Khi chúng tôi đến London lần đầu, người em họ của Tiền Trùng Thư là Trùng Hàn đã dẫn chúng tôi đi tham quan Bảo tàng Anh, một số phòng tranh nổi tiếng và nhà trưng bày tượng sáp v.v.. Kỳ nghỉ hè này, cậu ấy một mình đạp xe du lịch Đức và Bắc Âu, đồng thời đến nhà máy thực tập. Tiền Trùng Thư chỉ có phần ngưỡng mộ. Anh tuyệt đối không có bản lĩnh này, cũng chẳng có hứng thú như vậy. Anh chỉ biết thảm thương "thám hiểm" cùng tôi: từ chỗ ở đến Công viên Hyde, rồi đến tiệm sách cũ đường Tottenham; từ vườn thú đến vườn bách thảo; từ khu Tây hào nhoáng đến khu ổ chuột phía Đông; đôi khi cũng gặp gỡ một số bạn học.
Bạn học ở Paris còn đông hơn nữa. Không nhớ là ở London hay ở Paris, Tiền Trùng Thư nhận được điện báo do nhà chức trách phái anh làm đại biểu "Đại hội Thanh niên Thế giới" năm 1936, đến Geneva Thụy Sĩ dự họp. Đại biểu tổng cộng có ba người, Tiền Trùng Thư và hai người kia không quen thân lắm. Lúc chúng tôi ở Paris, không nhớ qua sự giới thiệu của ai, một đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc sống ở Paris tên là Vương Hải Kinh đã mời chúng tôi ăn quán Trung Quốc. Anh ấy mời tôi làm đại biểu Đảng Cộng sản của "Đại hội Thanh niên Thế giới". Tôi rất đắc ý. Tôi và Tiền Trùng Thư cùng đi Thụy Sĩ với thân phận của chính mình, không phải là đi theo.
Tôi và Tiền Trùng Thư hành động cùng một nhóm đại biểu đảng cộng sản. Đêm trước hôm khai mạc, chúng tôi đáp chuyến xe đêm đến Geneva. Hai vợ chồng chúng tôi và Đào Hành Tri cùng chung một toa xe, ba người thức trò chuyện suốt một đêm đến sáng. Đào Hành Tri còn dẫn tôi ra khỏi toa xe, ở hành lang xe lửa, đối diện với bầu trời ngoài cửa sổ, dạy tôi cách dùng phương pháp khoa học để chỉ dẫn các vì sao trên trời.
Trong thời gian diễn ra "Đại hội Thanh niên Thế giới", hai vị đại biểu lớn chúng tôi hễ gặp buổi họp nào có thể chuồn được là nhất loạt chuồn hết. Trên con đường núi gập ghềnh, chật hẹp khó đi, chúng tôi "thám hiểm" đến bên hồ Léman, ôm mộng đi vòng quanh hồ một vòng. Nhưng càng đi về phía xa, mặt hồ càng rộng, đành chịu không thể đi một vòng được.
Những buổi họp quan trọng thì chúng tôi không chuồn. Tỷ như buổi họp thanh niên Trung Quốc đọc diễn văn trước thanh niên thế giới, chúng tôi đều có mặt dự họp. Người lên sân khấu phát biểu là đại biểu bên phía đảng cộng sản; bản thảo bài phát biểu tiếng Anh là do Tiền Trùng Thư viết. Phản ứng đối với bài phát biểu cũng khá tốt.
Chúng tôi từ Thụy Sĩ trở về Paris, lại chơi ở Paris thêm một, hai tuần nữa.
Hồi đó chúng tôi có mấy người bạn học cũ và bạn bè đang học ở Đại học Paris, ví dụ như Thịnh Trừng Hoa chính là bạn cùng lớp đại học môn tiếng Pháp của tôi ở Thanh Hoa. Nghe nói nếu chúng tôi muốn theo học lấy học vị ở Đại học Paris, thì cần phải có học lực hai năm. Đại học Paris không giống Đại học Oxford có chế độ "ăn cơm" đảm bảo ở nội trú, chi bằng nhân cơ hội đăng ký nhập học sớm. Thế nên trước khi quay lại Oxford, chúng tôi đã nhờ Thịnh Trừng Hoa thay mặt làm thủ tục đăng ký nhập học ở Đại học Paris cho chúng tôi. Học kỳ thu năm 1936 bắt đầu, tuy thân ở Oxford, nhưng chúng tôi đã là sinh viên của Đại học Paris rồi.
