tương tư khi những triệu chứng này bộc lộ trước mắt vị y sĩ; và rất có thể chúng chẳng khác biệt là bao so với những gì Sappho đã miêu tả ở đây về một kẻ si tình đang ngồi bên người thương. Câu chuyện về Antiochus này nổi tiếng đến mức tôi không cần phải kể thêm phần kết của nó, vốn chẳng có sự liên quan nào đến chủ đề hiện tại của tôi.

C.

Chú thích 1: Bức tượng Torso Belvedere.

Chú thích 2: Bản dịch khác của Ambrose Philips. Xem chú thích số 223.

Chú thích 3: Bị khuyết trong các bản sao được biết đến vào thời đó, ở đây được bổ sung bằng phỏng đoán.

Chú thích 4: Trong tác phẩm Đời tư Demetrius của Plutarch. 'Khi những người khác bước vào, Antiochus hoàn toàn bình thường. Nhưng khi Stratonice bước vào, như bà vẫn thường làm, chàng bộc lộ tất cả những triệu chứng được miêu tả bởi Sappho, giọng nói nghẹn ngào, gương mặt đỏ bừng vì nóng bừng, ánh mắt lờ đờ, mồ hôi vã ra bất chợt, nhịp đập cuồn cuộn; và cuối cùng, khi niềm đam mê vượt qua cả tinh thần, chàng ngất lịm đi với sắc diện tái nhợt như người chết.'

Mục lục

No. 230 Thứ Sáu, ngày 23 tháng 11 năm 1711 Steele

Homines ad Deos nullâ re propiùs accedunt, quam salutem Hominibus dando.

Tull.

Bản chất con người thoạt trông có vẻ là một thực thể vô cùng méo mó hoặc vô cùng tươi đẹp, tùy thuộc vào những góc độ ánh sáng khác nhau mà ta ngắm nhìn nó. Khi chứng kiến những kẻ mang dòng cảm xúc bừng bừng phẫn nộ, hoặc ấp ủ những mưu đồ gian ác, xé xác lẫn nhau bằng bạo lực công khai hoặc hạ bệ nhau qua những âm mưu ám muội; khi quan sát những mục đích đê h tiện và ích kỷ được theo đuổi bằng những thủ đoạn nhục nhã và bất lương; khi nhìn ngắm con người hòa lẫn vào xã hội tựa hồ như để hủy diệt chính xã hội đó; chúng ta thậm chí cảm thấy xấu hổ vì giống loài của mình và chán ghét chính sự tồn tại của bản thân:

Nhưng ở một góc nhìn khác, khi ngắm nhìn họ dịu dàng, lương thiện và nhân ái, tràn đầy lòng quan tâm cao thượng đối với sự thịnh vượng chung, đồng cảm với những nỗi thống khổ của nhau và san sẻ những thiếu sót của nhau, chúng ta khó lòng tin nổi họ lại là những sinh loài cùng chung một giống loài. Dưới góc độ này, họ hiện lên tựa như những vị thần đối với nhau trong việc thực thi quyền năng cao quý nhất, đó là quyền làm việc thiện; và lời khen ngợi lớn lao nhất mà chúng ta từng có thể dành cho sự tồn tại của chính mình, chính là việc gọi khuynh hướng tâm hồn này là lòng nhân đạo (humanity). Chúng ta không khỏi nhận thấy một niềm hoan hỉ dâng trào trong lồng ngực khi chứng kiến hoặc lắng nghe một hành động cao thượng, ngay cả khi chúng ta hoàn toàn chẳng có chút vụ lợi cá nhân nào trong đó. Tôi không thể đưa ra một minh chứng nào thích hợp hơn thế, ngoài bức thư của Pliny, trong đó ông hết lời ca tụng và giới thiệu một người bạn bằng tất cả sự lịch thiệp, và thiết nghĩ, thật là một niềm vui lớn lao khi được biết kết quả của bức thư này, dẫu cho mỗi một nhân vật liên quan đến nó đã nằm yên dưới nấm mồ từ bao thế kỷ nay.

Gửi MAXIMUS.

Điều mà tôi sẵn lòng làm cho bất kỳ người bạn nào của anh, tôi nghĩ giờ đây mình hoàn toàn có thể tự tin thỉnh cầu cho một người bạn của tôi. Arrianus Maturius là nhân vật khả kính bậc nhất ở quê nhà ngài ấy; khi gọi ngài ấy như vậy, tôi không có ý nói đến gia tài của ngài ấy, dẫu cho nó vô cùng dư dả, mà là nói đến sự chính trực, công minh, trang nghiêm và thận trọng; những lời khuyên của ngài ấy rất hữu ích cho tôi trong công việc, và sự phán đoán của ngài ấy trong các vấn đề học thuật cũng vậy: Sự trung thực, lòng thành tín và trí tuệ thấu đáo của ngài ấy là vô cùng lớn lao; bên cạnh đó, ngài ấy yêu mến tôi hệt như anh vậy, chẳng có lời nào có thể diễn tả được một tình cảm nồng nàn hơn thế. Ngài ấy không có chút tham vọng nào vươn lên cao; và dẫu ngài ấy hoàn toàn có thể vươn lên hàng ngũ quý tộc cao quý nhất, ngài ấy vẫn khiêm nhường ở lại hàng ngũ thấp hơn; thế nhưng tôi vẫn tự thấy mình có bổn phận phải nỗ lực hết sức để giúp đỡ và nâng đỡ ngài ấy; và do đó muốn tìm cách bồi đắp thêm cho những vinh tước của ngài ấy trong lúc ngài ấy chẳng hề mong đợi hay mảy may hay biết, phải chăng dẫu cho ngài ấy có từ chối đi nữa. Nói tóm lại, tôi muốn có một điều gì đó dành cho ngài ấy sao cho thật vinh dự nhưng không phiền hà, và tôi tha thiết mong anh sẽ lo liệu cho ngài ấy cơ hội đầu tiên thuộc loại này xuất hiện, nhờ đó anh không chỉ làm ơn cho tôi mà còn cho cả ngài ấy nữa; bởi vì dẫu ngài ấy không màng tới, tôi biết ngài ấy sẽ bày tỏ lòng biết ơn đối với sự chiếu cố của anh chẳng khác nào khi chính ngài ấy cất lời xin xỏ.

Thưa ngài Spectator,

Những suy ngẫm trong một số bài viết của ngài về phương pháp giáo dục mang tính nô dịch hiện đang được áp dụng đã khơi dậy trong tôi một hoài bão, mà nếu ngài không dập tắt nó, tôi e rằng sẽ cuốn tôi vào một cuộc phiêu lưu vô cùng gian nan, dẫu không phải là không thú vị. Tôi chuẩn bị dấn thân, vì lợi ích của giới trẻ Anh quốc, để huấn luyện họ theo một phương thức sao cho những trang sách nguy hiểm nhất trong Virgil hoặc Homer có thể được họ đọc với niềm vui sướng trọn vẹn và sự an toàn tuyệt đối cho bản thân.

Giá mà tôi có thể chiếm được vinh dự bảo trợ từ một số ít trong số họ, (vì tôi không đủ anh hùng để cứu vớt nhiều người) ý định của tôi là sẽ lui về một chốn tĩnh lặng dễ chịu cùng họ; dẫu nằm trong vùng lân cận của một thành phố, nhằm thuận tiện cho việc hướng dẫn họ học âm nhạc, khiêu vũ, vẽ vời, thiết kế, hoặc bất kỳ tài nghệ nào khác tương tự, thứ được cho là những trò giải trí thích hợp và hào hứng chẳng kém gì những trò chơi thấp h kém nhỏ nặt mà lũ học trò bẩn thỉu vô cùng mê mẩn. Người ta có thể dễ dàng tưởng tượng được một cộng đồng xinh xắn như thế, chẳng giao du với bất kỳ ai kém cỏi hơn mình, và thỉnh thoảng được dung nạp như những thành phần có lẽ không kém phần thú vị trong những tầng lớp thượng lưu hơn, được tán dương và vuốt ve vì những trổ tài nho nhỏ của mình, và được uốn nắn qua những cuộc trò chuyện như thế thành một phong thái hào hoa của tâm hồn, có thể sớm được làm quen với một số nhà văn Anh tao nhã bậc nhất. Khi đã có được một gu thưởng thức sách vở kha khá như thế, họ sẽ tự mình làm chủ tiếng Latinh bằng những phương pháp dễ dàng hơn rất nhiều so với sách của Lilly, với ít khó khăn hoặc sự kháng cự chẳng khác nào các thiếu nữ học nói tiếng Pháp, hay học hát các vở opera tiếng Ý. Khi họ đã tiến xa đến mức đó, sẽ là lúc gọt giũa gu thẩm mỹ của họ một cách chính xác hơn nữa: Bất kỳ ai có thực thụ sự nhạy bén với văn chương tinh tế đều có thể, với niềm hân hoan lớn lao cho cả bản thân lẫn họ, cùng họ nghiền ngẫm những nhà sử học, thi sĩ và diễn giả La Mã xuất sắc nhất, và chỉ ra những nét đẹp nổi bật nhất của họ; phác họa cho họ một đề cương niên đại ngắn gọn, một cái nhìn sơ lược về địa lý, huy hiệu, thiên văn học, hoặc bất kỳ thứ gì khác có thể nuôi dưỡng tốt nhất cái tâm tính bận rộn tò mò vốn rất tự nhiên ở lứa tuổi đó. Những ai trong số họ dù chỉ có một tia sáng thiên bẩm nhỏ nhoi, một khi đã được đánh thức bởi những tư tưởng rực rỡ và những tâm tình vĩ đại của những nhà văn được ngưỡng mộ ấy, tôi tin rằng khó lòng có thể kìm hãm họ khỏi việc dấn thân thử sức với thứ ngôn ngữ chị em khó nhằn hơn kia, thứ vẻ đẹp cao ngợi của nó hẳn họ đã từng nghe ca tụng không biết bao nhiêu lần như là niềm kiêu hãnh và sự kinh ngạc của toàn bộ thế giới học giả. Trong khi đó, việc rèn giũa văn phong của họ trong việc viết lách những khúc đoản văn nhẹ nhàng đòi hỏi trí tưởng tượng nhiều hơn là sự phán quyết là điều vô cùng cần thiết; và việc đó thường xuyên được thực hiện bằng tiếng mẹ đẻ của họ, thứ mà thiết nghĩ ai nấy đều nên bận tâm vun đắp nhất, đặc biệt là những bức thư từ, thứ mà một quý ông hẳn sẽ phải thường xuyên có dịp để thể hiện bản thân. Một nhóm thanh niên hào hoa, tốt bụng sa vào một lối sống như thế sẽ tạo nên gần như một học viện thu nhỏ, và chắc chắn sẽ chứng tỏ họ không phải là những người đồng hành tầm thường đến mức có thể cám dỗ một người khôn ngoan hòa mình vào các trò giải trí của họ, và lôi kéo họ vào những trò chơi nghiêm túc mang lại sự giáo dục chẳng kém gì những bài học uy nghiêm nhất. Tôi không nghi ngờ gì rằng điều đó hoàn toàn có thể trở thành một trong những trò chơi ưa thích của họ, là thi đua xem ai trong số họ ngâm nga một đoạn thơ hay một bài diễn văn truyền cảm nhất, hoặc thỉnh thoảng cùng nhau diễn một phân cảnh của Terence, Sophocles, hoặc chính Shakespeare của chúng ta. Vụ án của Milo có thể lại được biện hộ trước những vị thẩm phán khoan dung hơn, Caesar một lần nữa được dạy cho biết sợ hãi, và một thế hệ người Athens khác lại sục sôi căm phẫn trước tham vọng của một Philip khác. Giữa những trò tiêu khiển cao quý này, chúng ta có thể hy vọng được nhìn thấy những mầm non tưởng tượng ban đầu của họ mỗi ngày một rực rỡ hơn thành sự minh triệt, sự ngây thơ của họ thăng hoa thành đức hạnh, và lòng tốt chưa từng trải đời của họ được định hướng đến một tình yêu tổ quốc cao cả.

Tôi kính thư, &c.

T.

Chú thích 1: của mỗi

Chú thích 2: Pliny Con, Thư. Quyển II. Thư 2. Phần trước của bài viết này là của John Hughes.

Mục lục

No. 231 Thứ Bảy, ngày 24 tháng 11 năm 1711 Addison

O Pudor! O Pietas!

Mart.

Khi điểm lại những lá thư gần đây nhận được từ các độc giả thường xuyên của mình, tôi bắt gặp bức thư sau đây, được viết với một tinh thần tao nhã đến mức bản thân tôi không khỏi cảm thấy vô cùng thích hợp và chắc chắn nó cũng sẽ mang lại sự đón nhận tương tự cho quý độc giả.

Thưa ngài Spectator1,

Ngài, một người chẳng lạ lẫm gì với các buổi hội họp công cộng, hẳn không thể không nhận thấy sự kính sợ mà chúng thường áp đặt lên những ai buộc phải thể hiện tài năng trước mặt đông đảo mọi người. Đây là một dạng thức khốn khổ tao nhã mà những tâm hồn thanh cao dễ mắc phải nhất, và do đó rất đáng được ghi nhận vài dòng trên trang báo của ngài. Không ít tráng sĩ từng đánh đuổi kẻ thù trên chiến trường lại rơi vào trạng thái hoảng loạn tột độ khi phải cất lời phát biểu trước một nhóm bạn bè ở quê nhà: Người ta hẳn sẽ nghĩ rằng có một thứ ma lực nào đó ẩn chứa trong ánh mắt của một vòng tròn đông đảo những con người, khi tất cả cùng chĩa thẳng vào một cá nhân duy nhất. Tôi từng chứng kiến một diễn viên tân binh trong một vở bi kịch bị cái nhìn ấy kìm hãm đến mức suýt chẳng thể cất lời hay nhúc nhích, và từng ngóng trông anh ta ngã quẻ tử trận trước khi lưỡi dao hay chén thuốc độc được mang lên tận ba màn. Sẽ chẳng có gì là thừa thãi nếu một người như thế ban đầu được giới thiệu trong hình hài một hồn ma hoặc một bức tượng, cho đến khi anh ta lấy lại tinh thần và trở nên sung sức để đảm nhận một vai diễn sống động.

Sự rụt rè bất chợt đánh mất chính mình này cho thấy một sự tự ti vốn không hề khó chịu, đồng thời nó cũng ngầm ẩn chứa sự tôn trọng lớn lao nhất có thể có đối với khán giả. Đó là một dạng thức hùng biện câm lặng, cầu xin sự ân chuẩn từ họ tốt hơn nhiều so với những lời hoa mỹ; và chúng ta nhận thấy lòng quảng đại của họ tự nhiên được lay động để ủng hộ những ai đang loay hoay bối rối để làm vui lòng họ. Tôi vô cùng thích thú trước một trường hợp gần đây thuộc loại này tại buổi biểu diễn opera Almahide, trong sự khích lệ dành cho một nữ ca sĩ trẻ2, sự lo lắng vượt mức bình thường của cô trong lần đầu tiên xuất hiện đã ghi điểm cho cô chẳng kém gì giọng hát du dương và màn trình diễn chuẩn xác của cô. Sự xấu hổ thuần túy chẳng có tài năng thì vụng về; còn tài năng mà thiếu đi sự khiêm nhường thì hống hách. Nhưng tài năng khiêm nhường có một sự đảm bảo kép cho sự đón nhận, và thường gặp gỡ được nhiều nhà bảo trợ chẳng kém gì số lượng khán giả.

Tôi kính thư, &c.

Một cá nhân không thể thể hiện bản thân một cách xuất sắc trong một đám đông, dù phần việc của người ấy là ca hát hay phát biểu, nếu người ấy mang trong mình quá nhiều áp lực của sự khiêm nhường. Tôi nhớ khi trò chuyện với một người bạn của mình về sức mạnh của phát âm, cuộc thảo luận đã dẫn chúng tôi đến việc liệt kê các cơ quan phát ngôn khác nhau mà một nhà hùng biện cần phải sở hữu một cách hoàn hảo, như lưỡi, răng, môi, mũi, vòm họng và khí quản. Nghe vậy, bạn tôi liền nói: Anh đã bỏ sót cơ quan quan trọng nhất trong số đó rồi, ấy chính là vòm trán.

Nhưng bất chấp sự khiêm nhường thái quá cản trở lưỡi và khiến nó trở nên bất cập trong các chức năng của mình, một tỷ lệ vừa phải của nó lại được xem là cần thiết đến mức các nhà hùng biện đã khuyên nhủ các đệ tử của họ xem đó là một chi tiết trong nghệ thuật của họ. Cicero bảo với chúng ta rằng ông chưa từng ưa chuộng một nhà hùng biện nào không biểu lộ chút lúng túng nào vào thời điểm mở đầu bài phát biểu của mình, và thú nhận rằng bản thân ông chưa từng bước vào một bài diễn văn nào mà không mang trong mình sự run rẩy và lo lắng. Quả thực, đó là một dạng thức kính trọng vốn thuộc về một hội đồng lớn, và hiếm khi thất bại trong việc khơi dậy lòng nhân ái ở khán giả đối với người cất lời. Người bạn đọc thường xuyên của tôi đã lưu ý rằng những người dũng cảm nhất thường tỏ ra rụt rè trong những dịp như thế, hệt như chúng ta có thể nhận thấy rằng nhìn chung chẳng có sinh linh nào trơ tráo hơn một kẻ hèn nhát.

—Linguá melior, sed frigida bello

Dextera—

Một cái lưỡi bạo dạn và một cánh tay yếu ớt chính là phẩm chất của Drances trong tác phẩm của Virgil; cũng như Homer, để diễn tả một người vừa rụt rè vừa xấc láo, đã sử dụng một hình ảnh ẩn dụ rất hiếm khi bắt gặp trong các sáng tác của ông; ấy là việc hắn có đôi mắt của loài chó, nhưng trái tim của loài hươu.

Sự khiêm nhường đúng mực và hợp lý không chỉ tôn vinh nghệ thuật hùng biện, mà còn làm nổi bật mọi tài năng vĩ đại mà một con người có thể sở hữu. Nó tôn lên tất cả những đức hạnh đi kèm hệt như những khoảng tối trong tranh vẽ, nó làm nổi bật và tôn vinh từng đường nét, khiến cho màu sắc trở nên rực rỡ hơn, dẫu không quá chói lọi như khi thiếu vắng nó.

Sự khiêm nhường không chỉ là một món trang sức, mà còn là một lớp giáp bảo vệ cho đức hạnh. Nó là một dạng thức cảm xúc nhạy bén và tinh tế trong tâm hồn, khiến cô ấy co mình lại và rút lui khỏi mọi thứ ẩn chứa hiểm nguy. Đó là một sự nhạy cảm tinh tế đến mức cảnh báo cô phải xa lánh ngay từ biểu hiện đầu tiên của mọi thứ mang tính hủy hoại.

Hiện tại tôi không thể nhớ lại thời gian hay địa điểm của sự việc mà tôi sắp nhắc tới; nhưng tôi từng đọc được đâu đó trong lịch sử Hy Lạp cổ đại rằng phụ nữ ở vùng đất đó bỗng mắc phải một thứ bệnh trầm cảm khó hiểu, khiến một số người trong số họ tìm đến cái chết. Viện nguyên lão, sau khi thử nghiệm nhiều biện pháp để ngăn chặn tệ nạn tự vẫn vốn rất phổ biến ấy, đã ban hành một chiếu chỉ rằng bất kỳ người phụ nữ nào dù với bất kỳ lý do gì tự tay kết liễu đời mình, thi hài của người đó sẽ bị bêu trần giữa phố và kéo lê khắp thành phố theo cách thức công khai nhất. Chiếu chỉ này ngay lập tức chặn đứng tập tục vốn trước đó vô cùng phổ biến. Chúng ta có thể thấy qua trường hợp này sức mạnh của sự khiêm nhường nơi phụ nữ, thứ đã đủ sức chiến đấu vượt qua cả bạo lực của sự điên loạn và tuyệt vọng. Nỗi sợ hãi sự nhục nhã ở phái đẹp, vào những ngày tháng ấy, lấn át cả nỗi sợ cái chết.

Nếu sự khiêm nhường có sức ảnh hưởng lớn lao đến nhường ấy đối với các hành vi của chúng ta, và trong nhiều trường hợp là một hàng rào kiên cố bảo vệ đức hạnh; thì điều gì có thể làm suy yếu đạo đức mãnh liệt hơn thứ văn hóa lịch thiệp đang ngự trị trong tầng lớp vô tư lự của nhân loại, thứ xem thường phần tinh tế nhất trong phong thái của chúng ta; thứ ca ngợi sự trơ tráo như là phép tắc lịch sự, và luôn giữ cho con người ta mặt dày mày mạnh, không phải vì họ vô tội, mà bởi vì họ vô liêm sỉ?

Seneca từng cho rằng sự khiêm nhường là một sự kìm hãm cái ác lớn lao đến mức ông khuyên chúng ta nên thực hành nó trong âm thầm, và khuyên chúng ta hãy vun đắp nó trong tâm hồn từ những dịp tưởng tượng khi những cơ hội thực tế không xuất hiện; bởi vì đó chính là ý nghĩa trong lời răn của ông rằng khi chúng ta ở một mình, trong những chốn thâm sơn cùng cốc vắng vẻ nhất, chúng ta nên tưởng tượng rằng Cato đang đứng trước mặt và chứng kiến mọi điều chúng ta làm. Tóm lại, nếu bạn trục xuất sự khiêm nhường khỏi thế giới này, cô ấy sẽ cuốn theo một nửa đức hạnh vốn tồn tại trong đó.

Sau những ngẫm ngợi về sự khiêm nhường khi nó là một đức hạnh; tôi phải lưu ý rằng có một sự khiêm nhường đồi bại, thứ rất đáng bị chế giễu, và thường được bộc lộ bởi những kẻ tự hào nhất về sự tự tin đầy học thức của mình. Điều này xảy ra khi một người cảm thấy xấu hổ khi hành động đúng theo lý trí của mình, và bằng mọi giá không muốn bị bắt quả tang đang thực hiện những bổn phận mà vì sự tồn tại của chúng mà họ được gửi gắm vào cõi đời này. Không ít kẻ ăn chơi trác táng sẽ đỏ mặt nếu bị bắt gặp đang bàn luận những chuyện nghiêm túc, và khó lòng ngẩng cao đầu nổi sau khi bộc lộ một tư tưởng tôn giáo. Sự đoan trang trong phong thái, mọi biểu hiện bề ngoài của đức hạnh, và nỗi ghê tởm cái ác đều được tránh né cẩn trọng bởi nhóm người mặt dày này, như thể chúng sẽ làm giảm đi sự vui tươi trong tâm tính của họ và chắc chắn dẫn họ đến nhục nhã. Đó là sự nghèo nàn của tâm hồn, sự hèn nhát đáng khinh bỉ, một trạng thái tâm lý suy đồi thảm hại đến mức người ta khó lòng tin nổi bản chất con người lại có thể sa ngã đến thế, nếu chúng ta không thường xuyên bắt gặp những biểu hiện của nó trong các cuộc trò chuyện đời thường.

Lại có một dạng thức khiêm nhường đồi bại khác khiến con người ta cảm thấy xấu hổ về thân phận, nguồn gốc, nghề nghiệp, sự nghèo khó hoặc những bất hạnh tương tự, những thứ vốn chẳng nằm trong lựa chọn của họ để ngăn chặn và chẳng nằm trong quyền năng của họ để sửa đổi. Nếu một người trở nên nực cười vì bất kỳ hoàn cảnh nào kể trên, anh ta sẽ càng trở nên nực cười hơn nữa khi tỏ ra mất tự nhiên vì chúng. Lẽ ra chúng phải tạo cho anh ta cơ hội để thể hiện một tinh thần cao thượng, và khỏa lấp những khiếm khuyết không nằm trong quyền năng của mình bằng những phẩm chất hoàn thiện; hay mượn một ẩn dụ vô cùng thông minh của một tác giả lỗi lạc, anh ta nên bắt chước Caesar, người vì cái đầu trọc của mình mà đã che giấu khuyết điểm ấy dưới những vòng nguyệt quế.

C.

Chú thích 1: Bức thư này là của John Hughes.

Chú thích 2: Bà Barbier

Chú thích 3: Iliad, i. 225.

Mục lục

No. 232 Thứ Hai, ngày 26 tháng 11 năm 1711 Hughes1

Nihil largiundo gloriam adeptus est.

Sallust.

Người bạn khôn ngoan và nhân hậu của tôi, ngài Sir Andrew Freeport, chia sẻ thời gian của mình gần như đồng đều giữa thành thị và vùng quê: Thời gian ở thành phố của ông được dốc cạn cho công chúng và việc quản lý gia tài riêng; và sau mỗi ba hoặc bốn ngày sống như thế, ông lui về dinh cơ của mình cách thành phố vài dặm trong chừng ấy ngày để tận hưởng bản thân, gia đình và bạn bè. Cứ thế, công việc và sự giải trí, hay đúng hơn là đối với ngài Andrew, lao động và nghỉ ngơi, hỗ trợ lẫn nhau. Chúng luân phiên nhau với nhịp độ dồn dập đến mức chẳng có trạng thái nào trở thành thói quen hay chiếm lĩnh toàn bộ con người ông; và ông cũng chẳng thể nào cảm thấy ngán ngẩm bất kỳ bên nào. Tôi thường bắt gặp ông tại câu lạc bộ của chúng tôi với tâm trạng vui vẻ, dẫu đôi khi nét mặt vẫn phảng phất nỗi bận tâm: Nhưng tại chốn điền viên yên ả của mình, ông luôn thả lỏng và là một người bạn tuyệt vời như tôi hằng mong ước; và do đó tôi hiếm khi bỏ lỡ cơ hội đồng hành cùng ông mỗi khi ông ngỏ lời mời gọi.

Hôm nọ, ngay khi chúng tôi vừa bước lên cỗ xe ngựa, hai ba kẻ ăn xin ở mỗi bên liền bám chặt lấy cửa xe và nài nỉ chúng tôi bố thí bằng thứ nghệ thuật hùng biện quen thuộc về người vợ hoặc người chồng đang đau ốm ở nhà, cùng ba bốn đứa con thơ dại đang chết cóng vì đói rét. Chúng tôi đarng phải móc tiền bố thí để tống khứ sự nài nỉ phiền nhiễu ấy; và rồi chúng tôi tiếp tục hành trình giữa những lời chúc phúc và tán dương của đám người đó.

'Thế đấy,' ngài Andrew cất lời, 'chúng ta ra đi mang theo những lời cầu nguyện và chúc lành của đám ăn xin, và có lẽ cả sức khỏe của chúng ta sẽ được cạn chén ở quán rượu kế tiếp nữa: Thế nên tất cả những gì chúng ta có thể tự hào chỉ là việc mình vừa thúc đẩy ngành thương mại của chủ quán trọ và nguồn thu thuế của chính phủ. Nhưng chúng ta nhìn thấy được bao nhiêu lọn len trên lưng những sinh linh tội nghiệp kia chứ? Và khi chúng lọt vào tầm mắt chúng ta lần tới, chắc chắn chúng chẳng khá khẩm hơn là bao; chúng mãi mãi phải sống trong những bộ quần áo rách rưới để trông ra vẻ là những đối tượng đáng thương. Nếu gia đình chúng cũng đúng là những gì được miêu tả, thì chắc chắn chúng không thể mặc đẹp hơn, và phải chịu cảnh thiếu thốn cái ăn nhiều hơn thế: Người ta sẽ nghĩ rằng khoai tây là tất cả nguồn lương thực của chúng, còn nước lã là thức uống duy nhất; và khi ấy những khách hàng cừ khôi cỡ nào mới chịu mua len, ngũ cốc và gia súc từ những người nông dân? Những khách hàng như thế, và mức tiêu thụ như thế, chẳng thể nào khác hơn là thúc đẩy lợi ích của giới địa chủ và giữ vững giá thuê đất của các bậc quý ông.'

Nhưng trong số tất cả những người đang sống, chúng ta, những thương nhân sống bằng nghề buôn bán, không bao giờ nên cổ súy cho kẻ ăn xin. Hàng hóa chúng ta xuất khẩu thực chất là sản vật từ đất đai, nhưng phần lớn giá trị của chúng lại nằm ở sức lao động của con người: Thế nhưng chúng ta sẽ xuất khẩu bao nhiêu phần trong sức lao động của những con người ấy khi chúng ta thuê họ ngồi yên một chỗ? Bản thân khoản tiền bố thí mà họ nhận được từ chúng ta chính là tiền công của sự lười nhác. Tôi từng suy nghĩ rằng không một ai được phép nhận trợ cấp từ giáo xứ, hay đi xin ăn trên đường phố, cho đến khi người ấy trước tiên đã tự mình nỗ lực kiếm sống nhiều nhất có thể bằng chính đôi tay lao động của mình; và khi đó công chúng mới chỉ nên đóng thuế để bù đắp vào phần thiếu hụt. Nếu quy tắc này được tuân thủ nghiêm ngặt, chúng ta sẽ bắt gặp ở khắp mọi nơi một lực lượng đông đảo những người lao động mới, điều mà theo mọi xác suất sẽ làm giảm giá thành của tất cả các mặt hàng sản xuất của chúng ta. Bản chất của thương mại chính là mua rẻ bán đắt. Người thương nhân phải thực hiện chi phí ban đầu rẻ nhất có thể, để thu về lợi nhuận lớn hơn khi xuất kho trở lại; và chẳng có gì giúp anh ta làm được điều này tốt hơn là việc hạ giá thành lao động trên tất cả các mặt hàng sản xuất của chúng ta. Điều này cũng sẽ là con đường ngắn nhất để gia tăng số lượng thị trường nước ngoài của chúng ta: Việc giảm giá thành sản phẩm sẽ bù đắp cho chi phí vận chuyển nó đến những vùng đất xa xôi hơn; và hậu quả tất yếu này sẽ mang lại lợi ích song phương cho cả giới địa chủ lẫn giới thương nhân. Vì sự gia tăng khổng lồ của lực lượng lao động sẽ mang lại kết quả tốt đẹp này cho cả thương nhân lẫn quý ông; lòng hảo tâm của chúng ta đối với những kẻ ăn xin thông thường, cùng mọi vật cản khác đối với sự gia tăng của người lao động, đều mang lại tác hại tồi tệ như nhau cho cả hai.'

Ngài Andrew sau đó tiếp tục khẳng định rằng việc giảm giá thành sản phẩm thông qua sự bổ sung của vô số bàn tay lao động mới sẽ chẳng gây ra sự bất tiện nào cho bất kỳ ai: Nhưng nhận thấy tôi có vẻ giật mình trước lời khẳng định đó, ông dừng lại một chút rồi tiếp tục câu chuyện.

