Cùng lúc chiếc tàu hơi nước khuất sau mũi Margeu, một du khách thuê xe bưu điện trên con đường từ Florence đi Roma vừa vượt qua thị trấn nhỏ Aquapendente. Ông ta đi đủ nhanh để vượt qua một chặng đường dài mà không gây chút nghi ngờ nào. Vị du khách này mặc một chiếc áo khoác dài, hay đúng hơn là áo surtout, hơi sờn cũ vì chặng đường dài, nhưng vẫn còn gắn chiếc huy chương Bắc Đẩu Bội Sang tươi tắn và rực rỡ, một thứ tước hiệu cũng trang hoàng cả chiếc áo bên trong. Người ta có thể nhận ra ông, không chỉ qua những dấu hiệu ấy, mà còn qua giọng điệu khi ông trò chuyện với phu xe, rằng ông là người Pháp.
Một bằng chứng nữa cho thấy ông là công dân của thế giới chính là việc ông không biết từ tiếng Ý nào ngoài các thuật ngữ âm nhạc, và cũng giống như câu “goddam” của Figaro, chúng đáp ứng mọi nhu cầu ngôn ngữ có thể có. “Allegro!” ông thét lên với mấy người đánh xe ở mỗi khúc lên dốc. “Moderato!” ông kêu lên khi xe xuống dốc. Và chúa mới biết có bao nhiêu ngọn đồi giữa Roma và Florence theo ngả Aquapendente! Hai từ này khiến những kẻ được nghe vô cùng thích thú. Khi đến La Storta, nơi đầu tiên nhìn thấy Roma, vị du khách chẳng hề tỏ chút tò mò nhiệt thành nào vốn thường khiến người lạ đứng bật dậy và cố gắng bắt trọn tầm nhìn về mái vòm nhà thờ Thánh Phêrô, thứ có thể nhìn thấy từ rất xa trước khi bất kỳ vật gì khác hiện rõ. Không, ông ta chỉ đơn giản rút một cuốn sổ tay từ túi áo, lấy ra một tờ giấy gấp tư, và sau khi săm soi nó với thái độ gần như tôn kính, ông lầm bầm:
“Tốt lắm! Ta vẫn còn giữ nó!”

Chiếc xe ngựa tiến vào qua Porta del Popolo, rẽ trái và dừng lại trước khách sạn Hôtel d’Espagne. Lão Pastrini, người quen cũ của chúng ta, đứng chờ vị du khách ở cửa với chiếc mũ cầm tay. Khách bước xuống, gọi một bữa ăn thịnh soạn và dò hỏi địa chỉ hãng Thomson & French. Địa chỉ được cung cấp ngay lập tức, vì đó là một trong những hãng danh tiếng nhất ở Roma, tọa lạc tại Via dei Banchi, gần nhà thờ Thánh Phêrô.
Ở Roma cũng như bất cứ đâu, sự xuất hiện của một chiếc xe búa là cả một sự kiện. Mười hậu duệ của Marius và Gracchi, chân trần và cùi chỏ rách rưới, một tay chống hông, tay kia uốn cong duy dáng trên đầu, trân trân nhìn vị du khách, chiếc xe và bầy ngựa; nhập cục với họ là khoảng năm mươi tên du thủ du thực từ Lãnh địa Giáo hoàng, những kẻ kiếm chút tiền chè nước bằng cách nhảyỏm xuống sông Tiber từ cầu Thánh Angelo mỗi khi nước triều lên. Nay thì, đám nhóc đường phố Roma này, may mắn hơn lũ ở Paris, hiểu được mọi thứ tiếng, nhất là tiếng Pháp, nên chúng đã nghe thấy vị du khách gọi phòng, gọi món ăn, và cuối cùng là dò đường tới hãng Thomson & French.
Kết quả là khi người mới đến rời khách sạn cùng tay hướng dẫn viên du lịch, một kẻ đã tách ra khỏi đám đông nhàn rỗi, không để vị du khách trông thấy và có vẻ như chẳng thu hút chút chú ý nào từ người dẫn đường, liền bám theo người lạ với sự ranh mãnh chẳng kém gì một thám tử cảnh sát Paris.
