Một quan niệm đạo đức mới vừa bùng nổ trong xã hội chúng ta, mang theo ít nhiều sự quyết liệt liên quan đến vấn đề đồ uống có cồn; những người nhiệt thành với chuyện này đa dạng từ gã say xỉn bị tống cổ ra ngoài lúc 12 giờ rưỡi đêm, cho đến quý bà đập phá các quán rượu kiểu Mỹ bằng một chiếc rìu. Trong các cuộc tranh luận đó, hầu như luôn có một quan điểm được xem là khôn ngoan và ôn hòa, đó là rượu hay những thứ đại loại như thế chỉ nên được dùng như một loại dược phẩm. Về điều này, tôi xin mạo muội phản đối một cách cực kỳ gay gắt. Cách uống rượu thực sự nguy hiểm và vô đạo đức nhất chính là uống nó như một liều thuốc. Và lý do là thế này: Nếu một người uống rượu để tìm kiếm niềm vui, anh ta đang cố có được một điều gì đó ngoại lệ, một điều không diễn ra hằng giờ trong ngày, một điều mà trừ phi hơi mất trí, anh ta sẽ không cố tìm kiếm nó mỗi giờ mỗi khắc. Nhưng nếu một người uống rượu để có được sức khỏe, anh ta đang cố tìm kiếm một điều gì đó tự nhiên; nghĩa là một điều mà anh ta không nên thiếu vắng; một điều mà anh ta có thể cảm thấy khó lòng chấp nhận nếu phải sống thiếu nó. Người từng nhìn thấy sự ngây ngất của trạng thái hân hoan thì không dễ bị quyến rũ; điều chói lọi hơn chính là thoáng thấy sự hân hoan của trạng thái bình thường. Giả sử có một loại thuốc mỡ thần kỳ, và chúng ta mang nó đến cho một người khỏe mạnh, rồi bảo rằng: “Thứ này sẽ giúp anh nhảy từ trên Tượng đài xuống”, chắc chắn anh ta sẽ nhảy, nhưng anh ta sẽ không nhảy từ Tượng đài xuống suốt cả ngày để làm vui lòng cả Thành phố. Thế nhưng, nếu chúng ta mang nó đến cho một người mù và nói: “Thứ này sẽ giúp anh nhìn thấy”, anh ta sẽ phải đối mặt với cám dỗ nặng nề hơn. Thật khó cho anh ta nếu không bôi nó lên mắt mỗi khi nghe tiếng vó ngựa cao quý hay tiếng chim hót lúc bình minh. Từ bỏ những thú vui lễ hội thì dễ; nhưng từ bỏ trạng thái bình thường mới là khó. Chính từ đây dẫn đến một sự thật mà mọi bác sĩ đều biết: thường rất nguy hiểm khi cho người bệnh dùng rượu ngay cả khi họ cần đến nó. Tôi không cần phải nói rõ rằng tôi không cho rằng việc dùng rượu như một chất kích thích cho người bệnh là nhất thiết không thể biện minh. Nhưng tôi muốn nói rằng việc dùng nó cho người khỏe mạnh để giải trí mới chính là cách sử dụng đúng đắn, và phù hợp với sức khỏe hơn nhiều.
Quy tắc đúng đắn trong vấn đề này dường như cũng giống như nhiều quy tắc đúng đắn khác—là một nghịch lý. Hãy uống vì bạn hạnh phúc, chứ đừng bao giờ uống vì bạn khốn khổ. Đừng bao giờ uống khi bạn không thể sống thiếu nó, nếu không bạn sẽ giống như gã nghiện rượu gin mặt xám ngoét trong khu ổ chuột; nhưng hãy uống khi bạn vẫn hạnh phúc dù không có nó, và bạn sẽ giống như người nông dân Ý vui vẻ. Đừng bao giờ uống vì bạn cần nó, vì đó là kiểu uống duy lý, là con đường dẫn đến cái chết và địa ngục. Mà hãy uống vì bạn không cần nó, vì đó là kiểu uống phi lý, là nguồn sức khỏe cổ xưa của thế giới.