Căn hộ mà bà Dale cho chúng tôi thuê lần này khá hơn hẳn lần trước. Phòng tắm nhà chúng tôi có bồn tắm lớn kiểu mới, không còn dùng bộ ống cuộn cổ lỗ sĩ kia nữa. Chỉ có điều nước nóng dùng điện, một tháng sau, chúng tôi mới biết hóa đơn tiền điện kinh hoàng thế nào, đành vội vã tiết kiệm nước nóng.
Kỳ nghỉ hè này của chúng tôi coi như đã có một chuyến đi chơi xa; quay về Oxford, tôi đã mang thai rồi. Người đã có gia đình thường đều mong mỏi có con, chúng tôi cũng không ngoại lệ. May là hồi đó tôi là người rảnh rỗi, đợi khi con ra đời, đưa sang Pháp, có thể gửi người ta trông hộ. Chúng tôi biết rất nhiều nữ sinh viên học ở Paris khi có con đều gửi người khác nuôi hộ, hoặc gửi nhà trẻ, hoặc gửi nuôi ở vùng quê.
Tiền Trùng Thư ân cần dặn dò tôi: "Anh không cần con trai, anh muốn con gái — chỉ cần một đứa thôi, giống em." Tôi đối với việc "giống tôi" thì không vừa ý lắm. Tôi muốn một đứa con gái giống Tiền Trùng Thư. Con gái mà lại giống Tiền Trùng Thư, không biết là hình dáng thế nào, rất khó tưởng tượng. Con gái chúng tôi quả thực rất giống Tiền Trùng Thư, nhưng đây là chuyện về sau.
Tôi tưởng mang thai trong bụng thì có thể mặc kệ không cần đếm xỉa đến. Nhưng khi mang thai rồi mới biết tôi phải đem tất cả những gì tinh túy nhất trong toàn bộ cơ thể dâng hiến cho sinh mệnh mới này. Ở loài động vật bậc thấp, sự trưởng thành của sinh mệnh mới chính là sự tiêu vong của thể mẹ. Tôi không tiêu vong, chỉ là bị giảm đi ba mươi phần trăm, cái gì cũng suy giảm cả. Tiền Trùng Thư đến cuối năm đã miêu tả tôi trong nhật ký: "Buổi tối, Quý tổng kết sách đọc năm nay, áy náy vì chưa đủ...", cười tôi "mang tiếng là tài nữ mà lại có thể làm hiền thê lương mẫu, lại còn muốn làm nữ tiến sĩ..."
Tiền Trùng Thư rất ra điều kiện trọng sự, từ rất sớm đã cùng tôi đến nhà hộ sinh đặt trước phòng bệnh đơn và nhờ nữ viện trưởng giới thiệu bác sĩ chuyên khoa. Viện trưởng hỏi: "Muốn bác sĩ nữ chứ?" (Bà ấy vốn dĩ là chuyên gia. Sản phụ ở phòng bệnh thông thường đều do bà ấy đỡ đẻ.)
Tiền Trùng Thư nói: "Muốn người giỏi nhất."
Nữ viện trưởng liền giới thiệu bác sĩ Spence cho tôi. Căn biệt thự có sân vườn nhà ông ấy cách chỗ ở của chúng tôi không xa.
Bác sĩ Spence nói, tôi sẽ sinh một "đứa trẻ ngày đăng quang". Bởi vì ông ấy dự đoán ngày sinh của đứa trẻ vừa khéo ứng với đại lễ đăng quang của vua George VI (ngày 12 tháng 5). Nhưng con gái chúng tôi hoàn toàn không có hứng thú gì với lễ đăng quang của vua Anh, có lẽ con bé vốn chẳng muốn đến thế giới này. Tôi vào nhà hộ sinh ngày 18, ngày 19 dốc hết toàn lực cũng không cách nào gọi nó ra đời được. Bác sĩ dùng thuốc cho tôi, để tôi bình an "chết" đi.
Đợi khi tôi tỉnh lại, phát hiện bản thân giống như trẻ sơ sinh được bọc trong khăn nỉ, phía sau chân còn có một chiếc túi chườm nước nóng. Bụng thì đã trống rỗng, khắp người từ da đến xương đều đau đớn, đến nhúc nhích cũng không nhúc nhích nổi. Tôi hỏi y tá ở bên cạnh: "Đã xảy ra chuyện gì vậy?"
Y tá nói: "Cô đã làm lao dịch, một thứ lao dịch rất nặng nhọc."
