Căn hộ ở Tam Lý Hà từng là nhà của chúng tôi, bởi vì có ba người chúng tôi. Ba người chúng tôi thất lạc, nhà liền không còn nữa. Chỉ còn lại một mình tôi, lại là một người già, giống như vị lữ khách mệt mỏi ở chốn cùng đồ lúc hoàng hôn; ngóng nhìn quanh quẩn, sao có thể không cảm thán rằng "đời người như mộng", "như mộng huyễn bọt bóng"?
Nhưng, dù nói vậy, tôi lại cảm thấy cuộc đời này của mình không hề trống rỗng; tôi sống rất trọn vẹn, lại rất thú vị, bởi vì có ba người chúng tôi. Cũng có thể nói: Ba người chúng tôi đều không uổng phí kiếp này, bởi vì chính là ba người chúng tôi.
"Ba người chúng tôi" kỳ thực chỉ là bình thường hơn hết thảy. Nhà ai mà không có vợ chồng con cái chứ? Ít nhất cũng có hai vợ chồng, thêm con cái vào, liền thành ba người, bốn người hoặc năm người không chừng. Chỉ là mỗi nhà mỗi vẻ mà thôi.
Cái nhà này của chúng tôi rất giản dị; ba con người chúng tôi rất đơn thuần. Chúng tôi không cầu gì với đời, không tranh gì với người, chỉ cầu được quây quần bên nhau, nương tựa vào nhau, mỗi người làm những việc trong khả năng của mình. Gặp phải khó khăn, Tiền Trung Thư luôn cùng tôi gánh vác, khó khăn liền không còn là khó khăn nữa; lại có A Viên bầu bạn giúp sức, bất kể là chuyện cay đắng gian khổ thế nào, cũng đều có thể trở nên ngọt ngào. Chúng tôi chỉ có một chút niềm vui thôi, cũng sẽ trở thành vô cùng vui vẻ. Cho nên ba người chúng tôi là một cuộc hội ngộ bất thường.
Bây giờ ba người chúng tôi đã thất lạc. Chuyện qua không thể giữ, người đi không thể đuổi, cái người là tôi đây còn lại, tuyệt đối không thể tìm lại họ được nữa. Tôi chỉ có thể đem những năm tháng chúng tôi sống cùng nhau ôn lại một lần, cùng họ tụ họp lại lần nữa.
(Một)
Tháng bảy năm 1935, Trung Thư chưa tròn hai mươi lăm tuổi, tôi kém hai mươi bốn tuổi mấy ngày, chúng tôi kết hôn rồi cùng đến Oxford, nước Anh du học. Chúng tôi rời nhà đi xa, không còn nằm dưới sự che chở của cha mẹ nữa, đều có chút nơm nớp lo sợ; nhưng có hai người làm bạn, có thể nương tựa vào nhau mà sống.
Trung Thư thường tự thở dài mình "tay chân vụng về". Tôi chỉ biết anh ấy không biết thắt nơ bướm, không phân biệt nổi chân trái chân phải, cầm đũa chỉ biết nắm trọn lại như trẻ con. Tôi hoàn toàn không biết ở những phương diện khác anh ấy ngốc nghếch thế nào, vụng về ra sao.
Anh ấy vừa đến Oxford, liền hôn lấy mặt đất Oxford, gãy mất hơn nửa cái răng cửa. Anh ấy đi ra ngoài một mình, lúc xuống xe buýt đứng chưa vững thì xe đã chạy. Anh ấy ngã sấp mặt một cú rất đau. Hồi đó chúng tôi trọ ở nhà họ Kim. Cùng dãy nhà trọ ngoài vợ chồng chúng tôi ra, còn có hai vị khách trọ ở phòng đơn, một họ Lâm, một họ Tôn, đều là chuyên gia y học đến Oxford tham quan. Trung Thư bị ngã, tự mình lại đi về, dùng chiếc khăn tay lớn che miệng. Khăn tay toàn là máu tươi, giũ khăn tay ra, rơi ra nửa chiếc răng gãy, đầy miệng máu tươi. Tôi lo lắng không biết làm sao để nối lại chiếc răng gãy. May mà những người ở trọ cùng đều là bác sĩ. Họ bảo tôi đi cùng Trung Thư nhanh chóng tìm nha sĩ, nhổ chiếc răng gãy đi, rồi sau đó làm răng giả.