'Nó có vẻ,' ông nói, 'là một nghịch lý khi giá trị sức lao động lại bị giảm xuống mà không cần cắt giảm tiền công, hoặc tiền công có thể bị cắt giảm mà không gây ra chút bất tiện nào cho người lao động, thế nhưng chẳng có gì chắc chắn hơn việc cả hai điều đó đều có thể xảy ra. Tiền công của người lao động chiếm phần lớn giá trị của mọi thứ hữu ích; và nếu giá cả của mọi thứ khác giảm xuống tỷ lệ thuận với tiền công, thì mỗi người lao động dẫu nhận ít tiền công hơn vẫn có thể mua sắm đủ những nhu yếu phẩm cho cuộc sống; vậy thì sự bất tiện sẽ nằm ở đâu chứ? Thế nhưng giá trị lao động vẫn có thể giảm xuống nhờ bổ sung thêm nhiều bàn tay lao động vào một mặt hàng sản xuất, mà tiền công của mỗi cá nhân vẫn giữ nguyên mức cao như trước. Ngài William Petty đáng kính đã đưa ra những minh chứng cho điều này trong một số tác phẩm của ông; một trong số đó, theo tôi nhớ, là chiếc đồng hồ, thứ mà tôi sẽ cố gắng giải thích sao cho phù hợp với mục đích hiện tại của mình. Chắc chắn là một chiếc đồng hồ đơn lẻ không thể được chế tạo với giá rẻ tương ứng bởi chỉ một người, so với việc làm một trăm chiếc đồng hồ bởi một trăm người; bởi vì có vô vàn công đoạn phức tạp trong quá trình chế tạo, không một cá nhân nào có thể tự mình đảm đương hoàn hảo tất cả các bộ phận; quá trình sản xuất sẽ trở nên lê thê và cuối cùng chỉ cho ra những sản phẩm thô kệch: Thế nhưng nếu một trăm chiếc đồng hồ được chế tạo bởi một trăm người thợ, phần vỏ có thể giao cho người này, mặt đồng hồ cho người khác, các bánh răng cho người khác nữa, lò xo cho người khác, và mỗi bộ phận còn lại đều do một nghệ nhân chuyên trách đảm nhận; vì sẽ chẳng cần phải làm phiền bất kỳ ai với quá nhiều công đoạn phức tạp, mỗi người thợ sẽ có thể hoàn thành phần việc đơn lẻ của mình với tay nghề và tốc độ cao hơn, và một trăm chiếc đồng hồ sẽ được hoàn thành chỉ trong một phần tư thời gian so với chiếc đồng hồ đầu tiên, và chi phí cho mỗi chiếc cũng chỉ bằng một phần tư, dẫu cho tiền công của mỗi người thợ là như nhau. Việc giảm giá thành sản phẩm sẽ làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ, toàn bộ lực lượng lao động ấy vẫn sẽ tiếp tục có việc làm và được trả công xứng đáng. Quy tắc tương tự sẽ đúng với ngành may mặc, đóng tàu, và tất cả mọi ngành nghề khác. Và như thế, sự bổ sung thêm bàn tay lao động vào các mặt hàng sản xuất của chúng ta sẽ chỉ làm giảm giá thành của chúng; người lao động vẫn sẽ nhận được mức tiền công như cũ, và do đó sẽ có đủ khả năng mua sắm thêm nhiều tiện nghi cuộc sống hơn; thế nên mọi lợi ích trong quốc gia đều sẽ nhận được quả ngọt từ sự gia tăng của lực lượng lao động.'

Bên cạnh đó, tôi chẳng thấy có lý do gì cho lòng hảo tâm đối với những kẻ ăn xin thông thường này, bởi vì mỗi kẻ ăn xin đều là cư dân của một giáo xứ, và mọi giáo xứ đều đóng thuế để duy trì những người nghèo của chính họ.

Phần tôi, tôi không thể lấy làm phấn chấn cho lắm trước những đạo luật từng được ban hành, những điều luật lo việc nuôi dưỡng người nghèo chu đáo hơn là tạo việc làm cho họ. Chúng ta có một truyền thống từ các bậc tiền bối rằng sau khi đạo luật đầu tiên trong số đó ra đời, họ từng bị chế nhạo bằng bài ca nổi tiếng:

Hãy treo cổ nỗi buồn, và vứt bỏ mọi âu lo,

Giáo xứ có bổn phận phải cưu mang chúng ta, v.v.

Và nếu chúng ta tỏ ra tốt bụng đến mức nuôi dưỡng họ mà bắt họ phải lao động, họ chẳng thể làm gì kém hơn để đáp lễ ngoài việc hát vang bài Những kẻ ăn xin vui vẻ.

Vậy thì sao nào? Phải chăng tôi chống lại mọi hành động từ thiện? Cầu Chúa phù hộ! Tôi chẳng biết đến bất kỳ đức hạnh nào trong Phúc Âm lại được khuyến khích áp dụng bằng những lời lẽ thiết tha hơn thế.

Ta đã đói và các ngươi không cho ăn, ta khát và các ngươi không cho uống, ta trần truồng và các ngươi không mặc áo cho, ta là khách lạ và các ngươi không tiếp rước, ta đau yếu và ở tù mà các ngươi không thăm viếng.

Chúa Cứu Thế đáng kính của chúng ta xem việc thực thi hay phớt lờ lòng bác ái đối với người nghèo chính là việc thực hiện hay vi phạm bổn phận này đối với chính Ngài. Tôi sẽ cố gắng tuân thủ ý muốn của Chúa và Chủ nhân của mình; và do đó nếu một người chăm chỉ chịu đựng lao động gian khổ nhất và ăn uống kham khổ nhất, thà chịu đựng sự nhục nhã khi nhận trợ cấp từ giáo xứ hay đi xin ăn ngoài đường phố, thì đây chính là kẻ đói, kẻ khát, kẻ trần truồng; và tôi phải tin rằng, nếu bất kỳ người nào tìm đến đây để ẩn náu trước sự bách hại hoặc áp bức, thì đây chính là người khách lạ, và tôi phải tiếp rước họ. Nếu bất kỳ đồng bào nào của chúng ta rơi vào tay bọn ngoại đạo, và sống trong cảnh tù đày khổ sở, đây chính là người trong tù, và tôi nên đóng góp để chuộc họ ra. Tôi nên quyên góp cho một bệnh viện thương phế binh, để cứu vớt càng nhiều thần dân hữu ích càng tốt; nhưng tôi sẽ chẳng ban phát bất kỳ khoản báu vật nào của mình cho một viện tế bần của những kẻ lười nhác; và vì lý do tương tự, tôi sẽ không xem việc mình từ chối bố thí cho những kẻ ăn xin thông thường ấy là một nỗi hổ thẹn. Thế nhưng chúng ta thường vẽ ra những quy tắc hay ho hơn khả năng thực hành của mình; chúng ta cảm thấy hổ thẹn nếu không hùa theo những tập tục sai lầm của đất nước mình; nhưng đồng thời, tôi không thể không nghĩ rằng đó là một nỗi nhục nhã tồi tệ hơn cả tội thề thốt thông thường, khi những kẻ lười nhác và đồi bại được phép, nhân danh Thiên Chúa và tất cả những gì linh thiêng nhất, tống tiền từ những tấm lòng Cơ Đốc và nhân hậu để duy trì một lối sống trụy lạc, thứ luôn được nuôi dưỡng nhưng chẳng bao giờ được cứu rỗi.

Z.5

Chú thích 1: Hay Henry Martyn?

Chú thích 2: Tổng thanh tra Ireland dưới thời Charles II. Xem tác phẩm Bàn về thuế (1689).

Chú thích 3: Người nghèo lười nhác của chúng ta cho đến thời Henry VIII vẫn sống nhờ của bố thí. Sau khi các tu viện bị giải thể, những thí nghiệm đã được thực hiện để chăm sóc họ, và theo đạo luật 43 Eliz., các giám thị đã được bổ nhiệm và các giáo xứ có trách nhiệm duy trì những người nghèo không nơi nương tựa của họ và tìm việc làm cho những kẻ tráng kiện. Vào thời Nữ hoàng Anne, Luật người nghèo đã trở nên rắc rối và phiền phức hơn bởi những điều luật về chủ đề này được cố gắng thực hiện sau thời kỳ Phục hưng.

Chú thích 4: bạn xuyên suốt, và trong lần tái bản đầu tiên.

Chú thích 5: X.

Mục lục

No. 233 Thứ Ba, ngày 27 tháng 11 năm 1711 Addison

—Tanquam hec sint nostri medicina furoris,

Aut Deus ille malis hominum mitescere discat.

Virg.

Trong bài viết này, tôi sẽ thực hiện lời hứa đã đưa ra với công chúng, bằng cách gửi đến họ bản dịch của một bản thảo tiếng Hy Lạp nhỏ, được cho là một phần của những hồ sơ được lưu giữ trong đền thờ Apollo, trên mõm đá Leucate: Đó là một lịch sử ngắn gọn về Vực Tình Nhân, và được đề tựa:

Bản tường thuật về những người, nam lẫn nữ, từng dâng lời nguyện cầu trong đền thờ Pythian Apollo, vào kỳ Olympiad thứ bốn mươi sáu, và gieo mình từ mõm đá Leucate xuống biển Ionian, nhằm chữa trị căn bệnh tình yêu.

Bản tường thuật này ở nhiều phần rất khô khan, khi chỉ nhắc đến tên của kẻ si tình đã gieo mình xuống vực, người mà họ nhảy vì nàng ta hoặc chàng ta, và kể lại vắn tắt rằng họ đã được chữa lành, hoặc thiệt mạng, hoặc bị tàn phế bởi cú ngã. Quả thực, nó liệt kê tên tuổi của quá nhiều người thiệt mạng vì cú nhảy ấy đến mức trông nó chẳng khác nào một bảng thống kê tử vong, nếu tôi dịch nó ra đầy đủ; do đó tôi đã làm một bản tóm lược và chỉ trích ra những tình tiết đặc biệt có điều gì đó phi thường, hoặc trong trường hợp, hoặc trong cách chữa lành, hoặc trong số phận của nhân vật được nhắc đến trong đó. Sau lời tựa ngắn ngủi này, xin mời đón đọc bản tường thuật như sau.

Battus, con trai của Menalcas người Sicily, gieo mình xuống vì nữ nhạc sĩ Bombyca: Đã dứt bỏ được niềm đam mê nhưng mất đi chân phải và tay phải, bị gãy trong cú ngã.

Melissa, đem lòng yêu Daphnis, bị bầm dập khắp người nhưng toàn mạng thoát chết.

Cynisca, vợ của Aeschines, đem lòng yêu Lycus; và Aeschines chồng nàng đem lòng yêu Eurilla; (điều từng khiến cặp vợ chồng này vô cùng khổ sở với nhau trong suốt nhiều năm trời) cả chồng lẫn vợ đều đồng thuận cùng nhảy; cả hai đều thoát nạn và đã sống vô cùng hạnh phúc bên nhau kể từ đó.

Larissa, một trinh nữ xứ Thessaly, bị Plexippus ruồng bỏ sau ba năm theo đuổi; nàng đứng trên bờ mõm đá một lúc, và sau khi ném xuống một chiếc nhẫn, một chiếc vòng tay, cùng một bức tranh nhỏ, kèm theo những món quà khác từng nhận được từ Plexippus, nàng tự thả mình xuống biển và được vớt lên khi vẫn còn sống.

N.B. Trước khi nhảy, Larissa đã dâng cúng một bức tượng Thần Tình Yêu bằng bạc trong đền thờ Apollo.

Simaetha, đem lòng yêu Daphnis người Myndus, đã thiệt mạng trong cú ngã.

Charaxus, anh trai của Sappho, đem lòng yêu nàng kỹ nữ Rhodope, đã nướng sạch toàn gia tài cho ả, được em gái khuyên nên nhảy ngay từ thuở mới mặn nồng nhưng không chịu nghe lời cho đến khi bị khánh kiệt chỉ còn lại một đồng talent; sau khi bị Rhodope phụ bạc, cuối cùng quyết định gieo mình xuống vực. Đã thiệt mạng.

Aridaeus, một thiếu niên tuấn tú xứ Epirus, đem lòng yêu Praxinoe, vợ của Thespis, thoát nạn vô sự, ngoại trừ việc bị gãy hai chiếc răng cửa và chiếc mũi hơi bẹt xuống.

Cleora, một góa phụ ở Ephesus, vì quá đau buồn trước cái chết của người chồng nên đã quyết định gieo mình xuống vực nhằm rứt bỏ niềm thương nhớ khôn nguôi đối với ký ức về ông; nhưng khi vừa đến mõm đá, nàng gặp Dimachus người Miletus, và sau một hồi trò chuyện ngắn ngủi, nàng dẹp bỏ ý định nhảy vực và kết hôn với ông ngay trong đền thờ Apollo.

N.B. Bộ tang phục góa phụ của nàng vẫn còn treo lủng lẳng ở góc phía tây của ngôi đền.

Olphisa, người đánh cá, sau khi hứng chịu một cái tát tai từ Thestylis vào ngày hôm trước và quyết định chấm dứt mọi quan hệ với nàng, đã gieo mình xuống và toàn mạng thoát chết.

Atalanta, một bà cô già độc thân, kẻ từng gieo sầu cho hai ba chàng trai tuyệt vọng lao mình xuống vực này từ nhiều năm trước do sự tàn nhẫn của ả; nay ở tuổi năm mươi lăm, đem lòng yêu một sĩ quan xứ Sparta, đã bị gãy cổ trong cú ngã.

Hipparchus, vì quá say đắm người vợ của chính mình vốn đang say mê Bathyllus, đã gieo mình xuống và chết vì cú ngã; ngay sau đó người vợ liền kết hôn với người tình của ả.

Tettyx, thầy dạy khiêu vũ, đem lòng yêu Olympia, một phu nhân người Athens, đã tung mình khỏi vách đá với sự uyển chuyển tuyệt vời nhưng bị tàn phế trong cú ngã.

Diagoras, kẻ cho nặng lãi, đem lòng yêu cô đầu bếp nhà mình; hắn ngó nghiêng xuống vực thẳm mấy bận nhưng chột dạ hoảng sợ, bèn quay gót trở về và cưới nàng ngay chiều hôm đó.

Cinaedus, sau khi điền tên mình vào hồ sơ Pythian, lúc được hỏi tên người mà hắn nhảy vì nàng ta, vì quá xấu hổ không dám tiết lộ nên đã bị gạt tên ra và không được phép nhảy.

Eunica, một thiếu nữ ở Paphos, mười chín tuổi, đem lòng yêu Eurybates. Bị thương trong cú ngã nhưng đã hồi phục.

N.B. Đây là lần nhảy thứ hai của nàng.

Hesperus, một thanh niên xứ Tarentum, đem lòng yêu con gái chủ nhà. Đã chết đuối do thuyền cứu hộ đến không kịp.

Sappho người Lesbos, đem lòng yêu Phaon, đến đền thờ Apollo trong trang phục hệt như một cô dâu mặc váy trắng như tuyết. Nàng đội vòng hoa sim trên đầu, và tay cầm nhạc cụ nhỏ do chính mình phát minh. Sau khi cất tiếng hát bài thánh thi dâng kính Apollo, nàng treo vòng hoa của mình ở một bên bệ thờ và chiếc đàn hạc ở bên kia. Nàng liền vén váy lên hệt như một trinh nữ xứ Sparta, và giữa hàng ngàn khán giả đang thấp thỏm lo lắng cho sự an toàn của nàng đồng thời dâng lời cầu nguyện cho sự giải thoát của nàng, nàng sải bước tiến thẳng ra mõm đá cao nhất, nơi sau khi ngâm nga một đoạn thơ của chính mình mà chúng ta không thể nghe rõ, nàng đã gieo mình khỏi vách đá với một sự gan dạ chưa từng thấy ở bất kỳ ai từng thử qua cú nhảy nguy hiểm ấy. Nhiều người có mặt thuật lại rằng họ nhìn thấy nàng rơi xuống biển, từ đó nàng không bao giờ ngoi lên nữa; dẫu có những người khác khẳng định rằng nàng chưa bao giờ chạm tới đáy vực, mà đã hóa thành một con thiên nga ngay khi đang rơi, và họ nhìn thấy nàng đang lượn lờ trên bầu trời trong hình hài ấy. Nhưng việc sắc trắng và sự phấp phới của trang phục có đánh lừa những kẻ ngước nhìn nàng hay không, hoặc liệu nàng có thực sự được biến đổi thành loài chim mang âm điệu ca hát và sầu thảm ấy hay chăng, vẫn là một điều hoài nghi trong lòng người dân Lesbos.

Alcaeus, nhà thơ trữ tình nổi tiếng từng có thời gian say đắm Sappho, đã đến mõm đá Leucate vào chiều tối hôm đó, nhằm thực hiện cú nhảy vì nàng; nhưng khi hay tin Sappho đã có mặt ở đó trước mình và thi thể của nàng không tài nào tìm thấy ở bất cứ đâu, ông đã vô cùng cao thượng tiếc thương cho cái chết của nàng, và được cho là đã sáng tác bài thơ thứ một trăm hai mươi lăm của mình nhân dịp đó.

Đã nhảy trong kỳ Olympiad này: 2502

Nam: 124

Nữ: 126

Được chữa lành: 1203

Nam: 51

Nữ: 69

C.

Chú thích 1: nàng sải bước

Chú thích 2: 350, và trong lần tái bản đầu tiên.

Chú thích 3: 150, được đính chính bằng phần Lỗi in sai.

Mục lục

No. 234 Thứ Tư, ngày 28 tháng 11 năm 1711 Steele

Vellum in amicitia erraremus.

Hor.1

Người ta rất thường xuyên nghe thấy mọi người, sau khi một câu chuyện được kể lại với vài tình tiết giải trí, lại kể lặp lại nó với những chi tiết vụn vặt phá hỏng trọn vẹn miếng hài nhưng lại làm sáng tỏ tính chân thực của câu chuyện. Lối kể thật thà này, dẫu vô duyên nhưng lại ẩn chứa nét đáng yêu nào đó, bởi vì nó xuất phát từ tình yêu sự thật, ngay cả trong những hoàn cảnh phù phiếm. Nếu những sự đính chính thật thà như thế không hứa hẹn một người bạn đồng hành dễ chịu, thì chúng lại đảm bảo một người bạn chân thành; chính vì lý do đó mà chúng ta nên dành cho họ chút thời gian, nếu vô tình rơi vào nhóm của họ, để chỉnh đốn lại những vấn đề vốn chẳng gây cho ta chút tổn hại nào, dù cho sự thật có theo chiều hướng này hay chiều hướng khác. Những lời nói dối được thốt ra từ sự kiêu ngạo và phô trương là thứ mà một con người nên vạch trần để tự vệ, cốt để không bị kẻ khác giẫm đạp đắc thắng; những lời nói dối xuất phát từ ác ý là thứ mà anh ta nên phơi bày, vì lợi ích của chính mình lẫn phần còn lại của nhân loại, bởi vì ai nấy đều phải đứng lên chống lại kẻ thù chung; thế nhưng kẻ chuyên nói dối vô ơn (hoặc đưa chuyện) thì các nhà tranh luận cho rằng nên được dung thứ, bởi vì nó mang lại điều tốt cho người này và chẳng gây tổn hại cho ai. Kẻ từng chạy thục mạng khỏi một trận chiến nơi quân Athens bị đánh bại, và loan tin rằng họ đã giành chiến thắng vang dội, khiến toàn thể thành phố chìm đắm trong niềm hân hoan tột độ, đã bị các quan chức quở trách vì lời nói dối của mình; nhưng hắn đã tự biện minh bằng cách thốt lên rằng: Hỡi người Athens! Ta có phải kẻ thù của các ngươi đâu khi đem lại cho các ngươi hai ngày hạnh phúc? Tên này đã đối xử với cả một cộng đồng hệt như cách mà một người quen của tôi thực hiện mỗi ngày hắn sống trong một mức độ nổi bật nào đó đối với từng cá nhân cụ thể. Hắn luôn luôn nói dối để đưa mọi người vào trạng thái vui vẻ, và, như Plato từng nói, việc các y sĩ được phép nói dối bệnh nhân để vực dậy tinh thần của họ là điều có thể chấp nhận được, tôi đâm ra hoài nghi nửa vời rằng liệu cung cách của bạn tôi có đáng được dung thứ tương đương hay không. Thói quen của hắn là tỏ ra ngạc nhiên trước gương mặt vui tươi của một người mà hắn quan sát thấy đang thiếu tự tin; và thường thì nhờ cách đó hắn biến lời nói dối của mình thành sự thật.

Hắn sẽ, hệt như thể chẳng hề hay biết chút gì về hoàn cảnh ấy, hỏi một người mà hắn biết đang có xích mích với kẻ khác rằng, cớ sao ngài X nào đó, khi gọi tên đối thủ của kẻ kia, lại không hào hứng vỗ tay tán thưởng đối phương nồng nhiệt như cách mà hắn từng nghe thấy trước kia? Hắn quả thực từng nói (hắn tiếp lời) rằng tôi thà chọn người đàn ông đó làm bạn còn hơn bất kỳ ai ở nước Anh; nhưng còn đối với kẻ thù thì — Điều này làm tan chảy trái tim kẻ đang đối thoại với hắn, người vốn chẳng mong đợi điều gì ngoài những lời chế giễu cay độc từ phía đó. Tùy theo việc nhìn thấy các thủ đoạn của mình thành công, hắn lại bước sang phía đối lập và bảo với người kia rằng hắn không tài nào tưởng tượng nổi mọi chuyện lại xảy ra thế này, khi mà có những người quá ư ít hiểu biết về nhau; anh đã ăn nói lạnh lùng làm sao với một quý nhân từng dành cho anh nhiều lời tán dương tốt đẹp hơn, để tôi nói cho anh hay, bất kỳ ai đang sống trên đời này cũng chẳng đáng nhận được. Thành công của một trong những tình huống kiểu này là lần sau khi một trong hai kẻ kình địch thoáng thấy đối phương, hắn liền cất tiếng hắng giọng gọi với theo ngay trên phố đông, và thế là họ phải tạt vào quán rượu gần nhất để đập chai cạn chén, dẫu trước đó họ thường cố tình đi đường vòng để tránh mặt nhau. Hắn sẽ nói với một giai nhân rằng cô ấy vừa được ca tụng bởi một giai nhân khác, thậm chí hắn còn khẳng định rằng người phụ nữ nọ đã ưu ái dành sự đánh giá cao hơn cho người phụ nữ mà hắn đang trò chuyện trong một đặc điểm mà chính cô ấy vốn rất tự hào. Sự bối rối dễ chịu nhất tưởng chừng có thể hình dung được được tạo ra khắp cả thành phố nhờ những thủ đoạn gián tiếp của bạn tôi; bạn sẽ bắt gặp cảnh tượng một chuyến thăm hỏi được đáp lễ sau nửa năm trời vắng bóng, dẫu cho suốt khoảng thời gian ấy họ ngày ngày chửi rủa lẫn nhau. Họ gặp gỡ nhau giữa muôn vàn lời than khóc vì quãng thời gian xa cách quá đỗi dài lâu, mỗi bên đều tự nhận mình là kẻ có lỗi lớn hơn, nếu người kia có thể rộng lượng tha thứ, thứ mà họ chẳng có lấy một lý do trên đời nào để hy vọng ngoại trừ việc thấu hiểu sự nhân hậu của đối phương. Rất thường xuyên, cả một tá những kẻ chuyên mắng chửi ở mỗi bên phải mỏi mệt kiệt sức trong việc đính chính những điều họ từng thốt ra trong suốt thời gian chiến tranh giữa các phe phái; và toàn bộ vòng tròn quen thuộc được đặt vào hàng ngàn cảm xúc cùng tâm tư dễ chịu, thay vì những đớn đau của sự giận dữ, đố kỵ, gièm pha và ác ý.

Gửi Spectator.

Devonshire, ngày 14 tháng 11 năm 1711.

Thưa Ngài,

Có một trong những quý ông hào hoa chốn thành thị của ngài vừa đặt chân đến vùng lân cận này cách đây hai hôm, khi tới nơi được hầu hạ bởi một tên đầy tớ riêng, bên cạnh một người dân quê được hắn thuê làm hướng dẫn viên, đã khơi dậy sự tò mò của cả làng muốn tìm hiểu xem hắn là ai và từ đâu tới. Người dân quê (người được họ tiếp cận vì dễ bề trò chuyện nhất) cũng chẳng biết gì hơn ngoài việc quý ông này đến từ London để đi du lịch ngắm cảnh thời trang, và theo như anh ta nghe đồn, là một kẻ tự do tư tưởng (free-thinker): Tôn giáo ấy là gì, anh ta không thể biết; và phần anh ta, nếu họ không bảo với anh ta rằng gã đó là một kẻ tự do tư tưởng, thì qua cách nói chuyện anh ta sẽ đoán rằng gã chẳng khá khẩm gì hơn một kẻ ngoại đạo; chỉ trừ việc gã đối xử rất tử tế với anh ta và chuốc cho anh ta say khướt hai bận trong một ngày, ngoài những khoản đã thỏa thuận từ trước.

Tôi không xem sự ngây ngô này, cùng vài câu hỏi kỳ quặc khác mà tôi sẽ không làm phiền ngài kể lể, là điều đáng ngạc nhiên, và càng không thể nghĩ rằng giới trẻ tài cao hiểu rộng của chúng ta có lý do để cười cợt. Chẳng có sự bắt buộc nào đòi hỏi mọi địa chủ ở Đại Anh phải biết từ Free-thinker nghĩa là gì; nhưng thật đáng tiếc biết bao nếu những kẻ tự hào về cái danh xưng kiêu ngạo ấy không được giáo dục tốt hơn một chút về những gì mà nó đáng lẽ phải đại diện; và rằng họ không nên tự huyễn hoặc bản thân rằng một người thực sự và đích thực là một kẻ tự do tư tưởng theo bất kỳ nghĩa chấp nhận được nào, đơn thuần chỉ vì bản thân hắn là một kẻ vô thần, hoặc một kẻ dị giáo thuộc bất kỳ tôn giáo phân biệt nào khác. Người ta có thể nghi ngờ, với đầy đủ lý do chính đáng, liệu trong tự nhiên từng có thế hệ nào hèn nhát, nô lệ và cuồng tín hơn bộ tộc của giới Beaux Esprits, hiện đang rất thịnh hành trên hòn đảo này hay không. Yêu sách tự nhận là những kẻ tự do tư tưởng của họ chẳng khác gì yêu sách của bọn đồi trụy muốn được sống tự do, và của những kẻ dã man muốn được làm người tự do, nghĩa là họ có thể nghĩ bất cứ điều gì họ muốn, và đắm chìm vào bất kỳ ảo tưởng nào mà sự ngông cuồng trong xu hướng hoặc trí tưởng tượng của họ gợi lên; họ có thể suy nghĩ ngớ ngẩn hệt như cách họ ăn nói và hành động, và không tài nào chịu đựng nổi trí tuệ của mình bị kiềm chế bởi những thứ câu nệ hình thức như sự đoan trang và lẽ thông thường: Suy luận, sự gắn kết, tính nhất quán, và tất cả mọi quy tắc của lý trí do đó đều bị họ khinh miệt, vì cho rằng chúng quá mức chính xác và máy móc đối với những con người thụ hưởng nền giáo dục phóng khoáng.

Điều này, theo những gì tôi từng có thể tìm hiểu từ các tác phẩm của họ hoặc từ quan sát của chính mình, là một bức tranh chân thực về kẻ tự do tư tưởng người Anh. Vị khách của chúng ta ở đây, kẻ đã khơi mào cho bài viết này, mang theo một hệ thống lẽ thông thường hoàn toàn mới, những chi tiết cụ thể mà tôi vẫn chưa tường tận, nhưng sẽ không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để tìm hiểu xem liệu nó có chứa đựng bất kỳ điều gì xứng đáng với sự chú ý của ngài Spectator hay không. Trong lúc chờ đợi, thưa ngài, tôi không khỏi nghĩ rằng sẽ rất có ích cho nhân loại nếu ngài đưa chủ đề này vào tầm ngắm xem xét của chính mình, và thuyết phục lớp trẻ đầy triển vọng của quốc gia chúng ta rằng sự phóng túng không phải là tự do; hay nếu một nghịch lý như thế không được thấu hiểu, thì sự thiên vị đối với chủ nghĩa vô thần không phải là sự công tâm.

Tôi kính thư, thưa Ngài, Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài,

Philonous.

Chú thích 1: Splendide mendax. Hor.

Chú thích 2: nghĩ

Chú thích 3: nghĩ

Mục lục

No. 235 Thứ Năm, ngày 29 tháng 11 năm 1711 Addison

Populares

Vincentum strepitus

Hor.

Chẳng có lĩnh vực nào nằm trong phạm vi trách nhiệm của một quan sát viên (Spectator) sát sao hơn các buổi biểu diễn và trò giải trí công cộng; và vì trong số đó chẳng có thứ nào có thể mạo muội cạnh tranh với những chương trình giải trí tao nhã được trình diễn tại các nhà hát của chúng ta, tôi thiết nghĩ mình có bổn phận đặc biệt phải để mắt đến mọi thứ đáng chú ý diễn ra trong những hội đồng đông đúc và tao nhã như thế.

Người ta quan sát thấy rằng trong những năm gần đây, có một nhân vật nào đó xuất hiện ở tầng lăng trên của nhà hát, khi cảm thấy hài lòng với bất kỳ tình tiết nào được diễn trên sân khấu, liền bày tỏ sự tán thành của mình bằng một cú gõ mạnh xuống các dãy ghế hoặc tấm ốp tường bằng gỗ, thứ âm thanh có thể nghe thấy vang vọng khắp toàn bộ nhà hát. Nhân vật này thường được biết đến với biệt danh Thợ đóng rương trên lăng trên (The Trunk-maker in the upper Gallery). Liệu có phải cú đập mà hắn tạo ra trong những dịp ấy gợi nhớ đến tiếng động thường vang vọng trong các xưởng của những nghệ nhân như thế, hay người ta cho rằng hắn vốn là một thợ đóng rương thực thụ, sau khi hoàn tất công việc trong ngày thường dùng chiếc búa trên tay để giải khuây tâm trí tại những điểm giải trí công cộng này, tôi không thể chắc chắn. Tôi biết có một số kẻ ngớ ngẩn đến mức tưởng tượng rằng đó là một hồn ma ám ảnh tầng lăng trên và thỉnh thoảng phát ra những âm thanh kỳ lạ đó; và lại càng tin sái cổ hơn khi họ quan sát thấy hắn tỏ ra ồn ào hơn bình thường mỗi khi bóng ma của Hamlet xuất hiện. Những người khác lại đồn đại rằng đó là một kẻ câm, đã chọn cách thức bày tỏ bản thân này mỗi khi bị cuốn đi bởi bất kỳ điều gì hắn nhìn thấy hoặc nghe thấy. Lại có những kẻ khăng khăng cho rằng đó là tay gióng sấm sét của nhà hát, kẻ đang tự tung tự tác theo cách này ở tầng lăng trên khi chẳng có việc gì làm trên mái nhà.

Nhưng sau khi bận rộn thu thập những thông tin tốt nhất có thể về một vấn đề trọng đại nhường này, tôi nhận thấy rằng gã thợ đóng rương, theo cách gọi quen thuộc của mọi người, là một người đàn ông da ngăm vạm vỡ mà chẳng ai biết đích thực là ai. Hắn thường nhoài người về phía trước trên một khúc gỗ sồi khổng lồ với sự tập trung cao độ vào mọi diễn biến trên sân khấu. Người ta chưa từng thấy hắn mỉm cười; nhưng hễ nghe thấy bất kỳ điều gì làm hắn vừa lòng, hắn liền nhấc bổng cây gậy bằng cả hai tay và nện nó xuống mảnh gỗ tiếp theo nằm trên đường đi của mình với một lực vô cùng mãnh liệt; sau đó, hắn lại thu mình về tư thế cũ, cho đến khi có một tình tiết mới kích động hắn hành động trở lại.