Suốt hơn ba mươi năm qua, bóng hình và vinh quang của một vĩ nhân phương Đông đã bao trùm lên văn học Anh quốc của chúng ta. Bản dịch thơ Omar Khayyam của Fitzgerald đã cô đọng tất cả triết lý hưởng lạc tăm tối và trôi dạt của thời đại chúng ta vào một nỗi niềm cảm động bất hủ. Thật tầm thường nếu chỉ bàn về vẻ đẹp văn chương của tác phẩm đó; trong rất ít cuốn sách khác của nhân loại, có sự kết hợp nào vừa mang tính châm biếm sắc sảo lại vừa mang nỗi buồn man mác của một bài ca đến vậy. Nhưng về ảnh hưởng triết học, đạo đức và tôn giáo của nó — vốn đã to lớn gần bằng chính sự rực rỡ của nó — tôi muốn có đôi lời, và tôi thú thật, đó là những lời thù địch không khoan nhượng. Có rất nhiều điều có thể nói để phản bác lại tinh thần của tập Rubaiyat, và ảnh hưởng ghê gớm của nó. Nhưng có một vấn đề cáo buộc nổi lên đầy đe dọa hơn tất cả—một nỗi nhục thực sự đối với nó, một tai họa thực sự đối với chúng ta. Đó là đòn giáng khủng khiếp mà bài thơ vĩ đại này đã gây ra cho tình bằng hữu và niềm vui sống. Ai đó từng gọi Omar là “lão già Ba Tư buồn bã, vui vẻ”. Buồn bã thì đúng; còn vui vẻ thì không hề, xét theo bất cứ nghĩa nào. Ông ta còn là kẻ thù tồi tệ hơn cả những tín đồ Thanh giáo đối với niềm vui.
Một người phương Đông trầm ngâm và thanh tao nằm dưới gốc cây hồng với bình rượu và cuộn thơ của mình. Có vẻ kỳ lạ khi bất cứ ai nhìn thấy ông ta lại nghĩ ngay đến đầu giường tăm tối nơi bác sĩ chia từng chút rượu brandy. Lạ lùng hơn nữa là họ lại nghĩ về gã nghiện rượu rách rưới mặt xám ngoét đang run rẩy vì rượu gin ở Houndsditch. Nhưng một sự thống nhất triết học vĩ đại đã liên kết ba người bọn họ trong một mối dây liên kết tà ác. Thói chè chén của Omar Khayyam là xấu, không phải vì đó là thói chè chén. Nó xấu, và rất xấu, vì đó là thói chè chén mang tính dược phẩm. Đó là cách uống của một người uống vì anh ta không hạnh phúc. Rượu của ông ta là thứ rượu che khuất vũ trụ, chứ không phải thứ rượu khai mở nó. Đó không phải là cách uống mang tính thơ ca, vốn đầy vui tươi và bản năng; mà là cách uống duy lý, tẻ nhạt như một khoản đầu tư, và khó chịu như một liều thuốc đắng. Vượt xa nó trên tầng trời, xét về mặt cảm xúc chứ không phải phong cách, là sự rực rỡ của một bài hát uống rượu cổ điển của Anh—
“Nào chuyền bát rượu, hỡi các bạn đồng hành,
Và để dòng rượu táo tuôn trào.”