Gã người Pháp đã quá sốt sắng đến hãng Thomson & French nên không chịu đợi đóng yên cương cho ngựa, mà dặn trước rằng xe ngựa sẽ đuổi theo ông dọc đường hoặc đợi ông ở cửa ngân hàng. Ông đến nơi trước cả khi xe tới. Gã người Pháp bước vào, để lại tay hướng dẫn viên ở phòng ngoài; kẻ này lập tức bắt chuyện với hai hoặc ba gã vô công rỗi nghề thường la cà ở cửa các ngân hàng, nhà thờ, viện bảo tàng hoặc nhà hát tại Roma. Cùng lúc gã người Pháp bước vào, kẻ bám theo hắn cũng theo chân; gã người Pháp gõ cửa trong và bước vào căn phòng đầu tiên; cái bóng của hắn cũng làm y như vậy.
“Thưa có phải ngân hàng Thomson & French không?” vị khách hỏi.
Một nhân viên đứng dậy theo hiệu lệnh của một thư ký thân tín ở chiếc bàn làm việc đầu tiên.
“Tôi xin xưng tên ai đây ạ?” nhân viên nọ hỏi.
“Nam tước Danglars.”
“Xin mời theo tôi,” người nọ nói.
Một cánh cửa mở ra, nhân viên phục vụ và vị nam tước biến mất sau đó. Gã bám theo Danglars ngồi xuống một chiếc ghế dài. Người nhân viên tiếp tục viết trong năm phút tiếp theo; gã đàn ông giữ im lặng tuyệt đối và ngồi bất động. Rồi ngòi bút của viên thư ký ngừng lướt trên giấy; hắn ngẩng đầu lên, và có vẻ hoàn toàn chắc chắn về sự riêng tư:
“Á ha,” hắn nói, “anh đây rồi, Peppino!”
“Đúng vậy,” câu trả lời ngắn gọn vang lên. “Anh đã phát hiện ra gã đại gia này có món gì béo bở lắm phải không?”
“Chẳng có công trạng gì lớn lao cho cam, vì chúng ta đã được báo tin trước mà.”
“Thế anh biết rõ mục đích hắn đến đây chứ.”
“Đương nhiên, hắn đến để rút tiền, nhưng tôi chưa rõ là bao nhiêu!”
“Lát nữa anh sẽ biết thôi, bạn tôi ạ.”
“Rất tiếc, chỉ xin anh đừng đưa tin vịt như hôm nọ nhé.”
“Ý anh là sao?—anh đang nói ai thế? Có phải gã người Anh đã hốt ba nghìn vương miện ở đây hôm trước không?”

“Không; gã đó thực sự có ba nghìn vương miện, và chúng ta đã thu hồi được. Ý tôi là vị hoàng thân người Nga cơ, người mà anh bảo có ba mươi nghìn livres, thế mà chúng ta chỉ kiếm được hai mươi hai nghìn.”
“Chắc là các anh lục soát không kỹ rồi.”
“Chính tay Luigi Vampa lục soát đấy nhé.”
“Nếu vậy thì hoặc là hắn đã trả nợ——”
“Một quý tộc Nga mà lại làm thế á?”
“Hoặc là đã tiêu xài hết?”
“Cũng có thể lắm chứ.”
“Chắc chắn rồi. Nhưng anh phải để tôi làm nhiệm vụ quan sát chứ, kẻo gã người Pháp giao dịch xong xuôi mà tôi vẫn mù tịt về con số thì sao.”
Peppino gật đầu, rút chuỗi hạt mân côi trong túi ra lẩm bẩm vài câu cầu nguyện trong lúc viên thư ký biến mất qua cánh cửa mà Danglars và nhân viên phục vụ vừa đi qua. Mười phút sau, viên thư ký trở lại với vẻ mặt rạng rỡ.