Người ta đã quan sát thấy cú nện của hắn chuẩn xác đến mức nhà phê bình sáng suốt nhất cũng chẳng thể tìm ra điểm nào để bắt bẻ. Ngay khi một tư tưởng rực rỡ được nhà thơ cất lên, hoặc một vẻ duyên dáng bất thường xuất hiện ở diễn viên, hắn liền quật gậy xuống dãy ghế hoặc tấm ốp tường. Nếu khán giả không hưởng ứng cùng hắn, hắn nện thêm cú thứ hai, và nếu khán giả vẫn chưa bừng tỉnh, hắn đảo mắt nhìn chung quanh với vẻ đầy giận dữ và lặp lại cú đánh thứ ba, thứ chưa từng thất bại trong việc khơi mào cho những tràng vỗ tay. Thỉnh thoảng hắn để mặc cho khán giả tự chủ động vỗ tay trước, và vào thời điểm kết thúc màn tán thưởng của họ, hắn phê chuẩn nó bằng một tiếng nện đanh gọn đơn độc.

Hắn hữu ích đối với nhà hát đến mức người ta kể rằng một vị giám đốc đời trước, do không thể đến tham dự vì bệnh tật, đã giữ lại một người ăn lương để đóng thế cho ông ta cho đến khi ông ta bình phục; nhưng kẻ được thuê mướn như thế, dẫu vung vẩy tay chân với lực bạo tàn khó tin, lại thực hiện nó ở những thời điểm sai bét nhè đến độ khán giả nhanh chóng nhận ra đó chẳng phải là người bạn cũ thợ đóng rương của họ.

Người ta đã lưu ý rằng mùa này hắn vẫn chưa bộc lộ hết vigor (sức mạnh) của mình. Thỉnh thoảng hắn xuất hiện tại các buổi biểu diễn opera; và trong lần đầu tiên Nicolini xuất hiện, người ta đồn rằng hắn đã phá nát ba dãy ghế trong cơn cuồng nộ của sự tán thưởng. Hắn đã đập gãy nửa tá thân cây sồi lên Dogget1 và hiếm khi rời khỏi một vở bi kịch của Shakespeare mà không để lại tấm ốp tường trong tình trạng vỡ vụn tơi bời.

Các diễn viên không chỉ ngầm dung túng cho sự tán thưởng ồn ào của hắn, mà còn vô cùng hào phóng tự bỏ tiền túi ra sửa chữa mọi hư hại mà hắn gây ra. Họ từng nảy sinh ý định dựng lên một dạng đe gỗ dành riêng cho hắn được làm từ một tấm ván vang âm tốt, nhằm khiến cho những cú nện của hắn trở nên trầm ấm và sâu lắng hơn; nhưng vì điều này có thể không khác biệt là mấy so với âm thanh của chiếc trống định âm, dự án này đã bị gác lại.

Trong lúc ấy, tôi không khỏi lưu ý đến công dụng to lớn của nó đối với khán giả, rằng một cá nhân nên chủ tọa bên trên đầu họ hệt như vị nhạc trưởng của một dàn hòa tấu, nhằm đánh thức sự chú ý của họ và bắt nhịp cho những tràng pháo tay của họ; hay để nâng tầm hình ảnh ẩn dụ của mình, đôi khi tôi từng tưởng tượng gã thợ đóng rương trên lăng lầu giống như vị thần cai quản gió của Virgil, ngồi ngự trên đỉnh một ngọn núi, kẻ khi nện cây quyền sộ vào sườn núi liền khơi mào một trận cuồng phong và khuấy tung toàn bộ hang động thành một cõi hỗn mang2.

Chắc chắn là thợ đóng rương đã cứu vớt không ít vở kịch hay, và đưa vô số diễn viên duyên dáng lên đài danh vọng, những người nếu không có hắn thì chẳng đời nào được thiên hạ mồi chài chú ý. Rất rõ ràng, hệt như việc khán giả cảm thấy vô cùng hổ thẹn nếu nhận ra mình bị lừa phỉnh vỗ tay khi người bạn ở lăng trên của họ không hưởng ứng theo; các diễn viên cũng chẳng màng tự hào về tràng pháo tay ấy mà xem nó như một thứ tiếng ồn rỗng tuếch chẳng khác nào Brutum fulmen, khi nó thiếu đi âm thanh của khúc gỗ sồi. Tôi biết người ta từng đồn đại bởi những kẻ thù của thợ đóng rương rằng hắn thỉnh thoảng bị mua chuộc để đứng về phe của một nhà thơ tồi, hoặc một diễn viên đồi bại; nhưng đây là một lời đồn đoán chẳng có lấy một cơ sở thực tế nào: những cú nện của hắn luôn luôn chuẩn xác, và những lời nhắc nhở của hắn luôn đúng thời điểm; hắn không vung vẩy những cú đánh của mình một cách bừa bãi mà luôn nện trúng phóc cái đinh vào đầu gậy3.

Sức mạnh không thể diễn tả bằng lời mà hắn trút vào đó cho thấy rõ ràng bằng chứng và sức mạnh của niềm xác tín nơi hắn. Lòng nhiệt thành của hắn dành cho một tác giả tài năng quả thực dữ dội đến mức đánh sập mọi hàng rào và vách ngăn, mọi tấm ván và thớ gỗ nằm trong tầm phát của sự tán thưởng nơi hắn.

Vì tôi không thích kết thúc những suy ngẫm của mình trong những lý thuyết cằn cỗi hay những bản tường thuật thuần túy về sự việc mà không rút ra từ đó điều gì mang lại lợi ích cho đồng bào của mình, tôi xin mạn phép đưa ra một đề xuất khiêm nhường rằng bất cứ khi nào thợ đóng rương từ giã cõi đời này, hoặc bất cứ khi nào hắn mất đi sự linh hoạt của cánh tay do bệnh tật, tuổi già, ốm đau hoặc lý do tương tự, một nhà phê bình tráng kiện nào đó nên được đôn lên chiếc ghế này và được ấn định một khoản lương bổng thỏa đáng suốt đời, được cung cấp gậy tre cho opera, gậy gỗ sơn trà cho các vở kịch hài, và thân cây sồi cho bi kịch, bằng ngân sách công quỹ. Và để vị trí này luôn được trao đúng người theo năng lực, tôi muốn không ai được ưu ái bổ nhiệm nếu chưa đưa ra những bằng chứng thuyết phục về cả sự phán đoán vững vàng lẫn cánh tay vạm vỡ, và người có thể, khi có dịp, hoặc hạ gục một con bò mộng, hoặc viết một bài bình luận về Nghệ thuật thơ ca của Horace. Tóm lại, tôi muốn anh ta là sự pha trộn hoàn hảo giữa Hercules và Apollo, và đủ tiêu chuẩn cho chức vụ quan trọng này đến mức hậu thế của chúng ta sẽ không phải tiếc nuối khi vắng bóng thợ đóng rương.

C.

Chú thích 1: Thomas Doggett, một diễn viên hài xuất sắc, người trong nhiều năm là đồng quản lý với Wilkes và Cibber, qua đời năm 1721, và để lại chiếc áo khoác và phù hiệu được chèo thuyền tranh tài bởi những người chèo thuyền trên sông Thames vào mùng một tháng Tám hàng năm, từ Cầu London đến Chelsea.

Chú thích 2: Eneid I. 85.

Chú thích 3: Rằng.

Mục lục

No. 236 Thứ Sáu, ngày 30 tháng 11 năm 1711 Steele

—Dare Jura maritis.

Hor.

Thưa ngài Spectator,

'Ngài đã không cất lời một cách trực diện về chủ đề hôn nhân hệt như tầm quan trọng của trường hợp đó xứng đáng được nhận. Sẽ không thừa thãi nếu lưu ý đến nét độc đáo nơi giới trẻ Đại Anh, là thói quen mắng mỏi và chế nhạo định chế ấy; và khi họ sa chân vào đó, xuất phát từ một thói quen tâm lý đồi bại, họ lại trở nên vô cảm trước sự thỏa mãn1 trong lối sống đó và đối xử với vợ mình bằng sự thiếu tôn trọng tồi tệ nhất.'

'Những hoàn cảnh đặc biệt và khuynh hướng tâm tính phải dạy cho một con người biết trước xác suất của những phiền toái lớn lao trong trạng thái đó, (vì không nghi ngờ gì nữa, có những kẻ mà bản chất của họ hoàn toàn kỳ lạ và ác cảm với tình bằng hữu gia đình); thế nhưng tôi tin rằng chẳng có ai bị thúc đẩy bởi chính bản chất tự nhiên của mình để trêu chọc và đày đọa người khác mà chẳng vì lý do gì ngoài việc họ có họ hàng gần gũi với mình: Và liệu có điều gì đê tiện hơn thế, hay phục vụ cho việc kéo một con người chìm xuống thấp hơn cả đặc điểm nổi bật của chính mình (ý tôi là lý lý trí) hơn là việc lấy oán báo ơn một cách công khai đến mức đối xử bất nhân với một sinh linh bất lực, kẻ từng có cái nhìn tốt đẹp về ngài đến mức tin tưởng vào những gì ngài thốt ra liên quan đến một trong những trọng đại nhất của cuộc đời, bằng cách trao phó hạnh phúc của nàng trong cõi đời này vào sự chăm sóc và bảo bọc của ngài? Chẳng lẽ kẻ đó không phải là một kẻ đã quăng mình từ bỏ mọi nhân tính, kẻ có thể lừa dối một người phụ nữ bằng vỏ bọc của tình cảm và lòng tử tế, chỉ với mục đích hành hạ nàng ta một cách dễ dàng và quyền uy hơn sao? Liệu có điều gì ít giống một quý ông hơn là việc khi danh dự của bản thân đã được cam kết cho việc thực hiện những lời hứa của mình, bởi vì chẳng có gì ngoài điều đó có thể ép buộc anh ta làm vậy, để rồi sau đó trở thành kẻ nuốt lời, và đơn độc trở thành nguyên nhân gây ra đau khổ cho một người mà hạnh phúc của nàng từng được anh ta giả vờ tuyên bố là đáng giá hơn cả của chính mình? Lẽ nào một kẻ như thế lại đáng được tin cậy trong các công việc thường nhật? Hay đối xử như thể sự trung thực của hắn chỉ nằm ở sự bất lực không thể làm khác đi?'

'Có một nguyên nhân dẫn đến cách cư xử này chẳng kém phần ngớ ngẩn lẫn phổ biến, diễn ra trong số những kẻ thiếu suy nghĩ hơn: Và đó chính là mong muốn được tỏ ra tự do, phóng khoáng trước mặt bạn bè và không bị vướng bận bởi những gông xiềng mà họ từng chế nhạo bấy lâu. Để tránh2 điều này, họ lao vào thái cực ngược lại và trở thành những kẻ bạo chúa chỉ để ra oai làm chủ. Bởi vì quyền kiểm soát tuyệt đối đối với các hành động của chính mình là dấu hiệu chắc chắn của quyền thống trị toàn diện, họ thậm chí không thèm nhượng bộ dù chỉ một cơ bắp trên khuôn mặt mình trong việc điều hành gia đình. Một ánh nhìn tử tế bị họ cho là nịnh bợ, và một câu trả lời lịch sự bị xem là sự nhượng bộ quyền bề trên. Phải quy cho điều này sự khắc nghiệt mà họ bộc lộ trong mọi hành động: Còn điều gì khác có thể khiến một người trở nên gắt gỏng khi ở cạnh vợ mình, dẫu anh ta tỏ ra nổi bật vô cùng dễ chịu ở bất cứ nơi nào khác? Sự cay độc trong những câu trả lời của anh ta, và sự nghiêm khắc trong những cái cau mày đối với người vợ dịu dàng nhất, chứng minh rõ ràng rằng nỗi sợ hãi không có căn cứ về việc bị xem là quá mức nhún nhường nằm ở cốt lõi của thứ mà tôi sẵn lòng gọi là sự cáu kỉnh mang tính giả tạo này; nhưng nếu nó chỉ là thứ được mang ra để thuyết phục bạn bè về quyền thống trị tuyệt đối của mình, hãy để anh ta cẩn trọng với hậu quả, thứ sẽ chắc chắn xảy ra và tồi tệ hơn hiện tại; sự thờ ơ giả tạo của anh ta sẽ dần dà lớn lên thành sự khinh miệt thực sự, và nếu nó không bóp nghẹt vĩnh viễn tình cảm của người vợ dành cho anh ta, thì cũng sẽ biến cả hai thành những kẻ khốn khổ hơn nhiều so với việc thực sự xảy ra như thế.'

Dẫu nó có vẻ mâu thuẫn thế nào đi nữa, việc được xem là một người lịch thiệp cũng chiếm một phần không nhỏ trong cách hành xử thô lỗ này: Do đó, một bài luận liên quan đến sự lịch thiệp đối với một người vợ yêu thương và dịu dàng sẽ vô cùng hữu ích cho nhóm quý ông này. Giá mà ngài có thể một lần thuyết phục họ rằng sự lịch thiệp tối thiểu không hề nằm dưới nhân cách của một quý ông, và rằng tình cảm dịu dàng dành cho một người muốn hồi đáp nó bằng sự tương hỗ không hề phản bội bất kỳ sự yếu mềm hay nữ tính nào mà ngay cả bản chất nam tính nhất cũng phải hổ thẹn; giá mà ngài có thể làm họ thỏa mãn về sự hào phóng của lòng lịch sự tự nguyện, và sự vĩ đại của tâm hồn hiển hiện trong lòng nhân ái không đòi hỏi sự ràng buộc tức thời; giá mà ngài có thể khuyến khích mọi người thực hành câu nói của vị quý ông từng được trích dẫn trong một trong các bài luận của ngài rằng ông ta nghĩ mình có bổn phận phải làm cho khuynh hướng của một người phụ nữ đức hạnh đi đôi với bổn phận của nàng; giá mà ngài, tôi xin nói vậy, có thể thuyết phục những người đàn ông này về vẻ đẹp và tính hợp lý của lối hành xử kiểu này, tôi dành cho ít nhất một số người trong số họ đủ lòng nhân từ để tin rằng ngài sẽ thuyết phục họ về một điều mà họ chỉ cảm thấy xấu hổ khi thừa nhận: Bên cạnh đó, ngài sẽ ca ngợi trạng thái ấy dưới những màu sắc chân thực nhất, và do đó là dễ chịu nhất; và những quý ông từng là kẻ thù tuyên bố của nó trong một thời gian dài, khi có cơ hội, sẽ gửi lời cảm ơn đến ngài vì đã hỗ trợ cho lợi ích của họ trong việc chiến thắng những định kiến của bản thân. Hôn nhân nói chung nhờ cách này sẽ trở thành một điều kiện dễ chịu và thoải mái hơn; người chồng sẽ chẳng nơi nào cảm thấy hài lòng bằng phòng khách của chính mình, và người vợ cũng chẳng vui vẻ nào bằng khi ở bên chồng: Khát khao được trở nên dễ mến nơi người tình sẽ được gia tăng ở người chồng, và người phụ nữ sẽ trở nên đáng yêu hơn khi trở thành người vợ. Bên cạnh đó, tôi có khuynh hướng tin rằng chúng ta sẽ thấy giống loài nam giới ngày càng khôn ngoan hơn khi các bậc tiền bối của họ ngày càng tử tế hơn, và tình cảm của các bậc cha mẹ sẽ hiển hiện trong trí tuệ của con cái họ; tóm lại, nhìn chung đàn ông sẽ có tâm trạng tốt hơn nhiều so với hiện tại, nếu họ không thường xuyên trút những tồi tệ nhất trong tính khí của mình lên nơi mà họ đáng lẽ phải phát huy những điều tuyệt vời nhất.

THƯ GỬI NGÀI SPECTATOR,

Tôi là một phụ nữ từng từ bỏ sự ngưỡng mộ của toàn bộ thành phố này, để lao mình (vì3 tình yêu tài sản) vào vòng tay của một gã ngốc. Khi kết hôn với hắn, tôi hoàn toàn có thể chọn bất kỳ ai trong số vài người đàn ông khôn ngoan từng khao khát tôi; nhưng số phận của tôi là vậy. Tôi đinh ninh rằng trí tuệ vượt trội của mình sẽ nhào nặn hắn thành một sinh linh ngoan ngoãn. Nhưng than ôi, phu quân của tôi lại đầy mưu mẹo và đa nghi, những người bạn đồng hành không thể tách rời của những tâm hồn tiểu nhân; và mọi nỗ lực của tôi nhằm mang lại niềm vui bằng cách khoác lên mình một vẻ ngoài dễ chịu, một sự tươi vui bất chợt, hay thái độ tử tế, đều bị hắn nhìn nhận như bước đi đầu tiên cho một cuộc nổi dậy chống lại quyền thống trị không xứng đáng của hắn đối với tôi. Mong rằng bất kỳ ai vẫn còn đang lựa chọn, và nuôi hy vọng cai trị một kẻ ngốc, hãy ghi nhớ Tristissa.

St. Martins, ngày 25 tháng 11.

Thưa ngài Spectator,

Thư này để phàn nàn về một thói xấu mà tôi nghĩ rất đáng được chấn chỉnh, dẫu ngài vẫn chưa hề đếm xỉa gì đến nó: Nếu ngài nhắc đến nó trong trang báo của mình, có lẽ nó sẽ mang lại hiệu quả rất tốt. Điều tôi muốn nói đến là sự quấy rầy mà một số người gây ra cho người khác tại nhà thờ, bằng hành động đọc lặp lại các lời cầu nguyện theo linh mục, và điều đó không chỉ giới hạn ở các lời cầu nguyện, mà cả lời xá tội cùng mười điều răn cũng chẳng khá khẩm hơn, những thứ vốn đặc biệt thuộc về chức trách của linh mục: Tôi từng chứng kiến điều này diễn ra với âm lượng lớn đến mức đôi khi giọng của họ to ngang ngợi giọng của ngài. Dẫu ngài có nghĩ nó nhỏ nhặt thế nào đi nữa, điều này lại thường xuyên được thực hiện bởi những kẻ bề ngoài có vẻ vô cùng sùng đạo. Sự lơ đễnh vô đạo đức này là một điều vô cùng phản cảm; nhưng tôi không khuyến nghị nó như một thứ mà tôi trao cho ngài quyền tự do chế giễu, mà hy vọng nó có thể được khắc phục chỉ bằng một lời nhắc nhở ngắn gọn.

Thưa ngài, Người đầy tớ rất khiêm nhường của ngài,

T. S.

T.

Chú thích 1: Những sự thỏa mãn

Chú thích 2: Vì lý do này, nếu họ tỏ ra ít giống với những gì họ từng quen thuộc chế nhạo đến thế, họ sẽ trở thành trò cười cho chính mình và là đối tượng của những lời chế giễu mà họ từng dành cho người khác. Để tránh v.v.

Chú thích 3: bởi

Mục lục

No. 237 Thứ Bảy, ngày 1 tháng 12 năm 1711 Addison

Visu carentem magna pars veri latet.

Senec. in Oedip.

Thật hoàn toàn hợp lý khi tin rằng một phần niềm vui mà những tâm hồn hạnh phúc sẽ được tận hưởng trong trạng thái tương lai sẽ xuất phát từ sự chiêm nghiệm được mở rộng đối với trí tuệ thần thánh trong việc cai quản thế giới, và sự khám phá ra những bước đi bí ẩn và kinh ngạc của sự quan phòng, từ khởi đầu cho đến tận cùng của thời gian. Chẳng có gì mang lại sự giải trí thích hợp hơn với bản chất con người, nếu chúng ta cân nhắc rằng sự tò mò là một trong những ham muốn mạnh mẽ và bền bỉ nhất được cấy sâu trong chúng ta, và sự ngạc nhiên là một trong những cảm xúc dễ chịu nhất của chúng ta; và biết bao chuỗi liên tiếp những sự hoan hỉ sẽ được ban tặng cho cả hai điều ấy trong một khung cảnh rộng lớn và đa dạng sẽ được mở ra trước mắt chúng ta trong cộng đồng của những linh hồn cao thượng, những kẻ có lẽ sẽ cùng ta tham gia vào một viễn cảnh đầy thú vị nhường ấy!

Ngược lại, không phải là không thể khi một phần hình phạt dành cho những kẻ bị tẻ nhạt khỏi phúc lạc có thể nằm ở việc họ không chỉ bị từ chối đặc quyền này, mà còn đồng thời có những ham muốn của họ tăng lên một cách khủng khiếp, mà chẳng có chút sự thỏa mãn nào được đáp ứng cho họ. Đối với họ, cuộc đua đuổi theo tri thức một cách vô ích có lẽ sẽ góp phần làm gia tăng sự bất hạnh, và cuốn họ vào những mê cung của sai lầm, bóng tối, sự phân tâm và bất định về mọi thứ ngoại trừ tình trạng tồi tệ của chính họ.

Milton từng phác họa những thiên thần sa ngã đang tranh luận cùng nhau trong một khoảng nghỉ ngơi khỏi những hình phạt của họ, và tự tạo cho mình một nỗi băn khoăn mới giữa chính những trò tiêu khiển của họ; ông không tài nào miêu tả đúng đắn các trò chơi của những linh hồn bị kết án mà thiếu đi thứ sắc thái kinh hoàng và u sầu mà ông đã khôn ngoan đan xen vào chúng.

Others apart sate on a Hill retired,

In Thoughts more elevate, and reason'd high

Of Providence, Foreknowledge, Will, and Fate,

First Fate, Freewill, Foreknowledge absolute,

And found no End in wandring Mazes lost.1

Trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, vốn là một trạng thái trung gian, tâm trí chúng ta tựa hồ được đan xen giữa sự thật và sự giả dối; và vì các năng lực của chúng ta hạn hẹp, còn tầm nhìn của chúng ta bất toàn, sự tò mò của chúng ta không thể tránh khỏi việc vấp phải nhiều sự khước từ. Việc làm của nhân loại trong cõi đời này là hành động thay vì thấu hiểu, nên phần tri thức được phân phát cho họ cũng tương xứng với điều đó.

Chính từ đây mà lý trí của những kẻ tò mò đã bị thử thách từ lâu với vô vàn khó khăn, trong việc lý giải sự phân bổ hỗn tạp giữa điều thiện và điều ác dành cho người đức hạnh lẫn kẻ bất lương trong thế giới này.

Từ đây sinh ra tất cả những lời than vãn đầy bi thiết về vô vàn sự kiện bi thảm giáng xuống đầu những người khôn ngoan và người lương thiện; cùng sự thịnh vượng đến ngạc nhiên vốn thường là định mệnh của kẻ tội lỗi và kẻ ngu ngốc; khiến cho lý trí đôi khi phải bối rối và chẳng biết nên phán quyết ra sao trước một sự sắp đặt huyền bí nhường ấy.

Plato bày tỏ sự ghê tởm đối với một số câu chuyện ngụ ngôn của các nhà thơ dường như quy trách cho các vị thần là tác giả của sự bất công; và đúc kết thành một nguyên tắc rằng: Bất cứ điều gì được phép giáng xuống một người công chính, dù là nghèo đói, bệnh tật, hay bất kỳ thứ gì có vẻ là điều ác, trong cuộc sống hay cái chết đều sẽ dẫn đến điều tốt đẹp cho anh ta. Độc giả của tôi sẽ nhận thấy nguyên tắc này phù hợp biết bao với những gì được truyền đạt bởi một thẩm quyền lớn lao hơn.

Seneca từng viết một bài luận chuyên đề về chủ đề này, trong đó ông nhọc công, theo học thuyết của phái khắc kỷ, chứng minh rằng sự nghịch cảnh tự thân nó không phải là điều ác; và nhắc đến một câu nói cao thượng của Demetrius rằng chẳng có gì bất hạnh hơn một người chưa từng nếm trải nghịch cảnh. Ông so sánh sự thịnh vượng với sự nuông chiều thái quá của một người mẹ đối với con trẻ, thứ thường dẫn đến sự hủy hoại của đứa trẻ; nhưng tình cảm của thực thể thần thánh lại giống như một người cha khôn ngoan muốn con cái mình được rèn luyện qua lao động, sự thất vọng và đớn đau, để chúng có thể tích lũy sức mạnh và tôi luyện sự kiên cường. Nhân dịp này, nhà triết học vươn lên thành một tư tưởng nổi tiếng rằng trên trái đất này chẳng có một khán giả nào xứng đáng với sự quan tâm của Đấng Sáng Tạo tập trung vào các công trình của Ngài hơn một tráng sĩ vượt lên trên những đau khổ của mình; và ông nói thêm rằng hẳn phải là một niềm vui đối với chính Jupiter khi nhìn xuống từ thiên đàng và chứng kiến Cato giữa những hoang tàn của quê hương mà vẫn gìn giữ sự chính trực.

Ý tưởng này sẽ càng trở nên hợp lý hơn nữa nếu chúng ta nhìn nhận đời sống con người như một trạng thái thử thách, và nghịch cảnh như một vị trí danh dự trong đó, thường được trao cho những linh hồn xuất sắc và tinh túy nhất.

Nhưng điều mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là chúng ta hiện không ở trong một tình thế thích hợp để phán quyết những mưu lược mà sự quan phòng hành động, bởi vì có rất ít điều đến được với nhận thức của chúng ta, và ngay cả những điều ít ỏi đó chúng ta cũng nhìn nhận một cách bất toàn; hay theo hình ảnh ẩn dụ tao nhã trong Kinh Thánh, Chúng ta chỉ nhìn thấy một phần, và qua một tấm gương mờ ảo.

Cần phải xem xét rằng sự quan phòng trong nền kinh tế của nó quan tâm đến toàn bộ hệ thống thời gian và vạn vật cùng một lúc, thế nên chúng ta không thể khám phá ra mối liên kết tốt đẹp giữa những tình tiết nằm cách biệt nhau trong thời gian, và khi đánh mất quá nhiều mắt xích của chuỗi xích ấy, các lý luận của chúng ta trở nên đứt đoạn và bất toàn. Do đó, những phần trong thế giới đạo đức vốn không có vẻ đẹp tuyệt đối, vẫn có thể sở hữu vẻ đẹp tương đối, xét trên phương diện một số phần khác bị che giấu khỏi chúng ta, nhưng lại rộng mở trước mắt Đấng mà trước Ngài, Quá khứ, Hiện tại và Tương lai cùng tề tựu trong một điểm nhìn duy nhất; và những sự kiện mà sự cho phép của chúng thoạt trông có vẻ kết tội lòng nhân ái của Ngài, có thể trong sự viên mãn của vạn vật sẽ vừa khuếch đại lòng nhân ái vừa tôn vinh trí tuệ của Ngài. Và chừng đó là đủ để kìm hãm sự ngạo mạn của chúng ta, bởi vì thật vô ích khi áp dụng các thước đo tính quy luật của chúng ta vào những vấn đề mà chúng ta chẳng biết rõ điểm khởi đầu lẫn kết cục, nguyên nhân lẫn hệ quả.

Tôi sẽ giải tỏa cho độc giả khỏi những suy ngẫm trừu tượng này bằng cách kể lại đây một truyền thuyết Do Thái liên quan đến Moses, thứ dường như là một dạng truyện ngụ ngôn minh họa cho điều tôi vừa đề cập sau cùng. Vị tiên tri vĩ đại ấy, người ta kể rằng, được gọi lên đỉnh núi bởi một tiếng gọi từ thiên đàng; nơi trong một cuộc hội diện với Đấng Tối Cao, ông được phép đặt ra cho Ngài một số câu hỏi liên quan đến sự cai quản vũ trụ của Ngài.

Giữa cuộc đối thoại thần thánh ấy, ông được lệnh nhìn xuống vùng đồng bằng bên dưới. Dưới chân núi tuôn ra một dòng suối trong vắt, nơi một người lính xuống ngựa để uống nước. Người lính vừa đi khỏi thì một cậu bé tiến đến cùng địa điểm, và phát hiện ra một túi vàng do người lính đánh rơi, bèn nhặt lấy và bỏ đi. Ngay sau đó xuất hiện một ông cụ ốm yếu, mệt mỏi vì tuổi già và đường xá xa xôi, sau khi giải khát liền ngồi xuống nghỉ ngơi bên bờ suối. Người lính không thấy túi vàng liền quay lại tìm kiếm, và hật hòi đòi ông cụ phải trả, người khẳng định mình không hề nhìn thấy và cất tiếng kêu trời làm chứng cho sự vô tội của mình.

Người lính không tin những lời thề thốt bèn ra tay sát hại ông cụ. Moses sấp mặt xuống đất trong sự kinh hoàng và sửng sốt, đúng lúc tiếng nói thần thánh cất lên ngăn chặn lời trách vấn của ông: 'Đừng ngạc nhiên, hỡi Moses, và cũng đừng gạn hỏi cớ sao Vị Thẩm Phán của toàn cõi thế gian lại để cho sự việc này xảy ra: Đứa trẻ chính là nguyên nhân khiến máu của ông cụ phải đổ; nhưng hãy biết rằng, ông cụ mà ngươi vừa chứng kiến chính là kẻ sát nhân đã cướp đi mạng sống cha của đứa trẻ ấy.'

Chú thích 1: Paradise Lost, B. II. v. 557-561.

Chú thích 2: Trong tờ The Spectator ra ngày thứ Bảy, thay vì 'phần thưởng' hãy đọc là 'định mệnh'. Lỗi in sai trong số 238.

Chú thích 3: De Constantia Sapientis.

Chú thích 4: Vì sự quan phòng, do đó, và trong bản in lại lần 1.

Chú thích 5: Những đối thoại thần thánh của Henry More.

Chú thích 6: Cuộc hội diện

Chú thích 7: Không có chữ cái nào được đính kèm trong ấn bản gốc hoặc bản phát hành lại. Được in trong Các tác phẩm của Addison, 1720. Bài viết này từng được cho là của John Hughes trong lời mở đầu tập Thơ của ông (1735).

Mục lục

No. 238 Thứ Hai, ngày 3 tháng 12 năm 1711 Steele

Nequicquam populo bibulas donaveris Aures;

Respue quod non es

Persius, Sat. 4.

Trong số tất cả các căn bệnh của tâm trí, chẳng có căn bệnh nào lan tràn dịch bệnh hơn hoặc tàn phá khốc liệt hơn tình yêu sự nịnh hót. Bởi vì hệt như nơi nào các dịch chất của cơ thể sẵn sàng tiếp nhận ảnh hưởng độc hại, thì ở đó căn bệnh hoành hành dữ dội nhất; cũng vậy, trong căn bệnh này của tâm trí, nơi luôn tồn tại khuynh hướng và sự ham muốn nuốt chửng thứ độc dược ấy, toàn bộ trật tự của hành động hợp lý không thể tránh khỏi việc bị đảo lộn, bởi vì, tựa như âm nhạc,

Nó làm mềm và tước vũ khí tâm trí,

Đến mức chẳng mũi tên nào tìm được đường kháng cự.

