Người Connecticut ở triều đình Vua Arthur

Lượt đọc: 475 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24
Đối thủ của bậc thầy phép thuật

❊ ❊ ❊

Tầm ảnh hưởng của tôi ở Thung lũng Thánh quả thật là ghê gớm. Nghĩ cũng đáng để tận dụng nó một chút. Ý nghĩ ấy lóe lên vào sáng hôm sau khi tôi thấy một trong những hiệp sĩ của mình – chuyên đi bán xà phòng – đang cưỡi ngựa tiến vào. Theo sử sách, các vị sư ở đây hai thế kỷ trước từng có đầu óc "trần tục" tới mức muốn... tắm rửa. Biết đâu cái mầm mống tội lỗi ấy vẫn còn sót lại thì sao? Thế là tôi ướm lời với một sư huynh:

“Huynh có muốn tắm một cái không?”

Ông ta rùng mình trước ý nghĩ đó – nỗi lo về sự nguy hiểm đối với giếng nước – nhưng ông đáp với vẻ cảm xúc:

“Một kẻ phàm phu chưa từng biết đến sự sảng khoái phúc lành ấy từ hồi còn thơ bé thì còn cần phải hỏi ư? Lạy Chúa, con ước gì được tắm mình! Nhưng không thể đâu, thưa ngài, đừng cám dỗ con; điều đó bị cấm rồi.”

Ông thở dài thườn thượt, nghe mà não lòng đến nỗi tôi tự nhủ phải đánh bay cho ông ta ít nhất một lớp bụi trần, dù có phải dốc toàn bộ vốn liếng ảnh hưởng của mình hay phá sản luôn cả kho tài sản cũng cam. Thế là tôi tìm gặp viện trưởng xin phép cho vị sư huynh này. Ông ta tái mặt khi nghe ý tưởng ấy – tôi không nói là bạn có thể thấy ông ta tái mặt đâu, vì tất nhiên trừ khi cạo bớt da ông ta ra, mà tôi thì chẳng buồn làm thế, nhưng tôi biết chắc cái vẻ tái mặt ấy vẫn hiện diện đấy, ngay dưới lớp da dày cả tấc – ông ta tái mặt và run rẩy. Ông bảo:

“Ôi con trai, xin con hãy đòi hỏi bất cứ thứ gì khác, ta sẽ vui lòng trao cho con từ tận đáy lòng đầy biết ơn – nhưng chuyện này, ôi, chuyện này! Chẳng lẽ con lại muốn xua đuổi dòng nước thánh một lần nữa sao?”

“Không đâu thưa cha, con sẽ không xua đuổi nó. Con có tri thức huyền bí cho hay rằng hồi đó người ta đã nhầm, chứ việc thiết lập nhà tắm chẳng hề khiến dòng suối biến mất.” Gương mặt lão già bắt đầu lộ vẻ quan tâm đặc biệt. “Tri thức của con mách bảo rằng nhà tắm hoàn toàn vô can trong chuyện xui xẻo đó, tội lỗi gây ra chuyện ấy hoàn toàn là do một nguyên nhân khác.”

“Lời con nghe thật mạnh bạo – nhưng – nhưng nếu đó là sự thật thì thật đáng hoan nghênh.”

“Đúng là sự thật đấy thưa cha. Hãy để con xây lại nhà tắm. Hãy để con làm điều đó, rồi dòng suối sẽ chảy mãi mãi không ngừng.”

“Con hứa đấy chứ? – con hứa thật chứ? Nói đi – nói là con hứa đi!”

“Con xin hứa.”

“Vậy thì chính ta sẽ là người tắm đầu tiên! Đi đi – lo việc của con đi. Đừng chần chừ, đừng nấn ná, đi mau.”

Tôi và đám nhỏ bắt tay vào việc ngay lập tức. Tàn tích của nhà tắm cũ vẫn còn đó dưới tầng hầm tu viện, chẳng thiếu một viên đá nào. Chúng đã bị bỏ mặc suốt bao nhiêu đời nay, bị người ta né tránh với nỗi sợ sệt tôn giáo như thể là đồ vật bị nguyền rủa. Chỉ trong hai ngày chúng tôi đã hoàn tất và dẫn nước vào – một hồ tắm rộng rãi với làn nước trong vắt mà ai cũng có thể bơi lội thoải mái. Đó lại còn là nước chảy nữa chứ. Nước chảy vào rồi lại chảy ra qua hệ thống đường ống cổ xưa. Vị viện trưởng giữ lời, ông là người đầu tiên thử nghiệm. Ông đi xuống trong bộ dạng đen nhẻm và run rẩy, bỏ mặc cả cộng đồng đen đúa phía trên đang lo lắng, bồn chồn và đầy ác cảm; nhưng khi quay lại, ông đã trắng trẻo và rạng rỡ. Vậy là xong! Thêm một thắng lợi nữa được ghi điểm.