“Sao thế?” Peppino hỏi bạn mình.
“Vui đây, vui đây—số tiền lớn lắm!”
“Năm hay sáu triệu chứ chẳng chơi nhỉ?”
“Đúng thế, anh rõ số tiền quá nhỉ.”
“Dựa theo biên nhận của Bá tước xứ Monte Cristo chứ gì?”
“Ơ hay, sao mà anh rành mạch mọi chuyện thế này hả?”
“Đã bảo là chúng ta được báo trước từ trước rồi cơ mà.”
“Thế sao còn phải hỏi tôi làm gì?”
“Để chắc chắn rằng tôi không bắt nhầm con mồi.”
“Chuẩn xác, chính là hắn đấy. Năm triệu—một con số kha khá đấy chứ, hả Peppino?”
“Suỵt—chủ nhân của chúng ta ra kìa!” Viên thư ký vồ lấy bút, còn Peppino cầm lấy chuỗi hạt; một người cắm cúi viết còn kẻ kia lẩm bẩm cầu nguyện khi cánh cửa mở ra. Danglars trông vô cùng rạng rỡ; viên chủ ngân hàng tiễn hắn ra tận cửa. Peppino bám theo Danglars.
Đúng như thỏa thuận, chiếc xe ngựa đang đợi sẵn ở cửa. Hướng dẫn viên giữ mở cửa xe. Hướng dẫn viên vốn là những kẻ tháo vát, việc gì cũng làm được. Danglars nhảy tót lên xe nhanh nhẹn như một thanh niên tuổi đôi mươi. Cục diện viên đóng sập cửa lại, rồi tung người ngồi lên ghế cạnh người đánh xe. Peppino leo lên chiếc ghế phía sau.
“Đại nhân có muốn ghé thăm nhà thờ Thánh Phêrô không ạ?” hướng dẫn viên cất lời.
“Tôi đến Roma không phải để ngắm cảnh,” Danglars nói lớn; đoạn hắn lẩm bẩm bằng giọng nhỏ nhẹ với nụ cười tham lam, “Tôi đến để sờ tận tay!” và hắn vỗ vỗ vào cuốn sổ tay nơi hắn vừa nhét lá thư vào.
“Vậy xin đại nhân đi——”
“Về khách sạn.”
“Casa Pastrini!” hướng dẫn viên ra lệnh cho người đánh xe, chiếc xe lập tức lao đi vùn vụt.

Mười phút sau, vị nam tước đã bước vào căn hộ của mình, còn Peppino thì túc trực trên chiếc ghế dài ngoài cửa khách sạn, sau khi thì thầm gì đó vào tai một trong số những hậu duệ của Marius và Gracchi mà chúng ta đã thấy ở đầu chương; gã này liền cắm cổ chạy thục mạng về hướng con đường dẫn đến đồi Capitol. Danglars mệt mỏi và buồn ngủ; thế nên hắn đi ngủ ngay, không quên đặt cuốn sổ tay dưới gối. Peppino còn chút thời gian rỗi nên đã làm vài ván morra với đám khuân vác, thua mất ba đồng vương miện, rồi để an ủi bản thân bènốc cạn một chai rượu Orvieto.
Sáng hôm sau, Danglars thức dậy khá muộn dù đã đi ngủ từ sớm; hắn đã chẳng có nổi một giấc ngủ ngon trong suốt năm sáu đêm nay, nếu như có thể gọi là ngủ được chút nào. Hắn ăn sáng một cách thịnh soạn, và chẳng màng gì đến những thắng cảnh của Thành phố Vĩnh hằng như hắn nói, bèn gọi ngựa bưu điện vào lúc ngọ. Nhưng Danglars đã tính sót sự rườm rà của cảnh sát và sự chây lươn của trạm trưởng trạm bưu điện. Mãi đến hai giờ ngựa mới tới, và đến ba giờ hướng dẫn viên mới mang hộ chiếu đến.