Đầu tiên chúng ta tự nịnh hót bản thân, và rồi sự nịnh hót từ kẻ khác chắc chắn sẽ gặt hái thành công. Nó đánh thức lòng ái kỷ bên trong chúng ta, một phe phái luôn sẵn sàng phản bội phán đoán sáng suốt hơn của mình để kết hợp với kẻ thù bên ngoài. Chính vì thế mà sự tuôn trào của những ân huệ mà chúng ta thường thấy đổ lên đầu kẻ bợ đỡ lại được diễn giải bởi lòng ái kỷ của chúng ta như là công lý được thực thi đối với một kẻ biết cách hòa giải chúng ta với chính mình một cách vô cùng dễ chịu. Khi chúng ta bị khuất phục bởi những lời đường mật ngọt ngào và những sự chiều chuộng giăng bẫy ấy, chúng ta vui vẻ báo đáp những mưu kế được sử dụng để che mờ lý trí của mình, những thứ chiến thắng trước sự yếu đuối trong tính khí và khuynh hướng của chúng ta.

Nhưng giả sử mọi người đều đinh ninh rằng thứ đam mê này bắt nguồn từ một xuất phát điểm thấp hèn và tầm thường cỡ nào, thì không còn nghi ngờ gì nữa, kẻ nào mưu toan thỏa mãn nó khi ấy sẽ trở nên đáng khinh bỉ hệt như hắn đang thành công rực rỡ lúc này. Ấy là khát khao sở hữu một phẩm chất nào đó mà chúng ta không có, hoặc khuynh hướng muốn trở thành một thứ gì đó mà chúng ta không phải, những nguyên nhân khiến chúng ta phó mặc bản thân cho kẻ ban phát cho chúng ta những nhân vật và phẩm chất của người khác; thứ có lẽ phù hợp với chúng ta tệ hại chẳng kém và ít được thiết kế để chúng ta mặc, hệt như những bộ quần áo của họ. Thay vì bước ra khỏi bản ngã bẩm sinh của chính mình để chui vào bản ngã của kẻ khác, sẽ là một sự nỗ lực tốt đẹp hơn và đáng biểu dương hơn khi trau dồi bản ngã của chính mình, và thay vì trở thành một bản sao thảm hại, hãy vươn lên thành một bản gốc xuất sắc; bởi vì chẳng có tâm tính nào, chẳng có bản chất nào quá thô kệch và bất trị mà không thể được mang lại một vài công dụng dễ chịu trong các cuộc trò chuyện hoặc trong các vấn đề của cuộc sống, nếu được đặt đúng vào nét đặc trưng và góc cạnh riêng biệt của nó.

Một cá nhân có phong thái thô kệch hơn, và ít bị câu nệ bởi những nghi thức thông thường trong ứng xử, sẽ, hệt như nhân vật Manly trong vở kịch1, tạo được thiện cảm bằng vẻ duyên dáng mà tự nhiên ban tặng cho mọi hành động tuân theo nó; những kẻ nhanh nhẹn và hoạt bát sẽ chẳng thiếu người ngưỡng mộ, và thậm chí một tâm tính trầm lặng sầu muộn hơn đôi khi cũng có thể trở nên dễ chịu.

Khi sự vanh vọng bên trong một con người chưa đủ lớn để đánh gục anh ta, kẻ nịnh hót sẽ khơi dậy điểm yếu đang ngủ quên ấy và truyền cho anh ta đủ phẩm chất để trở thành một kẻ hợm hĩnh. Nhưng nếu sự nịnh hót là hành động đê tiện nhất có thể thực hiện, thì nghệ thuật ca ngợi đúng mực lại đáng biểu dương tương đương: Bởi vì ca ngợi cho hay là điều đáng khen ngợi; hệt như các nhà thơ vừa đồng thời ban tặng sự bất tử vừa nhận lại nó như phần thưởng cho chính mình: Cả hai đều hoan hỉ, kẻ thì nhận lấy sự đền đáp cho tài năng, kẻ thì cho thấy hắn biết cách nhận diện tài năng đó; nhưng trên hết, con người ấy thật hạnh phúc trong nghệ thuật này, hệt như một họa sĩ tài ba, vẫn giữ lại các đường nét và sắc thái nhưng khéo léo làm dịu bức tranh thành một diện mạo tương đồng dễ chịu nhất.

Tôi tin rằng khó lòng có thể tưởng tượng ra một niềm vui nào đáng khát khao hơn niềm vui của những lời ca ngợi không mảy may pha tạp chút khả năng nịnh hót nào. Đó là niềm vui mà Germanicus từng tận hưởng, khi vào đêm trước một trận chiến, khao khát có được một dấu hiệu chân thành về sự quý trọng từ các quân đoàn dành cho mình, ông được Tacitus miêu tả là đang cải trang lắng nghe câu chuyện của một người lính, và đắm chìm trong men say của vinh quang khi họ vô tình dành những lời ca ngợi chân thành cho vẻ bề ngoài cao thượng oai nghiêm, tính hào hiệp, lòng dũng cảm, sự chỉ huy và thành công trong chiến tranh của ông. Trái tim của một con người hẳn phải phồng rộp lên vì niềm vui trong một khoảnh khắc vinh quang nhường này biết bao? Thật là một nguồn khích lệ và động lực để tiếp bước trên những nẻo đường từng đưa ông đến một gu thưởng thức thuần khiết nhất của niềm hạnh phúc phàm trần!

Thỉnh thoảng, ngay cả kẻ thù và những kẻ ghen tỵ cũng ban phát những dấu hiệu chân thành nhất của sự quý trọng khi họ ít có ý định làm thế nhất. Những kẻ đó mang lại niềm vui lớn lao hơn, bởi vì chúng bị bứt ra bởi tài năng và được giải phóng khỏi mọi nghi ngờ về sự thiên vị hay nịnh hót. Sự việc diễn ra tương tự với Malvolio; hắn có sự thông minh, học thức và óc phán đoán, nhưng lại pha lẫn một chút đố kỵ, ái kỷ và gièm pha: Malvolio trở nên tái mét trước niềm vui và sự hởi mở của hội đồng, nếu nó không xoay quanh cá nhân hắn; hắnâm thầm ganh tỵ và khó chịu khi đánh mất vị thế là kẻ duy nhất được ngưỡng mộ, và nhìn nhận những lời tán dương dành cho kẻ khác như một sự gièm pha nhắm vào tài năng của mình đồng thời là mưu toan làm suy giảm vị thế bề trên mà hắn hằng ve vãn; nhưng chính bằng cách thức này, hắn lại ban phát những lời ca ngợi chẳng bao giờ có thể bị nghi ngờ là nịnh hót. Sự bứt rứt và chán ghét của hắn chính là chừng ấy những dấu hiệu chắc chắn và rành rành về quyền năng sở hữu vinh quang mà hắn khát khao nhưng lại ngậm ngùi nhận ra mình không có.

Một danh tính tốt đẹp được so sánh một cách ví von với một loại dầu thơm quý giá2, và khi chúng ta được ca ngợi một cách khéo léo và đúng mực, đó quả thực là làn hương dễ chịu nhất, nhưng nếu được nạp vào một khối óc kém phần tráng kiện và hạnh phúc với liều lượng quá mạnh, nó sẽ, hệt như một mùi hương quá nồng, lấn át các giác quan và chứng tỏ sự hủy hoại đối với những dây thần kinh mà nó được thiết kế để làm sảng khoái. Một tâm hồn cao thượng là đối tượng nhạy cảm nhất với những lời ca ngợi và chê bai; và một tinh thần hào hiệp được kích thích bởi tỷ lệ vinh dự và tán thưởng đúng mực hệt như cách nó bị quật ngã bởi sự ghẻ lạnh và khinh miệt; thế nhưng chỉ những cá nhân đứng vượt xa mức bình thường của xã hội mới bị tác động bởi cả hai thái cực này; hệt như trong một chiếc nhiệt kế, chỉ có phần tinh chất tinh khiết và thăng hoa nhất mới co lại hoặc giãn nở ra trước sự ôn hòa hoặc khắc nghiệt của thời tiết.

Thưa ngài Spectator,

'Những bản dịch mà ngài gần đây gửi tặng chúng tôi từ tiếng Hy Lạp, trong một vài bài viết gần đây của ngài, là nguyên cớ khiến tôi tra cứu một số tác giả đó; trong số đó tôi tình cờ bắt gặp một tập hợp các bức thư lưu hành dưới tên của Aristaenetus. Trong số tất cả những di sản thời cổ đại, tôi tin rằng chẳng có tác phẩm nào mang một phong thái hào hoa và tao nhã đến thế; mỗi bức thư chứa đựng một tiểu thuyết hoặc cuộc phiêu lưu nhỏ, được kể lại với tất cả vẻ đẹp của ngôn ngữ và được tôn lên bởi sự phong phú của trí tuệ. Có một số bức thư đã được dịch3, nhưng với những sự sai lệch quá lớn so với nguyên tác, và theo một phong cách khác xa các tác giả đến mức người dịch dường như thiên về việc chớp lấy những gợi ý để diễn tả cảm xúc và suy nghĩ của riêng mình hơn là nỗ lực chuyển tải những ý tưởng của Aristaenetus. Trong bản dịch dưới đây, tôi giữ bám sát nghĩa của tiếng Hy Lạp nhất có thể, và chỉ bổ sung một vài từ để các câu tiếng Anh kết nối với nhau mượt mà hơn một chút so với khi để trống. Câu chuyện có vẻ được lấy cảm hứng từ tích Pygmalion và bức tượng trong tác phẩm của Ovid: Một vài ý tưởng mang góc nhìn tương tự, và toàn bộ được viết theo một dạng văn xuôi mang âm hưởng thi ca.

Philopinax gửi Chromation.

"Chưa từng có ai bị khuất phục bởi một niềm đam mê kỳ ảo đến thế như tôi. Tôi đã vẽ nên một người phụ nữ tuyệt mỹ, và đang tuyệt vọng, đang chết dần chết mòn vì bức tranh đó. Tài nghệ của chính tôi đã hại tôi; không phải mũi tên của Venus, mà chính chiếc cọ vẽ của tôi đã đâm những vết thương này. Than ôi! Với biết bao lo âu, tôi bị buộc phải tôn sùng thần tượng của chính mình! Tôi khốn khổ làm sao, khi mọi người vừa phải xót thương cho người họa sĩ vừa ca ngợi bức tranh, và thừa nhận nỗi thống khổ của tôi vượt xa cả nghệ thuật của mình. Nhưng cớ sao tôi lại phải phàn nàn thế này? Chẳng lẽ trước đây chưa từng có những mối tình bất hạnh và phi tự nhiên hơn tôi sao? Có chứ, tôi từng chứng kiến những hình tượng của Phaedra, Narcissus và Pasiphae. Phaedra bất hạnh trong tình yêu của nàng; mối tình của Pasiphae thì quái dị; và trong khi người kia vươn tay chộp lấy bóng hình thân yêu của mình, anh ta đã hủy hoại hình bóng dưới làn nước vốn luôn trốn tránh những vòng tay ôm ấp. Con suối phản chiếu Narcissus cho chính anh ta thấy, và bức tranh phản chiếu cả điều đó lẫn anh ta, đang khắc khoải khao khát hình bóng được tôn sùng. Nhưng tôi còn ít bất hạnh hơn thế, tôi tận hưởng sự hiện diện của nàng liên tục, và nếu tôi chạm vào nàng, tôi không hề hủy hoại vóc dáng kiều diễm ấy, mà nàng trông vô cùng mãn nguyện, và một nụ cười ngọt ngào ngự trị trên khoảng không quyến rũ chia rẽ đôi môi nàng. Người ta sẽ thề rằng giọng nói và ngôn ngữ đang cất lên, và đôi tai của ai đó đang cảm nhận được âm thanh du dương ấy. Biết bao lần, bị lừa dối bởi sự cả tin của một kẻ si tình, tôi đã lắng tai nghe xem nàng có điều gì muốn thì thầm với mình không; và khi hy vọng tiêu tan, biết bao lần tôi đã trả thù bằng những nụ hôn lên đôi má và đôi mắt nàng, và dịu dàng dỗ dành nàng vào vòng tay mình, trong khi nàng (theo như tôi tưởng tượng) chỉ kìm nén giọng nói để khiến tôi càng thêm bùng cháy. Nhưng, một kẻ điên rồ như tôi, há lại có thể mê đắm chỉ vì hình ảnh của một khuôn mặt kiều diễm và mái tóc xõa bồng bềnh, rồi cứ thế tàn tàn hao mòn và tan chảy thành nước mắt vì một chiếc bóng thôi sao? Hả, chắc chắn đó là điều gì đó hơn thế nữa, đó là sự thật! Bởi vì kìa, vẻ đẹp của nàng bừng sáng với một ánh hào quang mới, và nàng có vẻ như đang quở trách tôi bằng những lời trách móc khó chịu nhường kia. Ôi, ước gì tôi có một người tình bằng xương bằng thịt sở hữu vóc dáng này, để khi tôi so sánh tác phẩm của tự nhiên với tác phẩm của nghệ thuật, tôi vẫn sẽ bối rối chẳng biết nên chọn bên nào, và chìm đắm lâu dài trong sự bất định đầy dễ chịu.

T.

Chú thích 1: Vợ của Wycherley (Plain Dealer).

Chú thích 2: Giảng viên vii. 1.

Chú thích 3: Trong một tập sách dịch mang tựa đề Những bức thư về sự thông thái, chính trị và đạo đức, do Abel Boyer biên tập năm 1701. Những bức thư được gán cho Aristaenetus ở Nicer thuộc Bithynia, người qua đời năm 358 sau Công nguyên, nhưng được viết sau thế kỷ thứ năm, sau đó được dịch lại thành Những bức thư tình ái và hào hoa, viết bằng tiếng Hy Lạp bởi Aristaenetus. Tập sách khổ 12mo (1715) này được đề tặng cho Eustace Budgell, người được nêu tên trong Lời tựa như là tác giả của các bài viết trên tờ Spectator ký tên X.

Mục lục

No. 239 Thứ Ba, ngày 4 tháng 12 năm 1711 Addison

Bella, horrida bella!

Virg.

Thỉnh thoảng tôi vẫn tự giải trí bằng việc cân nhắc những phương thức quản lý một cuộc tranh luận khác nhau từng tồn tại trên thế giới.

Những thế hệ loài người đầu tiên thường tranh luận, hệt như những người bình thường của chúng ta ngày nay, bằng một dạng logic hoang dã, chưa được gọt giúa bởi các quy tắc nghệ thuật.

Socrates đã giới thiệu phương pháp tranh luận theo kiểu hỏi đáp. Ông sẽ chất vấn đối thủ của mình hết câu hỏi này đến câu hỏi khác, cho đến khi thuyết phục được hắn ngay từ chính cái miệng của hắn rằng những quan điểm của hắn là sai trái. Lối tranh luận này dồn ép kẻ thù vào chân tường, nắm giữ mọi lối đi mà hắn có thể trốn chạy, và buộc hắn phải đầu hàng vô điều kiện.

Aristotle đã thay đổi phương pháp tấn công này, và phát minh ra vô số loại vũ khí nhỏ gọi là tam đoạn luận (syllogism). Hệt như trong lối tranh luận theo kiểu Socrates, bạn đồng tình với mọi điều đối thủ đưa ra, còn trong lối tranh luận theo kiểu Aristotle, bạn liên tục phủ nhận và mâu thuẫn với phần này hay phần khác trong những gì hắn nói.

Socrates chinh phục bạn bằng mưu kế, còn Aristotle bằng vũ lực: Một bên chiếm thành bằng đường hầm ngầm, bên kia gươm súng trên tay.

Các trường đại học ở châu Âu, trong nhiều năm trời, đã duy trì những cuộc tranh luận của họ bằng tam đoạn luận, đến mức chúng ta thấy tri thức của hàng thế kỷ được trải ra thành các phản biện và phúc đáp, và tất cả sự khôn ngoan của thời đại bị cắt xẻ và băm vằm thành gần như vô tận những sự phân biệt.

Khi các trường đại học của chúng ta nhận ra rằng việc cãi vã theo cách này là vô tận, họ đã phát minh ra một dạng tranh luận không thể quy về bất kỳ thể hay hình thái nào trong tác phẩm của Aristotle. Nó được gọi là Argumentum Basilinum (những người khác viết là Bacilinum hoặc Baculinum) thứ được thể hiện khá rõ trong từ tiếng Anh Club-Law (Luật gậy gộc). Khi không thể bác bỏ đối thủ của mình, họ liền nện cho hắn một gậy gối. Đó là phương pháp của họ trong những cuộc tranh luận mang tính tranh cãi này, trước tiên bắn ra những phát tam đoạn luận của mình, và sau đó vác gậy gộc lên lao vào nhau, cho đến khi bằng cách này hay cách khác họ đè bẹp được những kẻ phản đối.

Ở Oxford có một lối đi hẹp1 (mượn dùng một thuật ngữ quân sự), nơi các phe phái thường đụng độ nhau, chính vì thế nó vẫn giữ nguyên cái tên Logic-Lane (Ngõ Logic). Tôi từng nghe một cụ già làm nghề y ba hoa khoác lác rằng khi còn là một thanh niên, ông từng nhiều lần dẫn đầu một đoàn quân thuộc phái Scotists2, và dùng gậy gộc nện tơi bời một nhóm phái Smiglesians3 suốt dọc chiều dài đường High-street, cho đến khi họ giải tán tản mát tìm chỗ ẩn náu trong các pháo đài tương ứng của mình.

Tôi nhận thấy thói quen này từng lan rất rộng vào thời của Erasmus. Bởi vì tác giả ấy bảo với chúng ta4 rằng, nhân sự hồi sinh của văn học Hy Lạp, phần lớn các trường đại học ở châu Âu bị chia rẽ thành phe Hy Lạp và phe thành Troia. Phế sau là những kẻ mang mối hận thù không đội trời chung với ngôn ngữ của người Hy Lạp, đến mức nếu chạm trán bất kỳ ai hiểu được nó, họ nhất định sẽ đối xử với kẻ đó như kẻ thù.

Bản thân Erasmus, có vẻ như, đã không may rơi vào tay một nhóm người thành Troia, những kẻ đã nện cho ông vô số cú đấm và tát đến mức ông chẳng bao giờ quên được sự thù hằn của họ cho đến tận cuối đời.

Có một phương pháp quản lý một cuộc tranh luận chẳng khác mấy so với phương pháp trước, được sử dụng bởi các quốc gia và cộng đồng, khi họ tung ra hàng trăm ngàn kẻ tranh luận ở mỗi bên và thuyết phục lẫn nhau bằng sức mạnh của gươm giáo.

Một vị Đại quân vương nọ5 quá đỗi tự tin vào sức mạnh của mình trong lối lập luận này đến nỗi ông đã khắc lên những khẩu đại bác lớn của mình dòng chữ—Ratio ultima Regum, Lục lý của các vị vua; nhưng ơn Chúa, giờ đây hắn ta đã bị đánh bại một cách ê chề ngay bằng chính thứ vũ khí của mình. Khi phải đối phó với một nhà triết học kiểu này, người ta nên ghi nhớ câu nói của vị cụ ông từng tham gia tranh luận với một vị hoàng đế La Mã6. Khi được người bạn bày tỏ sự ngạc nhiên rằng ông lại chịu nhượng bộ câu hỏi, trong khi rõ ràng ông đang chiếm ưu thế trong cuộc tranh luận; Ta chẳng bao giờ cảm thấy xấu hổ, ông đáp, khi bị khuất phục bởi kẻ nắm trong tay năm mươi quân đoàn.

Tôi sẽ chỉ điểm qua một dạng lập luận khác, có thể gọi là tranh luận bằng cách kiểm phiếu; và một dạng khác có sức mạnh tương đương, trong đó các vụ cá cược được sử dụng làm lập luận, theo câu thơ nổi tiếng trong tác phẩm Hudibras7.

Nhưng phương thức đáng chú ý nhất để quản lý một cuộc tranh tài chính là thứ mà chúng ta có thể gọi là Tranh luận bằng tra tấn.

Đây là một phương pháp lý giải từng được sử dụng đối với những người tị nạn khốn khổ, và từng rất thịnh hành ở nước ta dưới triều đại của Nữ hoàng Mary, đến mức trong một đoạn trích của một tác giả được trích dẫn bởi ngài Bayle8, người ta nói rằng giá củi ở Anh đã tăng vọt, do những vụ tử hình được thực hiện ở Smithfield.

Những kẻ tranh luận này thuyết phục đối thủ của họ bằng một chuỗi tam đoạn luận (Sorites)9, thường được gọi là một giàn củi thiêu. Giá tra tấn cũng là một dạng tam đoạn luận từng được sử dụng mang lại hiệu quả tốt và tạo ra vô số tín đồ cải đạo. Con người thuở trước từng bị tranh cãi để tống khứ những mối hoài nghi, được hòa giải với chân lý bằng sức mạnh của lý trí, và được lôi kéo về với những quan điểm bằng sự cởi mở, sự khôn ngoan và tài tình của những kẻ nắm giữ lẽ phải trong tay; nhưng phương pháp thuyết phục này vận hành quá chậm chạp. Nỗi đau được nhận ra là mang lại sự bừng tỉnh sáng láng hơn nhiều so với lý trí. Mọi sự chần chừ đều bị xem là sự ngoan cố, và không thể được gỡ bỏ nếu không nhờ vào vô số cỗ máy được phát chế ra cho mục đích đó. Tóm lại, việc áp dụng roi da, giá tra tấn, giàn treo cổ, thuyền giam nô lệ, ngục tối, lửa và củi thiêu vào một cuộc tranh luận, có thể được xem là những sự tinh tế theo lối giáo hoàng cải tiến từ logic của người ngoại giáo thời cổ.

Có một phương pháp lập luận khác hiếm khi thất bại, dẫu nó mang bản chất hoàn toàn khác biệt so với phương pháp tôi vừa nhắc đến sau cùng. Ý tôi là việc thuyết phục một người bằng tiền mặt, hay theo cách gọi thông thường là mua chuộc ai đó theo một quan điểm. Phương pháp này thường chứng minh sự thành công khi tất cả những phương pháp khác được áp dụng mà chẳng mang lại tích sự gì. Một kẻ được trang bị những lập luận từ xưởng đúc tiền sẽ thuyết phục đối thủ của mình nhanh hơn nhiều so với kẻ rút ra chúng từ lý trí và triết học. Vàng là một thứ làm sáng tỏ trí tuệ tuyệt vời; nó xua tan mọi nỗi hoài nghi và sự cợt nhả chỉ trong chớp mắt; thích ứng với những năng lực thấp hèn nhất; làm câm lặng những kẻ ồn ào la hét, đồng thời lôi kéo cả những kẻ ngoan cố và cứng đầu nhất.

Philip xứ Macedon là một con người sở hữu lý trí bất khả chiến bại theo hướng này. Ông dùng nó để bác bỏ toàn bộ sự khôn ngoan của Athens, làm bối rối các chính khách của họ, khiến các nhà hùng biện của họ câm nín, và cuối cùng tước đoạt toàn bộ tự do của họ bằng những lời lẽ đanh thép ấy.

Sau khi đã chạm đến các phương pháp tranh luận khác nhau, hệt như chúng từng thịnh hành trong các thời kỳ khác nhau của thế giới, rất nhanh chóng tôi sẽ gửi đến độc giả bản tường thuật về toàn bộ nghệ thuật ngụy biện; thứ sẽ là câu trả lời đầy đủ và thỏa đáng cho tất cả những bài báo và tiểu luận từng xuất hiện nhằm chống lại tờ Spectator cho đến nay.

C.

Chú thích 1: Lối đi hẹp

Chú thích 2: Những tín đồ của nhà triết học kinh viện nổi tiếng Duns Scotus (người giảng dạy tại Oxford và qua đời năm 1308), là những người theo chủ nghĩa Hiện thực, và phái Scotists với tư cách là những người theo chủ nghĩa Hiện thực đối lập với phái Danh nghĩa, những người với tư cách là tín đồ của Thomas Aquinas được gọi là Thomists. Sự lạm dụng từ ngữ của những người theo phDuns trong thời gian sau đó đã tạo nên nghĩa hiện tại cho từ Dunce (kẻ đần độn).

Chú thích 3: Những tín đồ của Martin Smiglecius, một tu sĩ Dòng Tên người Ba Lan, người dạy Triết học trong bốn năm và Thần học trong mười năm tại Vilnius, Lituania, và qua đời tại Kalisch năm 1618. Bên cạnh các tác phẩm thần học, ông xuất bản một cuốn sách về các cuộc tranh luận về Logic.

Chú thích 4: Thư của Erasmus.

Chú thích 5: Louis XIV.

Chú thích 6: Hadrian, được trích dẫn trong Tác phẩm Châm ngôn của Bacon.

Chú thích 7: Hudibras, Phần II. c. i, v. 297. Xem [Liên kết Tập 1: chú thích số 145.]

Chú thích 8: And. Ammonius trong tiểu sử của Bayle viết về ông, nhưng câu nói này thuộc về triều đại của Henry VIII.

Chú thích 9: Một chuỗi tam đoạn luận (Sorites), trong Logic — xuất phát từ một đống — là một chồng tam đoạn luận được kết cấu chặt chẽ đến mức kết luận của cái này làm tiền đề cho cái tiếp theo.

Mục lục

No. 240 Thứ Tư, ngày 5 tháng 12 năm 1711 Steele

—Aliter non fit, Avite, liber.

Mart.

Thưa ngài Spectator,

Tôi làm một trong những ngành nghề lịch sự bậc nhất ở thành phố, và thấu hiểu nền giáo dục phóng khoáng đủ để nuôi dưỡng một hoài bão mãnh liệt muốn được hữu ích cho nhân loại, và nghĩ rằng đó chính là mục đích tối thượng của sự tồn tại trong cõi đời này. Tôi có được những ấn tượng tốt đẹp này từ phong thái cao đẹp của một người học thức, hào phóng và giàu có đối với mình khi tôi mới bước chân vào đời. Một vài sự bất mãn giữa tôi và gia đình đã khiến tôi bước vào đời với ít hứng thú với công việc hơn đáng kể lẽ ra phải có; và để xua đi sự bứt rứt này, tôi đã dấn thân vào những thú vui tội lỗi, vài sự chè chén quá đà cùng lối sống phóng túng nói chung. Tôi chẳng rõ vị nhân sĩ xuất sắc được nhắc tới ở trên đã nhìn thấy điều gì ở tôi, nhưng ông đã hạ mình từ sự uy nghiêm của trí tuệ và tài năng để thường xuyên bước vào bầu bạn với tôi. Điều này nhanh chóng khiến tôi nuôi hy vọng rằng mình có sẵn điều gì đó đáng để vun đắp, và những cuộc trò chuyện của ông đã làm tôi thức tỉnh trước những niềm hân hoan theo một lối sống chuẩn mực, thứ mà trước đó tôi chưa từng mường tượng nổi. Khi đã trở nên quen thuộc với tôi, ông cởi mở tâm can hệt như một thiên thần hộ mệnh và bảo với tôi rằng ông đã nhọc công vun vén từ lâu để chuẩn bị cho tôi tiếp nhận tình bằng hữu và những lời khuyên của ông, cả hai thứ mà tôi sẽ được toàn quyền sai khiến hằng ngày, cùng quyền sử dụng bất kỳ phần nào trong gia tài của ông để áp dụng vào những phương kế do ông đề xuất nhằm cải thiện bản thân. Tôi xin đảm bảo với ngài rằng, tôi không tài nào nhớ lại lòng tốt cùng sự bối rối của vị nhân sĩ ấy khi ông thốt lên những lời này mà không tan chảy thành dòng nước mắt; nhưng ngắn gọn lại, thưa ngài, tôi phải vội vã thưa với ngài rằng trái tim tôi đang bừng cháy lòng biết ơn đối với ông ấy, và ông ấy là một con người hạnh phúc đến mức tôi sẽ chẳng bao giờ có đủ khả năng báo đáp những ân huệ của ông theo cách tương tự, nhưng tôi chắc chắn rằng mình đã mang lại cho ông sự đền đáp dễ chịu nhất có thể, bằng cách luôn sẵn sàng phục vụ người khác hết khả năng, trong giới hạn phù hợp với sự thận trọng mà ông đã vạch ra cho tôi. Thưa ngài Spectator thân mến, tôi không chỉ mang ơn ông sự thiện chí và lòng quý trọng từ chính họ hàng của mình (những người vốn là nhân vật có vai vế), sự an nhàn và dư dả hiện tại trong hoàn cảnh của tôi, mà còn cả sự kìm hãm các cảm xúc và việc điều tiết các ham muốn của bản thân. Tôi không nghi ngờ gì, thưa ngài, trong trí tưởng tượng của ngài, những đức tính như thế của người bạn đáng kính của tôi mang một tầm vóc to lớn chẳng kém gì những hành động rực rỡ hơn trong mắt phái đẹp thông thường. Điều tôi muốn thỉnh cầu ở ngài là hãy dành tặng chúng tôi một số báo trọn vẹn bàn về Đức hạnh Anh hùng trong đời sống thường nhật, thứ có thể khích lệ mọi người hướng đến những khuynh hướng cao thượng tương tự, hệt như những gì từng được thể hiện bởi nhân vật đáng ngưỡng mộ này đối với,

Thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài.

Thưa ngài Spectator,

Tôi là một địa chủ miền quê, sở hữu một cơ ngơi khấm khá và sống hòa hợp với những người hàng xóm bằng sự hiếu khách nồng hậu. Tôi vẫn luôn được các quý cô xem là người bạn đồng hành tuyệt vời nhất trên đời, và được ra vào như một dạng khách cưng. Tôi chưa từng xuất hiện ở nơi công cộng mà không chào hỏi khắp lượt, dẫu trong những buổi hội họp đông đúc, nơi người ta có thể thấy tôi khéo léo tránh để chiếc cưa gót giày vướng vào váy áo của họ khi di chuyển giữa họ; và ngược lại, họ cúi chào thật duyên dáng và đón tiếp tôi ra sao, đứng thành từng hàng đúng quy chuẩn và tiến lên nhanh chóng khi thấy những bậc trưởng bối hoặc bề trên được tôi thăm hỏi xong xuôi. Thế nhưng sự tình là thế này, thưa ngài Spectator, tất cả phép tắc lịch sự của chúng ta dạo gần đây đã bị cuốn phăng đi bởi sự xuất hiện bất hạnh của một quý nhân chốn cung đình, hay người đàn ông thành thị, kẻ vừa mới đặt chân đến vùng đất của chúng tôi dạo gần đây: Nhân vật này hễ bước vào phòng là cúi gập người thật sâu rồi lùi lại, sau đó lấy lại phong thái mềm mại và cúi chào người tiếp theo, và cứ thế đối với một hoặc hai người nữa, rồi chiếm trọn không gian căn phòng bằng cách bước qua họ trong một cái cúi chào liên tục cho đến khi tiến đến nhân vật mà hắn cho là thích hợp để đặc biệt tiếp chuyện. Hắn thực hiện điều này với một vẻ duyên dáng và sự tự tin đến mức nó được xem là mốt thời trang hiện tại; và từ khi hắn xuất hiện lần đầu tiên đến nay, chẳng có một thiếu nữ nào trong vòng bán kính mấy dặm quanh đây được trao một nụ hôn chào hỏi nào nữa. Chúng tôi, những địa chủ miền quê, không thể bắt đầu lại từ đầu để học lấy những phong thái tinh tế và rụt rè này; và các cuộc trò chuyện của chúng tôi đang đi vào ngõ cụt, cho đến khi chúng tôi nhận được phán quyết ủng hộ hay phản đối của ngài về hành động hôn nhau, như một biểu hiện của sự lịch thiệp hay chào hỏi; điều này đang được mong mỏi một cách vô cùng sốt ruột bởi những người bạn thuộc cả hai giới của ngài, nhưng chẳng ai tha thiết bằng

Người đầy tớ khiêm nhường của ngài,

Rustick Sprightly.