Khai giảng mùa thu của Đại học Oxford là vào khoảng tháng mười. Lúc đó vẫn chưa khai giảng. Sau khi xuống thuyền, chúng tôi từng đi tham quan và ở lại ngắn ngày tại Luân Đôn, chưa đợi học kỳ bắt đầu đã đến Oxford. Phía chính quyền đã sắp xếp ổn thỏa cho Trung Thư vào học tại Exeter College, chuyên ngành văn học sĩ. Tôi đang liên hệ chuyện nhập học. Tôi dự định vào học viện dành cho nữ sinh không có ký túc xá, nhưng chỉ tiêu chuyên ngành văn học ở đó đã đầy, muốn nhập học thì chỉ có thể học lịch sử. Tôi không muốn.
Tôi từng không chút do dự từ bỏ học bổng của Học viện Nữ sinh Wellesley ở Mỹ, bởi vì học bổng chỉ cung cấp học phí. Hiệu trưởng trường cũ của tôi cho rằng tôi ngốc, không dám tranh thủ với cha. Kỳ thực cha tôi từ sớm đã hứa với tôi rồi. Tôi chỉ xót cha gánh nặng đường xa, ông đã già rồi, tôi không nỡ làm tăng thêm gánh nặng cho ông. Tôi trông mong thi đậu vào Viện Nghiên cứu Thanh Hoa, có thể nhận học bổng công phí ra nước ngoài. Tôi vậy mà thi đậu. Thế nhưng chủ nhiệm khoa của chúng tôi lúc đó thiên vị kịch nghệ. Nghiên cứu sinh khoa Ngoại văn không một ai chuyên về kịch cả. Ông ấy nói nghiên cứu sinh khoa Ngoại văn Thanh Hoa đều vô tích sự, khoa Ngoại văn không đặt chỉ tiêu công phí ra nước ngoài du học. Kỳ thực, Triệu Lô Nhuế cao hơn tôi một khóa và tôi đều là học sinh ưu tú nhận được học bổng; mà trong số học sinh công phí do Thanh Hoa phái cử ra nước ngoài, có hai người từng học chung với tôi ở Đại học Tô Châu, thành tích học tập của tôi ít nhất cũng không thua kém họ, tôi là người nhận được giải thưởng chìa khóa vàng Tô Châu. Riêng tôi lại vô tích sự ư? Tôi thầm nghĩ: Giả sử tôi học hệ chính quy khoa Ngoại văn Thanh Hoa, giả sử tôi chọn học lớp kịch nghệ, biết đâu tôi cũng có thể viết ra một kịch bản nhỏ, biết đâu chủ nhiệm khoa sẽ coi tôi là đối tượng bồi dưỡng rồi. Nhưng hứng thú của tôi không nằm ở kịch nghệ mà là tiểu thuyết. Hồi đó tôi còn nhỏ, không hiểu tạo hóa trêu ngươi, chỉ cảm thấy rất không phục. Đã không có duyên với suất công phí du học, tôi liền cùng Trung Thư ra nước ngoài. Nhờ chút ánh sáng của anh ấy, có thể tiết kiệm được ít tiền sinh hoạt phí.
Nhưng học phí ở Oxford đã đắt đỏ hơn các trường thông thường, còn phải nộp thêm phí người hướng dẫn, phí thuê nhà và ăn uống cũng cao hơn. Giả sử tôi đến nơi khác đi học, hai người ở riêng, liền phải chi tiêu ở hai nơi, cộng thêm phí đi lại, tính ra không hề hời. Trung Thư bị gãy răng cửa là chuyện ngoài ý muốn; nhưng những tai nạn bất ngờ loại này, cũng nên đặt vào trong dự toán. Tính toán như thế, tiền công phí của anh ấy chẳng còn mấy để tôi có thể thơm lây. Vỡ lở ra nếu tôi cũng có nhu cầu ngoài ý muốn, tôi phải làm sao đây? Cha tôi đã mắc bệnh cao huyết áp rồi. Hồi đó không có thuốc hạ huyết áp. Tôi rời xa cha mẹ, trong lòng đã vô cùng hổ thẹn, tôi sao nỡ lòng nào lại ngửa tay xin tiền họ nữa? Tôi đành phải chịu kém một bậc, chỉ đành an phận làm một thính giả, nghe mấy môn học, đến thư viện đại học tự học.