Mọi công tác chuẩn bị ấy đã kéo theo một đám đông nhàn rỗi tụ tập quanh cửa khách sạn của ngài Pastrini; lũ hậu duệ của Marius và Gracchi cũng chẳng vắng mặt. Vị nam tước hiên ngang sải bước qua đám đông, những kẻ vì muốn kiếm chút đỉnh nên đã gọi hắn là “đại nhân”. Từ trước đến nay Danglars vốn chỉ bằng lòng với danh hiệu nam tước, nay nghe gọi là đại nhân thì lấy làm đắc ý lắm, bèn hào phóng phát ra một tá đồng bạc cho đám ăn mày, những kẻ sẵn sàng gọi hắn là “điện hạ” nếu được thêm một tá nữa.
“Đường nào đây ạ?” phu xe hỏi bằng tiếng Ý.
“Đường đi Ancona,” vị nam tước đáp. Ngài Pastrini phiên dịch lại câu hỏi và câu trả lời, và những con ngựa phóng vụt đi.
Danglars dự định đi Venice, nơi hắn sẽ nhận một phần tài sản của mình, rồi tiếp tục tiến về Vienna để nhận phần còn lại, và hắn có ý định định cư tại thành phố sau, nơi mà người ta bảo là chốn ăn chơi thụ hưởng.
Hắn vừa đi được chừng ba hải lý rời khỏi Roma thì trời bắt đầu tối sầm. Danglars vốn không định khởi hành muộn thế này, bằng không hắn đã ở lại; hắn thò đầu ra ngoài và hỏi phu xe mất bao lâu nữa mới tới thị trấn tiếp theo. “Non capisco” (không hiểu), câu trả lời là thế. Danglars gục đầu xuống, ngụ ý là “Được rồi”. Chiếc xe lại chuyển bánh.
“Ta sẽ dừng chân ở trạm bưu điện đầu tiên,” Danglars tự nhủ.
Hắn vẫn cảm thấy sự mãn nguyện y hệt như chiều hôm trước, điều đã mang lại cho hắn một giấc ngủ ngon lành đêm qua. Hắn duỗi người thoải mái trên chiếc xe ngựa kiểu Anh lò xo kép; được kéo bởi bốn con ngựa khỏe đang phi nước đại; hắn biết trạm đổi ngựa tiếp theo cách đây bảy hải lý. Nỗi niềm suy ngẫm nào có thể xuất hiện trong đầu vị chủ ngân hàng vừa phá sản một cách may mắn này cơ chứ?
Danglars dành mười phút nghĩ về người vợ ở Paris; mười phút tiếp theo nghĩ về cô con gái đang đi du lịch cùng tiểu thư d’Armilly; khoảng thời gian tương tự dành cho các chủ nợ và cách hắn định tiêu xài tiền của họ; rồi chẳng còn chủ đề nào để ngẫm nghĩ nữa, hắn nhắm mắt lại và chìm vào giấc ngủ. Thỉnh thoảng một cú xóc mạnh hơn bình thường lại khiến hắn mở mắt ra; lúc ấy hắn cảm thấy mình vẫn đang được chở đi với tốc độ chóng mặt qua cùng một vùng đất, nơi chi chít những tàn tích cống dẫn nước trông giống như những người khổng lồ bằng đá bị hóa đá khi đang chạy đua. Nhưng đêm thì lạnh lẽo, ảm đạm và mưa phùn, và đối với một du khách thì việc ngồi yên trong chiếc xe ấm áp vẫn dễ chịu hơn là thò đầu ra cửa sổ để gặng hỏi một gã phu xe chỉ biết đáp lại độc một câu “Non capisco”.

Thế là Danglars tiếp tục ngủ, tự nhủ rằng thể nào mình cũng tỉnh giấc khi đến trạm đổi ngựa. Chiếc xe dừng lại. Danglars tưởng rằng họ đã đến được đích mong mỏi từ lâu; hắn mở mắt nhìn qua khung cửa sổ, cứ đinh ninh mình đang ở giữa một thị trấn nào đó, hoặc ít ra cũng là một ngôi làng; nhưng hắn chẳng thấy gì ngoài một khung cảnh tựa chừng hoang tàn, nơi có ba bốn bóng người lặng lẽ qua lại như bóng ma.