Ngày 3 tháng 12 năm 1711.

Thưa ngài Spectator,

Đêm nọ tôi có mặt tại buổi biểu diễn Philaster1, nơi tôi ngóng trông được lắng nghe gã thợ đóng rương nổi tiếng của ngài, nhưng đã hụt hẫng một cách vui vẻ khi không bắt gặp sự hiện diện của hắn mà lại nhìn thấy một nhân vật khác mang tham vọng tương tự muốn tạo dấu ấn cho bản thân bằng một phong cách ồn ào, một phần qua tiếng la hét hoặc nói lớn tiếng, và một phần qua sự linh hoạt của cơ thể. Đây là một gã tráng kiện bảnh bao, kẻ vừa chen chân vào một trong những lô ghế bên hông sân khấu trước khi tấm màn nhung được kéo lên, liền hào hứng phô diễn sự năng động của mình trước toàn thể khán giả bằng cách nhảy qua các hàng rào giáo nhọn; hắn di chuyển từ đó đến một trong những cánh cửa ra vào, nơi hắn ngửi thuốc hít với một vẻ duyên dáng kha khá, phô bày bộ quần áo đẹp đẽ của mình, tung ra hai ba đường kiếm giả vờ vào tấm màn nhung bằng cây gậy batoong, rồi quay ngoắt lại xuất hiện ở cánh cửa bên kia: Ở đây hắn ra điều khảo sát toàn bộ khán phòng, cúi chào và mỉm cười bừa bãi, rồi nhe hàm răng ra, quả thực có vài chiếc rất trắng: Sau khi hoàn tất, hắn lui ra sau tấm màn nhung và ban ơn cho chúng ta bằng vài góc nhìn về thân thể hắn từ mỗi khe hở.

Trong suốt thời gian diễn xuất, hắn liên tục xuất hiện trong căn phòng của hoàng tử, góp mặt trong buổi đi săn, và tỏ ra vô cùng hăng hái trong cuộc nổi dậy. Dẫu không có những lệnh cấm nào đi ngược lại, thói quen này vẫn phải thú nhận là làm suy giảm niềm vui của khán giả, và vì lý do đó là hành vi ngạo mạn và không thể dung thứ; nhưng kể từ khi lệnh điều lệnh gần đây của Nữ hoàng ban hành xem nó là tội phạm2, ngài đã có đầy đủ thẩm quyền để lên tiếng chấn chỉnh nó.

Thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường của ngài,

Charles Easy.

T.

Chú thích 1: Vở kịch Philaster của Beaumont và Fletcher được công diễn vào thứ Sáu trước đó, ngày 30 tháng 11. Cảnh đi săn nằm trong Màn thứ tư, cuộc nổi dậy ở Màn thứ năm.

Chú thích 2: Vào thời điểm này, dòng chữ 'Theo lệnh của Nữ hoàng, không ai được phép bén mảng ra phía sau hậu trường' đã được bổ sung vào các áp phích quảng cáo kịch.

Mục lục

No. 241 Thứ Năm, ngày 6 tháng 12 năm 1711 Addison

—Semperque relinqui

Sola sibi, semper longam incomitata videtur

Ire viam—

Virg.

Thưa ngài Spectator,

Dẫu ngài đã xem xét tình yêu đức hạnh trong hầu hết những nỗi thống khổ của nó, tôi không tài nào nhớ rằng ngài từng cống hiến cho chúng tôi bất kỳ bài luận nào về sự vắng mặt của những người yêu nhau, hay vạch ra bất kỳ phương pháp nào để họ tự vực dậy tinh thần trong những cuộc chia ly kéo dài đằng đẵng mà đôi khi họ buộc phải gánh chịu. Tôi hiện đang rơi vào hoàn cảnh bất hạnh này, khi phải chia tay người chồng tuyệt vời nhất, người đang bận rộn phục vụ tổ quốc ở nơi xa và có lẽ phải vài năm nữa mới có thể trở về. Tình cảm nồng nàn và hào phóng của anh ấy khi chúng tôi còn gắn bó, cùng sự dịu dàng mà anh bày tỏ lúc chia ly, khiến sự vắng mặt của anh trở nên gần như không thể chịu đựng nổi. Tôi nghĩ về anh từng khoảnh khắc trong ngày và hội ngộ cùng anh mỗi đêm trong những giấc chiêm bao. Mọi thứ tôi nhìn thấy đều gợi nhắc tôi nhớ đến anh. Tôi dồn hết tâm trí vào việc chăm sóc gia đình và cơ ngơi của anh với sự cần mẫn vượt mức bình thường; nhưng điều này, thay vì khuây khỏa tôi, lại mang đến cho tôi bấy nhiêu dịp để ngóng trông sự trở về của anh. Tôi thường xuyên lui tới những căn phòng nơi tôi từng trò chuyện cùng anh, và khi không bắt gặp anh ở đó, tôi ngồi thụp xuống chiếc ghế của anh và bật khóc rưng rưng. Tôi thích đọc những cuốn sách anh từng say mê và trò chuyện với những con người từng được anh trân quý. Tôi ngắm nhìn bức chân dung của anh hàng trăm lần một ngày và tự đặt mình đối diện với nó suốt hàng giờ liền. Tôi dành phần lớn thời gian rỗi của mình đi dạo trên những lối mòn nơi tôi từng tựa vào cánh tay anh, và hồi tưởng lại trong tâm trí những cuộc trò chuyện từng diễn ra giữa chúng tôi ở đó; tôi ngắm nhìn những khung cảnh và góc nhìn khác nhau mà chúng tôi từng cùng nhau chiêm ngưỡng, dán mắt vào những đối tượng mà anh từng bắt tôi phải chú ý, và gọi về ký ức hàng ngàn nhận xét [dễ chịu] mà anh từng thốt ra trong những dịp ấy. Tôi viết thư cho anh qua mọi chuyến chuyển phát, và trái ngược với mọi người, tôi luôn có tâm trạng vui vẻ mỗi khi gió Đông thổi tới, bởi vì nó hiếm khi bỏ lỡ việc mang về cho tôi một bức thư từ anh. Xin ngài, tôi tha thiết nài xin ngài, hãy ban cho tôi lời khuyên trong dịp này và cho tôi biết làm thế nào để tự xoa dịu bản thân trong cảnh góa bụa tạm thời này.

Tôi kính thư, thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài,

Asteria.

Sự vắng mặt là điều mà các nhà thơ gọi là cái chết trong tình yêu, và đã khơi mào cho vô vàn những lời than vãn tươi đẹp trong các tác phẩm của những tác giả từng đề cập đến nỗi đam mê này bằng thơ ca.

Các bức thư của Ovid tràn ngập những điều đó. Nhân vật Monimia của Otway cất lời vô cùng dịu dàng về chủ đề này1.

It was not kind

To leave me like a Turtle, here alone,

To droop and mourn the Absence of my Mate.

When thou art from me, every Place is desert:

And I, methinks, am savage and forlorn.

Thy Presence only 'tis can make me blest,

Heal my unquiet Mind, and tune my Soul.

Sự an ủi của những người yêu nhau trong những dịp này là vô cùng đặc biệt. Bên cạnh những cách thức được Asteria nhắc tới, còn có vô số động lực an ủi khác được tận dụng bởi những người yêu nhau khi cách biệt.

Tôi nhớ trong một cuốn tiểu thuyết của Scudery, một cặp đôi uyên ương cao quý từng thỏa thuận vào lúc chia ly sẽ dành ra nửa giờ đồng hồ mỗi ngày để suy ngẫm về nhau trong suốt khoảng thời gian xa cách dằng dặc. Cuốn tiểu thuyết kể rằng cả hai đều tuân thủ một cách chuẩn xác thời gian đã định ấy; và bất kể họ vướng bận cuộc hội họp hay công việc gì, họ đều đột ngột bỏ dở ngay khi tiếng đồng hồ điểm chuông nhắc nhở họ lui về. Cuốn tiểu thuyết còn kể thêm rằng những người yêu nhau ngóng trông sự trở về của giờ hẹn cố định này với sự thiếu kiên nhẫn hệt như thể đó là một cuộc hẹn hò thực sự, và tận hưởng một hạnh phúc tưởng tượng gần như dễ chịu hệt như những gì họ tìm thấy từ một cuộc hội ngộ thực tế. Đó là một niềm hân hoan không thể diễn tả được đối với những cặp đôi yêu nhau bị chia cắt này, khi được đảm bảo rằng mỗi người cùng lúc ấy đều đang đắm chìm trong cùng một dạng thức chiêm nghiệm, và trao trả những đợt sóng dịu dàng và tình cảm tương đương.

Nếu tôi được phép nhắc đến một biện pháp nghiêm túc hơn nhằm làm dịu bớt nỗi đau xa cách, tôi sẽ lưu ý đến một phương thức mà tôi từng biết hai người thực hiện, những người kết hợp tôn giáo với thứ sự tao nhã trong tâm tư mà niềm đam mê tình yêu thường truyền cảm hứng cho những tín đồ của nó. Đó là việc, vào thời điểm của một giờ như thế, dâng lên một lời cầu nguyện nhất định dành cho nhau mà họ đã thỏa thuận trước khi chia ly. Người chồng, một nhân vật có vóc dáng trong giới thượng lưu cũng như trong chính gia đình mình, từng nhiều lần bảo với tôi rằng anh ta khó lòng trụ vững qua quãng thời gian ba năm xa cách nếu thiếu đi biện pháp này.

Strada, trong một bài luận thuyết của mình2, đã kể lại một cuộc thư tín kỳ ảo giữa hai người bạn nhờ sự trợ giúp của một thỏi nam châm đặc biệt, thứ sở hữu sức mạnh kỳ diệu đến mức nếu nó chạm vào hai chiếc kim độc lập, khi một trong hai chiếc kim chạm vào đó bắt đầu3 chuyển động, chiếc kim kia, dẫu ở khoảng cách xa đến đâu đi chăng nữa, vẫn chuyển động vào cùng thời điểm và theo cùng một cách thức. Ông kể cho chúng ta hay rằng hai người bạn, mỗi người sở hữu một trong những chiếc kim này, đã chế tạo một dạng mặt đồng hồ, khắc lên đó hai mươi tư chữ cái, hệt như cách các giờ trong ngày được đánh dấu trên mặt đồng hồ thông thường. Sau đó họ cố định một trong những chiếc kim lên mỗi mặt đồng hồ này sao cho nó có thể quay vòng không vướng víu, nhằm chạm tới bất kỳ chữ cái nào trong số hai mươi tư chữ cái đó. Khi họ chia tay nhau đến những vùng đất xa xôi, họ thỏa thuận sẽ lui về phòng riêng của mình một cách chuẩn xác vào một giờ nhất định trong ngày, và trò chuyện với nhau thông qua phát minh này của họ. Theo đó, khi họ cách nhau hàng trăm dặm, mỗi người tự nhốt mình vào phòng riêng vào thời điểm đã định và lập tức dán mắt vào mặt đồng hồ của mình. Nếu muốn nhắn gửi điều gì với bạn mình, anh ta hướng mũi kim đến từng chữ cái cấu thành các từ mà anh ta cần, tạm dừng một chút ở cuối mỗi từ hoặc câu để tránh nhầm lẫn. Trong khi đó, người bạn nhìn thấy chiếc kim đồng cảm của chính mình tự động chuyển động đến từng chữ cái mà kim của người tương ứng chỉ vào. Bằng cách này, họ trò chuyện với nhau xuyên qua cả một lục địa, và truyền tải suy nghĩ của mình cho nhau trong chớp mắt vượt qua những thành phố hay núi non, biển cả hay hoang mạc.

Nếu ngài Scudery, hoặc bất kỳ nhà tiểu thuyết nào khác, từng giới thiệu một vị phù thủy, nhân vật thường túc trực trong đoàn tùy tùng của một hiệp sĩ giang hồ, trao tặng cho hai người yêu nhau một cặp chiếc kim vừa nêu trên, độc giả hẳn sẽ vô cùng thích thú khi chứng kiến họ thư tín qua lại với nhau khi bị canh chừng bởi những kẻ chỉ điểm và lính gác, hoặc bị chia cắt bởi những lâu đài và cuộc phiêu lưu.

Trong lúc ấy, nếu phát minh này từng được hồi sinh hoặc đưa vào thực tiễn, tôi đề xuất rằng trên mặt đồng hồ của người yêu không chỉ được khắc hai mươi tư chữ cái, mà còn cả những từ ngữ trọn vẹn luôn chiếm một vị trí trong những bức thư nồng cháy, chẳng hạn như Ngọn lửa, Mũi tên, Chết, Ngôn ngữ, Sự vắng mặt, Cupid, Trái tim, Đôi mắt, Treo cổ, Nhấn chìm, và đại loại thế. Điều này sẽ rút ngắn đáng kể nỗi nhọc nhằn của người yêu theo lối viết thư này, vì nó cho phép anh ta diễn tả những từ ngữ hữu ích và mang ý nghĩa biểu cảm nhất chỉ bằng một cú chạm kim đơn thuần.

C.

Chú thích 1: The Orphan, Màn II.

Chú thích 2: Trong một bài luận thuyết của Strada, ông; Quyển II. Tựa 6.

Chú thích 3: đã bắt đầu, và trong lần tái bản đầu tiên.

Mục lục

No. 242 Thứ Sáu, ngày 7 tháng 12 năm 1711 Steele

Creditur, ex medio quia res arcessit, habere

Sudoris minimum—

Hor.

Thưa ngài Spectator,

Những bài luận của ngài không thực sự chiếm lĩnh phong thái của mọi người một cách phổ biến như tôi hằng mong ước. Một bài viết trước đây của ngài1 liên quan đến sự cư xử kém chuẩn mực của những người buộc phải ngồi chung xe khi đi du lịch, đáng lẽ phải là một lời cảnh tỉnh lâu dài chống lại những hành vi vi phạm kiểu đó: Nhưng tôi lại mang số phận của vị tín đồ phái Quaker của ngài, khi chạm trán một gã thô lỗ trên chuyến xe ngựa công cộng, kẻ đã giải trí cho hai ba phụ nữ chúng tôi (bởi vì ngoài hắn ra chẳng có nam giới nào khác) bằng thứ ngôn ngữ đồi trụy chưa từng nghe thấy ngay cả trên sông nước. Những quan sát vô duyên mà gã hợm hĩnh ấy thốt ra trước sự xấu hổ và bối rối của chúng tôi quả thực khiến việc ngẫm lại chúng mang một nỗi đau khôn xiết. Dẫu ngài đã đả kích quyết liệt tệ nạn đấu kiếm, tôi hy vọng ngài sẽ làm chúng tôi công bằng bằng cách tuyên bố rằng nếu tên bạo chúa đó đủ can đảm để gửi tin nhắn đến nơi hắn chứng kiến tất cả chúng tôi cùng bước xuống xe để tống khứ hắn, thì chẳng có một ai trong số chúng tôi không có người tình sẵn sàng đứng ra rửa hận cho sự lăng mạ đó. Thiết nghĩ ngài rất đáng cân nhắc để xem xét những bất hạnh thường xuyên xảy ra theo kiểu này, thứ mà những người khiêm nhường và vô tội phải đối mặt, do hành vi phóng túng của những kẻ hoàn toàn xa lạ với sự lịch thiệp cũng như đức hạnh. Nếu chúng ta có thể tránh nghe những gì mình không chuẩn y, dễ dàng hệt như cách chúng ta tránh nhìn những gì khó chịu, thì vẫn còn chút niềm an ủi; nhưng vì khi ngồi trong một lô ghế tại nhà hát2, trong một hội đồng phụ nữ, hoặc thậm chí trong một băng ghế tại nhà thờ, một gã hợm mĩnh thô lỗ hoàn toàn có quyền thốt ra những điều mà người phụ nữ không thể tránh né việc lắng nghe, thì tình cảnh của một người rơi vào tầm ngắm của những kẻ vô duyên ấy bi đát nhường nào? Và việc lặp đi lặp lại những lời chỉ trích nhắm vào một hành vi như thế là cấp thiết đến nhường nào? Nếu những kẻ phóng túng không hoàn toàn quên mất thế nào là sự khiêm nhường, chúng hẳn phải biết rằng sự khiêm nhường bị tổn thương đang phải oằn mình gánh chịu một trong những thống khổ lớn lao nhất mà đời người có thể phải đối mặt. Nếu một trong những tên bạo chúa này có thể tự suy ngẫm bấy nhiêu thôi, dẫu chúng thiếu đi lòng hổ thẹn, chúng cũng sẽ bị lay động bởi lòng trắc ẩn của mình để mà ghê tởm hành vi trơ tráo trước mặt những người trong sạch và vô tội. Nếu ngài ban ơn cho chúng tôi một bài luận về chủ đề này, và cho dán nó lên từng chiếc xe ngựa công cộng ở Đại Anh, như là luật lệ của chuyến hành trình, ngài sẽ vô cùng làm hài lòng phái đẹp, đối với những người ngài từng tuyên bố dành sự quý trọng lớn lao; và đặc biệt là hai người phụ nữ từng là bạn đồng hành cùng chịu đựng nỗi khổ với tôi, và,

Thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài,

Rebecca Ridinghood.

Thưa ngài Spectator,

Vấn đề mà tôi sắp gửi cho ngài đây là một câu chuyện buồn bã ở tầng lớp bình dân, và nó sẽ tự khẳng định mình đến mức ngài phải châm chước cho cách diễn đạt của nó. Một gã thợ dệt nghèo lười biếng nát rượu ở Spittle-Fields có một người vợ tần tảo tháo vát, người nhờ vào sự tiết kiệm và chăm chỉ đã dành dụm được khoản tiền đủ để mua cho mình một tấm vé trong kỳ xổ số hiện tại. Nàng cất giấu nó vô cùng kín đáo ở đáy một chiếc rương, và đã tiết lộ con số của mình cho một người bạn kiêm tri kỷ, người từng hứa sẽ giữ kín bí mật và mang tin vui về kết quả cho nàng. Nàng phiêu lưu khốn khổ nọ một ngày nọ có việc đi vắng, khi người chồng vô tâm của nàng, nghi ngờ vợ mình cất giấu chút tiền bạc, bèn lục tung mọi ngóc ngách cho đến khi cuối cùng hắn tìm thấy chính chiếc vé số đó; hắn lập tức mang ra ngoài bán đi và nướng sạch số tiền mà người vợ không hề mảy may nghi ngờ điều gì. Một hai ngày sau, người bạn này, vốn là một phụ nữ, đến báo tin cho người vợ rằng nàng đã trúng giải thưởng Năm trăm bảng Anh. Người phụ nữ khốn khổ vui mừng khôn xiết, chạy hộc tốc lên lầu tìm chồng, lúc ấy đang làm việc, và nài nỉ hắn rời khỏi khung cửi trong buổi chiều hôm đó để xuống nhà uống nước cùng một người bạn của cả hai. Người đàn ông đón nhận lời mời tươi vui ấy hệt như cách những ông chồng tồi thỉnh thoảng vẫn làm, và sau một hai câu nói cộc cằn liền bảo với nàng rằng hắn không đi. Người vợ với tất cả sự dịu dàng lại tiếp tục nài nỉ và cuối cùng thốt lên với hắn rằng: Chồng yêu ạ! Vài tháng nay, em đã lén anh dành dụm được số tiền đủ để mua một tấm vé xổ số, và giờ đây thưa bà Quick3 đến báo tin rằng sáng nay nó đã trúng giải thưởng Năm trăm bảng. Người chồng liền đáp ngay: Mày nói láo, đồ khốn nạn, mày chẳng có tấm vé nào sạt, vì tao đã bán nó rồi. Người phụ nữ khốn khổ nghe xong liền ngất lịm đi, tỉnh lại và giờ đã phát điên. Vì nàng chẳng có mưu đồ gian lận chồng mình, mà chỉ muốn sẻ chia vận may của hắn, ai nấy đều xót thương nàng, nhưng cho rằng hình phạt dành cho người chồng là hoàn toàn xứng đáng. Thưa ngài, đây là câu chuyện có thật, và nếu các nhân vật cùng hoàn cảnh vĩ đại hơn, trong một vở kịch được nhào nặn công phu, nó sẽ được gọi là Nỗi bất hạnh tuyệt mỹ. Tôi mới chỉ phác thảo nó bằng phấn, và thừa biết một tay nghề cừ khôi có thể tạo nên một bức tranh lay động với những nguyên liệu tồi tệ hơn nhiều.

Thưa ngài, &c.

Thưa ngài Spectator,

Tôi là kẻ mà thế giới gọi là một gã nóng tính, và nhờ sự thành công tốt đẹp trong thương mại, tôi đã vươn lên đến vị thế có thể tạo dựng chút tên tuổi trên thế giới; nhưng dẹp chuyện đó đi. Hiện tại tôi đang bảo hộ cho một cặp cháu gái, những kẻ chắc chắn sẽ làm tôi phát điên; điều mà ngài sẽ chẳng mảy may ngạc nhiên khi tôi cho ngài biết chúng là những nữ hiền triết học thuật (Female Virtuosos), và trong suốt ba năm rưỡi tôi cưu mang chúng dưới mái nhà của mình, chúng chưa từng mảy may hướng suy nghĩ của mình đến bất kỳ một chi tiết nhỏ nào trong chân dung của một người phụ nữ tháo vát. Trong lúc lẽ ra chúng phải cân nhắc những nguyên liệu thích hợp cho món bánh sữa Sack-posset, ngài sẽ nghe thấy một cuộc tranh cãi liên quan đến tính chất từ trường4 của thỏi nam châm, hoặc có lẽ là áp suất của bầu khí quyển: Ngôn ngữ của chúng là một thứ ngôn ngữ độc quyền, và chúng khinh bỉ việc diễn tả những thứ vụn vặt tầm thường nhất bằng những từ ngữ không có gốc gác tiếng Latinh. Nhưng điều này vẫn còn có thể chịu đựng được, nếu chúng chịu để tôi tận hưởng sự thiếu hiểu biết không bị gián đoạn; thế nhưng, trừ khi tôi hùa theo cái ý tưởng trừu tượng của chúng về vạn vật (như cách chúng gọi), tôi đừng mong hút nổi một điếu thuốc trong yên bình. Trong một cơn gút bộc phát gần đây, tôi phàn nàn về cơn đau của căn bệnh ấy khi cô cháu gái Kitty của tôi khẩn khoản xin phép được đảm bảo với tôi rằng, bất kể tôi nghĩ gì, một vài triết gia vĩ đại, cả cổ đại lẫn hiện đại, đều có chung quan điểm cho rằng cả niềm vui lẫn nỗi đau đều là những sự phân biệt tưởng tượng5, và chẳng có thứ gọi là gì trong rerum Natura. Tôi từng nghe chúng khẳng định rằng lửa không hề nóng; và có một hôm, khi tôi, với tư cách bề trên của một gã già nua, đề nghị một đứa trong số chúng khoác chiếc áo choàng màu xanh của tôi lên đầu gối, cô ta đáp: Thưa ngài, con sẽ lấy chiếc áo choàng; nhưng xin lưu ý, con không làm thế vì đồng tình với mô tả của ngài; bởi vì gọi nó là màu vàng hay màu xanh đều đúng cả; vì màu sắc chẳng là gì ngoài những sự khúc xạ khác nhau của các tia mặt trời. Cô tiểu thư Molly bảo với tôi một hôm rằng: Nói tuyết màu trắng là thừa nhận một sai lầm phổ biến; bởi vì chứa một lượng lớn các hạt nitơ, người ta có thể hợp lý cho rằng nó màu đen6. Tóm lại, lũ ranh con ấy muốn thuyết phục tôi rằng việc tin vào đôi mắt của chính mình là con đường chắc chắn để bị lừa dối; và từng khuyên tôi bằng mọi giá không được tin tưởng vào bất kỳ thứ gì dễ sai sót như các giác quan của mình. Điều tôi khẩn cầu ngài lúc này là hãy xoay chuyển một bài luận để điều chỉnh cho đúng đắn nền văn học nữ giới, chí ít trong giới hạn khiến nó tương thích với sự yên bình của những kẻ có số phận phải hứng chịu những sự lăng mạ của nó; và hãy cho chúng tôi biết sự khác biệt giữa một quý ông làm bánh ngọt và nhào bột, với một người phụ nữ đọc Locke và thấu hiểu toán học. Qua đó ngài sẽ vô cùng làm hài lòng

Người bạn chân thành và đầy tớ khiêm nhường của ngài,

Abraham Thrifty.

T.

Chú thích 1: [Liên kết Tập 1: Số 132].

Chú thích 2: tại một Lô ghế trong vở kịch, và trong lần tái bản đầu tiên.

Chú thích 3: đến

Chú thích 4: thuộc về từ trường, và trong lần tái bản đầu tiên.

Chú thích 5: Sự phân tâm, và trong lần tái bản đầu tiên.

Chú thích 6: có thể hợp lý hơn, và trong lần tái bản đầu tiên.

Mục lục

No. 243 Thứ Bảy, ngày 8 tháng 12 năm 1711 Addison

Formam quidem ipsam, Marce fili, et tanquam faciem Honesti vides: quæ si oculis cerneretur, mirabiles amores (ut ait Plato) excitaret Sapientiæ.—

Tull. Offic.

Tôi không nhớ mình từng đọc bất kỳ bài luận nào được viết riêng về vẻ đẹp và sự đáng yêu của đức hạnh, mà không xem xét nó như một bổn phận, và như là phương tiện khiến chúng ta hạnh phúc cả ở hiện tại lẫn tương lai. Do đó, tôi thiết kế bài luận này như một bài tiểu luận về chủ đề đó, trong đó tôi sẽ chỉ xem xét đức hạnh trong mức độ nó mang bản chất đáng yêu tự thân, sau khi đã tiền đề trước rằng tôi hiểu thuật ngữ Đức hạnh theo một khái niệm chung giống như cách nó được gán bởi các nhà đạo đức học, và điều mà những người sùng đạo thường gọi bằng cái tên Tôn giáo, còn những người từng trải gọi bằng cái tên Danh dự.

Bản thân sự giả hình cũng bày tỏ sự tôn vinh lớn lao, hay đúng hơn là sự công minh, đối với tôn giáo, và ngầm thừa nhận nó là một món trang sức cho bản chất con người.

Chúng ta học được từ Hierocles rằng có một câu nói phổ biến giữa những người ngoại giáo rằng người khôn ngoan chẳng ghét bỏ ai, mà chỉ yêu mến những kẻ có đức hạnh.

Tully sở hữu một hệ thống bậc thang tư tưởng vô cùng tươi đẹp nhằm cho thấy đức hạnh đáng yêu nhường nào. Chúng ta yêu mến một người có đức hạnh, ông nói, kẻ sinh sống ở những vùng đất xa xôi hẻo lánh nhất, dẫu chúng ta hoàn toàn nằm ngoài tầm với của đức hạnh người ấy và chẳng thể nhận lại từ đó bất kỳ lợi ích nào; thậm chí, một người đã qua đời từ nhiều thế kỷ trước vẫn khơi dậy trong tâm trí chúng ta sự quý mến và lòng nhân ái thầm kín khi chúng ta đọc câu chuyện của người ấy: Hơn thế nữa, thậm chí một kẻ từng là kẻ thù của tổ quốc chúng ta, miễn là các cuộc chiến của y được điều tiết bởi công lý và nhân đạo, hệt như trường hợp của Pyrrhus mà Tully nhắc đến nhân dịp này để đối lập với Hannibal. Đó chính là vẻ đẹp và sự đáng yêu tự nhiên của đức hạnh.

Chủ nghĩa khắc kỷ, vốn là thứ học thức câu nệ của đức hạnh, quy kết mọi phẩm chất tốt đẹp, dưới bất kỳ hình thức nào, cho người có đức hạnh. Do đó Cato1, trong bức chân dung mà Tully để lại về ông, đã đẩy mọi chuyện đi xa đến mức ông không cho phép bất kỳ ai ngoại trừ người có đức hạnh mới được xem là tuấn tú. Điều này thoạt trông giống một lời cuồng ngôn triết học hơn là quan điểm thực tế của một hiền triết; thế nhưng đó lại là điều được Cato duy trì một cách vô cùng nghiêm túc. Tóm lại, phái khắc kỷ cho rằng họ không thể phô bày đầy đủ sự xuất sắc của đức hạnh nếu không thâu tóm vào khái niệm về nó mọi sự hoàn hảo có thể hình dung được; và do đó không chỉ cho rằng nó vượt trội về vẻ đẹp tự thân, mà còn khiến cho chính thân xác trở nên đáng yêu và xua tan mọi dạng thức méo mó khỏi cá nhân nơi nó ngự trị.

Đó là một quan sát phổ biến rằng những kẻ sa đọa nhất trong mọi cảm giác về sự lương thiện thường có xu hướng mong muốn những người có họ hàng với mình mang một tính cách khác biệt; và thật dễ nhận thấy rằng chẳng có ai bị cuốn hút bởi những sức hút của đức hạnh nơi phái đẹp mãnh liệt bằng những kẻ, chính vì sự ngưỡng mộ ấy, lại bị lôi kéo đến mong muốn hủy hoại nó.

Một tâm hồn đức hạnh ẩn mình trong một thể xác tuyệt mỹ quả thực là một bức tranh tinh xảo dưới một nguồn sáng tốt đẹp, và do đó chẳng có gì là ngạc nhiên khi nó khiến cho phái đẹp ngập tràn những sức hút.

Vì đức hạnh nói chung mang bản chất đáng yêu và kiều diễm, có một số dạng thức đặc biệt của nó còn rực rỡ hơn những dạng khác, và đó là những thứ khuynh hướng chúng ta làm việc thiện cho nhân loại. Sự ôn hòa và tiết chế, lòng tin và sự sùng đạo tự thân có lẽ đáng biểu dương chẳng kém gì bất kỳ đức hạnh nào khác; nhưng những thứ khiến một con người trở nên nổi tiếng và được yêu mến chính là công lý, lòng bác ái, sự hào phóng, và tóm lại, tất cả những phẩm chất tốt đẹp mang lại lợi ích cho nhau. Chính vì thế mà ngay cả một kẻ phóng túng, kẻ chẳng có gì để người ta ca ngợi ngoài một sự hào phóng giả tạo, thường lại được yêu mến và quý trọng hơn một cá nhân sở hữu nhân cách hoàn thiện hơn nhiều nhưng lại khiếm khuyết trong điểm này.

