Căn hộ ở tầng trệt của ngôi nhà trên phố Rue Saint-Germain-des-Prés, nơi Albert de Morcerf đã chọn làm chốn nương náu cho thân mẫu, được cho một người rất bí ẩn thuê. Đó là một kẻ mà ngay cả người gác cổng cũng chưa từng thấy mặt, bởi vào mùa đông, cằm hắn vùi sâu trong một chiếc khăn choàng đỏ lớn thường được các đánh xe quan lại dùng trong những đêm giá lạnh, còn vào mùa hè, hắn luôn cố tình hắt hơi xì mũi ngay khi đến gần cửa. Trái với lệ thường, vị khách này không hề bị dòm ngó; vì có lời đồn rằng hắn là một nhân bật quyền quý và không dung thứ cho bất kỳ sự soi mói vô lối nào, nên sự ẩn danh của hắn được tôn trọng tuyệt đối.
Các chuyến viếng thăm của hắn khá đều đặn, dẫu thỉnh thoảng hắn đến sớm hoặc muộn hơn giờ quy định đôi chút, nhưng nhìn chung, dù là mùa hè hay mùa đông, hắn đều có mặt ở căn hộ vào khoảng bốn giờ và chưa từng qua đêm ở đó. Vào lúc ba giờ rưỡi mùa đông, lò sưởi được nhóm lên bởi người đầy tớ kín đáo – kẻ chịu trách nhiệm quản lý căn hộ nhỏ này, còn vào mùa hè, những ly kem được đặt lên bàn cũng vào giờ ấy. Đúng bốn giờ, như chúng ta đã biết, nhân vật bí ẩn xuất hiện.
Hai mươi phút sau, một cỗ xe dừng trước cửa, một quý bà bước xuống trong bộ váy đen hoặc xanh sẫm, luôn che múp mặt sau lớp khăn voan dày; bà lướt qua phòng gác như một bóng ma và bước lên lầu nhanh đến mức không một tiếng động nào lọt qua đôi chân nhẹ tựng ấy. Chưa từng có ai hỏi bà đi đâu. Do đó, khuôn mặt bà cũng như vị quý điều kia, hoàn toàn xa lạ với hai vợ chồng người gác cổng vốn có lẽ chẳng ai sánh kịp ở thủ đô về sự kín đáo. Ta khỏi cần nói cũng biết bà dừng chân ở tầng một. Rồi bà gõ cửa theo một nhịp điệu riêng biệt, cánh cửa hé mở để đón bà vào rồi lại cài then ngay lập tức, và sự tò mò chẳng thể thò móng vuốt vào sâu hơn. Họ tuân thủ những nguyên tắc phòng bị hệt như lúc đến khi rời khỏi ngôi nhà. Người quý bà luôn ra đi trước, và vừa khi bà bước lên xe, cỗ xe liền bánh, đôi khi rẽ phải, đôi khi rẽ trái; rồi chừng hai mươi phút sau, người đàn ông kia cũng rời đi, cổ vùi trong chiếc khăn quàng hoặc che khuất sau chiếc khăn tay.
Ngày hôm sau khi Monte Cristo đến thăm Danglars, vị khách trọ bí ẩn đã bước vào lúc mười giờ sáng thay vì bốn giờ chiều. Gần như ngay sau đó, chẳng có khoảng thời gian cách quãng quen thuộc, một chiếc xe thuê trờ tới, và người quý bà che voan vội vã chạy lên lầu. Cánh cửa mở ra, nhưng chưa kịp khép lại, bà đã thốt lên:
“Ôi, Lucien—ôi, bạn của tôi!”
Thế là người gác cổng lần đầu tiên nghe được tên của vị khách trọ là Lucien; dẫu vậy, vốn là một kẻ giữ cửa hoàn hảo đến mức thượng thừa, hắn đinh ninh trong đầu là sẽ giấu tiệt vợ.
“Nào, có chuyện gì thế, mình?” vị đàn ông có tên vừa bị nỗi xúc động của người phụ nữ làm cho lộ tẩy liền cất tiếng hỏi; “hãy nói cho tôi nghe có chuyện gì nào.”
“Ôi, Lucien, em có thể tin tưởng ở anh chứ?”
“Dĩ nhiên rồi, em biết là có thể chứ. Nhưng có chuyện gì thế nhỉ? Bức thư sáng nay của em làm anh hoàn toàn hoang mang. Sự vội vã này—cuộc hẹn bất thường này. Nào, hãy cởi bỏ mối âu lo cho anh, hoặc làm anh sợ chết khiếp luôn đi.”
“Lucien, một sự kiện lớn vừa xảy ra!” người phụ nữ nói, vừa liếc nhìn Lucien đầy dò xét,—“M. Danglars đã rời đi tối qua rồi!”
“Rời đi?—M. Danglars rời đi ư? Ông ta đi đâu?”
“Em không biết.”
“Ý em là sao? Ông ta đi với ý định không quay về nữa à?”
“Chắc chắn là thế;—vào lúc mười giờ đêm, những con ngựa đã đưa ông ta đến cửa ô Charenton; ở đó có một chiếc xe bưu mã đang đợi sẵn—ông ta bước lên xe cùng tên hầu phòng, bảo rằng mình đang đi Fontainebleau.”
“Thế thì ý em là sao——”
“Đợi đã—ông ta để lại cho em một bức thư.”
“Một bức thư?”
“Vâng; hãy đọc nó đi.”
Và nữ Nam tước rút từ trong túi ra một bức thư đưa cho Debray. Debray chần chừ giây lát trước khi đọc, như thể đang cố đoán trước nội dung, hoặc có lẽ đang tự định đoạt xem mình phải hành xử ra sao, bất luận bức thư có chứa đựng điều gì. Chắc hẳn những ý nghĩ trong đầu hắn đã được sắp xếp ổn thỏa chỉ trong dăm phút, bởi hắn bắt đầu đọc bức thư đã gieo rắc bao nỗi bất an vào cõi lòng nữ Nam tước, với nội dung như sau:
“‘Thưa phu nhân và người vợ vô cùng chung thủy.’”
