Nói một người là kẻ lý tưởng hóa chẳng qua chỉ là bảo anh ta là một con người; thế nhưng, ta vẫn có thể tạo ra một sự phân biệt có giá trị giữa kiểu người lý tưởng hóa này với kiểu người lý tưởng hóa khác. Chẳng hạn, một sự phân biệt khả dĩ là chia nhân loại thành những kẻ lý tưởng hóa hữu thức và những kẻ lý tưởng hóa vô thức. Tương tự như vậy, nhân loại cũng chia thành những người theo chủ nghĩa nghi thức hữu thức và những người theo chủ nghĩa nghi thức vô thức. Điều kỳ lạ là, ở ví dụ này cũng như nhiều ví dụ khác, chính tinh thần nghi thức hữu thức lại tương đối đơn giản, còn thứ nghi thức vô thức mới thực sự nặng nề và phức tạp. Thứ nghi thức tương đối thô sơ, trực diện lại là thứ người ta hay gọi là “mang tính nghi thức”. Nó bao gồm những điều giản dị như bánh mì, rượu vang, ngọn lửa, và việc con người quỳ rọp mặt xuống đất. Nhưng thứ nghi thức thực sự phức tạp, muôn màu muôn vẻ, cầu kỳ và trịnh trọng một cách vô bổ, lại là thứ nghi thức mà người ta thực hiện mà không hề hay biết. Nó không cấu thành từ những thứ đơn sơ như rượu vang hay ngọn lửa, mà từ những thứ kỳ quặc, mang tính cục bộ, ngoại lệ và tinh xảo—những thứ như thảm chùi chân, tay nắm cửa, chuông điện, mũ cao bồi bằng lụa, cà vạt trắng, danh thiếp bóng lộn và hoa giấy confetti. Sự thật là con người hiện đại hầu như chẳng bao giờ tìm về với những điều vô cùng cổ xưa và giản dị, trừ phi anh ta đang thực hiện một trò nghi lễ tôn giáo nào đó. Con người hiện đại khó mà thoát khỏi nghi thức ngoại trừ việc bước chân vào một ngôi thánh đường đầy nghi lễ. Trong trường hợp của những thể thức cổ xưa và huyền bí này, ít nhất ta có thể nói rằng nghi thức không thuần túy là nghi thức; những biểu tượng được sử dụng hầu hết là những biểu tượng thuộc về chất thơ nguyên sơ của nhân loại. Kẻ phản đối gay gắt nhất các lễ nghi Công giáo cũng phải thừa nhận rằng nếu Công giáo không lập ra bánh mì và rượu vang, thì rất có thể một ai đó khác cũng sẽ làm như vậy. Bất kỳ ai có bản năng thơ ca đều sẽ thừa nhận rằng đối với bản năng tự nhiên của con người, bánh mì biểu trưng cho một điều gì đó khó có thể biểu trưng bằng cách nào khác; và rượu vang cũng vậy. Nhưng thắt cà vạt trắng vào buổi tối thì thuần túy là nghi thức, không gì khác ngoài nghi thức. Chẳng ai dám giả vờ rằng chiếc cà vạt trắng buổi tối là điều mang tính nguyên sơ và thơ mộng. Chẳng ai lại cho rằng bản năng tự nhiên của con người ở bất kỳ thời đại hay quốc gia nào lại có xu hướng biểu trưng cho ý niệm về buổi tối bằng một chiếc cà vạt màu trắng. Trái lại, tôi tưởng tượng bản năng tự nhiên của con người sẽ có xu hướng biểu trưng cho buổi tối bằng những chiếc cà vạt mang sắc màu của hoàng hôn—không phải cà vạt trắng, mà là cà vạt màu hung đỏ, màu đỏ sẫm, màu tử đinh hương, màu ô liu, hoặc màu vàng sẫm. Chẳng hạn, ngài J. A. Kensit nuôi ảo tưởng rằng mình không phải là một người theo chủ nghĩa nghi thức. Nhưng thực ra, cuộc sống hằng ngày của ngài J. A. Kensit, cũng như của bất kỳ người hiện đại bình thường nào, lại là một danh mục liên tục và dày đặc những trò nghi lễ huyền bí và phù phiếm. Chỉ xin nêu một ví dụ trong vô vàn ví dụ tất yếu: tôi