Hai món trang sức vĩ đại của đức hạnh, phô bày cô dưới những góc độ thuận lợi nhất và khiến cô hoàn toàn đáng yêu, chính là sự vui tươi và lòng tốt bụng. Những điều này thường đi đôi với nhau, bởi vì một con người không thể dễ chịu với người khác nếu bản thân anh ta không cảm thấy thoải mái trong lòng. Cả hai đều vô cùng cần thiết trong một tâm hồn đức hạnh, nhằm xua tan sự u sầu khỏi vô số suy nghĩ nghiêm túc mà nó vướng bận, và ngăn cản sự căm ghét tự nhiên đối với cái ác khỏi việc hóa chua thành sự khắc nghiệt và thói hay phán xét.

Nếu đức hạnh mang bản chất đáng yêu nhường này, chúng ta có thể nghĩ gì về những kẻ nhìn ngắm nó bằng ánh mắt căm ghét và ác ý, hoặc để cho sự thù ghét của họ đối với một phe phái xóa sạch toàn bộ công trạng của cá nhân tham gia vào đó. Một con người phải cực kỳ ngu ngốc, cũng như thiếu lòng nhân ái, khi tin rằng chẳng có đức hạnh nào ngoài phe phái của mình, và rằng không có những con người lương thiện chẳng kém gì bản thân hắn lại dám khác biệt với hắn về các nguyên tắc chính trị. Con người có thể đối lập nhau trong một vài chi tiết, nhưng không nên trút giận căm thù lên những phẩm chất vốn mang bản chất đáng yêu tự thân, và chẳng có liên quan gì đến những điểm đang tranh chấp. Những con người đức hạnh, dẫu có lợi ích khác biệt, nên xem bản thân họ gắn kết chặt chẽ với nhau hơn là với phần nhân loại đồi bại, những kẻ dấn thân cùng họ trong những mối quan tâm dân sự. Chúng ta nên nuôi dưỡng tình yêu tương tự đối với một kẻ mang danh nghĩa danh dự, người là đối thủ sống động, hệt như điều mà Tully bảo với chúng ta trong đoạn văn nói trên rằng mọi người tự nhiên dành cho một kẻ thù đã chết. Tóm lại, chúng ta nên quý trọng đức hạnh dẫu ở trong một kẻ thù, và ghê tởm cái ác dẫu ở trong một người bạn.

Tôi nói điều này nhắm đến những sự đối xử tàn nhẫn mà người ở mọi phe phái thường trút lên nhân cách của những ai không đồng quan điểm với họ. Biết bao cá nhân sở hữu sự chính trực không thể nghi ngờ, và đức hạnh mẫu mực, ở cả hai phía, bị bôi nhọ và vu khống? Biết bao người mang danh dự bị phơi bày trước sự sỉ nhục và quở trách công cộng? Do đó, những kẻ đóng vai trò là công cụ hoặc kẻ tòng phạm trong những hành vi địa ngục ấy nên được nhìn nhận như những kẻ lợi dụng tôn giáo để thúc đẩy mục đích của mình, chứ không phải lợi dụng mục đích của mình để thúc đẩy tôn giáo.

C.

Chú thích 1: chúng ta thấy rằng Cato &c.

Mục lục

No. 244 Thứ Hai, ngày 10 tháng 12 năm 1711 Steele

—Judex et callidus audis.

Hor.

Covent-Garden, ngày 7 tháng 12.

Thưa ngài Spectator,

Tôi không thể, trừ phi mang tội bất công kép, kiềm chế việc bày tỏ với ngài sự thỏa mãn mà toàn bộ hội đồng các nhà hiền triết nghệ thuật (virtuosos) đã nhận được từ những gợi ý mà ngài gần đây dành cho thành phố về các bức họa carton của danh họa vô song Raphael. Thiết nghĩ, công việc của một quan sát viên (Spectator) phải là nâng cao những niềm vui của thị giác, và chẳng có con đường nào trực tiếp hơn để làm điều đó ngoài việc khuyến khích việc học hỏi và quan sát những bức vẽ và tranh ảnh xuất sắc. Khi lần đầu tiên tôi đi chiêm ngưỡng những tác phẩm của Raphael mà ngài ca ngợi, tôi phải thú nhận rằng tôi chỉ vừa đủ thấy thích thú; lần tiếp theo tôi thích chúng hơn, nhưng cuối cùng khi trở nên quen thuộc hơn với chúng, tôi đã đem lòng yêu sâu sắc những tác phẩm ấy, hệt như những bài diễn thuyết hay chúng thấm sâu vào trái tim tôi; bởi vì ngài biết đấy, thưa ngài Spectator, một kẻ thông minh có thể gây ấn tượng mạnh mẽ với ta trong hiện tại, nhưng nếu hắn thiếu sự khôn ngoan, tài năng của hắn sẽ nhanh chóng tan biến, trong khi một người khôn ngoan không sở hữu lượng lớn trí tuệ vẫn sẽ mang lại cho ta sự thỏa mãn lớn lao và bền vững hơn nhiều: Sự việc tương tự diễn ra trong một bức tranh được chạm khắc sắc sảo nhưng không được nghiên cứu kỹ lưỡng; người ta có thể gọi đó là một bức tranh thông minh, dẫu người họa sĩ trong lúc đó có nguy cơ bị gọi là một kẻ ngốc. Mặt khác, một bức tranh được thấu hiểu trọn vẹn trong tổng thể và được thể hiện xuất sắc trong các chi tiết, bắt đầu trên nền tảng của hình học, được thực hiện qua các quy tắc phối cảnh, kiến trúc và giải phẫu, và được hoàn thiện bởi sự hòa âm tốt đẹp, màu sắc chuẩn xác và tự nhiên, cùng những cảm xúc và sự biểu đạt tâm hồn gần như độc quyền của Raphael; đây là thứ mà ngài có thể chính xác gọi là một bức tranh khôn ngoan, và thứ hiếm khi thất bại trong việc đánh gục chúng ta đến câm nín, cho đến khi chúng ta có thể tập hợp mọi năng lực của mình để đưa ra một phán quyết khả dĩ về nó. Những bức tranh khác được tạo ra chỉ dành cho đôi mắt, hệt như những chiếc lục lạc được làm ra cho đôi tai trẻ thơ; và chắc chắn bức tranh nào chỉ làm vui lòng đôi mắt mà không đại diện cho một phần được lựa chọn kỹ lưỡng nào đó của tự nhiên, thì chỉ phô bày những màu sắc đẹp đẽ nào được bày bán ở các cửa hàng bán màu, và chế giễu các công trình của Đấng Sáng Tạo. Nếu kẻ bắt chước tự nhiên xuất sắc nhất không được xem là họa sĩ tài ba nhất, mà là kẻ giăng bày màu sắc chói lọi nhất; thì điều tất yếu suy ra là kẻ nào có thể khoác lên mình những tấm vải vóc lộng lẫy nhất sẽ là kẻ ăn mặc đẹp nhất, và kẻ nào có thể cất giọng lớn nhất sẽ là nhà hùng biện xuất sắc nhất. Mỗi người khi ngắm nhìn một bức tranh nên kiểm tra nó theo tỷ lệ lý trí mà anh ta làm chủ, nếu không anh ta sẽ có nguy cơ đưa ra một phán quyết sai lầm. Nếu con người khi đi dạo bên ngoài thường xuyên quan sát những vẻ đẹp của tự nhiên vốn xuất hiện trước mắt họ từng khoảnh khắc, họ sẽ trở thành những nhà giám định giỏi hơn khi nhìn thấy tự nhiên được bắt chước thành công ở nhà: Điều này sẽ giúp ích trong việc khắc phục những sai lầm mà hầu hết những kẻ mạo nhận thường vấp phải, những kẻ quá vội vã trong các phán quyết và không chịu dừng lại để để lý trí tham gia vào quyết định. Chính vì thiếu điều này mà con người ta nhầm lẫn trong trường hợp này, và trong cuộc sống thường nhật, nhầm lẫn một cây cọ vẽ hoang dã phóng túng với một cây cọ thực sự táo bạo và vĩ đại, một gã trơ tráo với một kẻ dũng cảm và kiên cường thực sự, những hành động bồng bột và bất hợp lý với những cuộc phiêu lưu đầy tinh thần và quyết tâm, sắc màu sò sè rực rỡ với thứ thực sự đẹp đẽ, một bài diễn ngôn giả tạo và xảo quyệt với chân lý giản dị được ca ngợi một cách tao nhã. Sự tương đồng sẽ giữ vững qua tất cả mọi phần của cuộc sống lẫn hội họa; và hội đồng các nhà hiền triết nghệ thuật kể trên sẽ rất vui mừng khi thấy ngài phác họa nó bằng những thuật ngữ nghệ thuật của mình. Hệt như những bóng râm trong tranh vẽ đại diện cho những suy nghĩ nghiêm túc hoặc u sầu, ánh sáng đại diện cho những tư tưởng rực rỡ và tươi vui; hệt như chỉ nên có một luồng sáng mạnh mẽ duy nhất trong một bức tranh để thu hút ánh nhìn và rơi vào người anh hùng, cũng chỉ nên có một đối tượng duy nhất cho tình yêu của chúng ta, chính là Tác giả của Tự nhiên. Những suy ngẫm này và tương tự thế nếu được trau dồi tốt, có thể đóng góp rất lớn vào việc khai mở vẻ đẹp của nghệ thuật đó, đồng thời ngăn chặn giới trẻ bị đầu độc bởi cái gu tồi tệ của một nghệ nhân phóng túng bị áp đặt lên chúng.

Tôi kính thư, thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài.

Thưa ngài Spectator,

Dẫu tôi là một phụ nữ, tôi vẫn là một trong số những người tự thừa nhận mình vô cùng thích thú với một bài luận mà ngài từng ban tặng cho thế giới cách đây không lâu2, từ một nhà thơ Hy Lạp cổ đại mà ngài gọi là Simonides, liên quan đến các bản chất và sự phân biệt khác nhau của phái chúng tôi. Tôi không khỏi ngưỡng mộ cách thức các nhân cách của phụ nữ thời đại này trùng khớp một cách chuẩn xác với thời đại của Simonides, khi chẳng có loại nào trong số đó mà tôi chưa từng chạm trán ít nhất một mẫu vật vào lúc này hay lúc khác trong đời. Nhưng thưa ngài, chủ đề của bài viết hiện tại này là một nhóm phụ nữ được bao hàm, theo tôi nghĩ, trong loài thứ chín của bài luận ấy, được gọi là loài Khỉ; sự miêu tả về họ tôi tìm thấy là: "Họ là những kẻ vừa xấu xí vừa ác độc, chẳng sở hữu bất kỳ nét đẹp nào cho riêng mình, và luôn nỗ lực gièm pha hoặc chế nhạo mọi thứ xuất hiện như thế ở người khác." Thưa ngài, giáo派 này, theo như tôi được kể, xuất hiện rất thường xuyên ở thành phố lớn nơi ngài đang sinh sống; nhưng vì hoàn cảnh sống buộc tôi phải cư trú hoàn toàn ở vùng quê, dẫu không cách xa London bao nhiêu dặm, tôi không thể chạm trán với số lượng lớn 'bọn chúng', và thực ra đó cũng chẳng phải là mối quan hệ đáng ao ước gì, như tôi từng nghiệm ra qua kinh nghiệm gần đây. Ngài phải biết rằng, thưa ngài, vào đầu mùa hè này, một gia đình thuộc loài Khỉ này đã đến định cư suốt mùa ở không xa nơi tôi sinh sống. Vì họ là những người xa lạ ở vùng quê, họ đã được thăm viếng bởi các quý cô xung quanh, trong đó có tôi, với lòng nhân đạo thông thường ở những kẻ dành phần lớn thời gian sống trong sự cô tịch. Loài Khỉ đã sống chung với chúng tôi vô cùng hòa hợp theo cách của chúng tôi cho đến tận cuối mùa hè, khi họ bắt đầu bận tâm đến chuyện trở về thành phố; chính khi đó, thưa ngài Spectator, họ bắt đầu dấn thân vào công việc đặc trưng và phân biệt của nhân cách mình; và hệt như người ta đồn đại về những linh hồn ác quỷ rằng họ có thói quen quắp đi một mảng ngôi nhà mà họ sắp rời đi, loài Khỉ, chẳng màng đến lòng thương xót, sự lịch thiệp hay lòng biết ơn thông thường, đã thấy phù hợp để bắt chước và quật ngã khuôn mặt, trang phục và phong thái của những người hàng xóm vô tội của họ, ban phát những lời quở trách ghê tởm và những biệt danh đáng xấu hổ, thường được gọi là biệt danh chế nhạo, lên tất cả bọn họ; và tóm lại, hệt như những quý cô lịch thiệp thực thụ, biến sự mộc mạc và chân thành đáng kính của họ thành trò hề. Tôi không thể không thông báo với ngài những nỗi oan ức này, xuất phát từ mong muốn của tất cả các bên bị tổn thương lẫn khuynh hướng của chính tôi. Tôi hy vọng rằng, thưa ngài, nếu ngài không thể đề xuất giải pháp cải tổ hoàn toàn tệ nạn này, ngài sẽ đưa ra những lưu ý trong các bài viết tương lai của mình, có thể đặt phần xứng đáng trong phái chúng tôi vào thế cảnh giác trước những sinh linh này; và đồng thời loài Khỉ cũng có thể ý thức được rằng dạng trò đùa này cách xa sự giải trí vô hại biết nhường nào, mà thực chất ở mức độ cao nhất chính là thứ tội ác được cho là bao trùm tất cả các tội ác khác3.

Thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài,

Constantia Field.

T.

Chú thích 1: Trong Số 226. Kế hoạch của Signor Dorigny được quảng cáo trong các Số 205, 206, 207, 208 và 210.

Chú thích 2: Số 209.

Chú thích 3: Sự vô ơn. Ingratum si dixeris, omnia dixeris.

Mục lục

No. 245 Thứ Ba, ngày 11 tháng 12 năm 1711 Addison

Ficta Voluptatis causâ sint proxima Veris.

Hor.

Chẳng có điều gì khiến người ta nhìn ngắm bằng ánh mắt vừa vui đùa vừa xót xa cho bằng sự ngây thơ, khi nó vương vấn chút sự ngốc nghếch. Cùng lúc với việc trân trọng đức hạnh, người ta lại bị cám dỗ cười cợt sự khờ khạo đi kèm với nó. Khi một con người cấu thành hoàn toàn từ loài bồ câu, chẳng có lấy một hạt nhỏ nọc độc nào trong thành phần cấu tạo, anh ta trở nên nực cười trong vô số hoàn cảnh của cuộc sống và rất thường xuyên làm mất uy tín những hành động tốt đẹp nhất của mình. Các tu sĩ dòng Cordeliers kể một câu chuyện về vị tổ sư của họ là thánh Francis rằng khi đi dạo qua những con phố trong lúc chạng vạng chiều tối, ngài bắt gặp một thanh niên cùng một cô gái ở một góc khuất; trước cảnh đó, các tu sĩ kể rằng, vị nhân sĩ tốt bụng liền giơ đôi tay lên trời với một lời tạ ơn thầm kín rằng vẫn còn quá nhiều lòng bác ái Cơ Đốc trên thế giới này. Sự ngây thơ của vị thánh đã khiến ngài nhầm lẫn nụ hôn của một kẻ si tình với lời chào hỏi mang tính từ thiện. Tôi vô cùng ái ngại khi nhìn thấy một người đức hạnh thiếu đi sự hiểu biết thỏa đáng về thế giới; và nếu những bài viết này của tôi có bất kỳ công dụng nào, thì chính là ở điểm này, rằng mà không cần trình bày cái ác dưới bất kỳ vỏ bọc quyến rũ sai lầm nào, chúng mang lại cho độc giả cái nhìn sâu sắc về lối sống của con người và phác họa bản chất con người trong muôn vàn sắc thái đổi thay của nó. Kẻ chưa từng dấn thân vào bất kỳ thói hư tật xấu nào trên đời, hoặc, như Shakespeare diễn tả, đã quen thuộc với những nẻo đường của con người, có thể tìm thấy ở đây bức tranh về những sự ngu ngốc và tính ngông cuồng của nó. Người đức hạnh và trong sạch có thể thấu triệt về mặt lý thuyết những điều họ chưa bao giờ chạm tới qua thực tế, và nhờ phương pháp này tránh được những cạm bẫy của kẻ xảo quyệt, sự đồi bại của kẻ xấu xa, và những lý luận của kẻ mang định kiến. Tâm hồn họ có thể được khai mở mà không bị vẩn đục.

Chính với ánh mắt hướng về độc giả thường xuyên tiếp theo của tôi, ông Timothy Doodle, người có vẻ là một người mang thiện chí, mà tôi đã viết lời mở đầu ngắn ngủi này, nối tiếp sau đó là bức thư từ chính ông Doodle.

Thưa ngài,

Tôi tha thiết mong ngài cho chúng tôi biết quan điểm của ngài về một số trò giải trí vô hại đang được áp dụng giữa chúng ta, và vô cùng thích hợp để giết thời gian trong một đêm mùa đông đối với những ai không thích ném bỏ thời gian của mình vào các buổi opera hoặc nhà hát. Tôi đặc biệt muốn biết ngài có khái niệm gì về trò Hot-Cockles (Trò vỗ lưng đoán người); cũng như liệu ngài có nghĩ rằng các trò Đặt câu hỏi và Mệnh lệnh, Khẩu hiệu, So sánh và Trò đối đáp lạc quẻ (Cross-Purposes) có nhiều tiếng cười và sự thông minh hơn những trò giải trí công cộng vốn đang trở nên vô cùng thịnh hành giữa chúng ta hay không. Nếu ngài muốn giới thiệu với những người vợ và con gái của chúng tôi, những người đọc các bài viết của ngài với rất nhiều niềm vui, một số trò tiêu khiển và trò chơi có thể thực hiện trong nhà và bên lò sưởi, chúng tôi, những người làm chủ gia đình, sẽ vô cùng biết ơn ngài. Tôi chẳng cần phải nói với ngài rằng tôi muốn những trò tiêu khiển và trò chơi này vừa vui vẻ vừa vô nguyên tắc, chính vì thế tôi không nhắc đến trò Whisk hay trò Lanterloo, và thậm chí chẳng mải mai đếm xỉa đến trò One and Thirty. Sau khi đã truyền đạt thỉnh cầu của mình về chủ đề này với ngài, tôi sẽ bạo dạn kể cho ngài nghe cách vợ chồng tôi trải qua những buổi tối mùa đông đằng đẵng này với vô vàn niềm vui. Dẫu nàng trẻ trung, xinh đẹp và tốt bụng đến mức kỳ diệu, nàng chẳng màng la cà đây đó như những người khác giới của mình. Có một người bạn vô cùng thân thiết, một vị đại tá trong quân đội, người mà tôi vô cùng biết ơn vì sự lịch thiệp của anh ấy, thường đến thăm tôi hầu như mỗi tối; bởi vì anh không phải là một trong những gã thanh niên bồng bột không thể sống nổi nếu thiếu nhà hát. Khi quây quần bên nhau, chúng tôi rất thường xuyên tổ chức một ván trò Bịt mắt bắt dê (Blind-Man's Buff), một trò chơi tôi vô cùng ưa thích bởi vì nó đòi hỏi khá nhiều vận động thể chất. Vị đại tá và tôi luân phiên bị bịt mắt, và ngài sẽ cười lăn cười bò khi chứng kiến sự nhọc nhằn của người vợ yêu dấu trong việc bịt mắt chúng tôi, sao cho chúng tôi hoàn toàn không thể nhìn thấy dù chỉ một tia sáng nhỏ nhoi. Vị đại tá tội nghiệp thỉnh thoảng nện chiếc mũi của mình vào cột nhà và khiến chúng tôi cười ngất chết đi sống lại. Tôi thường gặp may mắn không làm tổn thương chính mình, nhưng rất thường xuyên mất hơn nửa tiếng mới tóm được một trong hai người; bởi vì ngài phải biết chúng tôi trốn tránh khắp các ngóc ngách để có thêm nhiều niềm vui. Tôi chỉ cung cấp cho ngài gợi ý này như một mẫu vật về những trò giải trí vô hại mà tôi muốn ngài giới thiệu; và tôi là,

Người bạn mãi mãi yêu mến của ngài, thưa Ngài kính mến,

Timothy Doodle.

Bức thư sau đây xuất hiện nhân bài viết vào Thứ Năm tuần trước của tôi về sự vắng mặt của những người yêu nhau, cùng các phương thức được nhắc tới nhằm biến sự vắng mặt ấy thành điều có thể chịu đựng được.

Thưa ngài,

Trong số vô vàn phương thức an ủi mà những người yêu nhau dùng đến trong lúc tâm hồn họ rơi vào trạng thái chia ly ấy, thứ mà ngài gọi là cái chết trong tình yêu, có một số phương thức rất quan trọng đã lọt khỏi tầm ngắm của ngài. Trong số đó, đầu tiên và được đón nhận nhiều nhất chính là một đồng xu shilling bị bẻ cong, thứ từng mang lại sự an ủi lớn lao cho các bậc tiền bối của chúng ta và vẫn đang được sử dụng trong dịp này với hiệu quả rất tốt ở hầu hết các vùng thuộc lãnh thổ của Nữ hoàng. Tôi biết có một số người nghĩ rằng một đồng xu vương miện (Crown-Piece) được cắt thành hai phần bằng nhau và được lưu giữ bởi những người yêu nhau ở xa nhau, có linh thiêng hơn đồng xu trước. Nhưng vì các quan điểm bị chia rẽ trong chi tiết này, cớ sao những người đó lại không sử dụng cả hai chứ? Hình trái tim, dù được tạc bằng đá hay đúc bằng kim loại, dù đang rỉ máu trên bệ thờ, cắm đầy mũi tên, hay được nắm giữ trong tay của một vị thần Cupid, vẫn luôn được nhìn nhận như một vật hộ mệnh trong những nỗi thống khổ mang bản chất này. Tôi quen biết rất nhiều tráng sĩ mang theo dung nhan người tình trên nắp hộp đựng thuốc hít, và nhờ biện pháp đó đã vực dậy tinh thần trong suốt chiến dịch vắng bóng dài đằng đẵng. Phần tôi, tôi đã thử mọi phương thuốc ấy nhưng chưa từng tìm thấy lợi ích từ bất kỳ thứ nào nhiều bằng một chiếc nhẫn, trong đó tóc của người tình được bện lại với nhau vô cùng khéo léo theo một dạng nút thắt của tình nhân đích thực (True-Lover's Knot). Vì tôi đã nhận được lợi ích lớn lao từ bí quyết này, tôi tự thấy mình có bổn phận phải truyền tải nó đến công chúng, vì lợi ích của những đồng bào của mình. Tôi mong ngài bổ sung bức thư này như một phần phụ lục cho những sự an ủi của ngài về sự vắng mặt, và tôi là,

Người đầy tớ rất khiêm nhường của ngài,

T. B.

Tôi sẽ kết thúc bài viết này bằng bức thư từ một vị khách đại học, nhân bài viết vào Thứ Ba tuần trước của tôi, trong đó tôi từng tường thuật đôi điều về những mối thù hằn lớn lao từng xảy ra trong các cơ quan học thuật đó, giữa phe người Hy Lạp hiện đại và người thành Troia.

Thưa ngài,

Thư này để báo cho ngài biết rằng hiện tại trong hội đồng, nơi tôi là thành viên, có một lực lượng người thành Troia vô cùng đáng kể, những người, vào một cơ hội thích hợp, sẽ không thất bại trong việc tự tuyên bố mình. Trong lúc ấy, chúng tôi làm mọi thứ có thể để quấy nhiễu kẻ thù bằng mưu kế, và quyết định nhân cơ hội đầu tiên sẽ tấn công ông Joshua Barnes1, kẻ mà chúng tôi nhìn nhận là Achilles của phe đối lập. Về phần mình, từ khi rời ghế nhà trường, tôi mang danh tiếng là một người thành Troia trung thành, và quyết định không bao giờ khoan dung dù chỉ một hạt tiểu li tiếng Hy Lạp nào, bất cứ nơi nào tôi vô tình chạm trán. Chính vì lý do này mà tôi vô cùng bất bình với việc đôi khi ngài giương cờ Hy Lạp ở đầu bài viết của mình, và thỉnh thoảng văng ra một từ của kẻ thù ngay trong thân bài của nó. Khi bắt gặp bất kỳ điều gì mang bản chất này, tôi liền ném những bài luận của ngài xuống bàn, kèm theo câu nói mà chúng tôi thường dùng khi tuyên bố chiến tranh với một tác giả.

Graecum est, non potest legi.2

Tôi gửi cho ngài gợi ý này để ngài từ nay về sau kiềm chế mọi hành động thù hằn như thế dưới sự đe dọa chịu trách nhiệm.

Troilus.

C.

Chú thích 1: Giáo sư tiếng Hy Lạp tại Cambridge, người biên tập các tác phẩm của Homer, Euripides, Anacreon, v.v., và viết bằng thơ Hy Lạp tác phẩm Lịch sử Esther. Ông qua đời năm 1714.

Chú thích 2: Đó là tiếng Hy Lạp. Không thể đọc được. Câu này trở thành tục ngữ từ Franciscus Accursius, một chuyên gia luật pháp nổi tiếng và là con trai của một Accursius khác, người được gọi là Thần tượng của các chuyên gia luật pháp. Franciscus Accursius là một học giả thế kỷ 13, khi giảng giải về Justinian, hễ gặp một đoạn trích dẫn của Justinian từ Homer, liền nói Graecum est, nec potest legi. Sau đó, trong những ngày đầu của sự hồi sinh các nghiên cứu tiếng Hy Lạp ở châu Âu, người ta thường nói, như báo cáo của Claude d'Espence chẳng hạn, rằng việc biết bất cứ điều gì về tiếng Hy Lạp khiến một người khả nghi, việc biết bất cứ điều gì về tiếng Do Thái suýt biến anh ta thành kẻ dị giáo.

Mục lục

No. 246 Thứ Tư, ngày 12 tháng 12 năm 1711 Steele

Thưa ngài Spectator,

Vì bài viết của ngài là một phần trang bị cho chiếc bàn trà, tôi khẩn khoản ngài hãy in những gì tôi viết cho ngài lúc này; bởi vì tôi chẳng còn cách nào khác để truyền đạt những gì mình muốn nói với phái đẹp về tình huống trọng đại nhất của cuộc đời, ấy chính là việc chăm sóc con cái. Tôi không hiểu rằng ngài tuyên bố bài viết của mình lúc nào cũng chỉ bao gồm những vấn đề chỉ nhằm giải trí cho giới học thức và lịch thiệp, mà nó còn có thể phù hợp với thiết kế của ngài trong việc ấn hành một số bài mang khuynh hướng cung cấp thông tin cho nhân loại nói chung; và khi làm như thế, ngài làm được nhiều hơn cả việc viết ra những lời thông minh hóm hỉnh. Vậy xin hãy cho phép tôi nói với ngài rằng, trong số tất cả những tệ nạn mà ngài từng nỗ lực chấn chỉnh cho đến nay, chắc chắn chẳng có tệ nạn nào cần sự trợ giúp của ngài cấp bách bằng tệ nạn thuê người nuôi con sữa mẹ1. Thật nhẫn tâm khi chứng kiến rằng một người phụ nữ được ban phơi phới mọi sự hoàn hảo và hồng ân của tự nhiên, lại có thể, ngay khi vừa sinh nở xong, tống khứ đứa con thơ ngây, mềm mại và bất lực của mình đi, rồi giao phó nó cho một người phụ nữ (mười nghìn ăn một) vừa không có sức khỏe lẫn thể trạng tốt, chẳng lành lặn về tâm thần lẫn thể xác, không có danh dự lẫn tiếng tăm, chẳng có lấy một chút tình yêu hay lòng trắc ẩn nào cho đứa trẻ tội nghiệp, mà chỉ quan tâm đến đồng tiền hơn là toàn bộ đứa bé, và sẽ chẳng bao giờ thèm chăm sóc nó vượt quá mức độ mà những khoản tiền bạc và quà cáp ép buộc ả ta phải làm; hệt như mảnh đất trong ngụ ngôn của Aesop, thứ từ chối nuôi dưỡng chồi cây của mảnh đất khác, dẫu cho nó có được cải tạo tốt đến đâu đi nữa, với lý do chồi cây ấy không phải là sản phẩm do chính nó sinh ra. Và vì đứa con của kẻ khác chẳng có gì là tự nhiên đối với một vú nuôi hệt như một chồi cây đối với một mảnh đất xa lạ và khác biệt, làm sao người ta có thể phỏng đoán rằng đứa trẻ ấy sẽ phát triển khỏe mạnh? Và nếu nó phát triển khỏe mạnh, chẳng phải nó sẽ hấp thụ những dịch chất thô kệch và phẩm chất của người vú nuôi, hệt như một cái cây trên mảnh đất khác, hay giống như một cành ghép trên một gốc cây khác biệt hay sao? Chẳng lẽ chúng ta không quan sát thấy một con cừu bú sữa dê sẽ thay đổi hoàn toàn bản chất của nó, thậm chí cả bộ da và bộ lông thành loài dê hay sao? Quyền năng của một vú nuôi đối với một đứa trẻ, thông qua việc truyền vào người nó qua dòng sữa những phẩm chất và tâm tính của ả ta, là điều được quan sát thấy đầy đủ và hằng ngày: Từ đó sinh ra câu nói cổ xưa liên quan đến một kẻ có tâm tính tồi tệ và độc ác rằng hắn đã bú mớm sự độc ác của mình cùng dòng sữa của vú nuôi, hoặc một con thú nào đó từng là vú nuôi của hắn. Từ đó người ta kể rằng Romulus và Remus được bú mớm bởi một con sói, Telephus con trai của Hercules bởi một con nai cái, Pelias con trai của Neptune bởi một con ngựa cái, và Aegisthus bởi một con dê; không phải vì chúng thực sự bú mớm những sinh loài như thế, hệt như một vài kẻ ngớ ngẩn từng tưởng tượng, mà là vì vú nuôi của chúng mang bản chất và tâm tính như thế, và đã truyền những thứ đó vào người chúng.