Đó là một chiến dịch thành công rực rỡ tại Thung lũng Thánh, tôi rất mãn nguyện và sẵn sàng lên đường, nhưng đời không như mơ. Tôi bị cảm nặng, rồi nó lại đánh thức căn bệnh thấp khớp vốn đang chực chờ bấy lâu. Tất nhiên, thấp khớp nó tinh lắm, nó tìm ngay đúng chỗ yếu nhất của tôi mà ngự trị. Đó chính là nơi vị viện trưởng đã từng ôm lấy và bóp nát tôi hồi ông ấy cảm động muốn tỏ lòng biết ơn bằng một cái ôm thắm thiết.

Khi cuối cùng cũng mò ra khỏi giường, tôi gầy như cái bóng. Nhưng ai nấy đều quan tâm chăm sóc, nhờ thế mà tâm trạng tôi tươi tỉnh hẳn, và đó chính là liều thuốc quý giúp một người đang dưỡng bệnh mau chóng hồi phục sức khỏe; thế là tôi khỏe lên nhanh chóng.

Sandy đã kiệt sức vì phải chăm sóc tôi; nên tôi quyết định sẽ lẻn đi du ngoạn một mình, để cô ấy lại tu viện nghỉ ngơi. Tôi định cải trang thành một thường dân tự do và đi bộ ngao du khắp đất nước tầm một hai tuần. Việc này sẽ cho tôi cơ hội được ăn ngủ cùng tầng lớp công dân nghèo khổ nhất như những người bạn đồng đẳng. Chẳng còn cách nào khác để tôi hiểu tường tận đời sống thường nhật và sự vận hành của luật pháp lên cuộc sống của họ. Nếu cứ cư xử như một quý tộc, sẽ có đủ thứ ràng buộc và nghi lễ kìm kẹp, khiến tôi chẳng thể nào tiếp cận được những niềm vui nỗi buồn riêng tư của họ, và tôi sẽ chẳng bao giờ nhìn thấu được cái vẻ ngoài hào nhoáng kia.

Một buổi sáng nọ, tôi đi bộ đường dài để rèn luyện cơ bắp cho chuyến đi, và khi leo lên dãy núi bao quanh cực bắc thung lũng, tôi bắt gặp một lối vào nhân tạo trên vách đá thấp. Nhìn vị trí, tôi nhận ra ngay đây là cái am ẩn sĩ, nơi mà người ta vẫn thường chỉ trỏ từ xa rằng đó là hang ổ của một vị ẩn sĩ nổi tiếng khắp vùng về độ bẩn thỉu và khắc kỷ. Tôi biết gần đây ông ta đã được mời sang Sahara – nơi có sư tử và ruồi cát làm đời sống ẩn dật thêm phần thú vị và gian nan – và đã lên đường sang châu Phi nhận nhiệm vụ, nên tôi quyết định ghé vào xem không khí ở cái hang này có đúng với danh tiếng của nó không.

Tôi ngạc nhiên vô cùng: nơi này đã được quét dọn sạch sẽ tinh tươm. Rồi lại thêm một cú sốc nữa. Sâu trong bóng tối của hang đá, tôi nghe tiếng chuông nhỏ leng keng, rồi tiếng kêu lên thế này: “Alo tổng đài à! Camelot đó phải không? – Này, hãy vui mừng đi nếu ngươi có đức tin để tin vào những điều kỳ diệu khi chúng xuất hiện dưới hình hài bất ngờ nhất và hiển hiện ở những nơi không tưởng – chính vị Boss quyền năng đang đứng bằng xương bằng thịt ở đây này, và chính tai các ngươi sẽ được nghe ngài cất tiếng!”