tưởng tượng ngài Kensit ngả mũ chào một quý bà; và xét về mặt lý thuyết, còn gì trang trọng mà cũng ngớ ngẩn hơn việc biểu trưng cho sự hiện diện của giới tính kia bằng cách cởi một phần trang phục của mình ra rồi vẩy vẩy trong không trung? Tôi xin nhắc lại, đây không phải là một biểu tượng tự nhiên và nguyên thủy như ngọn lửa hay thức ăn. Một người đàn ông cũng hoàn toàn có thể phải cởi áo gile để chào một quý bà; và nếu quy chuẩn xã hội thời đó bắt anh ta làm vậy, thì mọi người đàn ông hào hoa và biết điều sẽ cởi áo gile chào quý bà. Tóm lại, ngài Kensit và những người đồng tình với ông có thể nghĩ, và nghĩ một cách rất chân thành, rằng con người đang dành quá nhiều hương khói và lễ nghi cho việc thờ phụng thế giới bên kia. Nhưng chẳng ai nghĩ rằng mình lại dành quá nhiều hương khói và lễ nghi cho việc thờ phụng thế giới này. Như vậy, tất cả mọi người đều là những người theo chủ nghĩa nghi thức, chỉ khác là hữu thức hay vô thức mà thôi. Những người theo chủ nghĩa nghi thức hữu thức thường hài lòng với một vài dấu hiệu rất đơn giản và cơ bản; còn những người vô thức thì chẳng hài lòng với bất cứ điều gì nếu không phải là toàn bộ cuộc sống con người, họ theo chủ nghĩa nghi thức đến mức gần như điên rồ. Người trước được gọi là người theo chủ nghĩa nghi thức vì anh ta đặt ra và ghi nhớ một lễ nghi; người sau được gọi là kẻ chống chủ nghĩa nghi thức vì anh ta tuân theo và quên mất hàng ngàn lễ nghi. Và một sự phân biệt tương tự như điều tôi vừa trình bày khá dài dòng giữa người theo chủ nghĩa nghi thức hữu thức và vô thức, cũng tồn tại giữa người lý tưởng hóa hữu thức và người lý tưởng hóa vô thức. Thật vô ích khi công kích những kẻ hoài nghi và những kẻ duy vật—chẳng có kẻ hoài nghi nào, cũng chẳng có kẻ duy vật nào cả. Mọi người đàn ông đều mang tính lý tưởng; chỉ có điều anh ta rất thường chọn nhầm lý tưởng. Mọi người đàn ông đều ủy mị một cách không thể chữa khỏi; nhưng tiếc thay, đó lại thường là thứ tình cảm giả tạo. Chẳng hạn, khi ta nói về một thương gia xảo quyệt nào đó rằng anh ta sẵn sàng làm bất cứ điều gì vì tiền, ta đang dùng một cách diễn đạt hoàn toàn không chính xác và đang vu khống anh ta rất nhiều. Anh ta không sẵn sàng làm *bất cứ điều gì* vì tiền đâu. Anh ta chỉ làm *một số việc* vì tiền; ví dụ, anh ta sẽ bán linh hồn mình vì tiền; và như Mirabeau đã nói một cách hóm hỉnh, anh ta rất khôn ngoan khi “lấy tiền đổi lấy phân”. Anh ta sẽ áp bức nhân loại vì tiền; nhưng đó là vì nhân loại và linh hồn không phải là những điều anh ta tin tưởng; chúng không phải là lý tưởng của anh ta. Nhưng anh ta lại có những lý tưởng mờ nhạt và tinh tế của riêng mình; và anh ta sẽ không vi phạm chúng vì tiền. Anh ta sẽ không bê cả thố súp lên uống vì tiền. Anh ta sẽ không mặc áo đuôi tôm ra đằng trước vì tiền. Anh ta sẽ không tung tin đồn rằng mình bị mềm não vì tiền. Trong thực tiễn cuộc sống, xét về mặt lý tưởng, chúng ta thấy chính xác những gì ta đã thấy về mặt nghi thức. Ta thấy rằng trong khi nguy cơ cuồng tín thực sự đến từ những người có lý tưởng thoát tục, thì nguy cơ cuồng tín thường trực và cấp bách lại đến từ những kẻ có lý tưởng trần tục.