'Nhiều minh chứng có thể được trích xuất từ các nguồn uy tín và kinh nghiệm hằng ngày rằng trẻ em thực sự bú mớm những cảm xúc và khuynh hướng đồi bại khác nhau của vú nuôi, như sự giận dữ, ác ý, nỗi sợ hãi, sự trầm cảm, sự buồn bã, lòng ham muốn và sự ghê tởm. Điều này được Diodorus, quyển 2, làm chứng, khi ông cất lời kể rằng vú nuôi của Hoàng đế Nero từng nghiện rượu nặng; một thói quen mà Nero đã tiếp nhận từ vú nuôi của mình, và tỏ ra đặc biệt đến mức người dân để tâm sâu sắc, đến độ thay vì gọi Tiberius Nero, họ gọi hắn là Biberius Mero. Diodorus cũng kể lại về Caligula, người tiền nhiệm của Nero, rằng vú nuôi của hắn thường xuyên làm ẩm núm vú của mình bằng máu, để giúp Caligula ngậm chặt hơn; điều này, Diodorus nói, là nguyên nhân khiến hắn trở nên khát máu và tàn độc suốt quãng đời sau đó, đến mức hắn không chỉ thường xuyên tự tay phạm tội giết người, mà còn ước rằng toàn thể nhân loại chỉ có một cái cổ duy nhất, để hắn có thể thỏa mãn cơn thích thú cắt đứt nó. Những sự suy đồi tương tự khiến các bậc cha mẹ kinh ngạc, những người không biết đứa con có thể thừa hưởng từ ai, lại nhìn thấy đứa này có khuynh hướng trộm cắp, đứa kia thích rượu chè, tàn độc, đần độn; thế nhưng tất cả những điều này lại chẳng hề được quan tâm đúng mức. Thậm chí người ta có thể dễ dàng chứng minh rằng một đứa trẻ, dẫu được sinh ra từ những bậc cha mẹ tuyệt vời nhất, vẫn có thể bị vẩn đục bởi một vú nuôi có tâm tính tồi tệ. Biết bao đứa trẻ chúng ta nhìn thấy hằng ngày rơi vào trạng thái co giật, suy nhược, còi c xương, v.v., chỉ đơn thuần vì bú sữa từ những vú nuôi khi họ đang tức giận hoặc cuồng nộ? Nhưng quả thực hầu như bất kỳ chứng rối loạn nào của vú nuôi cũng là chứng rối loạn của đứa trẻ, và hiếm có vú nuôi nào ở thành phố này không mắc phải căn bệnh này hay căn bệnh khác. Câu hỏi đầu tiên thường được đặt ra cho một thiếu nữ muốn làm vú nuôi, tại sao nàng lại đi làm vú nuôi cho con của người khác, được đáp lại bằng việc nàng có một người chồng tồi tệ, và nàng phải xoay xở để sinh tồn. Tôi nghĩ chính câu trả lời này đủ sức giáng một cú sốc cho bất kỳ ai nếu được cân nhắc cẩn trọng; bởi vì một người chồng tồi tệ có thể, hoặc mười ăn một là hắn sẽ mang về cho vợ mình một căn bệnh tồi tệ, hay ít nhất là những phiền toái và xáo trộn. Bên cạnh đó, vì nàng nhận nuôi đứa trẻ hoàn toàn do túng quẫn, thức ăn của nàng cũng sẽ tương xứng với điều đó, hoặc tệ nhất là vô cùng kham khổ; từ đó sinh ra nguồn sữa khó tiêu hóa và thô kệch cho đứa trẻ; vì máu thế nào thì sữa thế ấy; và từ đó tôi hoàn toàn chắc chắn sinh ra bệnh tào mào, bệnh tràng nhạc, và vô số căn bệnh khác. Tôi khẩn cầu ngài, vì lợi ích của vô số trẻ em khốn khổ có thể và sẽ được cứu vớt, bằng cách cân nhắc nghiêm túc trường hợp này, hãy nhiệt thành kêu gọi mọi người hãy để trẻ em được bú sữa chính mẹ ruột của chúng4, vì lợi ích của cả mẹ lẫn con. Bởi vì lập luận phổ biến cho rằng một người mẹ bị suy nhược khi cho con bú là một lập luận vô bổ và ngớ ngẩn; tôi cam đoan rằng người mẹ sẽ trở nên khỏe mạnh hơn nhờ việc đó, và sẽ có sức khỏe tốt hơn so với khi không làm thế: Nàng sẽ nhận ra đó là phương thuốc chữa trị và bảo quản tuyệt vời nhất đối với chứng bốc hỏa và những lần sẩy thai trong tương lai, vượt xa bất kỳ phương thuốc nào khác trên đời; con cái của họ sẽ to lớn như những người khổng lồ, trong khi nếu không thế chúng chỉ là những chiếc bóng sống và giống như trái cây xanh ép; và chắc chắn nếu một người phụ nữ đủ khỏe mạnh để sinh ra một đứa trẻ, nàng chắc chắn đủ sức khỏe để nuôi dưỡng nó sau đó. Tôi đau lòng khi quan sát và cân nhắc biết bao đứa trẻ khốn khổ đang bị tàn phá hằng ngày bởi những vú nuôi vô tâm; thế nhưng họ phải nâng niu một đứa trẻ khốn khổ biết nhường nào, khi mà dù chỉ một tổn thương hay cú đánh nhỏ nhất, đặc biệt là lên phần đầu, cũng có thể khiến nó mất nhận thức, đần độn, hoặc trở nên khốn khổ theo những cách khác vĩnh viễn?'

'Nhưng tôi chưa thể rời bỏ chủ đề này lúc này; bởi vì đối với tôi, thật là phi tự nhiên khi một người phụ nữ từng nuôi dưỡng một đứa trẻ như một phần cơ thể mình suốt chín tháng trời, lại chẳng có chút ham muốn nào muốn nuôi dưỡng nó tiếp tục khi nó chào đời và hiện diện trước mắt nàng, đồng thời khi cất tiếng khóc đòi hỏi sự trợ giúp của nàng và bổn phận của một người mẹ. Chẳng lẽ ngay cả những loài thú dữ tàn nhẫn nhất cũng chăm sóc con non của chúng với toàn bộ sự cẩn trọng và niềm vui tưởng tượng được sao? Bởi vì làm sao có thể gọi là một người mẹ khi ả từ chối nuôi dưỡng con non của chính mình? Trái đất được gọi là mẹ của muôn loài, không phải vì nó sản sinh ra, mà vì nó duy trì và nuôi dưỡng những gì nó sản sinh ra. Sự sinh thành của đứa trẻ là hệ quả của ham muốn, nhưng việc chăm sóc nó lại minh chứng cho đức hạnh và sự lựa chọn. Tôi không hề ngây thơ không biết rằng có những trường hợp túng quẫn khi một người mẹ không thể cho con bú, và khi đó trong hai cái hại phải chọn cái nhẹ hơn; nhưng có rất ít trường hợp đến mức tôi chắc chắn rằng trong một ngàn trường hợp khó lòng tìm ra một minh chứng thực tế; bởi vì nếu một người phụ nữ biết chắc chồng mình có thể dành dụm thêm khoảng từ ba đến sáu shilling mỗi tuần (dẫu điều này hiếm khi được cân nhắc), nàng chắc chắn, với sự trợ giúp của đám bạn bè, sẽ nhanh chóng thuyết phục người chồng gửi đứa trẻ đi vú nuôi, và dễ dàng lừa gạt hắn bằng cách giả vờ đau ốm. Sự tàn nhẫn này được chống lưng bởi thói quen thời trang, và tự nhiên nhường chỗ cho phong tục.'

Thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường của ngài.

T.

Chú thích 1: việc nuôi dưỡng con bằng sữa của

Chú thích 2: nhìn thấy

Chú thích 3: là tại sao

Chú thích 4: Mẹ,

Mục lục

No. 247 Thứ Năm, ngày 13 tháng 12 năm 1711 Addison

Chúng ta được kể bởi một số tác giả cổ đại rằng Socrates từng được truyền thụ nghệ thuật hùng biện bởi một người phụ nữ, tên của bà, nếu tôi không nhầm, là Aspasia. Quả thực, tôi rất thường xuyên nhìn nhận nghệ thuật đó là môn phù hợp nhất đối với phái nữ, và tôi nghĩ các trường đại học sẽ làm tốt nếu cân nhắc xem liệu họ có nên lấp đầy các ghế giáo sư hùng biện bằng những vị giáo sư nữ hay không.

Người ta từng ca ngợi một số đàn ông vì khả năng có thể nói liên tục suốt nhiều giờ liền về bất kỳ điều gì; nhưng phải thừa nhận vinh dự cho phái bên kia rằng có rất nhiều người trong số họ có thể nói liên tục suốt nhiều giờ liền về không có gì sất. Tôi từng biết một người phụ nữ triển khai thành một bài luận ứng khẩu kéo dài về đường viền gót giày của một chiếc váy, và quở trách người hầu vì làm vỡ một chiếc tách sứ, bằng tất cả các hình thức của nghệ thuật hùng biện.

Nếu phụ nữ được phép biện hộ tại các tòa án tư pháp, tôi tin chắc họ sẽ đưa nghệ thuật hùng biện tại tòa lên những tầm cao mới chưa từng đạt tới trước đó. Nếu bất kỳ ai hoài nghi điều này, hãy tham gia vào những cuộc tranh luận thường nảy sinh giữa những người phụ nữ của ngành ngư nghiệp Anh quốc1.

Do đó, dạng thức đầu tiên của những nhà hùng biện nữ mà tôi sẽ lưu ý chính là những người chuyên khơi mào cảm xúc, một phân nhánh của nghệ thuật hùng biện mà người vợ của Socrates có lẽ đã đạt được mức độ thành thạo cao hơn so với người thầy được nhắc tới ở trên của ông.

Dạng thức thứ hai của những nhà hùng biện nữ là những người chuyên buôn chuyện lăng mạ, và thường được biết đến với biệt danh Những kẻ hay phán xét (The Censorious). Trí tưởng tượng và tài hùng biện của nhóm nhà hùng biện này quả thực kỳ diệu. Với sự trôi chảy của phát minh và sự phong phú của biểu đạt, họ sẽ phóng đại mọi sơ hở nhỏ nhặt trong cách hành xử của người khác? Với biết bao tình tiết khác nhau, và với sự đa dạng của các cụm từ, họ sẽ kể đi kể lại cùng một câu chuyện? Tôi từng biết một bà cụ biến một cuộc hôn nhân bất hạnh thành chủ đề trò chuyện suốt cả tháng trời. Bà chê bai cô dâu ở chỗ này; thương xót cô ở chỗ khác; chế giễu cô ở chỗ thứ ba; ngạc nhiên về cô ở chỗ thứ tư; nổi giận với cô ở chỗ thứ năm; và tóm lại, làm kiệt sức một cặp ngựa kéo xe chỉ để bày tỏ sự quan tâm của mình đối với cô. Cuối cùng, sau khi đã vắt kiệt chủ đề ở phía này, bà đến thăm cặp vợ chồng mới cưới, ca ngợi người vợ vì lựa chọn khôn ngoan mà nàng đã thực hiện, kể cho nàng nghe những suy ngẫm vô lý mà một số kẻ độc ác từng trừng phạt nàng, và tha thiết mong họ trở nên thân thiết hơn. Sự chỉ trích và tán dương của dạng phụ nữ này do đó chỉ nên được xem như những sự trợ giúp cho các cuộc trò chuyện.

Một dạng thức thứ ba của các nhà hùng biện nữ có thể được bao hàm dưới từ Bà tám (Gossips). Bà Fiddle Faddle vô cùng tài tình trong dạng thức hùng biện này; bà dấn thân vào những miêu tả về các buổi lễ rửa tội, mổ xẻ chi tiết một kiểu tóc, rành rẽ mọi món ăn được dọn lên ở vùng lân cận của mình, và giải trí cho hội đồng của bà suốt cả buổi chiều với sự thông minh của đứa con trai nhỏ, trước khi nó kịp cất thành lời.

Phụ nữ kiêu kỳ có thể được nhìn nhận như dạng thức thứ tư của nhà hùng biện nữ. Để tạo cho mình một không gian rộng lớn hơn cho các cuộc trò chuyện, nàng ghét và yêu trong cùng một hơi thở, trò chuyện với con chó cưng hoặc con vẹt của mình, bứt rứt trong mọi kiểu thời tiết, và trong mọi góc phòng: Nàng có những cuộc cãi vã giả tạo và những sự mang ơn giả vờ với tất cả những người đàn ông quen biết; thở dài khi không buồn, và cười khi không vui. Phụ nữ kiêu kỳ đặc biệt là một bậc thầy trong cái phần nghệ thuật hùng biện được gọi là Hành động (Action), và quả thực dường như chỉ cất lời vì nó mang lại cho nàng cơ hội cử động chân tay, biến hóa nét mặt, liếc đôi mắt hoặc đùa giỡn với chiếc quạt.

Còn về những kẻ đưa tin, nhà chính trị, kẻ bắt chước, người kể chuyện, cùng các nhân cách tương tự khác tạo sinh ra thói ba hoa, chúng xuất hiện phổ biến ở nam giới chẳng kém gì phụ nữ; vì lý do đó tôi sẽ bỏ qua chúng trong sự im lặng.

Tôi từng nhiều lần bối rối khi tìm kiếm nguyên nhân tại sao phụ nữ lại sở hữu tài năng phát ngôn trôi chảy ở mức độ vượt trội hơn đàn ông đến thế. Đôi khi tôi tưởng tượng rằng họ không có khả năng kìm nén, hay năng lực áp chế suy nghĩ của mình như đàn ông, mà buộc phải thốt ra mọi suy nghĩ của họ, và nếu thế, điều này có lẽ sẽ cung cấp một lập luận vô cùng vững chắc cho phái Cartesians, nhằm ủng hộ học thuyết2 của họ rằng tâm hồn luôn suy nghĩ. Nhưng vì nhiều người cho rằng phái đẹp không hoàn toàn xa lạ với nghệ thuật ngụy biện và che giấu suy nghĩ của mình, tôi buộc phải từ bỏ quan điểm đó, và do đó nỗ lực tìm kiếm một nguyên nhân tốt hơn. Nhằm mục đích đó, một người bạn của tôi, người là một nhà giải phẫu xuất sắc, đã hứa với tôi vào cơ hội đầu tiên sẽ tiến hành giải phẫu lưỡi của một người phụ nữ, và kiểm tra xem trong đó có hay không những dịch chất nhất định khiến nó trở nên linh hoạt trôi chảy hay búng búng3 kỳ lạ như thế, hoặc liệu các thớ sợi của nó có được cấu thành từ một thứ tơ mịn màng và dễ uốn hơn hay không, hoặc liệu trong đó có hay không một vài cơ bắp đặc biệt làm nó phóng lên phóng xuống qua những cú liếc và rung động bất chợt như thế; hoặc cuối cùng, liệu có hay không những đường dẫn truyền chưa được khám phá chạy từ đầu và trái tim đến công cụ nhỏ bé này của thói ba hoa, và truyền vào nó một dòng chảy vĩnh cửu của các tinh chất sinh học. Tôi cũng không thể bỏ qua lý do mà Hudibras đã đưa ra, giải thích tại sao những kẻ có thể bàn luận về những chuyện vặt vãnh lại nói năng trôi chảy nhất; ấy là vì chiếc lưỡi giống hệt một con ngựa đua, càng mang ít trọng lượng nó chạy càng nhanh.

Bất kỳ lý do nào trong số những lý do này được nhìn nhận là hợp lý nhất, tôi nghĩ ý tưởng của người Ireland rất tự nhiên, người sau vài giờ trò chuyện với một nhà hùng biện nữ, đã bảo với bà rằng anh ta tin chiếc lưỡi của bà vô cùng vui mừng khi bà chìm vào giấc ngủ, bởi vì nó chẳng có lấy một khoảnh khắc nghỉ ngơi nào trong suốt thời gian bà thức giấc.

Bài ca cổ điển tuyệt vời mang tên Người vợ phóng túng ở Bath có những câu thơ nổi bật sau đây.

I think, quoth Thomas, Womens Tongues

Of Aspen Leaves are made.

Và Ovid, dẫu trong miêu tả về một hoàn cảnh vô cùng tàn bạo, kể cho chúng ta hay rằng khi lưỡi của một thiếu nữ xinh đẹp bị cắt đứt và ném xuống đất, nó vẫn không thể kìm nén việc lầm bầm ngay cả ở tư thế đó.

—Comprensam forcipe linguam

Abstulit ense fero. Radix micat ultima linguæ,

Ipsa jacet, terræque tremens immurmurat atræ;

Utque salire solet mutilatæ cauda colubræ

Palpitat:—4

Nếu một chiếc lưỡi vẫn có thể lẩm bầm trò chuyện mà không cần cái miệng, nó có thể làm gì khi sở hữu đầy đủ các cơ quan ngôn ngữ và những đồng lõa của âm thanh xung quanh nó? Tôi có thể nhắc đến câu chuyện về người phụ nữ bán táo (Pippin-Woman), nếu tôi không có lý do để nhìn nhận nó như một truyền thuyết thần thoại.

Tôi phải thú nhận rằng mình vô cùng say mê âm nhạc của công cụ nhỏ bé này, đến mức tôi không muốn mảy may làm thui chột nó. Tất cả những gì tôi nhắm đến qua bài luận này là chữa trị cho nó một số nốt nhạc khó chịu, và đặc biệt là những tiếng lạo xạo và sự bất hòa nhỏ nảy sinh từ sự giận dữ, tính hay phán xét, việc buôn chuyện và thói kiêu kỳ. Tóm lại, tôi luôn muốn nó được cất nốt bởi lòng tốt bụng, chân lý, sự khôn ngoan và lòng chân thành.

C.

Chú thích 1: thuộc về Ngư nghiệp Anh

Chú thích 2: Quan điểm,

Chú thích 3: và

Chú thích 4: Met. I. 6, v. 556.

Mục lục

No. 248 Thứ Sáu, ngày 14 tháng 12 năm 1711 Steele

Hoc maximè Officii est, ut quisque maximè opis indigeat, ita ei potissimùm opitulari.

Tull.

Chẳng có ai xứng đáng chiếm lĩnh vị trí vượt trội hơn những người khác trong sự quý trọng của nhân loại, nếu họ không nỗ lực mang lại lợi ích cho xã hội; và nếu trong mọi cơ hội mà hoàn cảnh sống của họ mang lại, họ không cảm thấy một niềm vui chân thực không vụ lợi trong việc trao tặng các ân huệ dưới hình thức này hay hình thức khác. Những ai sở hữu tài năng lớn lao và dòng dõi cao quý đặt họ vào những vị trí nổi bật trong cuộc sống, đều bị bắt buộc không thể chối cãi phải phát huy một số khuynh hướng cao thượng nhằm phục vụ thế giới, nếu không những lợi thế ấy sẽ trở thành bất hạnh, và sự ẩn dật cùng không gian riêng tư sẽ là phần thưởng đáng lựa chọn hơn. Nơi nào cơ hội và khuynh hướng cùng hội tụ ở một cá nhân, chúng ta thỉnh thoảng chứng kiến những biểu hiện siêu phàm của đức hạnh, thứ làm chói lọi trí tưởng tượng của chúng ta đến mức chúng ta nhìn ngắm bằng vẻ khinh miệt mọi thứ mà trong những hoàn cảnh thấp hèn hơn của cuộc sống, bản thân chúng ta có thể tự mình thực hiện. Nhưng đây là một lối tư duy đồi bại; và nó mang theo chút hơi hướng của sự điên rồ lãng mạn, khi một con người tưởng tượng rằng mình phải nuôi dưỡng tham vọng, hoặc đi tìm những cuộc phiêu lưu, mới có thể làm nên những hành động vĩ đại. Nằm trong tầm tay của bất kỳ ai trên thế giới vượt qua mức nghèo đói túng quấn, không chỉ là làm những việc xứng đáng mà còn mang tầm vóc anh hùng. Nền tảng vĩ đại của đức hạnh dân sự chính là sự từ bỏ cái tôi; và chẳng có ai vượt qua những nhu cầu sinh tồn của cuộc sống mà lại không có cơ hội thực hiện phẩm chất cao quý ấy, và làm tất cả những gì hoàn cảnh của họ có thể gánh vác cho sự an nhàn và tiện nghi của những người khác; và kẻ làm nhiều hơn mức độ thông thường mà mọi người thực hiện trong những dịp xuất hiện trong cuộc đời mình, hoàn toàn xứng đáng với sự quý trọng của bạn bè hệt như thể anh ta vừa hoàn thành những chiến công thường đi kèm với vinh quang cao cả nhất.

Những người mang tinh thần cộng đồng khác biệt nhau ở hoàn cảnh nhiều hơn là ở đức hạnh; và kẻ làm tất cả những gì mình có thể ở một vị trí thấp hèn, là một anh hùng vĩ đại hơn1 kẻ bỏ lỡ bất kỳ hành động xứng đáng nào mà hắn có đủ khả năng hoàn thành ở một vị trí cao sang. Đã vài năm trôi qua kể từ khi Lapirius, tước đoạt quyền lợi của người anh cả, đã nắm giữ một cơ ngơi khổng lồ nhờ món quà từ người cha, xuất phát từ lối sống phóng túng của người con trưởng. Sự hổ thẹn và lòng ăn năn đã cải tạo cuộc đời của người thanh niên bị tước quyền thừa kế, và anh ta trở nên nổi bật vì những phẩm chất tốt đẹp hệt như những sai lầm trước kia. Lapirius, người quan sát sự sửa đổi của anh trai, đã gửi cho anh ta vào buổi sáng Ngày đầu năm mới bức thư sau đây:

Anh trai kính mến,

Em xin đính kèm ở đây những văn kiện mà cha đã trao cho em ngôi nhà và mảnh đất này: Nếu cha còn sống cho đến nay, ngài sẽ không ban phát nó theo cách đó; ngài đã tước đoạt nó từ con người anh từng là, và em xin trao trả nó cho con người anh đang hiện hữu. Em là,

Thưa anh,

Người em trai ân cần, và người đầy tớ khiêm nhường của anh,

P. T.

Hệt như những tâm hồn vĩ đại và cao cả dấn thân vào cuộc săn đuổi những hành động mạo hiểm vì lợi ích của người khác, đồng thời thỏa mãn khát vọng vinh quang của chính mình; những tâm hồn đáng kính trong lối sống gia đình cũng tự từ bỏ bản thân trước vô số lợi thế, nhằm thỏa mãn lòng nhân ái cao thượng mà họ dành cho những người bạn đang bị áp bức bởi những nỗi thống khổ và tai ương. Những bản chất như thế người ta có thể gọi là kho dự trữ của sự quan phòng, được thúc đẩy bởi một ảnh hưởng thiên đàng thầm kín để xem nhẹ những sự thỏa mãn tầm thường của sự giàu có, để mang lại sự an ủi cho một trái tim oằn mình vì đau khổ, để cứu vớt một gia đình đang sụp đổ, để bảo vệ một nhánh thương mại trong vùng lân cận của họ và trao công ăn việc làm cho những người chăm chỉ, bảo vệ phần tài sản của đứa trẻ bất lực, và nâng cao đầu người cha đang tang tóc. Những con người có trái tim hoàn toàn hướng về sự vui thú, hoặc tập trung vào lợi ích vật chất, chưa từng nghe đến những sự kiện cao thượng diễn ra giữa những con người chăm chỉ và nhân hậu. Sẽ giống như một tiểu thuyết thành phố nếu kể cho họ nghe về vị thương nhân hào phóng2, người hôm nọ đã gửi bức thư hối phiếu này cho một thương gia nổi bật đang gặp khó khăn trong việc tự vực dậy bản thân, trong sự sụp đổ của người ấy vô số người khác ngoài anh ta cũng sẽ diệt vong; nhưng vì tôi nghĩ có nhiều tinh thần và sự hào hiệp thực sự trong đó hơn bất kỳ bức thư nào tôi từng đọc từ Strephon gửi Phillis, tôi xin phép được chèn nó ngay cả theo phong cách thương mại chân thật mà nó đã được gửi đi.

Thưa ngài,

'Tôi đã nghe về những biến cố bất ngờ đẩy ngài vào tình cảnh túng quẫn tột cùng lúc này; và biết ngài là một người mang tấm lòng nhân hậu, sự chăm chỉ và tính chính trực lớn lao, tôi đã quyết định sát cánh cùng ngài. Hãy vui lên, người mang thư mang theo năm nghìn bảng Anh, và có lệnh của tôi để đáp ứng việc ngài rút thêm bao nhiêu tùy ý nhân danh tài khoản của tôi. Tôi làm điều này trong sự vội vã, vì sợ đến quá muộn để giải cứu ngài; nhưng ngài hoàn toàn có thể dựa vào tôi lên đến con số năm mươi nghìn bảng Anh; bởi vì tôi có thể vô cùng hoan hỉ gánh chịu rủi ro bớt giàu đi chừng ấy, để cứu lấy một con người lương thiện mà tôi yêu mến.'

Người bạn và người đầy tớ của ngài,

W. S.3

Tôi nghĩ đâu đó trong các tác phẩm của Montaigne có nhắc đến một cuốn sách gia đình, trong đó mọi sự kiện diễn ra từ thế hệ này sang thế hệ khác của dòng họ đó đều được ghi chép lại. Nếu có một phương pháp như thế trong các gia đình có liên quan đến lòng hào phóng này, sẽ là một nhiệm vụ khó khăn cho nhân vật vĩ đại nhất ở châu Âu để đưa ra, trong chính gia đình mình, một minh chứng về một ân huệ được đặt đúng chỗ hơn, hoặc được ban phát với một phong thái tao nhã hơn. Người ta từng nhấn mạnh trước đây về việc hành động bất công nào được thực hiện nhằm gây bất lợi cho một thương gia là dã man và vô nhân đạo đến nhường nào; và hành động tử tế đối với anh ta đáng tán dương bao nhiêu, thì hành động ấy lại càng đáng ca ngợi bấy nhiêu. Tôi nhớ mình từng nghe một vị thẩm phán của đền Temple kể câu chuyện về một truyền thống trong nhà của họ, nơi họ thuở trước có thói quen bầu chọn các vị vua cho một mùa nhất định và chi trả chi phí cho vị vua đó bằng ngân sách của hội đồng: Một trong những vị vua của chúng tôi, người bạn tôi nói, đã đẩy khuynh hướng vương giả của mình đi xa hơn một chút, và một ủy ban đã được chỉ định để xem xét việc quản lý ngân khố của ông. Trong số những điều khác, xuất hiện chi tiết rằng nhà vua khi đi dạo ẩn danh (incog) trong hành lang, đã tình cờ nghe được một người nghèo nói với người khác rằng: Một số tiền nhỏ thế này sẽ khiến tôi trở thành người hạnh phúc nhất trên đời. Nhà vua vì lòng trắc ẩn vương giả đã âm thầm điều tra về nhân cách của y, và nhận thấy y là một đối tượng thích hợp cho lòng từ thiện, liền gửi số tiền đó cho y. Khi ủy ban đọc báo cáo của họ, hội đồng đã thông qua bản quyết toán của ông với một tràng pháo tay (plaudite) mà không cần kiểm tra thêm, ngay sau khi đọc lại khoản mục này trong đó:

Vì làm cho một người hạnh phúc: 10 - 0 - 0

T.

Chú thích 1: một

Chú thích 2: Thương gia

Chú thích 3: W. P. được đính chính bằng Lỗi in sai trong Số 152 thành W.S.

Mục lục

No. 249 Thứ Bảy, ngày 15 tháng 12 năm 1711 Addison

Khi tôi lựa chọn một chủ đề chưa từng được ai khác đề cập, tôi gom góp những suy ngẫm của mình về nó mà không tuân theo bất kỳ trật tự hay phương pháp nào, sao cho chúng xuất hiện theo sự phóng khoáng và tự do của một bài tiểu luận, thay vì tính quy luật của một bài diễn thuyết bài bản. Chính theo cách thức này mà tôi sẽ xem xét tiếng cười và sự chế giễu trong bài viết hiện tại của mình.

Con người là sinh linh vui vẻ nhất trong tạo hóa, tất cả những sinh vật ở trên và dưới anh ta đều nghiêm túc. Anh ta nhìn nhận mọi sự dưới một ánh sáng khác biệt so với các sinh linh khác, và tìm thấy tiếng cười của mình phát sinh từ những đối tượng có lẽ khơi dậy điều gì đó tựa như sự xót thương hoặc khó chịu ở các cấp độ cao thượng hơn. Tiếng cười quả thực là một đối trọng rất tốt cho cơn u uất (spleen); và có vẻ hoàn toàn hợp lý khi chúng ta có khả năng đón nhận niềm vui từ những thứ vốn chẳng phải là điều tốt thực sự đối với mình, hệt như chúng ta có thể đón nhận nỗi buồn từ những thứ vốn chẳng phải là điều ác thực sự.

Tôi từng đưa ra trong [Liên kết Tập 1: Số bài viết thứ bốn mươi bảy] một bài luận dựa trên khái niệm của một nhà triết học hiện đại1, người miêu tả động cơ đầu tiên của tiếng cười chính là sự so sánh thầm kín mà chúng ta thực hiện giữa chính mình và những kẻ mà chúng ta cười cợt; hay nói cách khác, sự thỏa mãn mà chúng ta nhận được từ quan điểm về một sự vượt trội nào đó nơi bản thân, khi chúng ta chứng kiến những sự ngớ ngẩn của kẻ khác hoặc khi chúng ta chiêm ngưỡng bất kỳ sự ngớ ngẩn đã qua nào của chính mình. Điều này có vẻ đúng trong hầu hết các trường hợp, và chúng ta có thể quan sát thấy phần lớn những kẻ tự phụ nhất trong nhân loại lại là những kẻ nghiện ngập loại cảm xúc này nhất.

Tôi từng đọc bài giảng của một vị tu sĩ trong Giáo hội Rome, dựa trên những lời của Người Thông Thái: Tôi tự nhủ về tiếng cười, nó thật điên rồ; và về sự vui vẻ, nó làm được gì? Dựa trên đó, ông đúc kết thành một điểm giáo lý rằng tiếng cười là hệ quả của Nguyên tội, và Adam không thể cười trước thời điểm sa ngã.

Tiếng cười, trong suốt thời gian nó kéo dài, làm chùng xuống và lơi lỏng tâm trí, làm suy yếu các năng lực, và gây ra một dạng sự lỏng lẻo cùng sự tan rã trong tất cả các quyền năng của linh hồn: Và xét về phương diện đó, nó có thể được nhìn nhận như một điểm yếu trong thành phần cấu tạo của bản chất con người. Nhưng nếu chúng ta cân nhắc những sự giải tỏa thường xuyên mà chúng ta nhận được từ nó, và cách thức nó phá vỡ màn đêm u ám có xu hướng làm suy sụp tâm trí đồng thời kìm hãm tinh thần của chúng ta, bằng những tia sáng bất chợt không lường trước của niềm vui, người ta sẽ cẩn trọng để không trở nên quá mức khôn ngoan trước một niềm vui lớn lao nhường ấy của cuộc sống.

Tài năng biến con người thành trò hề và phơi bày trước tiếng cười những kẻ mà ta giao du, chính là phẩm chất của những tâm tính tầm thường hẹp hòi. Một thanh niên mang khuynh hướng tâm lý này tự cắt đứt mình khỏi mọi hình thức cải thiện bản thân. Mọi người đều có những khiếm khuyết và điểm yếu của mình; thậm chí những vết nhơ vĩ đại nhất thường được tìm thấy trong những nhân cách rực rỡ nhất; nhưng thật là một điều ngớ ngẩn biết bao khi phớt lờ toàn bộ những phần giá trị của một con người, và dán chặt sự chú ý của chúng ta vào những sự yếu đuối của y; quan sát những khuyết điểm của y nhiều hơn là những đức hạnh; và sử dụng y làm trò tiêu khiển cho người khác, thay vì dùng cho sự cải thiện của chính mình?

