Những Kẻ Dị Giáo

Lượt đọc: 134 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Lời Mở Đầu Về Tầm Quan Trọng Của Tính Chính Thống

❊ ❊ ❊

Không có điều gì biểu hiện một sự suy thoái âm thầm mà to lớn của xã hội hiện đại một cách kỳ lạ hơn cái cách mà ngày nay người ta sử dụng từ “chính thống”. Ngày trước, kẻ dị giáo tự hào vì mình không phải là dị giáo. Chính các vương quốc trên thế gian, lực lượng cảnh sát và các quan tòa mới là những kẻ dị giáo; còn bản thân ông ta mới là người chính thống. Ông ta chẳng có chút tự hào nào vì đã nổi loạn chống lại họ; mà là họ đã nổi loạn chống lại ông ta. Những đạo quân với sự an toàn tàn nhẫn, những vị vua với gương mặt lạnh ngắt, những thủ tục triều chính chỉn chu, những quy trình pháp lý hợp lý — tất cả những thứ đó, như đàn cừu, đều đã đi lạc đường. Người ta tự hào vì mình chính thống, tự hào vì mình đúng đắn. Dù có đứng một mình giữa chốn hoang vu gào xé, ông ta vẫn hơn cả một con người: ông ta là một giáo hội. Ông ta là tâm điểm của vũ trụ; chính xung quanh ông ta mà các vì sao xoay chuyển. Mọi hình phạt tra tấn bị lôi ra từ những tầng địa ngục quên lãng cũng chẳng thể làm ông ta thừa nhận mình là kẻ dị giáo. Thế mà chỉ vài cụm từ hiện đại đã khiến ông ta huênh hoang về điều đó. Ông ta tự hào mỉm cười nói: “Tôi đồ rằng mình là một kẻ rất dị giáo,” rồi ngó quanh chờ đợi những tràng pháo tay. Từ “dị giáo” giờ đây không còn có nghĩa là sai trái, mà về bản chất lại có nghĩa là sáng suốt và dũng cảm. Từ “chính thống” không còn có nghĩa là đúng đắn, mà về bản chất lại có nghĩa là sai lầm. Tất cả những điều này chỉ có thể báo hiệu một và chỉ một điều: người ta ngày càng ít bận tâm đến việc liệu mình có đúng đắn về mặt triết học hay không. Bởi lẽ rõ ràng một người thà phải thú nhận mình bị điên còn hơn là thú nhận mình là kẻ dị giáo. Một gã Bohemian thắt cà vạt đỏ lẽ ra phải lấy làm hãnh diện về tính chính thống của mình. Kẻ đặt bom tự do lẽ ra phải cảm thấy rằng, dù hắn có là gì đi nữa, thì ít nhất hắn vẫn là người chính thống.

Nhìn chung, thật ngu ngốc khi một nhà triết học lại thiêu sống một nhà triết học khác ở chợ Smithfield chỉ vì họ không đồng chấp nhận thuyết vũ trụ của nhau. Điều đó từng xảy ra rất thường xuyên vào thời kỳ suy tàn cuối thời Trung Cổ, và nó đã thất bại hoàn toàn trong việc đạt được mục đích. Nhưng có một điều còn vô lý và phi thực tế hơn vô cùng so với việc thiêu sống một người vì triết lý của anh ta: đó là thói quen cho rằng triết lý của anh ta chẳng có gì quan trọng. Thói quen này đang diễn ra phổ biến ở thế kỷ hai mươi, trong giai đoạn suy tàn của kỷ nguyên cách mạng vĩ đại. Các học thuyết tổng quát ở khắp nơi đều bị coi khinh; học thuyết về Nhân quyền bị gạt bỏ cùng với học thuyết về Sự Sa ngã của Con người. Ngay cả Thuyết Vô thần ngày nay cũng quá mang tính thần học đối với chúng ta. Bản thân Cách mạng lại quá mang tính hệ thống; bản thân Tự do lại quá mang tính gông cồng. Chúng ta nhất quyết không chấp nhận những điều khái quát hóa. Ông Bernard Shaw đã tóm lược quan điểm này bằng một câu khẩu hiệu hoàn hảo: “Quy tắc vàng là chẳng có quy tắc vàng nào cả.” Chúng ta ngày càng sa đà vào việc tranh luận các chi tiết trong nghệ thuật, chính trị và văn học. Quan điểm của một người về xe điện thì quan trọng; quan điểm của anh ta về Botticelli thì quan trọng; nhưng quan điểm của anh ta về vạn vật thì lại không quan trọng. Anh ta có thể lật mở và khám phá hàng triệu sự vật, nhưng không được phép tìm ra sự vật kỳ lạ ấy — tức vũ trụ; bởi lẽ nếu làm vậy, anh ta sẽ có một tôn giáo, và thế là bị lầm đường. Mọi thứ đều quan trọng — ngoại trừ tất cả.