Những người nói rằng lý tưởng là một điều nguy hiểm, rằng nó làm mê muội và say đắm, là hoàn toàn có lý. Nhưng thứ lý tưởng làm người ta say đắm nhất lại là thứ lý tưởng ít mang tính lý tưởng nhất. Thứ lý tưởng ít làm ta say đắm nhất lại chính là lý tưởng đích thực; nó làm ta tỉnh người ra ngay lập tức, giống như mọi độ cao, vực thẳm và khoảng cách mênh mông vẫn thường làm. Đành rằng nhầm một đám mây thành một mũi đất là một hiểm họa lớn; song, đám mây dễ bị nhầm thành mũi đất nhất lại là đám mây nằm gần mặt đất nhất. Tương tự như vậy, ta có thể thừa nhận rằng việc nhầm lẫn một lý tưởng với một điều thực tế có thể rất nguy hiểm. Nhưng chúng ta vẫn phải chỉ ra rằng, xét ở khía cạnh này, lý tưởng nguy hiểm nhất trong tất cả lại là lý tưởng trông có vẻ hơi thực tế. Thật khó để đạt được một lý tưởng cao đẹp; do đó, hầu như không thể tự thuyết phục bản thân rằng ta đã đạt được nó. Nhưng lại rất dễ đạt được một lý tưởng thấp kém; do đó, lại càng dễ dàng hơn để tự thuyết phục mình rằng ta đã đạt được nó trong khi ta chưa hề làm gì như thế. Lấy một ví dụ ngẫu nhiên. Muốn trở thành một tổng lãnh thiên thần có thể coi là một tham vọng cao cả; người nuôi dưỡng lý tưởng như vậy rất có thể sẽ bộc lộ sự khổ hành, hoặc thậm chí là cuồng trí, nhưng tôi nghĩ là không ảo tưởng. Anh ta sẽ không nghĩ mình là tổng lãnh thiên thần rồi đi loanh quanh phẩy phẩy hai tay dưới suy nghĩ rằng đó là đôi cánh. Nhưng giả sử một người tỉnh táo lại có một lý tưởng thấp kém; giả sử anh ta muốn trở thành một quý ông. Bất kỳ ai hiểu đời đều biết rằng chỉ trong chín tuần, anh ta sẽ tự thuyết phục mình rằng anh ta đã là một quý ông; và vì thực tế rõ ràng không phải như vậy, kết quả sẽ là những sự xáo trộn và thảm họa rất thực tế và nhãn tiền trong đời sống xã hội. Không phải những lý tưởng ngông cuồng làm sụp đổ thế giới thực tế; mà chính là những lý tưởng thuần phục.
Vấn đề này có lẽ có thể được minh họa bằng một sự tương đồng từ nền chính trị hiện đại của chúng ta. Khi người ta nói với chúng ta rằng các chính khách Dân chủ cũ thuộc mẫu người như Gladstone chỉ quan tâm đến lý tưởng, dĩ nhiên họ đang nói nhảm—các chính khách đó còn quan tâm đến vô số điều khác, bao gồm cả những lá phiếu. Và khi người ta bảo rằng các chính khách hiện đại thuộc mẫu người như ngài Chamberlain hoặc, theo một cách khác, Lãnh chúa Rosebery, chỉ quan tâm đến lá phiếu hay lợi ích vật chất, thì họ lại đang nói nhảm lần nữa—những người này cũng quan tâm đến lý tưởng như mọi người khác. Nhưng sự phân biệt thực sự có thể rút ra là: đối với chính khách thế hệ trước, lý tưởng là một lý tưởng, không gì khác. Còn đối với chính khách thế hệ mới, giấc mơ của anh ta không chỉ là một giấc mơ đẹp, mà nó là một thực tại. Chính khách cũ sẽ nói: “Sẽ là một điều tốt nếu có một Liên bang Cộng hòa thống trị thế giới.” Nhưng chính khách hiện đại không nói: “Sẽ là một điều tốt nếu có một Đế quốc Anh thống trị thế giới.” Anh ta nói: “Thật là một điều tốt khi *đang có* một Đế quốc Anh thống trị thế giới;” trong khi rõ ràng chẳng có điều gì như thế cả. Người theo Đảng Dân chủ cũ sẽ nói: “Cần phải có một chính quyền Ireland tốt ở Ireland.” Nhưng một người theo chủ nghĩa Liên minh hiện đại bình thường không nói: “Cần phải có một chính quyền Anh tốt ở Ireland.” Anh ta nói: “*Đang có* một chính quyền Anh tốt ở Ireland;” đó là một điều vô lý. Tóm lại, các chính khách hiện đại dường như nghĩ rằng một người trở nên thực tế chỉ đơn thuần bằng cách đưa ra những khẳng định toàn về những điều thực tế. Có vẻ như một ảo tưởng chẳng sao cả miễn là nó là một ảo tưởng mang tính duy vật. Theo bản năng, hầu hết chúng ta đều cảm thấy rằng, về mặt thực tế, điều ngược lại mới đúng. Tôi chắc chắn thà ở chung phòng với một quý ông nghĩ mình là Chúa còn hơn là với một quý ông nghĩ mình là một con châu chấu. Việc liên tục bị ám ảnh bởi các hình ảnh thực tế và các vấn đề thực tế, việc lúc nào cũng nghĩ về những điều như thể chúng đang diễn ra, đang cấp bách, đang trong quá trình hoàn tất—những điều này không chứng minh một người là thực tế; những điều này, thực ra, lại nằm trong số những dấu hiệu phổ biến nhất của một kẻ tâm thần. Việc các nhà nhà đại thần hiện đại của chúng ta mang tư tưởng duy vật không hề mâu thuẫn với việc họ cũng bệnh trĩu. Thấy thiên thần trong nốt mộng có thể khiến một người trở thành kẻ siêu nhiên quá đà. Nhưng chỉ thuần túy nhìn thấy rắn trong cơn sảng rượu thì chẳng thể biến anh ta thành một nhà tự nhiên học.