Danglars chờ đợi một lát, đinh ninh gã phu xe sẽ đến đòi tiền công chặng. Hắn định tranh thủ cơ hội này để dò hỏi thêm người điều khiển mới; nhưng những con ngựa đã được tháo ách và thay bằng đàn ngựa khác mà chẳng có ai đến đòi tiền vị du khách cả. Danglars lấy làm kinh ngạc bèn đẩy cửa bước ra; nhưng một bàn tay lực lưỡng đã đẩy lùi hắn lại, và chiếc xe rùng rùng lăn bánh. Vị nam tước hoàn toàn tỉnh ngủ.
“Ê?” hắn cất giọng hỏi phu xe, “ê, mio caro?”
Đây lại là một từ tiếng Ý nữa mà vị nam tước học lỏm được khi nghe con gái hát các khúc song ca Ý với Cavalcanti. Nhưng mio caro chẳng đáp lại lời nào. Danglars bèn mở tung cửa sổ.
“Này anh bạn,” hắn vừa nói vừa thò tay qua khe cửa, “chúng ta đang đi đâu thế?”
“Dentro la testa!” một giọng nói uy nghiêm và hách dịch vang lên, đi kèm với một cử chỉ đe dọa.
Danglars ngỡ rằng dentro la testa có nghĩa là “Rụt đầu vào!” Trình độ tiếng Ý của hắn tiến bộ thật nhanh chóng. Hắn vâng lời, không khỏi có chút lo lắng, nỗi lo cứ thế lớn dần lên từng phút khiến tâm trí hắn, thay vì trống rỗng như lúc mới lên đường, nay lại lấp đầy những ý nghĩ rất dễ khiến một kẻ lữ hành phải trằn trọc, nhất là kẻ đang ở hoàn cảnh ngặt nghèo như Danglars. Đôi mắt hắn bỗng có được thứ năng lực mà trong giây phút xúc động mạnh mẽ đầu tiên giúp ta nhìn mọi vật rõ mồn một, nhưng rồi sẽ lụi tàn vì bị kiệt sức. Trước khi hoảng sợ, ta nhìn nhận sự việc chính xác; khi hoảng sợ, ta nhìn thành hai; và khi đã hoảng sợ xong xuôi, ta chẳng thấy gì ngoài sự rối rắm. Danglars nhận ra một kẻ khoác áo choàng đang phi ngựa song song bên phải chiếc xe.
“Lại tụi cảnh binh rồi!” hắn kêu lên. “Chẳng lẽ ta đã bị chặn bắt qua những bức điện tín gửi cho nhà nước Tòa thánh hay sao?”
Hắn quyết định chấm dứt nỗi hoang mang này. “Các người đưa ta đi đâu vậy?” hắn hỏi.
“Dentro la testa,” vẫn giọng nói ấy vang lên với giọng điệu đe dọa y hệt.
Danglars quay sang trái; lại một kẻ khác cưỡi ngựa đang phi nước đại ở phía đó.
“Thôi chết đích thị rồi,” Danglars thốt lên, mồ hôi vã ra như tắm trên trán, “ta bị bắt rồi còn gì.” Và hắn ngả người ngã ra phía sau băng ghế xe, lần này không phải để ngủ, mà để suy ngẫm.
Ngay sau đó trăng mọc. Lúc bấy giờ hắn nhìn thấy những máng dẫn nước khổng lồ ấy, những bóng ma bằng đá mà hắn từng chú ý lúc trước, chỉ có điều khi nãy chúng nằm bên phải, còn bây giờ lại ở bên trái. Hắn hiểu ra rằng họ đã đi một vòng tròn và đang đưa hắn trở lại Roma.
