Từ trước đến nay, Dương Thông luôn ấp ủ một ước mơ, đó là thống lĩnh hạm đội tung hoành trên khắp các đại dương, đánh bại những kẻ được gọi là liệt cường trời Âu.
Chàng tuy không quá am tường lịch sử, nhưng cũng hiểu rằng thời đại này chính là kỷ nguyên đại hàng hải. Nếu không phát triển thực lực trên biển mà chỉ biết bế quan tỏa cảng mưu cầu tự bảo vệ mình, thì chẳng chóng thì chày cũng có ngày bị người ta ức hiếp tận cửa.
Nói về kỹ thuật đóng thuyền, ở thời đại này, nào ai sánh nổi với Đại Minh. Thuở trước, khi Trịnh Hòa thống lĩnh hạm đội khổng lồ xuôi dòng Tây Dương, liệt cường trời Âu vẫn còn đang chèo thuyền con đánh cá nơi lạch nước.
Chỉ tiếc rằng suốt hơn trăm năm qua, Đại Minh đã lãng phí thời gian vào chính sách hải cấm, kỹ thuật hàng hải đình trệ không tiến, kỹ nghệ đóng tàu thậm chí còn không ngừng thoái bộ.
May thay, lúc này dốc sức đuổi theo vẫn chưa muộn màng.
Các thế lực Âu châu thời điểm này hẳn vẫn chỉ đang ở giai đoạn chập chững, trận hải chiến Tây Thảo Vịnh năm Gia Tĩnh nguyên niên đã nói lên tất cả.
Bá chủ biển khơi Bồ Đào Nha hiện nay thực lực cũng chỉ đến thế. Đại Minh mới điều động một vị Chỉ huy sứ vệ sở cùng vài viên Bách hộ đã đánh cho hạm đội viễn dương của chúng tan tác tơi bời. Nếu Đại Minh bắt đầu dốc toàn lực đuổi kịp từ lúc này, thì về sau trên đại dương bao la, e rằng cũng chẳng còn chỗ cho "người đánh xe trên biển" Hà Lan hay "đế quốc mặt trời không lặn" Anh quốc xưng hùng xưng bá.
Dương Thông cũng không rõ những cường quốc hàng hải thực thụ như Hà Lan và Anh quốc rốt cuộc sẽ thay thế Tây Ban Nha cùng Bồ Đào Nha xưng bá trên biển vào thời điểm nào. Điều chàng có thể làm lúc này là mau chóng phát triển thực lực trên biển của Đại Minh, đặt nền móng vững chắc cho cuộc tranh bá tương lai.
Năng lực đóng tàu của xưởng thuyền Long Giang kỳ thực tương đối khá, chí ít xét về bề dày tích lũy thì vượt xa xưởng Nam Đài ở Phúc Châu.
Nơi đây vốn là cố đô Kim Lăng. Trong những năm Hồng Vũ và đầu thời Vĩnh Lạc, hầu như toàn bộ thợ thuyền của Đại Minh đều tụ họp về chốn này, nhân tài về mặt tạo tác thuyền bè nhiều không đếm xuể. Dù hơn trăm năm đã trôi qua, lớp thợ thuyền thuở trước đều đã khuất núi, song hậu duệ của họ vẫn mưu sinh quanh vùng Kim Lăng, tay nghề cũng nhờ quan hệ huyết thống mà đời đời tương truyền.
Họa chăng trăm năm nữa, những kỹ nghệ đóng thuyền này sẽ tiêu biến trong dòng chảy lịch sử. Bởi lẽ đám thợ thuyền học nghề chủ yếu để kiếm miếng cơm, nếu trăm năm ròng rã không có thuyền để đóng, họ còn có thể gượng ép truyền lại cho đời sau; nhưng nếu thời gian dài hơn, thêm một trăm năm nữa, nào ai chịu ôm khư khư món ngón nghề vô dụng này mà chịu đói.