Và khi chúng ta thực sự đi vào xem xét những khái niệm cốt lõi chủ đạo của các chính khách thực tế hiện đại, chúng ta thấy rằng những khái niệm cốt lõi đó chủ yếu là những ảo tưởng. Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ về thực trạng này. Chúng ta có thể lấy ví dụ về loại khái niệm kỳ lạ đằng sau từ “liên minh” (union), cùng tất cả những lời ca tụng được trút lên nó. Dĩ nhiên, bản thân sự hợp nhất chẳng có gì là tốt đẹp hơn bản thân sự chia rẽ. Việc có một đảng ủng hộ hợp nhất và một đảng ủng hộ chia rẽ cũng ngớ ngẩn như việc có một đảng ủng hộ đi lên cầu thang và một đảng ủng hộ đi xuống cầu thang. Câu hỏi không phải là chúng ta đi lên hay đi xuống cầu thang, mà là chúng ta đang đi đâu, và đi để làm gì? Hợp nhất là sức mạnh; hợp nhất cũng là sự yếu ớt. Thắt hai con ngựa vào một chiếc xe là điều tốt; nhưng cố biến hai chiếc xe ngựa hai bánh thành một chiếc xe bốn bánh thì chẳng tốt tẹo nào. Biến mười quốc gia thành một đế quốc có thể cũng khả thi như việc đổi mười đồng shilling thành một đồng nửa sovereign. Nhưng nó cũng có thể vô lý như việc biến mười con chó sục thành một con chó ngao. Câu hỏi trong mọi trường hợp không phải là có hợp nhất hay không hợp nhất, mà là có sự đồng nhất hay không đồng nhất. Do một số nguyên nhân lịch sử và đạo đức nào đó, hai quốc gia có thể hợp nhất đến mức nhìn chung là hỗ trợ lẫn nhau. Như vậy, Anh và Scotland dành thời gian để khen ngợi lẫn nhau; nhưng năng lượng và bầu không khí của họ vận hành riêng biệt và song song, do đó không va chạm nhau. Scotland tiếp tục có học thức và theo thuyết Calvin; Anh tiếp tục thất học và hạnh phúc. Nhưng do một số nguyên nhân đạo đức và chính trị khác, hai quốc gia có thể hợp nhất theo cách chỉ làm vướng chân nhau; các đường lối của họ chạm nhau chứ không chạy song song. Chẳng hạn, Anh và Ireland hợp nhất đến mức người Ireland đôi khi có thể cai trị nước Anh, nhưng lại không bao giờ có thể cai trị Ireland. Hệ thống giáo dục, bao gồm Đạo luật Giáo dục mới nhất, ở đây cũng như trong trường hợp của Scotland, là một phép thử rất tốt cho vấn đề này. Đại đa số người Ireland tin vào một Công giáo nghiêm ngặt; đại đa số người Anh tin vào một Tân giáo mơ hồ. Phe Ireland trong Quốc hội Liên minh chỉ vừa đủ lớn để ngăn giáo dục Anh trở thành Tân giáo hoàn toàn, và cũng chỉ vừa đủ nhỏ để ngăn giáo dục Ireland trở thành Công giáo hoàn toàn. Ở đây chúng ta có một tình trạng mà không một người tỉnh táo nào lại mơ ước tiếp tục nếu anh ta không bị mê hoặc bởi chủ nghĩa tình cảm của bản thân từ “liên minh”.
Tuy nhiên, ví dụ về sự hợp nhất này không phải là ví dụ tôi định lấy để minh họa cho sự ăn sâu của tính vô bổ và dối trá đằng sau mọi giả định của chính khách thực tế hiện đại. Tôi muốn nói đặc biệt về một ảo tưởng khác rộng lớn hơn nhiều. Nó bao trùm tâm trí và các bài phát biểu của tất cả những người thực tế thuộc mọi phe phái; và đó là một sai lầm trẻ con được xây dựng trên một ẩn dụ sai lầm duy nhất. Tôi muốn nói đến những bài nói chuyện hiện đại phổ biến về các dân tộc trẻ và các quốc gia mới; về việc Mỹ còn trẻ, về việc New Zealand còn mới. Toàn bộ chuyện này chỉ là một trò chơi chữ. Mỹ không trẻ, New Zealand không mới. Việc liệu cả hai có già hơn nhiều so với Anh hay Ireland hay không là một câu hỏi rất đáng tranh luận.