Ối chà, một cú đảo chiều ngoạn mục thật sự; một mớ hỗn độn những thứ kệch cỡm; một sự kết hợp kỳ quái giữa những cái đối lập và không thể dung hòa – hang ổ của phép màu giả tạo nay lại thành trạm điện thoại thực thụ, cái am ẩn sĩ thời trung cổ bỗng chốc hóa thành văn phòng điện thoại!

Nhân viên trực điện thoại bước ra ngoài ánh sáng, và tôi nhận ra một trong đám trẻ của mình. Tôi bảo:

“Văn phòng này lập ở đây bao lâu rồi, Ulfius?”

“Mới từ hồi nửa đêm thôi, thưa Sếp. Chúng tôi thấy nhiều ánh đèn trong thung lũng, nên nghĩ tốt nhất là nên lập một trạm, vì nơi nào có nhiều đèn thế kia thì chắc hẳn đó là một thị trấn khá lớn.”

“Rất đúng. Nó không phải thị trấn theo nghĩa thông thường, nhưng dù sao đây cũng là một vị trí tốt. Cậu có biết mình đang ở đâu không?”

“Chuyện đó thì con chưa kịp tìm hiểu; vì khi đồng đội rời đi làm việc và để con ở lại trực, con đã tranh thủ nghỉ ngơi chút ít, định bụng khi tỉnh dậy sẽ hỏi han rồi báo tên địa điểm về Camelot để ghi chép.”

“Chà, đây là Thung lũng Thánh đấy.”

Chẳng ăn thua gì; ý tôi là, cậu ta không hề giật mình khi nghe cái tên đó như tôi tưởng. Cậu ta chỉ đáp:

“Con sẽ báo cáo y như vậy ạ.”

“Sao cơ, các vùng xung quanh đều râm ran chuyện những kỳ tích vừa xảy ra ở đây mà! Cậu không nghe nói gì à?”

“À, ngài nhớ cho là chúng con di chuyển vào ban đêm và tránh giao tiếp với mọi người. Chúng con không biết gì ngoài những thông tin nhận được qua điện thoại từ Camelot cả.”

“Sao cơ, họ biết hết chuyện này chứ. Họ chưa kể cho cậu nghe về phép màu vĩ đại khôi phục dòng suối thiêng à?”

“À, chuyện đó ư? Có ạ. Nhưng tên của thung lũng này khác xa một trời một vực với tên của nơi đó; thật sự là không thể khác hơn được nữa—”

“Thế tên đó là gì?”

“Thung lũng Địa ngục ạ.”

“Thế thì rõ rồi. Chết tiệt cái điện thoại này thật. Nó đúng là quỷ dữ trong việc truyền đạt những âm thanh na ná nhau nhưng lại mang ý nghĩa khác biệt hoàn toàn. Thôi không sao, giờ cậu biết tên nơi này rồi đấy. Gọi cho Camelot đi.”

Cậu ta làm theo, và nối máy cho Clarence. Nghe lại giọng thằng bé thật thích. Cảm giác cứ như đang ở nhà vậy. Sau vài lời thăm hỏi tình cảm và kể qua về trận ốm vừa rồi, tôi hỏi:

“Có tin gì mới không?”

“Nhà vua, hoàng hậu và nhiều quan lại sẽ lên đường ngay giờ này để đến thung lũng của ngài, nhằm bày tỏ lòng thành kính với dòng suối ngài đã khôi phục, tẩy trần tội lỗi, và chiêm ngưỡng nơi mà linh hồn địa ngục từng phun ra những ngọn lửa hỏa ngục thật sự lên tận mây xanh – nếu ngài chịu khó lắng nghe kỹ, ngài có thể nghe thấy con nháy mắt và cả cười tủm tỉm nữa đấy, vì chính con là người đã chọn những ngọn lửa đó từ kho của chúng ta và gửi đi theo lệnh của ngài.”

“Nhà vua có biết đường tới chỗ này không?”

“Nhà vua ư? – không, có lẽ chẳng biết đường đến bất cứ đâu trong vương quốc ấy chứ; nhưng đám trẻ đã giúp ngài làm phép màu sẽ làm hướng dẫn viên dẫn đường, và sắp xếp nơi nghỉ ngơi vào buổi trưa cũng như giấc ngủ ban đêm.”

“Vậy thì họ sẽ tới đây – khi nào?”

“Khoảng giữa chiều hoặc muộn hơn vào ngày thứ ba ạ.”

“Còn tin tức gì khác không?”