Điểm này, sau khi giãi bày dự tính của mình, Dương Thông đã sớm nhận ra.
May mà chàng đến sớm, bằng không, thêm trăm năm nữa, những kỹ thuật đóng thuyền vượt tầm thời đại này của Đại Minh e rằng sẽ thật sự mai một hoàn toàn.
Vậy thì, dự tính của chàng là gì?
Dự tính của chàng chính là trùng kiến xưởng thuyền Long Giang, khôi phục lại toàn bộ sáu âu tàu siêu lớn sẵn có, trước mắt tranh thủ mỗi năm đóng được mười hai chiến hạm Phúc thuyền, sau đó mới tìm cách dần dần mở rộng sản lượng.
Về quy chuẩn chiến hạm Phúc thuyền, chàng đã định hình từ trước.
Toàn bộ chiến hạm chia làm năm tầng: tầng đáy đặt nồi hơi và máy hơi nước; tầng thứ hai chứa lương thực cùng đạn dược; ba tầng phía trên bố trí dày đặc các cửa pháo, mỗi tầng đặt bốn mươi cỗ cự pháo ngàn cân, tả hữu mỗi bên hai mươi cỗ, cả ba tầng tổng cộng một trăm hai mươi cỗ.
Sở dĩ chàng định số hỏa pháo hai bên mạn thuyền là một trăm hai mươi cỗ, cũng vì muốn chiến hạm kiểu mới này mang đôi chút phong vị Đại Minh. Thời này Đại Minh đánh số rất nhiều thứ theo chu kỳ hoa giáp, một hoa giáp là sáu mươi năm, vừa vặn mỗi mạn sáu mươi cỗ pháo, việc biên chế đánh số vô cùng tiện lợi.
Riêng mũi thuyền và đuôi thuyền, chàng trù tính đúc những cỗ hỏa pháo hai ngàn cân hoặc lớn hơn nữa. Về số lượng, cũng chọn mức tối đa có thể: phía trước ba cỗ, phía sau ba cỗ, tổng cộng sáu cỗ.
Tóm lại, chàng muốn vận dụng kỹ thuật hiện có để phát huy hỏa lực của chiến hạm Phúc thuyền kiểu mới đến mức tột cùng.
Một chiến hạm như vậy, dẫu có chạm trán chiến hạm chủ lực của liệt cường trời Âu, cũng đủ sức đè bẹp đối phương về mặt hỏa lực!
Dự tính này vừa đưa ra đã khiến mấy tay đầu mục thợ thuyền kích động khôn xiết.
Sáu âu tàu đồng loạt khởi công, mỗi năm đóng mười hai chiến hạm, nửa năm đóng sáu chiếc. Số lượng này nghe qua tưởng chừng ít ỏi, song thực chất khối lượng công việc lại chẳng hề nhỏ chút nào.
Phải biết rằng chiến hạm Phúc thuyền là loại chiến hạm khổng lồ dài hơn mười trượng, quy đổi ra cách tính đời sau thì đó là cỗ thuyền lớn dài hơn bốn mươi mét.
Chiến hạm như thế, riêng một tầng đã rộng bốn năm trăm thước vuông. Dựa vào kỹ thuật hiện thời, việc chế tác vô cùng phiền toái, nhân công hao phí tuyệt nhiên không phải con số nhỏ.
Có thể nói, chỉ cần sáu âu tàu đồng loạt khởi công, toàn bộ thợ thuyền cũ của xưởng Long Giang đều chẳng còn phải lo không có việc làm.
Chuyện này trước kia bọn họ nào dám mơ tưởng. Xưởng thuyền Long Giang hoang phế hơn trăm năm, đám thợ thuyền bọn họ vì kế sinh nhai phải bôn ba khắp chốn, nhọc nhằn khôn tả. Đã vậy, họ còn phải chịu triều đình trưng triệu, phục dịch không công, ngược xuôi vất vả, cực nhọc không kể xiết mà chẳng kiếm nổi đồng nào. Rất nhiều thợ thuyền vì thế đành bỏ nghề cũ, thậm chí đào thoát khỏi hộ tịch, dạt đi tha hương biến thành lưu dân.