Bởi bài hát này được những con người hạnh phúc cất lên để bày tỏ giá trị của những điều thực sự đáng quý, của tình anh em, sự hàn huyên, và những quãng nghỉ ngơi ngắn ngủi mà tử tế của những người nghèo khổ. Tất nhiên, phần lớn những lời chỉ trích cứng nhắc nhắm vào đạo đức của trường phái Omar đều sai lầm và ngây ngô như thường lệ. Một nhà phê bình, người mà tôi từng đọc tác phẩm, đã có sự ngu ngốc khó tin khi gọi Omar là một kẻ vô thần và duy vật. Hầu như không thể có một người phương Đông nào lại là một trong hai điều đó; phương Đông hiểu siêu hình học quá rõ để làm như vậy. Tất nhiên, sự phản đối thực sự mà một tín đồ Cơ Đốc giáo triết học đưa ra đối với tôn giáo của Omar, không phải là ông ta không dành chỗ cho Chúa, mà là ông ta dành quá nhiều chỗ cho Chúa. Ông ta thuộc về thuyết thần linh khủng khiếp vốn không thể tưởng tượng ra điều gì khác ngoài thần linh, và hoàn toàn phủ nhận những nét riêng biệt của nhân cách và ý chí con người.
“Quả bóng chẳng thắc mắc câu Có hay Không,
Cứ nơi này hay nơi khác, tùy gậy người chơi;
Và Người đã tung bạn vào sân đấu,
Người biết rõ mọi sự—Người biết—Người biết.”
Một tư tưởng gia Cơ Đốc giáo như Augustine hay Dante sẽ phản đối điều này vì nó bỏ qua ý chí tự do, vốn là lòng dũng cảm và phẩm giá của tâm hồn. Sự bất đồng giữa Cơ Đốc giáo cao cả nhất với chủ nghĩa hoài nghi này không phải là ở chỗ chủ nghĩa hoài nghi phủ nhận sự tồn tại của Chúa; mà là ở chỗ nó phủ nhận sự tồn tại của con người.
Trong giáo phái của những kẻ tìm kiếm niềm vui bi quan này, tập Rubaiyat đứng đầu trong thời đại chúng ta; nhưng nó không đứng một mình. Nhiều trí tuệ xuất chúng nhất thời đại chúng ta đã thúc giục chúng ta tìm kiếm những khoảnh khắc khoái lạc hiếm hoi theo cùng một kiểu đầy tự thức như thế. Walter Pater từng nói rằng tất cả chúng ta đều đang chờ thi hành án tử hình, và cách duy nhất là tận hưởng những khoảnh khắc tuyệt mỹ chỉ vì chính những khoảnh khắc đó. Bài học tương tự cũng được giảng dạy bởi triết học đầy uy lực và cũng rất hoang vắng của Oscar Wilde. Đó là tôn giáo "carpe diem" (hãy tận hưởng ngày hôm nay); nhưng tôn giáo carpe diem không phải là tôn giáo của những con người hạnh phúc, mà là của những con người rất bất hạnh. Niềm vui vĩ đại không phải là "hái những nụ hồng khi còn có thể"; đôi mắt nó luôn dán chặt vào đóa hồng bất tử mà Dante đã thấy. Niềm vui vĩ đại chứa đựng trong nó ý niệm về sự bất tử; chính sự rực rỡ của tuổi trẻ nằm ở cảm giác rằng nó có cả không gian để sải bước. Trong tất cả các tác phẩm văn học hài hước vĩ đại, như “Tristram Shandy” hay “Pickwick”, đều có cảm giác về không gian và sự bất hoại này; chúng ta cảm thấy các nhân vật là những con người bất tử trong một câu chuyện không hồi kết.