Dĩ nhiên chúng ta có thể dùng ẩn dụ về tuổi trẻ đối với Mỹ hoặc các thuộc địa, nếu chúng ta dùng nó một cách nghiêm ngặt chỉ nhằm ám chỉ nguồn gốc mới đây. Nhưng nếu chúng ta dùng nó (như cách chúng ta vẫn đang dùng) để ám chỉ sức sống, sự hoạt bát, sự thô giáp, sự thiếu kinh nghiệm, hy vọng, hoặc một cuộc đời dài phía trước hay bất kỳ đặc tính lãng mạn nào của tuổi trẻ, thì rõ ràng như ban ngày rằng chúng ta đang bị lừa bởi một hình ảnh so sánh cũ rích. Ta có thể dễ dàng thấy rõ vấn đề bằng cách áp dụng nó cho bất kỳ thể chế nào tương đương với thể chế của một quốc gia độc lập. Nếu một câu lạc bộ có tên (chẳng hạn) “Hội Liên hiệp Sữa và Soda” được thành lập ngày hôm qua, như tôi không nghi ngờ gì là nó đã được lập, thì dĩ nhiên, “Hội Liên hiệp Sữa và Soda” là một câu lạc bộ trẻ theo nghĩa nó mới được lập ngày hôm qua, chứ không theo bất kỳ nghĩa nào khác. Nó có thể bao gồm toàn những ông lão sắp giải ngạch. Bản thân nó có thể đang trên đà diệt vong. Ta có thể gọi nó là một câu lạc bộ trẻ, xét theo thực tế là nó được thành lập ngày hôm qua. Ta cũng có thể gọi nó là một câu lạc bộ rất già, xét theo thực tế là rất có thể ngày mai nó sẽ phá sản. Tất cả điều này tỏ ra rất rõ ràng khi chúng ta đặt nó dưới dạng này. Bất kỳ ai áp dụng ảo tưởng về một cộng đồng trẻ đối với một ngân hàng hay một cửa hàng thịt sẽ bị tống vào nhà thương điên. Nhưng toàn bộ khái niệm chính trị hiện đại rằng Mỹ và các thuộc địa hẳn phải rất sung sức vì họ rất mới, lại chẳng dựa trên cơ sở nào tốt hơn thế. Việc Mỹ được thành lập sau Anh rất lâu không làm cho việc Mỹ sẽ không diệt vong trước Anh một thời gian dài trở nên khả dĩ hơn dù chỉ một chút. Việc nước Anh tồn tại trước các thuộc địa của mình không làm cho khả năng nó sẽ tiếp tục tồn tại sau các thuộc địa giảm đi tẹo nào. Và khi nhìn vào lịch sử thực tế của thế giới, chúng ta thấy rằng các quốc gia lớn ở Châu Âu hầu như luôn tồn tại lâu hơn sức sống của các thuộc địa của họ. Khi nhìn vào lịch sử thực tế của thế giới, chúng ta thấy rằng, nếu có một thứ sinh ra đã già và chết đi khi còn trẻ, thì đó chính là thuộc địa. Các thuộc địa Hy Lạp đã sụp đổ trước nền văn minh Hy Lạp từ rất lâu. Các thuộc địa Tây Ban Nha đã sụp đổ trước quốc gia Tây Ban Nha từ rất lâu—và dường như cũng chẳng có lý do gì để nghi ngờ khả năng hoặc thậm chí tính khả thi của kết luận rằng nền văn minh thuộc địa, vốn có nguồn gốc từ Anh, sẽ ngắn ngủi hơn và ít sức sống hơn nhiều so với bản thân nền văn minh Anh. Quốc gia Anh sẽ vẫn tiếp tục đi theo con đường của tất cả các quốc gia Châu Âu khi chủng tộc Anglo-Saxon đã đi theo con đường của mọi mốt thời trang nhất thời. Bây giờ, dĩ nhiên, câu hỏi thú vị là, trong trường hợp của Mỹ và các thuộc địa, chúng ta có bất kỳ bằng chứng thực sự nào về một tuổi trẻ đạo đức và trí tuệ đối lập với sự tầm thường không thể bàn cãi của một tuổi trẻ thuần túy theo niên đại hay không? Hữu thức hay vô thức, chúng ta biết rằng mình không có bằng chứng như vậy, và do đó, hữu thức hay vô thức, chúng ta bắt đầu thêu dệt ra nó. Về sự bịa đặt thuần túy và êm đềm này, một ví dụ tốt có thể tìm thấy trong một bài thơ gần đây của ngài Rudyard Kipling. Nói về người dân Anh và Chiến tranh Nam Phi, ngài Kipling viết rằng “chúng ta đã