Giờ thì tốt rồi, họ chẳng những có công việc và thu nhập ổn định, lại chẳng phải ngược xuôi đi làm phu dịch, bởi lẽ đóng chiến hạm vốn là làm việc cho triều đình, hoàn toàn có thể dùng để khấu trừ lao dịch. Cùng lắm mỗi năm trích trừ một hai tháng tiền công, thế vẫn còn tốt hơn vạn lần việc phải bôn ba nay đây mai đó.
Dương Thông cũng không ngờ tiềm lực của xưởng thuyền Long Giang lại kinh người đến thế, đóng cùng lúc sáu chiến hạm cỡ lớn mà chẳng cần phải đi khắp nơi chiêu mộ nhân công!
Phải nói rằng đây là một niềm vui ngoài ý muốn.
Thêm vào đó, xưởng thuyền lại có Vương Tuyên tọa trấn, còn có đám đệ tử tinh anh của học đường thuyền vụ trợ lực, chàng căn bản chẳng cần bận lòng tới những sự vụ vụn vặt, chỉ cần vạch ra dự tính rồi cung cấp đủ bạc là xong.
Xong xuôi công việc ở Kim Lăng, mọi sự tại xưởng thuyền Long Giang đều đã an bài thỏa đáng, chàng lại dong ruổi một chuyến tới Phúc Châu.
Thời điểm này xưởng Nam Đài ở Phúc Châu cũng gần như đình công, bởi lẽ binh tướng thủy sư có hạn, đóng thêm nhiều Thương Sơn thuyền cũng chẳng có người điều khiển. Huống hồ mấy năm nay quy mô thuyền đội bên phía Uông Trực và Hồng Thiết Trụ cũng đã khuếch trương tương đối, chí ít trước khi khai phá thị trường mới thì số thương thuyền dưới trướng họ đã đủ dùng.
Một xưởng thuyền lớn nhường ấy tự nhiên không thể để nhàn rỗi. Ý định của Dương Thông là cho nơi này đóng loại Thương Sơn thuyền kiểu mới, cải biến loại thuyền buồm chèo truyền thống thành thuyền luân xa chạy bằng động cơ hơi nước.
Một biên đội chiến hạm hoàn chỉnh không thể chỉ toàn những chiến hạm cỡ lớn như đại Phúc thuyền, các loại chiến hạm cỡ vừa và nhỏ như Thương Sơn thuyền cũng là thứ không thể thiếu. Bởi lẽ chiến hạm lớn xoay chuyển khó khăn, lại tồn tại góc chết phòng thủ. Nếu quân địch dùng thuyền nhỏ tốc độ cao hỏa công, thì pháo hạm dù tối tân đến đâu cũng có nguy cơ bại trận trước loại thuyền buồm chèo nguyên sơ.
Đó cũng là lý do vì sao hạm đội viễn dương của liệt cường nhiều phen giao tranh với thủy sư Đại Minh mà chẳng chiếm được chút hời nào. Bởi lẽ Đại Minh có quá nhiều loại thuyền con linh hoạt này, trong khi hạm đội viễn dương của liệt cường do phải lênh đênh dài ngày trên biển nên căn bản không bố trí chiến thuyền nhỏ hộ tống. Khi chạm trán chiến thuật "biển thuyền" của Đại Minh, họ chỉ còn nước chịu trận.
Dương Thông đương nhiên không phạm phải sai lầm ấu trĩ ấy. Chiến hạm Phúc thuyền phải đóng, mà Thương Sơn thuyền kiểu mới cũng phải tạo tác. Có như vậy, hạm đội của Đại Minh mới không phải lo ngại đối phương dùng thuyền nhỏ áp dụng chiến thuật hỏa công nữa.