“Ối trời ơi, khốn khổ thân tôi!” hắn gào lên, “chắc chắn chúng đã tóm được lệnh bắt giữ ta rồi.”
Chiếc xe vẫn lao đi với tốc độ kinh hoàng. Một tiếng đồng hồ trôi qua trong sợ hãi tột cùng, vì mọi cảnh vật lướt qua đều minh chứng rằng họ đang trên đường quay ngược trở lại. Cuối cùng hắn nhìn thấy một khối đen kịt, trông như thể chiếc xe sắp đâm sầm vào đó; nhưng cỗ xe bỗng rẽ ngoặt sang một bên, bỏ lại chướng ngại vật phía sau và Danglars nhận ra đó là một trong những đoạn thành lũy bao quanh Roma.

“Chúa ơi!” Danglars kêu lên, “chúng ta không quay lại Roma; thế thì không phải công lý đang truy đuổi ta! Lạy Chúa trên trời; lại một ý nghĩ nữa xẹt qua trong đầu—nhỡ bọn chúng là……”
Tóc gáy hắn dựng cả lên. Hắn chợt nhớ lại những câu chuyện kỳ thú mà người ta ít khi tin sái cổ ở Paris, những câu chuyện về băng đảng cướp bóc người Ý; hắn nhớ lại những cuộc phiêu lưu mà Albert de Morcerf từng kể khi có ý định kết duyên cùng tiểu thư Eugénie. “Biết đâu chúng lại là bọn cướp,” hắn lẩm bẩm.
Đúng lúc ấy, chiếc xe lăn bánh trên một bề mặt cứng hơn cả con đường đá dăm. Danglars liều lĩnh liếc mắt nhìn ra cả hai bên đường và nhận ra những di tích có hình thù kỳ lạ, và tâm trí hắn lúc này bỗng gợi lại toàn bộ chi tiết mà Morcerf từng kể, đem so sánh với hoàn cảnh hiện tại của mình, hắn chắc chắn rằng bản thân đang ở trên con đường Appian. Phía bên trái, trong một thứ thung lũng nhỏ, hắn nhận ra một hố đào hình tròn. Đó chính là rạp xiếc Caracalla. Theo một mệnh lệnh cộc lốc từ gã đàn ông cưỡi ngựa sát bên xe, xe dừng lại. Cùng lúc ấy cửa xe được mở tung.
“Scendi!” một giọng ra lệnh vang lên.
Danglars lập tức bước xuống; dù vẫn chưa biết nói tiếng Ý, hắn hiểu thứ tiếng ấy rất rõ. Sợ suýt chết khiếp, hắn đảo mắt nhìn quanh. Bốn tên đàn ông vây quanh hắn, chưa kể gã phu xe.
“Di quà,” một trong số chúng nói, rẽ vào một lối mòn nhỏ dẫn khỏi con đường Appian. Danglars răm rắp tuân theo kẻ dẫn đường chẳng dám phản kháng, và cũng chẳng cần quay đầu lại xem ba tên còn lại có đang theo sau mình hay không. Dù vậy, có vẻ như chúng đứng cách đều nhau một khoảng cách nhất định, hệt như những tên lính gác. Sau khi đi bộ chừng mười phút, khoảng thời gian mà Danglars không thốt nổi một lời nào với kẻ dẫn đường, hắn thấy mình đang đứng giữa một gò đất nhỏ và một bụi cỏ dại rậm rạp; ba gã đàn ông đứng lặng im tạo thành một hình tam giác mà hắn chính là tâm điểm. Hắn muốn cất tiếng nhưng lưỡi cứng đờ không sao động đậy nổi.
“Avanti!” giọng nói sắc lạnh và hách dịch khi nãy lại vang lên.