Tất nhiên, sự thật là hạnh phúc nồng nàn chủ yếu đến trong những khoảnh khắc thoáng qua; nhưng không đúng khi chúng ta nghĩ về chúng như những thứ phù du, hay tận hưởng chúng chỉ "vì những khoảnh khắc đó". Làm như vậy là duy lý hóa hạnh phúc, và do đó, hủy hoại nó. Hạnh phúc là một điều huyền bí giống như tôn giáo, và không bao giờ nên bị duy lý hóa. Hãy giả sử một người trải nghiệm một khoảnh khắc khoái lạc thực sự tuyệt vời. Tôi không nói đến thứ gì đó liên quan đến một món đồ trang sức tráng men, tôi nói đến thứ gì đó có chứa đựng niềm hạnh phúc mãnh liệt—một niềm hạnh phúc gần như đau đớn. Chẳng hạn, một người có thể có một khoảnh khắc ngây ngất trong mối tình đầu, hoặc một khoảnh khắc chiến thắng trong trận mạc. Người yêu tận hưởng khoảnh khắc đó, nhưng chính xác là không phải vì chính khoảnh khắc đó. Anh ta tận hưởng nó vì người phụ nữ, hoặc vì chính bản thân mình. Người chiến binh tận hưởng khoảnh khắc đó, nhưng không phải vì bản thân khoảnh khắc đó; anh ta tận hưởng nó vì lá cờ. Sự nghiệp mà lá cờ đại diện có thể là phù phiếm và chóng vánh; tình yêu có thể chỉ là tình cảm bồng bột thời trẻ, và kéo dài chỉ một tuần. Nhưng người yêu nước nghĩ về lá cờ như một biểu tượng vĩnh cửu; người tình nghĩ về tình yêu của mình như một điều gì đó không thể kết thúc. Những khoảnh khắc này chứa đầy sự vĩnh hằng; những khoảnh khắc này vui vẻ vì chúng không có vẻ là nhất thời. Một khi nhìn chúng như những khoảnh khắc theo kiểu của Pater, chúng trở nên lạnh lẽo như chính Pater và phong cách của ông. Con người không thể yêu những thứ hữu hạn. Anh ta chỉ có thể yêu những thứ bất tử trong một khoảnh khắc.
Sai lầm của Pater được bộc lộ trong cụm từ nổi tiếng nhất của ông. Ông yêu cầu chúng ta hãy cháy với một ngọn lửa cứng cáp, tựa như ngọc quý. Ngọn lửa không bao giờ cứng cáp và không bao giờ tựa như ngọc quý—chúng không thể bị cầm nắm hay sắp đặt. Vì thế, cảm xúc con người không bao giờ cứng cáp và không bao giờ tựa như ngọc quý; chúng luôn nguy hiểm, như ngọn lửa, khi chạm vào hay thậm chí là xem xét. Chỉ có một cách để những đam mê của chúng ta trở nên cứng cáp và tựa như ngọc quý, đó là trở nên lạnh lẽo như đá quý. Không có đòn giáng nào lại gây triệt sản cho tình yêu và tiếng cười tự nhiên của con người nặng nề như cái triết lý carpe diem này của những kẻ duy mỹ. Đối với bất kỳ loại khoái lạc nào, cần phải có một tinh thần hoàn toàn khác; một chút e lệ, một chút hy vọng bất định, một chút kỳ vọng đầy trẻ thơ. Sự thuần khiết và giản đơn là điều thiết yếu đối với những đam mê—vâng, ngay cả với những đam mê xấu xa. Ngay cả thói hư tật xấu cũng đòi hỏi một kiểu trinh nguyên.