Thật chẳng cần thêm ví dụ nào về sự hời hợt hoàn toàn này đối với triết học vũ trụ. Cũng chẳng cần ví dụ để chứng minh rằng, dù ta có nghĩ điều gì ảnh hưởng đến công việc thực tế đi nữa, ta cũng không cho rằng một người là kẻ bi quan hay lạc quan, là người theo thuyết Descartes hay Hegel, theo chủ nghĩa duy vật hay duy tâm thì có gì quan trọng. Tuy nhiên, xin cho tôi nêu một ví dụ ngẫu nhiên. Tại bất kỳ bàn trà êm đềm nào, ta cũng dễ dàng nghe thấy ai đó thốt lên: “Cuộc đời thật chẳng đáng sống.” Ta coi câu nói đó cũng như lời nhận xét rằng trời hôm nay đẹp; chẳng ai nghĩ nó có thể gây ra bất kỳ ảnh hưởng nghiêm trọng nào đến người đó hay thế giới. Thế nhưng, nếu lời nói ấy thực sự được tin là thật, thế giới này sẽ đảo lộn hoàn toàn. Kẻ sát nhân sẽ được tặng huy chương vì đã cứu người ta khỏi cuộc đời; lính chữa cháy sẽ bị lên án vì đã ngăn người ta tìm đến cái chết; thuốc độc sẽ được dùng làm dược phẩm; bác sĩ sẽ được gọi đến khi người ta khỏe mạnh; và Hội Nhân đạo Hoàng gia sẽ bị tận diệt như một băng nhóm sát thủ. Vậy mà chúng ta chẳng bao giờ suy ngẫm xem liệu một kẻ bi quan suông trong cuộc tán gẫu có làm xã hội vững mạnh hay rối loạn hay không; bởi lẽ chúng ta đã đinh ninh rằng các lý thuyết chẳng hề quan trọng.

Đó chắc chắn không phải là ý tưởng của những người đã mang lại tự do cho chúng ta. Khi các nhà Tự do cổ điển tháo bịt miệng khỏi mọi luồng ý kiến dị giáo, ý định của họ là để những phát kiến tôn giáo và triết học nhờ đó mà được khai mở. Quan điểm của họ là sự thật vũ trụ vô cùng quan trọng, đến mức mỗi người đều nên đưa ra lời chứng độc lập. Còn quan điểm hiện đại lại cho rằng sự thật vũ trụ quá vô giá trị, đến mức bất kỳ ai nói gì cũng chẳng quan trọng. Những người thời trước giải phóng sự tìm tòi như thả một con chó săn quý; còn người thời nay giải phóng sự tìm tòi như ném trả xuống biển một con cá không thể ăn được. Chưa bao giờ người ta ít tranh luận về bản chất con người như bây giờ — vào đúng thời điểm mà lần đầu tiên trong lịch sử, bất kỳ ai cũng có quyền tranh luận về nó. Sự hạn chế thời xưa có nghĩa là chỉ những người chính thống mới được phép tranh luận về tôn giáo. Sự tự do thời nay lại có nghĩa là không ai được phép tranh luận về nó. Gu thẩm mỹ — sự mê tín cuối cùng và tồi tệ nhất của con người — đã thành công trong việc bắt chúng ta im lặng, nơi mà mọi thứ khác đều thất bại. Sáu mươi năm trước, công khai thừa nhận mình là kẻ vô thần là một biểu hiện kém gu. Rồi những người theo Bradlaugh xuất hiện — những con người tôn giáo cuối cùng, những người cuối cùng còn quan tâm đến Chúa; nhưng họ cũng không thể thay đổi được điều đó. Ngày nay, công khai thừa nhận mình là kẻ vô thần vẫn là kém gu. Nhưng cuộc đấu tranh của họ chỉ đạt được đúng một điều: giờ đây, công khai thừa nhận mình là tín đồ Đấng Christ cũng bị coi là kém gu như vậy. Sự giải phóng chỉ đơn thuần nhốt vị thánh vào cùng một ngọn tháp im lặng với kẻ xướng đầu dị giáo. Để rồi chúng ta bàn về Tước công Anglesey và thời tiết, rồi gọi đó là sự tự do hoàn toàn cho mọi tín ngưỡng.