Lần này Danglars thừa lý do để hiểu, bởi nếu như từ ngữ và cử chỉ vẫn chưa giải thích được ý định của kẻ nói, thì nó lại được thể hiện rõ mồn một bởi gã đi sau lưng hắn, kẻ vừa thô bạo xô đẩy khiến hắn ngã dúi vào người dẫn đường. Hắn chính là người quen Peppino của chúng ta, kẻ đang băng qua bụi cỏ dại rậm rạp theo một lối mòn mà chỉ có loài thằn lằn hoặc chồn hôi mới dám coi là đường đi.

Peppino dừng chân trước một vách đá bị những hàng rào cây xanh che khuất; tảng đá hé mở một phần, nhường lối cho thanh niên nọ, người biến mất hút hệt như những linh hồn ma quái trong truyện cổ tích. Mệnh lệnh kèm cử chỉ từ kẻ đi sau Danglars ra hiệu hắn phải làm y như vậy. Chẳng còn chút nghi ngờ nào nữa, vị thương gia phá sản đã rơi vào tay bọn cướp Roma. Danglars bèn ứng phó như một kẻ kẹt giữa hai hiểm họa, được nỗi sợ hãi tôi luyện cho thêm phần gan góc. Bất chấp cái bụng phệ của mình, thứ vốn dĩ chẳng hề sinh ra để chui rúc qua những khe đá vùng Campagna, hắn vẫn lách người trượt xuống theo Peppino, rồi nhắm tịt mắt lại và đáp thẳng xuống đôi chân mình. Vừa chạm đất, hắn lập tức mở mắt ra.
Lối đi khá rộng nhưng tối mò tối mịt. Peppino, giờ chẳng mòn mỏi lo sợ bị nhận diện nữa khi đã về đến địa bàn của mình, liền bật lửa và châm đuốc. Hai tên khác nối đuôi Danglars đi xuống tạo thành đội hậu quân, cứ thấy hắn khựng lại là lại thúc vào lưng, họ dẫn hắn đi theo một con dốc thoai thoải đến chỗ giao nhau của hai hành lang. Hai bên vách tường khoét rỗng những hốc mộ chồng lên nhau, đối lập với những viên đá trắng như đang mở to đôi mắt tối sấm, hệt như những hốc mắt trên gương mặt người chết. Một tên lính gác đập vòng găm cây súng cac-bin vào tay trái.
“Ai đấy?” hắn thét lên.
“Người mình, người mình đây!” Peppino đáp; “nhưng thủ lĩnh đâu rồi?”
“Đằng kia,” tên lính gác nói, hất hàm chỉ về phía một hầm mộ rộng lớn được khoét sâu vào vách đá, ánh đuốc từ đó hắt ra lối đi qua những khung cửa vòm rộng.
“Mối béo bở đây thủ lĩnh ơi, mối béo bở đây!” Peppino cất giọng Ý rồi túm cổ áo Danglars lôi xềnh xệch đến trước một ô cửa trông giống như cửa ra vào, qua đó họ bước vào căn phòng mà tên thủ lĩnh dường như đã chọn làm chốn sinh cơ.
“Có phải gã này không?” tên thủ lĩnh hỏi, người đang cắm cúi đọc cuốn Đời lịch sử Alexandre của Plutarch.
“Chính hắn, thưa thủ lĩnh—đích thị là hắn rồi.”
“Được lắm, đưa hắn lại đây cho ta xem nào.”
Trước mệnh lệnh có phần sỗ sàng ấy, Peppino giơ ngọn đuốc sát vào mặt Danglars, khiến hắn hoảng hốt lùi phắt lại sợ bị cháy lông mi. Giao diện biến sắc của hắn toát lên vẻ hoảng loạn nhợt nhạt và gớm ghiếc.
“Gã này mệt rồi đấy,” tên thủ lĩnh nói, “dẫn hắn đi nghỉ đi.”
“Ối trời,” Danglars thầm rên rỉ, “cái giường chắc là một trong những cỗ quan tài khoét trên vách tường kia rồi, và giấc ngủ ta sắp thụ hưởng sẽ là cái chết từ một nhát dao găm đang lấp lánh trong bóng tối kia mất.”