Ảnh hưởng của Omar (hay Fitzgerald) đối với thế giới khác thì ta có thể bỏ qua, nhưng bàn tay của ông ta đặt lên thế giới này thì thật nặng nề và tê liệt. Những tín đồ Thanh giáo, như tôi đã nói, còn vui vẻ hơn ông ta nhiều. Những người khổ hạnh mới theo Thoreau hay Tolstoy là những người bạn đồng hành sống động hơn nhiều; bởi lẽ, mặc dù việc từ bỏ rượu mạnh và những thứ xa xỉ như vậy có vẻ là một sự phủ định vô ích đối với chúng ta, nhưng nó có thể để lại cho một người vô số niềm vui tự nhiên, và trên hết, là năng lực hạnh phúc tự nhiên của con người. Thoreau có thể tận hưởng bình minh mà không cần một tách cà phê. Nếu Tolstoy không thể ngưỡng mộ hôn nhân, thì ít nhất ông ta cũng đủ khỏe mạnh để ngưỡng mộ bùn đất. Thiên nhiên có thể được tận hưởng mà không cần ngay cả những thứ xa xỉ tự nhiên nhất. Một bụi cây tốt chẳng cần đến rượu. Nhưng cả thiên nhiên, rượu, hay bất cứ thứ gì khác đều không thể được tận hưởng nếu chúng ta có thái độ sai lệch đối với hạnh phúc, và Omar (hay Fitzgerald) thực sự đã có thái độ sai lệch với hạnh phúc. Ông ta và những người bị ông ta ảnh hưởng không thấy rằng nếu chúng ta muốn thực sự vui vẻ, chúng ta phải tin rằng có một niềm vui vĩnh cửu trong bản chất của vạn vật. Chúng ta không thể tận hưởng trọn vẹn ngay cả một điệu pas-de-quatre tại một buổi khiêu vũ nếu chúng ta không tin rằng những vì sao đang nhảy múa theo cùng một giai điệu. Không ai có thể thực sự hoan hỉ ngoại trừ người nghiêm túc. “Rượu,” Kinh Thánh viết, “làm vui lòng con người,” nhưng chỉ dành cho người có trái tim. Thứ gọi là tinh thần phấn chấn chỉ có thể có ở những người có tâm hồn. Xét cho cùng, con người không thể vui mừng với bất cứ điều gì ngoại trừ bản chất của vạn vật. Xét cho cùng, con người không thể tận hưởng bất cứ điều gì ngoại trừ tôn giáo. Đã từng có lúc trong lịch sử thế giới, con người tin rằng những vì sao đang nhảy múa theo giai điệu của các ngôi đền của họ, và họ đã nhảy múa như chưa từng nhảy múa kể từ đó. Với chủ nghĩa lạc quan ngoại giáo cổ xưa này, hiền giả của tập Rubaiyat chẳng có chút liên hệ nào, cũng giống như ông ta chẳng liên hệ gì với bất kỳ nhánh Cơ Đốc giáo nào. Ông ta không phải là một kẻ tôn thờ thần rượu Dionysus, cũng chẳng phải là một vị thánh. Dionysus và nhà thờ của ông được xây dựng trên một niềm vui sống (joie-de-vivre) nghiêm túc như kiểu của Walt Whitman. Dionysus biến rượu, không phải thành thuốc, mà thành bí tích. Chúa Jesus Christ cũng biến rượu, không phải thành thuốc, mà thành bí tích. Nhưng Omar biến nó, không phải thành bí tích, mà thành thuốc. Ông ta tiệc tùng vì cuộc đời không vui vẻ; ông ta hoan lạc vì ông ta không hạnh phúc. “Hãy uống,” ông ta nói, “vì ngươi không biết mình từ đâu đến và tại sao. Hãy uống, vì ngươi không biết khi nào mình ra đi và đi đâu. Hãy uống, vì những vì sao thật tàn nhẫn và thế giới cũng nhàn rỗi như một con quay. Hãy uống, vì chẳng có gì đáng tin, chẳng có gì đáng để đấu tranh. Hãy uống, vì vạn vật đều rơi vào một sự bình đẳng thấp hèn và một nền hòa bình độc ác.” Thế nên ông ta đứng đó, chìa chén rượu trên tay mời gọi chúng ta. Và tại bàn thờ cao cả của Cơ Đốc giáo, có một hình tượng khác đang đứng, trên tay cũng cầm chén rượu từ nhánh nho. “Hãy uống,” Ngài nói, “vì cả thế giới này đỏ thắm như loại rượu này, với sắc đỏ của tình yêu và sự phẫn nộ của Chúa. Hãy uống, vì những tiếng kèn đang vang lên cho cuộc chiến và đây là chén rượu chia tay trước khi lên ngựa. Hãy uống, vì đây là máu ta của giao ước mới, đổ ra cho các ngươi. Hãy uống, vì ta biết ngươi đến từ đâu và tại sao. Hãy uống, vì ta biết khi nào ngươi ra đi và đi đâu.”