Dù vậy, vẫn có một số người — và tôi là một trong số họ — tin rằng điều thực tế và quan trọng nhất ở một con người vẫn là quan điểm của anh ta về vũ trụ. Chúng tôi nghĩ rằng đối với một bà chủ nhà trọ khi xem xét một người đến thuê, việc biết thu nhập của anh ta là quan trọng, nhưng việc biết triết lý sống của anh ta lại càng quan trọng hơn. Chúng tôi nghĩ rằng đối với một vị tướng sắp nghênh chiến với kẻ thù, việc biết quân số của địch là quan trọng, nhưng việc biết triết lý của địch lại càng quan trọng hơn. Chúng tôi cho rằng vấn đề không phải là liệu học thuyết về vũ trụ có ảnh hưởng đến thực tại hay không, mà là về lâu dài, liệu có thứ gì khác ảnh hưởng đến nó ngoài học thuyết ấy hay không. Vào thế kỷ mười lăm, người ta xét hỏi và tra tấn một người vì anh ta tuyên truyền một thái độ phi đạo đức; vào thế kỷ mười chín, chúng ta tung hô và tâng bốc Oscar Wilde vì ông tuyên truyền thái độ ấy, rồi lại làm tan nát trái tim ông trong ngục tù khổ sai khi ông thực hành nó. Phương pháp nào trong hai phương pháp này tàn nhẫn hơn có thể là một câu hỏi; nhưng chẳng có chút nghi ngờ nào về việc phương pháp nào lố bịch hơn. Thời đại Tòa án Kính chúa ít nhất cũng không mang vết hoen ố vì đã tạo ra một xã hội biến chính con người đó thành thần thần tượng vì đã truyền bá cùng những điều mà sau đó lại biến ông ta thành tội phạm vì đã thực hành.

Giờ đây, trong thời đại của chúng ta, triết học hay tôn giáo — tức là lý thuyết của chúng ta về những điều tối thượng — đã bị đẩy lui gần như cùng một lúc khỏi hai lĩnh vực mà nó từng chiếm giữ. Các lý tưởng tổng quát từng chi phối văn học. Chúng đã bị đánh văng bởi tiếng kêu “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Các lý tưởng tổng quát từng chi phối chính trị. Chúng đã bị đánh văng bởi tiếng kêu “hiệu quả” — một từ có thể dịch nôm na là “chính trị vị chính trị”. Trong suốt hai mươi năm qua, các lý tưởng về trật tự hay tự do đã lụi tàn dần trong sách báo của chúng ta; những hoài vọng về trí tuệ và sự hùng biện đã sụt giảm trong nghị viện của chúng ta. Văn học đã cố tình trở nên ít mang tính chính trị hơn; chính trị đã cố tình trở nên ít mang tính văn học hơn. Các lý thuyết tổng quát về mối tương quan giữa vạn vật do đó đã bị trục xuất khỏi cả hai; và chúng ta đang ở vào vị thế để hỏi rằng: “Chúng ta đã được gì hay mất gì qua sự trục xuất này? Văn học có tốt hơn không, chính trị có tốt hơn không khi đã gạt bỏ nhà đạo đức học và nhà triết học?”