Debray máy móc khựng lại và nhìn nữ Nam tước, người lúc này mặt đỏ bừng lên.
“Đọc đi,” bà nói.
Debray tiếp tục đọc:
“‘Khi nhận được những dòng này, em sẽ không còn một người chồng nữa. Ồ, em chẳng cần phải hoảng hốt đâu, em sẽ chỉ mất đi anh hệt như cách em đã mất đi đứa con gái của chúng ta; ý anh là anh sẽ lữ hành trên một trong ba mươi hay bốn mươi con đường dẫn ra khỏi nước Pháp. Anh nợ em một vài lời giải thích cho hành động của mình, và vì em là một người phụ nữ hoàn toàn có thể thấu hiểu anh, nên anh sẽ nói rõ. Vậy hãy nghe đây. Sáng nay anh nhận được năm triệu và đã đem trả nợ; gần như ngay sau đó, một trát đòi tiền khác với cùng số tiền ấy lại chìa ra trước mặt anh; anh bèn khất vị chủ nợ đó sang ngày mai và dự định sẽ chuồn vào hôm nay, để trốn cái ngày mai ấy, bởi nó quả thực quá ư khó chịu để anh có thể gánh chịu. Em hiểu điều này phải không, người vợ quý giá nhất đời anh? Anh nói là em hiểu, bởi vì em thông thạo chuyện làm ăn của anh chẳng kém gì anh; thậm chí anh nghĩ em còn nắm rõ hơn ấy chứ, vì phần anh thì anh mù tịt chẳng biết số phận của một phần lớn tài sản vốn từng khá khươm của mình đã trôi dạt về đâu, trong khi anh chắc chắn rằng, thưa phu nhân, em thừa rõ điều đó. Bởi phụ nữ vốn có thứ bản năng không bao giờ sai trật; họ thậm chí có thể giải thích cả những điều kỳ diệu bằng một phép tính đại số mà họ tự nghĩ ra; còn anh, kẻ chỉ biết những con số của riêng mình, chẳng hiểu gì hơn ngoài việc có một ngày những con số ấy đã phản bội anh. Em đã thán phục tốc độ lụi tàn của anh chưa? Em có bị lóa mắt đôi chút trước cảnh những thỏi vàng của ta tan chảy chớp nhoáng không? Anh thú thực là mình chẳng thấy gì ngoài ngọn lửa; mong rằng em đã nhặt nhót được chút vàng nào trong đống tro tàn ấy. Với ý nghĩ an ủi đó, anh xin lìa bỏ em, thưa phu nhân và là người vợ vô cùng thận trọng, mà chẳng hề mang chút cắn rứt lương tâm nào vì đã bỏ rơi em; em vẫn còn bạn bè, vẫn còn đống tro tàn mà anh vừa nhắc đến, và trên hết là sự tự do mà anh đang vội vã trả lại cho em. Và tại đây, thưa phu nhân, anh phải nói thêm một lời giải thích nữa. Chừng nào anh còn nuôi hy vọng rằng em đang vun vén cho cơ đồ của gia tộc ta và tương lai của con gái chúng ta, anh còn triết lý mà nhắm mắt làm ngơ; nhưng một khi em đã biến cơ ngơi ấy thành một đống đổ nát khổng lồ, anh đời nào chịu làm nền móng cho cơ nghiệp của một kẻ khác. Khi cưới em, em vốn giàu có nhưng chẳng mấy được nể trọng. Xin lỗi vì đã ăn nói quá đỗi thẳng thắn, nhưng đằng nào đây cũng là chuyện giữa đôi ta, anh chẳng thấy lý do gì phải đong đếm từng lời. Anh đã khuếch trương tài sản của gia đình, và nó cứ thế sinh sôi suốt mười lăm năm qua, cho đến khi những tai họa bất ngờ và kỳ quái bỗng chốc lật nhào nó—mà anh có thể thành thật tuyên bố là chẳng do lỗi lầm gì của anh cả. Còn em, thưa phu nhân, em chỉ chăm chăm vun vén cho cái kho riêng của mình, và anh tin chắc rằng em đã thành công mĩ mãn. Do đó, anh xin để lại em y như lúc anh rước em về—giàu có, nhưng ít được kính trọng. Vĩnh biệt! Từ nay anh cũng dự định sẽ tự làm ăn cho riêng mình. Xin ghi nhận tấm gương mà em đã trưng ra cho anh noi theo, và anh quyết định sẽ làm y như vậy.
“‘Người chồng hết mực tận tụy của em,
“‘Nam tước Danglars.’”
Nữ Nam tước đã dán mắt theo dõi Debray suốt buổi hắn đọc bức thư dài dòng và nhức nhối ấy, và mụ thấy hắn, dẫu đã kìm chế rất giỏi, cũng phải biến sắc một hai lần. Khi hắn đọc xong, hắn gấp bức thư lại và trở về với dáng vẻ đăm chiêu.
“Thế nào?” Madame Danglars cất lời, với một nỗi bất an dễ bề thấu hiểu.
“Thưa phu nhân, sao ạ?” Debray không chút do dự lặp lại.
“Bức thư ấy gợi cho anh những suy nghĩ gì?”
“Ồ, nó đơn giản lắm, thưa phu nhân; nó gợi cho tôi ý nghĩ rằng M. Danglars đã bỏ đi một cách đầy ám muội.”
“Dĩ nhiên; nhưng chỉ có thế thôi sao?”
“Tôi không hiểu ý phu nhân,” Debray đáp với vẻ lạnh lùng băng giá.
“Ông ta đi rồi! Đi rồi, và sẽ không bao giờ quay lại!”
“Ồ, thưa phu nhân, đừng nghĩ thế chứ!”
“Tôi bảo ông ta sẽ chẳng bao giờ về đâu. Tôi thừa hiểu tính cách hắn; hắn vô cùng sắt đá trong bất kỳ quyết định nào mưu cầu lợi ích cho bản thân. Nếu hắn còn có thể lợi dụng được tôi, hắn đã lôi tôi đi theo; hắn bỏ tôi lại Paris, vì sự ly thân này sẽ có lợi cho hắn;—thế nên hắn đã đi, và tôi được tự do vĩnh viễn,” Madame Danglars nói thêm, với giọng điệu nài nỉ hệt như nãy giờ.