Do đó, chúng ta rất thường xuyên nhận ra rằng những cá nhân đạt đến độ tinh xảo nhất trong nghệ thuật chế giễu lại chính là những kẻ cực kỳ sắc sảo trong việc đánh trúng điểm mù, mà chẳng hề bộc lộ bất kỳ điều gì mang tầm vóc sư phụ nơi bản thân. Hệt như có rất nhiều nhà phê bình xuất sắc chưa từng viết nổi một dòng thơ hay, cũng có rất nhiều gã hề đáng ngưỡng mộ bình phẩm về từng khuyết điểm đơn lẻ ở kẻ khác, mà chưa từng khám phá ra dù chỉ một chút vẻ đẹp nhỏ nhoi của chính mình. Bằng cách này, những kẻ thông minh vặt xui xẻo ấy thường gặt hái danh tiếng trong sự quý trọng của những tâm hồn bình dân, và nâng bản thân vượt lên trên những cá nhân sở hữu nhân cách đáng biểu dương hơn rất nhiều.

Nếu tài năng chế giễu được sử dụng để tống khứ con người khỏi thói hư tật xấu và sự ngu ngốc, nó có lẽ sẽ mang lại chút ích lợi cho thế giới; nhưng thay vì thế, chúng ta nhận thấy rằng nó thường được tận dụng để tống khứ con người khỏi đức hạnh và lẽ thông thường, bằng cách tấn công mọi thứ trang nghiêm và nghiêm túc, đoan trang và đáng ca ngợi trong đời sống con người.

Chúng ta có thể quan sát thấy rằng trong những thời kỳ đầu tiên của thế giới, nơi những linh hồn vĩ đại và kiệt tác của bản chất con người được sản sinh, con người tỏa sáng bằng một phong thái đơn giản cao thượng trong hành xử, và hoàn toàn xa lạ với những điểm tô nhỏ nhặt vốn đang thịnh hành trong các cuộc trò chuyện hiện tại của chúng ta. Và thật vô cùng đáng chú ý rằng, dẫu hiện tại chúng ta tụt lại so với người xưa trong thơ ca, hội họa, hùng biện, lịch sử, kiến trúc, và tất cả mọi nghệ thuật và khoa học cao quý phụ thuộc vào thiên bẩm nhiều hơn là kinh nghiệm, chúng ta lại vượt trội họ tương đương trong thơ khôi hài (doggerel), sự hài hước, văn trào phúng (burlesque), và tất cả mọi nghệ thuật tầm thường của sự chế giễu. Chúng ta bắt gặp nhiều sự châm chọc hơn ở thời hiện đại, nhưng nhiều lẽ thông thường hơn ở thời cổ đại.

Hai nhánh vĩ đại của sự chế giễu trong văn chương chính là hài kịch và văn trào phúng. Nhánh thứ nhất chế giễu các cá nhân bằng cách phác họa họ đúng với nhân cách thực sự của họ, nhánh thứ hai bằng cách phác họa họ hoàn toàn không giống chính mình. Do đó, văn trào phúng gồm hai loại: loại thứ nhất miêu tả những kẻ tầm thường trong trang phục của những người anh hùng, loại thứ hai mô tả những nhân vật vĩ đại hành động và cất lời hệt như những kẻ thấp hèn nhất trong đám đông. Don Quixote là một minh chứng của loại thứ nhất, còn các vị thần của Lucian là loại thứ hai. Đó là một cuộc tranh luận trong giới phê bình xem liệu thơ trào phúng vận hành tốt hơn trong thể thơ anh hùng, hệt như trong tác phẩm The Dispensary2; hay trong thơ khôi hài (doggerel), hệt như trong Hudibras. Tôi nghĩ nơi nhân vật tầm thường cần được nâng tầm, thể thơ anh hùng là nhịp điệu thích hợp; nhưng khi một anh hùng cần bị kéo sập và hạ bệ, điều đó được thực hiện tốt nhất bằng thể thơ khôi hài.

Nếu Hudibras được phác họa với sự thông minh và hài hước trong thể thơ anh hùng hệt như trong thể thơ khôi hài, hắn sẽ tạo ra một vóc dáng dễ chịu hơn nhiều so với hiện tại; dẫu đa số độc giả của nó vô cùng thích thú với những cặp vần đôi đến mức tôi không mong đợi có nhiều người đứng về phía mình trong chi tiết này.

Tôi sẽ kết thúc bài tiểu luận về tiếng cười này bằng quan sát rằng ẩn dụ về tiếng cười, được áp dụng cho những cánh đồng và đồng cỏ khi chúng nở hoa, hoặc cho những cái cây khi chúng đơm hoa kết trái, trải dài xuyên suốt mọi ngôn ngữ; điều mà tôi chưa từng quan sát thấy ở bất kỳ ẩn dụ nào khác, ngoại trừ ẩn dụ về lửa và sự cháy bỏng khi chúng được áp dụng cho tình yêu. Điều này cho thấy rằng chúng ta tự nhiên nhìn nhận tiếng cười như thứ vừa đáng yêu vừa đẹp đẽ tự thân. Vì lý do tương tự, Venus đã giành được danh hiệu Người phụ nữ yêu tiếng cười, hệt như cách Waller đã dịch nó, và được miêu tả bởi Horace là Nữ thần yêu thích tiếng cười.

Milton, trong một hội đồng hoan hỉ của các nhân vật tưởng tượng3, đã ban cho chúng ta một hình ảnh rất đỗi nên thơ về tiếng cười. Toàn bộ ban nhạc vui vẻ của ông được miêu tả tinh tế đến mức tôi xin phép đặt dòng thơ này4 tại đây trọn vẹn.

But come thou Goddess fair and free,

In Heaven yeleped Euphrosyne,

And by Men, heart-easing Mirth,

Whom lovely Venus at a Birth,

With two Sister Graces more,

To Ivy-crowned Bacchus bore:

Haste thee, Nymph, and bring with thee

Jest and youthful jollity,

Quips and Cranks, and wanton Wiles,

Nods, and Becks, and wreathed Smiles,

Such as hang on Hebe's Cheek,

And love to live in Dimple sleek:

Sport that wrinkled Care derides,

And Laughter holding both his Sides.

Come, and trip it, as you go,

On the light fantastick Toe:

And in thy right Hand lead with thee

The Mountain Nymph, sweet Liberty;

And if I give thee Honour due,

Mirth, admit me of thy Crew,

To live with her, and live with thee,

In unreproved Pleasures free.

C.

Chú thích 1: Hobbes.

Chú thích 2: Sir Samuel Garth, nhà thơ kiêm y sĩ, người còn sống vào thời điểm này (qua đời năm 1719), đã châm biếm một cuộc cãi vã giữa các bác sĩ trong bài thơ the Dispensary. Các chất ăn da đâm xuyên phát huy sức mạnh thù hận của chúng; Các chất gây nôn giằng xé, và các chất tẩy uế chua cay. Các loại thuốc chết chóc bay vút trong liều lượng kép; Và tiếng chày cối gióng lên một bản giao hưởng chiến tranh.

Chú thích 3: L'Allegro.

Chú thích 4: đặt nó

Mục lục

No. 250 Thứ Hai, ngày 17 tháng 12 năm 1711

Disce docendus adhuc, quæ censet amiculus, ut si

Cæcus iter monstrare velit; tamen aspice si quid

Et nos, quod cures proprium fecisse, loquamur.

Hor.

Thưa ngài Spectator,

'Ngài thấy được bản chất thỉnh cầu của tôi qua câu châm ngôn tiếng Latinh mà tôi gửi gắm đến ngài. Tôi thừa hiểu mình không nên dùng quá nhiều lời với ngài, một người trong số ít ỏi những người tinh tế; nhưng đoạn văn sau đây, vì liên quan đến sự suy ngẫm trong tính chuẩn xác của ngôn ngữ, là một sự tò mò trong phân loài của nó, xin khẩn cầu sự kiên nhẫn của ngài. Nó được tìm thấy trong phòng riêng của một nhà hiền triết thi ca giữa những món đồ kỳ trân dị bảo của ông ta; và vì các chuyên luận khác nhau về ngón tay cái, tai và mũi từng ban ơn cho thế giới, chuyên luận về đôi mắt này xin được phục vụ ngài.'

'Đôi mắt quan trọng đầu tiên (bên dưới Đấng Sáng Tạo vô hình của vạn vật) chính là vầng nhật quang hữu hình của vũ trụ. Quan sát viên vinh quang này được đồn đại là chưa từng mở mắt khi thức dậy vào buổi sáng, mà không có cả một vương quốc những kẻ sùng bái mặc lụa Ba Tư đang chầu chực tại buổi tiếp kiến levée của ngài. Hàng triệu sinh linh thu nạp thị lực của họ từ nguồn gốc nguyên thủy này, vị bên cạnh việc là giám đốc vĩ đại của quang học, còn là bài kiểm tra chắc chắn nhất xem liệu đôi mắt thuộc cùng chủng loại với loài đại bàng hay loài cú: Loài thứ nhất được ngài tiếp thêm sự tự tin đầy nam tính để nhìn ngắm, cất lời, hành động hoặc biện hộ trước mặt một hội đồng đông đúc; loài thứ hai bị ngài làm cho lóa mắt đến mức mất tự nhiên chui vào một góc lủi thủi nhút nhát. Đôi mắt chống chọi được ánh nắng dám dẫn đầu một điệu nhảy trong một triều đình đông đúc; và không hề chớp mắt trước sự lóa mắt của vẻ đẹp, có thể phân bổ một cái nhìn lịch sự thích hợp đến một căn phòng chen chúc người, mỗi người trong số đó xứng đáng nhận được sự quan tâm đặc biệt; trong khi kẻ kia lủi thủi trốn chạy khỏi cuộc trò chuyện, hệt như một con nợ sợ hãi, kẻ chưa từng dám ngẩng mặt lên trừ khi không thấy bóng dáng ai và chẳng ai thấy hắn.'

Trường hợp quang học tiếp theo chính là nhân vật Argus nổi tiếng, kẻ (nói theo ngôn ngữ của Cambridge) là một trong hàng trăm; và được sử dụng như một điệp viên trong các vấn đề ghen tuông, buộc phải có đầy đủ mọi đôi mắt xung quanh mình. Chúng ta không có bản tường thuật nào về các sắc thái, góc nhìn và chuyển động cụ thể của tập hợp đôi mắt này; nhưng vì hắn là kẻ dắt mối cho mụ chủ Juno của mình, rất có thể hắn đã sử dụng tất cả các kiểu liếc mắt hiện đại, những cái nhìn lén lút và các hoạt động thị giác khác để phục vụ mục đích của mình. Một số người nhìn nhận hắn như quan chức herald thời đó của các vị thần ngoại giáo; và xem những đôi mắt của hắn chẳng khác nào những miếng kim sa trên chiếc áo choàng herald của hắn.

Nhân vật tiếp theo trong danh sách quang học chính là lão Janus, kẻ đứng trong tư thế có khả năng nhìn nhận gấp đôi, hệt như một người đứng giữa hai chiếc gương soi đối diện, và do đó tung ra một cái nhìn mang tính hoài niệm ngược về phía sau trong một cái liếc mắt duy nhất. Các bản sao của lối nhìn nhận hai mặt này vẫn chưa lỗi mốt trong nhiều ngành nghề, và các nghệ nhân khéo léo ra điều duy trì phân loài này bằng những chiếc gậy batoong và thìa có hai đầu1; thế nhưng chẳng có dấu hiệu nào của năng lực này, ngoại trừ theo lối biểu tượng của một vị tướng khôn ngoan vừa đảo mắt về phía tiền tuyến lẫn hậu phương, hoặc một người sùng đạo đang kiểm điểm lại và viễn cảnh hóa trạng thái quá khứ lẫn tương lai của mình cùng một lúc.

Tôi phải thú nhận rằng tên gọi, màu sắc, phẩm chất và góc nhìn của đôi mắt thay đổi gần như ở mỗi cái đầu; bởi vì, không nhắc đến những tên gọi phổ biến của mắt đen, mắt xanh dương, mắt trắng, mắt xám, và đại loại thế, những thứ nổi bật nhất chính là những thứ mượn tên gọi của chúng từ các loài động vật, dựa trên một phẩm chất hoặc sự tương đồng cụ thể mà chúng mang lại so với đôi mắt của các sinh vật tương ứng; hệt như ánh mắt tham lam vồ vập mang tên của loài mèo, ánh mắt sắc sảo xuyên thấu của loài diều hâu, những cái nhìn tình tứ ngổ ngáo mang danh xưng thậm chí từ loài cừu, và chúng ta bảo rằng ai đó sở hữu ánh mắt ngây ngô (sheep's eye), không phải để biểu thị sự ngây thơ mà là sự khờ khạo lém lỉnh của cái liếc mắt đó: Sự tiêm chủng mang tính ẩn dụ này cũng không phải là một phát minh hiện đại, bởi vì chúng ta bắt gặp Homer tự do đặt đôi mắt của một con bò đực, bò mộng hoặc con bò cái vào một trong những vị nữ thần chính của ông, bằng biểu thức thường xuyên

Giờ đây, xét về các phẩm chất đặc biệt của đôi mắt, phần tinh tế ấy trong cấu trúc của chúng ta có vẻ là nơi tiếp nhận và ngự trị của các cảm xúc, ham muốn và khuynh hướng chẳng kém gì bản thân tâm trí; và chí ít nó là cánh cổng bên ngoài để đưa chúng vào ngôi nhà bên trong, hay đúng hơn là lối đi chung để thả cho các tình cảm của chúng ta đi qua đi lại. Tình yêu, sự giận dữ, niềm kiêu hãnh và sự tham lam, tất cả đều hiện hữu một cách rõ ràng trong những khối cầu nhỏ bé ấy. Tôi quen biết một thiếu nữ nọ không thể nhìn thấy một quý ông nào đó đi ngang qua mà không bộc lộ ham muốn thầm kín muốn được nhìn thấy anh ta lần nữa bằng một điệu nhảy trong nhãn cầu của mình; thậm chí nàng không tài nào kìm ném được việc ngước nhìn theo ngửa mặt nửa con phố đối với bất kỳ người đàn ông nào ăn mặc rực rỡ. Bạn không thể chứng kiến một tâm hồn tham lam bước ngang qua một tiệm kim hoàn mà không liếc nhìn đầy khát khao về phía những đống vàng trên quầy. Chẳng phải một kẻ ngạo mạn bộc lộ tâm tính của tâm hồn hắn trong cái ngoắc mắt trịch thượng đó sao? Và biết bao lần, ở đỉnh điểm của cảm xúc, bức tranh chuyển động trong cái đầu của chúng ta ấy giật mình và trố mắt, trùm lên một sắc đỏ và những tia chớp chớp nhoáng, đồng thời làm cho mọi dịch chất của nó lấp lánh ngứa ngáy bằng lửa, hệt như cách Virgil miêu tả tinh tế:

—Ardentis ab ore

Scintillæ absistunt: oculis micat acribus ignis.3

Còn về những góc nhìn đa dạng của thị lực, chẳng hạn như chủ ý hay vô tình, cái liếc mắt một nửa hay toàn phần, tôi sẽ không đi sâu vào bản tường thuật chi tiết về chúng; nhưng hãy để tôi lưu ý rằng tầm nhìn xiên lệch, khi mang tính tự nhiên, thuở xưa là dấu hiệu của sự yểm bới và ma thuật thu hút, và cho đến ngày nay đó vẫn là một cái nhìn mang tính độc ác bất lành; nhưng khi nó bị ép buộc và ra vẻ, nó mang theo một mưu đồ phóng túng, và trong các nhà hát cùng các không gian công cộng khác, sự ám chỉ thị giác này thường là một cuộc hẹn hò cho những hành vi tồi tệ: Nhưng sự bất thường trong thị lực này, đi kèm với những sự vi phạm như việc nháy mắt ra hiệu, cái đảo mắt chu vi, cái liếc trộm qua chiếc khăn trùm mỏng hoặc chiếc quạt, phải được xếp vào phân loại của thị lực dị biệt (Heteroptics), hệt như mọi quan điểm sai lầm về tôn giáo được xếp vào tên gọi chung là dị giáo (Heterodox). Mọi ứng dụng độc hại của thị lực nằm trực tiếp dưới sự chỉ đạo của một quan sát viên (Spectator); và tôi hy vọng ngài sẽ vũ trang cho độc giả của mình chống lại những hiểm họa được thực hiện hằng ngày bởi đôi mắt sát thủ, qua đó ngài sẽ vô cùng làm hài lòng người bạn vô danh bị thương tích của ngài,

T. B.

Thưa ngài Spectator,

Ngài từng tuyên bố trong nhiều bài viết về những nỗ lực đặc biệt của mình trong lĩnh vực quan sát viên, nhằm chấn chỉnh những hành vi vi phạm được thực hiện bởi những kẻ nhìn chằm chằm (Starers), những kẻ quấy rầy toàn bộ hội đồng mà chẳng màng đến thời gian, không gian hay sự khiêm nhường. Ngài cũng từng phàn nàn rằng một kẻ nhìn chằm chằm thường không phải là cá nhân dễ bị thuyết phục bởi lý trí của sự việc, hay dễ bị quở trách đến mức tự cải thiện qua những lời nhắc nhở. Do đó, tôi thấy phù hợp khi thông báo cho ngài về một phương pháp cơ khí tiện lợi, có thể dễ dàng ngăn chặn hoặc chấn chỉnh thói nhìn chằm chằm, thông qua một thiết kế quang học gồm những chiếc kính viễn vọng mới, ngắn gọn và tiện dụng hệt như kính opera, thích hợp cho những người cận thị cũng như những người khác, những chiếc kính này khiến các đối tượng xuất hiện, hoặc hệt như chúng được nhìn thấy bằng mắt thường, hoặc sắc nét hơn, dẫu nhỏ hơn người thực đôi chút, hoặc lớn hơn và gần hơn. Một cá nhân có thể, nhờ sự trợ giúp của phát minh này, quan sát một người khác mà không vướng phải sự vô duyên của việc nhìn chằm chằm; đồng thời người đó sẽ không tài nào biết được anh ta đang nhìn ai hoặc nhìn cái gì. Người ta có thể hướng về bên phải hoặc bên trái của mình, khi được cho là đang nhìn thẳng về phía trước: Điều này được phơi bày chi tiết trong các bản đề xuất được in ấn dành cho việc bán những loại kính này, có thể tìm thấy tại hiệu của ông Dillon ở Long-Acre, sát vách White-Hart. Giờ đây, thưa ngài, vì tờ Spectator của ngài đã khơi mào cho việc ấn hành phát minh này vì lợi ích của những quan sát viên khiêm nhường, nhà sáng chế mong muốn nhận được những lời nhắc nhở của ngài liên quan đến việc sử dụng nó một cách đoan trang; và hy vọng, qua sự giới thiệu của ngài, rằng từ nay về sau vẻ đẹp có thể được ngắm nhìn mà không phải gánh chịu nỗi tra tấn và sự bối rối mà nó phải hứng chịu từ sự xấc láo của những kẻ nhìn chằm chằm. Bằng cách này, ngài sẽ giải cứu những người vô sinh khỏi một sự lăng mạ chẳng có điều luật nào trừng phạt, dẫu nó là một sự vi phạm lớn lao hơn nhiều so với vô số thứ nằm trong nhận thức của công lý.

Tôi kính thư, thưa ngài, Người đầy tớ khiêm nhường nhất của ngài,

Abraham Spy.

Q.

Chú thích 1: Thìa hình tượng tông đồ và những loại khác có hình chạm khắc trên cán.

Chú thích 2: Vị thần Juno mắt bò, đáng kính.

Chú thích 3: En. 12, v. 101.

Mục lục

No. 251 Thứ Ba, ngày 18 tháng 12 năm 1711 Addison

Lingua centum sunt, oraque centum.

Ferrea Vox.

Virgil.

Chẳng có điều gì khiến một người nước ngoài kinh ngạc hơn, và làm một gã địa chủ miền quê khiếp sợ hơn, những tiếng rao ở London. Người bạn tốt của tôi, ngài Sir Andrew, thường tuyên bố rằng ông không tài nào tống khứ chúng ra khỏi đầu mình nổi hoặc chợp mắt vì chúng, trong suốt tuần đầu tiên ông đặt chân đến thành phố. Ngược lại, Will Honeycomb gọi chúng là Ramage de la Ville, và ưu ái chúng hơn cả âm thanh của loài sơn ca và chim họa mi, cùng tất cả bản giao hưởng của đồng ruộng và rừng rậm. Gần đây tôi nhận được một bức thư từ một gã kỳ cục nào đó về chủ đề này, tôi xin phép để lại nó cho độc giả, mà không nói thêm bất kỳ điều gì về nó.

Thưa ngài,

"Tôi là một con người của mọi công việc, và sẵn sàng xoay chuyển cái đầu của mình để làm bất kỳ điều gì nhằm mưu sinh lương thiện. Tôi từng phát minh ra vô số dự án nhằm huy động hàng triệu đồng tiền mà không làm gánh nặng cho thần dân, nhưng tôi chẳng tài nào khiến quốc hội lắng nghe mình, những kẻ hỡi ơi, nhìn nhận tôi như một kẻ khùng và một gã chuyên vẽ dự án; thế nên tuyệt vọng trong việc làm giàu cho bản thân lẫn đất nước bằng tinh thần cộng đồng này, tôi muốn đưa ra một vài đề xuất với ngài liên quan đến một thiết kế mà tôi vô cùng tâm huyết, và có thể mang lại cho tôi một sinh kế khôi hài1, nếu ngài hoan hỷ giới thiệu nó với thành phố London và Westminster.

Chức vụ mà tôi hướng đến là Tổng kiểm soát các tiếng rao ở London, những thứ hiện tại không nằm dưới bất kỳ quy tắc hay kỷ luật nào. Tôi nghĩ mình tương đối đủ điều kiện cho vị trí này, vì là một người sở hữu phổi cực khỏe, có cái nhìn sâu sắc vào mọi ngóc ngách của các ngành nghề và thương mại Đại Anh, cùng kỹ năng âm nhạc tương đối vững vàng.

Các tiếng rao ở London có thể được chia thành tiếng rao bằng giọng và tiếng rao bằng nhạc cụ. Đối với vế sau, hiện tại chúng đang rơi vào tình trạng hỗn loạn vô cùng lớn. Một công dân tự do của London có quyền làm náo loạn cả một con phố suốt một tiếng đồng hồ, với tiếng đập lanh lảnh của chiếc ấm đồng hoặc cái chảo rán. Tiếng đập gậy của người gác đêm vào lúc nửa đêm giật thót chúng ta trên giường, chẳng kém gì sự đột nhập của một tên trộm. Tiếng còi của gã thiến heo quả thực mang chút âm hưởng âm nhạc trong đó, nhưng điều này hiếm khi được nghe thấy trong phạm vi các đặc quyền. Do đó tôi đề xuất rằng không một nhạc cụ nào mang bản chất này được phép sử dụng, trừ khi được chính tôi căn chỉnh và cấp phép, sau khi đã kiểm tra cẩn thận cách thức nó có thể tác động đến đôi tai của các thần dân trung thành của Nữ hoàng.

Tiếng rao bằng giọng có phạm vi rộng lớn hơn nhiều, và quả thực đầy rẫy những sự bất hợp lý cùng thói man rợ, đến mức chúng ta hiện lên như một thành phố điên rồ trước mắt những người nước ngoài, những kẻ không tài nào lĩnh hội được ý nghĩa của những tiếng gào thét quá khích nhường ấy. Sữa thường được bán cao hơn một nốt Ela, và với những âm thanh quá đỗi2 sắc bén đến mức nó thường làm ê cả răng3 chúng ta. Gã thợ quét ống khói không bị giới hạn4 ở bất kỳ cao độ nhất định nào; hắn thỉnh thoảng cất giọng ở nốt trầm nhất, và thỉnh thoảng ở nốt cao nhất; thỉnh thoảng ở nốt cao nhất, và thỉnh thoảng ở nốt thấp nhất của khung nhạc gamut. Quan sát tương tự cũng có thể được thực hiện đối với những kẻ bán than vụn, chưa kể đến những mảnh thủy tinh vỡ hoặc gạch vụn. Do đó, trong những trường hợp này và tương tự thế, tôi sẽ bận tâm làm ngọt ngào và trầm ấm giọng nói của những thương nhân lưu động này, trước khi họ xuất hiện trên các con phố của chúng ta; cũng như điều chỉnh các tiếng rao của họ phù hợp với các mặt hàng tương ứng; và đặc biệt lưu ý rằng những kẻ nào có ít hàng để bán nhất thì đừng tạo ra tiếng ồn lớn nhất, điều rất dễ quan sát thấy ở những kẻ bán diêm quẹt, những kẻ mà tôi không thể không áp dụng câu tục ngữ cổ Lắm tiếng kêu nhưng ít lông cừu.

Một vài nghệ sĩ được nhắc tới sau cùng quá đỗi ồn ào trong việc rao bán những mặt hàng vụn vặt này, đến mức một quý ông u sầu lành mạnh quen biết với tôi từng thỏa thuận với một kẻ trong số họ không bao giờ được bén mảng đến con phố nơi ông sinh sống: Nhưng hậu quả của thỏa thuận này là gì? Hầu như toàn bộ bộ tộc những kẻ bán diêm quẹt thường xuyên lai vãng khu vực ấy đã kéo ngang qua cửa nhà ông ngay vào ngày hôm sau, với hy vọng được mua chuộc theo cách tương tự.

Đó là một sự bất hoàn hảo lớn lao khác trong các tiếng rao ở London của chúng ta, rằng chẳng có nhịp điệu hay tiết tấu chính xác nào được tuân thủ trong đó. Tin tức của chúng ta thực ra nên được công bố với tốc độ rất nhanh, bởi vì đó là mặt hàng không chịu nằm yên trong lạnh giá. Tuy nhiên, nó không nên được rao với tốc độ chóng mặt hệt như tiếng hỏa hoạn: Thế nhưng đó thường là trường hợp phổ biến. Một trận chiến đẫm máu làm náo loạn thành phố từ đầu này đến đầu kia trong chớp mắt. Mọi chuyển động của người Pháp đều được công bố với sự vội vã lớn lao đến mức người ta sẽ nghĩ kẻ thù đang ở ngay trước cổng chúng ta. Điều này tôi cũng sẽ tự mình điều chỉnh sao cho có sự phân biệt rõ ràng giữa việc loan tin chiến thắng, một cuộc hành quân hoặc việc cắm trại, một chuyến thư Hà Lan, Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha. Tôi cũng không thể bỏ qua dưới tiêu đề này những tiếng báo động quá mức mà một số gã nhà quê ồn ào tung hoành trên đường phố của chúng ta vào mùa củ cải; và chúng càng ít có thể tha thứ hơn, bởi vì đây là những mặt hàng không gặp nguy hiểm bị nguội lạnh trên tay họ.

Có những kẻ khác ưa chuộng nhịp điệu rất chậm chạp, và theo quan điểm của tôi, du dương hơn nhiều so với nhóm trước; cụ thể là người thợ làm thùng đẩy nốt nhạc cuối cùng của mình lên bằng một giọng trầm vang không thiếu phần hòa âm, và tôi không thể không được truyền cảm hứng bởi một nỗi sầu muộn dễ chịu vô cùng khi lắng nghe giai điệu buồn bã và trang nghiêm mà công chúng thường xuyên được hỏi rằng họ có chiếc ghế nào cần sửa hay không? Ký ức của chính ngài có thể gợi ý cho ngài vô số khúc ca sầu thảm tương tự khác, trong đó âm nhạc vô cùng rầu rĩ và du dương.

Tôi luôn cảm thấy thích thú với khoảng thời gian cụ thể trong năm thích hợp cho việc muối dưa chuột và dưa chuột chuột; nhưng than ôi, tiếng rao này, hệt như tiếng hót của loài chim sơn ca5, chẳng vang lên quá hai tháng. Do đó, việc cân nhắc xem liệu giai điệu tương tự có thể trong một số trường hợp được điều chỉnh cho phù hợp với những từ ngữ khác hay không là hoàn toàn xứng đáng.

Nó cũng có thể xứng đáng nhận được sự cân nhắc nghiêm túc nhất của chúng ta rằng, trong một thành phố được quản lý tốt, những gã khùng không bằng lòng với các tiếng rao truyền thống của tổ tiên mà tự phát minh ra những bài hát và giai điệu của riêng họ, nên được dung túng đến mức độ nào: Hệt như gã thợ làm bánh ngọt cách đây không lâu, thường được biết đến với biệt danh Colly-Molly-Puff; và hệt như gã bán phấn và bột giặt ngày nay, nếu tôi được thông báo chính xác, mang biệt danh Powder-Watt.

Tôi không thể bỏ qua tại đây một sự bất hợp lý cụ thể trải dài xuyên suốt toàn bộ thế hệ thích la hét này, thứ khiến cho các tiếng rao của họ rất thường xuyên không chỉ bất tiện, mà còn hoàn toàn vô dụng đối với công chúng; ý tôi là kỹ năng vô tích sự mà tất cả bọn họ đều hướng đến, là Cao giọng rao sao cho không ai có thể hiểu được. Liệu họ có học được điều này từ một số ca sĩ bị ảnh hưởng của chúng ta hay không, tôi sẽ không dám khẳng định; nhưng điều chắc chắn nhất là mọi người nhận diện mặt hàng họ buôn bán qua giai điệu nhiều hơn là qua từ ngữ; đến mức tôi từng đôi khi nhìn thấy một đứa trẻ nhà quê chạy ra ngoài mua táo từ một gã thợ vá ống bễ, và bánh gừng từ một gã mài dao kéo. Thậm chí có một số nghệ sĩ vô cùng nổi tiếng cuồng tín đến kỳ lạ đối với vẻ đẹp cụ thể này trong một tiếng rao đến mức chẳng ai ngoài bạn bè của họ có thể đoán được nghề nghiệp của họ; bởi vì ai khác có thể biết rằng Làm việc nếu tôi có nó (Work if I had it) lại là dấu hiệu thông báo của một kẻ cắt móng chân?

Do đó, vì những cá nhân thuộc cấp bậc này hiếm khi là những người có thiên bẩm hay năng lực, tôi nghĩ sẽ vô cùng thích hợp nếu một con người khôn ngoan và có phán quyết vững vàng đứng ra chủ trì những tiếng rao công cộng này, người sẽ không cho phép bất kỳ ai cất cao giọng trên các đường phố của chúng ta nếu họ không sở hữu cổ họng du dương, và không chỉ có khả năng vượt qua tiếng ồn của đám đông cùng tiếng lộc cộc của xe ngựa, mà còn có thể rao bán các mặt hàng tương ứng của họ bằng những cụm từ phù hợp và trong những âm thanh rõ ràng, dễ chịu nhất. Do đó, tôi xin khiêm nhường giới thiệu bản thân như một cá nhân hoàn toàn đủ điều kiện cho vị trí này; và nếu nhận được sự khích lệ phù hợp, tôi sẽ truyền đạt một số dự án khác mà tôi đang ấp ủ, có thể góp phần không kém vào lợi ích công cộng."

Tôi kính thư, thưa ngài, &c.

Ralph Crotchet.

Chú thích 1: một

Chú thích 2: quá đỗi

Chú thích 3: vào

Chú thích 4: được chứa đựng

Chú thích 5: Chim sơn ca

Mục lục

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.