“Nhà vua đã bắt đầu gây dựng đội quân thường trực mà ngài đề xuất; một trung đoàn đã hoàn thiện và được bổ nhiệm sĩ quan.”

“Khốn kiếp thật! Chính tôi muốn nhúng tay vào việc đó cơ mà. Chỉ có một nhóm người duy nhất trong vương quốc này đủ trình độ làm sĩ quan cho một quân đội chính quy thôi.”

“Vâng – và bây giờ ngài sẽ ngạc nhiên khi biết rằng trong trung đoàn đó chẳng có lấy một người tốt nghiệp West Point đâu.”

“Cậu đang nói cái quái gì thế? Cậu nghiêm túc đấy à?”

“Đúng là như con đã nói ạ.”

“Sao cơ, chuyện này làm tôi thấy bất an đấy. Ai được chọn và phương pháp là gì? Thi tuyển cạnh tranh à?”

“Thật tình thì con chẳng biết phương pháp là gì. Con chỉ biết là – những sĩ quan này đều thuộc dòng dõi quý tộc, và sinh ra đã là – ngài gọi là gì nhỉ? – những kẻ ngốc nghếch.”

“Có gì đó sai sai rồi, Clarence ạ.”

“Vậy ngài cứ an tâm đi; vì hai ứng viên cho vị trí trung úy đang đi cùng nhà vua tới đây – đều là quý tộc trẻ cả – và nếu ngài chịu chờ ở đó, ngài sẽ được nghe họ bị chất vấn.”

“Đấy mới là tin hữu ích. Dù sao thì tôi cũng phải nhét được một thằng cha West Pointer vào. Hãy cho người cưỡi ngựa đi ngay lập tức đến trường đó với một thông điệp; cứ bắt nó chạy chết ngựa cũng được, nhưng phải đến đó trước khi trời tối nay và nói là—”

“Không cần đâu ạ. Con đã kéo một đường dây xuống trường rồi. Xin ngài hãy để con nối máy với họ.”

Nghe hay đấy chứ! Trong bầu không khí toàn điện thoại và liên lạc chớp nhoáng với những vùng xa xôi này, tôi như được thở lại bầu không khí sự sống sau bao ngày bị ngạt thở. Lúc đó tôi mới nhận ra, mảnh đất này bao năm qua thật là một nỗi kinh hoàng chết chóc, tẻ nhạt và vô hồn, và tôi đã phải chịu đựng cảnh bế tắc trong tâm trí đến mức gần như quen thuộc với nó, chẳng còn hơi sức đâu mà để ý nữa.

Tôi đích thân ra lệnh cho hiệu trưởng Học viện. Tôi cũng nhờ ông ấy mang cho mình ít giấy, một cây bút máy, và vài hộp diêm an toàn. Tôi chán ngấy cảnh phải sống thiếu những tiện nghi này rồi. Giờ tôi có thể thoải mái dùng chúng, vì hiện tại tôi chẳng còn phải mặc giáp nữa, nên cũng tiện bề lục túi.

Khi quay lại tu viện, tôi thấy một chuyện khá thú vị đang diễn ra. Vị viện trưởng và các sư huynh đang tụ tập tại đại sảnh, quan sát với vẻ ngây ngô và đức tin đầy trẻ thơ những màn trình diễn của một gã ảo thuật gia mới đến. Trang phục của hắn thì thôi rồi, dị hợm hết chỗ nói; bóng bẩy và ngớ ngẩn chẳng khác nào mấy gã thầy cúng da đỏ. Hắn đang lầm bầm, múa may quay cuồng, vẽ vời đủ thứ hình thù kỳ bí trên không trung và dưới sàn nhà – kiểu trình diễn quen thuộc ấy mà. Hắn bảo mình là người nổi tiếng đến từ châu Á – thế là đủ. Loại bằng chứng ấy giá trị như vàng, đi đâu cũng được chấp nhận.

Làm một bậc thầy phép thuật theo kiểu gã này mới dễ và rẻ tiền làm sao. Sở trường của hắn là kể cho bạn nghe bất cứ cá nhân nào trên quả đất này đang làm gì vào thời điểm hiện tại; và họ đã làm gì trong quá khứ, hay sẽ làm gì trong tương lai. Hắn hỏi có ai muốn biết Hoàng đế phương Đông đang làm gì không? Ánh mắt long lanh và đôi tay xoa xoa đầy khoái chí là câu trả lời hùng hồn nhất – đám người mộ đạo này đang khao khát được biết vị quân vương kia đang làm gì ngay lúc này. Gã lừa đảo làm thêm vài động tác phù phép, rồi dõng dạc tuyên bố:

“Vị Hoàng đế phương Đông cao quý và quyền năng ngay lúc này đang đặt tiền vào lòng bàn tay của một vị sư khất thực thánh thiện – một, hai, ba đồng, và tất cả đều là bạc.”