Khi mọi thứ thuộc về một dân tộc đang trở nên yếu ớt và kém hiệu quả, dân tộc đó bắt đầu nói về sự hiệu quả. Tương tự như vậy, khi cơ thể một người đã suy kiệt, lần đầu tiên anh ta mới bắt đầu bàn về sức khỏe. Những cơ thể dũng mãnh không bàn về quy trình của họ, mà bàn về mục tiêu của họ. Không có bằng chứng nào tốt hơn về hiệu quả thể chất của một người bằng việc anh ta vui vẻ nói về một chuyến đi đến tận cùng thế giới. Và không có bằng chứng nào tốt hơn về hiệu quả thực tế của một quốc gia bằng việc nó liên tục bàn về một chuyến đi đến tận cùng thế giới, một chuyến đi đến Ngày Phán xét và Thành Jerusalem Mới. Không có dấu hiệu nào mạnh mẽ hơn về một sức khỏe thể chất sung mãn bằng xu hướng đuổi theo những lý tưởng cao cả và cuồng nhiệt; chính trong sự trào dâng đầu đời của thời thơ ấu mà chúng ta mới đòi hái mặt trăng. Chẳng một ai trong số những con người mạnh mẽ của những thời đại mạnh mẽ hiểu được bạn có ý gì khi nói về việc làm việc vì hiệu quả. Hildebrand sẽ nói rằng ông làm việc không phải vì hiệu quả, mà vì Giáo hội Công giáo. Danton sẽ nói rằng ông làm việc không phải vì hiệu quả, mà vì tự do, bình đẳng và bác ái. Ngay cả khi lý tưởng của những con người đó chỉ đơn thuần là đạp một kẻ xuống cầu thang, họ cũng nghĩ về mục tiêu như những người đàn ông thực thụ, chứ không nghĩ về quy trình như những kẻ bại liệt. Họ không nói: “Nâng chân phải của tôi lên một cách hiệu quả, hãy chú ý rằng các cơ đùi và cơ bắp chân đang ở trong tình trạng hoàn hảo, tôi —”. Cảm xúc của họ hoàn toàn khác. Họ lấp đầy mình bằng viễn cảnh tuyệt đẹp về kẻ đang nằm bệt dưới chân cầu thang, đến mức trong sự hân hoan đó, phần còn lại diễn ra trong chớp mắt. Trên thực tế, thói quen khái quát hóa và lý tưởng hóa hoàn toàn không có nghĩa là sự yếu đuối đối với thế sự. Thời đại của những lý thuyết lớn chính là thời đại của những kết quả lớn. Trong kỷ nguyên của cảm xúc và những lời lẽ mỹ miều vào cuối thế kỷ mười tám, con người thực sự tráng kiện và hiệu quả. Những người theo chủ nghĩa cảm xúc đã đánh bại Napoleon. Những kẻ hoài nghi đã không thể bắt được De Wet. Một trăm năm trước, công việc của chúng ta dù tốt hay xấu đều được điều hành một cách vang dội bởi những nhà hùng biện. Giờ đây, công việc của chúng ta lại bị rối tung lên một cách tuyệt vọng bởi những con người mạnh mẽ và im lặng. Và giống như việc từ bỏ những từ ngữ lớn lao và viễn cảnh lớn lao đã tạo ra một thế hệ những con người nhỏ bé trong chính trị, nó cũng đã tạo ra một thế hệ những con người nhỏ bé trong nghệ thuật. Các chính khách hiện đại của chúng ta đòi hỏi sự buông thả khổng lồ của Caesar và Siêu nhân, tuyên bố rằng họ quá thực tế để có thể trong sạch và quá yêu nước để có thể có đạo đức; nhưng rốt cuộc tất cả những điều đó chỉ dẫn đến việc một kẻ tầm thường làm Bộ trưởng Tài chính. Những nhà triết học nghệ thuật mới của chúng ta đòi hỏi cùng một sự buông thả về đạo đức, một sự tự do để tàn phá trời đất bằng năng lượng của họ; nhưng rốt cuộc tất cả những điều đó chỉ dẫn đến việc một kẻ tầm thường trở thành Thi sĩ Hoàng gia. Tôi không nói rằng không có những con người mạnh mẽ hơn họ; nhưng liệu có ai dám bảo rằng có những con người mạnh mẽ hơn những người thời xưa — những người bị chi phối bởi triết lý và đắm mình trong tôn giáo của họ? Việc sự ràng buộc có tốt hơn tự do hay không là điều có thể bàn luận. Nhưng việc sự ràng buộc của họ tạo ra nhiều thành tựu hơn sự tự do của chúng ta thì thật khó cho bất kỳ ai có thể phủ nhận.