luồn cúi các dân tộc trẻ hơn để tìm những người biết bắn súng và cưỡi ngựa.” Một số người coi câu này là một sự xúc phạm. Tất cả những gì tôi quan tâm lúc này là một thực tế rõ ràng rằng nó không đúng. Các thuộc địa đã cung cấp các lực lượng tình nguyện rất hữu ích, nhưng họ không cung cấp những binh lính giỏi nhất, cũng không đạt được những chiến công xuất sắc nhất. Công việc tốt nhất trong cuộc chiến về phía Anh được thực hiện, đúng như mong đợi, bởi các trung đoàn Anh giỏi nhất. Những người biết bắn súng và cưỡi ngựa không phải là những thương nhân buôn ngô đầy nhiệt huyết từ Melbourne, cũng như họ không phải là những thư ký đầy nhiệt huyết từ Cheapside. Những người biết bắn súng và cưỡi ngựa là những người đã được dạy bắn súng và cưỡi ngựa trong kỷ luật của quân đội thường trực thuộc một cường quốc Châu Âu lớn. Dĩ nhiên, người dân thuộc địa cũng dũng cảm và khỏe mạnh như bất kỳ người da trắng trung bình nào khác. Dĩ nhiên, họ đã thể hiện mình với một sự thể hiện khá thỏa đáng. Tất cả những gì tôi phải chỉ ra ở đây là, vì mục đích của lý thuyết về dân tộc mới này, người ta buộc phải duy trì quan điểm rằng lực lượng thuộc địa hữu ích hơn hoặc anh hùng hơn các pháo thủ tại Colenso hay Trung đoàn Số 5 Chiến đấu. Và về lập luận này, chưa từng và không bao giờ có lấy một mẩu bằng chứng nào.
Một nỗ lực tương tự cũng được thực hiện, và thậm chí còn ít thành công hơn, nhằm khắc họa văn học của các thuộc địa như một điều gì đó tươi mới, sung sức và quan trọng. Các tạp chí thuộc địa cứ liên tục giới thiệu với chúng ta một thiên tài nào đó từ Queensland hay Canada, những người mà qua đó chúng ta được kỳ vọng sẽ ngửi thấy mùi hương của bụi rậm hay đồng cỏ. Trên thực tế, bất kỳ ai dù chỉ hơi quan tâm đến văn học như một thực thể (và tôi, về phần mình, thú nhận rằng tôi chỉ hơi quan tâm đến văn học như một thực thể), sẽ tự do thừa nhận rằng các câu chuyện của những thiên tài này chẳng có mùi gì khác ngoài mùi mực in, mà lại là loại mực in chẳng lấy gì làm hảo hạng. Bằng một nỗ lực tưởng tượng Đế quốc lớn lao, người dân Anh rộng lượng đã đọc vào các tác phẩm này một sức mạnh và một sự mới mẻ. Nhưng sức mạnh và sự mới mẻ không nằm ở các nhà văn mới; sức mạnh và sự mới mẻ nằm ở trái tim cổ xưa của người Anh. Bất kỳ ai nghiên cứu họ một cách khách quan sẽ biết rằng các nhà văn hàng đầu của các thuộc địa thậm chí không đặc biệt mới mẻ trong giọng điệu và bầu không khí của họ, không những không tạo ra một loại văn học tốt mới, mà thậm chí theo bất kỳ nghĩa đặc biệt nào cũng không tạo ra một loại văn học dở mới. Các nhà văn hàng đầu của các quốc gia mới thực ra hầu như giống hệt các nhà văn hạng hai của các quốc gia cũ. Dĩ nhiên họ có cảm nhận được sự kỳ bí của hoang mạc, sự kỳ bí của bụi rậm, vì mọi người đàn ông đơn sơ và thành thật đều cảm nhận được điều này ở Melbourne, hay Margate, hay Nam St. Pancras. Nhưng khi họ viết một cách chân thành nhất và thành công nhất, đó không phải là trên nền của sự kỳ bí của bụi rậm, mà là trên nền, được diễn đạt hoặc giả định, của nền văn minh cổ điển lãng mạn của chính chúng ta. Điều thực sự lay động tâm hồn họ với một sự kinh hãi êm đềm không phải là Sự kỳ bí của hoang mạc, mà là Sự kỳ bí của một Chiếc xe ngựa hai bánh.