Một y tá khác thò đầu ở cửa. Cô ấy vô cùng tò mò hỏi tôi: "Tại sao cô không kêu không la vậy?" Cô ấy tận mắt nhìn thấy tôi đau đớn muốn chết, vậy mà lại tĩnh lặng không hề hó hé nửa lời.
Tôi không ngờ còn có màn này, bèn nói: "Kêu hay la thì vẫn cứ đau thôi." Bọn họ càng lúc càng thấy kỳ lạ. "Phụ nữ Trung Quốc đều thông đạt triết lý thế sao?" "Phụ nữ Trung Quốc không cho phép kêu la à?"
Y tá bế đứa bé đến cho tôi xem, nói đứa bé lúc mới sinh ra toàn thân đã tím tái, là cô ấy vỗ cho sống lại. Nghe nói đứa bé là đứa trẻ Trung Quốc thứ hai sinh ra ở Oxford. Tôi vẫn chưa hoàn toàn tỉnh táo, không có sức nói chuyện, lại mơ màng chìm vào giấc ngủ.
Tiền Trùng Thư ngày hôm đó đã đến thăm tôi bốn lần. Tôi được đưa vào nhà hộ sinh bằng ô tô từ hôm trước. Chỗ ở của chúng tôi cách nhà hộ sinh tính ra không xa lắm, nhưng các tuyến xe buýt đều không đến được. Tiền Trùng Thư đành phải băng qua mấy làn đường xe buýt song song, cho nên đành phải đi bộ. Buổi sáng anh đến, biết được đã sinh được một con gái, bệnh viện vẫn chưa cho anh và tôi gặp mặt. Lần thứ hai đến, biết tôi đã bị chuốc thuốc mê, vẫn chưa tỉnh. Lần thứ ba đến thì đã gặp được tôi; tôi đã được cởi bỏ lớp khăn nỉ bọc ngoài, nhưng vẫn còn đang mơ màng ngủ, không có sức nói chuyện. Lần thứ tư là sau trà chiều, tôi đã tỉnh táo. Y tá đặc biệt bế đứa bé từ phòng trẻ sơ sinh ra cho bố xem.
Tiền Trùng Thư ngắm đi ngắm lại thật kỹ, ngắm đi ngắm lại thật kỹ, sau đó đắc ý nói: "Đây là con gái của anh, anh rất thích."
Sau khi A Viên lớn lên, tôi đem "lời chào mừng" của bố kể cho con bé nghe, con bé vô cùng cảm kích. Bởi vì lúc đó tôi vốn chưa từng nhìn thấy trẻ sơ sinh mới chào đời, theo sự miêu tả của tôi, con bé vừa xấu vừa kỳ lạ. Tôi biết được Tiền Trùng Thư đây là lần thứ tư đến, đã đi đi lại lại bảy chuyến rồi, sợ anh mệt lả đi, bèn dặn anh đi ô tô về vậy.
Đến khi A Viên hiểu chuyện, hễ đến sinh nhật, Tiền Trùng Thư thế nào cũng nói, đây là ngày mẹ chịu nạn. Nhưng cũng khổ cho bố rồi, cũng khổ cho chính bản thân con bé nữa. Con bé là từ cõi chết sống lại. Con bé có lẽ rất không cam lòng, khóc to đặc biệt. Các y tá vì tiếng khóc của con bé vang dội, bèn gọi con bé là Miss Sing High, dịch nghĩa là "Cô gái hát cao", dịch âm là "Cô gái Tinh Hải".
Phòng đơn nằm ở lầu trên. Nếu thời tiết quang đãng tươi đẹp, y tá mở cửa sổ lớn sát sàn, kéo chiếc giường bệnh ra ban lôns. Tôi thỉnh thoảng từng nhìn thấy hai ba bệnh nhân phòng bên cạnh. Ước chừng phòng đơn của toàn bệnh viện chỉ khoảng sáu bảy hoặc bảy tám phòng. Y tá chăm sóc chu đáo. Phòng ngủ của tôi chính là phòng ăn của A Viên, mỗi ngày y tá đều đúng giờ bế đứa bé đến bú sữa tôi, bú no rồi lại bế về phòng trẻ sơ sinh. Nơi đó có người chuyên trách trông coi, người không mặc áo blouse trắng tuyệt đối không được phép vào trong.