Debray, thay vì đáp lời, lại để mặc bà chìm trong tư thế của một kẻ đang bị nỗi hoang mang cào xé.
“Thế nào?” cuối cùng bà cất tiếng, “anh không trả lời tôi à?”
“Tôi chỉ có một câu hỏi muốn hỏi phu nhân thôi—phu nhân dự định sẽ làm gì?”
“Tôi đang định hỏi anh đấy,” nữ Nam tước đáp với lồng ngực đang phập phồng loạn nhịp.
“À hóa ra, phu nhân muốn xin ý kiến của tôi ư?”
“Vâng; tôi thực sự muốn xin lời khuyên của anh,” Madame Danglars nói với sự chờ đợi đầy phập phồng.
“Thế thì nếu phu nhân muốn nghe theo lời khuyên của tôi,” chàng trai lạnh lùng đáp, “tôi khuyên phu nhân nên đi du lịch.”
“Đi du lịch!” bà thì thào.
“Chắc chắn rồi; như M. Danglars đã nói, phu nhân rất giàu, và hoàn toàn tự do. Theo quan điểm của tôi, việc rời khỏi Paris là điều hoàn toàn cấp thiết sau cú đúp thảm họa: cuộc hôn ước đổ bể của tiểu thư Danglars và sự biến mất của M. Danglars. Người đời sẽ nghĩ phu nhân bị bỏ rơi và túng quẫn, bởi vợ của một kẻ phá sản sẽ chẳng bao giờ được tha thứ nếu còn cứ giữ phô trương sự giàu sang phú quý. Phu nhân chỉ cần ở lại Paris chừng nửa tháng, kể cho thiên hạ nghe rằng mình đã bị phụ bạc, rồi giãi bày chi tiết cuộc tẩu thoát ấy cho những người bạn thân thiết nhất, họ sẽ nhanh chóng phao tin đi khắp chốn. Sau đó, phu nhân có thể rời khỏi nhà, bỏ lại trang sức và từ bỏ khoản tiền dưỡng mệnh, thế là miệng lưỡi muôn người sẽ ngập tràn những lời ca tụng sự cao thượng của phu nhân. Họ sẽ biết phu nhân bị ruồng bỏ, và cũng đinh ninh là phu nhân nghèo rớt mồng tơi, bởi chỉ một mình tôi nắm rõ tình hình tài chính thực tế của phu nhân, và tôi hoàn toàn sẵn sàng bàn giao sổ sách như một đối tác trung thực.”
Nỗi kinh hoàng khiến nữ Nam tước tái mét, bất động khi lắng nghe những lời này, hoàn toàn tương xứng với sự dửng dưng điềm tĩnh mà Debray vừa thốt ra.
“Bị bỏ rơi ư?” bà lặp lại; “à vâng, quả thực tôi đã bị bỏ rơi! Anh nói đúng, thưa anh, và chẳng ai có thể hoài nghi về hoàn cảnh của tôi lúc này.”
Đó là những lời duy nhất mà người phụ nữ kiêu kỳ và đang chìm đắm trong cơn cuồng si này có thể thốt ra để đáp lời Debray.

“Nhưng xét cho cùng phu nhân vẫn giàu—vô cùng giàu có là đằng khác,” Debray tiếp lời, vừa lôi từ trong ví ra mấy tờ giấy rồi trải lên bàn. Madame Danglars chẳng màng ngó ngàng tới; bà đang bận trấn áp nhịp đập cuồng loạn của con tim và kìm nén những giọt nước mắt chực trào. Cuối cùng, lòng tự trọng đã thắng thế, và dẫu không thể hoàn toàn át đi cơn chấn động tâm lý, ít nhất bà cũng thành công trong việc ngăn không cho dù chỉ một giọt nước mắt rơi xuống.
“Thưa phu nhân,” Debray nói, “tính ra chúng ta đã hợp tác được gần sáu tháng. Phu nhân đã bỏ ra số vốn ban đầu là 100.000 franc. Mối làm ăn của chúng ta bắt đầu vào tháng Tư. Sang tháng Năm, ta bắt đầu tiến hành giao dịch, và trong tháng ấy lãi được 450.000 franc. Tháng Sáu, lợi nhuận lên tới 900.000. Tháng Bảy, ta bỏ túi thêm 1.700.000 franc—đó chính là tháng của trái phiếu Tây Ban Nha, hẳn phu nhân còn nhớ. Sang tháng Tám, ta lỗ 300.000 franc vào đầu tháng, nhưng đến ngày 13 ta đã gỡ gạc lại được, và giờ đây ta thấy rằng sổ sách của mình, tính từ ngày đầu hợp tác cho đến tận hôm qua khi tôi chốt sổ, cho thấy một khối tư bản là 2.400.000 franc, nghĩa là mỗi người được 1.200.000. Giờ thì, thưa phu nhân,” Debray nói, bàn giao sổ sách với cung cách ngăn nắp của một tay môi giới chứng khoán, “vẫn còn 80.000 franc tiền lãi của số tiền này đang nằm trong tay tôi.”
“Nhưng,” nữ Nam tước nói, “tôi cứ tưởng anh không bao giờ đem tiền đi cho vay lấy lãi chứ.”