Dĩ nhiên có một số ngoại lệ cho sự khái quát hóa này. Ngoại lệ duy nhất thực sự gây chú ý là Olive Schreiner, và cô ấy hoàn toàn chắc chắn là một ngoại lệ chứng minh cho quy tắc. Olive Schreiner là một nhà văn tiểu thuyết mãnh liệt, rực rỡ và thực tế; nhưng cô ấy có tất cả những điều này chính xác là vì cô ấy hoàn toàn không phải là người Anh. Mối quan hệ dòng tộc của cô ấy là với đất nước của Teniers và Maarten Maartens—nghĩa là với một đất nước của những người theo chủ nghĩa thực tế. Mối quan hệ văn học của cô ấy là với nền văn học tiểu thuyết bi quan của lục địa; với các nhà văn tiểu thuyết mà ngay cả sự thương hại của họ cũng dữ tợn. Olive Schreiner là người thuộc địa Anh duy nhất không mang tính ước lệ, vì một lý do đơn giản rằng Nam Phi là thuộc địa Anh duy nhất không phải là Anh, và có lẽ sẽ không bao giờ như vậy. Và dĩ nhiên, có những ngoại lệ cá nhân ở mức độ nhỏ hơn. Tôi nhớ đặc biệt một số truyện ngắn Australia của ngài McIlwain thực sự tài năng và hiệu quả, và có lẽ vì lý do đó mà chúng không được giới thiệu tới công chúng bằng những tiếng loa gõ trống mừng. Nhưng lập luận chung của tôi nếu được đưa ra trước bất kỳ ai có lòng yêu văn chương, sẽ không bị tranh cãi nếu nó được hiểu đúng. Đó không phải là sự thật rằng nền văn minh thuộc địa xét trên tổng thể đang mang lại cho chúng ta, hoặc bộc lộ bất kỳ dấu hiệu nào sẽ mang lại cho chúng ta, một nền văn học sẽ làm kinh ngạc và đổi mới nền văn học của chính chúng ta. Có thể là một điều rất tốt cho chúng ta khi có một ảo tưởng trìu mến về vấn đề này; đó lại là một chuyện hoàn toàn khác. Các thuộc địa có thể đã mang lại cho nước Anh một cảm xúc mới; tôi chỉ nói rằng họ chưa mang lại cho thế giới một cuốn sách mới.
Đụng chạm đến các thuộc địa Anh này, tôi không muốn bị hiểu lầm. Tôi không nói về họ hay về Mỹ rằng họ không có tương lai, hay họ sẽ không trở thành những quốc gia lớn. Tôi chỉ đơn thuần phủ nhận toàn bộ cách diễn đạt hiện đại đã được thiết lập về họ. Tôi phủ nhận việc họ được “định sẵn” cho một tương lai. Tôi phủ nhận việc họ được “định sẵn” để trở thành các quốc gia lớn. Tôi phủ nhận (dĩ nhiên) việc bất kỳ điều gì thuộc về con người lại được định sẵn để trở thành bất cứ điều gì. Tất cả những ẩn dụ vật lý ngớ ngẩn, chẳng hạn như tuổi trẻ và tuổi già, sống và chết, khi áp dụng cho các quốc gia, chỉ là những nỗ lực ngụy khoa học nhằm che giấu khỏi con người tự do đáng sợ của những tâm hồn cô đơn của họ.
Trong trường hợp của Mỹ, quả thực, một lời cảnh báo về hiệu ứng này là cấp thiết và thiết yếu. Mỹ, dĩ nhiên, giống như mọi điều khác thuộc về con người, có thể theo nghĩa tâm linh sống hoặc chết bao nhiêu tùy thích. Nhưng vào thời điểm hiện tại, vấn đề mà Mỹ phải suy nghĩ rất nghiêm túc không phải là nó ở gần thời điểm ra đời và bắt đầu đến mức nào, mà là nó có thể ở gần thời điểm kết thúc đến mức nào. Việc nền văn minh Mỹ có còn trẻ hay không chỉ là một câu hỏi về mặt từ ngữ; việc nó có đang chết dần hay không có thể trở thành một câu hỏi rất thực tế và cấp bách. Một khi chúng ta đã dẹp sang một bên, như chúng ta tất yếu phải làm sau một phút suy ngẫm, ẩn dụ vật lý tưởng tượng ẩn chứa trong từ “tuổi trẻ”, chúng ta có bằng chứng nghiêm túc nào cho thấy Mỹ là một sức sống tươi mới chứ không phải một sức sống đã cũ kỹ? Nó có rất nhiều người, giống như Trung Quốc; nó có rất nhiều tiền, giống như Carthage bị thất trận hay Venice đang hấp hối. Nó đầy sự nhộn nhịp và kích động, giống như Athens sau khi sụp đổ, và tất cả các thành phố Hy Lạp trong thời kỳ suy tàn. Nó thích những điều mới mẻ; nhưng người già thì lúc nào chẳng thích những điều mới mẻ. Người trẻ đọc sử biên niên, nhưng người già đọc báo. Nó ngưỡng mộ sức mạnh và vẻ đẹp ngoại hình; chẳng hạn như nó ngưỡng mộ một vẻ đẹp to lớn và dã man ở người phụ nữ; nhưng Rome cũng vậy khi người Goth đã ở ngoài cổng thành. Tất cả những điều này là những điều hoàn toàn tương thích với sự chán nản và suy tàn tận gốc rễ. Có ba hình thái hoặc biểu tượng chính mà qua đó một quốc gia có thể thể hiện mình là vui tươi và vĩ đại về bản chất—bằng sự anh hùng trong chính quyền, bằng sự anh hùng trong binh đao, và bằng sự anh hùng trong nghệ thuật. Bên ngoài chính quyền, vốn là chính hình thái và thể xác của một quốc gia, điều có ý nghĩa nhất đối với bất kỳ công dân nào là thái độ nghệ thuật của anh ta đối với một ngày lễ và thái độ đạo đức của anh ta đối với một cuộc chiến—nghĩa là cách anh ta đón nhận cuộc sống và cách anh ta đón nhận cái chết.