Lý thuyết về tính phi đạo đức của nghệ thuật đã tự khẳng định vững chắc trong các tầng lớp nghệ sĩ thuần túy. Họ có quyền tự do sáng tạo bất cứ thứ gì họ thích. Họ có quyền tự do viết một tác phẩm “Thiên đường Đã mất” trong đó Satan chiến thắng Thiên Chúa. Họ có quyền tự do viết một “Thần khúc” trong đó thiên đường nằm dưới sàn của địa ngục. Và họ đã làm được gì? Liệu trong sự tự do bao la của mình, họ có tạo ra được điều gì vĩ đại hơn hay đẹp đẽ hơn những điều được thốt ra bởi vị tín đồ Công giáo dòng Ghibelline quyết liệt, hay bởi vị thầy giáo dòng Thanh giáo hà khắc? Chúng ta biết rằng họ chỉ tạo ra vài bài thơ vần xoay. Milton không chỉ đánh bại họ về lòng thành kính, ông đánh bại họ ngay trên chính sự bất kính của họ. Trong tất cả những tập thơ nhỏ bé của họ, bạn sẽ không tìm thấy sự thách thức Thiên Chúa nào kiêu hãnh hơn của Satan. Bạn cũng sẽ không tìm thấy vẻ tráng lệ của chủ nghĩa đa thần được cảm nhận như vị tín đồ Đấng Christ nồng nhiệt ấy — người đã mô tả Farinata ngẩng đầu lên như thể khinh đời địa ngục. Và lý do rất rõ ràng. Sự báng bổ là một hiệu ứng nghệ thuật, bởi vì sự báng bổ phụ thuộc vào một niềm tin triết học. Sự báng bổ phụ thuộc vào đức tin và đang mờ nhạt dần cùng với nó. Nếu ai nghi ngờ điều này, hãy thử ngồi xuống một cách nghiêm túc và cố nghĩ những tư tưởng báng bổ về thần Thor. Tôi nghĩ gia đình anh ta sẽ thấy anh ta vào cuối ngày trong tình trạng kiệt sức hoàn toàn.

Như vậy, dù trong thế giới chính trị hay văn học, việc chối bỏ các lý thuyết tổng quát đã không chứng minh được sự thành công. Có thể đã có nhiều lý tưởng viển vông và lầm lạc từng làm bối rối nhân loại hết lần này đến lần khác. Nhưng chắc chắn không có lý tưởng nào trong thực tế lại viển vông và lầm lạc như lý tưởng về tính thực tế. Không gì đánh mất nhiều cơ hội như chủ nghĩa cơ hội của Lord Rosebery. Ông thực sự là một biểu tượng sống của thời đại này — một người về mặt lý thuyết là một kẻ thực tế, nhưng về mặt thực tế lại phi thực tế hơn bất kỳ nhà lý thuyết nào. Không gì trong vũ trụ này lại thiếu khôn ngoan như kiểu sùng bái sự khôn ngoan thế tục ấy. Một người lúc nào cũng đau đớn suy nghĩ xem chủng tộc này hay chủng tộc kia có mạnh không, liệu sự nghiệp này hay sự nghiệp kia có triển vọng không, chính là kẻ sẽ chẳng bao giờ tin vào bất cứ điều gì đủ lâu để làm cho nó thành công. Nhà chính trị cơ hội giống như một người bỏ chơi bida vì bị thua bida, rồi bỏ chơi golf vì bị thua golf. Chẳng có gì yếu ớt cho mục đích công việc bằng tầm quan trọng to lớn được gán cho chiến thắng trước mắt. Không gì thất bại bằng sự thành công.