“Xin lỗi phu nhân,” Debray lạnh lùng đáp, “tôi đã có sự cho phép của phu nhân, và tôi đã tận dụng điều đó. Như vậy, ta có 40.000 franc là phần của phu nhân, cộng với 100.000 franc ban đầu phu nhân giao cho tôi, tổng cộng phần của phu nhân là 1.340.000 franc. Giờ thì, thưa phu nhân, tôi đã cẩn thận rút tiền của phu nhân từ hôm kia; tính ra cũng chưa lâu lắm, phu nhân thấy đấy, và tôi vẫn thấp thỏm chờ đợi ngày được yêu cầu bàn giao sổ sách. Tiền của phu nhân đây ạ—một nửa là tiền mặt giấy, nửa kia là séc vô danh có thể lĩnh tiền bất cứ lúc nào. Tôi để nó ở đây, bởi vì tôi thấy nhà mình không đủ an toàn, luật sư thì lại chẳng kín miệng cho lắm, hơn nữa bất động sản thì sờ sờ ra đấy dễ bị dòm ngó, thêm nữa phu nhân lại chẳng có quyền sở hữu bất cứ thứ gì độc lập với chồng, thế nên tôi đã giữ nguyên số tiền này, vốn giờ đây là toàn bộ gia tài của phu nhân, trong một chiếc tráp cất giấu dưới cái tủ âm tường kia, và để đảm bảo an toàn tuyệt đối, chính tay tôi đã giấu nó ở đó.
“Giờ thì, thưa phu nhân,” Debray tiếp lời, vừa mở tung cánh tủ rồi mở chiếc tráp ra;—“giờ thì, thưa phu nhân, đây là 800 tờ mệnh giá 1.000 franc mỗi tờ, trông hệt như một cuốn sách dày cộp bọc sắt; cộng thêm vào đây chứng chỉ công trái trị giá 25.000 franc; rồi phần tiền lẻ, tính ra chắc khoảng 110.000 franc, đây là một tấm séc rút từ ngân hàng của tôi, vị chủ ngân hàng này không phải là M. Danglars, nên phu nhân cứ yên tâm là ông ta sẽ thanh toán đủ.”
Madame Danglars máy móc cầm lấy tấm séc, tờ công trái và xấp tiền giấy. Cả một gia tài khổng lồ ấy khi đặt lên bàn trông chẳng có vẻ gì là to tát cho cam. Madame Danglars, với đôi mắt ráo hoảnh nhưng lồng ngực đang phập phồng những cảm xúc dồn nén, nhét xấp tiền giấy vào túi xách, đút tờ chứng chỉ và séc vào chiếc ví nhỏ, rồi đứng lặng tái mét, ngóng chờ một lời động viên an ủi.
Nhưng nàng chờ mãi trong vô vọng.
“Giờ đây, thưa phu nhân,” Debray nói, “phu nhân đang sở hữu một gia tài lừng lẫy, một khoản thu nhập khoảng 60.000 livre mỗi năm, số tiền quá ư khổng lồ đối với một người phụ nữ ít ra trong một năm tới sẽ chẳng thể lập nổi một cơ ngơi ở chốn này. Phu nhân sẽ có thể thỏa mãn mọi sở thích xa hoa của mình; hơn nữa, nếu thấy thu nhập chưa đủ, vì nghĩa tình xưa cũ, phu nhân cứ việc dùng đến tiền của tôi; tôi luôn sẵn sàng cho phu nhân vay toàn bộ gia sản của mình.”
“Cảm ơn anh—cảm ơn anh,” nữ Nam tước đáp; “anh quên mất rằng số tiền anh vừa trả cho tôi còn vượt xa nhu cầu của một người nghèo khổ đang có ý định rời bỏ thế sự, ít nhất là trong một thời gian.”
Debray thoáng ngạc nhiên, nhưng lập tức lấy lại bình tĩnh, hắn cúi đầu chào với vẻ mặt tựa như đang nói: “Tùy phu nhân thôi.”
Cho đến lúc ấy, Madame Danglars có lẽ vẫn còn nuôi chút hy vọng; nhưng khi trông thấy cái gật đầu dửng dưng của Debray cùng cái liếc mắt đi kèm, cùng với sự im lặng đầy ẩn ý của hắn, bà ngẩng cao đầu, chẳng chút bực dọc, giận dữ hay hoài nghi, bước thẳng xuống lầu, khinh bỉ chẳng buồn thốt một lời từ biệt cuối cùng với kẻ đã nỡ dứt áo ra đi với bà theo cách đó.
“Ba,” Debray lẩm bẩm khi bà đã đi khuất, “toàn những dự án hảo huyền! Ả ta sẽ cứ rúc ở nhà, đọc tiểu thuyết và sát phạt trên chiếu bạc, vì giờ chẳng còn bề nào để chơi trên Sở Giao dịch nữa rồi.”
Rồi cầm cuốn sổ ghi chép lên, hắn cẩn thận tuyệt đối gạch bỏ toàn bộ các khoản mục tiền nong mà hắn vừa mới thanh toán xong.
“Mình vẫn còn lại 1.060.000 franc,” hắn tự nhủ. “Tiếc thật, tiểu thư de Villefort chết mất rồi! Nàng ta hoàn toàn hợp với mình về mọi phương diện, suýt nữa mình đã cưới nàng ta làm vợ.”
Và hắn điềm tĩnh đợi cho đến khi đúng hai mươi phút trôi qua kể từ lúc Madame Danglars ra về mới bước chân khỏi nhà. Khoảng thời gian ấy hắn dùng để ngồi tính toán sổ sách, mắt dán vào chiếc đồng hồ đặt bên cạnh.
Asmodeus—nhân vật quỷ quyệt ấy, kẻ lẽ ra đã được mọi trí tưởng tượng phong phú nhào nặn nên nếu Le Sage không kịp chớp lấy thời cơ trong kiệt tác để đời của ông—hẳn sẽ được thưởng lãm một cảnh tượng kỳ lạ biết bao, nếu như hắn nhấc được mái nhà của căn hộ nhỏ trên phố Rue Saint-Germain-des-Prés lên, ngay trong lúc Debray đang cặm cụi tính toán những con số.
Ngay phía trên căn phòng nơi Debray vừa cùng Madame Danglars chia chác hai triệu rưỡi là một căn phòng khác, do những con người từng đóng vai trò quá đỗi quan trọng trong các biến cố ta vừa kể ngự trị; sự hiện diện của họ ở đây hẳn sẽ gợi lên đôi chút tò mò.
Mercédès và Albert đang ở trong căn phòng ấy.