Tiếng xì xào tán thưởng nổ ra khắp nơi: “Thật kỳ diệu!” “Tuyệt vời!” “Phải dày công học hỏi và khổ luyện thế nào mới đạt được thứ quyền năng đáng kinh ngạc thế này chứ!”

Họ có muốn biết Chúa tể tối cao xứ Inde đang làm gì không? Có chứ. Hắn kể cho họ nghe Chúa tể tối cao xứ Inde đang làm gì. Rồi hắn kể tiếp Sultan Ai Cập đang làm gì; cả Vua xứ Viễn Dương đang làm gì nữa. Cứ thế, cứ thế; và với mỗi phép màu mới, sự kinh ngạc trước độ chính xác của hắn lại càng dâng cao. Họ cứ tưởng kiểu gì hắn cũng sẽ đoán sai một lần; nhưng không, hắn chẳng bao giờ phải do dự, hắn luôn biết tuốt, và lúc nào cũng chính xác không sai một ly. Tôi thấy nếu cứ để tình hình này tiếp diễn thì vị thế của mình tiêu tùng, gã này sẽ cướp hết đám fan hâm mộ của tôi mất, còn tôi thì ra rìa. Tôi phải phá đám hắn, và phải làm ngay lập tức mới được. Tôi lên tiếng:

“Nếu được phép, tôi rất muốn biết một người nọ đang làm gì.”

“Cứ nói, cứ tự nhiên. Ta sẽ cho ngươi biết.”

“Chuyện này khó đấy – có lẽ là không thể luôn.”

“Nghệ thuật của ta không biết đến từ đó. Càng khó, ta lại càng chắc chắn sẽ tiết lộ cho ngươi.”

Thấy không, tôi đang đẩy sự hứng thú lên cao trào đấy. Nó cũng đang lên khá cao rồi; bạn có thể thấy qua những cái cổ cứ vươn dài khắp nơi, và hơi thở thì như nín bặt. Thế là tôi tung đòn quyết định:

“Nếu ngươi không sai một ly – nếu ngươi nói thật cho ta biết điều ta muốn biết – ta sẽ tặng ngươi hai trăm đồng xu bạc.”

“Vận may thuộc về ta! Ta sẽ nói cho ngươi biết điều ngươi muốn.”

“Vậy thì nói cho ta biết tay phải ta đang làm gì.”

“Á!” Cả đám đông ồ lên ngạc nhiên. Chẳng một ai trong đám đông ấy nghĩ ra – cái trò đơn giản là hỏi về một người không cách xa tận mười nghìn dặm. Gã ảo thuật gia bị một đòn chí mạng; đây là tình huống khẩn cấp chưa từng xảy ra trong kinh nghiệm của hắn, và nó khiến hắn câm họng; hắn không biết ứng phó ra sao. Hắn trông sững sờ, bối rối; chẳng thốt nên lời. “Nào,” tôi nói, “ngươi chờ gì nữa? Chẳng lẽ ngươi có thể trả lời vanh vách, ngay tức khắc, người ở tận bên kia trái đất đang làm gì, mà lại không biết người đang đứng cách ngươi chưa đầy ba mét đang làm gì sao? Những người đứng sau lưng ta biết rõ tay phải ta đang làm gì – họ sẽ chứng thực cho ngươi nếu ngươi nói đúng.” Hắn vẫn im như thóc. “Được rồi, để ta nói cho mà nghe tại sao ngươi không dám mở miệng; vì ngươi chẳng biết gì cả. Ngươi mà là ảo thuật gia à! Các bạn hiền ạ, gã lang thang này chỉ là một tên lừa đảo và kẻ nói dối thôi.”