Nhà họ Kim cung cấp bốn bữa một ngày — bữa sáng, bữa trưa, trà chiều và bữa tối. Chúng tôi ở một phòng ngủ đôi kiêm phòng khách, cửa sổ hướng ra vườn, mỗi ngày đều được vợ con nhà họ Kim dọn dẹp. Tôi vốn không phải là học sinh chính thức, nên không có bài vở, toàn bộ thời gian đều có thể do mình tùy ý chi phối. Tôi chưa từng tận hưởng tự do thế này bao giờ. Lúc học đại học ở Tô Châu, thời gian rỗi tôi thường tìm kiếm trong thư viện, muốn bước vào lĩnh vực văn học mà không tìm được lối vào. Sau khi thi đậu vào Thanh Hoa, lại càng cảm thấy bản thân nợ rất nhiều môn học văn học, không kịp bổ túc. Lần này, ở thư viện Đại học Oxford, đầy phòng đầy kệ đều là những tác phẩm kinh điển văn học, tôi vừa hay có thể thong thả tự tại bổ túc cho thật tốt.
Thư viện hướng ra cửa sổ có một dãy bàn đọc sách đơn, tôi có thể chiếm một cái bàn. Sách trên kệ, tôi có thể tự mình lấy. Sách đọc chưa xong có thể để lại trên bàn. Học sinh đọc sách ở đó đếm trên đầu ngón tay, môi trường vô cùng yên tĩnh. Tôi tự đặt thời khóa biểu cho mình, từng cuốn từng cuốn đọc tỉ mỉ từ đầu đến cuối. Có thể đọc sách thế này, còn có gì mà không thỏa mãn nữa chứ?
Sau khi học kỳ bắt đầu, Trung Thư nhận được một chiếc áo lê vải đen, sau lưng có hai dải vải đen phấp phới. Anh ấy là học sinh học bổng quỹ Boxer của nước ta, ở Oxford lại là học sinh tự phí, học sinh nam nữ tự phí, đều mặc loại áo lê vải đen này. Học sinh nam có một chiếc mũ đỉnh vuông cứng, nhưng không ai đội cả. Học sinh nhận học bổng thì mặc áo choàng. Học sinh nữ đều đội mũ đỉnh vuông mềm. Tôi nhìn thấy khắp đường đều là người mặc trang phục học sinh, dường như có tâm trạng tự ti của đứa trẻ thất học, chỉ hâm mộ chiếc áo lê vải đen mà người ta có còn tôi thì không có phần.
Các lớp học lớn của Đại học Oxford, lớp học nằm ở tòa nhà đại học; lớp học thuộc học viện của Trung Thư, phòng học mượn phòng ăn của học viện, đều có rất nhiều học sinh dự thính. Những lớp tôi học, Trung Thư đều không học. Anh ấy có những môn bắt buộc của mình. Nặng nhọc nhất của anh ấy là những buổi học một đối một với người hướng dẫn. Tôi một mình mặc sườn xám đi học, thường xuyên cùng hai ba nữ tu ngồi ở ghế dự thính bên cạnh phòng học, trong lòng đầy ắp cảm giác tự ti.
Trung Thư nói tôi được phúc mà không biết. Anh ấy bảo tôi xem những môn học bắt buộc của anh ấy. Tôi xem xong, tự thấy may mắn vì không nằm dưới sự quản giáp của nhà trường. Anh ấy cũng bảo tôi xem đề tài luận văn của hai khóa trước. Điều này cũng khiến tôi tự thấy may mắn vì không phải tốn công sức này. Bất quá, sự huấn luyện nghiêm ngặt là thứ tôi còn thiếu. Còn anh ấy, nếu anh ấy cũng có nhiều thời gian đọc sách tự do như tôi, chắc chắn sẽ có thu hoạch lớn hơn nữa. Dù sao thì hai chúng tôi đều không mấy vừa ý, mà sự thất vọng của anh ấy lại càng lớn hơn.