Những người ở phòng đơn thông thường ở một tuần hoặc mười ngày đổ lại, người ở phòng bệnh thông thường chỉ ở năm đến bảy ngày, thế mà tôi lại ở tới ba tuần liền hai ngày. Viện phí của nhà hộ sinh là một guinea một ngày (guinea ——— tương đương 1.05 bảng Anh, các cửa hàng mua bán dùng "bảng" để tính, nhưng phí hướng dẫn viên, phí bác sĩ, phí luật sư v.v. đều dùng "guinea"), giường bệnh của nhà hộ sinh có hạn, phòng đơn cũng không nhiều, không hoan nghênh ở lâu. Tôi mấy lần sắp xuất viện lại sinh chuyện ngoài ý muốn, nhà hộ sinh phá lệ cho tôi làm một bệnh nhân rất đặc biệt.
Hai ngày trước khi xuất viện, y tá cho tôi ngồi thang máy xuống lầu tham quan phòng bệnh thông thường — một căn phòng lớn chung, ba mươi hai bà mẹ, ba mươi ba đứa trẻ, một cặp là sinh đôi. Y tá cho tôi xem từng đứa trẻ một lột sạch quần áo lên cân, từng đứa một tắm rửa sạch sẽ rồi lại trả về cho các bà mẹ. Các đứa trẻ đều nằm trong nôi mây, treo ở cuối giường của các bà mẹ. Tôi rất ngưỡng mộ mấy đứa trẻ được treo ở cuối giường, bởi vì tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng khóc của A Viên, lại không nhìn thấy con bé. Y tá dạy tôi cách tắm rửa mặc quần áo cho đứa trẻ. Tôi đã học được, chỉ là làm không nhanh bằng bọn họ.
Tiền Trùng Thư khoảng thời gian này chỉ sống một mình một thân một mình, mỗi ngày đều đến nhà hộ sinh thăm nom, thường hay nhăn mặt nói: "Anh làm chuyện xấu rồi." Anh đánh đổ bình mực, làm chiếc khăn trải bàn của chủ nhà nhuốm bẩn. Tôi nói: "Không sao đâu, em sẽ giặt."
"Mực đấy!" "Mực thì cũng giặt được."
Anh liền yên tâm quay về. Sau đó anh lại làm chuyện xấu nữa, làm vỡ chiếc đèn bàn. Tôi hỏi rõ đó là loại đèn gì, tôi nói: "Không sao đâu, em sẽ sửa." Anh lại yên tâm quay về.
Tôi nói "không sao", anh thật sự liền yên tâm. Bởi vì anh rất tin tưởng câu "không sao" của tôi. Lúc chúng tôi "thám hiểm" ở London, trên gò má anh mọc một cái nhọt. Tôi cũng rất lo lắng. Có người giới thiệu một nữ y tá người Anh, cô ấy dạy tôi cách chườm nóng. Tôi an ủi Tiền Trùng Thư rằng: "Không sao đâu, em sẽ chữa cho anh." Tôi nghiêm túc cứ cách mấy tiếng lại chườm nóng cho anh một lần, chẳng mấy ngày, tôi đã nặn được mủ ra, trên mặt không để lại một chút vết sẹo nào. Anh sau khi cảm kích khôn nguôi, đối với câu "không sao đâu" của tôi liền tin tưởng không chút nghi ngờ. Những "chuyện xấu" các loại mà anh làm lúc tôi ở nhà hộ sinh, sau khi tôi về nhà, quả thực đều sửa xong hết.
Tiền Trùng Thư gọi ô tô đón vợ con xuất viện, trở về chỗ ở. Anh hầm canh gà, còn bóc những hạt đậu tằm non xanh biếc, nấu trong canh, múc ra bát, dâng cho tôi ăn. Người nhà họ Tiền mà biết được "Đại A Quan" của họ có thể chăm sóc sản phụ thế này, không biết sẽ kinh ngạc đến nhường nào.
Tiền Trùng Thư thuận lợi vượt qua kỳ thi vấn đáp luận văn. Một học sinh học bổng Quỹ Phấn hoa học ở Oxford cùng khóa, sau khi thi vấn đáp đã rất đắc ý nói với Tiền Trùng Thư rằng: "Các giám khảo chỉ hỏi một câu duy nhất, sau đó thì không có ai hỏi gì nữa." Nào ngờ luận văn của anh ta vẫn cần phải viết lại. Người bạn Anh cùng học viện của Tiền Trùng Thư, kỳ thi vấn đáp luận văn không thể qua được, thế là không lấy được học vị. Tiền Trùng Thư nhận về một tấm văn bằng Cử nhân Văn học.