Mercédès đã thay đổi rất nhiều trong suốt mấy ngày qua; không phải là ngay cả trong những ngày tháng giàu sang phú quý, bà từng chưng diện thứ y phục lộng lẫy đến mức khiến người ta chẳng thể nhận ra nổi một người phụ nữ khi nàng khoác lên mình tấm áo mộc mạc đơn sơ; cũng chẳng phải bà đã rơi vào cái trạng thái suy sụp đến mức không tài nào che giấu nổi bộ dạng khốn cùng; không, sự đổi thay ở Mercédès nằm ở chỗ ánh mắt bà giờ đây chẳng còn ánh lên vẻ tinh anh, đôi môi chẳng còn nở nụ cười, và đã bắt đầu có sự ngập ngừng khi thốt ra những lời lẽ vốn từng tuôn chảy vô cùng lưu loát từ sự sắc sảo nhạy bén của bà.
Chính sự nghèo túng không làm gãy gụp tinh thần bà; cũng chẳng phải sự thiếu thốn lòng can đảm đã khiến nỗi nghèo hèn trở thành gánh nặng. Mercédès, dẫu bị truất ngôi khỏi vị thế cao sang từng chiếm giữ, bị lạc lõng trong thứ không gian chật hẹp mới chọn, hệt như một kẻ bước từ căn phòng rực rỡ ánh đèn ra nơi tăm tối mịt mùng, trông chẳng khác nào một bà hoàng rơi từ cung điện xuống túp lều tranh, và nay bị đẩy đến bước đường cùng của sự túng thiếu, chẳng thể nào thích nghi nổi với những chiếc bát sành thô kệch mà chính tay bà buộc phải bày lên bàn, cũng chẳng tài nào quen được chiếc chõng tre khiêm nhường nay đã thành giường ngủ của mình.
Nữ bá tước kiều diễm dòng dõi Catalan đã mất đi cả ánh nhìn kiêu hãnh lẫn nụ cười quyến rũ, bởi xung quanh bà giờ đây chỉ toàn thấy sự khốn cùng; những bức tường được dán loại giấy dán tường màu xám ngắt mà những tên chủ nhà keo kiệt thường chọn vì nghĩ nó khó để lộ vết bẩn; sàn nhà không thảm; đồ đạc trong phòng chỉ tổ thu hút sự chú ý vào cái vẻ cố gắng làm sang một cách tội nghiệp; quả thật, vạn vật nơi đây đều chướng tai gai mắt một kẻ đã quen với sự tinh tế và tao nhã.
Madame de Morcerf đã sống ở đó kể từ ngày rời khỏi dinh thự của mình; sự tĩnh mịch bao trùm nơi đây cứ đè nặng lên tâm trí bà; dẫu vậy, nhận thấy Albert luôn đăm đăm quan sát nét mặt mình để dò đoán tâm trạng, bà đành gượng gạo nặn ra một nụ cười đơn điệu chỉ nhếch ở mép môi, cái nụ cười ấy khi đặt cạnh vẻ đẹp ngọt ngào rạng rỡ thường hiện diện trong ánh mắt bà lại trông chẳng khác nào “ánh trăng rọi lên bức tượng,”—tỏa ra thứ ánh sáng lạnh ngắt chẳng chút hơi ấm.
Albert cũng cảm thấy không được tự nhiên; tàn dư của lối sống xa hoa trước kia cứ níu kéo khiến cậu không thể thực sự chấp nhận hoàn cảnh hiện tại của mình. Nếu muốn bước ra đường mà không mang găng tay, đôi bàn tay cậu lại có vẻ quá trắng trẻo; nếu muốn đi dạo qua phố thị, đôi bốt của cậu trông lại có phần bóng lộn quá mức. Thế nhưng hai sinh linh cao quý và thông tuệ ấy, được gắn kết bởi sợi dây tình mẫu tử thiêng liêng không thể tách rời, cuối cùng cũng ngầm thấu hiểu lẫn nhau, cùng nhau thắt lưng buộc bụng chắt chiu từng chút một, và cuối cùng Albert cũng có thể cất lời với mẹ mình mà không làm sắc mặt bà biến đổi:
“Mẹ ơi, chúng ta hết tiền rồi.”

Mercédès chưa từng biết thế nào là khốn cùng; thuở trẻ, bà từng dăm ba lần nhắc đến sự nghèo khó, nhưng giữa sự túng thiếu và cảnh ngộ ngặt nghèo, dẫu là hai từ đồng nghĩa, lại là một khoảng cách vô cùng lớn.
Nơi xứ sở người Catalan, Mercédès từng ao ước hàng ngàn thứ, nhưng rốt cuộc bà chưa từng thực sự thiếu thốn điều gì. Chừng nào những tấm lưới còn tốt, chúng còn bắt được cá; và chừng nào họ còn bán được cá, họ còn đủ tiền mua chỉ để đan lưới mới. Và rồi, sống khép mình trước tình bằng hữu, chỉ có duy nhất một tình cảm gắn bó chẳng thể hòa lẫn vào những bận rộn thường nhật, bà chỉ nghĩ cho chính mình—chẳng màng đến ai khác. Dựa vào số tiền ít ỏi kiếm được, bà sống qua ngày hết mức có thể; còn giờ đây, có đến hai miệng ăn mà chẳng có nổi một đồng dính túi.
Mùa đông đang đến gần. Mercédès không có nổi một ngọn lửa sưởi trong căn phòng lạnh lẽo trơ trọi ấy—con người từng quen thuộc với hệ thống lò sưởi sưởi ấm cả cơ ngơi từ sảnh lớn cho đến phòng riêng; bà thậm chí chẳng có lấy một bông hoa nhỏ—một người mà căn nhà từng là cả một khu vườn kính chứa đầy những loài kỳ hoa dị thảo đắt đỏ. Nhưng bà vẫn có đứa con trai. Cho đến tận lúc này, sự thôi thúc phải hoàn thành một sứ mệnh vẫn luôn chống đỡ họ. Sự phấn khích, cũng giống như lòng nhiệt huyết, đôi khi khiến ta quên đi cả thực tại trần trụi. Nhưng rồi cơn hưng phấn ấy cũng dần lắng xuống, và họ nhận ra mình buộc phải bước xuống từ những giấc mơ để đối mặt với thực tại; sau khi đã vắt kiệt cõi mộng ảo, họ thấy mình phải nói chuyện cơm áo gạo tiền.