Và khi nhận ra rằng chủ nghĩa cơ hội thực sự thất bại, tôi đã bị thôi thúc phải nhìn nó một cách bao quát hơn, và kết quả là thấy rằng nó bắt buộc phải thất bại. Tôi nhận ra rằng việc bắt đầu từ điểm khởi đầu và thảo luận các lý thuyết mang tính thực tế hơn nhiều. Tôi thấy những người tàn sát lẫn nhau vì tính chính thống của học thuyết Đồng bản thể (Homoousion) còn sáng suốt hơn nhiều so với những kẻ đang tranh cãi về Đạo luật Giáo dục. Bởi lẽ những nhà giáo điều Đấng Christ đã cố gắng thiết lập một triều đại của sự thánh thiện, và trước hết cố gắng xác định thế nào mới thực sự là thánh thiện. Trong khi đó, các nhà giáo dục hiện đại của chúng ta lại đang cố gắng mang lại một sự tự do tôn giáo mà không hề nỗ lực phân định tôn giáo là gì hay tự do là gì. Nếu các linh mục thời xưa ép buộc một tuyên bố lên nhân loại, thì ít nhất trước đó họ cũng đã tốn công làm cho nó rõ ràng. Việc đàn áp vì một giáo lý mà thậm chí còn chưa hề phát biểu giáo lý đó lại được dành riêng cho những đám đông hiện đại gồm tín đồ Anh giáo và các giáo phái Độc lập.

Vì những lý do này, và vì nhiều lý do khác nữa, cá nhân tôi đã đi đến niềm tin rằng phải trở về với những điều cốt lõi. Đó chính là ý tưởng chung của cuốn sách này. Tôi muốn bàn về những nhân vật kiệt xuất nhất cùng thời với mình, không phải trên phương diện cá nhân hay chỉ đơn thuần là văn chương, mà là trong mối tương quan với toàn bộ hệ thống giáo lý thực sự mà họ truyền giảng. Tôi không bận tâm đến ông Rudyard Kipling với tư cách là một nghệ sĩ sống động hay một cá tính mạnh mẽ; tôi bận tâm đến ông với tư cách là một Kẻ Dị giáo — nghĩa là một người mà quan điểm về vạn vật có sự táo tợn dám khác biệt với quan điểm của tôi. Tôi không bận tâm đến ông Bernard Shaw với tư cách là một trong những con người xuất chúng nhất và chân thành nhất còn sống; tôi bận tâm đến ông với tư cách là một Kẻ Dị giáo — nghĩa là một người mà triết lý vô cùng vững chắc, vô cùng mạch lạc, và hoàn toàn sai lầm. Tôi quay trở lại với các phương pháp giáo lý của thế kỷ thứ mười ba, được truyền cảm hứng bởi niềm hy vọng chung là sẽ làm được một điều gì đó.

Giả sử có một sự hỗn loạn lớn nảy sinh trên đường phố về một thứ gì đó, chẳng hạn như một cột đèn đường mà nhiều người có ảnh hưởng muốn phá bỏ. Một vị tu sĩ mặc áo xám — hiện thân của tinh thần Trung Cổ — bước đến trước sự việc và bắt đầu phán theo phong cách khô khan của giới Viện triết: “Bằng hữu của tôi ơi, trước hết chúng ta hãy xem xét giá trị của Ánh sáng. Nếu Ánh sáng bản thân nó là tốt —” Ngay tại thời điểm đó, ông bị xô ngã một cách khá dễ hiểu. Mọi người đều lao vào cột đèn, cột đèn đổ gục trong mười phút, và họ đi quanh chúc mừng nhau về tính thực tế không mang màu sắc Trung Cổ của mình. Nhưng khi mọi chuyện tiếp diễn, chúng lại không diễn ra dễ dàng như vậy. Một số người kéo đổ cột đèn vì muốn có đèn điện; một số vì muốn lấy sắt vụn; một số vì muốn bóng tối, bởi vì hành vi của họ là xấu xa. Một số nghĩ rằng nó chưa đủ ra hình một cột đèn; một số lại nghĩ nó quá chướng mắt; một số hành động vì muốn đập phá bộ máy chính quyền địa phương; một số vì đơn giản là muốn đập phá một thứ gì đó. Và cuộc chiến nổ ra trong đêm tối, chẳng ai biết mình đang đánh vào ai. Thế là, một cách dần dần và tất yếu, hôm nay, ngày mai hoặc ngày sau nữa, niềm tin lại trở về rằng vị tu sĩ rốt cuộc đã đúng, và rằng mọi thứ đều phụ thuộc vào triết lý của Ánh sáng là gì. Chỉ có điều, những gì lẽ ra chúng ta có thể thảo luận dưới ánh đèn ga, thì giờ đây chúng ta phải thảo luận trong bóng tối.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.