Oxford có một vị phú ông tên là Spalding. Nghe nói ông ấy sẽ thiết lập một chức vụ giáo sư Hán học cho Đại học Oxford. Em trai ông ấy là K.J.Spalding là một nhà Hán học, chuyên nghiên cứu triết học Lão Trang Trung Quốc. K.J. là nghiên cứu viên thường trú tại một học viện nào đó của Oxford. Phú ông mời vợ chồng chúng tôi đến nhà ông ấy uống trà, khuyên Trung Thư từ bỏ học bổng của Trung Quốc, chuyển ngành sang học triết học, làm trợ lý cho em trai ông ấy. Trong giọng điệu của ông ấy, học bổng của Trung Quốc chẳng đáng là bao. Trung Thư lập tức từ chối đề nghị của ông ấy. Sau đó, chúng tôi và ông ấy vẫn còn qua lại, em trai ông ấy lại càng thường xuyên mời chúng tôi đến căn hộ học viện của ông ấy uống trà, nhân cơ hội này thỉnh giáo rất nhiều vấn đề. Trung Thư đối với việc chuyên tu văn học sĩ tuy không mấy vui vẻ, nhưng từ bỏ học bổng của đất nước mình mà nương tựa vào phú ông nước ngoài thì quyết định không làm.
Học sinh Đại học Oxford, phần lớn là con nhà giàu vừa tốt nghiệp trường trung học quý tộc, thời gian khai giảng thì ở trong các học viện khác nhau, hễ đến kỳ nghỉ là tản mác đi du lịch khắp nơi. Chế độ học tập của Oxford mỗi năm tổng cộng có ba học kỳ, mỗi học kỳ tám tuần, sau đó nghỉ sáu tuần. Cứ ba học kỳ lại là kỳ nghỉ hè kéo dài hơn ba tháng. Thi cử không nằm ở cuối học kỳ mà nằm trước khi tốt nghiệp, tức là từ hai đến bốn năm sau khi nhập học. Học sinh trẻ tuổi phần lớn nước đến chân mới nhảy, bình thường không coi việc học ra gì. Bọn họ tối đến thích tụ tập trong quán rượu uống nước, sau khi say rượu thì nghịch ngợm quậy phá, phạm quy định của nhà trường là chuyện thường xuyên. Cho nên trong học viện mà Trung Thư thuộc về, mỗi học sinh có hai người hướng dẫn: một là người hướng dẫn học tập, hai là người hướng dẫn phẩm hạnh. Nếu học sinh quậy phá quá trớn bị bắt giam, sẽ do người hướng dẫn phẩm hạnh bảo lãnh. Người hướng dẫn phẩm hạnh của Trung Thư chẳng qua chỉ thường xuyên mời vợ chồng chúng tôi uống trà mà thôi.
Oxford còn có một quy củ bắt buộc phải tuân theo. Học sinh mỗi tuần phải ăn bốn năm bữa tối tại nhà ăn của học viện thuộc quyền. Ăn cơm, chẳng qua để chứng minh học sinh này ở nội trú. Ăn cơm còn quan trọng hơn đi học. Theo Trung Thư nói, sau khi đạt được học vị văn học sĩ ưu tú, lại ăn cơm thêm hai năm nữa (tức là ở nội trú hai năm, không tính kỳ nghỉ) thì thành thạc sĩ; lại ăn cơm thêm bốn năm nữa, liền thành tiến sĩ.
Lưu học sinh Trung Quốc ở Oxford lúc bấy giờ, đa số là đạt được học bổng hoặc nhận trợ cấp của chính phủ. Họ trong kỳ nghỉ cũng rời khỏi Oxford, đi đây đi đó dạo chơi. Duy chỉ có Trung Thư cho đến tận kỳ nghỉ hè sau ba học kỳ mới rời đi.