“Mẹ ơi,” Albert thốt lên, đúng lúc Madame Danglars đang bước xuống lầu, “xin mẹ hãy cùng con tính toán lại của cải của chúng ta; con cần vốn liếng để vạch ra những dự định sắp tới.”
“Vốn liếng—làm gì có gì chứ!” Mercédès đáp với một nụ cười sầu muộn.
“Không đâu mẹ,—vốn liếng là 3.000 franc đấy ạ. Và con có một ý tưởng để chúng ta có thể sống một cuộc đời tuyệt vời với ngần ấy tiền.”
“Đứa trẻ ngốc nghếch này!” Mercédès thở dài.
“Thưa mẹ, con biết ơn mẹ biết bao,” chàng trai trẻ tiếp lời, “con đã trót tiêu pha quá nhiều tiền của mẹ nên thừa hiểu giá trị của nó. 3.000 franc này là một số tiền khổng lồ, và con dự định sẽ xây dựng trên nền tảng đó một tương lai chắc chắn đến kỳ diệu.”
“Con nói vậy đấy, con trai yêu quý của mẹ; nhưng con có nghĩ rằng chúng ta nên nhận 3.000 franc này không?” Mercédès nói, mặt thoáng đỏ.
“Con nghĩ là có chứ,” Albert đáp với giọng điệu quả quyết. “Chúng ta sẽ càng sẵn sàng đón nhận nó hơn, bởi hiện tại chúng ta đâu có cầm nó ở đây; mẹ biết đấy, nó đang được chôn giấu trong khu vườn của căn nhà nhỏ ở vùng Allées de Meilhan, tại Marseilles cơ mà. Chỉ với 200 franc là chúng ta có thể tới được Marseilles rồi.”
“Chỉ với 200 franc ư?—con chắc chứ, Albert?”
“Ồ, về khoản đó thì con đã dò la kỹ càng lịch trình xe khách lẫn tàu thủy rồi, và các tính toán của con đều chuẩn xác cả. Mẹ sẽ ngồi toa hạng sang đi Châlons. Mẹ thấy đấy, con đối xử với mẹ rất hậu hĩnh nhé, chỉ mất ba mươi lăm franc thôi.”
Albert bèn cầm bút lên và viết:
“Cứ tính là 120 đi,” Albert nói thêm, miệng mỉm cười. “Mẹ thấy con hào phóng chưa nào, thưa mẹ?”
“Còn con thì sao, đứa con tội nghiệp của mẹ?”
“Con á? Mẹ không thấy là con đang để dành riêng cho mình tám mươi franc hay sao? Một thanh niên trai tráng thì chẳng cần đến những thứ xa hoa làm gì; hơn nữa, con thừa hiểu việc đi lại dọc đường ra sao mà.”
“Bằng xe bưu mã và có cả hầu phòng theo hầu chứ?”
“Kiểu gì chẳng được, thưa mẹ.”
“Thôi được rồi. Nhưng lấy đâu ra 200 franc ấy chứ?”
“Nó ở đây này, và còn dư hẳn 200 franc nữa là khác. Nhìn đây, con đã bán chiếc đồng hồ của mình được 100 franc, còn dây đeo và mặt đồng hồ phụ được 300 franc. May quá là mấy món đồ trang sức ấy lại có giá trị cao hơn cả chiếc đồng hồ. Vẫn điệp khúc muôn thuở về những thứ dư thừa! Giờ thì con nghĩ chúng ta giàu to rồi đấy, bởi thay vì 114 franc cần thiết cho chuyến đi, ta đang nắm trong tay tận 250 franc cơ mà.”
“Nhưng chúng ta còn nợ tiền nhà trọ này chứ?”
“Ba mươi franc; nhưng con sẽ trả khoản đó bằng số 150 franc của con—chuyện đó cứ thế mà quyết định—và vì con chỉ cần tám mươi franc cho chuyến đi của mình, mẹ thấy đấy, con đang ngập chìm trong sự xa hoa giàu có ấy chứ. Nhưng vẫn chưa hết đâu. Mẹ nghĩ sao về cái này, thưa mẹ?”
Và Albert rút ra từ một chiếc ví nhỏ có khóa cài bằng vàng—tàn tích của những thói quen xa hoa thuở trước, hoặc có lẽ là một kỷ vật đượm tình của một trong những vị quý bà bí ẩn từng che mặt gõ cửa căn phòng nhỏ của cậu—Albert rút ra từ chiếc ví ấy một tờ bạc 1.000 franc.
“Cái gì thế này?” Mercédès hỏi.
“Một nghìn franc ạ.”
“Nhưng con lấy đâu ra số tiền đó?”
“Xin mẹ hãy nghe con nói, và đừng quá xúc động.” Và Albert đứng dậy, hôn lên hai má mẹ rồi đứng lặng ngắm nhìn bà. “Mẹ có tưởng tượng nổi không, thưa mẹ, con thấy mẹ đẹp biết nhường nào!” chàng trai trẻ nói, dạt dào một tình cảm thiêng liêng của đạo làm con. “Mẹ quả thực là người phụ nữ đẹp nhất và cao quý nhất mà con từng gặp!”
“Đứa con ngoan của mẹ!” Mercédès nói, vô vọng kìm nén giọt nước mắt đang lấp lánh khóe mi. “Quả thật, con chỉ cần trải qua bất hạnh mới chuyển hóa tình yêu của mẹ dành cho con thành sự ngưỡng mộ. Mẹ không hề bất hạnh chừng nào còn có đứa con trai này bên cạnh!”
“À, đúng rồi,” Albert nói; “khúc dạo đầu xin được phép bắt đầu từ đây. Mẹ có biết chúng ta đã đi đến quyết định gì không, thưa mẹ?”
“Chúng ta đã quyết định gì cơ à?”