Điều này khiến các sư huynh hoảng sợ và buồn phiền. Họ chưa bao giờ quen nghe những đấng siêu nhiên đáng sợ này bị mắng nhiếc, và họ không biết hậu quả sẽ ra sao. Giờ thì im phăng phắc; những nỗi lo sợ mê tín hiện lên trong tâm trí mỗi người. Gã ảo thuật gia bắt đầu lấy lại bình tĩnh, và khi hắn chợt nở một nụ cười thản nhiên, nhẹ nhõm, cả đám đông như trút được gánh nặng ngàn cân; vì điều đó chứng tỏ tâm trạng hắn không có ý định hủy diệt. Hắn nói:

“Lời lẽ phù phiếm của kẻ này khiến ta câm lặng không nói nên lời. Mọi người hãy biết cho, nếu ai đó lỡ chưa biết, rằng những bậc phù thủy ở đẳng cấp của ta không bao giờ hạ mình quan tâm đến việc làm của bất cứ ai trừ các bậc vua chúa, hoàng tử, hoàng đế, những người sinh ra trong nhung lụa và chỉ họ mà thôi. Nếu ngươi hỏi ta vua Arthur vĩ đại đang làm gì, thì lại là chuyện khác, ta đã kể cho ngươi nghe rồi; còn chuyện của một kẻ bề tôi thì chẳng bao giờ khiến ta bận tâm.”

“Ồ, tôi hiểu nhầm ngài rồi. Tôi tưởng ngài nói là ‘bất kỳ ai’, nên tôi cứ nghĩ ‘bất kỳ ai’ bao gồm cả – chà, bất kỳ ai; nghĩa là, mọi người.”

“Đúng là thế – bất kỳ ai có dòng dõi cao quý; và nếu là hoàng tộc thì càng tốt.”

“Điều đó, có vẻ như, rất có lý,” vị viện trưởng nói, ông ta nhìn thấy cơ hội để xoa dịu tình hình và tránh một thảm họa, “vì chẳng ai lại trao ban một món quà kỳ diệu như thế này để tiết lộ chuyện đời của những kẻ thấp kém hơn những người sinh ra gần đỉnh cao của sự vĩ đại. Vua Arthur của chúng ta—”

“Ngài muốn biết về ngài ấy chứ?” gã phù thủy ngắt lời.

“Rất sẵn lòng, vâng, và vô cùng biết ơn.”

Mọi người lại đầy vẻ kính sợ và tò mò ngay lập tức, cái lũ ngốc không thuốc chữa này. Họ chăm chú nhìn gã làm phép, rồi nhìn tôi với vẻ mặt kiểu “Đấy, giờ thì ngươi nói gì nữa nào?”, khi gã tuyên bố:

“Nhà vua đang mệt nhoài vì cuộc đi săn, và đã nằm ngủ trong cung điện được hai tiếng rồi, một giấc ngủ không mộng mị.”

“Chúa ban phước lành cho người!” vị viện trưởng nói và làm dấu thánh; “mong rằng giấc ngủ ấy sẽ giúp người phục hồi cả thân xác lẫn linh hồn.”

“Và có thể là như thế, nếu ngài ấy đang ngủ,” tôi nói, “nhưng nhà vua không ngủ, nhà vua đang cưỡi ngựa.”

Rắc rối lại tới – một cuộc xung đột về thẩm quyền. Chẳng ai biết phải tin ai; tôi vẫn còn chút uy tín. Gã phù thủy nổi cơn khinh bỉ và bảo:

“Này, trong đời ta đã thấy biết bao nhà tiên tri, nhà thông thái và ảo thuật gia tuyệt vời, nhưng chưa từng thấy ai ngồi không mà nhìn thấu tâm can sự việc mà chẳng cần đến một câu chú yểm trợ nào.”

“Ngươi sống trong rừng sâu nên thiệt thòi đủ đường rồi. Bản thân ta cũng dùng bùa chú, như các vị huynh đệ tốt bụng ở đây đều biết – nhưng chỉ dùng vào những dịp quan trọng thôi.”

Khi nói đến chuyện mỉa mai, tôi tính mình cũng biết cách đáp trả không kém. Cú châm chọc đó làm gã ta vặn vẹo. Vị viện trưởng hỏi thăm về hoàng hậu và triều đình, và nhận được thông tin này:

“Họ đều đang ngủ, vì kiệt sức giống như nhà vua vậy.”