Từ những chiếc giường làm bằng lá cây khô hay da sói ở cuối căn phòng lúc bấy giờ mới chồm dậy những kẻ đồng bọn của gã đàn ông từng bị Albert de Morcerf bắt gặp đang đọc Bình luận về chiến tranh Gallia của Caesar, và bị Danglars bắt gặp đang nghiên cứu Cuộc đời Alexandre. Viên chủ ngân hàng rên lên một tiếng rồi răm rắp theo chân người dẫn đường; hắn chẳng hề van xin hay la oai oái. Hắn đã chẳng còn chút sức lực, ý chí, quyền uy hay cảm xúc nào; bảo đi đâu hắn theo đó. Cuối cùng hắn dừng chân dưới chân cầu thang, và máy móc nhấc chân lên năm sáu nhịp. Rồi một cánh cửa thấp lè tè mở ra trước mặt, hắn cúi rạp đầu tránh va trán rồi bước vào một căn phòng nhỏ đẽo gọt từ vách đá. Căn phòng nhỏ sạch sẽ dù trống hoác, và khô ráo dẫu nằm sâu tít mù dưới lòng đất. Một chiếc giường cỏ khô phủ da dê đặt ở một góc phòng. Danglars bừng sáng nét mặt khi nhìn thấy nó, tưởng tượng rằng đó là chút hứa hẹn về sự an toàn.
“Ôi, tạ ơn Chúa,” hắn thốt lên; “đúng là giường thật rồi!”
Đây là lần thứ hai trong vòng một tiếng đồng hồ hắn gọi tên Chúa. Đã mười năm nay hắn chưa từng làm thế.
“Ecco!” người dẫn đường nói, rồi đẩy xô Danglars vào trong buồng và sập cửa lại.
Một tiếng chốt cửa rít lên và Danglars chính thức trở thành tù nhân. Giả dụ như không có cái chốt ấy đi chăng nữa, hắn cũng đời nào vượt qua nổi vòng vây của đám thủ hạ đang trấn giữ hầm mộ thánh Sebastian, đóng quân quanh một người mà độc giả hẳn đã nhận ra chính là tên cướp khét tiếng Luigi Vampa.
Danglars cũng đã nhận ra tên tướng cướp, kẻ mà hắn từng nhất mực không tin có thật khi Albert de Morcerf nhắc đến ở Paris; và không chỉ nhận ra hắn, mà hắn còn nhận ra căn buồng giam giữ Albert trước kia, nơi có lẽ vẫn được giữ lại làm chỗ dung thân cho các vị khách lỡ đường. Những ký ức này được Danglars nghiền ngẫm với chút ít khoan khoái và giúp hắn lấy lại phần nào sự bình tĩnh. Từ chừng bọn cướp không thủ tiêu hắn ngay tức khắc, hắn cảm thấy chúng sẽ chẳng giết hắn đâu. Chúng bắt cóc hắn nhằm tống tiền, và vì hắn chỉ dắt lưng vài đồng louis giắt túi, hắn chẳng mảy may nghi ngờ mình sẽ được chuộc thân.
Hắn nhớ lại việc Morcerf từng bị định giá bốn nghìn vương miện, và vì tự thấy mình quan trọng hơn Morcerf nhiều, hắn bèn tự định giá bản thân lên tới tám nghìn vương miện. Tám nghìn vương miện tương đương bốn mươi tám nghìn livres; khi ấy hắn vẫn còn giắt túi khoảng năm triệu không trăm năm mươi nghìn france. Với số tiền ấy hắn hoàn toàn có thể xoay xở để tránh xa mọi rắc rối. Thế nên, tương đối yên tâm về khả năng tự cứu mình khỏi hoàn cảnh ngặt nghèo, miễn là hắn không bị định cái giá quá vô lý là năm triệu không trăm năm mươi nghìn france, hắn bèn ngả mình lên giường, trở mình hai ba lần rồi chìm vào giấc ngủ với sự bình thản hệt như vị anh hùng mà Luigi Vampa đang nghiên cứu cuộc đời.