“Vâng; đã định đoạt là mẹ sẽ sống ở Marseilles, còn con sẽ lên đường sang Châu Phi, nơi con sẽ tự tay giành lấy quyền được mang cái tên mình đang mang, thay vì cái tên con đã vứt bỏ.” Mercédès thở dài. “Thưa mẹ, ngày hôm qua con đã ký hợp đồng đi lính đánh thuê thay chân cho người khác trong đoàn kỵ binh Spahis,”[25] chàng trai nói, mắt hạ xuống với một chút hổ thẹn, bởi ngay cả cậu cũng chẳng nhận thức hết sự cao cả trong hành động tự hạ mình này. “Con nghĩ thân xác này là của con, và con có quyền bán nó. Hôm qua con đã thế chân cho người khác. Con tự bán mình với giá cao hơn tưởng tượng,” cậu nói, cố nặn ra một nụ cười; “con kiếm được 2.000 franc.”
“Thế thì 1.000 franc này——” Mercédès run rẩy thốt lên.
“Là một nửa số tiền đó thưa mẹ; phần còn lại sẽ được thanh toán trong một năm.”
Mercédès ngẩng đôi mắt ngập tràn biểu cảm khó tả lên tận trời cao, và những giọt nước mắt nãy giờ bị kìm nén nay vỡ òa trước nỗi xúc động trào dâng, lăn dài trên gò má.
“Cái giá của máu thịt thằng bé!” bà thì thào.
“Vâng, nếu con bị tử trận,” Albert cười vang. “Nhưng con xin đảm bảo với mẹ, con có thừa quyết tâm để tự bảo vệ cái mạng này, và chưa bao giờ con lại dạt dào khao khát được sống như lúc này đâu.”
“Lạy Chúa trên cao!”
“Hơn nữa, thưa mẹ, cớ sao mẹ lại cứ đinh ninh là con thể nào cũng bỏ mạng cơ chứ? Tướng Lamoricière, vị tướng Ney của miền Nam ấy, đã chết chưa? Tướng Changarnier đã chết chưa? Tướng Bedeau đã chết chưa? Morrel, người mà ta biết đấy, đã chết chưa? Hãy nghĩ đến niềm vui của mẹ khi thấy con trở về trong bộ quân phục thêu vi hoa văn! Con xin tuyên bố, con mong chờ mình sẽ trông thật oai phong lẫm liệt trong bộ đồ ấy, và con chọn binh đoàn đó hoàn toàn vì sự phù phiếm đấy thôi.”
Mercédès thở dài trong khi cố nặn ra một nụ cười; người mẹ tận tụy hiểu rằng bà không được phép để toàn bộ gánh nặng của sự hy sinh trút hết lên vai con trai mình.
“Thôi nào, giờ thì mẹ đã hiểu rồi đấy!” Albert tiếp lời; “ở đây có hơn 4.000 franc dành trọn cho mẹ; với số tiền đó mẹ có thể sống thoải mái ít nhất là hai năm.”
“Con nghĩ vậy thật sao?” Mercédès nói.
Những lời ấy thốt ra với giọng điệu sầu muộn đến mức chẳng thể qua mắt được Albert; tim cậu nhói đau, và nắm lấy bàn tay mẹ trong tay mình, cậu dịu dàng thấu cảm:
“Vâng, mẹ sẽ sống!”
“Mẹ sẽ sống!—thế là con sẽ không bỏ rơi mẹ nữa phải không, Albert?”
“Mẹ ơi, con buộc phải đi,” Albert nói bằng chất giọng kiên định và bình thản; “mẹ quá yêu thương con nên sẽ chẳng nỡ giữ con lại sống cảnh vô tích sự cạnh mẹ đâu; vả lại, con đã ký hợp đồng mất rồi.”

“Con sẽ tuân theo ý nguyện của chính con và thánh ý của Thiên Chúa!”
“Không phải ý con đâu mẹ, mà là lý trí—là sự bắt buộc. Chẳng lẽ chúng ta không phải là hai kẻ đang cùng đường túng lối hay sao? Cuộc đời đối với mẹ là gì?—Chẳng là gì cả. Cuộc đời đối với con là gì?—Rất ít ỏi nếu không có mẹ, thưa mẹ; bởi vì xin hãy tin con, nếu không có mẹ, con đã chấm dứt sự sống từ cái ngày con hoài nghi người cha và ruồng bỏ cả họ tên của ông ấy rồi. Thưa mẹ, con sẽ sống, nếu mẹ hứa với con là vẫn tiếp tục hy vọng; và nếu mẹ giao phó tương lai của mình cho con chăm lo, con sẽ như được tiếp thêm gấp bội sức mạnh. Khi ấy con sẽ diện kiến viên Tổng đốc xứ Algeria; ông ấy có một trái tim nhân hậu chuẩn mực của một người lính; con sẽ kể cho ông nghe câu chuyện đầy u ám của mình. Con sẽ cầu xin ông thỉnh thoảng liếc mắt chiếu cố đến con, và nếu ông giữ lời cất nhắc con, chỉ sáu tháng nữa con sẽ là sĩ quan, hoặc đã bỏ mạng sa trường. Nếu con làm sĩ quan, tương lai của mẹ được đảm bảo, vì con sẽ có đủ tiền lo cho cả hai, và hơn thế nữa, một cái tên khiến cả hai ta tự hào, bởi đó chính là tên của chính chúng ta. Còn nếu con tử trận—thế thì thưa mẹ, mẹ cũng có thể xuôi tay, và mọi bất hạnh của chúng ta sẽ chấm dứt.”
“Được rồi,” Mercédès đáp lại bằng ánh mắt đầy sức nặng biểu cảm; “con nói đúng, cục cưng của mẹ ạ; hãy chứng minh cho những kẻ đang rình rập hành động của ta thấy rằng chúng ta hoàn toàn xứng đáng được cảm thông.”
“Nhưng chớ nên đầu hàng trước những dự cảm ảm đạm,” chàng trai trẻ nói; “con xin hứa chúng ta đang, hoặc đúng hơn là sẽ, rất hạnh phúc. Mẹ là một người phụ nữ vừa gan dạ vừa kiên cường; còn con thì đã đằm tính lại, và hy vọng là chẳng còn mang vác những ham hố ngông cuồng nào nữa. Một khi đã nhập ngũ, con sẽ kiếm ra tiền—một khi đã đặt chân đến căn nhà của M. Dantès, mẹ sẽ được an lòng. Ta hãy cố gắng lên, con nài xin mẹ đấy,—hãy cố gắng sống vui vẻ nhé.”