Tôi bảo: “Đó chỉ là một lời nói dối nữa thôi. Một nửa trong số họ đang vui chơi, hoàng hậu và nửa còn lại không hề ngủ, họ đang cưỡi ngựa. Giờ có lẽ ngươi hãy thể hiện tài năng một chút, và cho chúng ta biết nhà vua, hoàng hậu và tất cả những người đang cưỡi ngựa cùng họ lúc này đang đi đâu đi?”

“Họ đang ngủ như ta đã nói; nhưng ngày mai họ sẽ cưỡi ngựa, vì họ bắt đầu chuyến hành trình hướng ra biển.”

“Và ngày kia vào giờ kinh chiều, họ sẽ ở đâu?”

“Phía xa mạn bắc Camelot, và một nửa chặng đường của họ sẽ hoàn tất.”

“Đó lại là một lời nói dối nữa, sai lệch tới tận một trăm năm mươi dặm đấy. Chặng đường của họ không chỉ mới đi được một nửa đâu, mà sẽ hoàn tất, và họ sẽ có mặt ở đây, trong thung lũng này.”

Một đòn chí mạng! Nó khiến vị viện trưởng và đám sư huynh xoay như chong chóng vì phấn khích, và làm gã phù thủy rúng động tận gốc rễ. Tôi bồi thêm một cú nữa:

“Nếu nhà vua không tới, ta sẽ tự nguyện để bị bêu rếu trên cây sào: còn nếu ngài ấy tới, ta sẽ để ngươi bị bêu trên cây sào thay thế.”

Hôm sau tôi lên trạm điện thoại và biết nhà vua đã đi qua hai thị trấn trên tuyến đường. Ngày kế tiếp tôi cũng theo dõi hành trình của ngài theo cách tương tự. Tôi giữ kín những chuyện này. Báo cáo ngày thứ ba cho thấy nếu giữ tốc độ đó, ngài sẽ tới nơi vào lúc bốn giờ chiều. Vẫn chẳng thấy dấu hiệu gì tỏ ra quan tâm đến việc ngài tới cả; dường như chẳng có sự chuẩn bị nào để đón tiếp long trọng; thật kỳ lạ. Chỉ một điều có thể giải thích chuyện này: gã ảo thuật gia kia chắc chắn đã chơi chiêu phá đám tôi. Quả đúng vậy. Tôi hỏi một người bạn là sư huynh về chuyện này, ông bảo đúng là gã ảo thuật gia đã giở thêm vài trò phù phép và phát hiện ra triều đình đã quyết định hủy chuyến đi, ở nhà luôn. Nghĩ mà xem! Thấy chưa, danh tiếng ở cái xứ này chẳng đáng giá là bao. Những con người này đã tận mắt thấy tôi làm những trò ma thuật hoành tráng nhất lịch sử, và là trò duy nhất trong ký ức của họ có giá trị thực tế, thế mà giờ đây, họ sẵn sàng tin theo một gã lang thang chẳng có bằng chứng gì về năng lực ngoài những lời nói suông chưa được kiểm chứng.

Tuy nhiên, để nhà vua đến mà không có chút nghi lễ kèn trống nào thì chẳng phải kế sách hay ho, nên tôi đi xuống dưới, huy động một đám người hành hương, lôi cổ mấy gã ẩn sĩ ra, và cho họ khởi hành lúc hai giờ để đón ngài. Và đó chính là kiểu đón tiếp mà ngài nhận được. Vị viện trưởng tức điên người và nhục nhã vô cùng khi tôi dẫn ông ra ban công và chỉ cho thấy vị nguyên thủ quốc gia đang tiến vào mà chẳng có lấy một nhà sư nào ra đón chào, không một chút náo nhiệt, không tiếng chuông vui mừng nào cất lên để chào đón linh hồn người. Ông nhìn một cái rồi lao đi đánh thức quân đoàn của mình. Ngay phút sau, chuông nhà thờ đổ dồn dập, các tòa nhà bắt đầu "phun" ra những nhà sư và nữ tu, họ ùa ra như một cơn lũ về phía đoàn rước đang tới; và đi cùng họ là gã ảo thuật gia kia – hắn cũng đang nằm trên cây sào, theo lệnh của viện trưởng; danh tiếng của hắn đã rơi xuống bùn đen, còn tôi lại bay lên chín tầng mây. Ừ đấy, người ta có thể giữ vững thương hiệu ở xứ này, nhưng không thể ngồi mát ăn bát vàng được; lúc nào cũng phải trực chiến và bám sát tình hình liên tục mới được.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.