Điều này ở chỗ Trung Thư thì không có gì lạ. Anh ấy không thích vận động. Trong nửa năm tôi học nhờ ở Thanh Hoa, đã đi khắp các thắng cảnh Bắc Kinh. Anh ấy ở Thanh Hoa bốn năm, ngay cả Ngọc Tuyền Sơn, Bát Đát Xứ cũng chưa từng đến. Ngày kỷ niệm thành lập trường Thanh Hoa, toàn trường đi chơi Di Hòa Viên. Trung Thư cũng từng đi chơi Di Hòa Viên, anh ấy cũng từng đi chơi Hương Sơn một lần, nơi khác đều chưa từng đi. Cho đến mùa xuân năm 1934, lúc tôi đi học ở Bắc Kinh, anh ấy lên phía bắc thăm tôi, mới do tôi dẫn đi dạo khắp các thắng cảnh Bắc Kinh. Anh ấy từng sáng tác một chùm thơ "Bắc du thi", có câu "Năm nay phá lệ làm chuyến du xuân", nay đã xóa đi chỉ còn lại một bài "Ngọc Tuyền Sơn đồng Giáng" mà thôi.
Kỳ nghỉ của Oxford khá nhiều. Trung Thư đem toàn bộ thời gian của kỳ nghỉ đầu tư vào việc đọc sách. Sách kinh điển của thư viện đại học lấy thế kỷ mười tám làm ranh giới, tác phẩm kinh điển tàng trữ trong thư viện, giới hạn ở thế kỷ mười tám và trước thế kỷ mười tám. Sách kinh điển và sách thông tục thế kỷ mười chín, hai mươi, chỉ có thể đến thư viện thành phố mượn đọc. Sách tàng trữ ở đó phong phú, mượn đọc giới hạn trong vòng hai tuần phải trả lại. Chúng tôi thường chưa đến hai tuần đã chạy một chuyến đến thư viện thành phố. Chúng tôi còn có sách kinh điển Trung Quốc mang từ nhà đi cùng với thơ, từ, thi thoại vân vân, cũng có sách mượn giữa bạn bè hoặc sách được gửi tặng, hiệu sách cũng cho phép đứng trước kệ sách tùy ý đọc, đằng nào cũng không lo không có sách.
Chúng tôi ngày nào cũng ra ngoài đi dạo, chúng tôi thích nói là đi "thám hiểm". Sau bữa sáng, chúng tôi phải ra ngoài tản bộ một chút, để vợ con nhà họ Kim dọn dẹp phòng ốc. Trước bữa tối, việc tản bộ của chúng tôi là tản bộ dưỡng tâm, đi chậm, chơi nhiều. Cả hai kiểu tản bộ đều mang tính chất "thám hiểm", bởi vì chúng tôi luôn chọn những nơi không quen biết mà đi, tùy chỗ đều có phát hiện.
Oxford là một nơi nhỏ bé yên tĩnh, chúng tôi đi qua những con đường lớn, con hẻm nhỏ, trước cửa từng học viện cũng như công viên, vùng ngoại ô, nhà thờ, khu phố sầm uất, đi từng nơi từng nơi, cũng ghé qua các cửa hàng. Chúng tôi nhìn thấy những ngôi nhà kiểu dáng khác nhau ở các khu vực, có thể đoán xem đang ở loại gia đình nào; nhìn những hạng người trong dòng người náo nhiệt ở khu phố sầm uất, có thể đoán thân phận của mỗi người, và kết hợp với những nhân vật đọc được trên sách.
Oxford đậm đà tình người. Người đưa thư giữa đường gặp chúng tôi, liền giao thư nhà cho chúng tôi. Lễ tân nhỏ tuổi đứng ngay bên cạnh, rất lịch sự xin tem Trung Quốc từ chúng tôi. Cảnh sát cao lớn, đeo găng tay trắng, chập tối thong thả đi dọc đường, đi đẩy từng cánh cửa lớn của các gia đình xem đã đóng kỹ chưa; quả thực có nhà chưa đóng kỹ cửa, cảnh sát sẽ lịch sự cảnh cáo. Chúng tôi trở về căn hộ nhà họ Kim, liền kéo rèm cửa lại, đối diện nhau đọc sách.