“Vâng, ta sẽ cùng cố gắng, vì con cần phải sống và được hạnh phúc, Albert.”
“Thế là ta đã phân định xong xuôi rồi nhé, mẹ,” chàng trai trẻ nói, cố làm ra vẻ thản nhiên. “Giờ ta có thể chia tay; nào, con sẽ đi đặt vé tàu cho mẹ.”
“Còn con thì sao, con trai yêu của mẹ?”
“Con sẽ ở lại đây thêm vài ngày nữa; ta phải tập quen dần với sự xa cách. Con cần xin giấy giới thiệu và dăm thông tin liên quan đến chiến trường Châu Phi. Con sẽ hội ngộ với mẹ ở Marseilles sau.”
“Thôi được rồi—ta chia tay nhau ở đây vậy,” Mercédès nói, quàng tấm khăn choàng duy nhất mang theo lên vai, ngẫu nhiên đó lại là một chiếc khăn cashmere đen vô cùng quý giá. Albert vội vã gom nhặt giấy tờ, kéo chuông để thanh toán ba mươi franc tiền nhà còn thiếu, rồi chìa tay cho mẹ vịn, cả hai cùng bước xuống lầu.
Có ai đó đang bước đi trước họ, và kẻ này khi nghe thấy tiếng vải lụa sột soạt liền quay đầu lại. “Debray!” Albert lẩm bẩm.
“Cậu Morcerf đấy à?” Debray đáp lời, khựng lại trên bậc cầu thang. Sự tò mò đã đánh bại mong muốn giữ kín thân danh, và thế là hắn bị nhận diện. Quả thực thật kỳ lạ khi giữa chốn vô danh này lại bắt gặp người thanh niên mà những biến cố bi thảm từng gây chấn động cả Paris.
“Morcerf!” Debray lặp lại. Rồi nhận ra trong ánh sáng mập mờ bóng hình vẫn còn trẻ trung và che voan kín mít của Madame de Morcerf:
“Xin lỗi nhé,” hắn cười trừ nói, “tôi đi trước đây, Albert.” Albert hiểu suy nghĩ trong đầu hắn.
“Mẹ ơi,” cậu quay sang Mercédès, “đây là M. Debray, thư ký của Bộ trưởng Nội vụ, trước kia từng là bạn của con.”
“Sao lại là trước kia?” Debray ấp úng; “cậu có ý gì?”
“Tôi nói thế, thưa M. Debray, bởi vì giờ đây tôi chẳng còn bè bạn nào nữa, và bản thân tôi cũng chẳng nên có bạn bè làm gì. Cảm ơn vì đã nhận ra tôi, thưa anh.” Debray bước tới, siết chặt bàn tay người đối thoại đầy tình cảm.
“Xin hãy tin tôi, Albert thân mến,” hắn nói, dạt dào mọi cảm xúc mà hắn có thể huy động được,—“xin hãy tin rằng tôi vô cùng đau xót trước những bất hạnh của cậu, và nếu có bất cứ điều gì tôi có thể giúp đỡ, tôi luôn sẵn lòng.”
“Cảm ơn anh,” Albert mỉm cười đáp. “Giữa lúc khốn cùng, chúng tôi vẫn đủ giàu để chẳng cần đến sự giúp đỡ của bất kỳ ai. Chúng tôi đang rời khỏi Paris, và khi đã thanh toán xong chi phí đi lại, trong tay chúng tôi vẫn còn dư lại 5.000 franc.”
Máu dồn lên tận thái dương Debray, kẻ đang đút giắt một triệu trong ví, và dẫu nghèo nàn trí tưởng tượng đến đâu hắn cũng không khỏi suy ngẫm rằng chính ngôi nhà ấy đã từng dung chứa hai người phụ nữ: một người vì tội lỗi mà bị tước đoạt danh dự, đã rời đi trong cảnh tay trắng nhưng lận lưng đến 1.500.000 franc giấu dưới lớp áo choàng; còn người kia dẫu bị đòn giáng vô cớ nhưng lại quá ư cao thượng trong nghịch cảnh, nay vẫn giàu có dẫu chỉ với vài đồng xu ít ỏi. Sự tương phản ấy làm xáo trộn vẻ điềm đạm thường thấy của hắn, thứ triết lý sống bày ra trước mắt khiến hắn hoảng sợ, hắn lẩm bẩm vài câu xã giao chung chung rồi cắm cổ chạy biến xuống lầu.
Ngày hôm đó, các viên chức dưới quyền và cấp dưới của vị Bộ trưởng đã phải chịu đựng đủ điều từ sự cáu bẳn của hắn. Nhưng ngay đêm ấy, hắn đã thấy mình trở thành chủ nhân của một cơ ngơi lộng lẫy nằm trên Đại lộ de Madeleine cùng khoản thu nhập 50.000 livre mỗi năm.
Hôm sau, đúng lúc Debray đang đặt bút ký vào văn bản chuyển nhượng, tức là vào khoảng năm giờ chiều, Madame de Morcerf sau khi ôm hôn con trai đầy bị lưu luyến đã bước lên chiếc xe bưu mã, cánh cửa xe sập lại che khuất bóng hình bà.
Một người đàn ông đang ẩn mình trong ngân hàng Lafitte, phía sau một trong những ô cửa sổ có vòm cuốn đặt ngay trên mỗi bàn giấy; hắn nhìn thấy Mercédès bước lên xe khách, và cũng thấy Albert lủi thủi quay đi. Rồi hắn đưa tay vuốt trán, nơi đang phủ đầy những áng mây hoài nghi.
“Khốn khổ thay,” hắn thốt lên, “làm sao ta có thể chuộc lại niềm hạnh phúc mà ta đã tước đoạt khỏi những con người vô tội này đây? Xin Chúa hãy giúp con!”