Khi đưa vào những phép thử vĩnh cửu này, Mỹ hoàn toàn không xuất hiện như một điều gì đó đặc biệt tươi mới hay chưa bị chạm tới. Cô ấy xuất hiện với tất cả sự yếu ớt và mệt mỏi của nước Anh hiện đại hay của bất kỳ cường quốc phương Tây nào khác. Trong nền chính trị của mình, cô ấy đã rạn nứt chính xác như nước Anh đã rạn nứt, thành một chủ nghĩa cơ hội và sự không chân thành đến kinh ngạc. Trong vấn đề chiến tranh và thái độ quốc gia đối với chiến tranh, sự tương đồng của cô ấy với Anh lại càng rõ ràng và u buồn hơn. Có thể nói với độ chính xác tương đối rằng có ba giai đoạn trong cuộc đời của một dân tộc hùng mạnh. Đầu tiên, đó là một cường quốc nhỏ, và đánh nhau với các cường quốc nhỏ. Sau đó, đó là một cường quốc lớn, và đánh nhau với các cường quốc lớn. Sau đó, đó là một cường quốc lớn, và đánh nhau với các cường quốc nhỏ, nhưng giả vờ rằng chúng là các cường quốc lớn, nhằm nhen nhóm lại tàn tro của cảm xúc và sự phù hoa cổ xưa của mình. Sau đó, bước tiếp theo là chính nó trở thành một cường quốc nhỏ. Nước Anh đã bộc lộ triệu chứng suy tàn này rất nặng nề trong cuộc chiến với Transvaal; nhưng Mỹ thậm chí còn bộc lộ tồi tệ hơn trong cuộc chiến với Tây Ban Nha. Ở đó đã thể hiện một cách sắc nét và ngớ ngẩn hơn bất kỳ đâu sự tương phản mỉa mai giữa việc lựa chọn rất cẩu thả một đường lối cứng rắn và việc lựa chọn rất cẩn thận một kẻ thù yếu ớt. Mỹ đã thêm vào tất cả các yếu tố La Mã muộn hoặc Byzantine khác của mình yếu tố chiến thắng kiểu Caracalla, chiến thắng mà chẳng thắng ai cả.
Nhưng khi chúng ta đến với phép thử cuối cùng của quốc tính, phép thử về nghệ thuật và văn chương, trường hợp này hầu như thật khủng khiếp. Các thuộc địa Anh chưa tạo ra một nghệ sĩ lớn nào; và thực tế đó có thể chứng minh rằng họ vẫn còn đầy những khả năng thầm lặng và sức mạnh dự trữ. Nhưng Mỹ đã tạo ra những nghệ sĩ lớn. Và thực tế đó chắc chắn chứng minh rằng cô ấy đầy sự vô bổ tinh tế và sự kết thúc của mọi thứ. Dù các thiên tài Mỹ là gì đi nữa, họ không phải là những vị thần trẻ tuổi đang tạo ra một thế giới trẻ trung. Nghệ thuật của Whistler có phải là một nghệ thuật dũng cảm, dã man, hạnh phúc và lao đầu về phía trước không? Ngài Henry James có truyền cho chúng ta tinh thần của một cậu học sinh không? Không; các thuộc địa chưa lên tiếng, và họ an toàn. Sự im lặng của họ có thể là sự im lặng của những điều chưa sinh ra. Nhưng từ Mỹ đã cất lên một tiếng kêu ngọt ngào và giật mình, không thể nhầm lẫn như tiếng kêu của một người đang hấp hối.