Thời gian khai giảng, chúng tôi có thêm chút hoạt động xã giao. Qua lại phổ biến nhất giữa các bạn học là mời trà chiều. Thầy cô luôn mời trà chiều ở nhà họ, bạn học thì mời ở ký túc xá trong học viện. Họ dạy Trung Thư và tôi cách pha trà thế nào. Đầu tiên làm ấm ấm ấm trà trước, mỗi người một thìa đầy lá trà: bạn một thìa, tôi một thìa, anh ấy một thìa, cũng cho vào ấm trà một thìa đầy. Bốn người uống trà dùng năm thìa lá trà, ba người dùng bốn thìa. Nước sôi có thể châm thêm hết lần này đến lần khác, trà lúc nào cũng đủ đậm.
Trung Thư trong thời gian đi học ở Oxford, chỉ mặc lễ phục một lần. Bởi vì phải đến khách sạn Saint George dự tiệc. Chủ nhà là C.D.LeGrosClark. Ông ấy năm 1935 từng xuất bản một cuốn sách nhỏ "Tô Đông Po phú", mời Trung Thư viết lời tựa. Ông ấy hay tin Tiền Trung Thư ở Oxford, đặc biệt cùng phu nhân từ Paris vội vã đến Oxford để hội ngộ, mời vợ chồng chúng tôi ăn tối.
Tôi nhìn xuống từ cửa sổ lầu trên, nhìn thấy trước cửa khách sạn đỗ một chiếc xe ô tô lớn màu đen. Có người kéo cửa xe ra, trên xe bước xuống một người phụ nữ phương Đông vóc người nhỏ nhắn. Phu nhân LeGrosClark nói cho tôi biết: Cô ấy chính là con gái của đại vương dầu cù là Hồ Văn Hổ. LeGrosClark từng giữ chức quan cao cấp tại phủ tổng đốc Borneo, cho nên mới nhận ra. Cô Hồ này cũng đang đi học ở Oxford. Chúng tôi chỉ nghe thoáng qua chuyện cô ấy bị mất trộm kim cương. Lần này có duyên được nhìn ngắm thoáng qua. Lúc bấy giờ học sinh Trung Quốc có chị em Vu Đại Trinh, Vu Đại, Hướng Đạt, Dương Nhân v.v. Khách quen của nhà chúng tôi là Hướng Đạt. Anh ấy ở Luân Đôn sao chép bản Đôn Hoàng, lại đến thư viện Đại học Oxford biên soạn mục lục sách chữ Trung. Anh ấy vì chi phí sinh hoạt ở Oxford đắt đỏ, cho nên ở nhờ nhà mục sư Hughes (E.Hughes). Trong số bạn học còn có Dương Hiến Ích, tuổi anh ấy nhỏ, mọi người gọi là Tiểu Dương.
Trung Thư cũng thích chơi đùa, không phải là du sơn ngoạn thủy, mà là trò chơi chữ nghĩa. Miệng toàn những lời nói đùa bậy bợm, còn tiện miệng chế ra thơ khôi hài vớ vẩn. Anh ấy từng có một bài thơ dài trào phúng tặng Hướng Đạt. Hai câu đầu miêu tả Hướng Đạt "vẻ ngoài chết đường (still), nội tâm sinh môn (sentimental)" — toàn bài thơ đều là lời nói nhảm, hai bọn họ đều cười đến ngả nghiêng. Hướng Đạt nói Trung Thư: "Người ta miệng ngọt dao găm, cậu lại là miệng dao găm lòng ngọt." Người có thể chơi đùa ngang hàng với Trung Thư không nhiều, người không hợp tính sẽ chê Trung Thư cay nghiệt. Chúng tôi giữ khoảng cách với những người không hợp tính, lại có vẻ như kiêu ngạo rồi. Chúng tôi còn trẻ không rành sự đời, nhưng kẻ rành sự đời nhất, giỏi đối nhân xử thế nhất cũng lại vấp phải điều tiếng. Trung Thư và tôi liền dùng điều này để tự giải khuây.